Trong 2 tháng tiếp theo, giá vàng được dự báo sẽ bước vào một đợt tăng nhẹ, điều này phù hợp với nhận định của tác giả trong bối cảnh nhu cầu vàng trong nước đang tăng do tình hình chính
Trang 1Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 2MỤC LỤC MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU iv
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Mục tiêu của nghiên cứu: 2
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu: 2
4 Phương pháp nghiên cứu: 2
5 Kết cấu đề tài: 3
Phần II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
1.1 Tổng quan về vàng và thị trường vàng: 4
1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về vàng: 4
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của vàng trong nền kinh tế: 4
1.1.1.2 Khái quát lịch sử ra đời của vàng và chế độ bản vị vàng: 6
1.1.1.3 Vai trò của vàng đối với nền kinh tế: 9
1.1.1.4 Đơn vị đo lường và cơ chế định giá: 11
1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về thị trường vàng: 14
1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại thị trường vàng: 14
1.1.2.2 Các nhân tố gây biến động giá vàng: 15
1.1.2.3 Ảnh hưởng của giá vàng đến nền kinh tế Việt Nam: 23
1.2 Tổng quan về phương pháp dự báo: 25
1.2.1 Tính dừng: 26
1.2.1.1 Khái niệm: 26
1.2.1.2 Hậu quả của chuỗi không dừng: 27
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 31.2.1.3 Cách kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian: 27
1.2.1.4 Cách khắc phục một chuỗi không dừng: 29
1.2.2 Quá trình tự hồi quy (AR), trung bình trượt (MA) và mô hình ARIMA: 30
1.2.2.1 Mô hình tự hồi quy (Autoregressive) AR(p): 30
1.2.2.2 Mô hình trung bình trượt (Moving Average) MA(q): 30
1.2.2.3 Quá trình trung bình trượt kết hợp tự hồi quy (ARMA): 31
1.2.2.4 Quá trình trung bình trượt, tích hợp, tự hồi quy (ARIMA): 31
1.2.3 Phương pháp Box – Jenkins (BJ): 32
Chương 2: DIỄN BIẾN GIÁ VÀNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 01/2005 – 03/2015 35
2.1 Phân tích diễn biến giá vàng Việt nam giai đoạn 2005 – 2007: 35
2.2 Phân tích diễn biến giá vàng Việt nam giai đoạn 2008 – 2011: 38
2.3 Phân tích diễn biến giá vàng Việt nam giai đoạn 2012 – quý I/2015: 46
Chương 3: DỰ BÁO GIÁ VÀNG TỪ THÁNG 04/2015 ĐẾN THÁNG 06/2015 53
3.1 Định dạng mô hình: 53
3.2 Kiểm định tính thích hợp của mô hình: 56
3.3 Dự báo: 57
PHẦN III: KẾT LUẬN 61
1 Kết luận: 61
2 Kiến nghị: 61
3 Hạn chế của đề tài: 62
4 Hướng phát triển của đề tài: 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
7 ACF, PACF, AIC, SIC Các chỉ số đo lường thống kê
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 5DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1 Biểu đồ diễn biến giá vàng Việt Nam giai đoạn 2005 – 2007 35
Hình 2.2 Biểu đồ diễn biến giá vàng giai đoạn 2008 – 2011 38
Hình 2.3 Biểu đồ diễn biến giá vàng giai đoạn 2012 – quý I/2015 46
Hình 3.1 Đồ thị chuỗi dữ liệu giá vàng 53
Hình 3.2 Thống kê mô tả chuỗi dữ liệu giá vàng 54
Hình 3.3 Biểu đồ sai phân giá vàng 55
Hình 3.4 Thống kê mô tả chuỗi sai phân giá vàng 55
Hình 3.5 Kết quả dự báo theo mô hình ARIMA(21,1,1) 57
Hình 3.6 Đồ thị so sánh giữa giá vàng thực tế và giá vàng dự báo theo mô hình ARIMA(21,1,1) trong giai đoạn 01/2005 – 03/2015 58
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 7TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Trong 10 năm trở lại đây, những rủi ro và bất ổn diễn ra khắp nơi khiến vàng trở thành một kênh đầu tư, một phương tiện phòng tránh rủi ro được ưa chuộng hơn bao giờ hết Tuy nhiên, chính bản thân vàng cũng mang trong nó những diễn biến phức tạp và khó lường Từ đó, yêu cầu nắm bắt được diễn biến và dự báo giá vàng
trở nên vô cùng quan trọng Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài “Ứng dụng mô
hình ARIMA để dự báo giá vàng Việt nam trong ngắn hạn.”, với mục tiêu phân
tích tình hình biến động của giá vàng Việt Nam thông qua phân tích giá vàng SJC trong thời gian 10 năm từ 01/2005 đến 03/2015; đồng thời ứng dụng mô hình ARIMA để dự báo giá vàng trong 3 tháng 4, 5, 6/2015
Cơ sở lý thuyết được trình bày trong chương 1 Bao gồm cơ sở lý luận về vàng và thị trường vàng, nêu ra được khái niệm, đặc điểm, lịch sử vàng, vai trò của vàng đối với nền kinh tế, đơn vị đo lường và cơ chế định giá; sau đó, đề tài cũng đã trình bày những nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng cũng như sự ảnh hưởng của giá vàng đến nền kinh tế Ngoài ra, chương 1 còn giới thiệu về phương pháp dự báo, cụ thể là mô hình ARIMA và phương pháp Box – Jenkins
Trong chương 2, đề tài tập trung phân tích diễn biến giá vàng theo 3 giai đoạn: 2005 – 2007, 2008 – 2011 và khoảng thời gian còn lại – đầu năm 2012 đến hết quý I năm 2015 Ở giai đoạn 1, giá vàng tăng chậm nhưng tương đối đều do tình hình kinh tế – chính trị khá ổn định Giai đoạn 2 lại chứng kiến sự tăng vọt do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Mỹ, khủng hoảng nợ công châu Âu cùng hàng loạt biến cố chính trị trên thế giới Trong giai đoạn cuối cùng giá vàng có dấu hiệu chững lại, không còn những lần tăng nóng và liên tục lập kỷ lục mới như giai đoạn trước đó; điều này có thể giải thích bởi kinh tế Mỹ và châu Âu tăng trưởng trở lại, lạm phát được kiềm chế khiến thị trường vàng có dấu hiệu hạ nhiệt
Chương 3 tập trung xác định mô hình ARIMA phù hợp nhất và mô hình tìm được là mô hình ARIMA(21,1,1) Sau đó ứng dụng mô hình này để dự báo gia vàng trong ba tháng 4, 5, 6 của năm 2015 Kết quả cho thấy giá vàng tháng 4 giảm nhẹ và
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 8điều này cũng đã xảy ra trong thực tế, mức sai số dự báo và thực tế trong tháng này chỉ là 1,98% Trong 2 tháng tiếp theo, giá vàng được dự báo sẽ bước vào một đợt tăng nhẹ, điều này phù hợp với nhận định của tác giả trong bối cảnh nhu cầu vàng trong nước đang tăng do tình hình chính trị bất ổn leo thang gây tâm lý bất ổn cho người dân, cũng như việc sự khởi sắc chưa rõ ràng của thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản khiến vàng vẫn là lựa chọn của nhiều nhà đầu tư
Cuối cùng là phần kết luận, kiến nghị, chỉ ra những hạn chế và hướng phát triển của đề tài
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 9Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài:
Theo dòng chảy của lịch sử, nhiều hình thái tiền tệ đã được ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu giao thương ngày một phát triển Cùng với đó là sự bùng nổ của các công cụ đầu tư trên thị trường tài chính trong nền kinh tế toàn cầu hóa
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn mà những hình thái tiền tệ và công
cụ đầu tư hiện đại này mang lại thì chúng cũng hàm chứa không ít bất ổn Tiền dấu hiệu thiếu cơ sở ổn định vững chắc, luôn đứng trước áp lực giảm giá Các sản phẩm, công cụ đầu tư tài chính tiềm ẩn nhiều rủi ro do bản chất phức tạp Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 và gần đây hơn là khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
là các minh chứng cụ thể cho điều này Trong bối cảnh như vậy, vai trò của vàng với tư cách của một công cụ tiền tệ, một công cụ đầu tư, một kênh trú ẩn an toàn, bảo đảm được nguồn vốn đã phát triển mạnh mẽ
Tại Việt Nam, việc giữ vàng là hiện tượng rất phổ biến trong dân do truyền thống giữ vàng để làm của, thừa kế, hồi môn Ngoài sự tinh vi, phức tạp thì các sản phẩm tài chính hiện đại ở nước ta còn chưa phát triển, khó tiếp cận và thiếu minh bạch Vì vậy, người dân coi vàng như kênh đầu tư quen thuộc và an toàn Trong khi
đó, thị trường vàng lại luôn biến động Từ đó có thể thấy rằng, vàng kênh đầu tư
sinh lời hấp dẫn nhưng cũng ẩn chứa không ít rủi ro mà nhà đầu tư cần phải nắm bắt, dự báo được chiều dao động của giá vàng nhằm giúp khoản đầu tư có thể sinh lời hay ít nhất cũng hạn chế một phần rủi ro do thị trường mang lại
Nhận thấy được ý nghĩa thực tiễn của việc dự báo chiều biến động của giá
vàng, tôi đã quyết định chọn đề tài “Ứng dụng mô hình ARIMA để dự báo giá
vàng Việt Nam trong ngắn hạn”
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 102 Mục tiêu của nghiên cứu:
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu:
Giá vàng SJC giai đoạn 01/2005 – 03/2015 Bao gồm 123 quan sát tương ứng với 123 tháng trong giai đoạn này
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 11So sánh: So sánh biến động giữa từng giai đoạn, giữa thị trường trong nước
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu Bao gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Diễn biến giá vàng Việt Nam giai đoạn 01/2005 – 03/2015 Chương 3: Dự báo giá vàng tháng 4, 5, 6 năm 2015
Trang 12Phần II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Vàng được sử dụng trong nhiều ngành nghề như trang sức, nha khoa, điện tử… Đặc biệt, bởi sự quý hiếm, tinh khiết, ít bị biến đổi theo thời gian mà từ hàng ngàn năm trước vàng đã được các nhà buôn lựa chọn làm thước đo giá trị – một dạng tiền và vật cất trữ của cải Cho đến ngày nay, vàng vẫn được công nhận như là một tiêu chuẩn tiền tệ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Mã tiền tệ ISO của vàng
là XAU
b Đặc điểm của vàng trong nền kinh tế:
Vàng là một loại kim loại quý:
Vàng có tính bền vững hóa học cao với vẻ đẹp bề ngoài sáng bóng, vàng nguyên chất có độ dẻo cao, dễ dát thành lá mỏng và kéo sợi nên vàng rất phù hợp với việc chế tác đồ kim hoàn, các linh kiện và vi mạch điện tử hay trao đổi, cất trữ Ngoài ra, vàng là vật chất có độ dẫn điện, dẫn nhiệt cao, phản ánh tia hồng ngoại rất mạnh
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 13 Vàng là một loại hàng hóa đặc biệt:
Vàng là một loại hàng hóa đặc biệt và độc nhất bởi trong khi các loại hàng hóa khác được sản xuất để tiêu dùng thì vàng được dùng để tích trữ Không như các loại hàng hóa đơn thuần khác, vàng còn là một loại tiền tệ đặc biệt dùng để trao đổi trong hơn 5000 năm nay Bên cạnh đó, khác với các đồng tiền trên thị trường như USD, Euro, Yên Nhật… luôn chịu ảnh hưởng bởi sự kiểm soát và nền kinh tế của nước đó, vàng tuy mang tính chất công cụ trao đổi của tiền nhưng lại không chịu sự ảnh hưởng hay sự kiểm soát của nền kinh tế cụ thể nào Chính điều này giữ cho giá trị của vàng lâu bền hơn giá trị của các đồng tiền khác
Vàng là một khoản đầu tư và là một trong những tài sản dự trữ quốc gia:
Chính tính chất như một loại hàng hóa của vàng cũng đem lại cho vàng một sức hút hấp dẫn trong vai trò là công cụ đầu tư, chống lạm phát Khác với các kênh đầu tư khác trên thị trường tài chính, trong bối cảnh nền kinh tế bất ổn, thị trường vàng lại khởi sắc và cuốn hút không chỉ những nhà đầu tư nhỏ lẻ mà cả các tổ chức tài chính lớn bởi tính hấp dẫn của vàng như một kênh trú ẩn an toàn, bảo đảm được nguồn vốn Kinh tế ngày càng phát triển, lạm phát gia tăng và vàng trở thành kênh trú ẩn Vàng còn là một khoản tiền đầu tư đã tồn tại cùng chứng khoán và các loại hàng hóa khác góp phần quan trọng trên thị trường thế giới Đặc biệt, khi mà kinh tế thế giới vẫn chưa hoàn toàn phục hồi sau khủng hoảng, đồng tiền bị mất giá, thị trường chứng khoán và bất động sản trầm lắng, thị trường vàng lại trở thành kênh đầu tư hấp dẫn
Một lý do nữa khiến cho các nhà đầu tư hiện nay chú ý đến vàng là do việc gia tăng dự trữ bằng vàng của các Ngân hàng Trung Ương (NHTW) các nước Tại nhiều quốc gia, các NHTW đang đưa vàng vào danh mục dự trữ của mình thay cho việc dự trữ USD như truyền thống trước đây Các quốc gia, ngân hàng và quỹ đầu
tư trên toàn thế giới tăng cường giữ vàng trong danh mục đầu tư của mình để tránh nguy cơ giảm giá trị tài sản do lạm phát và phá giá tiền tệ trong điều kiện suy thoái kinh tế toàn cầu như hiện nay
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 141.1.1.2 Khái quát lịch sử ra đời của vàng và chế độ bản vị vàng:
Khi chủ nghĩa tư bản hình thành, nền sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển, đòi hỏi một trung gian trao đổi phải có giá trị cao được nhiều người chấp nhận và
độ bền cao để bảo tồn giá trị theo thời gian Từ đó, vàng bạc đã loại bỏ dần các kim loại khác để trở thành đồng tiền phổ biến trong thế kỉ XVIII, XIX Trong giai đoạn này, có những nước đã thực hiện chế độ song bản vị Tuy nhiên, cùng tồn tại bên vàng, vai trò trao đổi của bạc bị giảm sút không chỉ về hình thức mà giá trị quý hiếm của vàng cũng ngày càng bỏ xa bạc Cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi giá bạc trên thị trường bị giảm mạnh, hầu hết các nước phương Tây đã áp dụng chế độ bản vị vàng và mối quan hệ giao thương đã bị phụ thuộc nhiều vào châu Âu nên sau đó các nước châu Á lần lượt chuyển sang chế độ bản vị vàng
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 15Tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền được xác định dựa trên nguyên tắc ngang giá vàng
Xuất khẩu và nhập khẩu vàng giữa các quốc gia được tự do hoạt động Do vàng được chu chuyển tự do giữa các quốc gia, cho nên tỷ giá trao đổi thực tế trên thị trường
tự do không biến đổi đáng kể so với bản vị vàng, bởi lẽ tất cả đều được quy ra vàng
Dưới chế độ bản vị vàng, NHTW luôn phải duy trì một lượng vàng dự trữ trong mối quan hệ trực tiếp với số tiền phát hành Tiền do NHTW phát hành được đảm bảo bằng vàng 100% Số vàng dự trữ này nhằm đảm bảo cho NHTW xử lý uyển chuyển việc chuyển đổi tiền ra vàng mà không gặp bất cứ trở ngại nào Như vậy trong chế độ bản vị vàng, NHTW chỉ có vai trò là người mua vàng và thông qua
đó phát hành tiền ra lưu thông, do đó đã hạn chế sự “năng động” của NHTW
Có tính đặc trưng của một hệ thống tiền tệ quốc tế có trật tự Hệ thống tiền
tệ các quốc gia luôn hoạt động thống nhất, trật tự bên cạnh nhau Mâu thuẫn quyền lợi giữa các quốc gia ít khi xảy ra vì có sự tác động của cơ chế dòng vàng
Giúp cho thương mại và đầu tư thế giới phát triển hưng thịnh Hàng rào thương mại vàng được gỡ bỏ hoàn toàn và kiểm soát ngoại hối, chu chuyển vốn ít khi được áp dụng, cộng với việc không có một sự phá giá hay nâng giá nào giữa các đồng tiền của các quốc gia lớn trên thế giới đã giúp cho thị trường vốn quốc tế phát triển
Trang 16Quốc gia thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế trải qua giai đoạn kinh tế đình đốn trong khi các quốc gia thặng dư thanh toán quốc tế lại đối mặt với lạm phát
Trữ lượng vàng quyết định mức cung tiền tệ của một quốc gia trở thành nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của kinh tế
Chế độ bản vị vàng hiện đại 1925 – 1931:
Chế độ bản vị vàng được tái ấn định sau chiến tranh gặp nhiều khó khăn, biến dạng không giống như chế độ bản vị vàng nguyên thủy và cũng không hoạt động ổn định như trước Đây là chế độ bản vị hối đoái vàng: tiền giấy không được trực tiếp chuyển đổi ra vàng mà phải thông qua một ngoại tệ khác NHTW thay đổi cơ cấu
dự trữ quốc tế, chuyển từ nắm giữ vàng sang nắm giữ ngoại tệ được chuyển đổi ra vàng như bảng Anh và ngày càng nhiều bằng USD
Sau cuộc đại suy thoái kinh tế năm 1931, chế độ bản vị vàng chính thực sụp
đổ sau hơn 50 năm “trị vì”
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 171.1.1.3 Vai trò của vàng đối với nền kinh tế:
Vàng là kênh trú ẩn an toàn cho lạm phát, khủng hoảng và các bất ổn kinh
tế – chính trị:
Hàng nghìn năm nay, vàng vốn được coi là công cụ cất giữ giá trị an toàn nhất Kinh tế học truyền thống cho rằng vàng là một kênh trú ẩn an toàn cho lạm phát, khủng hoảng và các bất ổn kinh tế – chính trị và thực tế cũng đã chứng minh điều đó Bất chấp những biến động xảy ra trong suốt chiều dài lịch sử, từ chế độ bản
vị vàng, sang việc thả nổi giá vàng, lực mua dài hạn của giá vàng vẫn ổn định theo thời gian Trong những cuộc khủng hoảng kinh tế hay bất ổn chính trị, vai trò này của vàng càng được thể hiện rõ nét Chẳng hạn, giá vàng đã tăng cao tới 1920,30 USD/oz trong cuộc khủng bố ngày 11/09/2001 xảy ra hay liên tục lập những kỷ lục mới khi những công cụ tài chính khác đang lao đao trong cuộc khủng hoảng tài chính 2007 – 2009
Lạm phát thể hiện mối tương quan giữa hàng hóa và số tiền mua được hàng hóa đó Khi lạm phát tăng, cụ thể là hàng hóa vàng dịch vụ tăng giá, thì nhà đầu tư
có khuynh hướng mua vàng do vàng có giá trị thực và đương nhiên sức mua của vàng ổn định hơn Từ đó có thể nhận thấy rằng, việc nắm giữ vàng sẽ an toàn và có lợi hơn khi lạm phát tăng cao Nhìn chung, vàng ít biến động hơn các tài sản khác trên thị trường tài chính Trong thời kỳ khó khăn, vàng có xu hướng an toàn hơn các công cụ khác; thậm chí, những nhân tố gây cản trợ các công cụ đầu tư lại giúp cho giá vàng tăng lên Việc nắm giữ vàng là lựa chọn an toàn trong bối cảnh kinh tế nhiều bất ổn
Vàng được xem là nơi ẩn nấp an toàn khi lạm phát xảy ra do áp lực lạm phát tăng đồng nghĩa với giá cả hàng hóa dịch vụ tăng, đồng tiền mất giá và các nhà đầu
tư có khuynh hướng mua vàng để bảo vệ giá trị của đồng tiền Vàng là kênh đầu tư được ưu tiên lựa chọn khi thị trường bất ổn; khi thị trường tồn tại nhiều bất ổn như chiến tranh, thiên tai… vàng cũng là sự lựa chọn của các nhà đầu tư để bảo vệ giá trị của đồng tiền
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 18 Vàng là cơ sở làm thước đo chung xác định tỷ giá giữa các đồng tiền:
Hiện nay khi mà Chính phủ của các nước sử dụng đồng tiền như một công cụ
hỗ trợ kinh tế và các mục đích khác, đồng tiền nước đó có thể không được định giá bằng giá trị thực của nó Do đó, cần có một thước đo chung đánh giá lại giá trị đồng tiền đó trên thị trường, không một loại hàng hóa nào làm tốt điều này hơn vàng Ví
dụ, năm 2000, một oz vàng ở Mỹ có giá là 1500 USD và ở Trung Quốc có giá 7500 NDT, như vậy theo cách tính ngang giá sức mua, 1 USD = 5 NDT Thường thì giá vàng biến động ít theo chiều hướng tăng lên, sở dĩ giá vàng có tăng là do tỷ lệ lạm phát của các đồng tiền Đến năm 2012 do lạm phát và một số biến đổi về giá cả, 1
oz vàng ở Mỹ có giá 1700 USD, còn ở Trung Quốc có giá là 10200 NDT Lúc này, NHTW Trung Quốc xác định 1 USD = 7 NDT Tuy nhiên, sử dụng ngang sức mua của giá vàng ta xác định như sau: 1700 USD = 10200 NDT, như vậy 1 USD = 6 NDT Vậy, con số mà Trung Quốc đưa ra là quá cao, và các nhà hoạch định kinh tế nói rằng Trung Quốc đang định giá thấp đồng tiền của nước mình
Nhu cầu đa dạng hóa danh mục đầu tư và nguồn tài sản dự trữ của NHTW:
Lý do nắm nhiều tài sản khác nhau trong một danh mục đầu tư là để tránh những rủi ro từ biến động giá của một loại tài sản nhất định Danh mục đầu tư có bao gồm vàng sẽ ổn định hơn những danh mục khác Đưa vàng – một tài sản có giá trị thực ít biến động hơn các tài sản tài chính khác như chứng khoán, vào danh mục đầu tư của mình sẽ đảm bảo an toàn về giá trong trường hợp thị trường biến động dẫn đến rủi ro mất giá của các tài sản tài chính Ngoài ra, vàng cũng được xem là công cụ đầu tư hiệu quả nhằm chống rủi ro giảm giá đồng USD Trong bối cảnh đồng USD giảm giá và biến động, nhà đầu tư không còn tin tưởng vào sự đảm bảo ổn định của danh mục đầu
tư dựa vào đồng USD nữa, thì vàng là sự lựa chọn thay thế hiệu quả nhất
Đồng thời, vàng cũng được NHTW các nước lựa chọn làm tài sản dự trữ Trung bình các NHTW giữ khoảng 10% vàng trong nguồn tài sản dự trữ Vì phần lớn trong nguồn tài sản dự trữ là USD nên các NHTW luôn chủ động thay thế USD bằng những tài sản dự trữ khác để đa dạng hóa nguồn tài sản dự trữ Sự kết hợp
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 19giữa các yếu tố như cuộc khủng hoảng tài chính 2008, sự mất giá USD cũng như việc vàng liên tục lập các mức giá kỷ lục luôn là yếu tố hấp dẫn cũng như tạo nhiều
cơ hội cho các NHTW đa dạng nguồn dự trữ của mình
Vàng là phương tiện lưu trữ giá trị:
Khi suy thoái kinh tế ngày càng lan rộng, các nền kinh tế sẽ tăng lượng dữ trữ vàng Nguyên nhân bởi vì dự trữ ngoại hối lớn cũng cho thấy sức hỗ trợ mạnh của đồng tiền của một quốc gia Tổng lượng vàng dự trữ ở trên toàn thế giới khoảng
125000 – 130000 tấn; trong đó các NHTW nắm giữ khoảng 30000 tấn Các NHTW nắm giữ vàng nhiều nhất là các NHTW của Mỹ, Đức, Thụy Sỹ, Pháp, Ý Lượng dự trữ vàng của các NHTW ở châu Á tương đối thấp so với ở châu Âu và châu Mỹ
1.1.1.4 Đơn vị đo lường và cơ chế định giá:
a Đơn vị đo lường:
Đơn vị đo lường:
Trên thị trường thế giới, vàng thường được đo lường theo hệ thống khối lượng troy, trong đó 1 troy oz (ozt) tương đương 31,1034768 g
Trong ngành kim hoàn ở Việt Nam, khối lượng của vàng được tính theo đơn
vị là cây (lượng) hoặc chỉ
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 20Ví dụ:
NYMEX contract size: 100 oz 99,5%
TOCOM contract size: 100 g, 1 kilo 99,99%
DGCX contract size: 1 kilo 99,5%
Đơn vị yết giá và cách yết giá:
Thị trường vàng thế giới:
Đơn vị yết giá (thông thường): USD/oz Ngoài ra còn có: GBP/oz; EUR/oz
1 oz = 1 troy oz = 0,83 lượng, hay: 1 lượng = 1,20556 oz
Thị trường vàng trong nước:
Đơn vị yết giá: VND/lượng
Công thức quy đổi giá vàng từ đơn vị tính là USD/oz ra đơn vị tính VND/lượng:
Giá vàng quy đổi được áp dụng tại các sàn giao dịch vàng trong nước: Giá vàng quy đổi (VND/lượng) = Giá vàng thế giới x 1,20556 x Tỷ giá USD/VND
Nếu nhập khẩu trực tiếp:
Giá vàng (VND/lượng) = (Giá vàng thế giới + Chi phí vận chuyển + Chi phí bảo hiểm) x (1+ Thuế suất nhập khẩu) x 1,20556 x Tỷ giá USD/VND + Phí gia công
Công bố giá vàng:
Giá được công bố trên sàn hay tại các trung tâm giao dịch gồm giá mua (bid)
và giá bán (ask) Giá đặt mua (bid) hay giá mua là giá mà tại đó một nhà môi giới sẵn sàng trả để mua vàng vào, hay lệnh đặt bán của nhà đầu tư được thực hiện Giá đặt bán (ask) hay giá bán là giá được chào bởi người bán, hay tại đó lệnh đặt mua của nhà đầu tư được thực hiện
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 21Giá vàng cũng được xác định trên quy luật cung – cầu Vàng được chủ yếu sử dụng làm công cụ dự trữ giá trị nên trong từng thời điểm nhất định, việc tích trữ vàng của giới đầu tư cũng như các ngân hàng tăng mạnh thì giá vàng sẽ tăng và ngược lại, giá vàng giảm khi các tổ chức này bán ra
Ngoài ra, cũng phải kể đến lượng cung vàng trong khai thác, mặc dù sản lượng không nhiều, chỉ tăng 1,7%/năm, nhưng lượng cung này cũng ảnh hưởng đến giá vàng Giá vàng được tính bằng USD, do đó giá vàng phụ thuộc rất nhiều vào sự mạnh yếu của đồng USD so với các đồng tiền mạnh khác Nghĩa là khi đồng USD suy yếu, giá vàng sẽ tăng và ngược lại Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 22 Thị trường vàng không nhất thiết phải tập trung ở một vị trí địa lý xác định
mà là bất cứ đâu diễn ra hoạt động mua – bán vàng, do đó nó được gọi là “thị trường không gian”
Thị trường vàng là thị trường toàn cầu và “không ngủ” Do sự chênh lệch
về múi giờ giữa các khu vực nên thị trường vàng diễn ra suốt ngày đêm
Các nhóm thành viên thị trường duy trì quan hệ liên tục với nhau thông qua các phương tiện điện tử: điện thoại, mạng internet, telex, fax Do hiện nay thông tin được truyền đi rất nhanh chóng và hiệu quả nên tuy các thành viên tham gia thị trường ở rất xa nhau nhưng vẫn hoạt động hiệu quả và suôn sẻ
Thị trường vàng rất nhạy cảm với chính sách tiền tệ của các quốc gia và các
sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý
c Phân loại:
Thị trường vàng giao ngay:
Thị trường vàng giao ngay là thị trường mà ở đó việc mua – bán vàng được thực hiện ngay hoặc 2 ngày kể từ thời điểm thỏa thuận Các nghiệp vụ này được thực hiện trên cơ sở giá vàng giao ngay, giá được xác định và có giá trị tại thời điểm giao dịch
Trang 23thường Hợp đồng mua – bán vàng kỳ hạn được sử dụng để cố định giá mua hoặc giá bán vàng theo một mức giá cố định đã biết trước mà không cần tính đến sự biến động của giá vàng
1.1.2.2 Các nhân tố gây biến động giá vàng:
Mối quan hệ cung – cầu:
Trước tiên, vàng là một loại hàng hóa đặc biệt Chính vì mang tính chất của một loại hàng hóa nên vàng cũng chịu tác động của quy luật cung – cầu trên thị trường
Xét về nguồn cung của vàng, các nguồn cung bao gồm: hoạt động khai thác vàng, hoạt động bán vàng của các NHTW và IMF, vàng phế liệu, hoạt động bán vàng để phòng ngừa rủi ro giá vàng, hành động rút vốn của các nhà đầu tư Vàng vật chất được cung cấp chủ yếu từ những nước có trữ lượng vàng lớn, sản lượng xuất khẩu lớn có tầm ảnh hưởng đến thị trường vàng thế giới như: Nam Phi, Mỹ, Trung Quốc, Úc Theo lý thuyết cung – cầu, khi nguồn cung tăng sẽ khiến giá vàng giảm Song vàng đặc biệt ở chỗ, khác với những loại hàng hóa thông thường khi đem tiêu dùng sẽ làm mất đi giá trị của hàng hóa đó; với vàng, dù được sử dụng làm vật cất trữ, trang sức hay ứng dụng trong các thiết bị điện tử hoàn toàn vẫn có thể tái chế với giá trị không hề thay đổi Bên cạnh đó, lượng vàng nắm giữ trên toàn cầu là rất lớn, lên tới 160000 tấn, gấp đến 60 lần sản lượng vàng khai thác mới hàng năm Do đó, chủ yếu giá vàng chịu tác động từ phía cầu nhiều hơn
Xét về nhu cầu, toàn thế giới đều muốn có thứ kim loại này và tùy vào mục đích
sử dụng mà có những nhu cầu khác nhau: phục vụ cho hoạt động chế tác trang sức, dùng trong công nghiệp, tích lũy, đầu tư, thanh toán… Cầu về vàng tăng làm giá vàng tăng theo Điều này thể hiện rõ nét trong chu kỳ kinh doanh vàng đặc biệt của một số nước như mùa cưới hỏi ở Ấn Độ, dịp Tết ở Trung Quốc… Đối với nền kinh tế nhiều bất ổn, việc đi tìm một công cụ đầu tư và tích trữ an toàn như vàng là điều rất dễ hiểu,
do đó nhu cầu vàng ngày càng gia tăng cao Hiện tại, nhu cầu vàng đang được hỗ trợ vững chắc bởi các yếu tố như cầu mua vàng của một số NHTW nhằm tích trữ vàng,
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 24nhu cầu về đầu tư vàng thỏi và đầu cơ theo chỉ số giá vàng và nhất là nhu cầu nắm giữ vàng của các nhà đầu tư Tùy vào từng thời điểm mà nhu cầu tăng cao trong những thời điểm khác nhau và đôi khi xảy ra cùng lúc, do đó tác động mạnh đến cầu vàng trong cùng thời điểm Lượng cầu tăng làm giá vàng tăng và ngược lại
Sức mạnh của đồng USD:
Sức mạnh đồng USD tác động lên giá vàng theo hai hướng
Thứ nhất, với quan hệ là hai tài sản thay thế trong dự trữ ngoại hối và trong danh mục đầu tư Ở mối quan hệ này, vàng và USD có xu hướng biến động ngược chiều nhau Xuất phát từ chế độ bản vị vàng, hối đoái, USD đã trở thành phương tiện dữ trữ quốc tế bên cạnh vàng Khi giá trị đồng USD biến động mạnh, giảm giá nhiều, các NHTW sẽ xem xét việc cơ cấu lại danh mục dự trữ Khi đó họ có xu hướng giảm tỷ trọng USD và tăng lượng dự trữ vàng, làm nhu cầu vàng tăng mạnh khiến cho giá vàng tăng Trong trường hợp ngược lại, NHTW sẽ xem xét khả năng bán vàng và tăng dự trữ USD Điều này sẽ tác động tăng cung vàng, khi đó giá vàng
có xu hướng giảm Còn với vai trò là tài sản đầu tư, khi giá tài sản tăng tương đương lợi nhuận tăng và người ta sẽ đầu tư vào tài sản đó nhiều và giảm đầu tư vào tài sản còn lại gây ra biến động giá ngược chiều
Thứ hai, trong thương mại quốc tế, USD hiện vẫn đang là đồng tiền giữ vai trò chủ đạo, nhiều giao dịch trên thị trường quốc tế được yết giá bằng đồng USD Vàng cũng là hàng hóa được yết chủ yếu bằng USD Việc tăng, giảm giá trị của USD sẽ kéo theo biến động giá của các loại hàng hóa khác Do đó, trong mối quan hệ này vàng và USD cũng có biến động ngược chiều Khi phân tích sự biến động giá vàng, cần đánh giá đến giá trị USD, thông qua sức mạnh nền kinh tế Mỹ Những yếu tố chính được xem là “chỉ báo” phản ánh sức mạnh hay sự suy yếu của nền kinh tế như tăng trưởng GDP, chỉ số công nghiệp Dow Jones, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp Đặc biệt khi những chính sách tiền tệ, tỷ giá thay đổi sẽ tác động đến giá trị đồng USD nên cũng cần được xem xét
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 25 Giá dầu:
Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng được nhắc đến nhiều nhất là giá dầu thô Mối quan hệ này khá phức tạp vì dầu và vàng là hai loại hàng hóa rất đặc biệt Dầu là đầu vào quan trọng cho sản xuất, khi giá dầu thay đổi, toàn bộ nền kinh tế thế giới bị ảnh hưởng, ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn định kinh tế của nhiều quốc gia Với vai trò là một nguyên liệu đầu vào, khi giá dầu tăng mạnh trước tiên
sẽ ảnh hưởng đến ngành vận tải, tiếp đến nó sẽ đẩy giá thực phẩm các loại hàng hóa khác tăng, vàng cũng không ngoại lệ Giá dầu tăng mạnh có thể là nhân tố chi phí đẩy, dẫn đến tình trạng lạm phát Khi tình trạng lạm phát gia tăng sẽ làm cho nền kinh tế bất ổn, lúc này người dân và giới đầu tư phải tìm đến vàng với vai trò là công cụ bảo toàn giá trị hay một tài sản đầu tư an toàn Yếu tố cầu tăng sẽ là lực đẩy giá vàng lên cao Năm 2007, thời điểm giá dầu tăng mạnh từ 100 USD/thùng trong quý I lên 147,24USD/thùng trong quý III, giá vàng lúc đó cũng lên đến đỉnh kỷ lục
là 1032 USD/oz Một nguyên nhân khác là khi giá dầu tăng cao do cầu vượt cung thì các nước trong khối OPEC và các nước xuất khẩu dầu đều thu được nhiều ngoại
tệ, lúc đó họ sẽ chuyển sang mua vàng dự trữ khiến giá vàng bị đẩy lên cao
Về cơ bản, tác động của giá dầu lên giá vàng là tác động cùng chiều nhưng nếu xem xét mối quan hệ giữa giá vàng và giá dầu trong bối cảnh nền kinh thế suy thoái, sản xuất trì trệ dẫn đến cầu về dầu giảm mạnh; ngược lại sự suy thoái, bất ổn lại thúc đẩy cho nhu cầu về vàng với vai trò là tài sản bảo hiểm lại tăng cao Do đó vàng và dầu khi đó lại biến động ngược chiều nhau Như vậy xem xét mối quan hệ giữa giá dầu và giá vàng, ngoài việc giá dầu ảnh hưởng trực tiếp đến giá vàng thông qua vai trò là nguyên liệu sản xuất đầu vào cho ngành khai thác, sản xuất và lưu thông vàng Giá dầu còn ảnh hưởng gián tiếp đến giá vàng thông qua tác động của
nó lên “sức khỏe” nền kinh tế Mặt khác, khi nền kinh tế biến động lại tác động trở lại lên giá cả hai loại hàng hóa đặc biệt này
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 26 Lạm phát:
Trong bất kỳ một nền kinh tế nào, lạm phát luôn là chỉ số rất được quan tâm,
nó phản ảnh sức khỏe của nền kinh tế, do đó nền kinh tế bị lạm phát cao sẽ là nhân
tố làm ảnh hưởng đến giá vàng, bởi vì lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung, trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Qua các thời kỳ lạm phát, người ta thường thấy giá vàng có xu hướng tăng Ngoài hướng tác động: lạm phát tăng đồng nghĩa với việc đồng tiền mất giá, theo tác động như mối quan hệ vàng và USD, giá vàng sẽ tăng Bên cạnh
đó, đồng tiền mất giá khiến nhiều người phải tìm đến vàng như một phương tiện cất trữ giá trị ổn định và vàng thường xuyên là tài sản được chọn lựa trong thời kỳ lạm phát Vàng được lựa chọn là do nó có giá trị ổn định nhất Tính ổn định giá trị của vàng có thể được giải thích bởi vàng là thứ kim loại quý giá, có mối quan hệ cung – cầu khá đặc biệt nên giá vàng luôn có xu hướng tăng trong dài hạn Như vậy, lạm phát tăng cao làm cho giá vàng tăng còn nếu tỷ lệ lạm phát ở mức hợp lý sẽ thúc đẩy sản xuất tiêu dùng phát triển Trong một nền kinh tế khỏe mạnh giới đầu tư sẽ tìm đến những kênh đầu tư sinh lời cao hơn là việc đầu tư an toàn vào vàng Do đó lạm phát hợp lý khiến nhu cầu đầu tư vào vàng giảm sút, giá vàng sẽ giảm
Tình hình kinh tế của các cường quốc:
Tình hình kinh tế của các cường quốc như Mỹ và các nước Châu Âu cũng góp một phần lớn ảnh hưởng đến giá vàng Do đã phát triển nền kinh tế thị trường và một nền tài chính phát triển đa dạng, một khi nền kinh tế của các quốc gia này biến động thì các quốc gia khác cũng bị ảnh hưởng do cũng tham gia vào thị trường Châu Âu hoặc Mỹ không ít thì nhiều (đầu tư trực tiếp, gián tiếp, mua trái phiếu hoặc
do các công ty đa quốc gia hoạt động trên khắp thế giới) Từ ngày 09/09/2008 đến 12/09/2008, giá vàng quốc tế đã chứng kiến một sự sụt giảm nghiêm trọng từ mức
800 USD/oz xuống chỉ còn mức thấp nhất là 737 USD/oz, sở dĩ có một sự sụt giảm đáng kể về giá như trên là do dự đoán tình hình kinh tế Mỹ lúc đó đang trên đà phục hồi, đồng USD mạnh lên và nhu cầu tiêu thụ giảm dẫn đến giá cả các mặt hàng
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 27dùng để sản xuất tiêu dùng nhất là kim loại quý đặc biệt là vàng bị bán tháo để mua vào các tài sản khác như chứng khoán và đầu tư vào USD Đồng thời, thị trường tài chính thời điểm đó diễn biến phức tạp đã khiến không ít quỹ đầu tư bán ra một khối lượng lớn vàng để bù đắp lại những khoản đầu tư thua lỗ Ngày 12/09/2008, khi những công bố dữ liệu của Mỹ tương đối không khả quan như cán cân thương mại của Mỹ tiếp tục thâm hụt, khi giá nhập khẩu đã giảm mạnh hơn nhiều, thị trường lao động tiếp tục không khả quan khi số người thất nghiệp tăng cao 445000 người đã làm USD trượt giá trở lại so với các đồng tiền khác và vàng tăng lên mức 750 USD/oz trong phiên New York Ngày 13/09/2008, vàng phục hồi lại mức 766,50 USD/oz Khủng hoảng cho vay thế chấp bất động sản dưới chuẩn đã khiến con số 5 tập đoàn tài chính lớn trên Phố Wall chỉ còn lại 2 Sau vụ phá sản Ngân hàng đầu tư lớn nhất của Mỹ – Bear Stearns, vụ Chính phủ tiếp quản Fannie Mae và Freddie Mac, ngày 15/09/2008, Phố Wall chứng kiến sự sụp đổ của Lehman Brothers và AIG, thương vụ sáp nhập gây chấn động thế giới được coi là lớn nhất kể từ sau khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933: Bank of America mua lại Merrill Lynch với giá
50 tỷ USD Vụ sụp đổ các ngân hàng đầu tư lớn nhất Mỹ do cơn suy thoái khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn được coi như là cuộc khủng hoảng thế kỷ đã dẫn đến tâm lý lo sợ và hoang mang cho các quỹ đầu tư và đầu cơ, ngày 17/09/2008, vàng biến động lên mức 863 USD/oz, trong phiên có lúc tăng tới 120 USD/oz tại phiên New York Lúc này, Bộ tài chính và Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) buộc phải đệ trình lên Quốc hội kế hoạch ứng cứu khẩn cấp các ngân hàng còn lại bằng cách mua lại các khoản nợ xấu với gói cứu trợ lên đến 700 tỷ USD Thị trường chứng khoán lao dốc trên khắp thế giới do lo sợ rủi ro, Ủy ban chứng khoán một số quốc gia buộc phải ban bố tình trạng khẩn cấp, cho vay hỗ trợ đồng thời cấm tạm thời việc bán khống để giảm bớt mối nguy hại lây lan Chính những khủng hoảng liên tục này và nghi ngờ khả năng giải quyết của FED mà vàng lại được coi là tài sản đầu tư an toàn nhất trong giai đoạn khủng hoảng đó
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 28 Thị trường chứng khoán:
Thị trường chứng khoán Mỹ luôn là thị trường quyết định cho biến động của các thị trường chứng khoán khác gồm Châu Âu và Châu Á do khối lượng giao dịch lớn Theo đó tầm ảnh hưởng của chứng khoán Mỹ lên giá vàng là quan trọng hơn cả
so với các thị trường chứng khoán khác Biến động giá của thị trường chứng khoán thường ngược chiều với biến động của giá vàng, tuy nhiên chứng khoán không phải
là nhân tố thường xuyên ảnh hưởng lên giá vàng
Những nhân tố khác:
Chính trị:
Chiến tranh luôn gây nên những tổn thất rất lớn và lịch sử đã có thời kỳ chứng kiến Mỹ phải phá giá đồng tiền và vô hiệu hóa thỏa thuận Bretton Woods bởi vì thâm hụt cán cân thương mại quá lớn do tài trợ chiến tranh xâm lược Việt Nam Những cuộc xung đột gần đây giữa Mỹ và các quốc gia khác cũng luôn là mối lưu tâm của giới đầu
tư vàng Tình hình hạt nhân tại Iran và Bắc Triều Tiên cũng như xung đột giữa Nga và khối các nước Mỹ – Phương Tây tại Gruzia làm cho tình hình chính trị thế giới nóng lên từng ngày Giá vàng cũng theo đó bị ảnh hưởng khi những xung đột chính trị đem đến nguy cơ chiến tranh và khó khăn cho nền kinh tế toàn cầu Khủng bố cũng có thể là nguyên nhân làm giá vàng biến động đột biến Như vụ khủng bố 11/09 tại Mỹ, đầu ngày giá vàng giao dịch ổn định ở mức 271 USD/oz nhưng ngay khi có vụ khủng bố xảy ra, tin tức lan đi là lập tức giá vàng tăng mạnh, đến giữa trưa đã lên tới 289 USD/oz Hay vụ khủng bố tàn khốc ở Mumbai Ấn Độ cũng đã đẩy giá vàng lên cao Mặt khác, nếu những bất ổn chính trị xảy ra ở những vùng có năng suất về khai thác vàng lớn trên thế giới sẽ làm gián đoạn nguồn cung vàng
Đầu cơ và tâm lý nhà đầu tư:
Vàng vừa là hàng hóa đồng thời cũng là tài sản đầu cơ hữu hiệu Đầu cơ trên
là hoạt động kinh doanh dựa theo các tín hiệu ngắn hạn của thị trường hoặc cố tình tạo ra biến động trên thị trường để trục lợi ngắn hạn Họ sẽ mua vào khi nhận định rằng, sẽ có thông tin tích cực giúp thị trường đi lên hay giá vàng sẽ lên mạnh Các
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 29nhà đầu cơ sẽ phát lệnh bán khi thị giá vàng phiếu đã tăng lên một mức dự định so với giá mua vào hoặc khi nhận thấy tình hình thị trường có xu hướng xấu đi Các nhà đầu cơ thường được chia thành hai nhóm là đầu cơ theo phong trào và đầu cơ chuyên nghiệp, trong đó thành phần đầu cơ theo phong trào chiếm số đông Các tay đầu cơ chuyên nghiệp thường là những "ông lớn" dạn dày kinh nghiệm, có tiềm lực tài chính mạnh Dù là hoạt động đầu cơ của những "ông lớn" hay đầu cơ theo phong trào thì hoạt động đầu cơ cũng ảnh hưởng tới giá vàng
Thời tiết, thiên tai, chu kỳ lễ hội, khủng bố:
Các nhân tố ảnh hưởng trên tuy không cơ bản và lâu dài nhưng cũng có khả năng ảnh hưởng đột biến khiến giá vàng biến động Chu kỳ lễ hội và phong tục tập quán mua vàng làm tài sản hồi môn trong đám cưới tại một số quốc gia cũng khiến giá vàng tăng theo
Ngoài những nhân tố kể trên, giá vàng Việt Nam còn chịu tác động bởi 2 nhân tố khác:
Giá vàng thế giới:
Sự liên thông ngày càng tăng của thị trường tài chính quốc tế khiến cho giá cả các loại hàng hóa ngày càng thống nhất trên toàn thế giới và được quyết định với quy luật cung – cầu trên thị trường toàn cầu đặc biệt là đối với loại hàng hóa có tiêu chuẩn rõ ràng như vàng Vì vậy, giá vàng Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào biến động của giá vàng thế giới Trên lý thuyết, mối quan hệ này được thể hiện dựa trên công thức sau:
Giá vàng Việt Nam = (Giá vàng thế giới + Phí vận chuyển + Phí bảo hiểm) x (1 + Thuế nhập khẩu) x 1,20556 x Tỷ giá USD/VND + Phí gia công + Phí hải quan Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào giá vàng Việt Nam cũng biến động sát theo giá vàng thế giới Có những trường hợp chiều biến động của giá vàng Việt Nam cách rất xa thậm chí đi ngược lại với những thay đổi của giá vàng thế giới Hiện tượng này có thể được lý giải bởi nhiều nguyên nhân: do cung – cầu vàng
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 30trong thị trường Việt Nam khác biệt mối quan hệ này trên thế giới, do hiện tượng đầu cơ hay tâm lý của người dân, hoặc do những chính sách thắt chặt hay nới lỏng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tùy vào từng thời kỳ…
Các chính sách của NHNN:
Những chính sách của NHNN có ảnh hưởng không nhỏ tới giá vàng trong nước Chính sách của NHNN tác động tới mối quan hệ cung – cầu vàng, từ đó làm ảnh hưởng tới giá vàng trên thị trường, ví dụ như là ban hành những quy định về nhập khẩu vàng hay đưa ra thuế suất xuất khẩu vàng
Chính sách tiền tệ, mà cụ thể là tỷ giá USD/VND sẽ có ảnh hưởng tới giá vàng Tỷ giá USD/VND vừa là công cụ, vừa là kết quả của chính sách tiền tệ, tác động trực tiếp lên kỳ vọng vào giá trị đồng VNĐ, và là một trong những thông số tham chiếu trong quyết định đầu tư của các nhà đầu tư trên chị trường tài chính, mà vàng là một kênh đầu tư trên thị trường đó
Trên thực tế những năm trở lại đây, nhiều chính sách của NHNN về vàng được đưa ra đã có những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới giá vàng Tháng 4 năm
2012, khi nghị định 24/2012/NĐ – CP của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng ra đời, mạng lưới mua – bán vàng miếng mới của các ngân hàng thương mại (NHTM) và các doanh nghiệp được NHNN cấp phép đã đạt được những kết quả nhất định ban đầu Ðiểm thành công rõ nét nhất của công tác triển khai mạng lưới mới là mức chênh lệch giá vàng trong nước và quốc tế đã giảm nhiệt nhanh chóng, từ gần 5 triệu đồng/lượng về khoảng 3 triệu đồng/lượng Đặc biệt, đã không
có cơn sốt giá hoặc tình trạng khan hiếm nào xảy ra Hay những tác động tiêu cực
và ý kiến trái chiều của việc cấm sàn vàng và kinh doanh vàng tài khoản trong năm
Trang 311.1.2.3 Ảnh hưởng của giá vàng đến nền kinh tế Việt Nam:
Hoạt động xuất nhập khẩu:
Khi nói đến các yếu tố ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu thì ai cũng biết rằng sự ảnh hưởng lớn nhất đến thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam đó là sự tăng giảm của đồng USD Vậy vàng có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động xuất nhập khẩu? Vàng cũng là một loại hàng hoá, nhưng nó đặc biệt hơn mọi loại hàng hoá ở giá trị
và sự phổ biến của nó trên thế giới Việt Nam là một nước mà gần đến 95% vàng được nhập khẩu từ nước ngoài, vì vậy hàng năm phải chi hàng trăm triệu USD để nhập khẩu vàng, mà lại không có nguồn thu từ xuất khẩu để cân bằng cán cân thương mại Nhập vàng đồng nghĩa phải tiêu đi một số lượng lớn ngoại tệ nên cán cân ngoại tệ trong nước cũng bị ảnh hưởng Bên cạnh đó khi giá vàng tăng cao sẽ có trường hợp người ta gom USD để nhập vàng dù là đường chính ngạch hay đường lậu đẩy tỷ giá USD/VND tăng cao, điều đó gây không ít khó khăn cho việc nhập khẩu các mặt hàng khác
Giá vàng tăng cao còn ảnh hưởng đến giá vàng nguyên liệu trong việc chế tác sản phẩm mỹ nghệ xuất khẩu hay các đồ điện tử, các sản phẩm Việt Nam sẽ xuất khẩu ra các thị trường trên thế giới, giá các sản phẩm đương nhiên sẽ tăng theo giá vàng Trong bối cảnh kinh tế khó khăn giá hàng hoá tăng giá cũng là một bất lợi đối với sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam do Việt Nam vẫn được biết đến với nguồn nhân công cũng như nguồn nguyên liệu rẻ
Hoạt động đầu tư:
Trên thị trường tài chính Việt Nam hiện nay có bốn kênh đầu tư chính được giới đầu tư quan tâm hàng đầu là vàng, chứng khoán, USD và bất động sản
Trong điều kiện nền kinh tế lạm phát cao, điển hình như năm 2007 – 2008, để tránh mất giá tiền tệ, nhiều người đã chọn tích trữ vàng thay vì tiền mặt và vào những lúc giá vàng trong nước có chênh lệch đáng kể so với giá vàng thế giới các nhà đầu cơ cũng tranh thủ mua đi bán lại để hưởng lời từ chênh lệch giá Từ lúc thị trường vàng có nhiều biến động đến nay hiệu ứng của vàng đã thu hút không ít nhà
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 32đầu tư chuyển từ đầu tư chứng khoán, bất động sản và USD sang đầu tư vàng Khi
mà bảng chứng khoán liên tiếp bị bao trùm bởi màu đỏ thì thị trường vàng lại được hâm nóng bởi rất nhiều thông tin hỗ trợ Những thời điểm như vậy, giới đầu tư nghĩ rằng đầu tư vào vàng có lời hơn và ít rủi ro hơn vào chứng khoán, họ ồ ạt bán chứng khoán ra để lấy tiền mặt đầu tư vào thị trường vàng Việc bán ồ ạt các loại chứng khoán cùng một lúc của giới đầu tư cũng đồng thời làm cho giá chứng khoán nói chung giảm đi
Thị trường bất động sản diễn ra trầm lắng một phần là do sự ảnh hưởng từ thị trường vàng Ở Việt Nam, người ta sử dụng vàng làm đơn vị thanh toán và phương tiện thanh toán trong giao dịch mua – bán nhà đất, tập trung tại thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh phía Nam Trong thực tế, ít người thanh toán trực tiếp với nhau bằng vàng, mà vàng chỉ là đơn vị thanh toán, người mua và người bán vẫn thanh toán với nhau bằng tiền mặt, chủ yếu là đồng Việt Nam Giá đất vẫn được nhà đầu
tư tính bằng vàng, vì vậy khi thị trường vàng biến động mà ở đây là sự tăng giá của vàng sẽ kéo theo tâm lý hoang mang cho người dân, những người đã mua nhà và trả bằng vàng hay những người có ý định mua nhà Hơn thế nữa, khi giá vàng biến động theo xu hướng lên nhà đầu tư bất động sản chuyển sang đầu tư vàng Bởi vì, đầu tư bất động sản vừa cần vốn lớn, tính thanh khoản lại thấp, việc tìm người bán người mua khó hơn so với vàng, vàng lại không bị ràng buộc vào giấy tờ như bất động sản
Trong thời kỳ suy thoái kinh tế thì vàng là kênh đầu tư an toàn nhất, nhiều người bán chứng khoán và các tài sản khác như bất động sản, USD để tái đầu tư vào vàng Phần lớn đầu cơ vàng đều do động cơ lợi nhuận, khi mà tất cả các kênh đầu tư khác đều giảm giá do khủng hoảng kinh tế thì vàng vẫn “vững chân” Song cũng là một phần trong thị trường tài chính, thị trường vàng cũng có thể thay đổi
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 33 Hàng hoá khác:
Khi thị trường vàng biến động một số hàng hoá trong xã hội cũng bị kéo theo,
mà ở đây đầu tiên là trang sức Trang sức làm bằng vàng tất nhiên sẽ tăng giá theo vàng, thời điểm cuối năm là thời điểm trang sức được tiêu thụ lớn nhất do là mùa cưới hỏi và dịp Tết cổ truyền Khi giá vàng tăng cao, lượng trang sức vàng bán ra giảm mạnh Các loại trang sức khác như bạc hay bạch kim cũng bị ảnh hưởng ít nhiều bởi giá vàng Các loại hàng hoá tiêu dùng hàng ngày do không được trao đổi bằng vàng nên sẽ ít bị ảnh hưởng bởi giá vàng hơn
Tâm lý và cuộc sống của nhân dân:
Những biến động lớn của thị trường vàng ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý cũng như cuộc sống của người dân Thực tế đã cho thấy rằng rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn, người dân sẵn sàng chấp nhận rủi ro để kiểm được lợi nhuận rất lớn, và lợi nhuận đó được coi là cái giá của rủi ro họ nhận được Đã có rất nhiều thời điểm giá vàng tăng cao, người dân đổ xô đi mua vàng làm giá vàng trong nước chênh lệch lớn với giá vàng thế giới Thị trường vàng trở nên hoảng loạn, người dân đổ xô
đi rút tiền ở các ngân hàng để mua vàng tích trữ, giá vàng tăng lên từng phút Trong nền kinh tế hiếm có mặt hàng nào mà biến động của nó lại tăng với tốc độ lớn như vàng hiện nay Cũng chính bởi sự biến động không ngừng và không thể lường trước của thị trường vàng mà có nhiều nhà đầu tư đã phá sản vì đầu tư vàng
1.2 Tổng quan về phương pháp dự báo:
Có nhiều phương pháp tiếp cận trong phân tích và dự báo Bài nghiên cứu này tập trung ứng dụng mô hình ARIMA và phương pháp Box – Jenkins để dự báo giá vàng ở Việt Nam trong ngắn hạn
George Box và Gwilym Jenkins (1976) đã nghiên cứu mô hình ARIMA(p,d,q) (Autoregressive Integrated Moving Average – Tự hồi qui tích hợp Trung bình trượt), và tên của họ thường được dùng để gọi tên các quá trình ARIMA tổng quát,
áp dụng vào việc phân tích và dự báo các chuỗi thời gian Mô hình ARIMA là phương pháp định lượng dựa trên dữ liệu quá khứ để phát hiện chiều hướng vận
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 34động trong tương lai của các yếu tố mà không sử dụng các biến ngoại sinh độc lập ARIMA không giả định bất kỳ một mô hình cụ thể nào mà việc xác định mô hình là dựa trên việc phân tích dữ liệu cụ thể từng trường hợp
Phương pháp Box – Jenkins với bốn bước: nhận dạng mô hình thử nghiệm; ước lượng; kiểm định bằng chẩn đoán; và dự báo
1.2.1 Tính dừng:
Một giả định ngầm, tạo cơ sở cho việc phân tích hồi quy liên quan tới các dữ liệu của chuỗi thời gian, là các dữ liệu đó phải là dừng Nếu không như vậy thì phương thức kiểm định giả thuyết thông thường trở nên không đáng tin cậy
Trong thực tế, chúng ta phải đối mặt với hai câu hỏi quan trọng: (1) Bằng cách nào chúng ta xác định được một chuỗi thời gian là dừng; (2) Nếu chúng ta xác định được một chuỗi thời gian không dừng, thì có cách nào để có thể làm cho chúng trở nên dừng
1.2.1.1 Khái niệm:
Một chuỗi dữ liệu thời gian được xem là dừng nếu như trung bình và phương sai của phương trình không thay đổi theo thời gian và giá trị của đồng phương sai giữa hai đoạn chỉ phụ thuộc vào khoảng cách hay độ trễ về thời gian giữa hai thời đoạn này chứ không phụ thuộc vào thời điểm thực tế mà đồng phương sai được tính
Cụ thể, Yt được gọi là dừng nếu thỏa mãn đồng thời cả 3 điều kiện:
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 35k=1, thì là đồng phương sai giữa hai giá trị kế cận nhau của Y Điều kiện thứ 3
có nghĩa là hiệp phương sai giữa Yt và Yt+k chỉ phụ thuộc vào độ trễ về thời gian (k) giữa hai thời đoạn này chứ không phụ thuộc vào thời điểm t
1.2.1.2 Hậu quả của chuỗi không dừng:
Trong mô hình hồi quy cổ điển, ta giả định rằng sai số ngẫu nhiên có kỳ vọng bằng không, phương sai không đổi và chúng không tương quan với nhau Với dữ liệu là các chuỗi không dừng, các giả thiết này bị vi phạm, các kiểm định t, F mất hiệu lực, ước lượng và dự báo không hiệu quả hay nói cách khác phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) không áp dụng cho các chuỗi không dừng Điển hình là hiện tượng hồi quy giả mạo: nếu mô hình tồn tại ít nhất một biến độc lập có cùng xu thế với biến phụ thuộc, khi ước lượng mô hình ta có thể thu được các hệ số có ý nghĩa thống kê và hệ số xác định R2
rất cao Nhưng điều này có thể chỉ là giả mạo,
R2 cao có thể là do hai biến này có cùng xu thế chứ không phải do chúng tương quan chặt chẽ với nhau
Trong thực tế, phần lớn các chuỗi thời gian đều là chuỗi không dừng, kết hợp với những hậu quả trình bày trên đây cho thấy tầm quan trọng của việc xác định một chuỗi thời gian có tính dừng hay không
1.2.1.3 Cách kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian:
a Dựa vào biểu đồ tự tương quan (correlogram):
Một cách kiểm định đơn giản tính dừng là dùng hàm tự tương quan (ACF)
Hàm tự tương quan (AFC) đo lường sự phụ thuộc tuyến tính giữa các cặp quan sát Yt và Yt–k ACF với độ trễ k, ký hiệu bằng , được xác định như sau:
Do cả đồng phương sai lẫn phương sai được tính bằng cùng một đơn vị đo, nên là một đại lượng không có đơn vị đo, là trung tính, là số Nó nằm trong
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 36khoảng từ –1 đến +1, giống như bất kỳ một hệ số tương quan nào Nếu chúng ta vẽ
đồ thị theo k, thì đồ thị chúng ta có được sẽ là biểu đồ tương quan tổng thể
Vì trong thực tế chúng ta chỉ có một kết quả (tức là mẫu) của một quá trình ngẫu nhiên, nên chúng ta chỉ có thể tính toán hàm tự tương quan mẫu, Để tính hàm này, chúng ta phải tìm đồng phương sai mẫu ở độ trễ , và phương sai mẫu theo biểu thức dưới đây:
Với n là độ lớn của mẫu và là trung bình mẫu
Do đó hàm tự tương quan mẫu tại độ trễ k sẽ là:
Hàm này đơn giản là tỷ lệ giữa đồng phương sai mẫu với phương sai mẫu Đồ thị thể hiện ở độ trễ k được gọi là Biểu đồ tương quan mẫu
Đối với các chuỗi thời gian dừng, biểu đồ tương quan thu hẹp lại rất nhanh, trong khi đối với các chuỗi thời gian không dừng thì nó biến mất một cách từ từ Đối với một chuỗi thuần túy ngẫu nhiên, tự tương quan ở mọi độ trễ 1 và lớn hơn là bằng 0
b Kiểm định nghiệm đơn vị (unit root test):
Một cách kiểm định tính dừng khác được sử dụng phổ biến gần đây là kiểm định nghiệm đơn vị Các kiểm định Dickey – Fuller (DF) và kiểm định DF gia tăng (ADF) có thể được dùng cho mục đích này
Xem xét mô hình sau:
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 37với: là số hạng chỉ sai số ngẫu nhiên xuất phát từ các giả định cổ điển rằng
nó có giá trị trung bình bằng 0, phương sai là hằng số và không tự tương quan, hay còn được gọi là nhiễu trắng (while noise)
Nếu ρ=1 thì chúng ta đang phải đối mặt với cái gọi là vấn đề nghiệm đơn vị, tức là tình huống không dừng Do đó để kiểm định tính dừng của Yt ta kiểm định giả thiết:
H0: ρ=1 (chuỗi không dừng)
H1: ρ≠1 (chuỗi dừng)
Theo giả thuyết H1 rằng ρ≠1, trị thống kê được tính theo quy ước được biết tới như là trị thống kê , mà các giá trị tới hạn của nó đã được sắp thành bảng bởi Dickey và Fuller trên cơ sở mô phỏng Monte Carlo
Nếu như giá trị tuyệt đối tính được của trị thống kê (tức là | |) cao hơn các giá trị tới hạn tuyệt đối T hoặc DF hoặc Mackinnon DF, thì chúng ta sẽ không bác
bỏ giả thuyết H1 cho rằng chuỗi thời gian đã cho là dừng Nếu mặt khác, nó thấp hơn giá trị tới hạn, thì chuỗi thời gian sẽ là không dừng
1.2.1.4 Cách khắc phục một chuỗi không dừng:
Điều trước tiên cần phải lưu ý là hầu hết các chuỗi thời gian đều không dừng,
và các thành phần AR và MA của mô hình ARIMA chỉ liên quan đến các chuỗi thời gian dừng Cho nên, cần phải có một ký hiệu phân biệt những chuỗi thời gian không dừng gốc với những chuỗi tương ứng có tính dừng của nó sau khi biến đổi sai phân
Để chuỗi thời gian đạt trạng thái dừng, người ta thường sử dụng toán tử dịch chuyển lùi và sai phân (Back – shift Operator and Differences)
LYt = Yt – 1; nói cách khác, L, thực hiện trên Y t, có tác dụng dịch chuyển dữ
liệu trở lại một thời đoạn
Áp dụng L trên Y t hai lần sẽ dịch chuyển dữ liệu trở lại 2 thời đoạn:
L(LYt) = L2Yt = Yt – 2 Toán tử dịch chuyển lùi thuận tiện trong việc mô tả quá trình tính sai phân
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 38Sai phân bậc nhất: DYt = Yt – Yt – 1
Sử dụng toán tử dịch chuyển lùi, có thể viết lại như sau
DYt = Yt – LYt = (1 – L)Yt Lưu ý rằng sai phân bậc nhất được biểu diễn bởi (1 – L) Tương tự, nếu tính sai phân bậc hai (nghĩa là, sai phân bậc nhất của sai phân bậc nhất), thì:
Sai phân bậc hai:
Tổng quát nếu lấy sai phân bậc thứ d sẽ đạt được dừng:
1.2.2 Quá trình tự hồi quy (AR), trung bình trượt (MA) và mô hình ARIMA:
1.2.2.1 Mô hình tự hồi quy (Autoregressive) AR(p):
Là quá trình trong đó giá trị dự báo dựa trên các giá trị trong quá khứ của nó Giá trị của chuỗi thời gian được xác định là dừng và tồn tại mối quan hệ phụ thuộc tuyến tính của các phân tử chuỗi vào phần tử p của nó cộng với nhiễu trắng không tương quan với nó, thì chuỗi này được gọi là quá trình tự hồi quy bậc p:
Trong đó là hệ số tự hồi quy được lựa chọn để sinh ra giá trị dự báo phù hợp nhất cho Yt qua các giá trị quá khứ Yt−i và là nhiễu trắng có trung bình bằng 0 Điều kiện để quá trình AR(p) dừng là nghiệm của phương trình đặc trưng nằm trong vòng tròn đơn vị
1.2.2.2 Mô hình trung bình trượt (Moving Average) MA(q):
Giá trị của chuỗi thời gian tại thời điểm hiện tại được xác định từ trung bình trượt (có trọng số) của nhiễu tại thời điểm hiện tại và q thời điểm trước đó:
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 39Trong đó, là các hệ số không đổi, là các nhiễu trắng có trung bình bằng 0 Điều kiện để chuỗi khả nghịch là: , i=1, 2,…, q; hay nghiệm của phương trình đặc trưng nằm trong vòng tròn đơn vị
1.2.2.3 Quá trình trung bình trượt kết hợp tự hồi quy (ARMA):
Trong thực tế, có nhiều khả năng Y có cả đặc điểm của AR và MA, khi đó cơ chế sản sinh ra Y tuân theo quá trình trung bình trượt kết hợp tự hồi quy, ký hiệu ARMA(p,q)
Yt là quá trình ARMA(1,1) nếu Y có thể biểu diễn dưới dạng:
1.2.2.4 Quá trình trung bình trượt, tích hợp, tự hồi quy (ARIMA):
Một chuỗi thời gian có thể dừng hoặc không dừng Chuỗi không dừng được gọi là tích hợp bậc 1, được kí hiệu là I(1), nếu sai phân bậc nhất là chuỗi dừng Chuỗi được gọi là tích hợp bậc d, nếu sai phân bậc d là một chuỗi dừng, kí hiệu I(d) Nếu d=0 thì chuỗi xuất phát là chuỗi dừng
Nếu chuỗi Yt tích hợp bậc d, áp dụng mô hình ARMA(p,q) cho chuỗi sai phân bậc d thì có quá trình ARIMA(p,d,q) Trong ARIMA(p,d,q), d là số lần lấy sai phân chuỗi Yt để được một chuỗi dừng, p là bậc tự hồi quy, q là bậc trung bình trượt p và
q là bậc tương ứng của chuỗi dừng
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 40AR(p) là trường hợp đặc biệt của ARIMA(p,d,q) khi d=0 và q=0 MA(q) là trường hợp đặc biệt của ARIMA(p,d,q) khi d=0 và p=0
ARIMA(p,d,q) – nghĩa là chuỗi Yt có sai phân bậc d là chuỗi dừng, chuỗi sai phân dừng này có thể biểu diễn dưới dạng ARMA(p,q) Phương trình tổng quát như sau:
1.2.3 Phương pháp Box – Jenkins (BJ):
Mô hình ARIMA được George Box và Gwilym Jenkins công bố vào năm
1976 và tên của họ thường được dùng để gọi tên các quá trình ARIMA tổng quát,
áp dụng vào việc phân tích và dự báo các chuỗi thời gian Phương pháp Box – Jenkins đưa ra phương pháp để xác định mô hình này qua các bước:
Bước 1: Định dạng mô hình – xác định các tham số p,d, q
Định dạng mô hình ARIMA(p,d,q) tức là phải tìm ra các giá trị p, d, q thích hợp Với d là bậc sai phân của chuỗi thời gian được khảo sát, p là bậc tự hồi qui và
q là bậc trung bình trượt Công việc này rất khó khăn về cả lý thuyết và thực hành
Để tìm được d, người ta dùng kiểm định JB, kiểm định nghiệm đơn vị DF hoặc ADF Nếu chuỗi ban đầu không dừng, khi đó ta tính sai phân bậc 1 Tiếp tục kiểm định tính dừng Từ chuỗi dừng nhận được, ta phải tìm ra các giá trị p và q, hay nói cách khác đi phải định dạng mô hình ARMA cho chuỗi dừng
Có rất nhiều phương pháp để tìm p và q: dùng lược đồ tương quan và tự tương quan, tiêu chuẩn Akaike – Schwarz, kiểm định nhân tử Lagrange Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, tôi trình bày phương pháp lược đồ tương quan và tự tương quan – phương pháp sẽ được sử dụng trong bài
Dùng lược đồ tương quan và tự tương quan riêng là phương pháp hiệu quả để xác định p và q Lược đồ vẽ ACF và PACF theo độ dài của trễ Đồng thời cũng vẽ
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế