1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình thực hiện chương trình quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản tại huyện phú vang tỉnh thừa thiên huế

63 580 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình quan trắc môi trường nước đã được thực hiện trong những năm qua và đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực cho bà con ngư dân nuôi trồng thủy sản, bà con nắm rõ được thông tin

Trang 1

- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG PHỤC VỤ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI

HUYỆN PHÚ VANG -TỈNH THƯÀ THIÊN HUẾ

Trang 2

- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG PHỤC VỤ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI

HUYỆN PHÚ VANG -TỈNH THƯÀ THIÊN HUẾ

Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn:

Trần Thị Ánh TS Phan Văn Hòa

Trang 3

Thực tập cuối khóa là một mốc son trong cuộc đời học tập của mỗi sinh viên trong gian đoạn cuối của chặng đường đại học

Hiểu được những vẫn đề đó đó, trường Đại Học Kinh Tế Huế, Khoa Kinh Tế Và Phát Triển đã tổ chức cho chúng tôi một đợt thực tập cuối khóa để tích lũy thêm kinh nghiệm trong quá trình học tập và làm việc sau này

Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi đến Tiến sĩ Phan Văn Hòa là người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong đợt thực tập tốt nghiệp và cũng giúp tôi hoàn thành tốt bài khóa luận này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Trưởng phòng quản lý và nuôi trồng thủy sản, Chi cục Thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế Phạm Quang Anh Khôi là người đã hướng dẫn tôi, cho tôi những lời khuyên bổ ích và cung cấp những thông tin, số liệu

để tôi hoàn thành được bài khóa luận

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế đã cho phép tôi thực tập tại Chi cục

Do kinh nghiệm còn hạn chế nên bài làm còn nhiều thiếu sót tôi rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ phía hội đồng bảo vệ khóa luận và quý thầy cô giáo

Tôi xin chân thành cảm ơn!!!

Sinh viên Trần Thị Ánh

tế Hu

ế

Trang 4

STT CHỮ VIẾT TẮT TÊN

1 SEPA Cục bảo vệ môi trường

2 KV Khu vực

3 PTNT Phát triển nông thôn

4 TCTS Tiêu chuẩn thủy sản

5 TCN Tiêu chuẩn ngành

6 TCQG Tiêu chuẩn quốc gia

7 TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

8 NTTS Nuôi trồng thuỷ sản

9 UBND Ủy ban nhân dân

10 QTMT Quan trắc môi trường

tế Hu

ế

Trang 5

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu, khảo sát 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.3.1.Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 3

1.3.2 Phương pháp phân tích so sánh 3

1.3.3.Phương pháp chuyên gia chuyên khảo 3

1.5 Hạn chế 3

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4

I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Định nghĩa quan trắc môi trường 4

1.1.2 Khái niệm chung về chương trình quan trắc 7

1.1.3 Khái niệm chương trình quan trắc phục vụ nuôi trồng thủy sản 10

1.2 Hệ thống quan trắc môi trường trong NTTS tại Việt Nam 15

1.3 Quan điểm, định hướng quan trắc môi trường trong nuôi trồng thủy sản của Đảng và Nhà nước 19

1.4 Kinh nghiệm quan trắc môi trường của một số quốc gia thế giới 21

II THỰC TRẠNG CHƯƠNG TRÌNH QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG PHỤC VỤ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI HUYỆN PHÚ VANG 23

2.1 Tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu 23

tế Hu

ế

Trang 6

Thiên Huế 25

2.2.1 Mục tiêu 27

2.2.2 Địa điểm kiểm tra mẫu 27

2.2.3 Dụng cụ quan trắc 29

2.2.4 Số điểm quan trắc 29

2.2.5 Tần suất quan trắc 31

2.2.6 Tổng hợp số liệu, phân tích và phát sóng 31

2.2.7 Các chỉ tiêu cần phân tích trong mẫu quan trắc: 9 chỉ tiêu 31

2.3 Thực trạng quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản tại huyện Phú Vang - tỉnh Thừa Thiên Huế 32

2.3.1 Đánh giá kết quả triển khai qua các năm 33

2.3.2 Đánh giá biến động các yếu tố môi trường giai đoạn 2011-2015 35

2.4 Ý kiến đánh giá của hộ nuôi trồng thủy sản tại huyện Phú Vang về chương trình quan trắc môi trường 38

2.4.1 Đánh giá của hộ nuôi trồng thủy sản 38

2.4.2 Ý kiến 41

2.5 Kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân 42

2.5.1 Kết quả đã đạt được 42

2.5.2 Hạn chế 42

2.5.3 Nguyên nhân 44

III GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH QUAN TRẮC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 45

3.1 Mục tiêu 45

3.1.1 Quan trắc môi trường tại các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung 45

3.1.2 Quan trắc môi trường các ao nuôi đại diện 45

3.1 3 Quan trắc môi trường khu vực xả nước thải 45

tế Hu

ế

Trang 7

3.1.7 Dụng cụ quan trắc 47

3.2 Giải pháp 47

3.2.1 Giải pháp chung 47

3.2.2 Giải pháp cụ thể 48

PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

1 Kết luận 49

2 Kiến nghị 49

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 PHỤ LỤC

tế Hu

ế

Trang 8

Biểu đồ 1: Độ mặn tại điểm quan trắc Doi Mũi Hàn- Phú Xuân 35 Biểu đồ 2: Độ mặn tại điểm quan trắc Trường Hà – Vinh Thanh 36

tế Hu

ế

Trang 9

Bảng 2: Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế 26

từ 2011-2015 26

Bảng 3: Các điểm quan trắc nước lợ, nước mặn trên toàn tỉnh 29

Thừa Thiên Huế từ 2010-2015 29

Bảng 4: Các điểm quan trắc khu vực nước ngọt 30

Bảng 5: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra 39

huyện Phú Vang năm 2016 39

Bảng 6: Tình hình đối tượng nuôi trồng thủy sản của các hộ điều tra 39

huyện Phú Vang năm 2016 39

Bảng 7: Tình hình hiểu biết về chương trình quan trắc môi trường của các hộ điều tra huyện Phú Vang năm 2016 39

Bảng 8: Tình hình hiểu biết về chương trình quan trắc môi trường của các hộ điều tra huyện Phú Vang năm 2016 40

Bảng 9: Tình hình đánh giá về chương trình quan trắc môi trường của các hộ điều tra huyện Phú Vang năm 2016 41

Bảng 10: Các địa điểm quan trắc theo kế hoạch được phê duyệt 46

tế Hu

ế

Trang 10

NTTS được đánh giá là một trong những ngành sản xuất có tốc độ tăng trưởng rất nhanh Bên cạnh những thành tựu quan trọng, NTTS nước ta cũng đang phải đối mặt với một số vấn đề tồn tại về môi trường và dịch bệnh Hiện nay dịch bệnh thủy sản

và môi trường nuôi thủy sản đang bị suy thoái và có chiều hướng gia tăng, khó kiểm soát Bệnh xảy ra với các đối tượng thuỷ sản nuôi đã gây thiệt hại từ vài chục tỷ đồng đến hàng trăm tỷ đồng trên mỗi vụ nuôi, nhất là với tôm nuôi nước lợ

Để đạt hiệu quả cao trong hoạt động nuôi trồng ngoài kinh nghiệm sản xuất, chất lượng giống và các yếu tố khác, thì yếu tố môi trường nuôi trồng cũng là một vấn

đề cực kỳ quan trọng Những vấn đề trên đây cho thấy việc tăng cường quản lý để kiểm soát môi trường và dịch bệnh là rất cấp bách Có thể nói việc quản lý dịch bệnh trong NTTS phụ thuộc rất lớn vào việc kiếm soát chất lượng môi trường nước

Chương trình quan trắc môi trường nước đã được thực hiện trong những năm qua và đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực cho bà con ngư dân nuôi trồng thủy sản, bà con nắm rõ được thông tin về chất lượng nước và tình hình nuôi trồng thủy sản tại địa phương để có kế hoạch nuôi trồng thủy sản và xử lý tốt cho ao nuôi Chương trình được đồng đảo bà con nuôi trồng thủy sản theo dõi và hưởng ứng, góp phần tăng hiệu quả sản xuất, giảm thiểu rủi ro cho người nuôi, có định hướng để quy hoạch, bảo vệ môi trường trong tương lai

Tuy nhiên quan trắc môi trường NTTS còn nhiều những bất cập như: Nguồn kinh phí để thực hiện quan trắc còn hạn chế; phạm vi, đối tượng, tần suất và xử lý số liệu về quan trắc môi trường (TCVN) chưa thống nhất và còn nhiều bất cập; các thiết

bị và phân tích quan trắc còn thiếu và lạc hậu; chưa có cơ chế rõ ràng về việc thông

tế Hu

ế

Trang 11

báo các kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước Bên cạnh đó, nhiều địa phương chưa có hoạt động quan trắc và cảnh báo môi trường, một số địa phương có hoạt động quan trắc môi trường nhưng vẫn còn thiếu nhân lực cũng như kinh phí nên khó kiểm soát được toàn bộ khu vực nuôi như mong muốn Ngoài ra, biến đổi khí hậu cũng tác động đến môi trường nuôi trồng thủy sản

Từ những vấn đề trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Tình hình thực hiện

chương trình quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản tại huyện Phú Vang- tỉnh Thừa Thiên Huế” để làm khóa luận tốt nghiệp

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đánh giá hiện trạng quan trắc môi trường tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, những hiệu quả và bất cập đồng thời đưa ra các giải pháp để khắc phục và giảm thiểu

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu, khảo sát

- Đối tượng nghiên cứu: Chương trình quan trắc môi trường trên địa bàn huyện Phú Vang- tỉnh Thừa Thiên Huế

- Đối tượng khảo sát của đề tài: Hộ nông dân hưởng lợi từ của chương trình quan trắc môi trường đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản tại địa bàn huyện Phú Vang

Trang 12

- Thời gian nghiên cứu: Số liệu được thu thập từ các tài liệu đã công bố trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2015

- Không gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành nghiên cứu chương trình quan trắc môi trường đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản tại địa bàn huyện Phú Vang

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu các vấn đề trên và đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài

sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

1.3.1.Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

- Số liệu thứ cấp: thu thập từ các cơ quan liên quan, tinternet, sách báo

+ Số liệu về quan điểm định hướng quan trắc môi trường trong nuôi trồng thủy sản

+ Số liệu về kinh nghiệm quan trắc môi trường ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

+ Thu thập thông tin về địa điểm, dụng cụ, tần suất quan trắc môi trường nước tại địa bàn huyện

- Số liệu sơ cấp: sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn hộ nông dân

Căn cứ vào tình hình nuôi trồng thủy sản và địa điểm quan trắc môi trường tịa huyện Phú Vang tôi đã chọn ra 51 hộ đại diện thuộc 2 Vinh Phú và Vinh Hà để tiến hành điều tra

1.3.2 Phương pháp phân tích so sánh

Phương pháp này nhằm xử lý số liệu thu thập được Dùng để đối chiếu so sánh với số liệu các năm, sự tăng giảm, biến động của các chỉ tiêu quan trắc và rút ra nhận xét về sự thay đổi đó

1.3.3.Phương pháp chuyên gia chuyên khảo

Tham khảo ý kiến của các cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý chi cục và một số trưởng thôn, chủ hộ có trình độ văn hóa cao, có nhiều kinh nghiệm

Trang 13

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Định nghĩa quan trắc môi trường

- Khái niệm:

Quan trắc môi trường (monitoring) được định nghĩa là quá trình thu thập các

thông tin về sự tồn tại cũng như biến đổi nồng độ các chất trong môi trường có nguồn gốc từ thiên nhiên hay nhân tạo, quá trình này được thực hiện bằng các phép đo lường nhắc lại nhiều lần và với mật độ mẫu đủ dày về cả không gian và thời gian để từ đó có thể đánh giá các biến đổi và xu thế chất lượng môi trường Do đó, quan trắc chất

lượng (QTMT) được hiểu là quan trắc, đo lường, ghi nhận một cách thường xuyên, liên tục và đồng bộ các thông số chất lượng cũng như các thông số khí hậu thuỷ văn liên quan

Theo Bộ tài nguyên và môi trường, 1996, quan trắc môi trường là tổng hợp các biện pháp khoa học, kỹ thuật, công nghệ và tổ chức đảm bảo kiểm soát một cách có thệ thống trạng thái và khuynh hướng phát triển của các quá trình tự nhiên và nhân tạo trong môi trường

Theo Luật bảo vệ môi trường 2005, quan trắc môi trường là quá trình theo dõi

có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường

Do đó, kết quả của quan trắc là những số liệu, là cơ sở để phân tích chất lượng môi trường phục vụ cho quy hoạch, kế hoạch phát triển bền vững trong một phạm vi không gian nhất định (toàn quốc, vùng lãnh thổ, khu vực…)

Quan trắc môi trường cũng là một quá trình thu thập thông tin, thông tin của

quan trắc môi trường phải đảm bảo năm yêu cầu cơ bản về dữ liệu và số liệu: Tính

đúng; Tính chính xác; Tính đại diện; Tính hoàn chỉnh; Tính thống nhất;

tế Hu

ế

Trang 14

Khi đó, chất lượng môi trường được phản ánh thông qua những số liệu quan trắc, chỉ có những số liệu đảm bảo đủ năm yêu cầu trên mới được công bố và sử dụng,

đó được coi là những thông tin có ý nghĩa và có độ tin cậy cao Quan trắc môi trường được tiến hành với nhiều thành phần môi trường, được thực hiện trên quy mô rộng và mật độ quan trắc theo thời gian lớn, do đó bộ cơ sở dữ liệu thu thập được có kích thước tương đối lớn và yêu cầu có những công cụ nhất định để quản lý và xử lý Vì vậy trong quan trắc môi trường cần sử dụng các phương pháp thống kê

Nhiệm vụ hàng đầu của monitoring môi trường là đáp ứng nhu cầu thông tin trong quản lý môi trường, do đó có thể xem QTMT là một quá trình bao gồm các nội dung sau đây:

Quan trắc môi trường sử dụng các biện pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật và quản

lý tổ chức nhằm thu thập thông tin: mức độ, hiện trạng, xu thế biến động chất lượng môi trường

Quan trắc môi trường phải được thực hiện bằng một quá trình đo lường, ghi nhận thường xuyên và đồng bộ chất lượng môi trường và các yếu tố liên quan đến chất lượng môi trường (UNEP)

QTMT phải thực hiện đầy đủ các nội dung trên nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của quản lý môi trường, do đó có sự khác biệt cơ bản giữa QTMT với những công cụ khác của quản lý môi trường

Theo UNEP quan trắc môi trường được tiến hành nhằm các mục tiêu sau đây: (1) Ðể đánh giá các hậu quả ô nhiễm đến sức khoẻ và môi trường sống của con người

và xác định được mối quan hệ nhân quả của nồng độ chất ô nhiễm

Ví dụ: Đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn đến sức khỏe của con người (thông số đại diện là thể trọng, các bệnh về thính giác…); Quan trắc nồng độ asen trong nước ngầm liên quan đến khả năng gây ung thư ở người; Quan trắc nồng độ dinh dưỡng hòa tan trong hồ, đầm liên quan đến khả năng gây phú dưỡng nguồn nước mặt;

tế Hu

ế

Trang 15

Quan trắc độ mặn của đất do ảnh hưởng của việc chuyển đổi trồng lúa sang nuôi tôm ven biển…

(2) Ðể đảm bảo an toàn cho việc sử dụng tài nguyên (không khí, nước, đất, sinh vật, khoáng sản…) vào các mục đích kinh tế

Ví dụ: Quản lý khai thác khoáng sản tại các vùng địa chất chứa nhiều kim loại nặng như Hg, As, Cd, Pb… do hoạt động khai thác khoáng sản có thể giải phóng các chất này vào nước mặt và nước ngầm; Quản lý việc sử dụng nước thải đô thị để tưới hoặc nuôi trồng thủy sản trong nước thải…

(3) Ðể thu được các số liệu hệ thống dưới dạng điều tra cơ bản chất lượng môi trường

và cung cấp ngân hàng dữ liệu cho sử dụng tài nguyên trong tương lai

Ví dụ: Đánh giá diễn biến chất lượng không khí và một số thông số khí tượng xây dựng ngân hàng dữ liệu để kiểm định khác giả thuyết về biến đổi khí hậu toàn cầu

và nguyên nhân của hiện tượng này; Thiết lập bộ cơ sở dữ liệu cho đánh giá tác động môi trường, xây dựng tiêu chuẩn (tiêu chuẩn chất lượng và tiêu chuẩn xả thải), xây dựng các chỉ thị môi trường và chỉ số môi trường, xây dựng các mô hình toán và phục

vụ công tác mô hình hóa trong quản lý môi trường

(4) Ðể nghiên cứu và đánh giá các chất ô nhiễm và hệ thống tiếp nhận chúng (xu thế, khả năng gây ô nhiễm)

Ví dụ: Đánh giá nồng độ của một số hóa chất bảo vệ thực vật tồn dư trên đồng ruộng, khả năng biến đổi và tác động của chúng đến khu hệ sinh vật tự nhiên; Đánh giá nồng độ dinh dưỡng hữu cơ và vô cơ đưa vào thủy vực và ngưỡng chống chịu của thủy vực;

(5) Ðể đánh giá hiệu quả các biện pháp kiểm soát, luật pháp về phát thải

Ví dụ: Xác định hệ số phát thải và hệ số phát thải cho phép đối với các chất khí thải công nghiệp (NO2, SO2, CO…); Xác định nồng độ kim loại trong nước thải ngành công nghiệp mạ, độ màu trong nước thải ngành công nghiệp giấy, hữu cơ trong nước thải nhà máy đường… căn cứ vào tiêu chuẩn xả thải đối với từng ngành công nghiệp (6) Ðể tiến hành các biện pháp khẩn cấp tại những vùng có ô nhiễm đặc biệt

tế Hu

ế

Trang 16

Ví dụ: Quan trắc sinh học thực vật bậc cao tại khu vực đất bị nhiễm bẩn kim loại nặng để xây dựng phương pháp xử lý bằng công nghệ hấp thụ thực vật; Quan trắc

để xác định nồng độ hữu cơ trong nước thải làm cơ sở để lựa chọn phương pháp xử lý: yếm khí hoặc hiếu khí

Dựa trên cơ sở thông tin trên, cơ quan quản lý môi trường có biện pháp cảnh báo, quản lý môi trường và thi hành các biện pháp không chế, giảm thiểu tác động ô nhiễm và sử dụng hợp lý các thành phần môi trường

- Vai trò của quan trắc môi trường

Chất lượng môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người và là nhân tố quan trọng cần được quan tâm trong định hướng pháp triển bền vững, do đó về nguyên tắc, tất cả các thành phần môi trường (đất, nước, không khí, sinh vật ) đều cần được quan trắc một cách thường xuyên theo thời gian và liên tục theo không gian Tuy nhiên trong thực tế tùy vào điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, điều kiện nhân lực, chi phí và một số yếu tố mang tính xã hội khác mà việc thực hiện QTMT chỉ được tiến hành đối với một số thành phần môi trường và trong một khoảng thời gian nhất định

- Khái niệm

Chương trình quan trắc bao gồm việc theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu tới môi trường được thực hiện bởi hệ thống các trạm, các điểm đo được thiết lập bởi chính phủ, tổ chức phục vụ đánh giá chất lượng môi trường

Chương trình quan trắc, nói cách khác là một thủ tục pháp lý bắt buộc đối với mọi hình thức quan trắc và mọi đối tượng môi trường cần quan trắc Điều này được hiểu là với mọi hình thức quan trắc và với mọi đối tượng môi trường không phụ thuộc

số lượng yếu tố môi trường cần quan trắc và không phụ thuộc kích thước chương trình QTMT (kích thước không gian, mật độ thời gian ) đều phải áp dụng đầy đủ các bước xây dựng chương trình quan trắc:

tế Hu

ế

Trang 17

Để đảm bảo QTMT là một quá trình có hệ thống thì việc đầu tiên trong xây dựng một chương trình QTMT phải xác định được mục tiêu quan trắc Mục tiêu QTMT được phải đảm bảo trả lời được các câu hỏi:

− Quan trắc cái gì?

− Quan trắc khi nào?

− Quan trắc ở đâu?

− Quan trắc được thực hiện như thế nào?

Cấu trúc của một chương trình quan trắc gồm có:

1 Mục tiêu quan trắc

2 T hông số quan trắc

7 Phương pháp trình bày và công bố kết quả quan trắc

Chương trình quan trắc được thực hiện để đáp ứng nhu cầu thông tin của các hoạt động bảo vệ môi trường trong đó có kiểm soát ô nhiễm, quản lý môi trường Để đáp ứng yêu cầu của quan trắc môi trường, một chương trình quan trắc phải bao gồm các hoạt động thu thập thông tin về môi trường trong đó việc tiến hành đo đạc giá trị, mức độ, nghiên cứu xu hướng của các yếu tố môi trường là các bước không thể thiếu

tế Hu

ế

Trang 18

- Các bước xây dựng chương trình quan trắc

Theo luật bảo vệ môi trường 2005 và quy chế thực hiện xây dựng chương trình quan trắc của Bộ Tài nguyên và Môi trường, một chương trình quan trắc phải được xây dựng theo trình tự sau:

(1) Xác định rõ mục tiêu quan trắc

(2) Xác định rõ kiểu, loại quan trắc

(3) Xác định các thành phần môi trường cần quan trắc

(4) Xác định các thông số môi trường cần quan trắc

(5) Lập danh mục các thông số quan trắc theo thành phần môi trường: các thông số

đo tại hiện trường, các thông số phân tích trong phòng thí nghiệm

(6) Lựa chọn phương án quan trắc, xác định các nguồn tác động, dạng chất gây ô nhiễm chủ yếu đối với khu vực quan trắc; xác định vấn đề, đối tượng rủi ro tiềm năng trong khu vực quan trắc; xác định ranh giới khu vực quan trắc và dự báo các tác động hoặc những biến đổi có thể xảy ra trong khu vực quan trắc

(7) Thiết kế phương án lấy mẫu: xác định tuyến, điểm lấy mẫu và đánh dấu trên bản

đồ hoặc sơ đồ;mô tả vị trí, địa lý, toạ độ điểm quan trắc (kinh độ, vĩ độ) và ký hiệu các điểm quan trắc

(8) Xác định tần suất, thời gian, phương pháp lấy mẫu, phương pháp quan trắc và phân tích

(9) Xác định quy trình lấy mẫu, thể tích mẫu cần lấy, loại dụng cụ chứa mẫu, loại hoá chất bảo quản, thời gian lưu mẫu, loại mẫu và số lượng mẫu kiểm soát chất lượng mẫu (mẫu QC)

(10) Lập danh mục và kế hoạch bảo trì, bảo dưỡng, hiệu chuẩn các thiết bị hiện trường

và thiết bị phòng thí nghiệm, bao gồm cả phương tiện bảo đảm an toàn lao động (11) Lập kế hoạch nhân lực thực hiện quan trắc, trong đó nhiệm vụ cụ thể của từng cán bộ phải được phân công rõ ràng

(12) Lập dự toán kinh phí thực hiện chương trình quan trắc, bao gồm cả kinh phí thực hiện bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc và phân tích môi trường

tế Hu

ế

Trang 19

(13) Xác định các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện chương trình

- Khái niệm

Chương trình quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản là chương trình quan trắc môi trường nước nhằm cung cấp thông tin, đem lại nhiều hiệu quả thiết thực cho bà con ngư dân nuôi trồng thủy sản, bà con nắm rõ được thông tin về chất lượng nước và tình hình nuôi trồng thủy sản tại địa phương để có kế hoạch nuôi trồng thủy sản và xử lý tốt cho ao nuôi Chương trình được đồng đảo bà con nuôi trồng thủy sản theo dõi và hưởng ứng, góp phần tăng hiệu quả sản xuất, giảm thiểu rủi ro cho người nuôi, có định hướng để quy hoạch, bảo vệ môi trường trong tương lai

- Kỹ thuật lấy mẫu nước

Nếu cho rằng nước xuất hiện ở trạng thái đồng nhất thì không thực tế, nước không đồng nhất cả về không gian và thời gian rất khó có thể thu được mẫu đại diện

Sự không đồng nhất của môi trường nước mặt thường xảy ra do sự phân tầng về thành phần hóa học dưới ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng và quá trình vận chuyển các chất

Do đó, việc quan trọng trước khi xác định phương pháp lấy mẫu nước là khảo sát các đặc điểm ảnh hưởng tới phân bố các chất trong môi trường nước nhằm lựa chọn đúng phương pháp, vị trí và số lượng mẫu lấy

Thu thập các mẫu tại các khu vực nhạy cảm cho mục đích kiểm soát chất lượng thường kết hợp với cơ quan quản lý Dự báo từ các số liệu thu thập được nhằm giải quyết các vấn đề sẽ xảy ra trong tương lai hoặc nhận định các xu hướng gây nhiễm bẩn, ví dụ, trước khi xây dựng một nhà máy xử lý bùn thải, khi dự báo yêu cầu phải xác định được các ảnh hưởng trong tương lai do nước thải đối với nước mặt Các mẫu đại diện của nước và nước thải có thể thu thập bằng một số cách, phương pháp lấy mẫu có thể được lựa chọn dựa trên các cơ sở quan trọng:

Dựa trên cơ sở những thông tin thứ cấp, kết quả đo đạc khảo sát, kiến thức bản địa và kinh nghiệm cá nhân, việc lựa chọn phương pháp lấy mẫu có thể dựa vào

− Mục tiêu quan trắc

− Phân bố các yếu tố môi trường

− Biến động nồng độ các chất và mật độ các yếu tố môi trường

tế Hu

ế

Trang 20

Bảng 1 Cơ sở thông tin cân nhắc lựa chọn phương pháp lấy mẫu nước Thay đổi dòng chảy

Dao động nồng độ Nhỏ Lớn

Nhỏ Lấy mẫu ngẫu nhiên Lấy mẫu ngẫu nhiên

Lớn Mẫu chia theo tỉ lệ lần

lấy

Mẫu chia theo tỉ lệ thể tích

Nguồn: Bộ Khoa học Công nghệ

Trong nhiều trường hợp nơi mà địa điểm lấy mẫu thiếu các tài liệu quan trắc có thể phải xây dựng mới mạng lưới quan trắc dành cho các nghiên cứu về nước, nước thải hoặc đất (ví dụ: thành lập mới cơ quan quản lý ô nhiễm) Các kế hoạch và phương pháp kiểm tra ban đầu đối với mục đích này nên tiến hành một cách kỹ lưỡng, chi tiết

để mạng lưới quan trắc có thể sử dụng trong một thời gian dài, các kinh nghiệm cho t

hấy sự thay đổi về sau đối với một hệ thống quan trắc sẽ dẫn đến rất nhiều khó khăn trong việc so sánh các dữ liệu phân tích

Mục tiêu đặc biệt phải được chú ý tới đối với mạng lưới quan trắc là các mẫu thu thập phải đại diện cho tất cả các điểm trong cùng một khu vực quan trắc Hệ thống hoàn chỉnh đối với các quan trắc diện rộng như hệ thống kênh mương của các thành phố lớn thường bao gồm nhiều hệ thống quan trắc phụ đơn lẻ khác nhau về chất lượng, phải phân biệt rõ ràng giữa hệ thống quan trắc phụ và đặc thù của chúng bằng các nghiên cứu tách biệt

Trước tiên phải sử dụng các kỹ thuật, phương tiện đối với các nghiên cứu ban đầu là:

− Nghiên cứu địa hình bằng bản đồ (các bản đồ bề mặt, địa chất )

− Các hình ảnh không gian (xác định toạ độ)

− Hệ thống nước

Các dạng bản đồ này được chồng ghép để xác định các điểm quan trắc đối với từng khu vực cụ thể Các thông tin khác cũng cần thu thập như vị trí sẽ được thực hiện lấy mẫu trên hiện trường Điều này rất quan trọng cho việc đánh giá các mẫu đại diện

tế Hu

ế

Trang 21

của các khu vực được lựa chọn để lấy mẫu Nên cân nhắc điểm lấy mẫu để xác định ảnh hưởng của các nguồn thải Vị trí của điểm lấy mẫu phải bao gồm vị trí trước và sau khi có dòng thải

Liên kết các vị trí lấy mẫu nước theo thời gian và không gian trong chương trình lấy mẫu QTMT nước được coi là tổ chức mạng lưới lấy mẫu nước Tổ chức mạng lưới đo đạc hệ thống nước và các nguồn thải cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng

Để làm được điều này nên mô tả hệ thống theo các tỉ lệ nhỏ dần Đối với mạng lưới quan trắc nước ngầm, các thông tin liên quan về địa chất thuỷ văn sẽ trợ giúp cho xác định mạng lưới quan trắc Hình 1.1 là một ví dụ minh họa về lựa chọn các địa điểm quan trắc đối với một hệ thống sông

Điểm lấy mẫu trên diện rộng hoặc các kênh mương nên đặt tại các vị trí mà dòng nước thải đã được pha trộn hoàn toàn Tránh trường hợp hai mẫu lấy cùng một vị trí, phải lấy theo hướng chảy của dòng nước

Quá trình hoà trộn chất thải hoàn toàn phụ thuộc vào lưu tốc của dòng sông Trong quá trình di chuyển xuống hạ lưu, nồng độ các chất ô nhiễm giảm rất nhanh do lượng nước trong lưu vực chảy vào sông tăng Nồng độ các chất gây ô nhiễm sau khi trộn nước thải với nước sông có thể tính theo công thức tính nồng độ tại điểm xáo trộn hoàn toàn Tuy nhiên, quá trình này có thể bị ảnh hưởng do nhiều chất có thể bị chuyển hóa trong quá trình xáo trộn và vận chuyển như quá trình hấp thụ, phân rã sinh học…

Để lựa chọn các mẫu đại diện trên một mạng lưới quan trắc Yêu cầu đối với phương pháp lấy mẫu phải ổn định – có thể theo thời gian, điều này được xem như là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới kết quả phân tích Nơi nồng độ các chất cần quan trắc trong dòng chảy lớn phải được đặc biệt quan tâm, phải tăng tuần suất lấy mẫu Trong nước và nước thải có hàm lượng các chất ô nhiễm biến động nhỏ, việc lấy mẫu chỉ cần thực hiện một tháng một lần hoặc thậm trí tới vài tháng Ở những nơi biết trước được chu kỳ biến động theo ngày, tháng hoặc năm, có thể tạm ngừng việc lấy mẫu để tránh sự đo đạc bị lặp lại của các khoảng giá trị cao hoặc thấp

tế Hu

ế

Trang 22

Sử dụng các phương pháp ngẫu nhiên để chọn lựa điểm đo đạc, ví dụ: rút thăm

sẽ giúp cho việc nâng cao tính hữu ích của số lần lấy mẫu ngẫu nhiên Sau một quá trình đánh giá lâu dài, các thông số thống kê hết sức quan trong cần phải tính đến đó là: giá trị trung bình, sự biến động, gía trị lớn nhất và các giá trị này nên được biểu diễn dưới dạng đồ thị Việc đánh giá có thể quyết định giảm tần xuất lấy mẫu mà vẫn không mất đi các thông tin quan trọng của các mẫu quan trắc

Tổ chức mạng lưới lấy mẫu nước yêu cầu tuân theo các nguyên tắc hạn chế xáo trộn môi trường lấy mẫu và giảm thời gian, chi phí, giảm yêu cầu bảo quản

Lấy mẫu và bảo quản quyết định cho tính chính xác của thí nghiệm Dụng cụ lấy mẫu phụ thuộc vào loại mẫu cần lấy sẽ yêu cầu thiết bị lấy mẫu đơn giản hay chuyên dụng (bơm, bộ lấy mẫu tự động) Các dụng cụ khác cũng cần phải chuẩn bị cho lấy mẫu đó là: dụng cụ phụ trợ (túi ni lông, ống, dây…); dụng cụ tiền xử lý mẫu (thiết bị lọc, đèn cồn dùng trong các trường hợp cần khử trùng trước khi lấy mẫu vi sinh vật…), thiết bị bảo quản (hộp định ôn, nước đá, bình tối màu, các hóa chất bảo quản ) Trong các chương trình lấy mẫu tùy vào thiết kế phương án quan trắc mà có thể sử dụng thiết bị lấy mẫu tự động và thiết bị lấy mẫu bằng tay

Thiết bị lấy mẫu tự động sử dụng tại các trạm quan trắc cố định trong mạng lưới QTMT quốc gia, cho phép lấy mẫu theo thời gian với một thể tích nhất định khi xem xét biến động theo thời gian của một vị trí đối với môi trường nước mặt hoặc nước thải Thiết bị này còn được sử dụng với các loại nước thải có độ độc hại cao không cho phép lấy mẫu bằng tay Tuy nhiên, do kích thước cồng kềnh và đắt tiền nên chỉ được

sử dụng rất hạn chế tại một số khu vực đặc biệt Lấy mẫu bằng tay được sử dụng nhiều hơn và phổ biến hơn ở nhiều chương trình quan trắc

Khi lấy mẫu nước cần phải đảm bảo không làm xáo trộn các tầng nước do đó người ta thường dùng 4 loại dụng cụ lấy mẫu sau:

− Dụng cụ lấy mẫu nước bằng gầu múc, bình không chuyên dụng

− Dụng cụ lấy mẫu bằng bơm

− Dụng cụ lấy mẫu dạng bình treo

tế Hu

ế

Trang 23

Yêu cầu của thiết bị lấy mẫu và dụng cụ chứa mẫu cần phải được tráng rửa sạch trước khi sử dụng Đặc biệt là đối với những chỉ tiêu yêu cầu phân tích ở độ chính xác cao và các phân tích yêu cầu việc bảo quan mẫu trong thời gian dài Với những phương pháp bảo quản lâu dài, các chất rắn có thể bán trên thành bình và bị hấp phụ mạnh, khi đó việc rửa tiến hành với axit hoặc chất oxy hóa mạnh (K2Cr2O7) sau đó tiến hành như bình thường Trong một số trường hợp khác cũng có thể sử dụng axit loãng

để tráng rửa

Đối với các loại bình nhựa có nhiều chất bẩn khó di chuyển bám trên thành bình không thể loại bỏ hoàn toàn thì không được sử dụng Đối với các bình có chứa các vật chất nguy hại, phải đưa về nơi quy định

Đối với các bình chứa mẫu nghiên cứu về vi sinh vật, bình chứa phải là bình thuỷ tinh và được khử trùng trước khi sử dụng bằng nồi hấp một vài lần ở nhiệt độ

180oC cùng với nắp đậy Cổ bình phải được bảo vệ bằng lá nhôm

Lấy mẫu nước có thể bằng các thiết bị tự động hoặc bằng tay Thiết bị lấy mẫu

tự động được dùng trong các trường hợp lấy mẫu tại các thời gian cố định hoặc lấy tỉ

lệ với tốc độ dòng sau đó được chứa trong các bình riêng rẽ Lấy mẫu tự động thường được sử dụng đối với nước sông hoặc nguồn điểm Ngoài ra, lấy mẫu tự động cho phép lấy mẫu theo trung bình thời gian hoặc các mẫu kết tủa Trong thực tế của các chương trình quan trắc, mỗi thiết bị lấy mẫu đòi hỏi một thủ tục lấy mẫu khác nhau để đảm bảo chất lượng trong lấy mẫu nói riêng và cho cả chương trình quan trắc nói chung Tuy nhiên, trong hầu hết các phương pháp lấy mẫu nước đánh giá chất lượng

tế Hu

ế

Trang 24

môi trường, phân tích hóa học đều phải được thực hiện Lấy mẫu nước cho phân tích hóa học cần đảm bảo các nguyên tắc tối thiểu sau đây:

− Lý lịch mẫu rõ ràng (ghi lại địa điểm lấy mẫu, thời gian, khoảng cách, tình

trạng và các bước tiến hành cho mỗi lần lấy mẫu)

− Đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và độ chính xác đối với từng thông số (hóa chất, bảo quản, khử trùng…)

− Không gây sai số trong quá trình lấy mẫu và bảo quản

1.2 Hệ thống quan trắc môi trường trong NTTS tại Việt Nam

Từ năm 2001, Bộ Thuỷ sản đã phân công các cơ quan chức năng trong ngành tham gia thực hiện đề tài nghiên cứu về “Quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch

bệnh phục vụ ngành thuỷ sản” Theo đó, Trung tâm Quốc gia quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bênh thủy sản tại Viện 1, Trung tâm Quốc gia quan

trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản Nam bộ tại Viện 2, Trung tâm Quốc gia quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy

sản miền Trung tại Viện 3 và Trung tâm Quốc gia quan trắc cảnh báo môi trường

biển tại Viện Nghiên cứu Hải sản, được thiết lập Đây là cơ sở để tiến tới hình thành

mạng lưới quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh phục vụ nuôi trồng thuỷ sản Trung tâm quan trắc của Viện 1 có 8 trạm vùng: Trạm Cát Bà, Quý Kim, Hải Dương, Nam Định, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Sơn La và Tuyên Quang Trung tâm quan trắc

của Viện 2 có các trạm thu mẫu được phân chia thành trạm cấp 1 và cấp 2 Trạm cấp 1

là các trạm tối thiểu giúp thu thập các tài liệu cơ bản để phân tích đánh giá chất lượng nước của một tiểu vùng Trạm cấp 2 là các trạm mở rộng theo yêu cầu và điều kiện cho phép Các địa điểm chính là Bán đảo Cà Mau, Đồng Tháp Mười, Sông Tiền, Sông

Hậu, Tứ giác Long Xuyên Trung tâm quan trắc của Viện 3 thực hiện quan trắc môi trường tại các tỉnh từ Đà Nẵng đến Bình Thuận Trung tâm QGQT CBMT biển thuộc

Viện NCHS, tham gia vào trạm quan trắc phân tích môi trường biển quốc gia (trạm quan trắc biển khơi 5) và phụ trách quan trắc môi trường biển vùng biển khơi Côn Đảo, Trung và Đông Nam bộ, Tây Nam bộ

tế Hu

ế

Trang 25

Hoạt động quan trắc môi trường ở một số tỉnh NTTS phát triển mạnh đã hình thành từ năm 2006, nhưng phải đến năm 2008 khi Bộ Thủy sản sát nhập vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì các Sở Thủy sản được cơ cấu lại và quy định rõ trong chức năng nhiệm vụ về công tác quan trắc, cảnh báo môi trường phục vụ NTTS, làm tiền đề cho nhiều địa phương xây dựng hoạt động quan trắc môi trường Từ năm

2009 nhiều tỉnh đã thực hiện công tác quan trắc môi trường phục vụ những đối tượng nuôi trồng thủy sản chủ lực (tôm nước lợ, nhuyễn thể, cá biển, cá tra…) như: Kiên Giang, Tiền Giang, Sóc Trăng, TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Nghệ An… Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn nhiều tỉnh có sản lượng NTTS lớn nhưng vẫn chưa có hoạt động quan trắc môi trường

hoặc chỉ quan trắc khi có dịch bệnh xảy ra như: Bạc Liêu, An Giang, Cần Thơ, Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nội, Thái Bình… Các tỉnh nội đồng mà NTTS ít phát triển hầu như không có hoạt động quan trắc môi trường như: Phú Thọ, Hà Giang, Cao Bằng, Đak Lak, Lâm Đồng, Tây Ninh… Bộ phận quan trắc môi trường chủ yếu do các chi

cục Thủy sản, chi cục Nuôi trồng thủy sản, phòng Nuôi trồng thủy sản hay Trung tâm

giống thủy sản đảm nhận Tuy nhiên một số tỉnh, công tác quan trắc môi trường do chi

cục Thú y (Thanh Hóa, Nam Định), trung tâm Khuyến nông (Bến Tre), Chi cục Quản

lý chất lượng nông lâm sản và thuỷ sản (Quảng Bình)… đảm nhận

Qua đợt khảo sát các Trung tâm quan trắc và 35 tỉnh nuôi các đối tượng chủ lực cho

thấy, cán bộ chuyên trách quan trắc môi trường được đào tạo chuyên môn sâu của các

Viện là khoảng 57 (tổng số cán bộ của các Trung tâm là 115 và 22 - 37 cán bộ làm hợp đồng) 100% cán bộ phụ trách công tác quan trắc môi trường ở địa phương là cán bộ kiêm nhiệm, những cán bộ này chưa được đào tạo về quan trắc môi trường Bình quân

mỗi tỉnh có từ 4 – 6 cán bộ kiêm nhiệm công tác quan trắc môi trường, nhưng cũng có

tỉnh tất cả cán bộ của chi cục Nuôi trồng thủy sản cùng tham gia công tác này như Sóc Trăng (19 cán bộ), có tỉnh ngoài cán bộ chuyên trách còn có các cộng tác viên ở địa phương như Bạc Liêu (26 cán bộ chuyên trách, 34 cộng tác viên), Bình Định (6 cán bộ chuyên trách, 12 cộng tác viên địa phương) có tỉnh 7 – 8 cán bộ tham gia như Tiền Giang, Quảng Nam, Bạc Liêu, Long An…

tế Hu

ế

Trang 26

Trong những năm qua với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ thực hiện công tác quan

trắc môi trường, đã góp phần không nhỏ cho việc cảnh báo sớm những diễn biến bất

lợi về môi trường NTTS đặc biệt là các đối tượng nuôi chủ lực như tôm sú, cá tra, cá

biển, nhuyễn thể đã giúp người dân tránh được không ít những rủi ro trong sản xuất như có kế hoạch xử lý nước, thu hoạch sớm, thả giống đúng thời điểm môi trường thuận lợi, tránh lấy nước vào ao nuôi khi môi trường bất lợi

Tuy nhiên, do NTTS ngày càng phát triển về diện tích và sản lượng nên với số lượng cán bộ làm công tác quan trắc hiện có đã rất khó khăn để có mặt tại hiện trường

với địa bàn hoạt động rộng khắp Kinh phí hạn chế nên việc phối hợp còn chưa mang

lại hiệu quả như mong muốn, chưa đảm bảo để các cán bộ được tham gia nhiều khoá đào tạo nâng cao trình độ năng lực trong nước và nước ngoài Việc bồi dưỡng kiến

thức chuyên sâu về môi trường, phương pháp lấy mẫu, xử lý số liệu còn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế

Đối với các Trung tâm quan trắc thuộc các Viện, nhiệm vụ hàng năm được tổ

chức thực hiện theo kinh phí của Bộ Nông nghiệp và PTNT do Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường làm đầu mối quản lý Theo đó, các trung tâm xây dựng kế hoạch theo dạng đề tài và được Hội đồng Khoa học của các Viện thông qua sau đó được Hội đồng Khoa học của Bộ xét duyệt Sau mỗi năm thực hiện hoạt động quan trắc theo đề cương đã được phê duyệt, các trung tâm quan trắc tiến hành tổng kết nhiệm vụ của mình thông qua Hội đồng khoa học của các Viện; hồ sơ nghiệm thu cơ sở được gửi lên

Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường để nghiệm thu cấp Bộ Đối với các địa phương đã có hoạt động quan trắc thì phải lên kế hoạch quan trắc hàng năm trình Sở Nông nghiệp và PTNT phê duyệt

Hiện nay kinh phí chi cho hoạt động quan trắc môi trường NTTS hàng năm rất

hạn chế trong khi nhu cầu quan trắc rất lớn Kinh phí cho quan trắc môi trường cấp cho 3 trung tâm trong các năm 2011, 2012 và 2013 là gần như nhau

Kinh phí cho hoạt động quan trắc môi trường của các địa phương cũng hạn chế

và không đồng nhất Tỉnh có kinh phí quan trắc môi trường lớn nhất là Sóc Trăng, với kinh phí năm 2012 là 1,2 tỷ đồng, năm 2013 là 900 triệu đồng và năm 2014 là 700

tế Hu

ế

Trang 27

triệu đồng Tiếp sau đó là TP Hồ Chí Minh 344 triệu đồng/năm, Bến Tre 250 triệu đồng, Phú Yên với 181 triệu đồng, Quảng Nam khoảng 150 triệu đồng, Kiên Giang là

111 triệu đồng cho năm 2014 (bao gồm cả kinh phí xét nghiệm một vài mẫu bệnh)

Một vài tỉnh kinh phí bố trí cho hoạt động quan trắc môi trường hàng năm chỉ khoảng

20 triệu đồng đến 30 triệu đồng như Cần Thơ, Ninh Thuận Các tỉnh còn lại kinh phí cho hoạt động quan trắc từ 50 triệu – 100 triệu đồng như Bình Định, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hải Dương, Quảng Ninh… Một số tỉnh không có kinh phí cho hoạt động quan trắc môi trường như: Thái Bình, Nam Định

Thông số quan trắc được chia làm 3 nhóm gồm thủy lý, thủy hóa và thủy sinh Các Trung tâm quan trắc rất nhiều thông số như: Nhiệt độ, oxy, pH, thế oxy - hóa khử,

độ mặn, độ trong, CO2, độ cứng, độ kiềm, PO4-, NH3, NH4+, NO2, NO3, H2S nhu

cầu ôxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh học (BOD), sắt tổng số, tổng N, tổng P, Chloropyll-a, dư lượng váng dầu, chì, cadmium, đồng, thủy ngân, asen, kẽm, thực vật phù du, tảo độc hại, động vật phù du và động vật đáy, thành phần cơ giới, hô hấp đất,

pH đất, thế ôxy hóa-khử, tổng N đáy, tổng P đáy, tổng C đáy, tổng lưu huỳnh, tổng sắt trong đất, nấm trong đất và vi khuẩn vibrio… Tuy nhiên gần đây các Trung tâm đã

giảm thông số quan trắc do thiếu kinh phí hoạt động

Trong khi đó tùy đối tượng nuôi, các địa phương thường quan trắc những thông

số sau: Nhiệt độ, oxy hòa tan, pH, độ mặn, độ trong, độ cứng, độ kiềm, PO4-, NH3, NH4+, NO2, NO3, H2S, nhu cầu ôxy hóa học (COD), tổng chất rắn lơ lửng (TSS),

tổng hữu cơ lơ lửng (OSS), thành phần và mật độ tảo độc, kim loại nặng (Cd, Pb, Hg), thuốc bảo vệ thực vật Những tỉnh có kinh phí quan trắc lớn thì quan trắc khá đầy đủ các thông số nêu trên, các địa phương khác chỉ tập trung quan trắc các thông số cơ bản như: Nhiệt độ, oxy hòa tan, pH, độ mặn, độ trong, độ kiềm, PO4-, NH3, NH4+, NO2, H2S, nhu cầu ôxy hóa học (COD) Có tỉnh chỉ quan trắc nhiệt độ, oxy hòa tan, pH, độ

Trang 28

cá tra và tôm nước lợ, các đối tượng nuôi nước ngọt khác sử dụng TCQG về quan

trắc môi trường nước mặt lục địa (QCVN 08/2008/BTNMT), các đối tượng nuôi nước mặn khác sử dụng TCQG về chất lượng nước ven bờ (QCVN 10/2008/BTNMT) nên không đúng hoàn toàn đối với yêu cầu chất lượng nước cho NTTS

Trong quá trình thực hiện quan trắc, các Trung tâm quan trắc gửi báo cáo định kỳ hàng quý lên Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường Các bản tin quan trắc được gửi cho người nuôi; vùng nuôi và cơ quan quản lý NTTS của địa phương, Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường và Tổng cục Thủy sản Các bộ phận quan trắc của các địa phương sau khi có kết quả cũng sẽ thông báo xuống vùng nuôi và gửi tới các bộ phận liên quan Phương pháp thông báo với nhiều hình thức khác nhau như: Gửi văn bản, gửi qua email, gửi tin nhắn điện thoại, phát trên truyền thanh và truyền hình địa phương, đưa lên website của sở Nông nghiệp và PTNT Sóc Trăng, Cà Mau, Thừa Thiên Huế, Kiên Giang thông báo kết quả quan trắc thông qua truyền thanh, truyền hình, internet và văn bản; TP Hồ Chí Minh ngoài gửi văn bản còn gửi kết quả quan trắc đến các số di động của người dân đã đăng ký nhận tin Hầu hết các tỉnh đều sử dụng phương pháp thông báo kết quả bằng văn bản xuống vùng nuôi và các bộ phận liên quan, có khi là 3 ngày sau khi có kết quả, có khi là một tuần nên thường chậm so với yêu cầu thực tế Các Trung tâm quan trắc gửi báo cáo xuống địa phương cũng qua đường văn bản và internet, có báo cáo xuống tới vùng nuôi mất đến 2 tuần, thậm chí 1 tháng làm mất tính thời sự của công tác quan trắc môi trường Trước đây các bản tin của các Trung tâm quan trắc được đưa lên trang web của Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nhưng từ tháng 8 năm 2013 đến nay trang web này không còn cập nhật thông tin quan trắc môi trường NTTS nữa

1.3 Quan điểm, định hướng quan trắc môi trường trong nuôi trồng thủy sản của Đảng và Nhà nước

tế Hu

ế

Trang 29

Hiện nay NTTS nước ta đa dạng đối tượng nuôi và nuôi rộng khắp cả nước, trong khi đó nguồn lực có hạn nên không thể tiến hành quan trắc mọi vùng nuôi của tất

cả các đối tượng Đối tượng NTTS chủ lực như tôm nước lợ, cá tra, ngao , tôm hùm,

cá rô phi chiếm vai trò và vị trí quan trọng của ngành NTTS nên trước hết công tác quan trắc môi trường tập trung vào những khu vực nuôi các đối tượng này

nuôi

Có rất nhiều thông số môi trường ảnh hưởng đến đối tượng NTTS, tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, việc tập trung vào quan trắc những thông số ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và phát triển của đối tượng nuôi là cần thiết Tùy từng đối tượng nuôi để xác định những thông số phù hợp với tần suất và mùa vụ nuôi ảnh hưởng đến đối tượng nuôi đó

Hiện nay, quan trắc môi trường trong NTTS đang được tổ chức phân tán tại 3 Trung tâm và các địa phương Trên cơ sở kế thừa toàn bộ hệ thống hiện có tại 3 Viện nghiên cứu NTTS và các bộ phận quan trắc địa phương, đồng thời bổ sung trang thiết

bị thiết yếu cho những thông số đã lựa chọn để bảo đảm hoạt động quan trắc môi trường đồng nhất và hiệu quả, phục vụ NTTS

Công tác quan trắc môi trường NTTS hiện nay không có sự phối hợp quan trắc

giữa các Trung tâm quan trắc với các địa phương và với Tổng cục Thủy sản dẫn đến tình trạng quan trắc và sử dụng thông tin quan trắc chưa hiệu quả Dự án sẽ phân công

cụ thể những thông số môi trường khó thực hiện và tốn nhiều kinh phí thì Trung ương đảm nhiệm Những thông số môi trường cơ bản, dễ thực hiện thì địa phương đảm nhiệm Dự án cũng sẽ đảm bảo việc chia sẻ thông tin quan trắc hiệu quả giữa Trung ương và địa phương để phục vụ sản xuất

Cơ quan quản lý, chỉ đạo NTTS là cơ quan chủ trì, ở cấp Trung ương là Tổng

cục Thủy sản, cấp địa phương là các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cơ quan

tế Hu

ế

Trang 30

chủ trì xác định nội dung hoạt động để triển khai hoạt động quan trắc môi trường hàng năm, là đầu mối tập hợp thông tin quan trắc Cơ quan chủ trì Trung ương và địa phương sẽ phối hợp với nhau trong hoạt động quan trắc môi trường và xử lý thông tin

để chỉ đạo điều hành NTTS hiệu quả

Đơn vị thực hiện quan trắc môi trường là các Trung tâm quan trắc, các chi cục, các cơ quan có tham gia hoạt động quan trắc môi trường NTTS ở địa phương Đơn vị

thực hiện sẽ tiến hành theo các nội dung mà cơ quan chủ trì đã xác định và sau mỗi đợt quan trắc sẽ báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý nhanh chóng để kịp thời chỉ đạo sản

xuất

1.4 Kinh nghiệm quan trắc môi trường của một số quốc gia thế giới

Vấn đề môi trường hiện là vấn đề được hầu hết các quốc gia quan tâm Hoạt động quan trắc trên thế giới được tiến hành trên nhiều lĩnh vực, phục vụ nhiều mục tiêu khác nhau như khí tượng thuỷ văn, động đất và sóng thần…Đối với NTTS, hoạt động quan trắc môi trường có những nét đặc thù và mỗi nước có cách tiến hành khác nhau Bản Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm của FAO cũng đề cập đến việc bắt buộc phải có hoạt động quan trắc môi trường đối với các vực nước trong phạm vi một

quốc gia hay các hệ sinh thái liên quốc gia Cơ sở dữ liệu quan trắc phải được chia sẻ

Ở Nauy, trong khi đệ trình dự án, chủ trại phải chỉ ra rằng mình có khả năng thực hiện việc quan trắc và xử lý môi trường theo yêu cầu của các nhà quản lý môi trường Ở Scottland, Cục Bảo vệ Môi trường (SEPA) yêu cầu chủ trại phải thực hiện việc quan trắc và kinh phí quan trắc tự chi trả Việc giám sát công tác quan trắc môi trường (gồm cả việc sử dụng thuốc và hoá chất) do nhiều cơ quan khác nhau phối hợp

và các cơ quan địa phương đóng vai trò quan trọng Cục nghề cá Ireland yêu cầu chủ trại có sản lượng hàng năm trên 100 tấn phải có báo cáo đánh giá hoạt động và giám sát môi trường (Cicin-Sain, 2001)

Một số bang ở Mỹ có những chương trình quan trắc chi tiết cho các khu vực NTTS trong đó các thông số chất lượng nước, cấu trúc và chức năng của quần xã sinh

vật đáy, tảo, dịch bệnh được giám sát kỹ lưỡng Ở Thái Lan, hoạt động quan trắc trong NTTS do Cục nghề cá đảm nhận và có sự phân cấp hoạt động cho các tỉnh Hệ thống

tế Hu

ế

Trang 31

quan trắc có 218 trạm quan trắc chất lượng nước bao gồm cả thủy sinh Hoạt động quan trắc chất lượng nước trong NTTS biển là việc bắt buộc phải thực hiện theo Luật thuỷ sản (National Offshore Aquaculture Act of 2000) do một uỷ ban liên ngành gồm các cơ quan của chính phủ (Gerstenfeld và Biederman, 2002)

Cộng đồng châu Âu (EU) yêu cầu các vùng nguyên liệu thân mềm hai mảnh vỏ

nhập khẩu vào thị trường của khối liên minh này phải được quan trắc thường xuyên.Trong đó, hàm lượng độc tố PSP không được vượt quá 0,08 mg/1kg thịt và độc

tố DSP không được quá 0,020 mg/1kg thịt (Cộng đồng EU, 1991) Tại Đan Mạch hệ

thống giám sát thủy hải sản có từ rất sớm, riêng vùng đánh bắt vẹm xanh được chia thành hệ thống gồm nhiều mạng lưới và việc đánh bắt hải sản sẽ bị cấm trừ khi các

mẫu hải sản và nước được kiểm tra từ tuần trước đó về độc tố và tảo độc nằm trong ngưỡng cho phép

Năm 2003, với sự ủng hộ kinh phí của chính phủ Nhật Bản, bộ phận Quản lý nuôi trồng thủy sản của FAO và Cục Bảo tồn thiên nhiên (FIMA) thực hiện đề án

“Nuôi trồng thủy sản bền vững: Các vấn đề được lựa chọn và hướng dẫn” tập trung vào 5 nội dung trong đó có quan trắc và đánh giá ảnh hưởng môi trường nuôi trồng

thủy sản của 35 nước ở 4 khu vực: Châu Phi, châu Á - Thái Bình Dương, châu Mỹ La Tinh và Bắc Mỹ (FAO, 2009)

Việc giám sát môi trường trong NTTS ở Canada cũng có nhiều chồng chéo và

phức tạp Canada có hệ thống giám sát thủy hải sản từ năm 1943, hệ thống giám sát

của nước này đã chia vùng nuôi trồng và đánh bắt hải sản thành các mạng lưới hoặc các trạm, thường xuyên kiểm tra định kỳ các mẫu hải sản đánh bắt và các mẫu thực vật phù du gây độc (Đặng Đình Kim, 1999) Chương trình quan trắc môi trường NTTS ở vùng Nova Scotia của Canada đã được bắt đầu thực hiện từ năm 2002 với tất cả các đối tượng NTTS trên biển, đặc biệt là tập trung quan trắc động vật thân mềm và cá Họ cũng cho rằng quan trắc môi trường là một phần quan trọng để phát triển

Cục Thủy sản của Úc đã ban hành Hướng dẫn Kế hoạch quản lý nuôi trồng thủy

sản và quan trắc môi trường (Aquaculture management and environmental monitoring plan – MEMP) để hướng dẫn kế hoạch quan trắc và quản lý môi trường nuôi trồng

tế Hu

ế

Ngày đăng: 19/10/2016, 20:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chi cục Thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế, báo cáo tổng kết nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013 phương hướng nhiệm vụ năm 2014 Khác
2. Chi cục Thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế, báo cáo tổng kết nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2014 phương hướng nhiệm vụ năm 2015 Khác
3. Chi cục Thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế, báo cáo tổng kết nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015 phương hướng nhiệm vụ năm 2016 Khác
4. Chi cục Thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế, kế hoạch quan trắc môi trường nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2015- 2020 Khác
5. Lê Quốc Hùng, Các phương pháp và thiết bị quan trắc môi trường nước, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội, 2006 Khác
7. Dự án quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, 2014 Khác
8. Chất lượng nước, Tiêu chuẩn Quốc gia, Bộ Khoa học và Công Nghệ, 2011 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Cơ sở thông tin cân nhắc lựa chọn phương pháp lấy mẫu nước - Tình hình thực hiện chương trình quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản tại huyện phú vang  tỉnh thừa thiên huế
Bảng 1. Cơ sở thông tin cân nhắc lựa chọn phương pháp lấy mẫu nước (Trang 20)
Bảng 2: Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế - Tình hình thực hiện chương trình quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản tại huyện phú vang  tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2 Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế (Trang 35)
Bảng 3: Các điểm quan trắc nước lợ, nước mặn trên toàn tỉnh - Tình hình thực hiện chương trình quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản tại huyện phú vang  tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3 Các điểm quan trắc nước lợ, nước mặn trên toàn tỉnh (Trang 38)
Bảng 4: Các điểm quan trắc khu vực nước ngọt - Tình hình thực hiện chương trình quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản tại huyện phú vang  tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4 Các điểm quan trắc khu vực nước ngọt (Trang 39)
Bảng 9: Tình hình đánh giá về chương trình quan trắc môi trường của các hộ - Tình hình thực hiện chương trình quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản tại huyện phú vang  tỉnh thừa thiên huế
Bảng 9 Tình hình đánh giá về chương trình quan trắc môi trường của các hộ (Trang 50)
Hình thức nuôi lồng hơn 100 lồng. Địa điểm quan trắc khu vực nước thải tập trung tại  các vùng nuô i lớn, nuôi chuyên tôm sú và thâm canh tôm chân trắng - Tình hình thực hiện chương trình quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản tại huyện phú vang  tỉnh thừa thiên huế
Hình th ức nuôi lồng hơn 100 lồng. Địa điểm quan trắc khu vực nước thải tập trung tại các vùng nuô i lớn, nuôi chuyên tôm sú và thâm canh tôm chân trắng (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w