Thứ hai sau khi tiến hành chạy mô hình, thu được kết quả như sau: trong ngắn hạn biến động tỷ giá trong quá khứ tác động mạnh nhất, dự trữ ngoại hối và mức tăng trưởng kinh tế giải thíc
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
––––––––––
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VAR TRONG PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ USD/VND
HÀ THỊ NGỌC LAN
Khóa học 2012 – 2016
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
––––––––––
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VAR TRONG PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ USD/VND
VÀ DỰ BÁO TỶ GIÁ USD/VND
Sinh viên thực hiện: Hà Thị Ngọc Lan Lớp: K.46A Tài Chính
Trang 3Lời Cảm Ơn
Để thực hiện tốt khóa luận này, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới Thầy Cô giáo trường Đại học Kinh tế Huế nói chung và toàn thể Thầy Cô giáo khoa Tài Chính – Ngân Hàng nói riêng, đã tận tâm giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Vốn tri thức lý thuyết và thực tế mà tôi đã được truyền đạt trong quá trình học tập là nền tảng cho quá trình nghiên cứu đề tài vừa là hành trang quý giá cho tôi trên những chặng đường tiếp theo Đặc biệt, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến Thạc sĩ Phạm Quốc Khang đã trực tiếp hướng dẫn và đưa ra những lời khuyên giúp tôi thực hiện tốt đề tài khóa luận này
Nhờ sự hướng dẫn và giảng giải tận tình của Thầy, tôi đã có những kiến thức và kinh nghiệm quý giá trong suốt quá trình thực hiện để hoàn thành tốt đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh hỗ trợ và động viên tôi để có thể hoàn thành tốt bài khóa luận của mình
Tôi xin chân thành cám ơn!
Huế, tháng 5 năm 2016 Sinh viên thực hiện
Hà Thị Ngọc LanTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 4Ở chương 2 bài nghiên cứu đã tập trung làm rõ các vấn đề:
Thứ nhất phân tích tình hình diễn biến tỷ giá giai đoạn 2005 – 2015 Sau đó dựa
trên các phân tích lý thuyết ở chương I, tiến hành xây dựng mô hình đinh lượng VAR gồm 6 biến: tỷ giá, chênh lệch lạm phát, chênh lệch lãi suất, tốc độ tăng trưởng GDP, cán cân thanh toán thương mại và dự trữ ngoại hối
Thứ hai sau khi tiến hành chạy mô hình, thu được kết quả như sau: trong ngắn
hạn biến động tỷ giá trong quá khứ tác động mạnh nhất, dự trữ ngoại hối và mức tăng trưởng kinh tế giải thích được một phần biến động của tỷ giá ở hiện tại, còn các nhân tố như chênh lệch lạm phát, chênh lệch lãi suất và cán cân thương mại chưa giải thích tốt
sự biến động của tỷ giá Trong dài hạn, mức độ ảnh hưởng của tỷ giá trong quá khứ giảm nhanh nhưng vẫn giải thích tốt biến động của tỷ giá ở hiện tại, còn các nhân tố còn lại đều ảnh hưởng đến tỷ giá USD/VND trên thị trường ngoại hối Việt Nam
Thứ ba từ mô hình ước lượng được, tiến hành dự báo tỷ giá từ quý I đến quý IV
Trang 5MỤC LỤC
TÓM TẮT KHÓA LUẬN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viii
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Kết cấu khóa luận 3
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ MÔ HÌNH VAR……… 4
1.1 Cơ sở lý thuyết về tỷ giá hối đoái 4
1.1.1 Khái niệm tỷ giá 4
1.1.2 Phương pháp yết tỷ giá 4
1.1.3 Phân loại tỷ giá 5
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 61.1.4 Cách xác định tỷ giá 8
1.1.5 Tác động của tỷ giá hối đoái đối với nền kinh tế 9
1.2 Một số lý thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố vĩ mô… 11
1.2.1 Lý thuyết ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity – PPP) 11
1.2.2 Lý thuyết ngang giá lãi suất (Interest Rate Parity – IRP) 12
1.2.3 Hiệu ứng Fisher quốc tế (International Fisher Effect – IFE) 14
1.2.4 Mô hình tiền tệ giá linh hoạt 14
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái 15
1.3.1 Mức chênh lệch lạm phát giữa các nước 15
1.3.2 Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước 16
1.3.3 Tình hình tăng trưởng hay suy thoái kinh tế 17
1.3.4 Tác động của cán cân thương mại 18
1.3.5 Dự trữ ngoại hối 18
1.3.6 Biến động của tỷ giá trong quá khứ 20
1.4 Cơ sở lý thuyết về phương pháp nghiên cứu 21
1.4.1 Tính dừng 21
1.4.2 Mô hình tự hồi quy vectơ VAR (Vector Autoregression) 23
1.4.3 Kiểm định nhân quả hai biến Granger 24
1.4.4 Hàm phản ứng đẩy (Impulse Response Function – IRF) 26
1.4.5 Phân rã phương sai (Variance Decomposition) 26
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 7CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TỶ GIÁ USD/VND TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005 - 2015 VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH
DỰ BÁO TỶ GIÁ ĐẾN CUỐI NĂM 2016 27
2.1 Vài nét về tình hình diễn biến tỷ giá USD/VND giai đoạn 2005 – 2015…… 27
2.1.1 Giai đoạn 2005 – 2007 28
2.1.2 Giai đoạn 2008 – 2011 28
2.1.3 Giai đoạn 2012 – 2015 31
2.2 Ứng dụng mô hình VAR để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá……… 33
2.2.1 Nguồn dữ liệu 33
2.2.2 Xây dựng mô hình ước lượng 34
2.2.3 Kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu 35
2.2.4 Lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình 36
2.2.5 Uớc lượng mô hình VAR 37
2.2.6 Kiểm tra mối quan hệ dài hạn các biến trong mô hình 39
2.2.7 Phân tích hàm phản ứng đẩy IRF 41
2.2.8 Phân tích phân rã phương sai 43
2.3 Dự báo tỷ giá đến cuối năm 2016 47
2.3.1 Một số dự đoán của chuyên gia về tỷ giá USD/VND trong năm 2016……… 47
2.3.2 Kết quả dự báo tỷ giá đến cuối năm 2016 từ mô hình 49
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 8CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH CHÍNH
SÁCH TỶ GIÁ…… 51
3.1 Kiểm soát lạm phát 51
3.2 Chính sách đối với xuất nhập khẩu 52
3.3 Dự trữ ngoại hối 53
3.4 Một số giải pháp khác 53
PHẦN III: KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 63
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 9DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Việt Tiếng Anh
TGHĐ Tỷ giá hối đoái
NHTW Ngân hàng Trung Ương
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà nước
CCTTQT Cán cân thanh toán quốc tế
TGBQLNH Tỷ giá bình quân liên ngân hàng
Vietnam
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Cách xác định tỷ giá 8
Hình 1.2: Tác động của lạm phát đến tỷ giá 16
Hình 2.1: Diễn biến tỷ giá giai đoạn từ năm 2005 – 2015 27
Hình 2.2: Tính ổn định của mô hình với độ trễ là 3 39
Hình 2.3: Kết quả hàm phản ứng đẩy 42
Hình 2.4: Kết quả phân rã phương sai 44
Hình 2.5: So sánh kết quả dự báo 50
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp các biến sử dụng trong mô hình 34
Bảng 2.2: Kết quả kiểm định Unit Root Test – ADF cho các chuỗi dữ liệu 35
Bảng 2.3: Lựa chọn độ trễ tối ưu 36
Bảng 2.4: Kết quả ước lượng mô hình 37
Bảng 2.5: Tổng hợp mối quan hệ nhân quả Granger của các biến đến tỷ giá 40
Bảng 2.6: Kết quả dự báo tỷ giá 50
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 12PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Chính sách tỷ giá hối đoái là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia, đặc biệt trong quản lý nền kinh tế một cách hợp lý và có hiệu quả Bên cạnh đó, tỷ giá luôn là vấn đề thời sự, rất nhạy cảm khi mà các hoạt động thương mại quốc tế ngày càng phát triển ở hầu khắp các quốc gia
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu năm 2008, nền kinh tế thế giới chưa lấy lại được đà tăng trưởng và vẫn đang trên đà phục hồi một cách chậm chạp Mà hiện nay, khi các nước châu Á có nhiều bước tiến trong tăng trưởng kinh tế thì các nước phát triển như khu vực EU, Nga đang xuất hiện những dấu hiệu suy thoái Giá cả hàng hóa có xu hướng giảm nhanh, ảnh hưởng đến các nước xuất khẩu Sự bất ổn của thị trường tài chính toàn cầu với việc giảm giá đồng Nhân dân tệ và tăng trưởng sụt giảm của kinh tế Trung Quốc đã tác động mạnh tới kinh tế thế giới.Bối cảnh nền kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp Hơn nữa, xung đột mâu thuẫn xảy ra ở nhiều nơi đặc biệt là sự gia tăng căng thẳng trên biển Đông đã tác động mạnh mẽ đến thị trường ngoại hối quốc tế cũng như Việt Nam
Ở Việt Nam, Chính phủ đã điều hành khéo léo chính sách tiền tệ và tài khóa giúp Việt Nam từng bước thoát khỏi tác động của khủng hoảng, bình ổn kinh tế và duy trì tăng trưởng Tuy khủng hoảng đã qua nhưng thách thức vẫn còn
Vấn đề cấp thiết được đặt ra là cần có một cái nhìn toàn diện về các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái cũng như mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó tới tỷ giá, từ đó có thể tiến hành dự báo, thông qua đó NHTW có thể linh hoạt sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ cũng như các giải pháp cần thiết để ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 13Trên cơ sở đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Ứng dụng mô hình VAR trong phân tích
nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá USD/VND và dự báo tỷ giá USD/VND” làm khóa luận
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến biến động tỷ giá USD/VND
Phạm vi nghiên cứu:
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu giáo trình, bài báo, luận văn…
để làm cơ sở cho khóa luận Từ đó để phân tích lý thuyết, các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 14 Phương pháp thu thập số liệu: số liệu được thu thập từ các trang web đáng
tin cậy như Tổng cục thống kê Việt Nam, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF…
hơn tình hình diễn biến tỷ giá trong thời gian qua
tiến hành tổng hợp lại những thông tin cần thiết để phân tích và dự báo
động của các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá và dự báo tỷ giá
1.5 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục sơ đồ, đồ thị, bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của khóa luận bao gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tỷ giá hối đoái và mô hình VAR
Chương 2: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá USD/VND tại Việt Nam và xây dựng mô hình dự báo tỷ giá
Chương 3: Khuyến nghị trong việc điều hành chính sách tỷ giá
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 15PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ
MÔ HÌNH VAR 1.1 Cơ sở lý thuyết về tỷ giá hối đoái
1.1.1 Khái niệm tỷ giá
Nguyễn Văn Tiến (2009): Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng
Thương mại, đầu tư và các quan hệ tài chính quốc tế… đòi hỏi các quốc gia phải thanh toán với nhau Thanh toán giữa các quốc gia dẫn đến việc mua bán các đồng tiền khác nhau, đồng tiền này lấy đồng tiền kia Hai đồng tiền được mua bán với nhau theo một tỷ
lệ nhất định, tỷ lệ này gọi là tỷ giá Vậy, chúng ta có thể định nghĩa: “Tỷ giá là giá cả
của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác”
1.1.2 Phương pháp yết tỷ giá
1.1.2.1 Đồng tiền yết giá, đồng tiền định giá
Trong tỷ giá có 2 đồng tiền, một đồng tiền đóng vai trò đồng tiền yết giá, còn đồng kia đóng vai trò đồng tiền định giá
Đồng tiền yết giá (Commodity Currency): là đồng tiền có số đơn vị cố định bằng
1 đơn vị
Đồng tiền định giá (Term Currency): là đồng tiền có số đơn vị thay đổi, phụ thuộc
vào quan hệ cung cầu trên thị trường
1.1.2.2 Phương pháp yết tỷ giá
Nguyễn Văn Tiến (2009): Trên thế giới có rất nhiều đồng tiền khác nhau Chúng
đều là tiền, nhưng xét từ giác độ một quốc gia, thì chỉ có nội tệ mới đóng vai trò là tiền tệ; còn các đồng tiền khác là ngoại tệ, đóng vai trò là hàng hóa (ta gọi là hàng hóa đặc biệt) Vì ngoại tệ đóng vai trò là hàng hóa trong mối quan hệ với nội tệ, do đó yết giá
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 16ngoại tệ (yết tỷ giá) không khác gì yết giá hàng hóa thông thường Từ góc độ quốc gia,
ta có hai phương pháp yết tỷ giá là: yết giá trực tiếp và yết giá gián tiếp
Yết tỷ giá trực tiếp (Direct Quotation)
Là phương pháp biểu thị một đơn vị ngoại tệ bằng bao nhiêu đơn vị nội tệ Tức là ngoại tệ là đồng tiền yết giá, nội tệ là đồng tiền định giá Đa số các quốc gia trên thế giới
áp dụng phương pháp trực tiếp, trong đó có Việt Nam
Yết giá gián tiếp (Indirect Quotation)
Là phương pháp biểu thị một đơn vị nội tệ bằng bao nhiêu đơn vị tiền ngoại tệ Tức
là nội tệ là đồng tiền yết giá, còn ngoại tệ là đồng tiền định giá Hiện nay trên thế giới chỉ có 5 đồng tiền dùng phương pháp yết giá gián tiếp gồm GBP, AUD, NZD, EUR và SDR (quyền rút vốn đặc biệt) USD yết giá gián tiếp với mọi loại tiền trừ 5 đồng tiền trên
1.1.3 Phân loại tỷ giá
Theo Lê Ngọc Quỳnh Anh (2014): Dựa theo các tiêu chí khác nhau mà người ta
chia TGHĐ thành nhiều loại khác nhau Sau đây là một số tiêu chí phân loại TGHĐ thường gặp:
1.1.3.1 Căn cứ vào vào phương tiện chuyển ngoại hối
Tỷ giá điện hối – Mail transfer rate: là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện Đây là
tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác
Tỷ giá thư hối – Telegraphic transfer rate: là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư
1.1.3.2 Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế
Tỷ giá Séc – Cheque rate: là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán các loại séc ngoại tệ
Tùy thuộc vào loại séc, có tỷ giá séc trả ngay và tỷ giá séc có kỳ hạn
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 17Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay – Draft rate: là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán
các loại hối phiếu trả tiền ngay bằng ngoại tệ
Tỷ giá hối phiếu có kỳ hạn: là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán các loại hối phiếu
có kỳ hạn bằng ngoại tệ
Tỷ giá chuyển khoản – Transfer rate: là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán ngoại
hối mà việc chuyển trả ngoại hối được thực hiện bằng cách chuyển khoản qua ngân hàng
Tỷ giá tiền mặt – Cash rate: là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán ngoại hối được
thanh toán bằng tiền mặt
1.1.3.3 Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối
Tỷ giá mở cửa – Opening rate: là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên
trong ngày
Tỷ giá đóng cửa – Closing Rate: là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng cuối cùng được
giao dịch trong ngày
Tỷ giá giao ngay – Spot rate: là tỷ giá được thỏa thuận vào ngày hôm nay và việc
thanh toán sẽ xảy ra trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo
Tỷ giá kỳ hạn – Forward rate: là tỷ giá được thỏa thuận vào ngày hôm nay nhưng
việc giao nhận sẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp đồng
1.1.3.4 Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối
Tỷ giá mua vào – Bid Rate: là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào
đồng tiền yết giá
Tỷ giá bán ra – Ask (or Offer) Rate: là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng
bán ra đồng tiền yết giá
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 181.1.3.5 Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối
TGHĐ cố định: là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ dao động
nhất định Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định, NHTW phải thường xuyên can thiệp làm cho dự trữ ngoại hối quốc gia thay đổi
TGHĐ thả nổi tự do: là tỷ giá được hình thành tự phát trên thị trường do quan hệ
cung cầu ngoại hối quy định, không có sự can thiệp của NHTW
TGHĐ thả nổi có quản lý: là tỷ giá được hình thành tự phát trên thị trường nhưng
có sự can thiệp của NHTW, thông qua việc mua bán các đồng tiền để can thiệp vào mức cung cầu ngoại hối
1.1.3.6 Căn cứ vào mối quan hệ với lạm phát
Tỷ giá danh nghĩa song phương – Bilateral normial exchange rate – NER: là
giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng
Tỷ giá danh nghĩa đa phương – Norminal effective exchange rate – NEER: phản
ánh sự thay đổi giá trị của một đồng tiền đối với tất cả các đồng tiền còn lại (hay một rổ các đồng tiền đặc trưng) và được biểu hiện dưới dạng chỉ số Vì vậy, về tổng thể, NEER được sử dụng để xem xét như là một đồng tiền mạnh hay yếu
Tỷ giá thực song phương – Bilateral real exchange rate – RER: là tỷ giá được
xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát giữa trong nước và nước ngoài, do đó, nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ
Tỷ giá thực đa phương – Real effective exchange rate – REER: bằng tỷ giá danh
nghĩa đa phương (NEER) đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát trong nước với tất cả các nước còn lại, do đó REER phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền trong rổ Vì thể hiện tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền trong
rổ nên REER phản ánh vị thể tổng hợp về sức cạnh tranh thương mại của một nước so
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 19với tất cả các nước còn lại Do vậy nên các nước hiện nay đều tính toán và công bố REER hàng năm
1.1.4 Cách xác định tỷ giá
Tỷ giá được hình thành dựa trên sức mua của các đồng tiền, hay còn gọi là ngang giá sức mua Do đồng tiền của một nước được trao đổi với đồng tiền của nước khác trên thị trường ngoại hối nên xuất hiện cầu về ngoại tệ hay là cung về nội tệ, hoặc cung về ngoại tệ hay cầu nội tệ Vì vậy, khi xác định tỷ giá giữa ngoại tệ và nội tệ ta có thể xem xét hoặc là cầu và cung về ngoại tệ hoặc là cung và cầu về nội tệ
Ta sẽ xem xét cách xác định TGHĐ của USD tính theo số VND dựa trên cầu và cung
về USD
Cung về USD bắt nguồn từ các giao dịch quốc tế trong nền kinh tế tạo ra thu nhập
về USD Nguồn cung quan trọng về USD trên thị trường ngoại hối là người nước ngoài
có nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam nhưng hiện tại không có VND
Cầu về USD trên thị trường bắt nguồn từ các giao dịch quốc tế Ngược với cung về USD, người dân Việt Nam có nhu cầu mua hàng nước ngoài sẽ có cung nội tệ để chuyển đổi sang USD
Trang 20Khi đường cung S gặp đường cầu D cũng chính là cầu và cung ngoại tệ trên thị trường đạt trạng thái cân bằng Khi đó sẽ ứng với một lượng ngoại tệ USD nhất định là
Q0 và xuất hiện TGHĐ cân bằng là E0 E0 chính là TGHĐ ứng với lượng cung và cầu ngoại tệ nhất định trên thị trường
Trên thực tế, E0 không phải là bao giờ cũng cố định Phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau E0 có thể thay đổi
1.1.5 Tác động của tỷ giá hối đoái đối với nền kinh tế
TGHĐ giữ một vai trò đặc biệt quan trọng đối với mọi nền kinh tế Nó có thể làm tăng, giảm, mở rộng hay thu hẹp các hoạt động kinh tế đối ngoại, trước hết là các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ Qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế như trạng thái cân bằng của cán cân thanh toán, mức độ ổn định của lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế, việc làm…
1.1.5.1 Tác động tới cán cân thương mại quốc tế
Diễn biến tăng, giảm của TGHĐ có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu thông qua giá cả Khi TGHĐ thay đổi kéo theo sự thay đổi của giá hàng xuất nhập khẩu và khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường quốc tế Chính vì thế, tỷ giá là một công cụ vĩ mô chủ yếu để điều tiết cán cân thương mại quốc tế theo một mục tiêu đã định trước của một quốc gia
Khi tỷ giá tăng, có nghĩa là đồng nội tệ mất giá, thì giá hàng hóa dịch vụ trong nước
sẽ giảm đi tương đối so với nước ngoài Dẫn đến cầu về xuất khẩu hàng hóa dịch vụ tăng lên, cầu về hàng hóa nước ngoài giảm xuống, giúp cho cán cân thương mại thặng dư Ngược lại, khi tỷ giá giảm, tức là đồng nội tệ lên giá so với ngoại tệ, thì giá hàng hóa trong nước sẽ đắt hơn tương đối so với nước ngoài Dẫn đến hạn chế xuất khẩu, tăng nhập khẩu, làm cho cán cân thương mại bị thâm hụt Tuy nhiên, đây là cơ hội cho các nhà nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu nguyên liệu, máy móc để phục vụ cho nhu cầu sản xuất trong nước
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 211.1.5.2 Tác động đến lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế việc làm
Khi tỷ giá tăng, nội tệ mất giá, hàng trong nước sẽ rẻ hơn so với hàng xuất khẩu nên xuất khẩu tăng lên Từ đó, làm cho sản xuất trong nền kinh tế tăng trưởng theo tạo nhiều công ăn việc làm cho nền kinh tế, từ đó nền kinh tế cũng tăng trưởng Tuy nhiên, do nội
tệ mất giá làm cho hàng hóa nhập về giá cả sẽ cao hơn làm cho giá thành sản xuất cũng tăng theo Tác động này gây sức ép lên lạm phát làm cho lạm phát trong nước tăng lên Ngược lại, khi tỷ giá giảm, nội tệ lên giá, hàng hóa nhập khẩu trở nên rẻ hơn, từ đó lạm phát trong nước sẽ giảm Nhưng bên cạnh đó, khi nội tệ lên giá sẽ làm cho hoạt động xuất khẩu sẽ gặp khó khăn, từ đó thu hẹp sản xuất, thất nghiệp tăng lên Tác động xấu đối với nền kinh tế
1.1.5.3 Tác động đến hoạt động đầu tư và tín dụng quốc tế
Đầu tư quốc tế
Đối với hoạt động đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI): TGHĐ tác động tới giá trị phần vốn mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư hoặc góp vốn kinh doanh tính theo đồng tiền của nước ngoài đầu tư Bên cạnh đó, tỷ giá còn tác động tới khoản lợi nhuận chuyển ra nước ngoài của nhà đầu tư và quá trình sản xuất kinh doanh của họ Vì vậy, những biến động của TGHĐ sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư từ phía đối tác nước ngoài
Đối với đầu tư gián tiếp: Đây là loại hình đầu tư vào lĩnh vực mua bán, kinh doanh các loại chứng khoán Khi TGHĐ thay đổi nó sẽ tác động lên giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường Chẳng hạn, khi TGHĐ tăng lên, các nhà đầu tư sẽ đổ dồn vào mua các loại chứng khoán niêm yết bằng đồng tiền lên giá đó để những biến động của tỷ giá
ít ảnh hưởng đến quyền lợi của họ Ngược lại, khi tỷ giá của một đồng tiền giảm, hay đồng tiền đó mất giá, các chủ đầu tư sẽ bán tháo các chứng khoán niêm yết bằng đồng tiền xuống giá để chuyển sang các loại hình đầu tư khác Nếu điều này xảy ra, nó sẽ tác động tiêu cực không nhỏ đến nền kinh tế, đặc biệt là với các nước có thị trường chứng khoán phát triển
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 22 Tín dụng quốc tế
Đối với người nước ngoài cho vay bằng ngoại tệ, TGHĐ giảm sẽ làm giảm giá trị khoản tiền cho vay và khoản lãi thu về so với mức họ được hưởng nếu tỷ giá không biến đổi Ngược lại, khi tỷ giá tăng, ngươi cho vay sẽ thu được lợi từ gia tăng giá trị khoản vốn cho vay và tiền lãi thu được
Đối với người đi vay, khi tỷ giá tăng lên thì giá trị khoản vay và lãi phải trả tính theo đồng nội tệ tăng lên tương đương Trong trường hợp này, họ thường có xu hướng muốn chuyển các tài khoản ở ngân hàng của họ sang tài khoản ngoại tệ lên giá để bảo toàn lượng tiền có được trước những biến động của tỷ giá Nếu điều này xảy ra thì cầu ngoại
tệ tiếp tục tăng lên đẩy tỷ giá tiếp tục lên cao
1.2 Một số lý thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố vĩ mô
1.2.1 Lý thuyết ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity – PPP)
1.2.1.1 Ngang giá sức mua tuyệt đối
Nguyễn Văn Tiến (2009): Theo thuyết ngang giá sức mua, tỷ giá của hai đồng tiền
là tỷ lệ so sánh giá cả của rổ hàng hoá chuẩn tại hai quốc gia Cách tính này được thể hiện dưới dạng công thức như sau:
𝑃∗
Trong đó:
- S: Tỷ giá biểu thị số nội tệ trên ngoại tệ
- P: giá của rổ hàng hoá, dịch vụ chuẩn ở trong nước tính bằng nội tệ
- P*: giá của rổ hàng hoá, dịch vụ chuẩn ở nước ngoài tính bằng ngoại tệ
Các kiểm chứng thực nghiệm đã cho thấy lý thuyết ngang giá sức mua tuyệt đối chỉ
có ở một số quốc gia tương đồng về mặt kinh tế hoặc gần nhau về khoảng cách địa lý
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 23Nguyên nhân chủ yếu là do có sự bất hoàn hảo thị trường giữa các quốc gia (chi phí vận chuyển, hạn ngạch thương mại, hàng rào thuế quan, khác biệt thị hiếu tiêu dùng…) Kết luận này đã dẫn đến lý thuyết ngang giá sức mua tương đối
1.2.1.2 Ngang giá sức mua tương đối
Nguyễn Văn Tiến (2009): Lý thuyết ngang giá sức mua tương đối công nhận rằng:
do các bất hoàn hảo của thị trường, giá cả của những hàng hóa giống hệt nhau ở các nước khác nhau sẽ không nhất thiết bằng nhau Tuy nhiên, sự biến động của TGHĐ vẫn tương ứng với chênh lệch về lạm phát giữa các quốc gia Ngang giá sức mua tương đối được đưa ra như sau:
- ∆e: mức thay đổi tỷ giá
- St và S0 lần lượt là TGHĐ vào thời điểm t và 0
- i và i* lần lượt là lạm phát trong nước và ngoài nước
- t: thời gian Khi t = 1, i* nhỏ, ta có công thức gần đúng: ∆e ≈ 𝑖 − 𝑖∗
Biểu thức trên biểu diễn mối quan hệ giữa mức thay đổi tỷ giá và tỷ lệ lạm phát ở hai quốc gia
Mức thay đổi tỷ giá bằng mức chênh lệch lạm phát:
1.2.2 Lý thuyết ngang giá lãi suất (Interest Rate Parity – IRP)
Nguyễn Văn Tiến (2009): Từ lý thuyết PPP cho thấy đồng tiền tiềm ẩn lạm phát cao
sẽ giảm giá trong tương lai, còn đồng tiền có lạm phát thấp sẽ lên giá trong tương lai Do
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 24đó, có thể thấy rằng một đồng tiền tiềm ẩn lạm phát cao phải có mức lãi suất cao hơn đồng tiền có lạm phát thấp, khi đó mức lãi suất thực của hai đồng tiền như nhau, có như vậy thị trường mới trở nên cân bằng Như vậy, xét theo tiêu chí lãi suất thực thì việc đầu
tư hay đi vay bằng bất kì đồng tiền nào cũng có kết quả như nhau
Lý thuyết ngang giá lãi suất với giả định sự chu chuyển vốn là tự do (bỏ qua chi phí giao dịch thuế) và sự chu chuyển vốn là hoàn hảo, rủi ro quốc gia là như nhau thì hoạt động đầu tư hay đi vay trên thị trường tiền tệ sẽ có mức lãi suất là như nhau khi quy về một đồng tiền chung cho dù đồng tiền đầu tư hay đi vay là đồng tiền nào Ngang giá lãi suất được viết như sau:
- F và S lần lượt là tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn
- r và r* lần lượt là lãi suất trong nước và ngoài nước
Quy luật ngang giá lãi suất được nghiên cứu thông qua hai cơ chế:
parity – CIP): sử dụng tỷ giá kỳ hạn để quy đổi khoản tiền gốc và lãi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác để loại trừ rủi ro tỷ giá trong quá trình đầu tư hay đi vay
UIP): sử dụng tỷ giá giao ngay dự tính để quy đổi khoản tiền gốc và lãi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác trong quá trình đầu tư hay đi vay và luôn tồn tại rủi ro tỷ giá
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 251.2.3 Hiệu ứng Fisher quốc tế (International Fisher Effect – IFE)
Hiệu ứng Fisher quốc tế sử dụng lãi suất để giải thích tại sao TGHĐ thay đổi theo thời gian, nhưng nó có liên quan mật thiết với ngang giá sức mua vì lãi suất thường có quan hệ mật thiết với tỷ lệ lạm phát Do đó, chênh lệch lãi suất giữa các quốc gia có thể
là kết quả chênh lệch trong lạm phát
Điều kiện Fisher trong nền kinh tế mở nói lên rằng mức lãi suất thực giữa các đồng tiền luôn được kỳ vọng là bằng nhau
Từ học thuyết ngang giá sức mua và ngang giá lãi suất ta có:
∆e ≈ 𝑖 − 𝑖∗
∆e ≈ 𝑟 − 𝑟∗
→ 𝑖 − 𝑖∗ = 𝑟 − 𝑟∗
→ 𝑟 − 𝑖 = 𝑟∗− 𝑟∗
1.2.4 Mô hình tiền tệ giá linh hoạt
Mô hình giá linh hoạt là mô hình xác định tỷ giá hối đoái được phát triển bởi Frenkel (1976), Mussa (1976) và Bilson (1978) Mô hình này dựa trên giả định rằng giá cả trong nền kinh tế là linh hoạt hoàn toàn, trái phiếu thay thế hoàn hảo cho nhau và việc xác định
tỷ giá hối đoái dựa trên mối quan hệ giữa cung và cầu tiền [15]
Trong tình huống này, những quốc gia có tốc độ tăng cung tiền cao sẽ đối mặt với lạm phát dự tính cao, làm giảm nhu cầu nắm giữ lượng tiền nhàn rỗi, thay vào đó là tăng mua hàng hóa, làm tăng giá trong nước và kết quả là làm giảm giá nội tệ để duy trì điều kiện PPP Mặc dù giả định PPP duy trì không phải khi nào cũng đúng, nhưng nhìn chung
mô hình giá cả linh hoạt có đóng góp quan trọng cho lý thuyết xác định tỷ giá hối đoái
vì mô hình này chỉ ra được một cách rõ ràng hơn vai trò của cung tiền, lạm phát và sự tăng trưởng kinh tế lên tỷ giá
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 26- Cung tiền và tỷ giá hối đoái: với giả định PPP không đổi và các yếu tố khác giữ nguyên, khi cung tiền trong nước tăng lên x% thì nội tệ sẽ giảm tương ứng x%, nếu cung tiền nước ngoài tăng lên x% thì nội tệ sẽ tăng lên tương ứng x%
thu nhập trong nước tăng sẽ làm tăng nhu cầu giao dịch tiền trong khi cung tiền không đổi sẽ làm tăng giá trị nội tệ hay tỷ giá giảm Ngược lại, thu nhập nước ngoài tăng sẽ làm cho ngoại tệ tăng giá hay tỷ giá tăng
khi lãi suất nội địa tăng sẽ làm cho nội tệ mất giá vì cầu tiền giảm hay tỷ giá tăng Mặt khác, sự gia tăng lãi suất ở nước ngoài sẽ dẫn đến sự tăng giá ở nước ngoài tạo áp lực tăng giá nội địa hay tỷ giá giảm
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
1.3.1 Mức chênh lệch lạm phát giữa các nước
Đỗ Đức Bình - Nguyễn Thường Lạng (2012): Theo lý thuyết thuyết ngang giá sức
mua (PPP), TGHĐ phản ánh so sánh sức mua của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ hay mức giá trong nước và mức giá của nước ngoài Vì vậy, khi chênh lệch lạm phát giữa hai nước thay đổi, tức là mức giá cả ở hai nước này thay đổi, TGHĐ giữa hai đồng tiền của hai nước đó sẽ biến động theo
PPP giả định, trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, khi tỷ lệ lạm phát trong nước tăng tương đối so với nước ngoài, khiến cho hàng hóa trong nước trở nên đắt hơn so với hàng hóa nước ngoài dẫn đến:
cầu ngoại tệ sang phải, kết quả nội tệ giảm giá tức tỷ giá tăng
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 27- Cầu xuất khẩu hàng hóa giảm, dẫn đến đường cung ngoại tệ giảm làm đường cung ngoại tệ dịch chuyển sang trái, kết quả nội tệ giảm giá tức tỷ giá tăng
Tỷ giá giảm trong trường hợp ngược lại khi lạm phát của nước ngoài tăng tương đối
so với trong nước, tức là làm ngoại tệ giảm giá hay tỷ giá giảm
1.3.2 Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước
Đỗ Đức Bình - Nguyễn Thường Lạng (2012): Trong điều kiện và môi trường kinh
doanh của các nước tương đương nhau, khi lãi suất ngắn hạn của một nước tăng lên một cách tương đối so với các nước khác, thì các tài sản của nước đó sẽ tạo ra tiền lời cao hơn nên sẽ thu hút nguồn vốn đổ vào nhiều hơn Điều này làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi, dẫn đến tỷ giá có xu hướng giảm
Giả sử Mỹ nâng lãi suất tiền gửi, trong khi Việt Nam vẫn giữ nguyên mức lãi suất như cũ, các nhà kinh doanh ở Việt Nam sẽ mua các tín phiếu ngắn hạn ở Mỹ nhằm thu tiền lãi cao hơn Do đó, cầu về USD sẽ tăng lên để đổi lấy các tín phiếu đó
Đồng thời, các nhà kinh doanh Mỹ muốn giữ tiền gửi ở các ngân hàng hoặc chứng
từ có giá ở nước mình hơn là đầu tư ở Việt Nam với lãi suất thấp Do vậy, cung USD sẽ giảm xuống trên thị trường hối đoái
Trang 28Như vậy, sự tăng lãi suất tiền gửi ở Mỹ so với Việt Nam sẽ làm tăng cầu USD, nhưng đồng thời làm giảm cung USD dẫn đến giá USD sẽ tăng lên, tức là TGHĐ giữa USD và VND sẽ tăng lên
Tương tự, sự giảm lãi suất tiền gửi của USD so với VND sẽ dẫn đến giá USD sẽ giảm xuống, tức là TGHĐ giữa USD và VND sẽ giảm xuống
Tuy nhiên, chênh lệch lãi suất có tác động tới sự biến động của tỷ giá nhưng đó chỉ
là sự tác động gián tiếp chứ không phải trực tiếp bởi lãi suất trong nhiều trường hợp không phải là nhân tố quyết định tới sự di chuyển của các dòng vốn Chênh lệch lãi suất phải trong điều kiện ổn định kinh tế chính trị thì mới thu hút được nhiều vốn ngắn hạn
từ bên ngoài đổ vào
1.3.3 Tình hình tăng trưởng hay suy thoái kinh tế
Đỗ Đức Bình - Nguyễn Thường Lạng (2012):Trong điều kiện các yếu tố khác
không đổi, nếu tỷ lệ thu nhập quốc dân của một nước tăng lên so với nước khác, sẽ làm tăng hay giảm nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, dẫn tới cầu ngoại hối sẽ tăng lên hoặc giảm xuống
Giả sử thu nhập quốc dân của Mỹ tăng lên, trong khi thu nhập quốc dân của Việt Nam không thay đổi, thì nhu cầu nhập khẩu hàng hóa Việt Nam ở Mỹ sẽ tăng lên, làm cho cung USD tăng lên trên thị trường ngoại hối (vì những nhà nhập khẩu cần bán USD
để mua ngoại tệ dùng thanh toán hàng nhập khẩu) Vì mức thu nhập quốc dân của Việt Nam không đổi, nên nhu cầu nhập khẩu hàng hóa Mỹ không đổi, do đó, cầu về USD sẽ không đổi Kết quả là USD giảm giá hay tỷ giá USD/VND sẽ giảm xuống
Tương tự, nếu tỷ lệ tăng thu nhập quốc dân của Mỹ giảm xuống so với Việt Nam dẫn đến TGHĐ giữa USD và VND sẽ tăng lên
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 291.3.4 Tác động của cán cân thương mại
Nguyễn Văn Tiến (2009): Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng
lai của cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc
mại của một nước có thể cân bằng hoặc thặng dư hoặc thâm hụt Sự thặng dư hay thâm hụt cán cân thương mại sẽ làm thay đổi cung cầu ngoại tệ trên thị trường, từ đó tác động lên tỷ giá hối đoái
toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị trường, dẫn đến nhu cầu ngoại tệ gia tăng, cầu > cung, tỷ giá cho xu hướng tăng lên
- Ngược lại nếu cán cân thương mại thặng dư thì nước ngoài thanh toán bằng ngoại tệ, dẫn đến cung ngoại tệ gia tăng, tỷ giá có xu hướng giảm xuống
Tuy nhiên sự biến động tăng giảm tỷ giá hối đoái nói trên chỉ xảy ra trong điều kiện trường hợp môi trường kinh tế ổn định không xảy ra những biến cố kinh tế – chính trị trọng đại, vì những biến động và chính trị, xã hội sẽ tác động nhanh chóng đến sự thay đổi của tỷ giá
1.3.5 Dự trữ ngoại hối
Đào Thanh Bình - Phạm Thị Thu Hà - Hoàng Đình Minh (2014): đã sử dụng sử
dụng mô hình vectơ hồi quy bằng phương pháp bình phương cực tiểu để kiểm định các nhân tố tác động đến lạm phát và TGHĐ, sau đó sử dụng mô hình vectơ tự hồi quy VAR
để kiểm định mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá với thời gian từ quý I/2000 đến quý
I/2013 Phương trình hồi quy: Exrate = β 1 + β 2 CPI + β 3 DTNH + β 4 Rate + u
Trong đó:
- Exrate: là tỷ giá hối đoái
- CPI: là lạm phát (tính theo chênh lệch CPI)
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 30- DTNH: là dự trữ ngoại hối
- Rate: là lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng
- β1: là hệ số chặn của đường hồi quy tổng thể
- β2, β3, β4: là hệ số hồi quy riêng của các biến độc lập
u: là sai số ngẫu nhiên Kết quả kiểm định mô hình: nhân tố tác động mạnh nhất đến
tỷ giá là lạm phát, DTNH biến động ngược chiều với tỷ giá (điều này là phù hợp với thực
tế Khi NHNN mua ngoại tệ vào làm tăng lượng DTNH thì tỷ giá sẽ biến động tiêu cực, ngược lại khi NHNN bán ngoại tệ ra nhằm mục đích bình ổn tỷ giá thì tỷ giá sẽ biến động tích cực), còn lãi suất ảnh hưởng không lớn đến tỷ giá [14]
Adnan Kasman và Duygu Ayhan (2008): nghiên cứu mối quan hệ giữa TGHĐ
(danh nghĩa và thực tế) và dự trữ ngoại hối ở Thổ Nhĩ Kỳ, sử dụng dữ liệu hàng tháng trong giai đoạn từ tháng 1/1982 đến tháng 11/2005 Áp dụng kiểm định nghiệm đơn vị
và kiểm định mối quan hệ đồng kết hợp, cho phép biến đổi về cấu trúc (Unit root and cointegration tests, which allow for structural breaks are used) Kết quả chỉ ra rằng có một mối quan hệ lâu dài giữa dự trữ ngoại hối và TGHĐ [2]
Umeora Chinweobo Emmanuel (2013): nghiên cứu mối quan hệ giữa dự trữ ngoại
hối, tỷ giá, lạm phát, tổng sản phẩm quốc nội GDP ở Nigeria, sử dụng số liệu theo năm
từ năm 1986 – 2011 Trong đó, dự trữ ngoại hối là biến phụ thuộc; tỷ giá, lạm phát, GDP
là biến độc lập Thông qua kiểm định nghiệm đơn vị, đồng liên kết và phân tích hồi quy Tác giả đã đưa ra kết luận rằng, tỷ giá và GDP có mối quan cùng chiều và có ý nghĩa với
dự trữ ngoại hối, trong khi lạm phát có mối quan hệ ngược chiều và không đáng kể với
dự trữ ngoại hối Dự trữ ngoại hối ảnh hưởng đáng kể đến tỷ giá và biến động của tỷ giá
có thể được giải thích bởi dự trữ ngoại hối (Volatility of exchange rate can be tackled by holding reserves) [1]
Muhammad Yasir (2012): Mục tiêu nghiên cứu của tác giả là để tìm hiểu rằng, liệu
có một mối quan hệ lâu dài tồn tại giữa dự trữ ngoại hối, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 31và kiểm tra đồng tích hợp Johnson, sử dụng số liệu theo năm từ năm 1980-2010 Kết quả thực nghiệm của tác giả cho thấy rằng có mối liên kết giữa các dự trữ ngoại hối, FDI và
tỷ giá hối đoái FDI, tỷ giá hối đoái danh nghĩa và ngoại hối dự trữ có ảnh hưởng đến nhau cả trong ngắn hạn và dài hạn là tốt, mà là rất quan trọng đối với người tham gia thị trường Vì vậy, bất kì một thông tin mới nào hay là sự kỳ vọng về sự tăng lên của dự trữ ngoại hối sẽ ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái danh nghĩa [4]
1.3.6 Biến động của tỷ giá trong quá khứ
Tỷ giá ổn định sẽ góp phần tác động tích cực đến tâm lý của người dân, tâm lý của thị trường tài chính Người dân, giới đầu tư tin tưởng vào sự ổn định của đồng Việt Nam, hay đồng Việt Nam được coi trọng Điều này làm giảm hẳn tình trạng người dân lựa chọn việc cất trữ tài sản của mình bằng việc mua ngoại tệ, góp phần đẩy lùi tình trạng
đô la hóa trong xã hội; hạn chế tình trạng găm giữ ngoại tệ trên tài khoản của các doanh nghiệp Do đó, biến động của tỷ giá trong quá khứ có tác động không nhỏ đến tỷ giá hiện tại
Lê Tuấn Nghĩa, Chu Khánh Lân (2014): nghiên cứu ảnh hưởng của lãi suất đến tỷ
giá theo mô hình giá cứng của Dornbusch tại Việt Nam bằng cách ứng dựng mô hình tự hồi quy vectơ cấu trúc SVAR với các biến số là các số liệu kinh tế vĩ mô giai đoạn từ năm 1998 – 2012 Nhóm tác giả đã đi đến kết luận rằng, ngoài lãi suất, tỷ giá còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như cung tiền, lạm phát và bản thân sự thay đổi của tỷ giá [20]
Jaroslav Mida (2013): sử dụng mô hình VAR, đánh giá tỷ giá USD/EUR (ExRate)
phụ thuộc vào 5 yếu tố: tỷ giá USD/EUR trong quá khứ, lãi suất ngắn hạn (Euribor), chỉ
số giá tiêu dùng đã điều chỉnh (HICP), tỷ lệ thất nghiệp (UnemRate), chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI); với chuỗi số liệu lấy theo tháng từ năm 2002 đến 2011 Tác giả đã kết luận rằng, các yếu tố đều có ảnh hưởng đến tỷ giá [3]
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 321.4 Cơ sở lý thuyết về phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Tính dừng
1.4.1.1 Chuỗi thời gian
Chuỗi thời gian là một chuỗi các giá trị của một đại lượng nào đó được ghi nhận theo tuần tự thời gian Các giá trị chuỗi thời gian của đại lượng Y được ký hiệu: Y1,
Y2,… Yn với Yt là giá trị quan sát của Y ở thời điểm t Dữ liệu chuỗi thời gian phổ biến nhất là dữ liệu tài chính được ghi nhận qua thời gian dài, và thường có số quan sát khá lớn
1.4.1.2 Khái niệm tính dừng
Một quá trình ngẫu nhiên Yt được coi là dừng nếu kỳ vọng (trung bình), phương sai không đổi theo thời gian và hiệp phương sai giữa hai thời điểm chỉ phụ thuộc vào khoảng cách và độ trễ về thời gian giữa hai thời đoạn này chứ không phụ thuộc vào thời điểm thực tế mà đồng phương sai được tính
- Trung bình: E(Yt) =
- Phương sai: Var(Yt) = E(Yt – )2 = 2
- Hiệp phương sai: k = E[(Yt – )(Yt+k – )]
Quá trình ngẫu nhiên Yt được coi là không dừng nếu nó vi phạm ít nhất một trong
ba điều kiện trên
1.4.1.3 Cách kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian
Kiểm định nghiệm đơn vị – Unit root test
Kiểm định nghiệm đơn vị là một kiểm định được sử dụng khá phổ biến để kiểm định một chuỗi thời gian là dừng hay không dừng
Giả thuyết kiểm định:
H0: ρ = 0 (Yt là chuỗi dữ liệu không dừng)
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 33H1: ρ < 0 (Yt là chuỗi dữ liệu dừng) Giá trị tới hạn τ được xác định dựa trên bảng tính sẵn của Mackinnon (1996) Giá trị tới hạn này cũng được tính sẵn khi kiểm định ADF bằng cách sử dụng phần mềm Eviews
Để kiểm định giả thuyết H0, ta so sánh giá trị kiểm định τ tính toán với giá trị τ tới hạn của Mackinnon ở các mức ý nghĩa, nếu trị tuyệt đối của giá trị tính toán lớn hơn trị tuyệt đối giá trị tới hạn ở các mức ý nghĩa, thì giả thuyết H0 sẽ bị bác bỏ, tức chuỗi dữ liệu có tính dừng và ngược lại Hoặc cũng có thể dựa vào giá trị P–value của mô hình chạy ra, nếu P – value < 0.05 thì chấp nhận giả thuyết H1, tức là chuỗi dữ liệu có tính dừng
1.4.1.4 Nhiễu trắng
Xét: Yt = Yt–1 + ut
Nếu ut đáp ứng đầy đủ các giả thiết của mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển (OLS), tức là có kỳ vọng bằng 0, phương sai không đổi và hiệp phương sai bằng 0 thì ut được gọi là nhiễu trắng hay chuỗi sai số ut có tính dừng
1.4.1.5 Biến đổi chuỗi không dừng thành chuỗi dừng
Xét quá trình Yt ngẫu nhiên (Random Walk): Yt = Yt–1 + ut với ut là nhiễu trắng
Ta lấy sai phân cấp I của Yt: D(Yt) = Yt – Yt–1 = ut Trong trường hợp này D(Yt) là chuỗi dừng vì ut là nhiễu trắng
Trường hợp tổng quát, với mọi chuỗi thời gian nếu sai phân cấp I của Yt chưa dừng,
ta tiếp tục lấy sai phân cấp II, III… Các nghiên cứu đã chứng minh luôn tồn tại một giá trị d xác định để sai phân cấp d của Yt là chuỗi dừng Khi đó Yt được gọi là liên kết bậc
d, kí hiệu là I(d) Sai phân cấp d được lấy như sau:
- Cấp I: D(Yt) = Yt – Yt–1
- Cấp II: D(D(Yt)) =D2(Yt) = (Yt – Yt–1) – (Yt–1 – Yt–2)
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 34- Cấp d: D(Dd–1(Yt))
1.4.2 Mô hình tự hồi quy vectơ VAR ( Vector Autoregression)
1.4.2.1 Giới thiệu mô hình VAR
Như chúng ta đã biết, mối quan hệ giữa các biến số kinh tế không đơn thuần chỉ theo một chiều, biến độc lập (biến giải thích) ảnh hưởng lên biến phụ thuộc mà trong nhiều trường hợp nó còn ảnh hưởng ngược lại Do đó, mà ta phải xét ảnh hưởng qua lại giữa các biến này cùng một lúc Chính vì thế mô hình kinh tế lượng mà ta phải xem xét đến không phải là mô hình một phương trình mà là mô hình nhiều phương trình
Tuy nhiên, để ước lượng các mô hình này ta phải đảm bảo rằng các phương trình trong hệ dược định dạng, một biến được coi là nội sinh (biến mà giá trị được xác định bởi mô hình, là biến ngẫu nhiên) và một số biến khác được coi là ngoại sinh hay đã xác định trước (ngoại sinh cộng với nội sinh trễ) Việc định dạng này thường được thực hiện bằng cách giả thiết rằng một số biến được xác định trước chỉ có mặt trong một số phương trình Quyết định này thường mang tính chủ quan và đã bị Sims lên tiếng chỉ trích Theo Sims, nếu tồn tại mối quan hệ đồng thời giữa một số biến thì các biến này phải được xem xét có vai trò như nhau, tức là tất cả các biến xét đến đều là biến nội sinh Dựa trên tinh thần đó mà Sims đã xây dựng mô hình vector tự hồi quy VAR
Mô hình VAR dạng cấu trúc tổng quát với m biến trễ và p bước có dạng như sau:
- ut là ma trận cấp m x 1 các yếu tố ngẫu nhiên
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 351.4.2.2 Phương pháp ước lượng mô hình VAR
lấy sai phân để đưa về các chuỗi dừng
của phần dư Nếu phần dư của mô hình dừng thì mô hình nhận được phù hợp với chuỗi thời gian và ngược lại)
1.4.2.3 Một số vấn đề trong xây dựng mô hình VAR
Bên cạnh những ưu điểm nổi trội của mô hình VAR: không cần xác định biến nào
là biến nội sinh, biến nào là biến ngoại sinh hoặc là ta có thể sử dụng phương pháp OLS cho từng phương trình riêng rẽ thì mô hình VAR còn vướng phải một số hạn chế Khi xét đến mô hình VAR ta còn phải xét đến tính dừng của các biến trong mô hình Yêu cầu đặt ra khi ta ước lượng mô hình VAR là tất cả các biến phải dừng, nếu trong trường hợp các biến này chưa dừng thì ta phải lấy sai phân để đảm bảo chuỗi dừng Càng khó khăn hơn nữa, nếu một hỗn hợp chứa các biến có tính dừng và các biến không có tính dừng thì việc biến đổi dữ liệu không phải là việc dễ dàng
Khó khăn trong việc lựa chọn khoảng trễ thích hợp Nếu mô hình có k biến, và độ trễ là k thì sẽ có k2p hệ số góc và k hệ số chặn, khi k càng lớn thì số hệ số phải ước lượng càng tăng Giả sử, xét mô hình VAR có 3 biến và mỗi biến có 8 trễ đưa vào phương trình Như xem xét ở trên thì hệ số cần phải ước lượng là 32.8 + 3 = 75 Và nếu ta tăng
số biến và số trễ đưa vào mỗi phương trình thì hệ số mà ta phải ước lượng sẽ khá lớn
1.4.3 Kiểm định nhân quả hai biến Granger
Granger khẳng định mối quan hệ nhân quả của khả năng dự đoán trước rằng X được coi là nguyên nhân gây ra Y nếu Y được tiên đoán một cách chính xác hơn bằng cách tính biến số Y với các thông tin cho trước trong mô hình
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 36Điều kiện của kiểm định nhân quả Granger:
- Các biến phải là các chuỗi dừng hoặc các biến đồng liên kết (không có hiện tượng tự tương quan giả)
việc lựa chọn độ trễ phải thật chính xác
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 371.4.4 Hàm phản ứng đẩy (Impulse Response Function – IRF)
Do các hệ số đơn lẻ trong các mô hình VAR ước lượng thường khó giải thích, những
người áp dụng kỹ thuật này trên thực tế thường ước lượng cái gọi là hàm phản ứng đẩy
IRF phát hiện phản ứng của biến phụ thuộc trong hệ VAR đối với các cú sốc của các số
hạng sai số, như u 1 và u 2 trong hai phương trình dưới Giả sử u 1 trong phương trình Y tăng lên với giá trị bằng một độ lệch chuẩn Một cú sốc hay thay đổi như thế sẽ làm thay đổi Y trong giai đoạn hiện tại lẫn tương lai Nhưng do Y xuất hiện trong hồi quy X, thay
đổi giá trị u 1 cũng sẽ có tác động tới X Tương tự, thay đổi giá trị của u 2 trong phương trình X đi một độ lệch chuẩn sẽ có tác động tới X IRF phát hiện tác động của những cú sốc như vậy trong một vài thời đoạn tương lai Mặc dù giá trị sử dụng của phân tích IRF
bị nhiều nhà nghiên cứu nghi ngờ, nó là trọng tâm của phân tích VAR
1.4.5 Phân rã phương sai (Variance Decomposition)
Quá trình phân rã phương sai là một sự thay thế phản ứng đẩy, để có một cái nhìn tổng quan đơn giản về cấu trúc động của mô hình VAR Ngược lại với hàm phản ứng đẩy, nhiệm vụ của phân rã phương sai là để đạt được sự thông gọn về khả năng dự báo
Ý tưởng là, ngay cả một mô hình hoàn hảo thì vẫn liên quan đến sự mơ hồ về việc ước lượng các yi,t Bởi vì các sai số có liên quan là không chắc chắn Theo sự tương tác giữa các phương trình, sự không chắc chắn được chuyển đến tất cả các phương trình Mục đích của phân rã là để giảm sự không chắc chắn trong một phương trình tới phương sai của sai số trong tất cả các phương trình
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 38CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI
TỶ GIÁ USD/VND TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005 - 2015 VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH DỰ BÁO TỶ GIÁ ĐẾN CUỐI NĂM 2016 2.1 Vài nét về tình hình diễn biến tỷ giá USD/VND giai đoạn 2005 – 2015
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam: Tỷ giá hối đoái giữa VND và USD trên thị
trường liên ngân hàng là tỷ giá do NHNN Việt Nam thông báo hàng ngày, được xác định trên cơ sở bình quân các tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giao dịch gần nhất trước đó
Ở Việt Nam, sự ảnh hưởng của USD trên thị trường ngoại hối là rất lớn, hầu hết các giao dịch ngoại tệ tại Việt Nam thường sử dụng đồng USD, ngay cả khi chọn niêm yết
tỷ giá NHNN cũng chọn đồng USD Do đó, tình hình tỷ giá USD/VND có thể dễ dàng quan sát trong một chừng mực nào đó mang tính đại diện cao cho sự biến động của các ngoại tệ khác
Hình 2.1: Diễn biến tỷ giá giai đoạn từ năm 2005 – 2015
0500010000150002000025000
Trang 39Nhìn từ đồ thị, ta có thể thấy rằng, tỷ giá nước ta trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay liên tục được điều chỉnh theo xu hướng tăng lên Và có thể phân chia thành 3 giai đoạn như sau:
2.1.1 Giai đoạn 2005 – 2007
Gắn liền với các giai đoạn này là một cơ chế tỷ giá neo giữ theo đồng USD một cách tương đối cứng nhắc Tỷ giá tăng trưởng ổn định, mức biến động thấp Đây cũng là các giai đoạn mà tỷ giá trên thị trường tự do cũng ổn định và theo sát với tỷ giá chính thức
Năm 2005: NHNN đã thực hiện điều hành chính sách tỷ giá ổn định tương đối (tăng
0.86%), phù hợp với diễn biến kinh tế tiền tệ, không tạo nên những bất lợi cho nền kinh
tế, đáp ứng yêu cầu khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu Trên thực tế việc điều hành tỷ giá gắn với quan hệ cung – cầu, vị thế đối ngoại của VND tiếp tục được duy trì
Năm 2006: NHNN tiếp tục thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý, so với thời
điểm đầu năm 2006 tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng giữa VND và USD tăng 1.38%
Năm 2007: chính sách tỷ giá của NHNN được điều hành một cách linh hoạt, phù
hợp với diễn biến thị trường trước sức ép VND lên giá do cung ngoại tệ lớn hơn cầu, NHNN đã nới lỏng biên độ tỷ giá từ ±0.25% lên ±0.5% ngày 02/01/2007 và ±0.75% ngày 24/12/2007
2.1.2 Giai đoạn 2008 – 2011
Nền kinh tế thế giới bắt đầu rơi vào giai đoạn khủng hoảng, kinh tế Việt Nam cũng ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng này và nỗ lực bình ổn kinh tế vĩ mô, gắn liền với những giai đoạn biến động mạnh này là sự chênh lệch lớn giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do Sức ép của thị trường đã buộc NHNN phải nới rộng biên độ tỷ giá hoặc chính thức phá giá, làm cho VND mất giá mạnh mẽ so với thời điểm trước đó
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 40Năm 2008: trên thị trường, tỷ giá có những diễn biến trái chiều nhau Trong giai
đoạn 3 tháng đầu năm, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng liên tục sụt giảm
từ mức 16 112 VND xuống 15 960 VND – mức thấp nhất là 15 560 VND/USD Trong
4 tháng tiếp theo, tỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữa tháng 6, đỉnh điểm lên đến 19 400 VND/USD vào ngày 18/06, cách hơn 2 600 đồng so với mức trần Tỷ giá lên đỉnh ngày 18/06, sau đó giảm dần Ngày 27/06, NHNN tăng biên độ USD/VND từ 1% lên 2% Trong 3 tháng tiếp, NHNN nhận thấy tình trạng sốt USD đã ở mức báo động,
do đó đã thực hiện các biện pháp can thiệp một cách quyết liệt vào thị trường ngoại hối bao gồm công bố dự trữ ngoại hối quốc gia 20.7 tỷ USD, bán ngoại tệ can thiệp thị trường thông qua các NHTM lớn, kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các đại lý thu đổi ngoại tệ, cấm mua, bán USD thông qua ngoại tệ khác để lách biên độ, cấm nhập khẩu vàng và cho phép xuất khẩu vàng, kiểm soát nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu đặc biệt ô tô và
giao dịch bình ổn quanh mức 16 600 VND Đến tháng 10 tỷ giá USD/VND lại đột ngột tăng lên, từ mức 16 600 VND lên mức 16 998 VND Ngày 7/11, sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá từ 2% lên 3% thì tỷ giá tăng tới mức 17 440 VND/USD [31]
Năm 2009: trong 4 tháng đầu năm, xu hướng chung của biến động tỷ giá là tiếp tục
tăng mạnh, đặc biệt sau khi NHNN thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá lên +/–5% khiến cho tỷ giá có sự biến động mạnh Từ tháng 1 đến tháng 3: TGBQLNH dao động trong khoảng 17 450 – 17 700 VND/USD, cách giá trần khoảng từ 0 – 200 đồng Từ tháng 4 đến tháng 9, tỷ giá dao động trong khoảng 18 180 – 18 500 VND/USD Từ tháng 10 đến 25/11, biến động tỷ giá rất dữ dội từ 18 545 – 19 300 VND/USD, có lúc đạt đỉnh lên đến
19 750 VND/USD Sau 25/11 đến hết năm 2009, tỷ giá bắt đầu giảm về quanh mức
18500 VND/USD Cho đến cuối năm 2009, tỷ giá VND/USD đã tăng 5,6% so với cuối năm 2008 Nguyên nhân tỷ giá tăng nhanh là do những áp lực trên thị trường ngoại hối tại một số thời điểm (do doanh nghiệp vay vốn ngoại tệ đến hạn trả nợ, doanh nghiệp nhập khẩu đến kỳ thanh toán các khoản nhập khẩu, tâm lý găm giữ USD và hành vi mua
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế