Năm 2014, khi bức tranh thị trường bán lẻ thiết bị di động ở thành phố Huế đã dần được định hình với sự góp mặt của khá đầy đủ của các thương hiệu bán lẻ thiết bị di động lớn của cả nước
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Kể từ khi Nettra – hệ thống bán lẻ điện thoại di động có quy mô hàng đầu Việt
Nam sụp đổ tháng 6/2007, một loạt các tên tuổi khác như Viettelstore, Thế giới di
động, Sài Gòn Nguyễn Kim,… lần lượt xâm chiếm và mở rộng thị trường, đưa thị
trường bán lẻ điện thoại di động vào một cục diện mới với sự cạnh tranh khốc liệt
Càng về sau, với sự xuất hiện của hàng loạt các thương hiệu khác cùng sự bùng nổ của
thị trường điện thoại di động, smart phone, máy tính bảng, máy tính xách tay,… càng
đẩy cục diện thị trường bán lẻ thiết bị di động tại Việt Nam vào thế cạnh tranh cực kỳ
gay gắt Những tên tuổi nhỏ không có tiềm lực tài chính và chiến lược sai lầm đã lần
lượt sụp đổ và biến mất trên bản đồ thương hiệu tại thị trường Vệt Nam
Trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt đó, các hãng bán lẻ thiết bị di động không
ngừng hoàn thiện và nâng cao các hoạt động chăm sóc khách hàng, nâng cao chất
lượng dịch vụ và đặc biệt là sự bùng nổ của cuộc chiến “khuyến mãi” Liên tiếp những
chương trình khuyến mãi rất hấp dẫn được các hãng đưa ra với giá trị phần thưởng
được xếp vào mức “khủng”, đánh vào thị hiếu của người tiêu dùng, nhằm mở rộng,
tranh giành thị phần và nâng cao vị thế thương hiệu trên thị trường
Tại thị trường thành phố Huế, bức tranh thị trường cũng không có mấy sự khác
biệt so với cục diện chung của thị trường kinh doanh bán lẻ thiết bị di động Việt Nam
Cho đến trước năm 2012, thị trường bán lẻ thiết bị di động tại Huế khá trầm lắng với
sự cạnh tranh chủ yếu của các thương hiệu với số lượng cửa hàng ít và quy mô nhỏ
Kể từ năm 2012 trở đi, thị trường kinh doanh bán lẻ thiết bị di động tại thành phố Huế
chứng kiến sự đổ bộ của các siêu thị/cửa hàng bán lẻ thiết bị di động với quy mô
hoành tráng
Năm 2014, khi bức tranh thị trường bán lẻ thiết bị di động ở thành phố Huế đã
dần được định hình với sự góp mặt của khá đầy đủ của các thương hiệu bán lẻ thiết bị
di động lớn của cả nước; việc đánh giá và xác định vị thế thương hiệu trong kinh
doanh bán lẻ thiết bị di động tại thị trường thành phố Huế là rất cần thiết; để các
thương hiệu có thể biết được mình đang đứng ở đâu trên thị trường trong mắt người
tiêu dùng Bên cạnh đó, việc phân tích, đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu của mỗi
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 2thương hiệu là cơ sở để các thương hiệu nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng và
nâng cao vị thế của mình trên thị trường
Vị thế của mỗi thương hiệu trên thị trường được thể hiện qua rất nhiều yếu tố,
trong đó yếu tố quan trọng bậc nhất là vị thế thương hiệu trong con mắt của khách
hàng Thật vậy, một thương hiệu chiếm cảm tình của càng nhiều khách hàng và có
càng nhiều khách hàng trên thị trường thì thị phần của thương hiệu càng lớn, vị thế của
thương hiệu càng cao và ngược lại Bất kỳ một doanh nghiệp nào trên thị trường, mục
tiêu kinh doanh cuối cùng cũng đều hướng đến việc có được một vị thế vững chắc trên
thị trường
Xuất phát từ những lý luận trên, tôi quyết định chọn đề tài: “VỊ THẾ THƯƠNG
HIỆU TRONG KINH DOANH BÁN LẺ THIẾT BỊ DI ĐỘNG TẠI THỊ TRƯỜNG
THÀNH PHỐ HUẾ QUA ĐÁNH GIÁ CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa lý luận về thương hiệu, giá trị thương hiệu, vị thế thương hiệu
So sánh, đánh giá vị thế của các thương hiệu trên thị trường kinh doanh bán lẻ
thiết bị di động
Đề xuất giải pháp giúp các hãng kinh doanh bán lẻ thiết bị di động nâng cao vị
thế thương hiệu cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ cho mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: vị thế thương hiệu của các hãng kinh doanh bán lẻ thiết
bị di động tại thị trường thành phố Huế
Đối tượng điều tra:
Các khách hàng cá nhân đến mua hàng và đã từng mua hàng tại các cửa
hàng/siêu thị bán lẻ thiết bị di động trên thành phố Huế
Các hãng bán lẻ thiết bị di động đang có mặt tại thị trường thành phố Huế
Trang 3 Phạm vi không gian:
Nghiên cứu về vị thế thương hiệu tức là phải đánh giá trong một tổng thể các
thương hiệu, không thể đánh giá vị thế của một thương hiệu riêng biệt mà phải so sánh
nó trong tương quan với các thương hiệu cùng loại trên thị trường Do đó, nghiên cứu
không chỉ nghiên cứu một thương hiệu mà tiến hành đánh giá các thương hiệu cùng
loại trên thị trường kinh doanh bán lẻ thiết bị di động tại thành phố Huế
Nghiên cứu sẽ tiến hành điều tra, thu thập đánh giá của khách hàng đối với các
thương hiệu kinh doanh bán lẻ thiết bị di động hiện đang có mặt trên thành phố Huế,
thỏa mãn các tiêu chí của khái niệm thiết bị di động (được định nghĩa ở các phần tiếp
theo) Theo đó, sẽ có 10 thương hiệu được điều tra, bao gồm:
10 Hương Giang Mobile
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính được áp dụng trong nghiên cứu này là phương
pháp thống kê mô tả Thông qua quá trình điều tra định tính và định lượng, với công
cụ là bảng câu hỏi khảo sát thu thập các ý kiến đánh giá của khách hàng; nghiên cứu sẽ
tiến hành xử lý các dữ liệu thu thập được bằng phương pháp thống kê mô tả và tính
toán (accounting), với sự trợ giúp của phần mềm SPSS 16.0 và Microsoft Excel 2013;
để có cái nhìn khách quan nhất và phản ánh thực tế nhất vị thế thương hiệu của các
hãng kinh doanh bán lẻ thiết bị di động trên thị trường thành phố Huế
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể sẽ được trình bày rõ hơn ở các phần sau
5 Kết cấu của nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện qua 3 phần:
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II: Nội dung nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này sẽ trình bày các khái niệm, lý thuyết liên quan đến nghiên cứu Bên
cạnh đó, các mô hình nghiên cứu, hướng nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 4cứu được trình bày rõ ràng để cho thấy cách thức để nghiên cứu được tiến hành và đạt
được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
Chương 2: Vị thế thương hiệu trong kinh doanh bán lẻ thiết bị di động qua
đánh giá của khách hàng cá nhân tại thị trường thành phố Huế
Chương này sẽ khái quát tình hình thị trường và đánh giá vị thế thương hiệu của
các hãng trong ngành hàng bán lẻ thiết bị di động trên thị trường Việt Nam Bên cạnh
đó, nghiên cứu sẽ tiến hành đánh giá vị thế của các hãng kinh doanh bán lẻ thiết bị di
động tại thị trường thành phố Huế; đồng thời đi sâu phân tích nguyên nhân vì sao các
hãng lại nằm ở vị thế đó
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao vị thế thương hiệu trong kinh
doanh bán lẻ thiết bị di động tại thị trường thành phố Huế
Từ những kết quả nghiên cứu từ chương 2, chương này sẽ đề xuất những giải
pháp nhằm nâng cao vị thế thương hiệu của các hãng bán lẻ thiết bị di động trên thị
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Lý thuyết về thương hiệu
1.1.1.1 Khái niệm về thương hiệu
Từ thương hiệu (Brand) có nguồn gốc từ chữ Brandr, theo tiếng Aixơlen cổ nghĩa
là đóng dấu Xuất phát từ thời xa xưa khi những chủ trại muốn phân biệt đàn cừu của
mình với những đàn cừu khác, họ đã dùng một con dấu bằng sắt nung đỏ đóng lên
lưng từng con một, thông qua đó khẳng định giá trị hàng hóa và quyền sở hữu của
mình Như thế, thương hiệu xuất hiện từ nhu cầu tạo sự khác biệt cho sản phẩm của
nhà sản xuất Ngày nay, có rất nhiều quan điểm cũng như định nghĩa về thương hiệu:
Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ thì “Thương hiệu là một tên gọi, thuật ngữ, kí
hiệu, biểu tượng, hình vẽ, hay một sự kết hợp giữa chúng, nhằm nhận diện các hàng
hóa hay dịch vụ của người bán và để phân biệt chúng với hàng hóa hay dịch vụ của
đối thủ cạnh tranh.”
Theo Philip Kotler: “Thương hiệu có thể được hiểu như là: tên gọi, thuật ngữ,
biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng được dùng để xác nhận sản phẩm của
người bán và để phân biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh”
Theo quan điểm mới - quan điểm tổng hợp, thương hiệu không chỉ là một cái tên
hay một biểu tượng mà nó phức tạp hơn nhiều:
Hình 1.1 Hai mô hình về mối quan hệ giữa sản phẩm và thương hiệu
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 61.1.1.2 Vai trò của thương hiệu
Vai trò của thương hiệu đối với người tiêu dùng: Giúp người tiêu dùng phân biệt
nhanh chóng sản phẩm cần mua trong muôn vàn các hàng hoá, dịch vụ cùng loại
khác, góp phần xác định được nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm Giúp khách
hàng biểu đạt vị trí xã hội của mình
Vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp:
- Tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm trong tâm trí người tiêu
dùng
- Thương hiệu như một lời cam kết giữa doanh nghiệp và khách hàng
- Thương hiệu nhằm phân đoạn thị trường
- Thương hiệu tạo nên sự khác biệt trong quá trình phát triển của sản phẩm
- Thương hiệu mang lại những lợi ích cho doanh nghiệp
Theo phân tích của Millward Brown Optimor, năm 1980 gần như toàn bộ giá trị
của một công ty trung bình trong bảng xếp hạng S&P 500 bao gồm tài sản hữu hình
(bàn ghế, nhà xưởng, hàng hoá…) Năm 2010, tài sản hữu hình chỉ chiếm 30-40% giá
trị doanh nghiệp Phần còn lại là tài sản vô hình và khoảng một nửa tài sản vô hình đó
(chừng 30%) thuộc về thương hiệu Vì thế, không hề phóng đại khi nói rằng với nhiều
doanh nghiệp, thương hiệu là tài sản lớn nhất của họ
Như vậy, thương hiệu là tài sản vô hình và có giá trị của doanh nghiệp, nó là tổng
hợp của rất nhiều yếu tố, trong đó những thành quả mà doanh nghiệp tạo dựng được
trong suốt quá trình hoạt động của mình góp phần quan trọng Chính sự nổi tiếng của
thương hiệu như là một đảm bảo cho lợi nhuận tiềm năng của doanh nghiệp
Stephen King (WPP Group, London) kết luận vai trò của thương hiệu rằng: "Một
sản phẩm là một cái gì đó được thực hiện trong một nhà máy; một thương hiệu là cái
gì đó được mua bởi khách hàng Một sản phẩm có thể được sao chép bởi một đối thủ
cạnh tranh; một thương hiệu là duy nhất Một sản phẩm có thể nhanh chóng lỗi thời;
một thương hiệu thành công là vô tận."
1.1.2 Lý thuyết về giá trị thương hiệu
Có nhiều quan điểm và cách đánh giá khác nhau về giá trị thương hiệu Theo
Lassar & ctg (1995) có hai nhóm chính, đó là:
Giá trị thương hiệu đánh giá theo quan điểm đầu tư hay tài chính
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 7 Giá trị thương hiệu đánh giá theo quan điểm khách hàng
Đánh giá giá trị thương hiệu theo quan điểm tài chính đóng góp vào việc đánh
giá tài sản của công ty Tuy nhiên cách đánh giá này không giúp nhiều cho nhà quản
trị marketing trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu Hơn nữa, về mặt
marketing, giá trị về mặt tài chính của một thương hiệu là kết quả đánh giá của khách
hàng về giá trị của thương hiệu đó Lý do là khi khách hàng đánh giá cao về một
thương hiệu thì họ có xu hướng tiêu dùng thương hiệu đó (Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn
Thị Mai Trang & Barrett 2003)
Như vậy, theo quan điểm mới ngày nay, thì hầu hết giá trị thương hiệu được đánh
giá dưới góc độ quan điểm của khách hàng Ở góc độ này, có nhiều quan điểm khác
nhau về giá trị thương hiệu:
Theo Market Facts, giá trị thương hiệu là sự hài lòng của khách hàng có tiếp tục
mua thương hiệu của công ty hay không
David Aaker (Trường Đại học California - Mỹ) đưa ra một định nghĩa về giá trị
thương hiệu vào năm 1991 Định nghĩa này khá phổ biến và được nhiều học giả, nhiều
nhà quản trị tán đồng trong nghiên cứu và phân tích về giá trị thương hiệu Theo đó,
David Aaker (1991) đã đưa ra bốn thành phần của giá trị thương hiệu, gồm: (1) lòng
trung thành thương hiệu (brand loyalty), (2) nhận biết thương hiệu (brand awareness),
(3) chất lượng cảm nhận (perceived quality), (4) các thuộc tính đồng hành cùng
thương hiệu (brand associations) như tên một địa danh, một nhân vật nổi tiếng gắn liền
với thương hiệu đó, bằng sáng chế (patents), nhãn hiệu được chứng nhận (trademarks),
mối quan hệ với kênh phân phối
Trong khi đó, K.L Keller tại Darthmouth College cho rằng: giá trị thương hiệu là
kiến thức của khách hàng về thương hiệu (brand knowledge) Hay nói cách khác, giá
trị thương hiệu dựa trên khách hàng là sự ảnh hưởng phân biệt mà kiến thức thương
hiệu tạo ra trên phản ứng của khách hàng với việc marketing thương hiệu Giá trị xuất
hiện khi người tiêu dùng có mức độ nhận biết và quen thuộc với thương hiệu cao và có
những liên tưởng thương hiệu mạnh mẽ, có lợi và độc nhất trong tâm trí Theo đó,
Keller (1993) cho rằng: Kiến thức khách hàng bao gồm: (1) nhận biết thương hiệu
(brand awareness), (2) ấn tượng về thương hiệu (brand image) Nhận biết về thương
hiệu bao gồm: nhớ đến thương hiệu (brand recall) và nhận ra thương hiệu (brand
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 8recognition) Ấn tượng về thương hiệu bao gồm: các thuộc tính đồng hành cùng
thương hiệu (types of brand association) như thuộc tính (attributes), lợi ích (benefits),
thái độ (attitudes); khả năng chấp nhận các thuộc tính đồng hành cùng thương hiệu
(favorability of brand associations); sức mạnh của các thuộc tính đồng hành cùng
thương hiệu (strength of brand associations); tính độc đáo của các thuộc tính đồng
hành cùng thương hiệu (uniqueness of brand associations) Và trong các thuộc tính
con ở trên lại bao gồm các thuộc tính con khác như: lợi ích thuộc về chức năng
(functional), lợi ích thuộc về kinh nghiệm (experiential), lợi ích có tính chất tượng
trưng (symbolic)
Lassar & ctg (1995) đưa ra năm thành phần của giá trị thương hiệu, gồm: (1) chất
lượng cảm nhận (perceived quality), (2) giá trị cảm nhận (perceived value), (3) ấn
tượng về thương hiệu (brand image), (4) lòng tin về thương hiệu (trustworthiness), (5)
cảm tưởng của khách hàng về thương hiệu (commitment)
Tại Việt Nam, Nguyễn Đình Thọ & ctg (2002) đã đưa ra bốn thành phần của giá
trị thương hiệu, gồm: (1) nhận biết thương hiệu (brand awareness), (2) chất lượng cảm
nhận (perceived quality), (3) lòng đam mê thương hiệu (brand passion) bao gồm thích
thú, có xu hướng tiêu dùng và trung thành thương hiệu và (4) thái độ đối với chiêu thị
gồm thái độ đối với quảng cáo (advertising attitudes) và thái độ đối với khuyến mãi
(sales promotion attitudes)
Các quan điểm về giá trị thương hiệu trên đây tuy có những điểm tương đồng,
nhưng vẫn còn có sự khác biệt Vì giá trị thương hiệu là một khái niệm đa thành phần
Do đó có rất nhiều cách để xây dựng giá trị thương hiệu Điều này cho thấy rằng giá trị
thương hiệu là một khái niệm phức tạp và hiện nay chưa có sự thống nhất cao về các
thành phần của giá trị thương hiệu Sự khác biệt này còn thể hiện ở trong thị trường
sản phẩm hữu hình và thị trường sản phẩm dịch vụ Hơn nữa, việc xác định các biến
nào là biến thành phần của giá trị thương hiệu, biến nào là biến nguyên nhân và kết
quả của giá trị thương hiệu không phải là việc làm đơn giản và dễ dàng (Nguyễn Đình
Trang 91.1.3 Lý thuyết về định vị thương hiệu
Theo nguyên tắc định vị truyền thống thì phải tìm sự khác biệt của sản phẩm hay
chính bản thân của công ty để định vị Tuy nhiên, nguyên tắc định vị ngày nay là phải
xác định được vị trí nào trong tâm trí người tiêu dùng mà thương hiệu có thể có được
Như vậy, định vị thương hiệu là việc tạo ra vị thế riêng biệt của thương hiệu
trong một môi trường cạnh tranh để bảo đảm rằng mỗi người tiêu dùng trong thị
trường mục tiêu có thể phân biệt được thương hiệu ấy với các thương hiệu cạnh tranh
khác Việc định vị thương hiệu mang tính chất quan trọng là do nó có liên quan trực
tiếp đến suy nghĩ và nhận định của người tiêu dùng
Vai trò của định vị được xác định qua 2 vấn đề:
Một là tạo lập vị thế của thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng: Theo một
nghiên cứu, một người bình thường không thể nhớ nhiều hơn 7 thương hiệu có thuộc
tính giống nhau liền một lúc Các thương hiệu luôn muốn mình xuất hiện đầu tiên
trong tâm trí của họ (Top of mind), để có thể là người mà họ tin tưởng và quyết định
chọn lựa mua Vì vậy, một thương hiệu cần phải xác định được định vị của mình qua
giá trị đối với khách hàng sẽ có 1 vị trí riêng khác biệt để có thể dễ dàng được ghi nhớ
Hai là tạo lập vị thế cạnh tranh độc đáo cho thương hiệu trên thị trường: Một
thương hiệu khi được định vị một cách rõ ràng và theo một chiến lược phát triển đúng
đắn thì sẽ dễ dàng có một vị thế cạnh tranh với các đối thủ khác, bất kể đối với một
công ty với tiềm lực tài chính lớn hoặc nhỏ hơn Khi xác lập định vị, giá trị cốt lõi của
thương hiệu cùng các thuộc tính khác dễ dàng định hướng cho các chương trình
marketing và truyền thông tổng lực (Integrated Marketing Communication) triển khai
theo một hướng đúng đắn, sáng tạo, dễ đưa vào tâm trí của các đối tượng công chúng
và khách hang mục tiêu Từ đó những giá trị lý tính và cảm tính của thương hiệu sẽ
được khách hàng biết đến, tin tưởng và yêu thích
Ngày nay, việc lựa chọn thương hiệu rất phong phú và mức độ khác nhau giữa
các thương hiệu này cũng giảm đi rõ rệt khi mà chức năng và lợi ích của các sản phẩm
mang lại khá giống nhau Đó là lý do tại sao thương hiệu cần nhanh chóng được định
vị với những đặc tính nổi bật khác biệt so với các thương hiệu cạnh tranh
Để có thể định vị thương hiệu thành công thì cần phải khảo sát thật kĩ vị trí hiện
tại trên thị trường của thương hiệu Bản đồ thương hiệu cần phải được thiết lập để xác
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 10định chính xác vị trí của thương hiệu và so sánh kết quả này với đối thủ cạnh tranh, đó
chính là quá trình xác định vị thế của thương hiệu trên thị trường
1.1.4 Lý thuyết về vị thế thương hiệu
1.1.4.1 Khái niệm về vị thế thương hiệu
Vị thế thương hiệu có thể được hiểu là: vị trí của một thương hiệu trên thị trường
trong tương quan so sánh với tất cả các đối thủ cạnh tranh, là vị trí của thương hiệu
trong một tập hợp rất lớn các thương hiệu trong tâm trí khách hàng Vị thế thương hiệu
là một khái niệm thứ bậc, có thể đo lường được, nó thể hiện sức mạnh của thương
hiệu, sự hơn kém lẫn nhau trên nhiều phương diện, nhiều yếu tố giữa các thương hiệu
cạnh tranh trên thị trường Vị thế thương hiệu càng cao thì càng khẳng định chỗ đứng
của thương hiệu trong tâm trí của càng nhiều người tiêu dùng
Vị thế thương hiệu có được nhờ sự hội tụ của rất nhiều yếu tố bên trong và bên
ngoài doanh nghiệp và là kết quả của một quá trình cạnh tranh trong một thời gian dài
Như vậy, so sánh hai khái niệm định vị thương hiệu và vị thế thương hiệu ta thấy
rằng, giữa định vị thương hiệu và vị thế thương hiệu có một mối quan hệ chặt chẽ Quá
trình định vị thương hiệu là một trong những quá trình quan trọng bậc nhất trong việc
xây dựng và quản trị thương hiệu, đó là một quá trình lâu dài đi cùng với một chiến
lược nhất quán Và kết quả mà quá trình định vị đó hướng đến là gây dựng được vị thế
của thương hiệu trong tâm trí của người tiêu dùng, và qua một quá trình cạnh tranh lâu
dài sẽ tạo nên vị thế của thương hiệu trên thị trường so với đối thủ cạnh tranh
Vị thế thương hiệu được thể hiện qua hai khía cạnh: đó là về mặt tài chính và từ
đánh giá của khách hàng Đánh giá vị thế thương hiệu dựa trên mặt tài chính kế toán
tuy thể hiện được chính xác vị thế của thương hiệu một cách đơn giản dựa vào so sánh
doanh thu, lợi nhuận giữa các thương hiệu Tuy nhiên, các con số đó chỉ “biết nói” mỗi
yếu tố đó, còn các nguyên nhân vì sao thương hiệu lại nằm ở vị thế đó thì qua các con
số đó không thể giải thích được điều gì Để thể hiện được điều đó, việc đánh giá vị thế
thương hiệu thông qua đánh giá của khách hàng là một phương pháp được đánh giá
cao Ở đây nghiên cứu chỉ tiến hành đánh giá vị thế thương hiệu trong kinh doanh bán
lẻ thiết bị di động trên thị trường thành phố Huế dựa trên đánh giá của khách hàng
Theo công ty tư vấn thương hiệu Interbrand, vị thế thương hiệu được thể hiện
thông qua sức mạnh và chất lượng của thương hiệu đó Có nghĩa là, khi xem xét vị thế
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 11của thương hiệu trên thị trường, ta phải xem xét tất cả các yếu tố sức mạnh thương
hiệu và giá trị thương hiệu (chất lượng thương hiệu) trong tương quan với tất cả các
thương hiệu cạnh tranh trên thị trường
Do đó, quá trình xác định vị thế của thương hiệu trên thị trường là một quá trình
phức tạp Để có thể xác định được vị thế của thương hiệu trên thị trường và xác định
các nguyên nhân tạo nên vị thế đó cho thương hiệu, bắt buộc phải đánh giá và đo
lường các yếu tố sức mạnh thương hiệu, chất lượng thương hiệu, tầm vóc thương hiệu
để từ đó có sự đánh giá khách quan nhất về vị thế của thương hiệu trên thị trường
1.1.4.2 Vai trò của xác định vị thế thương hiệu
Theo bà Suzanne Hogan, phó chủ tịch của tập đoàn Lippincott & Margulies, New
York; “Đứng trên cách nhìn của người tiêu dùng, chúng tôi hoàn toàn bị ảnh hưởng
bởi vị thế của thương hiệu nổi bật – đồng nghĩa với việc “tranh giành” sự ưu thích
của một so với nhiều thương hiệu còn lại Nhưng ngày nay người tiêu dùng có quá
nhiều sự lựa chọn khiến cho vị thế thương hiệu có thêm những điều kiện khắt khe hơn
để đánh giá” Như vậy, việc thương hiệu chiếm một vị thế cao trong tâm trí của một số
lượng lớn người tiêu dùng sẽ là tiền đề để doanh nghiệp đi đến thành công
Đối với doanh nghiệp, việc xác định vị thế thương hiệu có vai trò quan trọng
trong việc xác định lợi thế cạnh tranh cũng như hoạch định các chiến lược định vị
thương hiệu Đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của công tác quản trị
thương hiệu
Việc có được một vị thế thương hiệu cao trên thị trường là lời khẳng định mạnh
mẽ nhất về sức mạnh, uy tín và chất lượng của thương hiệu đối với người tiêu dùng,
đối với đối thủ cạnh tranh, với đối tác và với những nhà sản xuất, nhà cung ứng trong
chuỗi giá trị Vị thế thương hiệu càng cao thì càng khẳng định chỗ đứng của thương
hiệu trong tâm trí của người tiêu dùng Từ đó, vị thế của một thương hiệu dẫn đầu thị
trường có một tầm quan trọng hết sức to lớn, nó tạo nên rất nhiều ưu thế và lợi thế
cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường
1.1.4.3 Những yếu tố cần thiết để có một vị thế thương hiệu mạnh
Để xây dựng và gìn giữ vị thế một thương hiệu mạnh thì cần phải tạo cho mình
một lợi thế cạnh tranh bền vững trong thị trường Có nhiều yếu tố để đảm bảo cho vấn
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 12đề này, nhưng tựu trung lại, có thể nhận thấy có ba yếu tố chính cấu thành thương hiệu
thành công hiện hữu:
Sự đột phá để tạo nên sự độc đáo hay khác biệt hoá trong thị trường
Mục tiêu chính yếu của việc xây dựng thương hiệu là làm cho một sản phẩm hay
một tổ chức trở nên khác biệt một cách độc đáo so với những sản phẩm (bao hàm cả
dịch vụ) và đối thủ cạnh tranh khác Nếu doanh nghiệp không có một lợi thế độc đáo
so với đối thủ cạnh tranh, thì nó chẳng có lý do gì để tồn tại cả Không phải ngẫu nhiên
mà nhiều thương hiệu lớn nhất hành tinh đồng thời cũng là những thương hiệu đột phá
sáng tạo nhất trong thế giới kinh doanh Một số thương hiệu đã trở nên thành công
bằng cách sáng tạo ra một chủng loại sản phẩm hay dịch vụ hoàn toàn mới Những
thương hiệu này là thương hiệu đầu tiên trong chủng loại sản phẩm và thống trị thị
trường đó ngay từ lúc khởi đầu
Những thương hiệu khác là những kẻ đến sau một bước, nỗ lực đạt đến thành
công bằng sự khác biệt hoá Họ sản xuất một sản phẩm đã có sẵn và cố gắng tiếp thị
sản phẩm của mình theo một cách hoàn toàn khác với thương hiệu thống trị thị trường
Thông thường, những thương hiệu này hoạt động bằng cách tương phản chính mình
với thương hiệu đang dẫn đầu thị trường
Đôi lúc, một tính cách thương hiệu khác biệt rõ ràng có thể biến một thương hiệu
đến sau thành người dẫn đầu thị trường Duy trì được sự khác biệt, những thương hiệu
có thể sẽ luôn tồn tại và phát triển trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn
Sự tập trung để phân phối các nguồn lực hợp lý cho định vị thương hiệu
Hans Hofman đã viết: “Khả năng đơn giản hoá có nghĩa là loại bỏ đi những thứ
gì không cần thiết để những gì cần thiết có thể hiển lộ” Những thương hiệu với tính
cách phức tạp, đa khía cạnh hiếm khi chứng tỏ được hiệu quả Tuy nhiên, những
thương hiệu có quy mô rộng lớn nhưng vẫn thành công là do chúng được hợp nhất bởi
những tính cách thương hiệu đơn giản
Cách để một thương hiệu có được một tính cách rõ ràng là phải thu hẹp tầm mức
của nó lại hay “loại bỏ đi những thứ không cần thiết” Chỉ có điều là ý tưởng này lại đi
ngược với quy luật kinh doanh Vì đa số các doanh nghiệp đều cố gắng mở rộng
thương hiệu bằng cách thêm vào chứ không phải loại bớt đi những cung ứng ban đầu
của mỗi tổ chức Khi một thương hiệu đã có được một căn bản khách hàng đủ lớn, nó
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 13sẽ mở rộng để đạt thêm nhiều khách hàng hơn nữa Nhưng khi thương hiệu càng mở
rộng thì khách hàng càng trở nên dễ lẫn lộn hơn về tính cách của nó
Sự nhất quán để giữ vững vị thế
Mục đích và những giá trị cốt lõi cần được giữ nguyên cho dù chiến lược và
chiến thuật kinh doanh có bị sửa lại thường xuyên để tận dụng lợi thế từ các thay đổi
lớn, bất ngờ của môi trường kinh doanh và thế giới
Dưới đây là 10 thương hiệu mạnh nhất toàn cầu năm 2013:
Bảng 1.1 Mười thương hiệu mạnh nhất toàn cầu 2013
Trang 147 McDonald’s Hoa Kỳ Thức ăn nhanh 41,992
Quan sát bảng 1.1, có thể dễ dàng nhận thấy rằng, có đến 6/10 thương hiệu mạnh
nhất toàn cầu năm 2013 là đang hoạt động trong ngành công nghệ Từ đó cho thấy thị
trường công nghệ hiện nay là một thị trường rất có sức thu hút
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Việc xác định vị thế của thương hiệu trên thị trường đóng một vai trò rất quan
trọng trong việc hoạch định chiến lược định vị và tái định vị thương hiệu Bên cạnh đó,
việc thương hiệu chiếm một vị thế cao trên thị trường, đặc biệt là vị thế của một
thương hiệu dẫn đầu thị trường là một trong những lợi thế cạnh tranh lớn nhất mà các
thương hiệu có được đối với đối thủ cạnh tranh, hoặc trong mối quan hệ với khách
hàng cũng như các nhà cung ứng
Tại thị trường thành phố Huế, trong những năm trở lại đây, chứng kiến sự đổ bộ
của hàng loạt các hãng bán lẻ thiết bị di động của Việt Nam; bên cạnh đó, các hãng
cũng không ngừng mở rộng quy mô kinh doanh bằng cách tăng nhanh số lượng cửa
hàng, siêu thị Điều đó càng đẩy cục diện cạnh trang trên thị trường ngày càng trở nên
gay gắt hơn bao giờ hết Trong bối cảnh đó, các hãng tung ra hàng loạt các chiêu thức
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 15marketing với những chương trình khuyến mãi giảm giá và cải thiện hoạt động dịch vụ
để lôi kéo và thu hút khách hàng, tranh giành thị phần
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phản ánh những yếu tố thực tiễn khách
quan nhất của cục diện thị trường kinh doanh bán lẻ thiết bị di động tại thành phố Huế
qua sự đánh giá của người tiêu dùng Kết quả của nghiên cứu sẽ là nguồn thông tin rất
có ích không chỉ cho các thương hiệu được đề cập trong nghiên cứu, mà còn dành cho
cách thương hiệu khác trên thị trường Kết quả nghiên cứu sẽ cho các thương hiệu kinh
doanh bán lẻ thiết bị di động tại thành phố Huế biết được mình đang ở vị thế nào trên
thị trường, nguyên nhân tại sao hãng lại đứng ở vị thế đó, đánh giá của khách hàng đối
với thương hiệu ra làm sao Trên cơ sở đó, các hãng có thể cải thiện hoạt động bán
hàng, dịch vụ nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng Bên cạnh đó, các hãng
cũng có thể thực hiện tái định vị thương hiệu so với các đổi thủ cạnh trang nhằm nâng
cao vị thế thương hiệu của hãng trên thị trường
Kết quả nghiên cứu cũng cung cấp nguồn thông tin hữu ích cho người tiêu dùng
có thể tham khảo về vị thế các thương hiệu kinh doanh bán lẻ thiết bị di động tại thị
trường thành phố Huế; cũng như biết được chất lượng, uy tín của các hãng qua sự
đánh giá chung của nhiều người tiêu dùng đi trước
Kết quả nghiên cứu đồng thời cũng là nguồn thông tin tham khảo cho các sinh
viên chuyên các chuyên ngành kinh tế tham khảo về vấn đề thương hiệu, giá trị thương
hiệu, định vị thương hiệu và vị thế thương hiệu cũng như về các thương hiệu kinh
doanh bán lẻ thiết bị di động
1.2.2 Bình luận các nghiên cứu liên quan
Nghiên cứu về vị thế thương hiệu đòi hỏi phải tiến hành nghiên cứu đánh giá tất
cả các thương hiệu có mặt trên thị trường mới có được cái nhìn chính xác nhất Hiện
nay, các nghiên cứu khoa học chỉ tiến hành điều tra một hoặc so sánh giữa một vài
thương hiệu cạnh tranh Chính vì vậy, hầu như không có các nghiên cứu khoa học
được thực hiện trong lĩnh vực nghiên cứu vị thế thương hiệu Các nghiên cứu về vị thế
các thương hiệu trong các ngành hàng trên thị trường chủ yếu do các công ty nghiên
cứu thị trường thực hiện Đó là các công ty lớn có đủ nguồn lực và kinh nghiệm để tiến
hành thu thập số liệu tài chính từ các doanh nghiệp và số liệu điều tra thu thập được từ
khách hàng; để đánh giá một cách toàn diện về vị thế các thương hiệu trên thị trường
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 16Nghiên cứu này do gặp phải nhiều hạn chế về tiếp cận nguồn dữ liệu tài chính, kết quả
kinh doanh, lợi nhuận của các doanh nghiệp; cùng nhiều hạn chế về nguồn lực và thời
gian nghiên cứu, do đó chỉ tiến hành đánh giá vị thế thương hiệu trên thị trường kinh
doanh bán lẻ thiết bị di động tại thành phố Huế dựa trên thu thập và phân tích các ý
kiến đánh giá của khách hàng
1.2.3 Mô hình nghiên cứu liên quan
Như đã phân tích ở phần cơ sở lý luận, khái niệm vị thế thương hiệu có liên quan
mật thiết tới các khái niệm sức mạnh thương hiệu, giá trị thương hiệu, định vị thương
hiệu Trong đó, khái niệm định vị thương hiệu thiên nhiều hơn về mặt chiến lược, còn
các khái niệm sức mạnh thương hiệu, giá trị thương hiệu, vị thế thương hiệu thiên
nhiều hơn về mặt định lượng Do đó, để nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu về
vị thế thương hiệu, bắt buộc phải nghiên cứu các mô hình về giá trị thương hiệu cũng
như các mô hình đo lường sức mạnh thương hiệu
1.2.3.1 Mô hình giá trị thương hiệu
Như đã đề cập, khái niệm giá trị thương hiệu là một khái niệm đa thành phần, đa
nghĩa Có nhiều định nghĩa về giá trị thương hiệu, trong đó ở mỗi định nghĩa lại nêu ra
các thành phần giá trị thương hiệu khác nhau, và ở mỗi mô hình lại có những ưu và
nhược điểm khác nhau Tuy nhiên, mô hình đo lường giá trị thương hiệu của David
Aaker (1991) là mô hình được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình nhất Trên cơ sở mô
hình của David Aaker cùng các mô hình giá trị thương hiệu khác trên thế giới, Nguyễn
Đình Thọ và ctg (2002) đã nghiên cứu và đề xuất mô hình các thành phần giá trị
thương hiệu tại thị trường Việt Nam
Mô hình giá trị thương hiệu của David Aaker (1991)
David Aaker (1991) đưa ra bốn thành phần của giá trị thương hiệu, gồm: lòng
trung thành thương hiệu; nhận biết thương hiệu; chất lượng cảm nhận; các thuộc tính
Trang 17Hình 1.2 Mô hình giá trị thương hiệu của David Aaker (1991)
Mô hình các thành phần giá trị thương hiệu tại thị trường Việt Nam của
Nguyễn Đình Thọ và ctg (2002)
Mô hình giá trị thương hiệu của Nguyễn Đình Thọ (2002), gồm các thành phần:
nhận biết thương hiệu; chất lượng cảm nhận; lòng đam mê thương hiệu; thái độ chiêu
thị Trong đó thành phần lòng đam mê thương hiệu bao gồm 2 thành phần là lòng
trung thành thương hiệu và lòng ham muốn thương hiệu; thành phần thái độ chiêu thị
bao gồm 2 thành phần là thái độ đối với khuyến mãi và thái độ đối với quảng cáo
Hình 1.3 Mô hình giá trị thương hiệu của Nguyễn Đình Thọ và ctg (2002)
1.2.3.2 Mô hình đo lường vị thế thương hiệu
Các phương pháp, chỉ tiêu đánh giá một thương hiệu hầu hết dựa trên nền là định
nghĩa của David Aaker về giá trị thương hiệu Dựa vào đó, người ta đã đưa ra nhiều
phương pháp đánh giá khác nhau Đáng chú ý là phương pháp đánh giá sức mạnh
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 18thương hiệu của Công ty tư vấn thương hiệu Interbrand, mô hình đo lường chất lượng
thương hiệu (Brand Health Diagnosis) và mô hình đánh giá vị thế thương hiệu Young
& Rubicam (Y&R model)
1.2.3.2.1 Mô hình đo lường sức mạnh thương hiệu của Interbrand
Công ty tư vấn thương hiệu số 1 thế giới Interbrand đưa ra 7 tiêu chí để đo lường
tổng thể sức mạnh của thương hiệu, đó là:
1 Thị trường (Market): 10% của sức mạnh thương hiệu
Thương hiệu kinh doanh trong một thị trường mà thị hiếu tiêu dùng sử dụng sản
phẩm đó ổn định thì thương hiệu đó được đánh giá cao hơn
2 Sự ổn định (Stability): 15% sức mạnh thương hiệu
Thương hiệu được hình thành trước thường được đánh giá cao hơn ở bất cứ thị
trường nào vì họ đã có nhiều khách hàng trung thành
3 Dẫn đầu (Leadership): 25% sức mạnh thương hiệu
Một thương hiệu dẫn đầu thị trường có giá trị rất cao vì nó đã chiếm được ưu thế
về thị phần
4 Xu hướng lợi nhuận (Trend): 10% sức mạnh thương hiệu
Interbrand cho rằng thương hiệu có một xu hướng thu được lợi nhuận trong dài
hạn sẽ có sức mạnh hơn các thương hiệu khác do duy trì được sự ổn định và gần gũi
với người tiêu dùng
5 Sự hỗ trợ (Support): 10% sức mạnh thương hiệu
Thương hiệu được chú trọng đầu tư và hỗ trợ sẽ mạnh hơn các thương hiệu khác
Tuy nhiên, việc hỗ trợ này không những về mặt số lượng mà còn về mặt chất lượng
6 Giới hạn địa lý (Geographic): 25% sức mạnh thương hiệu
Những thương hiệu đã hiện diện và được chấp nhận trên thế giới sẽ mạnh hơn
các thương hiệu vùng hoặc quốc gia vì chúng ít bị tổn thương do cạnh tranh Những
thương hiệu này có tài sản thương hiệu rất lớn
7 Sự bảo vệ (Protection): 5% sức mạnh thương hiệu
Thương hiệu được bảo vệ bằng luật pháp và bản quyền quốc tế là yếu tố cuối
cùng của mô hình đo lường độ mạnh thương hiệu của Interbrand
Mô hình đo lường sức mạnh thương hiệu của Interbrand được thể hiện trong hình
Trang 19Hình 1.4 Mô hình đo lường sức mạnh thương hiệu của Interbrand
Phương pháp của Interbrand tuy được đánh giá cao nhưng không phải là không
có nhược điểm của nó Nhược điểm lớn nhất chính là nó nghiêng nhiều về mặt tính
toán (accounting), còn thiếu chú trọng vào mặt marketing, đặc biệt là thiếu sự quan
tâm đến đánh giá của người tiêu dùng Trong khi đó, thái độ, nhận thức của khách
hàng lại là một trong những yếu tố được cân nhác đầu tiên để hoạch định các chiến
lược marketing
1.2.3.2.2 Mô hình đo lường chất lượng thương hiệu (Brand Health Diagnosis)
Mô hình đo lường chất lượng thương hiệu Brand Health Diagnosis, hay còn gọi
là Brand Health Check, đưa ra các chỉ số căn bản nhất để đo lường sức mạnh và vị thế
của thương hiệu, bao gồm hệ thống 5 chỉ số:
1 Total Brand Awareness: chỉ số nhận biết thương hiệu Chỉ số này gồm có 3
cấp độ về nhận biết:
T.O.M (Top of mind): đây là chỉ số cực kỳ quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến
việc bán sản phẩm Chỉ số này có nghĩa là trong một ngành hàng, thương hiệu
này là thương hiệu khách hàng nghĩ đến đầu tiên
Other Spontaneous: là thương hiệu đã có sẵn trong tâm trí của khách hàng nhưng
không phải là T.O.M
Aided: đây là chỉ số mà thương hiệu phải có sự trợ giúp thì khách hàng mới nhớ
Trang 202 Trial: số phần trăm khách hàng mục tiêu của ngành hàng đã dùng thử, trải
nghiệm sản phẩm Ở chỉ số này sẽ tùy thuộc vào ngành hàng, với ngành hàng thiết bị
di động là vào website xem thêm thông tin về sản phẩm, đến cửa hàng xem, tìm kiếm
thông tin về sản phẩm chứ không chỉ là có nghĩa hẹp là "đã từng xài qua"
3 Share of Usage: chỉ số này sẽ tương đương với một chỉ số khác là thị phần
(market share) Thương hiệu chiếm bao nhiêu thị phần trong ngành hàng
4 Coverage (weighted): độ phủ sản phẩm/cửa hàng trên thị trường Chẳng hạn
đối với ngành kinh doanh bán lẻ thiết bị di động là số cửa hàng/siêu thị trong tổng số
cửa hàng/siêu thị kinh doanh cùng loại trên thị trường (đặt trong mối tương quan với
quy mô của mỗi cửa hàng/siêu thị)
5 Conversion Rate (CR): chỉ số này được tính bằng số lượng Share of Usage
chia cho số Trial, có thể hiểu là chỉ số thể hiện số phần trăm khách hàng sau khi dùng
thử trở thành khách hàng thường xuyên
Khi làm marketing, đây là một trong những chỉ số quan trọng để biết sản phẩm
của bạn có đủ tốt so với các sản phẩm trong cùng ngành hàng Một chỉ số CR được
đánh giá là cao hay thấp còn tùy vào từng ngành hàng Vì với một số ngành hàng thì
con số này là cao chót vót nhưng với một số ngành hàng thì con số này chưa là gì Để
biết cao hay thấp thường sẽ có 2 cách:
So với con số chuẩn của cả ngành hàng
So với thương hiệu dẫn đầu thị trường (leader/best practice)
Tóm lại, mô hình đo lường chất lượng thương hiệu Brand Health Diagnosis đưa
ra 5 chỉ số căn bản để đánh giá chất lượng hiện trạng của thương hiệu Thông qua 5 chỉ
số này, người ta sẽ biết được vị thế của thương hiệu là nằm ở đâu trên thị trường và
thương hiệu này hơn kém như thế nào so với thương hiệu dẫn đầu thị trường Khi đọc
hiểu những chỉ số này, sẽ rất thuận lợi để biết nên làm gì chính xác chứ không phải
Trang 21Hình 1.5 Các chỉ số đánh giá chất lượng thương hiệu
Hình 1.6 cho biết sự so sánh về chất lượng thương hiệu của 4 thương hiệu A, B,
C, D thông qua các chỉ số của mô hình đo lường chất lượng thương hiệu Brand Health
Diagnosis Kết quả cho thấy, các chỉ số của thương hiệu B đều ở mức cao, do đó B là
thương hiệu dẫn đầu thị trường
1.2.3.2.3 Mô hình đánh giá thương hiệu Brand Asset Valuator (BAV) của Young &
Rubicam (Y&R model)
Y & R Brand Asset Valuator, hay còn gọi là mô hình BAV hoặc Y&R là một mô
hình đánh giá thương hiệu do công ty Young & Rubicam ở Đức đề xuất, dựa trên mô
hình giá trị thương hiệu của David Aaker Mô hình Y&R cho thấy triển vọng thực tế
cho các thương hiệu Điều này là do Y&R đo lường giá trị của một thương hiệu dựa
trên những đánh giá từ trái tim và tâm trí của người tiêu dùng (in people's hearts and
minds)
Về cơ bản mô hình Y&R đánh giá thương hiệu dựa trên hai phương diện: sức
mạnh của thương hiệu (Brand strength) và tầm cỡ của thương hiệu (Brand Stature)
Sức mạnh của thương hiệu được xác định dựa trên tính phân biệt (Differentiation) và
tính tương thích (Relevance) của thương hiệu Tầm cỡ của thương hiệu được xác định
dựa trên sự yêu thích (Esteem) và sự hiểu biết (Knowledge) của khách hàng Trong đó,
tính phân biệt (Differentiation) và tính tương thích (Relevance) của thương hiệu liên
quan mật thiết đến các chính sách marketing của doanh nghiệp; Sự yêu thích (Esteem)
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 22và sự hiểu biết (Knowledge) của khách hàng được đánh giá bằng mô hình giá trị
thương hiệu của David Aaker (1991)
Tính khác biệt (Differentiation – tiếng Đức Differenzierung – Ký hiệu: D)
Chỉ số D được đo lường thông qua ý nghĩa độc đáo của tên thương hiệu, logo
thương hiệu; thương hiệu mang đến cho khách hàng những sản phẩm – dịch vụ độc
đáo, sáng tạo, khác biệt với những đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Sự tương thích, khả năng đáp ứng (Relevance – tiếng Đức Relevanz – Ký hiệu:
R)
Liên quan đến các chính sách marketing-mix mà doanh nghiệp đã áp dụng, liệu
các chính sách marketing-mix mà doanh nghiệp áp dụng có làm thỏa mãn những yêu
cầu ngày càng cao của khách hàng
Tùy từng ngành khách nhau mà sự đo lường tính tương thích, khả năng đáp ứng
của các thương hiệu là khác nhau Chẳng hạn, đối với các doanh nghiệp sản xuất đơn
thuần, chỉ số R được đo lường thông qua 4P của marketing (sản phẩm – product, giá cả
- price, phân phối – place và xúc tiến – promotion) Còn đối với ngành thương mại –
dịch vụ, tức lĩnh vực mà đề tài này đang nghiên cứu, chỉ số R được đo lường thông
qua 7P, bao gồm sản phẩm (product), chính sách giá (price), địa điểm (place), chính
sách xúc tiến (promotion), nhân viên (people), tiến trình dịch vụ (process), các yếu tố
hữu hình (physical evidence)
Sự yêu thích (Esteem – tiếng Đức Ansehen – Ký hiệu: A)
Chỉ số A được đo lường dựa trên mức độ cảm nhận về thương hiệu và lòng trung
thành của khách hàng
Khách hàng đánh giá thương hiệu đó như thế nào, sự yêu thích chỉ ra mức độ
quan tâm của khách hàng quan tâm đối với thương hiệu đó Sự yêu thích càng lớn, giá
trị nhận biết của thương hiệu càng cao, khách hàng càng tôn trọng nó
Sự hiểu biết (Knowledge – tiếng Đức Vertrautheit – Ký hiệu: V)
Chỉ số V được đo lường dựa trên sự nhận biết và kinh nghiệm riêng của khách
hàng
Sự hiểu biết về một thương hiệu chỉ ra mức độ nhận biết và am hiểu của khách
hàng về thương hiệu đó Mức độ hiểu biết càng cao, họ càng tin rằng họ biết được bản
chất của thương hiệu đó
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 23Hình 1.6 Mô hình Y&R Brand Asset Valuator
Các chỉ số D, R, A, V sẽ được tính toán thông qua một hệ thống thang đo cho
mỗi chỉ số, gồm các biến (items) được đo bằng thang đo Likert 5 điểm, sau đó sẽ tính
toán dựa trên giá trị mean của các biến (nhóm biến) này
Mô hình Y&R sẽ thiết lập một mặt phẳng toạ độ với hai trục sức mạnh–tầm cỡ
của thương hiệu, gọi là mạng lưới Power Grid Vị thế của một thương hiệu sẽ được
xác định dựa trên "toạ độ" ở mỗi trục dựa vào 4 chỉ số D, R, A, V nói trên
Mạng lưới Power Grid này chia các thương hiệu thành 4 nhóm, mỗi nhóm mô tả
chính xác và cụ thể trạng thái của từng thương hiệu Bắt đầu từ phía dưới lên và di
chuyển theo chiều kim đồng hồ:
Nhóm 1: Nhóm mới/không tập trung/vị thế kém (New/Fading Brands)
Thương hiệu nào rơi vào nhóm này có ít Sức mạnh thương hiệu và có điểm số
thấp ở sự tương thích (R) và sự khác biệt (D) Điều này cho thấy chúng chưa tạo được
sự hiểu biết có ý nghĩa trong cộng đồng Phần lớn đây là những thương hiệu mới, đang
cố thâm nhập vào thị trường Các thương hiệu thuộc nhóm này có vị thế kém
Nhóm 2: Nhóm Ngách/ Có đà tiến (Aspiring Brands)
Các thương hiệu này có lợi nhuận thấp nhưng có tiềm năng cao Chúng đã tạo
được một vài sự khác biệt (D) và sự tương thích (R), nhưng ít người biết đến hoặc cho
rằng không thích hợp với họ Các thương hiệu có khả năng hấp dẫn và sẵn sàng tiến
Trang 24Đây là nhóm các thương hiệu vô cùng hấp dẫn Chúng có khả năng tạo lợi nhuận
lớn, có nhiều tiềm năng tạo giá trị tương lai Chúng đã xây dựng được cả Sức mạnh và
Vị thế thương hiệu Các thương hiệu này sẽ duy trì được vị thế dẫn đầu so với các
thương hiệu cùng loại
Nhóm 4: Nhóm xuống cấp/Suy giảm (Eroding Brands)
Các thương hiệu nhóm này trở thành thương hiệu đại trà Người tiêu dùng có thể
biết rõ về thương hiệu của công ty nhưng cho rằng chúng kém độc đáo (D nhỏ) hoặc ít
thích hợp (R nhỏ)
Các nhóm được mô tả rõ ràng trong hình 1.7
Hình 1.7 Mạng lưới Power Grid đánh giá vị thế - sức mạnh thương hiệu
1.2.3.3 Mô hình nghiên cứu vị thế thương hiệu trong kinh doanh bán lẻ thiết bị di
động tại thị trường thành phố Huế
Các mô hình đánh giá vị thế thương hiệu ở trên, mỗi mô hình đều có điểm mạnh
và điểm yếu riêng Phương pháp đánh giá sức mạnh thương hiệu của Interbrand và
phương pháp đo lường chất lượng thương hiệu (Brand Health Diagnosis) là hai
phương pháp mạnh mẽ để đánh giá và đo lường sức mạnh thương hiệu và vị thế
thương hiệu Tuy nhiên, phương pháp của Interbrand nghiêng hoàn toàn về mặt tính
toán (accounting); phương pháp đo lường chất lượng thương hiệu (Brand Health
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 25Diagnosis) mặc dù đã đưa vào nhiều chỉ số dựa trên đánh giá của khách hàng, nhưng
chung quy lại nhiều chỉ số khác vẫn dựa trên các số liệu kế toán tài chính Do đó,
nhược điểm lớn nhất của cả hai phương pháp này là vẫn nghiên nhiều hơn về mặt tính
toán (accounting), cần nhiều số liệu thứ cấp để tính toán và đưa ra các chỉ số, mà ít chú
trọng về những đánh giá của khách hàng Do đó, hai phương pháp trên thích hợp hơn
đối với các nghiên cứu thị trường, còn đối với những nghiên cứu dựa trên đánh giá của
khách hàng như nghiên cứu này thì không khả thi
Khắc phục những nhược điểm đó, phương pháp đánh giá thương hiệu Young &
Rubicam (mô hình Y&R) chính là một phương pháp đánh giá thương hiệu dựa trên
nhìn nhận từ phía khách hàng
Với giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ nghiên cứu đối với các hãng kinh
doanh bán lẻ thiết bị di động trên thị trường thành phố Huế Trong khi đó, mô hình
đánh giá vị thế thương hiệu Y&R nghiêng nhiều hơn về mặt marketing và sự đánh giá
chủ yếu dựa trên khách hàng, được xây dựng dựa trên mô hình giá trị thương hiệu của
David Aaker (1991), do đó, mô hình Y&R phù hợp hơn đối với nghiên cứu này
Xuất phát từ những lý luận trên, nghiên cứu quyết định áp dụng mô hình Y&R
làm mô hình nghiên cứu chính để đánh giá vị thế các thương hiệu trong kinh doanh
bán lẻ thiết bị di động tại thị trường thành phố Huế, kết quả sẽ xác định vị trí các
thương hiệu trên mạng lưới vị thế - sức mạnh thương hiệu Power Grid
Hình 1.8 Mô hình nghiên cứu vị thế thương hiệu trong kinh doanh bán lẻ thiết bị
Trang 261.2.4 Thiết kế nghiên cứu
1.2.4.1 Xây dựng thang đo
Thang đo trong nghiên cứu này dựa trên cơ sở mô hình đo lường vị thế thương
hiệu Y&R Một tập biến quan sát (các phát biểu) được xây dựng để đo lường 4 chỉ số
đo lường vị thế thương hiệu theo mô hình Y&R Thông qua việc hỏi ý kiến chuyên
gia, nghiên cứu sơ bộ với mẫu có kích thước là n = 20, các biến quan sát đã được
chỉnh sửa cho phù hợp đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Các tập biến quan sát cụ
thể được đo lường dựa trên thang đo Likert 5 điểm, thay đổi từ 1 = “hoàn toàn không
đồng ý” đến 5 = “hoàn toàn đồng ý”
Thang đo có tổng cộng 39 biến quan sát được sử dụng để đo lường 4 chỉ số D, R,
A, V Trong đó, các thang đo sự khác biệt (D), thang đo sự yêu thích (A) và thang đo
sự nhận biết (V) được xây dựng dựa trên thang đo đo lường giá trị thương hiệu tại thị
trường Việt Nam của Nguyễn Đình Thọ và ctg (2002) Riêng thang đo khả năng đáp
ứng (R) là một thang đo rất quan trọng, được xây dựng dựa trên mô hình 7P trong
ngành marketing thương mại – dịch vụ, nhằm đo lường khả năng đáp ứng nhu cầu
khách hàng và khả năng tương thích với những thay đổi của thị trường của thương
hiệu
1.2.4.1.1 Thang đo chỉ số sự khác biệt (Differentiation - chỉ số D)
Chỉ số D được đo lường thông qua ý nghĩa độc đáo của tên thương hiệu, logo
thương hiệu; thương hiệu mang đến cho khách hàng những sản phẩm – dịch vụ độc
đáo, sáng tạo, khác biệt với những đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Thang đo chỉ số khác biệt được đo lường thông qua 3 biến quan sát, đo lường
tính độc đáo, ấn tượng của khách hàng đối với tên thương hiệu logo thương hiệu và sự
khác biệt của thương hiệu so với các thương hiệu cùng loại trên thị trường trong cảm
nhận của khách hàng
1.2.4.1.2 Thang đo chỉ số khả năng đáp ứng (Relevance – chỉ số R)
Liên quan đến các chính sách marketing-mix mà doanh nghiệp đã áp dụng, liệu
các chính sách marketing-mix mà doanh nghiệp áp dụng có làm thỏa mãn những yêu
cầu ngày càng cao của khách hàng
Nghiên cứu này thực hiện trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ, chỉ số R được đo
lường thông qua khả năng đáp ứng của doanh nghiệp đối với 7P, bao gồm:
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 27 Sản phẩm (product): gồm 2 biến quan sát, đo lường khả năng cung ứng sản phẩm
của các thương hiệu
Chính sách giá (price): gồm 3 biến quan sát, đánh giá chính sách giá của các
thương hiệu
Địa điểm (place): gồm 2 biến quan sát, đánh giá vị trí của siêu thị/cửa hàng
Chính sách xúc tiến (promotion): gồm 10 biến quan sát, bao gồm các biến đo
lường chính sách quảng cáo (2 biến), khuyến mãi (4 biến) và dịch vụ hậu mãi (4
biến)
Nhân viên (people): gồm 3 biến quan sát đánh giá chất lượng nhân viên tại cửa
hàng của các thương hiệu
Tiến trình dịch vụ (process): gồm 2 biến quan sát đánh giá trình tự thủ tục thanh
toán và đặt hàng của các thương hiệu
Các yếu tố hữu hình (physical evidence): gồm 7 biến quan sát, đánh giá về không
gian ở cửa hàng (3 biến) và website của các thương hiệu (4 biến)
Như vậy, chỉ số R được đo lường thông qua 29 biến quan sát Đây là một trong
những chỉ số quan trọng bậc nhất trong mô hình Y&R, thể hiện các điểm mạnh, điểm
yếu hữu hình của các thương hiệu
1.2.4.1.3 Thang đo chỉ số sự yêu thích (Esteem – Chỉ số A)
Chỉ số A được đo lường dựa trên mức độ cảm nhận về thương hiệu và lòng trung
thành của khách hàng
Chỉ số A được đo lường thông qua 4 biến quan sát, để đo lường mức độ yêu
thích, mức độ quan tâm của khách hàng quan tâm đối với thương hiệu đó Sự yêu thích
càng lớn, giá trị nhận biết của thương hiệu càng cao, khách hàng càng tôn trọng nó
1.2.4.1.4 Thang đo sự nhận biết (Knowledge – Chỉ số V)
Có 3 biến quan sát được sử dụng để đo lường sự mức độ nhận biết và am hiểu
của khách hàng về thương hiệu Mức độ hiểu biết càng cao, họ càng tin rằng họ biết
được bản chất của thương hiệu đó
1.2.4.2 Phương pháp nghiên cứu và mẫu nghiên cứu
1.2.4.2.1 Nghiên cứu định tính
Công việc đầu tiên trong bước nghiên cứu định tính trong nghiên cứu này là xác
định các thương hiệu kinh doanh bán lẻ thiết bị di động tại thị trường thành phố Huế,
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 28phù hợp với những tiêu chí được giới hạn trong phần phạm vi nghiên cứu Phương
pháp được áp dụng ở bước này là khảo sát thực tế thị trường tại thành phố Huế
Theo đó, kết quả của quá trình điều tra định tính đã xác định được 10 thương
hiệu phù hợp với những tiêu chí đã đưa ra, bao gồm:
thể ở đây là quản lý và các nhân viên bán hàng tại một số cửa hàng/siêu thị kinh doanh
bán lẻ thiết bị di động trên địa bàn thành phố Huế, kết hợp với phương pháp quan sát
để xác định và ước lượng số khách hàng trung bình đến cửa hàng trong vòng một
ngày
Bên cạnh đó, để xác định các yếu tố, các biến trong thang đo để đo lường các chỉ
số trong mô hình Y&R, quá trình nghiên cứu định tính sẽ tiến hành theo phương pháp
phỏng vấn trực tiếp đối với 20 khách hàng, là các khách hàng đã từng mua các sản
phẩm thiết bị di động tại các cửa hàng/siêu thị bán lẻ thiết bị di động trên thị trường
thành phố Huế Kết hợp với một số nội dung được chuẩn bị trước dựa theo mô hình
Y&R Từ đó phác thảo các chỉ tiêu cần có khi xây dựng bảng hỏi
Kết quả nghiên cứu sơ bộ là cơ sở cho thiết kế bảng câu hỏi đưa vào nghiên cứu
chính thức
1.2.4.2.2 Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng được tiến hành dựa trên cơ sở mô hình nghiên cứu đề
xuất (mô hình Y&R) nhằm xác định những yếu tố ảnh hưởng đến sức mạnh thương
hiệu và vị thế thương hiệu
Xác định kích thước mẫu
Về kích thước mẫu:
Các khách hàng được phỏng vấn bằng bảng câu hỏi được thiết lập dựa trên mô
hình Y&R Số lượng khách hàng trong thị trường kinh doanh bán lẻ thiết bị di động tại
thành phố Huế là rất lớn, do đó, do nhiều điều kiện hạn chế về thời gian cũng như
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 29nguồn lực, tôi chỉ tiến hành điều tra một số mẫu, đề từ đó khái quát ra những đặc điểm
của tổng thể Có nhiều phương pháp để xác định kích cỡ mẫu, tuy nhiên ở nghiên cứu
này tôi sử dụng phương pháp xác định kích thước mẫu theo tỷ lệ:
Do tính chấtp q 1, vì vậy p q sẽ lớn nhất khi p q 0, 5nên p q 0, 25 Ta
tính cỡ mẫu với độ tin cậy là 95% và sai số cho phép là e = 6% Lúc đó mẫu ta cần
chọn sẽ có kích cỡ mẫu lớn nhất:
(Trong đó: p là tỷ lệ khách hàng nữ; q là tỷ lệ khách hàng nam)
Tuy nhiên, để đảm bảo độ chính xác cũng như mức độ thu hồi lại bảng hỏi, tôi
tiến hành điều tra với số lượng mẫu là 300 khách hàng
Về phương pháp thu thập dữ liệu
Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đoạn đó là nghiên cứu sơ bộ và nghiên
Xử lý dữ liệu
300
Trong giai đoạn nghiên cứu chính thức, do những hạn chế của đề tài trong việc
tiếp cận danh sách khách hàng cũng như số lượng thương hiệu có mặt trong nghiên
cứu là lớn nên phương pháp điều tra được sử dụng đó là phương pháp ngẫu nhiên
thuận tiện, nghĩa là sẽ tiến hành điều tra các khách hàng của mỗi thương hiệu theo
cách thuận tiện nhất
Tuy nhiên, để tiến hành điều tra một cách khách quan, số mẫu dành cho mỗi
thương hiệu sẽ được phân chia theo tương quan số khách hàng đến cửa hàng/siêu thị
giữa các thương hiệu Số khách hàng đến các cửa hàng/siêu thị của mỗi hãng được ước
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 30lượng thông qua quá trình điều tra định tính đối với quản lý và các nhân viên tại đó,
bên cạnh đó là kết hợp với phương pháp quan sát và ước lượng thực tế
Theo đó, số mẫu để điều tra cho mỗi thương hiệu được phân chia như sau:
Bảng 1.2 Phân chia mẫu điều tra của các thương hiệu
STT Thương hiệu Địa điểm cửa hàng trong 1 ngày Số KH đến
(ước lượng)
Số mẫu cửa hàng
Số mẫu thương hiệu
9 Izone (Huetronics) Lý Thường Kiệt 70 12 12
(Nguồn: Kết quả thống kê)
Phương pháp phân tích dữ liệu sơ cấp
Trong nghiên cứu này, vị thế thương hiệu được đo lường thông qua mô hình
Y&R, được thể hiện thông qua các chỉ số D, R, A,V, được tính toán thông qua xử lý
các dữ liệu thu thập được từ ý kiến đánh giá của khách hàng Do đó, phương pháp
phân tích dữ liệu chính được sử dụng trong nghiên cứu này là phương pháp thống kê
mô tả, sử dụng các giá trị mean và các giá trị tần số của các biến trong thang đo để tính
toán các chỉ số đo lường vị thế thương hiệu
Dữ liệu thu thập được nhập liệu và xử lý chủ yếu bằng phần mềm SPSS 16.0 và
Trang 31CHƯƠNG 2: VỊ THẾ THƯƠNG HIỆU TRONG KINH DOANH BÁN LẺ
THIẾT BỊ DI ĐỘNG QUA ĐÁNH GIÁ CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRÊN
THỊ TRƯỜNG THÀNH PHỐ HUẾ 2.1 Tổng quan về “thiết bị di động”
2.1.1 Khái niệm “thiết bị di động”
Có nhiều cách để phân loại thiết bị, nhưng theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài
thì áp dụng cách phân loại theo tiêu chí khả năng di động Theo đó, thiết bị có 3 loại:
1 – Cố định (Fixed): như điện thoại cố định, máy tính bàn (PCs), máy in…
2 – Di chuyển được (Nomadic): như điện thoại cố định không dây, máy tính xách
tay (laptop), máy tính sổ tay (note book, net book), ổ cứng rời, ổ DVD rời, bộ nhớ
USB, loa di dộng… Đặc điểm của chúng là có thể di chuyển được, nhưng ngữ cảnh sử
dụng chính là nằm ở một chỗ
3 – Thiết bị di động cầm tay (Mobile): như điện thoại di động thông thường (bàn
phím số), điện thoại thông minh (smartphone), máy tính bảng (tablet), điện thoại thông
minh lai máy tính bảng (phablet), máy nghe nhạc mp3/mp4, máy ảnh (camera), máy
quay phim, các thiết bị số hỗ trợ cá nhân (Personal Digital Assistant – PDA) Đặc
điểm của chúng là nhỏ, gọn, dễ dàng cầm và sử dụng trên tay, mang được đi khắp nơi,
ngữ cảnh sử dụng khắp nơi
Như vậy, theo cách phân loại như trên thì khái niệm “thiết bị di động” mà nghiên
cứu hướng đến bao gồm hai loại, đó là Nomadic và Mobile Đặc điểm của những thiết
bị di động này là nhỏ, gọn, người dùng có thể mang đi khắp nơi, sử dụng thuận tiện ở
mọi nơi
2.1.2 Các sản phẩm thiết bị di động được nghiên cứu trong đề tài
Các loại thiết bị di động trong định nghĩa ở trên thì có rất nhiều loại Tuy nhiên,
mục tiêu nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu đối với các hãng kinh doanh
bán lẻ thiết bị di động tại thị trường thành phố Huế Trên thực tế, không phải bất cứ
hãng bán lẻ nào cũng có kinh doanh tất cả các loại thiết bị di động kể trên, do đó, để
đảm bảo có sự so sánh, đánh giá khách quan nhất về vị thế thương hiệu của các hãng
kinh doanh trên thị trường thành phố Huế, thì nghiên cứu chỉ giới hạn đối với các
hãng có kinh doanh bán lẻ 4 loại thiết bị di động phổ biến nhất hiện nay trên thị
Trang 32 Máy tính xách tay (laptop): các thương hiệu Apple, Sony, Dell, Lenovo,
Samsung, Asus, Acer, HP…
Máy tính bảng (tablet): Các thương hiệu Apple, Samsung, Asus, Lenovo…
Điện thoại di động thông thường (bàn phím số): Các thương hiệu Nokia,
Samsung, Black Berry, Motorola, FPT…
Điện thoại thông minh (smartphone): Các thương hiệu Apple, Samsung, Sony,
HTC, LG, Nokia, OPPO, Lenovo…
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 332.2 Tổng quan về thị trường kinh doanh bán lẻ thiết bị di động
2.2.1 Tổng quan về thị trường kinh doanh bán lẻ thiết bị di động ở Việt Nam
2.2.1.1 Khái quát tình hình thị trường
Trên thị trường Việt Nam hiện nay, các sản phẩm thiết bị di động được xếp vào
nhóm ngành hàng công nghệ - điện tử Cụ thể, thị trường công nghệ điện tử được chia
thành 7 nhóm sản phẩm chính Tại Việt Nam, 4 nhóm có doanh số lớn là:
+ Điện tử gia dụng (CE): Ti vi, thiết bị nghe nhìn
+ Điện lạnh (MDA): Điều hòa, máy lạnh, bình nước nóng, máy giặt…
+ Sản phẩm thông tin liên lạc (TC): Điện thoại
+ Thiết bị công nghệ thông tin (IT): laptop, máy tính, máy tính bảng
Ba nhóm có quy mô nhỏ hơn là:
+ Máy ảnh (PH)
+ Điện gia dụng (SDA): lò vi sóng, nồi cơm điện
+ Thiết bị văn phòng: máy in…
Khái niệm “Thiết bị di động” được đề cập trong nghiên cứu này bao gồm 3 nhóm
sản phẩm, đó là sản phẩm thông tin liên lạc (TC), thiết bị công nghệ thông tin (IT) và
máy ảnh (PH)
Thị trường công nghệ điện tử Việt Nam hiện nay cạnh tranh rất khắc nghiệt, với
sự góp mặt của hầu hết các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới Năm 2012, thị trường công
nghệ điện tử cực kỳ ảm đạm với mức tăng trưởng âm Năm 2013, theo báo cáo do
Công ty nghiên cứu thị trường GfK TEMAX Việt Nam, thị trường hàng công nghệ
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 34điện tử Việt Nam đạt tổng doanh thu tính cả năm 2013, vượt mức 113,1 nghìn tỉ đồng,
tăng 22,1% so với năm 2012
Đơn vị: nghìn tỷ đồng (Nguồn: Số liệu từ GfK TEMAX)
Hình 2.1 Doanh số thị trường công nghệ, điện tử Việt Nam 2010 – 2013
Tuy nhiên, quy mô thị trường công nghệ, điện tử Việt Nam là còn nhỏ so với khu
vực Theo số liệu của GfK, trong vòng 4 quý từ quý 2/2012 đến quý 2/2013, doanh số
của Việt Nam chỉ xếp trên được Singapore Nhưng mà Singapore chỉ có hơn 5 triệu
dân trong khi Việt Nam là 90 triệu
Đơn vị: tỷ USD (Nguồn: Số liệu từ GfK TEMAX)
Hình 2.2 Doanh số 4 quý (2/2012 – 2/2013) của thị trường CNĐT tại một số nước
Các số liệu thống kê của công ty nghiên cứu thị trường GfK Việt Nam cho thấy
rằng, trong giai đoạn 2012 – 2013, trong số các nhóm sản phẩm của ngành hàng công
nghệ, điện tử; nhóm sản phẩm thiết bị công nghệ thông tin (IT) và sản phẩm thông tin
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 35liên lạc (TC) chiếm doanh số cao hơn hẳn so với các nhóm sản phẩm còn lại, có thể
thấy rõ điều đó trong biểu đồ dưới đây:
Đơn vị tính: nghìn tỷ đồng (Nguồn: Số liệu từ GfK TEMAX)
Hình 2.3 Doanh số các dòng sản phẩm công nghệ điện tử tại Việt Nam 2012-2013
Như đã đề cập, khái niệm “Thiết bị di động” được đề cập trong nghiên cứu này
bao gồm 3 nhóm sản phẩm, đó là sản phẩm thông tin liên lạc (TC), thiết bị công nghệ
thông tin (IT) và máy ảnh (PH) Biểu đồ sau đây sẽ thể hiện sự chênh lệch doanh số
giữa các sản phẩm thiết bị di động so với các sản phẩm khác trong ngành công nghệ
điện tử:
Đơn vị tính: nghìn tỷ đồng (Nguồn: Số liệu từ GfK TEMAX)
Hình 2.4 Doanh số của các sản phẩm thiết bị di động trong ngành công nghệ,
điện tử tại Việt Nam năm 2012 – 2013
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 36Biểu đồ trên cho thấy rằng, tại thị trường Việt Nam năm 2012 – 2013, các sản
phẩm thiết bị di động chiếm một tỷ trọng doanh số cao hơn hẳn trong các sản phẩm
thuộc nhóm ngành công nghệ, điện tử Điều đó chứng minh rằng thị trường kinh doanh
bán lẻ thiết bị di động trên thị trường Việt Nam là có sức hút rất lớn, mang lại doanh
số rất cao Cũng chính vì thế mà mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên
quyết liệt, với sự tham gia của rất nhiều hãng kinh doanh bán lẻ Trong môi trường
cạnh tranh đó, các hãng không ngừng thực hiện các chính sách marketing và tăng
cường đầu tư để nâng cao vị thế thương hiệu trên thị trường Tuy nhiên, cũng có không
ít hãng với tiềm lực tài chính yếu hoặc chiến lược sai lầm, đã lần lượt sụp đổ và biến
mất khỏi bản đồ thương hiệu trên thị trường kinh doanh bán lẻ hàng công nghệ, điện tử
Việt Nam
2.2.1.2 Vị thế thương hiệu trong kinh doanh bán lẻ thiết bị di động tại thị trường
Việt Nam giai đoạn 2012 – 2014
Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành kinh doanh này được phân ra thành:
các nhà sản xuất thiết bị gốc (OEM - Original Equipment Manufacturer), các công ty
lắp ráp sản phẩm từ các sản phẩm của các OEM, các công ty lắp ráp gia công theo hợp
đồng cho các thương hiệu khác, các nhà phân phối, các đại lý bán lẻ
Đối tượng nghiên cứu của nghiên cứu ở đây là các doanh nghiệp bán lẻ mặt
hàng công nghệ, điện tử
Hiện nay, thị trường bán lẻ điện thoại di động tại Việt Nam đang đi vào xu thế
bão hòa, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải có năng lực cạnh tranh
thực sự, thỏa mãn mọi thị yếu của khách hàng Năng lực đó được đo bằng thị phần bán
lẻ, lợi nhuận bán hàng Tại Việt Nam, thị trường bán lẻ ngành hàng công nghệ, điện tử
đang có hàng trăm doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, tuy nhiên chỉ có khoảng 30
doanh nghiệp tạo được tên tuổi như Pico, Nguyễn Kim, Trần Anh, Thế giới di động,
Media Mart, Top Care, HC Home Center Trong đó, nhiều siêu thị nhỏ, mới thành lập
gặp nhiều khó khăn khi loay hoay giải quyết những vấn đề mà các doanh nghiệp lớn
đã giải quyết xong cách đây 5 - 6 năm như chọn kênh phân phối, quản trị hàng tồn
kho Hai doanh nghiệp bán lẻ hàng điện tử công nghệ lớn nhất hiện nay là Nguyễn
Kim và Thế giới di Động, với một khoảng cách về doanh thu rất lớn so với những
doanh nghiệp phía sau
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 37Năm 2012, doanh thu của Nguyễn Kim đạt khoảng 9.000 tỷ trong khi Thế giới di
động đạt 7.400 tỷ đồng Hai doanh nghiệp này chiếm gần 1/5 tổng doanh số toàn thị
trường
Những doanh nghiệp bán lẻ lớn khác có thể kể đến như Chợ Lớn, Thiên Hòa,
Pico, Viễn thông A, Trần Anh, Mediamart
Hình 2.5 Doanh thu của một số doanh nghiệp bán lẻ hàng điện tử, điện máy lớn
2011 – 2012
Như vậy, trên thị trường điện tử - công nghệ Việt Nam hiện nay, Nguyễn Kim và
Thế giới di động đang là hai doanh nghiệp dẫn đầu thị trường với doanh thu – lợi
nhuận hàng năm ở một khoảng cách rất xa so với phần còn lại
Tuy nhiên, nếu chỉ xét riêng đối với thị trường kinh doanh bán lẻ thiết bị di động
thì vị thế thị trường của các thương hiệu sẽ có nhiều biến đổi Như đã phân loại ở trên,
“thiết bị di động” là một trong số những sản phẩm thuộc mặt hàng công nghệ điện tử -
điện máy Những số liệu thống kê ở trên là dành cho các doanh nghiệp trên toàn thị
trường bán lẻ công nghệ điện tử - điện máy Hiện nay cũng chưa có một thống kê hay
một báo cáo nghiên cứu thị trường nào dành riêng cho thị trường kinh doanh bán lẻ
thiết bị di động tại Việt Nam Tuy nhiên, trên thực tế, doanh thu của Nguyễn Kim và
nhiều doanh nghiệp khác ở trên chủ yếu đến từ mảng điện máy Do đó, nếu chỉ xét
riêng đối với mảng kinh doanh bán lẻ thiết bị di động, thì theo các số liệu thống kê và
ước tính đến cuối năm 2013, Thế giới di động mới là doanh nghiệp đang dẫn đầu thị
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 38trường này, với doanh thu 7.822 tỷ đồng, lãi 250 tỷ đồng trong năm 2013 (Số liệu công
bố của Thế giới di động) Nguyễn Kim đặt doanh thu ước tính trên 9000 tỷ đồng năm
2013 nhưng hơn 50% trong số đó đến từ mảng điện máy Theo SaigonTimes, “tốp 5”
nhà bán lẻ có tiếng nói quyết định ở thị trường bán lẻ thiết bị di động Việt Nam gồm
có Thế giới di động, Nguyễn Kim, FPT Shop, Viễn Thông A và Viettel Store Cả 5
doanh nghiệp này đều có quy mô cửa hàng/siêu thị phủ khắp cả nước và có tiềm lực tài
chính rất hùng mạnh
Tính đến tháng 4/2014, số lượng các cửa hàng/siêu thị của các doanh nghiệp
trong “tốp 5” trên như sau:
Bảng 2.1 Số cửa hàng/siêu thị của các thương hiệu lớn tính đến tháng 4/2014
Tên thương hiệu Số cửa hàng/siêu thị Số tỉnh thành
(Nguồn: thông tin thống kê từ website các doanh nghiệp)
Trong bảng thống kê trên, Viettelstore tuy dẫn đầu về số lượng cửa hàng/siêu thị
Tuy nhiên, phần lớn các cửa hàng của Viettelstore có quy mô nhỏ hơn nhiều so với các
siêu thị/cửa hàng của các hãng khác
2.2.2 Tổng quan về thị trường kinh doanh bán lẻ thiết bị di động ở thành phố
Huế
Trong những năm trở lại đây, thị trường công nghệ điện tử ở Huế tr ở nên sôi
động và phát triển khá nhanh Hê ̣ thống các siêu thị điện tử, điện máy phát triển dày
đặc, hình thành các con đường “chuyên bán hàng công nghê ̣” v ới quy mô lớn nhỏ khác
nhau (Bến Nghé, Hùng Vương), đi kèm với các dịch vụ khuyến mãi, hậu mãi phong
phú Tất cả đều góp phần điểm tô cho bức tranh thị trường kinh doanh bán lẻ thiết bị di
động tại thành phố Huế
Thị trường kinh doanh bán lẻ thiết bị di động ở thành phố Huế hiện nay cũng
đang trong tình trạng cạnh tranh khốc liệt với sự tham gia của hầu hết các thương hiệu
lớn trên cả nước Tuy nhiên, rất nhiều các hãng lớn chỉ mới gia nhập thị trường kinh
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 39doanh bán lẻ thiết bị di động tại thành phố Huế trong vòng 1 – 2 năm trở lại đây, tức từ
năm 2012, do đó, thị trường thành phố Huế vẫn được xem là một thị trường tiềm năng
trong kinh doanh bán lẻ thiết bị di động Nhưng nếu xét về quy mô thị trường thì thị
trường thành phố Huế vẫn còn khá nhỏ so với các thị trường khác trên cả nước, như
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ… Điều đó thể hiện ở
số lượng các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ thiết bị di động đang có mặt và số siêu
thị/cửa hàng đang có của mỗi hãng trên thị trường
Nếu đáp ứng tất cả các tiêu chí là một doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ thiết bị di
động, thì theo thống kê, tính đến tháng 4/2014, thị trường kinh doanh bán lẻ thiết bị di
động tại thành phố Huế đang là sự cạnh tranh của 10 thương hiệu lớn dưới đây:
Bảng 2.2 Các thương hiệu kinh doanh bán lẻ thiết bị di động đang có mặt tại thị
trường thành phố Huế tính đến tháng 4/2014
STT Tên thương hiệu
Số siêu thị/cửa hàng tại Huế
Số siêu thị/cửa hàng tại Đà Nẵng
Số siêu thị/cửa hàng tại Hà Nội
Số siêu thị/cửa hàng tại TPHCM
(Nguồn: Kết quả thống kê)
Nhìn vào số liệu thống kê ở bảng 2.2, ta thấy rằng trong số 10 thương hiệu kinh
doanh bán lẻ thiết bị di động lớn tại thị trường thành phố Huế, hãng có số cửa hàng
nhiều nhất là Thế giới di động và Bách Khoa Computer với cùng 3 cửa hàng; Viễn
Thông A, Viettel Store, và Hương Giang Mobile xếp sau với cùng 2 cửa hàng; các
hãng còn lại chỉ có 1 cửa hàng duy nhất
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 40Tuy nhiên, khi đem so sánh quy mô thị trường thành phố Huế so với các thị
trường khác như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, thì số lượng cá siêu
thị/cửa hàng kinh doanh bán lẻ thiết bị di động tại thị trường thành phố Huế là còn khá
nhỏ Trong số 10 thương hiệu kinh doanh bán lẻ thiết bị di động hiện đang có mặt tại
thị trường thành phố Huế thì chỉ có 5 thương hiệu lớn, với địa bàn hoạt động trên khắp
cả nước; số còn lại là các thương hiệu nội tỉnh hoặc chỉ hoạt động tại khu vực miền
Trung
Tại thị trường thành phố Huế, các thương hiệu trên kinh doanh nhiều mặt hàng
công nghệ - điện tử khác nhau, được thể hiện trong Bảng 2.3
Bảng 2.3 Các thương hiệu kinh doanh bán lẻ thiết bị di động tại thành phố Huế
Tên thương hiệu Logo
4 sản phẩm thiết
bị di động
Phụ kiện
Thiết
bị mạng
Máy ảnh
Sim card
Thiết
bị văn phòng