Luận văn sẽ hệ thống hóa các quan điểm về lạm phát, tỷ giá hối đoái, tác độngcủa hai biến số này đến nền kinh tế và mối quan hệ giữa chúng trên phương diện lýthuyết.. Phương pháp nghiên
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
-o0o -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VECTOR TỰ HỒI QUY (VAR) ĐỂ PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ LỆ LẠM PHÁT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện: Hoàng Văn Tín Lớp: K46B Tài Chính
Niên khóa: 2012-2016
Giáo viên hướng dẫn:
TS Hoàng Văn Liêm
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 2Được sự phân công của Khoa Tài chính – Ngân hàng Trường Đại Học Kinh
Tế - Đại Học Huế và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn TS Hoàng Văn Liêm tôi
đã thực hiện đề tài “Ứng dụng mô hình vector tự hồi quy (VAR) để phân tích mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế Việt Nam”
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo
đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rènluyện ở Trường Đại học Kinh Tế - Đại Học Huế
Xin chân thành cảm ơn Thầy giáo hướng dẫn TS Hoàng Văn Liêm đã tậntình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất.Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học cũng như hạnchế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định
mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo vàcác bạn đồng nghiệp để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 3Do Nhà nước giữ vai trò điều tiết nền kinh tế thông qua các quyết định về địnhhướng phát triển kinh tế, chính trị và xã hội Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước vẫngiữ vai trò điều tiết tỷ giá hối đoái, giá xăng dầu vẫn được Chính phủ kiểm soátnhằm mục đích giữ ổn định nền kinh tế Đây là đặc điểm khác với các quốc giakhác trong khu vực và trên thế giới Trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm
2015, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều biến động tích cực và tiêu cực, hướng đếnhội nhập với nền kinh tế thế giới
Sự biến động của lạm phát và của tỷ giá hối đoái tại Việt Nam trong thời gianqua ảnh hưởng mạnh đến xuất nhập khẩu và các mục tiêu tăng trưởng kinh tế Haibiến số này trong tương lai sẽ còn có thể tiếp tục tác động tích cực hoặc tiêu cựcđến xuất nhập khẩu cũng như tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam Do đó, các nghiêncứu về hai biến số vĩ mô này là luôn luôn cần thiết trong mọi thời điểm tại ViệtNam
Luận văn sẽ hệ thống hóa các quan điểm về lạm phát, tỷ giá hối đoái, tác độngcủa hai biến số này đến nền kinh tế và mối quan hệ giữa chúng trên phương diện lýthuyết Sau đó, luận án sẽ sử dụng mô hình véc tơ tự hồi quy VAR để kiểm địnhmối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối Chuỗi số liệu được đưa vào mô hình tỷ lệlạm phát và tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa VND/USD theo tháng trong khoảngthời gian từ năm 2009 đến năm 2015
Từ kết quả nhận được thông qua mô hình VAR, có thể thấy được mối quanTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 4hệ một chiều từ tỷ giá hối đoái đến lạm phát Do đó, đối với những quốc gia nhưViệt Nam lấy xuất khẩu làm động lực tăng trưởng kinh tế, nhưng hơn 70% sốnguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh trong nền kinh
tế phải nhập khẩu thì sự điều chỉnh tỷ giá hối đoái một cách linh hoạt và hợp lýgiúp ổn định lạm phát “ổn định giá cả” từ đó tạo được lòng tin trong công chúng
Từ thực tế tại Việt Nam và những kết quả kiểm định của mô hình, đề tài đưa
ra một số khuyến nghị trong điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm hạn chế những tácđộng tiêu cực của tỷ giá hối đoái đến lạm phát, giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định
và bền vững và góp phần ổn định xã hội
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
CPI Chỉ số giá tiêu dùngCSTT Chính sách tiền tệDNNN Doanh nghiệp nhà nướcGDP Tổng sản phẩm quốc nộiIMF Quỹ tiền tệ quốc tếNHTM Ngân hàng thương mạiNHTƯ Ngân hàng trung ươngNHNN Ngân hàng nhà nướcNQ-CP Nghị quyết - Chính phủTCTK Tổng cục thống kêTGHĐ Tỷ giá hối đoáiUSD Đô la MỹVAR Mô hình véc tơ tự hồi quyVND Việt Nam đồng
WTO Tổ chức thương thế giớiTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu đề tài 4
PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Lý luận chung về lạm phát 6
1.1.1.1 Các quan điểm khác nhau về lạm phát 6
1.1.1.2 Một số nguyên nhân gây ra lạm phát 13
1.1.2 Lý luận chung về tỷ giá hối đoái 15
1.1.2.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái 16
1.1.2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái 17
1.1.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái 21
1.2 Cơ sở thực tiễn 23
1.2.1 Thực tiển nghiên cứu mối quan hệ lạm phát và tỷ giá hối đoái ở nước ngoài.23 1.2.2 Thực tiển nghiên cứu mối quan hệ lạm phát và tỷ giá hối đoái ở trong nước 26 1.3 Mô hình sử dụng nghiên cứu 27
1.3.1 Khái quát mô hình tự hồi quy véc tơ VAR 27
1.3.1.1 Khái niệm 27
1.3.1.2 Một số vấn đề trong xây dựng mô hình VAR 28
1.3.1.3 Quy trình thực hiện VAR 29
Chương 2: PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM 32
2.1 Tình hình biến động lạm phát 32
2.1 1 Các nguyên nhân gây ra lạm phát tại Việt Nam 34 Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 72.1.1.2 Những nguyên nhân từ bên ngoài 36
2.2 Biến động của tỷ giá hối đoái tại Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2015 37
Chương 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Các biến số và dữ liệu cho mô hình VAR 43
3.1.1 Các biến số trong mô hình 43
3.1.2 Dữ liệu cho mô hình VAR 43
3.2 Đánh giá mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái bằng mô hình VAR 45
3.2.1 Xây dựng mô hình VAR 45
3.2.1.1 Kiểm định tính dừng 46
3.2.1.2 Xác định độ trễ của mô hình 47
3.2.1.3 Kiểm định Granger 49
3.2.1.4 Ước lượng mô hình VAR 50
3.2.2 Hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai 51
3.2.2.1 Hàm phản ứng đẩy 52
3.2.2.2 Hàm phân rã phương sai 53
3.2.3 Kiểm định phần dư mô hình VAR 55
PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1 Kết quả đạt được và một số khuyến nghị chính sách 57
1.1 Kết quả đạt được 57
1.2 Một số khuyến nghị chính sách 57
1.2.1 Điều hành tỷ giá phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô: 57
1.2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái Việt Nam nên điều chỉnh theo hướng giảm nhẹ giá trị đồng Việt Nam 58
1.2.3 Hoàn thiện chính sách tiền tệ 60
2 Ưu điểm và hạn chế của đề tài 61
2.1 Ưu điểm của đề tài 61
2.2 Hạn chế của đề tài 61
3 Hướng phát triển của đề tài 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 64 Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 : Tương tác giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát 22
Hình 1.2 : Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái 24
Hình 2.1 Tình hình tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam từ năm 2009 đến 2015 33
Hình 2.2 Diễn biến tỷ giá VND/USD giai đoạn 2009-2015 38
Hình 3.1: Biểu đồ hàm phản ứng đẩy của mô hình VAR 52 Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Thống kê mô tả các biến 44
Bảng 3.2: Ma trận tương quan giữa các biến 45
Bảng 3.3 Kết quả ADF tại sai phân 0 47
Bảng 3.4 Kết quả kiểm định ADF tại sai phân 1 47
Bảng 3.5 Xác định độ trễ của mô hình 48
Bảng 3.6 Kết quả kiểm định Granger 49
Bảng 3.7 Kết quả mô hình VAR 50
Bảng 3.8 Phân rã phương sai của mô hình VAR 54
Bảng 3.9 Kiểm định tự tương quan phần dư 56 Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 10Lạm phát trong những năm 2010 và 2011 vẫn còn ở mức hai con số lần lược
là 11.8% và 18.13%, lạm phát cao thường đưa đến các tổn thất cho sự phát triển củanền kinh tế và ổn định xã hội, Một trong các nhân tố ảnh hưởng mạnh đến lạm phátđược các nhà nghiên cứu kinh tế chỉ ra là tỷ giá hối đoái Do đó việc điều hành cácchính sách tỷ giá nhằm ổn định kinh tế vĩ mô nói chung và để giữ ổn định tỷ lệ lạmphát nói riêng luôn giữ một vị trí quan trọng
Có thể lấy bài toán cho việc cân bằng lạm phát, tỷ giá hối đoái của Việt Namđến thời điểm hiện nay vẫn chưa có được giải pháp tối ưu Trong ngắn hạn và trunghạn, Việt Nam rất khó có thể hội tụ đủ điều kiện để chuyển sang chế độ tỷ giá thảnổi Vì thế, luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa hai biến vĩ mô lạm phát
và tỷ giá hối đoái, Mục tiêu của nghiên cứu hướng đến là “ổn định giá cả” thôngqua điều chỉnh chính sách tỷ giá phù hợp với từng giai đoạn
Sự phức tạp cũng như thú vị của lạm phát và tỷ giá hối đoái đã tạo động lực
để tôi chọn đề tài “Ứng dụng mô hình vector tự hồi quy (VAR) để phân tích mối
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 11quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế Việt Nam” để
tìm hiểu và nghiên cứu chuyên sâu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ lý luận chung về lạm phát và tỷ giá hối đoái, cùng vớiphân tích tác động của hai biến số này với nhau, tác động của chúng đến các biến vĩ
mô khác như lãi suất, tăng trưởng kinh tế Luận văn phân tích thực trạng tình hìnhlạm phát và biến động của tỷ giá hối đoái trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm
2015 Luận văn đề xuất các định hướng và khuyến nghị nhằm hoàn thiện chính sáchtiền tệ và chính sách tỷ giá qua đó giúp ổn định giá cả nhằm góp phần ổn định kinh
tế vĩ mô tại Việt Nam Câu hỏi thường trực đối với các nhà điều hành và hoạch địnhchính sách Việt Nam hiện nay là lạm phát và tỷ giá hối đoái thế nào là tối ưu chonền kinh tế
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu những nội dung chính sau đây:
Làm rõ các vấn đề lý luận về lạm phát, các nhân tố ảnh hưởng đến lạmphát
Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, tác động hai chiều của tỷ giáhối đoái với lạm phát
Nghiên cứu thực trạng lạm phát và diễn biến tỷ giá hối đoái tại Việt Nam
từ năm 2009 trở lại đây Luận văn làm sáng tỏ ảnh hưởng của lạm phát và tỷ giá hốiđoái tới sự ổn định kinh tế vĩ mô
Sử dụng mô hình VAR để lượng hóa mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giáhối đoái trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2015 Trên cơ sở đó, rút rabài học kinh nghiệm và đồng thời đưa ra các khuyến nghị cần áp dụng nhằm ổnđịnh lạm phát và tỷ giá hối đoái góp phần đạt được các mục tiêu vĩ mô khác
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá VND/USD
Phạm vi nghiên cứu
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 12 Về không gian: Mối quan hệ giữa Lạm phát và tỷ giá VND/USD trong nền
kinh tế Việt Nam
Về thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2009 đến tháng
12 năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Để phù hợp với nội dung nghiên cứu và để có kết quả đáng tin cậy và có ýnghĩa khoa học, luận văn sử dụng một số Phương pháp nghiên cứu khoa học, baogồm:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Lý thuyết chung về tỷ giá hối đoái và tỷ
lệ lạm phát mối quan hệ giữa chúng được dựa trên nền tảng lý luận nghiên cứutrước đó như: giáo trình tài chính quốc tế, giáo trình tài chính tiền tệ, bài nghiên cứu
về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và tỷ giá hối đoái của các tác giả ở trong nướctheo nguyên tắc kế thừa và chứng minh để làm sáng tỏ thêm các luận điểm của luậnvăn
Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu trong luận văn được công bố từTổng cục thống kê Việt Nam, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Các số liệu sử dụng choviệc phân tích định lượng của luận văn bao gồm tỷ giá hối đoái VND/USD, tỷ lệlạm phát tại Việt Nam
Phương pháp phân tích kinh tế lượng: Luận văn sử dụng mô hình vector tựhồi quy VAR (vector AutoRegressive model) cho việc phân tích định lượng mốiquan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái tại Việt Nam giai đoạn năm 2009 đến năm2015
Mô hình VAR được sử dụng để kiểm định động thái và sự phụ thuộc lẫnnhau giữa các biến số kinh tế theo thời gian Nó sẽ xem xét cùng lúc tất cả các biếnnội sinh và mỗi biến nội sinh sẽ được giải thích bằng một phương trình có chứa cácgiá trị trong các thời kỳ trước (giá trị trễ) của tất cả các biến nội sinh khác và giá trịtrễ của chính nó Vì các biến số vĩ mô trong nền kinh tế thường tác động qua lại lẫnnhau, thậm chí giá trị trong quá khứ của một biến số có thể ảnh hưởng đến biến sốTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 13được tác động của các biến số đến một biến số khác và không có chiều ngược lại,thì mô hình VAR cho phép kiểm định tác động và phụ thuộc lẫn nhau giữa các biến
số kinh tế được đưa vào mô hình theo thời gian Điều này thuận lợi cho các nghiêncứu xem xét sự biến động của các biến số kinh tế theo thời gian Ngoài ra, trong môhình VAR không cần quan tâm biến nào là biến nguyên nhân và biến nào là biến kếtquả, vì tất cả các biến số có vai trò như nhau không có sự khác biệt giữa biến nộisinh và biến ngoại sinh Do đó, mô hình VAR phù hợp với việc nghiên cứu các tácđộng có tính nhân quả hai chiều, đặc biệt trong trường hợp chưa xác định được biến
số nào là nguyên nhân biến và biến số khác là kết quả
Mô hình VAR được biểu diễn dưới dạng một hệ phương trình đồng thời,trong mỗi phương trình, biến độc lập là các biến nội sinh ở thời điểm trước đó vàphương trình bình phương tối thiểu (Ordinary Least Square) được áp dụng để tínhtoán Tuy nhiên, VAR cũng tồn tại một số nhược điểm như các biến đều phải dừng,
vì phải sử dụng các biến trể nên chuỗi số liệu càng dài càng tốt
Nguồn số liệu sử dụng trong mô hình sẽ được lấy từ:
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): Tỷ giá hối đoái giữa VND/USD
Tổng cục thống kê Việt Nam: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Phần mềm Eviews 7 được sử dụng để chạy mô hình VAR kiểm định ảnhhưởng của các biến số Do đơn vị tính của các biến số khác nhau, các biến số sẽđược chuyển về cùng một đơn vị tính bằng phương pháp logarit
Luận văn cũng sử dụng một số kết quả nghiên cứu của các công trìnhnghiên cứu khoa học có liên quan theo nguyên tác kế thừa để chứng minh và làmsáng tỏ thêm các luận điểm của luận văn
5 Kết cấu đề tài
Ngoài lời cảm ơn, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung chính của luận văn được chia thành 3 phần lớn:
Phần 1: Đặt vấn đềPhần 2: Nội dung và kết quả nghiên cứu
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 14Phần này sẽ chia thành 3 chương chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái và
mô hình nghiên cứu mối quan hệ
Chương 2: Phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái trong nềnkinh tế Việt Nam
Chương 3: Thảo luận kết quả thực nghiệm và thảo luậnPhần 3: Kết luận và khuyến nghị
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 15PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT
VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Lý luận chung về lạm phát
Hiện nay, lạm phát là một hiện tượng kinh tế phổ biến tại các quốc gia trênkhắp thế giới Lạm phát diễn ra theo tần khác nhau và mức độ cao thấp khác nhautại các quốc gia đang phát triển và tại các quốc gia chậm phát triển, trong thời kỳkhủng hoảng kinh tế và cả trong thời kỳ kinh tế phát triển Lạm phát ở mức độ nhấtđịnh có thể là một biện pháp giúp phát triển nền kinh tế, làm tăng nhu cầu, thúc đẩycác hướng đầu tư có lợi Song khi lạm phát vượt qua một giới hạn nhất định, thì nó
sẽ đe dọa những thành quả mà nền kinh tế đạt được Vì lý do đó mà các nghiên cứu
về lạm phát đã xuất hiện từ rất sớm trên tất cả các quốc gia trên thế giới, tại nhữngnơi mà đồng tiền giấy lưu hành trong nền kinh tế ở dạng tín tệ
Trong các chức năng của tiền phải kể đến hai chức năng nổi bật là chức năngthước đo giá trị hàng hóa và chức năng lưu giữ giá trị Hai chức năng này của tiềnđều bị ảnh hưởng trực tiếp bởi lạm phát, khi lạm phát xảy ra sẽ làm giảm sức muacủa tiền và không còn tạo niềm tin cho công chúng cất trữ tiền làm tài sản lưu giữgiá trị
1.1.1.1 Các quan điểm khác nhau về lạm phát
Trong phần này, các khái niệm về lạm phát qua các thời kỳ sẽ được tổng hợptheo logic về mặt thời gian và các quan điểm của các trường phái khác nhau Lạmphát không chỉ bó hẹp trong những nước có thu nhập cao, mà nó còn gây trở ngạicho nhiều nước đang phát triển phụ thuộc quá lớn vào việc in tiền để trang trải chochi tiêu của chính phủ Cuối thế kỷ XX, khi các nước đã từng thực hiện mô hìnhkinh tế kế hoạch hóa tập trung tại Đông Âu có những biện pháp nhằm tự do hóa gía
cả và chuyển đổi sang mô hình kinh tế thị trường thì họ phải chứng kiến mức giá tạicác quốc gia này tăng vọt
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 16a) Khái niệm và những quan điểm về lạm phát
Lạm phát đã được các nhà kinh tế học nghiên cứu từ rất sớm, hầu hết các nhànghiên cứu về lạm phát đều đồng ý rằng “lạm phát là hiện tượng tăng giá liên tụccủa mức giá chung trong một khoảng thời gian” Tuy nhiên, không phải mọi sự tănglên của mức giá chung đều đã là lạm phát Nếu giá cả chỉ tăng tạm thời, trong ngắnhạn, ví dụ trong những dịp tết Nguyên đán tại Việt Nam, sau đó lại giảm xuống thì
đó là kết quả của những biến động cung cầu tạm thời
Hai nhà kinh tế học Laidler và Parkin đã khẳng định rằng “lạm phát được định nghĩa là sự tăng lên liên tục của mức giá chung, hoặc có biểu hiện tương tự là
sự giảm liên tục của giá trị đồng tiền”, người ta có thể hiểu ở đây là sức mua của đồng tiền tại quốc gia đó bị giảm liên tục Samualson cũng khẳng định “lạm phát biểu thị một sự tăng lên trong mức giá chung” Mức giá chung được định nghĩa là
mức giá trung bình của “giỏ hàng hóa và dịch vụ” tại quốc gia đó Tại mỗi quốc giađều có mỗi loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau phụ thuộc vào mức sống và thunhập ở quốc gia đó Khi mức giá chung tăng lên, thì các thành phần trong nền kinh
tế sẽ phải trả nhiều tiền hơn cho chính loại hàng hóa và dịch vụ trong giỏ đó, điềunày chứng tỏ giá trị hay sức mua của đồng tiền tại quốc gia đó đã bị giảm
Các nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đại diện là
Friedman cho rằng “lạm phát là một hiện tượng tiền tệ tạo nên sự dư cầu về hàng hóa, tức là do lượng tiền trong nền kinh tế quá nhiều để theo đuổi một khối lượng hàng hóa có hạn” Lý thuyết này được giải thích bởi tiền đề tiền tệ trung lập, tiền
đề này khẳng định cung tiền tăng lên hoàn toàn không tác động gì đến lượng hànghóa và dịch vụ được sản xuất ra cũng như số việc làm
Nhà kinh tế học nổi tiếng Keynes cho rằng lạm phát là tình trạng mức giábằng tiền của hầu hết các hàng hóa và dịch vụ mà người dân trong nước mua sắmtăng lên theo thời gian
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 17Đến thời điểm hiện tại các nhà kinh tế học trên thế giới đều thống nhất địnhnghĩa lạm phát theo hai quan điểm cơ bản của Samuelson hoặc Friedman Do đó,nghiên cứu này sẽ bám sát quan điểm của Friedman về lạm phát.
Cũng giống như những căn bệnh, bệnh lạm phát cũng thể hiện ở những mức
độ nghiêm trọng khác nhau
Lạm phát vừa phải: được đặc trưng bằng giá cả tăng chậm và có thể dựđoán trước được, tỷ lệ lạm phát hàng năm dưới hai con số có thể coi là lạm phát vừaphải Khi đó, các thành phần trong nền kinh tế tin tưởng vào việc giữ tiền mặt và kýcác hợp đồng tính theo giá của đồng nội tệ, vì họ tin rằng giá của loại hàng hóađược mua không chênh lệch đi quá xa
Lạm phát phi mã: là tỷ lệ lạm phát trong phạm vi hai chữ số hoặc ba chữ
số, như 20%, 100% hay 200% Một khi lạm phát phi mã diễn ra thường xuyên thì sẽđưa đến rất nhiều biến dạng kinh tế nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh
tế Thứ nhất, các hợp đồng mua bán có thể sẽ được neo vào một chỉ số giá nào đấyhoặc theo ngoại tệ có thể là đôla Mỹ hoặc Euro Khi xảy ra lạm phát phi mã, đồngtiền tại quốc gia đó bị mất giá trị rất nhanh, đưa đến các thành phần trong nền kinh
tế chỉ giữ một lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các thanh toán hàng ngày, họ sẽchuyển tiền sang loại hình đầu tư không bị ảnh hưởng bởi lạm phát và không gửitiền tiết kiệm với mức lãi suất danh nghĩa
Siêu lạm phát: diễn ra khi giá cả trong một nền kinh tế thị trường tănghàng triệu hay thậm chí hàng tỷ phần trăm một năm
b) Lạm phát theo quan điểm trường phái tiền tệ
Cung tiền của mỗi quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng, việc làm vàgiá cả tại quốc gia đó Ngân hàng trung ương (NHTƯ) có thể dùng quyền kiểm soátcủa mình đối với cung tiền để kích thích khi nền kinh tế tăng trưởng chậm hơnmong muốn, hay kìm hãm nền kinh tế khi giá cả tăng nhanh hơn dự kiến Khi chínhsách tiền tệ được quản lý tốt thì có thể làm cho sản lượng của nền kinh tế tăng đềuvới mức giá cả ổn định Nếu như có trục trặc trong hệ thống tiền tệ, lượng tiền cóthể tăng rất nhanh hoặc giảm mạnh, dẫn đến lạm phát hay suy thoái
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 18Trong thực tế, trường phái tiền tệ đã bắt đầu từ Davis Hume trong thế kỷ 18với tác phẩm hàm số lượng tiền tệ Các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển sửdụng thuyết số lượng tiền (quantity theory of money) để giải thích cho lạm phát.Fischer đã đưa ra phương trình cùng tên cho thuyết số lượng tiền:
M*V = P*T (1)Trong đó M là khối lượng tiền, V là vòng quay của tiền, P là mức giá chungtrong nền kinh tế, T là khối lượng hàng hóa giao dịch thực tế (the real volume oftransactions) với giả thiết T đúng bằng sản lượng Y trong nền kinh tế Với giả địnhnền kinh tế ở mức độ toàn dụng thì sẽ có:
Tổng cung AS = Y (2)Trong khi đó tổng cầu AD được xác định là AD = (M*V)/P (3)Cân bằng thị trường hàng hóa và dịch vụ đạt được khi AS = AD, do đóphương trình Fischer có thể được viết như sau: M*V = P*Y
Khi có sự thay đổi tính bằng %, thì phương trình trên có thể viết lại như sau
lnM + lnV = lnP + lnY
ΔM + ΔV = ΔP + ΔY tương đương với ΔP = ΔM + ΔV — ΔY
Với giải thiết V là hằng số, giá trị này phụ thuộc vào sự phát triển của hệ
thống tài chính mà điều này không phải thay đổi ngay được Fischer đưa thêm vào giả thiết V là hằng số dài hạn Do đó, khí tốc độ lưu thông tiền tệ là không đổi, thì bất cứ sự thay đổi nào của cung tiền cũng sẽ đưa đến sự thay đổi của GDP danh nghĩa Do các nhân tố sản xuất và hàm sản xuất quyết định mức GDP thực tế nên mọi sự thay đổi của GDP danh nghĩa đều được thể hiện ở sự thay đổi của mức giá chung Từ lập luận trên, có thể thấy thay đổi của mức giá chung đồng biến với thay
đổi của cung tiền
Theo M.Friedman, muốn kìm chế lạm phát cần kìm chế sự tăng trưởng sốlượng tiền, và muốn không có lạm phát thì tốc độ phát hành tiền vào lưu thông phảicùng với tốc độ tăng trưởng sản xuất đích thực
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 19Nhà kinh tế học Tobin đã xây dựng từ tư tưởng của Friedman một cách tiếpcận lạm phát do sự chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng cũng
là một nguyên nhân gây nên lạm phát
Tổng kết lại, cho dù tiếp cận từ các góc độ khác nhau, các nguyên nhân khác nhau để phân tích nguyên nhân gây ra lạm phát, thì các nhà kinh tế học đều chấp nhận rằng lạm phát xảy ra khi tổng cầu hàng hóa và dịch vụ vượt quá tổng cung hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế.
Có thể thấy, hiện tượng cầu kéo làm giá tăng nên khi các nhân tố làm dịchchuyển đường tổng cầu sang phải hay còn gọi là tăng cầu trong nền kinh tế thườngbao gồm tăng cung tiền Để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế chính phủ thường tăng chitiêu công, hoặc khu vực kinh tế tư nhân tăng đầu tư để mở rộng sản xuất Khi thunhập khả dụng của các hộ gia đình được tăng lên đưa đến tăng tiêu dùng hộ giađình Tiếp theo, nếu nhu cầu xuất khẩu tăng lên, thì đây sẽ là các nguyên nhân làmtăng tổng cầu trong nền kinh tế Chỉ cần một nhân tố trong phương trình dưới tănglên cũng sẽ làm tổng cầu của nền kinh tế tăng lên, với giả định các nhân tố khác làkhông đổi
Y = C + I + G + (Xuất khẩu - Nhập khẩu)Khi lượng cầu tăng nhanh trong khi lượng cung không đáp ứng đủ sẽ làmtăng mức giá chung trong nền kinh tế
Tiếp theo, cung tiền và xuất khẩu hàng hóa sẽ ảnh hưởng đến mức dự trữngoại hối của mỗi quốc giá Vì xuất khẩu là một nguồn thu ngoại tệ qua đó làm tănglượng dự trự ngoại hối Trong một số trường hợp, các quốc gia có thể tăng cung tiền
để mua thêm ngoại tệ để tăng lượng dự trữ ngoại tệ (VD, nguồn ngoại tệ từ các dự
án FDI được chuyển thành đồng nội tệ)
Đối với hiện tượng chi phí đẩy, nguyên nhân thường là do các nhân tố làmtăng chi phí sản xuất hoặc làm đường tổng cung dịch chuyển về bên trái, thứ nhấtphải kể đến các nhân tố sản xuất thường là các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuấtnhư giá nguyên vật liệu, nhiên liệu (điện, xăng dầu) giữ vai trò quan trọng đổi vớiTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 20tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế, giá nhân công và chi phí vốn vay được thể hiệnqua mức lãi suất Khi lãi suất tăng cao sẽ làm cho các dự án đầu tư trở lên đắt hơn
và dẫn đến việc mở rộng sản xuất sẽ bị ngừng lại Khi giá cả của các nhân tố nàythay đổi sẽ tác động đến lượng cung của nền kinh tế Trong trường hợp, tăng nhậpkhẩu để bù đắp phần cung thiếu hụt do sản xuất trong nước sẽ bị hạn chế thì sẽ làmtăng mức giá chung tại thị trường nội địa Thứ hai, mất ổn định trong sản xuất cũnggây ra hiện tượng thiếu cung, đối với nông nghiệp thì thiên tai và dịch bệnh có thể
là nguyên nhân gây ra sự bất ổn trong năng suất Trong lĩnh vực sản xuất sự bất ổnđịnh của nguồn cung cấp đầu vào như sự lên giá của các nguyên liệu thô, bất ổnchính trị tại các quốc gia sản xuất dầu, thay đổi của công nghệ cũng có thể gây rasốc cung, ví dụ như khi một công nghệ đang sử dụng cho sản xuất hàng hóa bị cấm
sử dụng trong khi công nghệ thay thế quá đắt đối với nhà sản xuất Đốc quyền cũng
là một nguyên nhân làm giảm cung, trong kinh tế học có đề cập đến khái niệm lợinhuận biên, các công ty độc quyền sẽ chỉ sản xuất lượng hàng hóa mang lại cho họlợi nhuận cao nhất chứ không phải doanh thu cao nhất, điều này sẽ gây ra khanhiếm hàng hóa giả tạo, trong khi nền kinh tế chưa đạt được mức sản lượng tiềmnăng
Đối với hiện tượng thay đổi cơ cấu nền kinh tế sẽ mang lại kết quả là sựchênh lệch thu nhập giữa các lĩnh vức trong nền kinh tế Điều đó sẽ tạo ra sự dịchchuyển lao động từ lĩnh vực thu nhập thấp sang lĩnh vực thu nhập cao, chính xáchơn là từ lĩnh vực nông nghiệp sang các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ có thunhập cao hơn Điều này tạo ra thiếu hụt lương thực cần thiết và mức lương caotrong các lĩnh vực khác sẽ làm cho mức giá chung trong nền kinh tế tăng lên Điềunày thể hiện rõ trong nền kinh tế Việt Nam
Trong số các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát có thể thấy tỷ giá hối đoái giữvai trò quan trọng, sự biến động của tỷ giá sẽ tác động đến các nhân tố đầu vào củasản xuất Đối với những lĩnh vực phải nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào thì tỷ giáhối đoái sẽ thông qua kênh yếu tố đầu vào của sản xuất để tác động đến giá sảnxuất Đặc biết, đối với các quốc gia phải nhập khẩu xăng dầu, thì tỷ giá hối đoáiTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 21thay đổi sẽ làm cho giá của mặt hàng này thay đổi ngay lập tức đối với các nền kinh
tế thị trường
Sự chênh lêch giữa lãi suất trong nước và lãi suất trên thị trường tài chínhquốc tế sẽ làm thay đổi dòng vốn đầu tư ngắn hạn và trung hạn tại quốc gia đó Nếudòng ngoại tệ vào hay ra đột ngột trên thị trường tài chính thì đều gây ra những biếnđộng bất thường về tỷ giá hối đoái cho quốc gia đó Khi tỷ giá hối đoái thay đổicũng sẽ khiến cho cung và cấu về hàng hóa xuất nhập khẩu tại thị trường trong nướcthay đổi, do mức giá của hàng hóa xuất nhập khẩu phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái
Trên thực tế, mỗi quốc gia đều cần có một lượng dự trữ ngoại hối nhất định,lượng dự trữ ngoại hối này giúp NHTƯ can thiệp vào thị trường ngoại hối khi cầnthiết và đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu của nền kinh tế Khi tăng hay giảm lượng
dự trự ngoại hối sẽ tác động đến cung tiền và tác động đến tỷ giá hối đoái, ở chiềungược lại khi tỷ giá hối đoái thay đổi thì cũng sẽ tác động đến lượng dự trữ ngoạihối và cung tiền, qua đó tác động đến lạm phát Để kiềm chế lạm phát, nhiều khiNHTƯ bán ngoại tệ ra để thu đồng nội tệ về nhằm giảm lượng tiền mặt đang lưuhành trong nền kinh tế
c) Chỉ số đo lường lạm phát
Trong nền kinh tế thị trường, giá cả được dùng như một tiêu chuẩn so sánh
để đo lường các giá trị kinh tế và định hướng hoạt động kinh doanh Các nhà kinh tếhọc khi nghiên cứu về lạm phát thường sử dụng các chỉ số đo lường mức giá chung.Trên thực tế, mức giá chung được tính bằng cách xây dựng các chỉ số giá, là nhữnggiá trị trung bình của giá tiêu dùng hay giá sản xuất Chỉ số giá là thước đo mức giáchung, nó chính là số bình quân gia quyền của giá nhiều loại hàng hóa và dịch vụ.Khi xây dựng chỉ số giá, các nhà hoạch định cân nhắc từng loại giá riêng lẻ theotầm quan trọng và ý nghĩa kinh tế của mỗi loại hàng hóa mà gắn cho mỗi hàng hóatrong rổ hàng hóa một hệ số tỷ trọng Ba chỉ số giá quan trọng nhất là chỉ số giá tiêudùng, hệ số giảm phát GDP và chỉ số giá sản xuất
Đo lạm phát qua chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index, CPI), chỉ sốTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 22này được coi là thước đo lạm phát và được sử dụng rộng rãi nhất CPI đo lường chiphí mua một rổ hàng hóa chuẩn tại những thời điểm khác nhau Rổ hàng hóa nàybao gồm giá thực phẩm, quần áo, nhà cửa, xăng dầu, đi lại, dịch vụ y tế, học phí,các loại hàng hóa và dịch vụ khác được mua sắm cho cuộc sống hàng ngày Tấtnhiên, giá của mỗi loại hàng hóa sẽ được gắn thêm một trong số theo tầm quantrọng của hàng hóa đó trong nền kinh tế CPI được tính dựa trên công thức sau:
sự thay đổi của CPI
Bắt đầu từ năm 1994, Việt Nam đã áp dụng cách tính CPI theo tiêu chuẩnquốc tế và khi luật hoá việc công bố và tính chỉ số CPI theo tháng đã giúp cho cácthành phần trong nền kinh tế tiếp cận dễ hơn với chỉ số này
1.1.1.2 Một số nguyên nhân gây ra lạm phát a) Lạm phát do cầu kéo
Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu Nguyên nhân chính là
do tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng không kịp
Các nhà kinh tế học của trường phái trọng tiền cho rằng, tiền là nguyên nhân
cơ bản của lạm phát cầu kéo Với giả thiết đường tổng cung cố định, nền kinh tếluôn ở mức sản lượng tiềm năng, khi cung tiền tăng đưa đến tổng cầu tăng đối vớihàng hóa và dịch vụ, trong khi cung hàng hóa và dịch vụ không thể tăng được, vìnền kinh tế đã ở mức tiềm năng và các nguồn lực đã sử dụng ở mức toàn dụng DoTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 23đó, nghiễn nhiên giá cả sẽ tăng đồng hành với tốc độ tăng của cung tiền và khi đólạm phát sẽ xảy ra.
Keynes không cho rằng nền kinh tế luôn ở mức toàn dụng nhân công, tức lànền kinh tế chưa đạt được mức tiềm năng Do đó, trước khi có toàn dụng nhân côngthì các chính sách làm tăng cầu của các thành phần trong nền kinh tế là cần thiết,nhằm thúc đẩy tăng sản lượng tiềm năng và tạo ra thêm việc làm, trong trường hợpnày sẽ không gây ra lạm phát Khi cung tiền vượt quá mức toàn dụng nhân công, thìsản lượng không tăng, và chỉ còn giá cả tăng theo mức tăng của cung tiền, Keynescho rằng đây là lạm phát thực sự Tuy nhiên, Keynes luôn cho rằng lạm phát cầukéo là cần thiết cho nền kinh tế, khi nó chưa ở mức toàn dụng nguồn lực, thì đây làđộng lực để phát triển kinh tế
b) Lạm phát do chi phí đẩy
Hình thức của lạm phát do chi phí đẩy phát sinh từ phía cung, do chi phí sảnxuất cao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng Điều này chỉ có thể đạt đượctrong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn Vídụ: Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch vụ vànếu tiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì tổng chi phí sản xuất sẽ tănglên Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thìgiá bán sẽ tăng lên, công nhân và các cộng đồng sẽ yêu cầu tiền lương cao hơntrước để phù hợp với chi phí sinh hoạt tăng lên điều đó tạo vòng xoáy lương và giácả
Một yếu tố chi phí khác là giá cả nguyên vật liệu tăng do tỷ giá tăng hoặckhai thác hạn chế Bên cạnh đó giá cả nhập khẩu cao hơn được chuyển cho ngườitiêu dùng nội địa cũng là một yếu tố gây nên lạm phát
Trang 24vào các hoạt động của mình nên cuối cùng nó trở thành hiện thực Một ví dụ cụ thểcủa hiện tượng lạm phát do quán tính là khi nền kinh tế có lạm phát cao, mọi người
có xu hướng chỉ giữ lại một lượng tiền mặt tối thiểu để chi tiêu hàng ngày, họ đemtiền đổi lấy các loại tiền mạnh khác, vàng hay các loại hàng hóa để tích trữ giá trị,làm tăng lượng tiền lưu thông trên thị trường, càng làm đồng tiền mất giá và tănglạm phát
Các tác giả khác như Hicks, Lange và Keynes cho rằng yếu tố kỳ vọng cũngảnh hưởng tới lạm phát Hàng năm, mỗi quốc gia trên thế giới đều có một mức lạmphát nhất định Nếu không có những sự thay đổi trong nền kinh tế thì tỷ lệ này cóthể được giữ nguyên Trong cơ chế hoạt động của lạm phát quán tính, dự tính đóngmột vai trò rất quan trọng Vì dự tính luôn là cơ sở cho hành vi của các thành phầntrong nền kinh tế Dự tính được hình thành từ kinh nghiệm và kết quả phân tích, xử
lý các thông tin có được Mức lạm phát dự tính được hình thành từ mức lạm pháttrong quá khứ, từ các chính sách kinh tế của chính phủ Từ đó các thành phần kinh
tế sẽ lập kế hoạch kinh doanh với mức lạm phát dự tính có được, thực chất là họ sẽđẩy mức giá lên đúng bằng mức lạm phát dự tình
1.1.2 Lý luận chung về tỷ giá hối đoái
Thương mại quốc tế ra đời rất sớm, các giao dịch mua bán hàng hóa đềuđược thực hiện bằng kim loại quý (vàng, bạc) Tuy nhiên, khi tiền giấy (tín tệ) đượcđưa vào hệ thống thanh toán, thì người ta cần một tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền củacác quốc gia trên thế giới với nhau
Trong xu thế mở cửa nền kinh tế từ giữa thế kỷ XX và xu hướng toàn cầuhóa trong thế kỷ XXI thì thương mại quốc tế càng trở nên phổ biến Để thực hiệnviệc chuyển đổi tiền tệ giữa các quốc gia, người ta cần phải có hệ thống tỷ giá Để
có một cách nhìn tổng quát về tỷ giá cho phù hợp với hoàn cảnh hiện nay, khi thịtrường tài chính của các quốc gia liên kết với nhau ngày càng chặt chẽ hơn thì việcxem xét các khái niệm về tỷ giá hối đoái là hết sức cần thiết
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 251.1.2.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là khái niệm kinh tế có nguồn gốc từ nhu cầu traođổi hàng hóa, dịch vụ phát sinh trực tiếp từ tiền tệ và quan hệ tiền tệ giữa các quốcgia/khu vực Vì vậy, TGHĐ giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động thương mạiquốc tế, thông qua TGHĐ người ta có thể so sánh giá cả hàng hóa, dịch vụ của cácquốc gia trên thế giới với nhau
Theo F.Mishkin “the price of one currency in term of another is called theexchange rate” có nghĩa là “giá của một đồng tiến tính theo một đồng tiền khácđược gọi là tỷ giá hối đoái”
Trong Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, được thông qua ngày16/06/2010, Điều 6, khoản 5 ghi rõ “tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá củamột đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam”
Từ các khái niệm trên có thể hiểu một cách tổng quát TGHĐ là tỷ lệ chuyểnđổi, tỷ lệ so sánh của đơn vị tiền tệ này với đơn vị tiền tệ khác giữa các quốcgia/khu vực trên thế giới Hay có thể hiểu đơn giản hơn, TGHĐ là giá cả của đồngtiền trong nước này được biểu hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ của quốc gia khác
Hiện nay, TGHĐ trên thế giớ được niêm yết theo hai phương pháp chính sau:
- Phương pháp yết giá gián tiếp: trong phương pháp này, đồng nội tệ sẽđóng vai trò là đồng yết giá và có đơn vị cố định là một đơn vị, còn một đồng ngoại
tệ đóng vai trò là đồng định giá có số đơn vị thay đổi dựa theo thay đổi trên thịtrường ngoại hối Ví dụ tại nước Anh sẽ yết giá như sau, 1GBP = 1,8366USD
- Phương pháp yết giá trực tiếp: đây là cách yết giá tại các quốc gia sở hữuđồng tiền yếu Khi đó đồng ngoại tệ sẽ đóng vai trò đồng yết giá, còn đồng nội tệcủa quốc giá đó sẽ là đồng định giá Ví dụ Việt Nam sẽ yết giá là 1USD = 21.220VND, 1Euro = 25.050VND
Trong phạm vi của luận văn này, để có thể thống nhất trong việc phân tích tạithị trường Việt Nam, TGHĐ sẽ được hiểu theo cánh viết trên thị trường ngoại hốiViệt Nam, tỷ giá VND/USD = 21.220 nghĩa là 1USD = 21.220VND Nếu TGHĐTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 26này tăng lên, nghĩa là tiền đồng giảm giá so với đô la Mỹ, ngược lại, khì TGHĐ nàygiảm xuống tức là tiền đồng lên giá so với đô la Mỹ.
Để có cơ sở xác định TGHĐ giữa hai đồng tiến, các nhà kinh tế trên thế giớithường sử dụng hai công cụ chủ yếu là lý thuyết ngang giá sức mua, đại diện cho thịtrường hàng háo và lý thuyết ngang giá lãi suất, đại diện cho thị trường tài chính
1.1.2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái
Để thấy rõ được tác động của TGHĐ, người ta cần hiểu được bản chất vàmục tiêu của chính sách TGHĐ trên phương diện vĩ mô nhằm ổn định mức giátrong nước và ổn định thị trường tài chính, còn trên phương diện vi mô là duy trìkhả năng cạnh tranh quốc tế cho hàng hóa được sản xuất trong nước Đồng thời, ổnđịnh TGHĐ sẽ tạo niêm tin cho đối tác thương mại cũng như công chúng về sự ổnđịnh của giá trị đồng nội tệ trong cân bằng nội và cân bằng ngoại
a) Khái niệm và mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá hối đoái luôn song hành cùng chính sách tiền tệ của mỗiquốc gia, nó bao gồm các hoạt động của chính phủ thông qua cơ chế điều hành tỷgiá hối đoái và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm đạt được một mức tỷ giá hốiđoái nhất định, để có thể tác động tích cực đến hoạt động xuất nhập khẩu tại quốcgia đó, đây là cách mà chính phủ hoặc NHTƯ sử dụng để tác động vào đồng nội tệ
và can thiệp vào thị trường ngoại hối
Tỷ giá hối đoái là một biến số tác động tương đối lớn đến nền kinh tế, đặcbiệt là các quốc gia lấy xuất khẩu làm động lực tăng trưởng Vì vậy, trong xu thếtoàn cầu hóa và tự do thương mại, các quốc gia luôn sử dụng tỷ giá hối đoái nhưmột công cụ hữu hiệu để điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại quốc giađó
Một chính sách tỷ giá hối đoái cần phải được nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thiết lập một cái neo rõ ràng và đáng tin cậy nhằm ổn định mức giá trong nước và ổn định thị trường tài chính Thêm vào đó, chính sách tỷ giá hối đoái
cũng phải chú trọng đến việc duy trì khả năng cạnh tranh quốc tế cho hàng hóa xuấtTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 27khẩu, vì thế nó cũng gắn với các biến số về tăng trưởng kinh tê Từ đấy có thể kháiquát mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái như sau:
- Ôn định sức mua của đồng nội tệ: nếu giả định các yếu tố khác không đổi, thì khi tỷ giá hối đoái tăng, sẽ làm cho hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt hơn và làm cho mặt bằng giá cả chung của nền kinh tế tăng, đây là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát Điều này có thể thấy được từ công thức dưới đây, nếu gọi P
là mức giá cả chung của nền kinh tế, thì P được tính như sau
P = α + 1 − ∗
Trong đó: α là tỷ trọng hàng hóa sản xuất tiêu dùng trong nước
(1-α) là tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu
E là tỷ giá hối đoái
PDlà mức giá hàng hóa sản xuất trong nước tính bằng nội tệ
P*là mức giá hàng hóa nhập khẩuVới giả định các yếu tố khác là không đổi, thì khi NHTƯ nâng giá nội tệ hayphá giá nội tệ sẽ tác động đến mức giá chung của nền kinh tế Khi lạm phát tăng caokhiến cho sức mua của đồng nội tệ giảm, nếu như tỷ giá hối đoái không đổi, sẽ đưađến áp lực làm cho hàng hóa trong nước đắt hơn hàng hóa bên ngoài, điều đó làmcho nhập khẩu tăng và làm mất cân bằng cán cân thương mại, tiếp theo sẽ là thiếuhụt ngoại tệ Để không diễn ra tình trạng này, thì bắt buộc phải có sự thay đổi của tỷgiá hối đoái, chính xác trong trường hợp này là sự điều chỉnh giảm giá của đồng nội
tệ so với đồng ngoại tệ.
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường xuất khẩu: với giảđịnh các điều kiện khác không đổi, khi NHTƯ phá giá đồng nội tệ sẽ kích thích xuấtkhẩu và hạn chế nhập khẩu Điều này trực tiếp làm tăng thu nhập quốc dân, từ côngthức dưới đây có thể thấy được điều này
Y = C + I + G + (X – M)
Trong đó: Y là thu nhập quốc dân, I là đầu tư, C là tiêu dùng, G là chiTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 28tiêucủa chính phủ, X là xuất khẩu và M là nhập khẩu.
Tuy nhiên, để có được điều này thì cần có những điều kiện tiên quyết trongnền kinh tế như năng lực sản xuất hàng xuất khẩu, hàng thay thế hàng nhập khẩu vàthị trường cho hàng xuất khẩu
b) Các công cụ của NHTƯ can thiệp vào tỷ giá hối đoái
Các công cụ để NHTƯ có thể sử dụng để điều tiết tỷ giá hối đoái bao gồmcác công cụ trực tiếp và công cụ gián tiếp tác động đến thị trường ngoại hối như :
- Nghiệp vụ thị trường ngoại hối : NHTƯ tiến hành việc mua bán các đồngtiền trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì một tỷ giá hối đoái mong muốn Nếumuốn đồng nội tệ giảm giá, NHTƯ có thể bán đồng nội tệ ra thị trường Đồng nghĩaviệc tăng cung tiền và lượng dự trữ ngoại hối sẽ tăng theo Ngược lại, khi muốnđồng nội tệ tăng giá, NHTƯ sẽ bán ngoại tệ ra để mua đồng nội tệ vào Để có thểcan thiệp được vào tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối thì NHTƯ cần có mộtlượng dự trữ ngoại hối đủ lớn, khả năng can thiệp của NHTƯ tỷ lệ thuận với quy
mô dự trữ ngoại hối của nó Sự can thiệp này cần phải tuân theo các quy luật kinh tếcủa thị trường, định hướng phát triển trong tương lai của nền kinh tế, thị trường tiền
tệ và giá cả của mỗi quốc gia
- Điều chỉnh lãi suất: khi sử dụng công cụ lãi suất, NHTƯ mong muốn tao
ra sự thay đổi tức thời về tỷ giá hối đoái Khi lãi suất trong nước thay đổi sẽ làmthay đổi tỷ suất sinh lời của các tài sản bằng nội tệ và ngoại tệ, dẫn đến sự thay đổidòng vốn đầu tư quốc tế Chắc chắn, các nhà đầu tư sẽ chọn cho mình đồng tiền cólãi suất cao hơn Khi đó, cung cầu về tài sản bằng nội tệ và ngoại tệ sẽ thay đổi đưađến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái Ví dụ, với giả định các yếu tổ khác không đổi,khi NHTƯ tăng lãi suất, dòng vốn ngắn hạn trên thị trường tài chính quốc tế sẽ đổvào trong nước, các thành phần giữ ngoại tệ trong nước cũng sẽ chuyển sang giữnội tệ để hưởng mức lãi suất cao hơn, điều này sẽ làm cho đồng nội tệ tăng giá hay
tỷ giá hối đoái giảm Ngược lại, khi NHTƯ giảm lãi suất thì tỷ giá hối đoái sẽ tăng
Do lãi suất là một công cụ rất nhạy cảm và không thể thay đổi liên tục, nên trongTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 29trường hợp có những dự kiến sai về chiều hướng diễn biến của tỷ giá hối đoái thìcông cụ này sẽ gây tác động xấu đến nền kinh tế.
- Biên độ giao động của tỷ giá hối đoái: cùng với việc công bố tỷ giá hốiđoái chính thưc, NHTƯ có thể áp dụng một biên độ giao động cho từng thời kỳ, chophép tỷ giá hối đoái trên thị trường liên ngân hàng cũng như tỷ giá hối đoái giaodịch giữa ngân hàng và khách hàng giao động trong phạm vi biên độ đó Khi NHTƯ
áp dụng một mức biên độ hẹp, điều này cho thấy nền kinh tế đang trong tình trạngcăng thẳng về cung cầu ngoại tệ và NHTƯ cần giám sát chặt chẽ hoạt động của thịtrường ngoại hối Việc nới lỏng biên độ giao động diễn ra khi thị trường trở nên ổnđịnh, hoặc lượng dự trữ ngoại hối của quốc gia đó đủ mạnh
- Biện pháp phá giá nội tệ: phá giá là khi NHTƯ làm giảm giá trị của đồngnội tệ nhằm mục tiêu cải thiện cán cân vãng lai Cũng có quan điểm cho rằng, phágiá là sự giảm đột ngột giá trị của một đồng tiền so với vàng hoặc với đồng tiền củaquốc gia khác Trên thế giới, hiện nay, chưa đưa ra một mức cụ thể để làm ranh giớigiữa phá giá và điều chỉnh giảm giá tiền tệ Khác với điều chỉnh tỷ giá hối đoái, phágiá tiền tệ là một biện pháp mạnh mang tính cực đoan và thường được sử dụngtrong trường hợp đặc biệt Tác dụng trực tiếp của phá giá tiền tệ là cải thiện tìnhhình thâm hụt của cán cân thương mại Tuy nhiên, việc có cải thiện được thâm hụtcán cân thương mại hay không còn phụ thuộc thêm vào một số yếu tố khác Phá giá
sẽ gây ra bất lợi cho những người nắm giữ nội tệ và có lợi cho những người nắmgiữ ngoại tệ Đối với những quốc gia có tình trạng đôla hóa cao sẽ làm cho tìnhtrạng đôla hóa thêm trầm trọng Vì vậy, khi đưa ra quyết định phá giá đồng nội tệ,NHTƯ cần phải xem xét một cách đầy đủ và toàn diện các yếu tố liên quan nhưmức độ ổn định của nền kinh tế, các hoạt động xuất nhập khẩu, niềm tin của dânchúng vào đồng nội tệ, diễn biến tâm lý xã hội khi có tuyên bố phá giá
- Biện pháp nâng giá nội tệ: khi NHTƯ tác động vào tỷ giá hối đoái chínhthức nhằm làm tăng giá trị của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ Một quốc gia cầnnâng giá đồng nội tệ khi cán cân thương mại thăng dư và chịu áp lực từ các đối tácthương mại có cán cân thâm hụt, hạn chế đồng ngoại tệ bị mất giá chảy vào nướcTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 30mình, hạ nhiệt nền kinh tế đang tăng trưởng nóng (khuyến khích nhập khẩu, hạn chếxuất khẩu) Các quốc gia thường không muốn nâng giá đồng nội tệ, nếu không bị épbuộc phải nâng giá nội tệ từ các áp lực bên ngoài.
- Sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối: đây được coi là biện pháp cuối cùng màNHTƯ phải sử dụng đến nhằm ngăn ngừa sự mất cân đối trong cung và cầu ngoại tệtrên thị trường Vì vậy, nếu lượng dự trữ ngoại hối của một quốc gia tương đốimỏng, thì việc bảo vệ giá trị đồng nội tệ sẽ rất khó khăn dưới áp lực của các lực tácđộng từ thị trường, điển hình là từ các nhà đầu cơ, đầu tư với khối lượng lớn Sửdụng dự trữ ngoại hối để can thiệp trong điều kiện bình thường là không cần thiết vàkhông hiệu quả Do đó, các NHTƯ ngày nay rất hạn chế sử dụng biện pháp canthiệp trực tiếp này Các nền kinh tế thuộc Châu Á có xu hướng duy trì lượng dự trữngoại hối cao hơn so với các quốc gia Mỹ La tinh
1.1.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái
Trên lý thuyết, khi giữ tỷ giá ổn định thì các nhà hoạch định chính sách sẽtăng cường được lòng tin của công chúng vào đồng nội tệ, đặc biệt các quốc gia cómức độ ‘đô la hóa’ cao trong hệ thống tài chính
Trong vòng xoáy lạm phát và tỷ giá hối đoái, câu hỏi đặt ra là chỉ số nào lànguyên nhân và chỉ số nào là kết quả Để trả lời được câu hỏi này cần xác định đượcnhững nhân tố gây ra lạm phát và những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái Một
số tác giả trong bài nghiên cứu của mình cho rằng ổn định tỷ giá hối đoái để kiểmsoát lạm phát Tuy nhiên, một trong số các nhân tố ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ lạm phátchính là tỷ giá hối đoái, đặc biệt như điều kiện nền kinh tế Việt Nam Ví dụ, khiChính sách VND yếu mặc dù có thể thúc đẩy xuất khẩu nhưng đồng thời lại gópphần gây nên “lạm phát chi phí đẩy” vào Việt Nam Sản xuất tại Việt Nam hiện nayphụ thuộc rất lớn vào các nguyên vật liệu nhập khẩu như xăng dầu, xi măng, sắtthép, máy móc…Sự lên giá của USD trên thế giới hay nói cách khác là sự tăng giáthành của các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu cho sản xuất tính bằng VND là nguyênnhân chủ yếu dẫn đến chi phí sản xuất trong nước tăng, kéo theo giá cả hàng hóaTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 31Những nhân tố ảnh hưởng đến cả hai biến số tỷ giá hối đoái và lạm phát nhưnguyên vật liệu, lãi suất và lượng dự trữ ngoại hối.
Nguyên vật liệu, lãi suất sẽ tác động đến giá sản xuất của các loại hàng hóa
và dịch vụ trong nền kinh tế Khi giá của các nhân tố đầu vào này tăng sẽ làm chomức giá chung của toàn bộ nền kinh tế tăng theo, điều này sẽ dẫn đến lạm phát tăng.Đồng thời, điều này cũng sẽ làm cho xuất khẩu giảm, do hàng hóa sản xuất trongnước trở nên đắt hơn, dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh bằng giá Nếu điều này xảy
ra, thì nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu hàng hóa sẽ giảm, ảnh hưỡng đến nguồncung ngoại tệ trên thị trường ngoại hối có thể mô tả hiện tượng trên thông qua sơ
đồ hình 1.1 sau
Hình 1.1 : Tương tác giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát
Tỷ giá hối đoái
Hàng hóa, nguyênvật liệu nhập khẩu
Giá hàng hóatrong nước
Cầu hàng hóaxuất khẩu
Chi phí sản xuất
Giá hàng hóa thay
thế
Lạm phátTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 32Từ sơ đồ trong hình 1.1 có thể thấy, khi tỷ giá hối đoái tăng vì một nguyênnhân nhất định sẽ dẫn đến làm tăng giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu nhập khẩucũng tăng theo khi đổi ra đồng nội tệ Kết quả của hiện tượng này là mức giá chungcủa hàng hóa trong nước sẽ tăng.
Đồng thời khi tỷ giá hối đoái tăng, cũng làm cho giá hàng hóa xuất khẩu rẻ đitương đối và cầu hàng hóa xuất khẩu tăng lên Nếu các nhà sản xuất ưu tiên xuấtkhẩu thay vì bán trong nước, thì sẽ dẫn đến thiếu hụt cầu và cầu hàng hóa thay thếcho số hàng đã được xuất khẩu tăng lên Điều này đưa đến mức giá chung trong nềnkinh tế tăng lên
Ở chiều ngược lại, khi có sự thay đổi trong tỷ lệ lạm phát sẽ tác động đến cáchoạt động thương mại Theo cơ chế truyền dẫn, những hoạt động thương mại này sẽtác động đến cung tiền và cầu tiền, tiếp theo hai nhân tố này sẽ tác động đến tỷ giáhối đoái
1.2 Cơ sở thực tiễn 1.2.1 Thực tiển nghiên cứu mối quan hệ lạm phát và tỷ giá hối đoái ở nước ngoài
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà kinh tế học trên thế giới đã nghiêncứu về mối quan hệ giữa hai biến số lạm phát và TGHĐ Tuy nhiên, do đặc thù kinh
tế, chính trị và văn hóa xã hội của mỗi quốc gia khác nhau, nên tại mỗi thời điểmdiễn biến của lạm phát và TGHĐ tại các quốc gia cũng khác nhau Do đó, cácnghiên cứu về lạm phát và TGHĐ bằng phương pháp định tính, định lượng hay kếthợp cả hai phương pháp về các biến số vĩ mô trong mỗi nền kinh tế luôn luôn là cầnthiết đối với mỗi quốc gia
Horska (2004) trong công trình nghiên cứu của mình đã tổng hợp mối quan
hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái theo cách tổng hợp các nhân tố như trong sơ đồdưới
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 33Hình 1.2 : Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái
Lạm phát sẽ tác động đến tiền lương thực tế và lãi suất, trong khi hai nhân tốnày lai tác động đến giá sản xuất chung của nền kinh tế Ngoài ra, lãi suất cũng lạitác động đến tỷ giá hối đoái, vì sự chênh lệch lãi suất giữa các quốc gia sẽ dẫn đến
sự thay đổi của dòng vồn quốc tế Điều này sẽ dẫn đến sự thay đổi về cung và cầungoại tệ trên thị trường ngoại hối
Có thể thấy được mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái là mối quan
hệ tác động hai chiều với nhau Đây cũng là điền hình của mối quan hệ giữa cácbiến số vĩ mô trong nền kinh tế Chính vì vậy khi lựa chọn công cụ để nghiên cứumối quan hệ giữa hai đại lượng này luận văn sẽ phải chú ý đến đặc điểm đã nêutrên
Tỷ giá
Giá hàngNK
Lương Cung tiền Lãi suất Giá sản
xuất
Lạm phátTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 34Nghiên cứu của Kara, Nelson (2002) “The Exchange rate and Inflation in theUK” đã đưa ra công thức:
Trong đó: Pt là chỉ số giá tiêu dùng tại quý t, là chỉ số giá của hàng hóađược sản xuất và tiêu thụ trong nước tại quý t; là chỉ số giá hàng nhập khẩu tạiquý t; = (1 − ) là tỷ trọng hàng hóa sản xuất trong nước có trong CPI và sM
là tỷ trọng hàng nhập khẩu từ phương trình 1 có thể chuyển tương đương theo phầntrăm về Phương trình dưới đây:
= (1 − ) + Trong đó là lạm phát trong nước tại quý t, còn là lạm phát thế giớicũng trong quý t
Theo như lý thuyết ngang giá sức mua hay quy luật một giá, nếu tất cả hànghóa trong nước đều có thể tham gia thương mại được, thì sẽ có sự cân bằng giữa chỉ
số giá trong nước và chỉ số giá thế giới thông qua sự điều chỉnh tỷ giá hối đoái, từ
đó phương trình thức ba thể hiện như sau:
= + ∆
Trong đó As tlà sự thay đổi của tỷ giá hối đoái danh nghĩa được tính theo quý
t Cần chú ý, trong phương trình 3 tác giả đã coi chỉ số giá hàng nhập khẩu thể hiện
sự biến động của chỉ số giá chung trên thế giới Nếu lạm phát trong nước cao hơnlạm phát của thế giới thì tỷ giá sẽ tự điều chỉnh để phương trình 3 luôn ở trạng tháicần bằng Kết quả nghiên cứu này cũng tương tự như kết quả trong nghiên cứu củaThygesen (1977) đưa ra là sự biến động của tỷ giá hối đoái gần bằng sự chênh lệch
về lạm phát giữa các quốc gia trong liên minh Châu Âu Tuy nhiên lý thuyết này cómột số giả định không thực tế, đó là bỏ qua các tác động của chi phí vận chuyển vàthuế quan
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 351.2.2 Thực tiển nghiên cứu mối quan hệ lạm phát và tỷ giá hối đoái ở trong nước
Song hành với những nghiên cứu về lạm phát và tỷ giá hối đoái trên thế giới,các tổ chức nghiên cứu kinh tế, các trường đại học và các nhà kinh tế tại Việt Namcũng tiến hành những nghiên cứu về lạm phát và tỷ giá hối đoái tại Việt Nam trongmỗi giai đoạn khác nhau
Có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình sau, Lê Thị Tuấn Nghĩa (2004)công bố công trình nghiên cứu “Hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá nhằm nâng caohiệu quả chính sách tiền tệ tại Việt Nam” Nghiên cứu này tập trung vào phân tíchcác công cụ của chính sách tiền tệ như nghiệp vụ thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắtbuộc, lãi suất, tỷ giá hối đoái Tác giả tập trung vào hai nội dung phân tích là cơ chếđiều hành tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ tại Việt Nam Trong nghiên cứu, tácgiả đã dựa vào kinh nghiệm tại Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc để dẫn chứng cho việc
áp dụng các công cụ của chính sách tiền tệ tại Việt Nam
Năm 2011, Le Viet Trung, Nguyen Thị Thuy Vinh đưa ra nghiên cứu “Theimpact of oil prices, real effective exchange rate and inflation on economic activity:Novel evidence for Viet Nam” Nghiên cứu đã sử dụng số liệu vĩ mô trong giaiđoạn từ năm 1995 đến năm 2009 để đưa vào mô hình VAR nhằm kiểm định mốiquan hệ giữa giá dầu, lạm phát và tỷ giá hối đoái tại Việt Nam trong giai đoạn này.Nghiên cứu đã khẳng định có mối liên hệ trong dài hạn giữa các biến số vĩ mô này
Có thể thấy, tính đến thời điểm hiện tại đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
về lạm phát và tỷ giá hối đoái với các biến số vĩ mô khác trên thế giới và tại ViệtNam, tại những thời điểm khác nhau bằng các phương pháp nghiên cứu khác nhau.Tuy nhiên, do đặc thù kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội của mỗi quốc gia khácnhau, nên tại mỗi thời điểm diễn biến của lạm phát và tỷ giá tại các quốc gia nàycũng khác nhau Do đó, các nghiên cứu bằng phương pháp định tính, định lượnghay kết hợp cả hai phương pháp về các biến số vĩ mô trong mỗi nền kinh tế luônluôn là cần thiết đối với mỗi quốc gia . Tại Việt Nam, sau năm 1986, nền kinh tếViệt Nam được xây dựng theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 36nghĩa Trong đó, Nhà nước giữ vai trò điều tiết nền kinh tế thông qua các quyết định
về định hướng phát triển kinh tế, chính trị và xã hội Hiện nay, Ngân hàng Nhànước vẫn giữ vai trò điều tiết tỷ giá hối đoái, giá xăng dầu vẫn được Chính phủkiểm soát nhằm mục đích giữ ổn định nền kinh tế Đây là đặc điểm khác với cácquốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Trong khoản thời gian từ năm 2009đến năm 2015, nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới
1.3 Mô hình sử dụng nghiên cứu 1.3.1 Khái quát mô hình tự hồi quy véc tơ tự hồi quy VAR
Để xác định sự tác động qua lại của các nhân tố vĩ mô: lạm phát và tỷ giá hốiđoái, luận văn sẽ sử dụng mô hình véc tơ tự hồi quy – VAR – kiểm định mối quan
hệ giữa hai nhân tố trên Mô hình véc tơ tự hồi quy cho phép kiểm định tác độngcủa các biến độc lập đến biến phụ thuộc, mô hình này được hồi quy phụ thuộctương ứng vào giá trị quá khứ của từng biến Về bản chất VAR thật ra là sự liên kếtcủa hai phương pháp: tự hồi quy đơn chiều (univaraite autoregression – AR) và hệphương trình ngẫu nhiên (simultaneous equations – SEs) VAR hay ở chổ nó lấy ưuđiểm của AR là rất dễ ước lượng bằng phương pháp tối thiểu hóa phần dư (OLS) nólấy ưu điểm của SEs là ước lượng nhiều biến trong cùng một hệ thống Và đồngthời nó khắc phục nhược điểm của SEs là nó không cần quan tâm đến tính nội sinhcủa biến kinh tế (endogeneity) Tức là các biến kinh tế vĩ mô thường mang tính nộisinh khi chúng tác động qua lại lẫn nhau Thuộc tính này làm cho phương pháp cổđiển hồi quy bội dùng một phương trình hồi quy nhiều khi bị sai lệch khi ước lượng.Đây là những lý do cơ bản khiến VAR trở nên phổ biến trong nghiên cứu kinh tế vĩmô
1.3.1.1 Khái niệm
Mô hình VAR xem xét mối quan hệ giữa những chuỗi thời gian khác nhau,
là mô hình hệ phương trình tự hồi quy rất đặc thù Tính đặc thù thể hiện ở chổ:
+ Tất cả những biến trong mô hình đều là biến nội sinh+ Những phương trình trong hệ sử dụng các biến độc lập giống nhauTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 37+ Biến độc lập là biến nội sinh ở các thời kỳ trễ
Mô hình VAR về cấu trúc gồm nhiều phương trình ( mô hình hệ phươngtrình) và có các độ trể của các biến số (autoregresion) Ta xét hai chuổi thời gian Y1
và Y2 Mô hình VAR tổng quát đối với Y1và Y2có dạng sau đây
Trong mô hình trên, mỗi phương trình đều chứa p trễ của mỗi biến với haibiến, mô hình có 22p hệ số góc và 2 hệ số chặn Vậy trong trường hợp tổng quát nếu
mô hình có k biến thì sẽ có k2p hệ số góc và k hệ số chặn, khi k càng lớn thì số hệ
số phải ước lượng càng tăng Điều này đòi hỏi số quan sát phải nhiều thì kết quảmới có ý nghĩa
1.3.1.2 Một số vấn đề trong xây dựng mô hình VAR
Điều kiện để tồn tại mô hình VAR là các biến theo thời gian phải có tínhdừng – tức là có các giá trị trung bình, phương sai và hiệp phương sai tại cùng một
độ trễ của nó là không đổi theo thời gian
+ Ưu điểm của mô hình VAR:
- Hạn chế của mô hình ARIMA là chỉ tiến hành phân tích trên một chuỗithời gian Khi người ta cần phân tích nhiều chuỗi thời gian khác nhau và cần xemxét mối quan hệ giữa chúng thì mô hình VAR trở thành một lựa chọn phù hợp Môhình VAR giúp xem xét các chuỗi thời gian khác nhau
- Hơn nữa, mô hình VAR còn có ưu điểm là không cần phải xác định biếnnào là biến nội sinh, biến nào là biến ngoại sinh hay ta có thể sử dụng phương phápOLS cho từng phương trình riêng rẽ Bằng cách cho phép các tương tác nội sinhgiữa các biến trong hệ thống
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 38+ Mô hình VAR còn vướng phải một số hạn chế:
- Khi xét đến mô hình VAR ta còn phải xét đến tính dừng của các biếntrong mô hình Yêu cầu đặt ra khi ta ước lượng mô hình VAR là tất cả các biến phảidừng, nếu trong trường hợp các biến này chưa dừng thì ta phải lấy sai phân để đảmbảo chuỗi dừng
- Khó khăn trong việc lựa chọn độ trể thích hợp Giả sử mô hình VAR đangxét có ba biến và mỗi biến sẽ có 5 trễ đưa vào từng phương trình Như xem xét ởtrên thì số hệ số mà người ta phải ước lượng là 32*5 + 3 = 48 Nếu số biến đượctăng lên và số trễ đưa vào mỗi phương trình thì hệ số mà cần phải ước lượng sẽ khálớn
1.3.1.3 Quy trình thực hiện VAR
Khi sử dụng mô hình VAR, luận văn hướng đến mục tiêu là xác định tácđộng của lạm phát đến tỷ giá hối đoái mạnh như thế nào thông qua hệ số trong môhình VAR Để đạt được mục tiêu đó cần tiến hành kiểm định mô hình VAR theotrình tự các bước sau: kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu, tiếp theo xác định độ trểcủa các biến trong mô hình, thứ ba là kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các biến
số, cuối cùng là sử dụng phân rã phương sai và hàm phản ứng đẩy để xác định mức
độ quan hệ giữa các biến trong mô hình
Thứ nhất kiểm tra tính dừng của các chuỗi số liệu được đưa vào mô hình(Unit Root Test) Một vấn đề chung của các biến vĩ mô là thường biến động theothời gian, điều kiện cần để đưa vào mô hình hồi quy là các chuỗi số liệu phải dừng
Do đó, trước hết luận văn phải sử dụng tiêu chuẩn ADF (Augmented Dickey –Fuller) để kiểm tra tính dừng của tất cả các chuỗi số liệu được đưa vào mô hìnhkiểm định Dickey – Fuller đã đưa ra tiêu chuẩn kiểm định của mình dựa trên phân
bố giới hạn, theo phương trình kiểm định sau
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 39Mô hình (2) khác với mô hình (1) là có thêm biến xu hướng về thời gian t.Biến xu hướng là một biến có giá trị từ 1 đến n, trong đó 1 đại diện cho quan sát đầutiên trong dữ liệu và n đại diện cho quan sát cuối cùng trong chuỗi dữ liệu Nhiễutrắng là số hạng chỉ sai số ngẫu nhiên xuất phát từ các giả định cổ điển rằng nó cógiá trị trung bình bằng 0, phương sai là hằng số và không có tự tương quan.
Tiếp theo, do trong mô hình VAR mỗi biến số được giải thích bằng mộtphương trình chứa các giá trị trễ của chính biến số và các giá trị trễ của các biến sốkhác Để tìm được độ trễ p chính xác cho mô hình, người ta thường dùng hai tiêuchuẩn là AIC và SBC theo công thức sau
Thứ ba, kiểm định Granger được dùng để xác định chiều ảnh hưởng cảu cácbiến, cụ thể biến nào là nguyên nhân và biến nào chịu ảnh hưởng Mối quan hệ giữaTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế