LỜI CÁM ƠN Được sự cho phép của khoa Tài chính – Ngân hàng và sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn TS Trần Thị Bích Ngọc, em đã thực hiện đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình là: “Ứng d
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Được sự cho phép của khoa Tài chính – Ngân hàng và sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn TS Trần Thị Bích Ngọc, em đã thực hiện đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình là: “Ứng dụng mô hình VAR để nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam” Bài khóa luận này được hoàn thành ngoài kết quả có được từ sự rèn luyện, học tập lâu dài trên ghế nhà trường mà còn có sự quan tâm, tạo điều kiện của Khoa và sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn trong suốt thời gian thực tập và làm khóa luận
Đầu tiên, em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến Khoa Tài chính – Ngân hàng đã tạo điều kiện cho em được đăng ký thực tập tại Khoa trong khoảng thời gian diễn ra thực tập cuối khóa và làm khóa luận tốt nghiệp của mình Đặc biệt, em xin gửi lời cám ơn chân thành đến cô Trần Thị Bích Ngọc đã tận tình hướng dẫn, chỉnh sửa bài khóa luận cho em trong suốt thời gian vừa qua để em có thể hoàn thành bài khóa luận của mình một cách tốt nhất có thể
Do có những hạn chế về thời gian thực hiện đề tài khóa luận cũng như kiến thức chuyên môn nên bài khóa luận này của em không thể tránh khỏi những sai sót
Em rất mong được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo
Em xin chân thành cám ơn!
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 2TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài “Ứng dụng mô hình VAR để nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam” là một đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực Tài chính quốc tế Bằng phương pháp nghiên cứu là sử dụng mô hình VAR
để lượng hóa mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực song phương VND/USD và cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn từ quý 1 năm 1998 đến quý 1 năm
2015 Cụ thể gồm 3 mô hình được xây dựng như sau: Mô hình 1(mối quan hệ giữa
tỷ giá hối đoái thực song phương VND/USD và cán cân tổng thể - đại diện cho cán cân thanh toán quốc tế), mô hình 2 (mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực song phương VND/USD và cán cân thương mại), mô hình 3 (mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực song phương VND/USD và cán cân tài chính) Dữ liệu của các biến đưa vào trong các mô hình được lấy theo quý, thời gian từ quý 1/1998 đến quý 1/2015
Phương pháp luận trong đề tài được thực hiện theo nguyên tắc kế thừa và làm sáng
tỏ các vấn đề cần giải quyết trong bài
Kết quả của mô hình VAR cho thấy rằng tồn tại mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực song phương và cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam Cụ thể như sau: Mô hình 1 cho kết quả rằng: cán cân tổng thể tác động đến tỷ giá hối đoái, một
sự thặng dư trong cán cân tổng thể sẽ làm cho tỷ giá có xu hướng giảm đi, và sự tác động này diễn ra không mạnh và có độ trễ nhất định Mô hình 2: tỷ giá thực tác động đến cán cân thương mại theo hướng tỷ giá tăng sẽ làm cải thiện cán cân thương mại, sự tác động này cũng diễn ra không mạnh và có độ trễ nhất định Mô hình 3: cán cân tài chính có tác động đến tỷ giá hối đoái theo hướng cán cân tài
chính tăng lên sẽ tác động làm cho tỷ giá giảm đi, sự tác động này cũng có độ trễ
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT KHÓA LUẬN ii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
PHẦN I- MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đối tượng nghiên cứu 3
6 Kết cấu đề tài 3
PHẦN II- NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ 5
1.1 Tỷ giá hối đoái và cơ chế tỷ giá 5
1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái 5
1.1.2 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa 5
1.1.2.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương 5
1.1.2.2 Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER - Nominal Efective Exchange Rate) 5
1.1.3 Tỷ giá hối đoái thực 6
1.1.3.1 Tỷ giá thực song phương (RER) 6
1.1.3.1.1 Tỷ giá thực song phương trạng thái tĩnh (tại một thời điểm) 6
1.1.3.1.2 Tỷ giá thực song phương trạng thái động 7
1.1.3.2 Tỷ giá thực đa phương (REER) 8
1.1.4 Cơ chế tỷ giá và chính sách tỷ giá 10
1.1.4.1 Cơ chế tỷ giá 10
1.1.4.2 Cách phân loại cơ chế tỷ giá mới của IMF 11
1.1.4.3 Chính sách tỷ giá hối đoái 11
1.2 Cán cân thanh toán quốc tế 13
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 41.2.1 Khái niệm 13
1.2.2 Kết cấu của cán cân thanh toán quốc tế - BOP 13
1.2.3 Thặng dư và thâm hụt cán cân tổng thể 15
1.3 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế 16
1.3.1 Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thanh toán quốc tế 16
1.3.2 Tác động của cán cân thanh toán quốc tế đến tỷ giá hối đoái 17
1.4 Cơ sở thực tiễn 18
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 18
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 19
1.5 Mô hình nghiên cứu 21
1.5.1 Khái niệm về mô hình VAR 21
1.5.2 Điều kiện của mô hình VAR 22
1.5.3 Các kiểm định trên VAR 22
1.5.3.1 Kiểm định tính dừng của các chuỗi thời gian 22
1.5.3.2 Kiểm định Granger 23
1.5.3.3 Hàm phản ứng theo phương pháp Cholesky 24
1.5.3.4 Phân rã phương sai theo phương pháp Cholesky 24
CHƯƠNG II PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ 25
2.1 Diễn biến tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá của Việt Nam giai đoạn 1998 – 2015 25
2.1.1 Diễn biến tỷ giá danh nghĩa song phương VND/USD và chính sách điều hành tỷ giá của Việt Nam 25
2.1.2 Diễn biến tỷ giá thực song phương VND/USD 32
2.2 Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1998 – 2014 33
2.2.1 Cán cân thương mại 33
2.2.2 Chuyển giao vãng lai một chiều 35
2.2.3 Cán cân vãng lai 36
2.2.4 Cán cân tài chính 38
2.2.5 Cán cân tổng thể 42
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 52.3 Thực trạng mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế của
Việt Nam giai đoạn 1998 – 2014 46
2.3.1 Tác động của cán cân thanh toán quốc tế đến tỷ giá hối đoái 46
2.3.1.1 Tác động của cán cân tổng thể (đại diện cho cán cân thanh toán quốc tế) đến tỷ giá hối đoái 46
2.3.1.2 Tác động của cán cân tài chính đến tỷ giá hối đoái 49
2.3.2 Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thanh toán quốc tế 50
2.3.2.1 Tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại 50
2.3.2.2 Tác động của tỷ giá đến cán cân tài chính 51
2.4 Lượng hóa mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế 52
2.4.1 Biến nghiên cứu sử dụng trong mô hình 52
2.4.2 Mô hình về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực song phương VND/USD và cán cân tổng thể 53
2.4.3 Mô hình về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực song phương VND/USD và cán cân thương mại 53
2.4.4 Mô hình về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực song phương VND/USD và cán cân tài chính 53
2.5 Thảo luận kết quả nhiên cứu 54
2.5.1 Kiểm định tính dừng của các chuỗi thời gian 54
2.5.2 Mô hình 1: Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực song phương và cán cân tổng thể 54
2.5.3 Mô hình 2: mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực song phương VND/USD và cán cân thương mại 61
2.5.4 Mô hình 3: mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân tài chính 66
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ CẢI THIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ 73
3.1 Giải pháp cải thiện cán cân thanh toán quốc tế nhằm ổn định tỷ giá 73
3.1.1 Các giải pháp cải thiện cán cân thương mại 73
3.1.2 Giải pháp cải thiện cán cân tài chính 73
3.2 Điều hành chính sách tỷ giá nhằm cải thiện cán cân thanh toán quốc tế 74
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 63.3 Phối hợp đồng bộ giữa các chính sách kinh tế vĩ mô 74
PHẦN 3 KẾT LUẬN 75
1 Kết quả đạt được của đề tài 75
2 Hạn chế của đề tài 76
3 Hướng phát triển của đề tài 76 PHỤ LỤC
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Cán cân tổng thể Việt Nam 1998 – 2005 47
Bảng 2 Cán cân tổng thể Việt Nam 2006 – 2012 47
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1 Tỷ giá danh nghĩa VND/USD từ quý 1 – 1998 đến quý 1 – 2015 31
Biểu đồ 2 Diễn biến tỷ giá thực song phương VND/USD 32
Biểu đồ 3 Cán cân vãng lai Việt Nam 36
Biểu đồ 4 Cán cân tài chính của Việt Nam 39
Biểu đồ 5 Cán cân tổng thể của Việt Nam 42
Biểu đồ 6 Tỷ giá bình quân liên ngân hàng và biên độ dao động từ quý 1/2000 đến quý 1/2015 49
Biểu đồ 7 Tỷ giá thực song phương VND/USD và tỷ số xuất khẩu/nhập khẩu 50
Biểu đồ 8 Tỷ giá danh nghĩa VND/USD trong giai đoạn 1998 – 2014 51
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 8PHẦN I- MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế của mỗi quốc gia hiện nay, tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá đóng vai trò hết sức quan trọng vì tỷ giá hối đoái là một trong những công cụ cơ bản để nhà nước điều hành nền kinh tế vĩ mô của mình Sự biến động của tỷ giá hối đoái sẽ tác động đến tất cả các yếu tố quan trọng của nền kinh tế Có nhiều yếu tố chịu ảnh hưởng và có sự tác động qua lại với tỷ giá hối đoái như: lạm phát, lãi suất, cán cân thanh toán quốc tế Trong đó, cán cân thanh toán quốc tế sẽ phản ánh trạng thái ngoại tệ của một nền kinh tế, sự thặng dư hay thâm hụt của cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia là một vấn đề hết sức quan trọng và nó sẽ là tác nhân làm thay đổi tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn Ngân hàng nhà nước sẽ làm cho cán cân thanh toán quốc tế trở về mức cân bằng thông qua các công cụ của mình can thiệp trên thị trường ngoại hối, lúc này sẽ gây áp lực lên tỷ giá hối đoái Và ngược lại, trạng thái của cán cân thương mại, sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước khi xuất khẩu ra nước ngoài, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đều phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái Phải chăng sự thâm hụt của cán cân thương mại Việt Nam trong thời gian dài ngoài nguyên nhân sự yếu kém của nền sản xuất hàng hóa trong nước, sức cạnh tranh yếu của hàng hóa Việt Nam so với nước ngoài thì còn có nguyên nhân từ một chính sách tỷ giá Thấy được tầm quan trọng về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế nên đã chọn đề tài: “Ứng dụng mô hình VAR để nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam” Với mong muốn chứng minh được mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam thông qua phân tích
và lượng hóa sự tác động qua lại giữa tỷ giá hối đoái thực VND/USD với cán cân tổng thể (đại diện cho cán cân thanh toán quốc tế), rồi từ đó sẽ phân tích mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và các cán cân bộ phận quan trọng trong cán cân thanh toán quốc tế Qua đó, thấy được bộ phận nào trong cán cân thanh toán quốc tế chịu ảnh hưởng từ sự thay đổi của tỷ giá hối đoái và mức độ ảnh hưởng là như thế nào? Và
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 9một sự mất cân bằng trong cán cân thanh toán quốc tế sẽ gây áp lực lên thay đổi tỷ giá hối đoái như thế nào?
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn từ quý 1/1998 đến quý 1/2015 Để từ đó
có những kiến nghị để giúp cải thiện mối quan hệ này trong thời gian tới
- Mục tiêu cụ thể + Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế
và mối quan hệ giữa chúng
+ Phân tích diễn biến tỷ giá hối đoái và trạng thái cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, phân tích thực trạng mối liên hệ này tại Việt Nam giai đoạn từ quý 1/1998 đến quý 1/2015
+ Dùng mô hình VAR để phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế Cụ thể như sau:
Xem xét mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái (tỷ giá thực song phương VND/USD) và cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam (thông qua cán cân tổng thể)
Lượng hóa mối quan hệ giữa các cán cân bộ phận trong cán cân thanh toán quốc tế (cán cân thương mại đại diện cho cán cân vãng lai; cán cân vốn và tài chính) và tỷ giá hối đoái thực song phương VND/USD
Kiến nghị về một chính sách tỷ giá phù hợp, các giải pháp để cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đặc biệt là cán cân thương mại Nhằm mục tiêu ổn định
tỷ giá trong dài hạn, ổn định nền kinh tế
3 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
- Về thời gian: từ quý 1/1998 đến quý 1/2015
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Lý thuyết chung về tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế và mối quan hệ giữa chúng được nghiên cứu thông qua giáo trình tài chính quốc tế, bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế, giữa
tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại của các tác giả ở trong nước theo nguyên tắc kế thừa và chứng minh để làm sáng tỏ thêm các luận điểm của khóa luận
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Tỷ giá hối đoái danh nghĩa VND/USD được thu thập từ trang web của tổ chức tiền tệ thế giới IMF: www.imf.org
+ Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam và Hoa Kỳ: từ trang web www.imf.org + Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam (BOP): từ trang web www.imf.org
- Phương pháp phân tích số liệu:
+ Số liệu phân tích: là số liệu chuỗi thời gian gồm chuỗi số liệu theo quý từ quý 1 năm 1998 đến quý 1 năm 2015 của tỷ giá hối đoái thực song phương VND/USD và cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
+ Mô hình nghiên cứu số liệu: VAR (Vector Autoregression)
+ Phần mềm xử lý số liệu: EVIEW 7.0
5 Đối tượng nghiên cứu
- Tỷ giá hối đoái thực song phương VND/USD
- Cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam
6 Kết cấu đề tài
- Phần 1 Mở đầu
- Phần 2 Nội dung và kết quả nghiên cứu
+ Chương 1 Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 11+ Chương 2 Phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
- Phần 3 +Kết luận và một số kiến nghị
+ Hạn chế và hướng phát triển của đề tài
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 12PHẦN II- NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.1 Tỷ giá hối đoái và cơ chế tỷ giá
1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái giữa hai nước là mức giá tại đó đồng tiền của một nước có thể biểu hiện qua đồng tiền của nước khác
Tỷ giá hối là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Tỷ giá hối đoái một mặt nó phản ánh sức mua của đồng nội tệ, mặc khác nó thể hiện quan
hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối
1.1.2 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá được sử dụng hằng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền được biểu thị qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng
1.1.2.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương
Tỷ giá song phương là giá cả của một đồng tiền được biểu thị qua một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến chênh lệch lạm phát giữa hai nước
1.1.2.2 Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER - Nominal Efective Exchange Rate)
NEER không phải là tỷ giá mà nó là một chỉ số được tính bằng cách chọn ra một số loại ngoại tệ đặc trưng (rổ tiền tệ) và tính tỷ giá trung bình các tỷ giá danh nghĩa của các đồng tiền có tham gia vào rổ tiền tệ với tỷ trọng tỷ giá tương ứng
Tỷ trọng của tỷ giá song phương có thể lấy tỷ trọng thương mại của nước có đồng nội tệ đem tính NEER so các nước có đồng tiền trong rổ được chọn
Gọi t = 0 là kỳ gốc, (t = 0, 1, 2, , i) là các thời kì nghiên cứu
Trang 13Ei1, Ei2,…, Ei
n là tỷ giá danh nghĩa của đồng nội tệ với đồng ngoại tệ thứ n trong rổ tiền tệ tại thời điểm t = i
W1, w2, , wn là tỷ trọng thương mại của đồng tiền các nước
Nếu so sánh tỷ giá danh nghĩa so với kỳ gốc, ta có:
- Tại thời điểm t = 0: chỉ số tỷ giá danh nghĩa của đồng nội tệ với ngoại tệ thứ n là e0
1.1.3 Tỷ giá hối đoái thực
Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi tương quan giá
cả trong nước và ngoài nước Khi tỷ giá danh nghĩa tăng hay giảm không nhất thiết phải đồng nghĩa với sự tăng hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế Như vậy,
tỷ giá hối đoái thực là một phạm trù kinh tế đặc thù và việc phân tích tỷ giá hối đoái thực là một vấn đề cần được quan tâm
1.1.3.1 Tỷ giá thực song phương (RER)
Là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh theo mức chênh lệch lạm phát giữa hai quốc gia, nó là chỉ số thể hiện sức mua của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ Vì thế
có thể xem tỷ giá thực là thước đo sức cạnh tranh trong mậu dịch quốc tế của một quốc gia so với quốc gia khác
1.1.3.1.1 Tỷ giá thực song phương trạng thái tĩnh (tại một thời điểm)
Tỷ giá thực trạng thái tĩnh được xác định theo công thức:
Trong đó: Er tỷ giá thực, E tỷ giá danh nghĩa, P* mức giá cả ở nước ngoài bằng ngoại tệ, P là mức giá cả trong nước bằng nội tệ
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 14Với các định nghĩa này, cho ta thấy tỷ giá thực không phải là tỷ giá đích thực mà là dạng chỉ số
Chúng ta đi đến một số kết luận:
1 Nếu Er >1 thì VND được xem là định giá thực thấp (real undervalued), nghĩa là nếu chuyển mỗi VND sang ngoại tệ ta chỉ mua được ít hàng hóa hơn ở nước ngoài so với mua ở trong nước
Đồng tiền định giá thực thấp sẽ tạo nên vị thế cạnh tranh thương mại quốc tế tốt hơn so với nước bạn hàng, nghĩa là xuất khẩu được nhiều hơn, còn nhập khẩu thì
ít hơn
2 Nếu Er <1 thì VND được xem là định giá thực cao (real overvalued), nghĩa là nếu chuyển đổi mỗi VND sang ngoại tệ ta sẽ mua được nhiều hàng hóa hơn
ở nước ngoài so với mua ở trong nước
Đồng tiền định giá thực cao sẽ làm cho vị thế cạnh tranh thương mại quốc tế kém hơn so với nước bạn hàng, nghĩa là xuất khẩu thì ít, nhập khẩu thì nhiều
3 Nếu Er =1, ta nói hai đồng tiền là ngang giá sức mua (PPP-the purchasing power parity), nghĩa là khi chuyển đổi mỗi nội tệ ra ngoại tệ ta mua được số hàng hóa là như nhau ở trong nước và ở nước ngoài
1.1.3.1.2 Tỷ giá thực song phương trạng thái động
Ở trạng thái tĩnh ta chỉ quan sát tỷ giá thực tại một thời điểm Hơn nữa, trạng thái tĩnh chỉ tồn tại và có ý nghĩa về mặt lý thuyết, bởi vì hiện nay các quốc gia không tính toán và và không công bố mức giá của một rổ hàng hóa nào Thay vào
đó, họ công bố chỉ số giá tiêu dùng CPI Chính vì vậy, để tính toán và quan sát được
sự vận động của tỷ giá thực từ thời điểm này sang thời điểm khác, ta sử dụng tỷ giá thực dạng động
Công thức tính như sau:
Trong đó:
+ ert0 là chỉ số tỷ giá thực thời điểm t so với thời điểm 0
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 15+ et0 là chỉ số tỷ giá danh nghĩa thời điểm t so với thời điểm 0, nghĩa là et0 =
Et/E0
+ CPIt0* là chỉ số giá ở nước ngoài tại thời điểm t so với thời điểm 0
+ CPIt0 là chỉ số giá tiêu dùng trong nước tại thời điểm t so với thời điểm 0
Ý nghĩa của sự thay đổi tỷ giá thực:
1 Tỷ giá thực tăng, làm cho sức mua đối ngoại của VND giảm, nên ta nói rằng VND giảm giá thực (real depreciaton) Như vậy, một đồng tiền giảm giá thực khi sức mua đối ngoại của nó giảm từ thời điểm này sang thời điểm khác Đồng tiền giảm giá thực có tác dụng làm tăng sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia này
2 Tỷ giá thực giảm, làm cho sức mua đối ngoại của VND tăng, nên ta nói rằng VND lên giá thực (real appreciaton) Như vậy, một đồng tiền lên giá thực khi sức mua đối ngoại của nó tăng từ thời điểm này sang thời điểm khác Đồng tiền lên giá thực có tác dụng làm xói mòn sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia này
3 Tỷ giá thực không đổi có tác dụng duy trì cố định sức cạnh tranh thương mại quốc tế
1.1.3.2 Tỷ giá thực đa phương (REER)
Vì NEER thuộc loại tỷ giá danh nghĩa, tức chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa giữa nội tệ và các đồng tiền còn lại Do đó, khi NEER thay đổi không nhất thiết phải tác động đến cán cân thương mại Chính vì vậy, để biết được tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại ta phải dùng đến tỷ giá thực đa phương (Real Effective Exchange Rate)
REER bằng tỷ giá danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất các nước còn lại, do đó nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và các đồng tiền còn lại
Tỷ giá thực đa phương được tính toán để định ra giá trị thực của đồng nội tệ
so với các ngoại tệ trong rổ tiền tệ được đưa vào tính toán Bằng cách điều chỉnh tỷ giá theo chênh lệch lạm phát quốc nội so với lạm phát các đối tác thương mại, ta sẽ
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 16có tỷ giá thực song phương với từng đồng ngoại tệ Sau đó xác định quyền số (mức
độ ảnh hưởng đối với tỷ giá thực thông qua tỷ trọng thương mại của từng đối tác với quốc gia có đồng tiền tính REER)
Gọi t = 0 là kỳ gốc, t = (0, 1, 2,…, i) là các thời kỳ nghiên cứu
là kim ngạch xuất khẩu của nước có đồng tiền được tính tỷ giá thực
đa phương với đối tác thương mại thứ n
Gọi Ent là kim ngạch xuất khẩu của nước có đồng tiền được tính tỷ giá thực
đa phương với đối tác thương mại thứ n
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của các nước trong rổ tiền tệ dùng để tính REER (Wt):
∑
W1, w2,…, wn là tỷ trọng thương mại của các đối tác
Tỷ trọng thương mại cả đối tác thứ n:
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 17Khi REER lớn hơn 1, đồng nội tệ bị định giá thấp, ngược lại REER nhỏ hơn
1 đồng nội tệ bị định giá cao, REER bằng 1 thì đồng nội tệ ngang giá sức mua với
rổ tiền tệ đem tính toán
1.1.4 Cơ chế tỷ giá và chính sách tỷ giá
1.1.4.1 Cơ chế tỷ giá
Tính chất đa dạng của các chế độ tỷ giá phụ thuộc vào vai trò của Chính phủ
và vai trò của thị trường trong việc hình thành tỷ giá Tùy thuộc vào mức độ can thiệp của Chính phủ mà tỷ giá có thể là hoàn toàn cố định, hoàn toàn thả nổi theo thị trường hay thả nổi có điều tiết Chính vì vậy, theo mức độ can thiệp tăng dần của Chính phủ, có thể nêu ra 3 chế độ tỷ giá đặc trưng sau:
1 Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn: là chế độ trong đó tỷ giá được xác định hoàn toàn tự do theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối mà không có bất cứ
sự can tiệp nào của NHTW Trong chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, sự biến động của
tỷ giá là không có giới hạn và luôn phản ánh những thay đổi trong quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối Chính phủ tham gia vào thị trường ngoại hối với tư cách
là một thành viên bình thường, nghĩa là chính phủ có thể mua vào hay bán ra một đồng tiền nhất định để phục vụ cho mục đích hoạt động của mình chứ không nhằm mục đích can thiệp lên tỷ giá hay để cố định tỷ giá
2 Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết: khác với chế độ tỷ giá thả nổi hàn toàn, chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết tồn tại khi NHTW tiến hành can thiệp tích cực trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá biến động trong một vùng nhất định, nhưng NHTW không cam kết duy trì một tỷ giá cố định hay một biên độ dao động hẹp xung quanh tỷ giá trung tâm Chẳng hạn, NHTW không công bố và không cam kết duy trì một mức tỷ giá cố định nào, nhưng cam kết can thiệp để tỷ giá ngày hôm nay chỉ biến động trong một giới hạn tỷ lệ % nhất định so với ngày hôm trước Chế độ
tỷ giá thả nổi có điều tiết được xem như chế độ tỷ giá hỗn hợp giữa chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn
3 Chế độ tỷ giá cố định: là chế độ tỷ giá trong đó NHTW công bố và cam kết can thiệp để duy trì một mức tỷ giá cố định, gọi là tỷ giá trung tâm, trong đó
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 18biên độ hẹp đã được định trước Như vậy, trong chế độ tỷ giá cố định, NHTW buộc phải mua vào hay bán ra một đồng nội tệ trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì cố định tỷ giá trung tâm và duy trì sự biến động của nó trong một biên độ hẹp đã định trước Để tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại hối đòi hỏi NHTW phải có sẵn nguồn dự trữ ngoại hối nhất định
1.1.4.2 Cách phân loại cơ chế tỷ giá mới của IMF
IMF đưa ra hệ thống phân loại cơ chế tỷ giá mới gồm 3 nhóm cơ bản:
1 Cơ chế neo cố định (hard peg): cơ chế điển hình trên thế giới hiện nay là
“chuẩn tiền tệ” với các quốc gia đã từng áp dụng gồm Achentina, Estonia, Lithuania
2 Cơ chế neo linh hoạt: có thể chia thành:
+ Neo cố định truyền thống: trong cơ chế này tỷ giá chỉ dao động xung quanh một biên độ hẹp, khoảng 1%
+ Theo kiểu con rắn tiền tệ: trong cơ chế này tỷ giá có thể dao động trong biên độ rộng hơn
3 Cơ chế thả nổi: chia thành 2 loại là thả nổi có điều tiết không công bố trước và thả nổi hoàn toàn Trong cơ chế thả nổi hoàn toàn chính sách tiền tệ độc lập với chính sách tỷ giá Mỹ là quốc gia điển hình trong cơ chế tỷ giá thả nổi hoàn toàn
1.1.4.3 Chính sách tỷ giá hối đoái
a Khái niệm
Chính sách tỷ giá là những hoạt động của NHTW thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách kinh tế quốc gia
Vì chính sách tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thương mại và dịch vụ, một bộ phận chủ yếu cấu thành cán cân vãng lai Cụ thể:
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 19- Với chính sách tỷ giá định giá thấp đồng nội sẽ có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, giúp cải thiện được cán cân vãng lai từ trạng thái thâm hụt về trạng thái cân bằng hay thặng dư
- Với chính sách tỷ giá định giá cao đồng nội tệ sẽ có tác dụng kìm hãm xuất khẩu và khuyến khích nhập khẩu, giúp điều chỉnh cán cân vãng lai từ trạng thái thặng dự về trạng thái cân bằng hay thâm hụt
- Với chính sách tỷ gia cân bằng sẽ có tác dụng làm cân bằng xuất khẩu và nhập khẩu, giúp cán cân vãng lai tự động cân bằng
b Can thiệp tỷ giá của NHTW
Hành động can thiệp của NHTW được thực hiện khi xuất hiện các biến động
tỷ giá hối đoái mang tính đột biến tức thời nhằm ổn định thị trường ngoại hối Đôi khi các can thiệp cũng cần thiết để duy trì tỷ giá hối đoái trong một vùng biên độ ẩn nào đó theo mục tiêu chính sách của Chính phủ Một cách tổng quát thì can thiệp của NHTW được chia làm 2 nhóm: can thiệp trực tiếp và can thiệp gián tiếp
- Can thiệp tỷ giá trực tiếp:
+ Can thiệp vô hiệu hóa là NHTW thực hiện can thiệp lên tỷ giá hối đoái nhưng vẫn không làm thay đổi lượng cung tiền trong lưu thông bằng cách sử dụng cùng một lúc 2 nghiệp vụ, một nghiệp vụ mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, một nghiệp vụ dùng để bù trừ lại lượng cung tiền bị thay đổi bởi nghiệp vụ can thiệp tỷ giá
+ Can thiệp không vô hiệu hóa chỉ đơn thuần là một nghiệp vụ can thiệp tỷ giá trực tiếp và có làm thay đổi lượng cung tiền trong lưu thông
- Can thiệp tỷ giá gián tiếp:
+ Can thiệp gián tiếp thông qua chính sách của Chính phủ: như điều chỉnh tỷ
lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các NHTM, quy định mức lãi suất trần kép hấp dẫn đối với tiền gửi bằng ngoại tệ, quy định trạng thái ngoại tệ đối với các NHTM
+ Can thiệp gián tiếp qua các rào cản của Chính phủ: lãi suất tái chiết khấu, thuế quan, hạn ngạch, giá cả
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 201.2 Cán cân thanh toán quốc tế
1.2.1 Khái niệm
Cán cân thanh toán quốc tế (The Balance of Payments – viết tắt là BOP hay BP) là một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thống, ghi chép lại giá trị tất cả các giao dịch kinh tế giữa người cư trú với người không cư trú trong một thời kì nhất định, thường là một năm
1.2.2 Kết cấu của cán cân thanh toán quốc tế - BOP
1 Tài khoản vãng lai (Current account) là thước đo rộng nhất của mậu dịch quốc tế về hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia, gồm 4 thành phần sau:
a Cán cân thương mại (trade of balance): cán cân thương mại còn được gọi
là cán cân hữu hình vì nó phản ánh chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khẩu và các khoản chi cho nhập khẩu hàng hóa, mà các hàng hóa này lại có thể quan sát bằng mắt thường khi di chuyển qua biên giới Xuất khẩu làm phát sinh khoản thu nên được ghi có (+) trong BOP, và nhập khẩu làm phát sinh khoản chi nên được ghi
nợ (-) trong BOP Khi thu nhập từ xuất khẩu lớn hơn chi cho nhập khẩu hàng hóa, thì cán cân thương mại thặng dư Ngược lại, khi thu nhập từ xuất khẩu thấp hơn chi cho nhập khẩu hàng hóa, thì cán cân thương mại thâm hụt
b Cán cân dịch vụ: bao gồm các khoản thu chi từ các hoạt động dịch vụ về vận tải, du lịch, bảo hiểm, viễn thông, hàng không, ngân hàng, thông tin, xây dựng
và từ các hoạt động dịch vụ khác giữa người cư trú với người không cư trú Giống như xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất khẩu dịch vụ làm phát sinh cung ngoại tệ (cầu nội tệ), nên nó được ghi vào bên có và có dấu (+), nhập khẩu dịch vụ làm phát sinh cầu ngoại tệ (cung nội tệ), nên nó được ghi vào bên nợ và có dấu (-) Các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất nhập khẩu dịch vụ cũng giống như các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa
c Cán cân thu nhập, bao gồm:
- Thu nhập của người lao động: là các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác bằng tiền, hiện vật do người không cư trú trả cho người cư trú
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 21và ngược lại Các nhân tố ảnh hưởng lên thu nhập của người lao động bao gồm: số lượng và chất lượng (mức lương) của những người lao động ở nước ngoài
- Thu nhập về đầu tư: là các khoản thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp, lại từ đầu tư vào giấy tờ có giá và các khoản lãi đến hạn phải trả của các khoản vay giữa người cư trú và người không cư trú
d Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều: bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu và các khoản chuyển giao khác bằng tiền, hiện vật cho mục đích tiêu dùng do người không cư trú chuyển cho người cư trú và ngược lại Các khoản chuyển giao vãng lai một chiều phản ánh sự phân phối lại thu nhập giữa người cư trú và người không cư trú Các khoản thu làm phát sinh cung ngoại tệ (cầu nội tệ) được ghi vào bên có (+) và các khoản chi làm phát sinh cầu ngoại tệ (cung nội tệ) được ghi vào bên nợ (-)
2 Cán cân vốn và tài chính
Cán cân vốn và tài chính đo lường tất cả các giao dịch kinh tế quốc tế liên quan đến tài sản tài chính Nó được chia làm hai khoản mục chính là tài khoản vốn (capital account) và tài khoản tài chính (financial account)
- Tài khoản vốn được tạo ra bởi những khoản chuyển giao tài sản tài chính hoặc những giao dịch phát sinh liên quan đến việc thay đổi quyền sở hữu của những tài sản phi sản xuất và phi tài chính Các yếu tố tác động đến tài khoản tài chính như: chính sách kiểm soát vốn (capital control), dân số và biến động tỷ giá hối đoái
- Tài khoản tài chính được chia làm ba phần: đầu tư trực tiếp nước ngoài (foreign direct investment – FDI), đầu tư gián tiếp nước ngoài (foreign porfolio investment – FPI) và các hình thức đầu tư khác Yếu tố tác động đến tài khoản tài chính là chính sách kiểm soát vốn và sự tồn tại của bộ ba bất khả thi: nếu thực hiện việc tự do hóa dòng vốn và chính sách tiền tệ độc lập thì phải hy sinh sự ổn định của
tỷ giá hối đoái Nếu muốn ổn định tỷ giá hối đoái và đồng thời phải thực hiện chính sách tiền tệ độc lập thì thực hiện việc kiểm soát vốn (không cho dòng vốn tự do ra vào) Còn nếu muốn cho dòng vốn tự do ra vào và đồng thời cũng muốn ổn định tỷ giá hối đoái thì phải hy sinh chính sách tiền tệ độc lập, tức là NHTW phải dùng
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 22chính sách tiền tệ để can thiệp trên thị trường ngoại hối để giữ cho tỷ giá hối đoái luôn ổn định khi có biến động của dòng vốn ngoại tệ xảy ra
3 Cán cân tổng thể
Nếu công tác thống kê đạt mức chính xác tuyệt đối (tức nhầm lẫn và sai sót
là bằng 0), thì cán cân tổng thể bằng tổng của cán cân vãng lai cộng với cán cân vốn
và tài chính Trong thực tế, do có rất nhiều vấn đề phức tạp về thống kê trong quá trình thu thập số liệu và lập BOP, do đó thường phát sinh nhầm lẫn và sai sót Do
đó, cán cân tổng thể được điều chỉnh lại bằng tổng của cán cân vãng lai, cán cân vốn và tài chính và hạng mục nhầm lẫn và sai sót trong thống kê Ta có:
Cán cân tổng thể = cán cân vãng lai + cán cân vốn và tài chính + nhầm lẫn và sai sót
- Nếu thặng dư (+), cho biết số tiền sẵn sàng để một quốc gia có thể sử dụng
để mua vào dự trữ ngoại hối
- Nếu thâm hụt (-), nó cho biết số tiền mà quốc gia phải hoàn trả bằng cách bán ra dự trữ ngoại hối là như thế nào
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 23Thông thường, mỗi NHTW thường nắm giữ giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ trong dự trữ ngoại hối của mình, mà chủ yếu là bằng tín phiếu kho bạc Mỹ Dự trữ ngoại hối thường được các NHTW sử dụng vào can thiệp để mua nội tệ trong những trường hợp cần bảo vệ ngoại tệ khỏi bị giảm giá
Mọi thâm hụt trong cán cân tổng thể phải được tài trợ bằng cách: giảm dự trữ ngoại hối, vay IMF và các NHTW khác, tăng tài sản nợ tại các NHTW nước ngoài
Cho đến nay, khi nói đến thặng dư hay thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế
mà không nói rõ đó là cán cân nào thì người ta hiểu đó là thặng dư hay thâm hụt cán cân tổng thể Chính vì vậy, cán cân tổng thể còn được gọi là cán cân thanh toán chính thức của quốc gia
1.3 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế 1.3.1 Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thanh toán quốc tế
Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại thông qua hiệu ứng đường cong J và lý thuyết co giãn
- Hiệu ứng đường cong J: phá giá tiền tệ làm giảm giá trị đồng nội tệ so với các ngoại tệ khác Phá giá sẽ làm tăng tỷ giá danh nghĩa kéo theo tỷ giá thực tăng sẽ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, qua đó giúp cải thiện cán cân thương mại Khi tỷ giá tăng, giá xuất khẩu rẻ đi khi tính bằng ngoại, giá nhập khẩu khi tính bằng đồng nội tệ tăng gọi là hiệu ứng giá cả Khi tỷ giá tăng làm giá hàng xuất khẩu rẻ hơn đã làm tăng khối lượng xuất khẩu đồng thời hạn chế khối lượng nhập khẩu, hiện tượng này gọi là hiệu ứng khối lượng Cán cân thương mại xấu đi hay cải thiện đều phụ thuộc vào hiệu ứng giá cả hay hiệu ứng khối lượng cái nào trội hơn
Đường cong J là một đường mô tả hiện tượng cán cân vãng lai bị xấu đi trong ngắn hạn và chỉ cải thiện trong dài hạn Đường biểu diễn hiện tượng này giống hình chữ J Theo kết quả nghiên cứu của Krugman (1991), người đã tìm ra hiệu ứng đường cong J khi phân tích cuộc phá giá đồng USD trong thời gian 1985 –
1987, thì ban đầu cán cân vãng lai bị xấu đi, sau đó khoảng 2 năm cán cân vãng lai
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 24được cải thiện Nguyên nhân xuất hiện đường cong J là do trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả có tính trội hơn hiệu ứng khối lượng nên làm xấu đi cán cân thương mại Ngược lại, trong dài hạn hiệu ứng khối lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả làm cán cân thương mại được cải thiện
- Lý thuyết co giãn: nội dung chủ yếu của lý thuyết co giãn là phân tích hai nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân vãng lai khi phá giá tiền tệ, đó là nhân tố tác động làm cải thiện cán cân vãng lai và nhân tố tác động làm xấu đi cán cân vãng lai thông qua phân tích hệ số co giãn cầu xuất khẩu và nhập khẩu đối với tỷ giá Điều kiện Marshall – Lerner chỉ ra rằng, phá giá nội tệ thành công (cải thiện cán cân thương mại) khi tổng hệ số co giãn xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1
- Lý thuyết theo trường phái tiền tệ
Dưới chế độ tỷ giá hối đoái cố định, một sự tăng lên về cung tín dụng trong nước sẽ làm cho cán cân thanh toán bị thâm hụt và ngược lại, sự giảm sút về cung tín dụng trong nền kinh tế sẽ làm cho cán cân thanh toán thặng dư Trong khi đó, dưới chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt, cung tín dụng trong nước tăng sẽ làm cho đồng nội tệ giảm giá và ngược lại, khi cung tín dụng trong nước giảm sút sẽ làm cho đồng nội tệ tăng giá
1.3.2 Tác động của cán cân thanh toán quốc tế đến tỷ giá hối đoái
- Dưới chế độ tỷ giá hối đoái cố định: Chính phủ luôn chịu trách nhiệm đảm bảo sao cho cán cân thanh toán quốc tế đạt ở mức cân bằng Nếu cán cân tổng thể không gần bằng 0, NHTW có thể can thiệp trên thị trường ngoại hối bằng cách mua vào hoạt bán ra dự trữ ngoại hối để đảm bảo cho cán cân thanh toán trở về trạng thái cân bằng
- Dưới chế độ tỷ giá thả nổi: NHTW không can thiệp vào tỷ giá hối đoái Và thực tế rằng, cán cân thanh toán không ở trạng thái cân bằng, nó sẽ tác động đến tỷ giá theo hướng làm cho cán cân thanh toán trở về trạng thái cân bằng (David K.Eiteman 2001, trg.62)
- Dưới chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý: tùy thuộc vào tình hình, điều kiện thị trường mà NHTW có thể can thiệp ở một mức độ nhất định để đảm bảo cho tỷ
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 25giá luôn ở mức như mong muốn NHTW có thể can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối hoặc can thiệp gián tiếp vào thị trường, ví dụ như NHTW có thể dụng chính sách lãi suất
1.4 Cơ sở thực tiễn
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế là một phạm trù thuộc lĩnh vực tài chính quốc tế
Nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Văn Tiến với đề tài “Tỷ giá thực và tác động của nó đến cán cân thương mại” cho thấy có mối liên hệ giữa tỷ giá thực và cán cân thương mại, một bộ phận quan trọng trong cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế Nghiên cứu cho biết, với những quốc gia định giá đồng nội tệ thấp (tỷ giá thực song phương hay đa phương lớn hơn 1), sẽ kích thích tăng trưởng của xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, làm cho tỷ lệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu được cải thiện Nghiên cứu cho trường hợp Việt Nam cũng được nhìn nhận theo khía cạnh này, nên tỷ giá của Việt Nam trong giai đoạn 1999 - 2002 có ảnh hưởng nhất định tới cán cân thương mại của Việt Nam
Nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Thư với đề tài “Tỷ giá hối đoái: chính sách
và tác động của nó tới hoạt động ngoại thương” đã sử dụng các phương pháp phân tích định tính và tổng hợp để xem xét tác động của tỷ giá đến hoạt động xuất khẩu
và nhập khẩu, theo đó nó tác động đến cán cân thương mại trong giai đoạn 1991 -
2000 Kết quả nghiên cứu cho kết luận rằng: tác động trực tiếp của việc điều chỉnh
tỷ giá đến cán cân thương mại, cán cân vãng lai là rất khiêm tốn và chậm Tuy nhiên việc điều chỉnh tỷ giá có những tác động tích cực mang tính gián tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian này
Nghiên cứu “Phân tích ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của PGS.TS Nguyễn Thị Quy (2008) đã tiếp cận thực nghiệm, khảo sát, điều tra và lượng hóa tác động của biến động tỷ giá đến hoạt động xuất nhập khẩu, và kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ giá VND/USD có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động xuất nhập
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 26khẩu Tuy nhiên đề tài này cũng đã kết luận thêm rằng, tỷ giá chỉ là một trong nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu Kết quả nghiên cứu này cũng đồng nhất với một số quan điểm của các nhà kinh tế trong nước khi cho rằng, muốn cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam thì cần phải quan tâm hơn nữa trong điều hành chính sách tỷ giá, ngoại hối (Nguyễn Thị Mùi 2009, Lê Xuân Nghĩa 2009, Nguyễn Minh Phong 2009)
Nghiên cứu “Sử dụng mô hình VECM trong đánh giá tác động của tỷ giá thực đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam” của tác giả Nguyễn Chiến Thắng
2003 Bằng phương pháp sử dụng mô hình vector hiệu chỉnh sai số, tác giả đã nghiên cứu tác động của tỷ giá thực song phương VND/USD lên hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1986 - 2000 và có kết quả rằng hệ số co giãn dài hạn với xuất khẩu của Việt Nam là 1.13, trong khi đó hệ số này từ công trình nghiên cứu của Lord dùng cho xuất khẩu giày da của Việt Nam là 1.97
Nghiên cứu “Ảnh hưởng của tỷ giá đến cán cân thương mại Việt Nam” của Nguyễn Văn Công 2002 đã dựa vào điều kiện Marshall- Lerner để xem xét ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái thực đến khối lượng xuất nhập khẩu trong dài hạn và trong ngắn hạn Nghiên cứu này đưa ra kết quả rằng, điều kiện Marshall- Lerner không thỏa mãn khi tổng hệ số co giãn xuất khẩu và nhập khẩu nhỏ hơn 1
Nghiên cứu gần đây của hai tác giả Nguyễn Văn Tiến, Đinh Thị Thanh Long (Học viện Ngân hàng- 2009) khi phân tích và tính toán độ co giãn của cầu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa với tỷ giá hối đoái trên cơ sở xem xét 3 mức tỷ giá lên sự
co giãn xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam Kết quả nghiên cứu chỉ rõ, với tỷ giá danh nghĩa chính thức, tỷ giá mua/ bán chính thức thì điều kiện Marshall- Lerner không được thỏa mãn, nhưng khi kiểm định mô hình theo tỷ giá bán của NHTM khi cho thêm biến thu nhập vào thì điều kiện Marshall- Lerner thỏa mãn
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu của Joseph P Danields, David D VanHoose (2005),
International Monetary and Financial Economics, đã chỉ rõ mối liên hệ giữa tỷ
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 27giá hối đoái và cán cân thanh toán theo cách tiếp cận về lý thuyết co giãn, lý thuyết chi tiêu, lý thuyết tiền tệ và lý thuyết danh mục đầu tư
Nghiên cứu của David K.Eiteman (2001), Multinational Business Finance,
đã xây dựng một cách tổng thể các nhân tố tác động đến tỷ giá, từ đó xem xét tác động của cán cân thanh toán đến tỷ giá hối đoái
Nội dung của hai công trình nghiên cứu trên là vô cùng quý giá để nhiều công trình nghiên cứu sau này dựa vào đó làm cơ sở luận chứng để tiếp tục nghiên cứu thực tiễn mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế tại Việt Nam
Nghiên cứu của Mohsen Bahmani-Oskooee and Gour Goswami 2003, A Disaggregated Approach to Test the J-Curve Phenomenon: Japan versus He Major Trading Partners, bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, công trình đã
cho thấy vai trò của tỷ giá đồng Yên Nhật đối với tăng trưởng xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại của đất nước này trong giai đoạn 1973-1998 Phá giá đồng Yên Nhật trong dài hạn sẽ cải thiện được cán cân thương mại đối với cá nước Canada, Anh Quốc và Mỹ Còn theo nghiên cứu của Alicia Garcia- Herrero and Tuuli Koivu
2009, China’s exchange rate policy and Asian Trade, đã lấy số liệu sau khi Trung Quốc gia nhập WTO (2000) với kết quả lượng hóa như sau: mọi điều kiện khác không đổi, khi đồng CNY lên giá thực 5% sẽ làm giảm 7% kim ngạch xuất khẩu và giảm 4% kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc do cầu hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc phụ thuộc vào xuất khẩu Không những thế, nghiên cứu trên cũng chỉ
rõ sự lên giá của CNY sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của các nước trong khu vực châu Á
Ngoài ra, còn có các nghiên cứu của Mohsen Bahmani-Oskooee and Antatrana Ratha 2008; Zehra Aftab and Sajawal Khan 2008; Duasa Jarita 2010…
đã cho thấy mối liên hệ cơ bản giữa tỷ giá và cán cân thanh toán quốc tế thông qua nghiên cứu tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại của các nước Mỹ, Pakistan, Malaysia
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 281.5 Mô hình nghiên cứu
Để phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán của Việt Nam thì mô hình VAR là mô hình tỏ ra thích hợp để lượng hóa sự tác động qua lại lẫn nhau giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế
1.5.1 Khái niệm về mô hình VAR
VAR (Vector Autoregression) hay còn gọi là mô hình Vector tự hồi quy Về cấu trúc gồm nhiều phương trình (Vector) và các biến trễ của các biến số (Autoregressive)
Ta xét 2 chuỗi thời gian X và Y Mô hình VAR tổng quát đối với 2 chuỗi thời gian X và Y như sau:
Trong đó, u1t và u2t là các sai số ngẫu nhiên hoặc phần dư, hay còn được gọi
là phản ứng xung lực hoặc cú sốc trong ngôn ngữ của mô hình VAR
Phần dư sẽ là các nhiễu trắng khi chúng thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Có giá trị kỳ vọng bằng 0: E(Ut) = 0
+ Có phương sai không đổi theo thời gian: Var(Ut) = const
+ Không có tự tương quan với nhau: Cov(Ut, Ut-i) = 0
Mô hình VAR là mô hình phù hợp khi phần dư là các nhiễu trắng
Trong mô hình trên, mỗi phương trình của hệ VAR đều chứa k độ trễ của mỗi biến Với 2 biến thì mô hình sẽ có 22k hệ số góc và 2 hệ số chặn Trong trường hợp tổng quát, nếu mô hình có p biến thì sẽ có p2k hệ số góc và p hệ số chặn Khi p càng lớn thì số hệ số cần phải ước lượng càng tăng lên
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 29VAR được sử dụng để ước lượng mối quan hệ nhân quả đa chiều giữa các chuỗi thời gian, dự báo hệ thống các chuỗi thời gian có liên quan đến nhau và phân tích các tác nhân tác động của sự phân bố ngẫu nhiên trong hệ thống các biến
VAR là một hệ phương trình tự hồi quy rất đặc thù, được thể hiện như sau: tất cả các biến trong VAR đều là biến nội sinh, không có biến ngoại sinh Những phương trình trong hệ VAR có cùng số biến độc lập như nhau, tức là độ trễ của hệ thống các biến giải thích là phải như nhau trong mô hình
1.5.2 Điều kiện của mô hình VAR
Khi xét đến mô hình VAR thì phải xét đến tính dừng của các chuỗi thời gian đưa vào trong mô hình Yêu cầu đặt ra khi ước lượng mô hình VAR là tất cả các biến phải là biến dừng Nếu chuỗi thời gian chưa dừng thì phải tiến hành kĩ thuật lấy sai phân để đảm bảo chuỗi dừng
1.5.3 Các kiểm định trên VAR
1.5.3.1 Kiểm định tính dừng của các chuỗi thời gian
Tính dừng như một công cụ trong phân tích chuỗi số liệu theo thời gian Các chuỗi thời gian đưa vào mô hình phải là các chuỗi dừng thì khi đó mô hình mà chúng ta xây dựng mới đầy đủ ý nghĩa thống kê Một quá trình ngẫu nhiên Yt được coi là dừng nếu kỳ vọng toán, phương sai và hiệp phương sai của nó tại cùng một
độ trễ không đổi theo thời gian Cụ thể như sau:
+ Giá trị kỳ vọng: E(Yt) = µ
+ Phương sai: Var(Yt) = σ2
+ Hiệp phương sai: Cov(Yt; Yt+k) = γt Điều kiện thứ 3 có nghĩa là hiệp phương sai giữa Yt và Yt+k chỉ phụ thuộc vào độ trễ về thời gian k giữa hai thời đoạn này chứ không phụ thuộc vào thời điểm
Trang 30Kiểm định nghiệm đơn vị (unit root test) là một kiểm định khá phổ biến để kiểm định chuỗi thời gian là dừng hay không dừng thông qua kiểm định ADF
Ta có chuỗi thời gian Xt:
Xt = α0 + α1X1 + α2X2 +… + αnXn + ut Giả thiết của kiểm định ADF:
Có bốn khả năng nhƣ sau:
+ Nhân quả Granger 1 chiều từ X sang Y nếu các biến trễ của X tác động lên
Y, nhƣng biến trễ của Y không tác động lên X
+ Nhân quả Granger 1 chiều từ Y sang X nếu các biến trễ của Y có tác động lên X, nhƣng biến trễ của X không tác động lên Y
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 31+ Nhân quả Granger 2 chiều giữa X và Y nếu các biến trễ của X có tác động lên Y và các biến trễ của Y tác động lên X
+ Không có quan hệ nhân quả Granger giữa X và Y nếu các biến trễ của X không tác động lên Y và các biến trễ của Y không tác động lên X
1.5.3.3 Hàm phản ứng theo phương pháp Cholesky
: tác động cú sốc 1 đơn vị của biến y2 tại thời điểm t lên y1 sau 0,1, ,k thời đoạn
: hàm phản ứng thể hiện tác động của 1 cú sốc đơn vị của biến j lên biến i sau t thời đoạn
1.5.3.4 Phân rã phương sai theo phương pháp Cholesky
Kết quả hàm phân rã phương sai Cholesky nói lên đóng góp của cú sốc trực giao thứ j đối với MSE của dự báo thời kỳ s được tính như sau:
( ) ( )( ) ( ) ( )
tự và không được xếp ngược lại
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 32CHƯƠNG II PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ 2.1 Diễn biến tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá của Việt Nam giai đoạn
sự thay đổi lớn khi được chuyển từ cơ chế quản lý hành chính sang hệ thống tỷ giá theo định hướng thị trường, thay vì áp đặt tỷ giá chính thức với biên độ dao động, NHNN đã bắt đầu công bố tỷ giá bình quân liên ngân hàng làm tham chiếu cho thị trường với biên độ dao động +/-0.1%, việc can thiệp của Nhà nước đối với tỷ giá được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
Trong giai đoạn 2000 - 2006, việc điều chỉnh chính sách tỷ giá chủ yếu là tăng dần tỷ giá liên ngân hàng được NHNN công bố chính thức hàng ngày Theo
đó, đồng VND gần như liên tục mất giá danh nghĩa so với đồng Đô la Mỹ, chỉ trừ một vài thời điểm nhỏ Tỷ giá VND/USD bình quân liên ngân hàng đã tăng từ mức 14,514 đồng năm 2000 lên mức 16,054 đồng vào cuối năm 2006 Trong giai đoạn này, biên độ dao động tối đa chỉ được điều chỉnh tăng hai lần, từ 0.1% năm 2000 lên 0.25% vào tháng 07/2002 và đến ngày 31/12/2006 NHNN đã điều chỉnh biên độ dao động lần thứ 2 lên +/- 0.5%
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 33Từ đầu năm 2007 đến cuối năm 2008, tỷ giá bình quân liên ngân hàng có xu hướng tăng nhẹ, từ mức 16,114 đồng năm 2007 lên mức 16,977 đồng cuối năm
2008 Trong giai đoạn này, NHNN đã thực hiện tất cả bốn lần điều chỉnh biên độ dao động, cụ thể là ngày 24/12/2007 điều chỉnh tăng biên độ dao động lên +/- 0.75%, lần điều chỉnh biên độ thứ 2 vào ngày 10/03/2008, điều chỉnh lên +/-1%, tiếp theo là vào ngày 27/06/2008 điều chỉnh lên +/- 2%, và lần điều chỉnh cuối cùng trong giai đoạn này là vào ngày 06/11/2008 điều chỉnh lên +/- 3% Như vậy chỉ riêng trong năm 2008 mà NHNN đã 3 lần thực hiện việc điều chỉnh biên độ dao động tỷ giá từ +/- 1% lên đến +/- 3% Kể từ năm 2007, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh, làm cho nguồn cung USD rất lớn, trên thực tế thì vào nửa đầu năm 2007 và từ tháng 10/2007 đến tháng 3/2008 thì thị trường ngoại hối Việt Nam
có sự dư cung lớn về USD khiến cho tỷ giá của NHTM giảm xuống sàn biên độ, VND đã lên giá trong giai đoạn này
Bước qua năm 2009, thì VND có xu hướng mất giá danh nghĩa so với đồng USD Đến cuối năm 2009 thì tỷ giá chính thức VND/USD đã tăng 5.6% so với cuối năm 2008 Trong khi trong năm 2008, tỷ giá niêm yết tại các NHTM biến động liên tục, đầu năm còn có giai đoạn thấp hơn tỷ giá chính thức, thì năm 2009 là một năm
mà tỷ giá NHTM luôn ở mức trần biên độ dao động mà NHNN công bố Trong cả năm 2009 áp lực về cung cầu trên thị trường cùng với áp lực tâm lý đã khiến tỷ giá trên thị trường tự do ngày càng rời xa tỷ giá chính thức Mặc dù NHNN buộc phải nới rộng biên độ dao động của tỷ giá chính thức trong tháng 3 từ +/- 3% lên +/- 5%, đây là biên độ dao động lớn nhất trong những năm qua, nhưng các NHTM vẫn giao dịch ở mức tỷ giá trần Tình trạng nhập siêu kéo dài từ tháng 3 đến cuối năm Thêm vào đó, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế đã khiến cho nhu cầu USD tăng cao, làm cho tỷ giá trên thị trường tự do tăng mạnh Và đến ngày 26/11/2009, NHNN buộc phải phá giá chính thức VND 5.4%, đây là tỷ lệ phá giá cao nhất trong một ngày kể từ năm 1998 để chống đầu cơ tiền tệ và giảm áp lực thị trường, đồng thời thu hẹp biên độ dao động xuống còn +/- 3% Đồng Việt Nam tiếp tục mất giá thể hiện qua việc tỷ giá giao dịch trên thị trường tự do vào thời điểm cuối năm 2009 vẫn đang ở mức cao khoảng 19,400 đồng và tỷ giá của các NHTM
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 34vẫn tiếp tục chạm trần Tình hình thị trường ngoại hối có thể trầm trọng hơn nếu không có sự tăng cung ngoại tệ do lượng kiều hối vẫn đứng vững ở con số khá tích cực hơn 6 tỷ USD, nguồn vốn FDI giải ngân ước đạt 10 tỷ USD, nguồn vốn FPI chảy ra vào đầu năm nhưng lại đảo chiều vào cuối năm và sự giảm sút nhu cầu ngoại tệ do thu nhập từ đầu tư của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài chuyển ra khỏi Việt Nam giảm Rõ ràng, NHNN đã còn lưỡng lự và không nhất quán trong điều hành chính sách tỷ giá, việc sử dụng biên độ tỷ giá thay cho việc phá giá chính thức vào tháng 03/2009 đã không có tác dụng như mong muốn, NHNN đã không kéo được tỷ giá thị trường tự do về sát với tỷ giá của NHTM mà thêm vào đó do phải giữ ổn định tỷ giá trong dài hạn nên NHNN phải bán ra một lượng lớn USD làm giảm dự trữ ngoại hối
Năm 2010 tiếp tục chứng kiến xu hướng tương tự trên thị trường ngoại hối như năm 2009 Cụ thể là các NHTM tiếp tục đặt tỷ giá tại mức trần biên độ của tỷ giá chính thức trong hầu hết các tháng trong năm và khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do có lúc đã tăng lên mức cao chưa từng có vào cuối năm 2010 Do áp lực thị trường vẫn tiếp tục tăng cao dù cuối năm 2009 đến ngày 11/02/2010, NHNN đã phải tăng tỷ giá chính thức từ 17,941 đồng lên 18,544 đồng, tương đương với việc phá giá 3.3% Cùng với việc nâng tỷ giá, NHNN đã thực hiện hàng loạt các biện pháp hành chính nhằm giảm áp lực lên thị trường ngoại hối như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ, mở rộng đối tượng cho vay ngoại tệ, chấm dứt việc giao dịch vàng trên các tài khoản ở nước ngoài của các NHTM và các tổ chức tín dụng, đóng của các sàn vàng và tăng lãi suất cơ bản lên 8%/năm Kết quả là 6 tháng đầu năm 2010 tín dụng ngoại tệ đã tăng 27% trong khi tín dụng đối với VND chỉ tăng 4.6% Đồng thời, kiều hối và các khoản giải ngân ODA, FDI, FPI đều tăng lên trong hai quý đầu năm 2010 so với cùng kỳ 2009 khi còn khủng hoảng Tất cả các yếu tố trên đã góp phần trong trong việc tăng cung và giảm cầu ngoại tệ, từ đó giảm khoảng cách giữa tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá chính thức trong quý 2 và nửa đầu quý 3 năm 2010 Tuy nhiên, các NHTM tiếp tục đặt tỷ giá ở mức trần hoặc gần với trần biên độ của tỷ giá chính thức Và từ đầu tháng 07/2010, tỷ giá thị trường tự do lại bắt đầu tăng lên Những xu hướng này
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 35phản ánh kỳ vọng của thị trường ngoại hối về sự phá giá của VND Có lẽ nhận thức được mối đe dọa này, vào ngày 17/08/2010 NHNN đã đột ngột tăng tỷ giá thêm 2.1% lên mức 18,932 đồng mặc dù lúc đó áp lực thị trường vẫn chưa rõ ràng và khoảng cách giữa tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá chính thức vẫn đang ở mức thấp khoảng 500 đồng Ngay lập tức, các NHTM tăng tỷ giá của họ lên kịch trần biên độ Động thái của NHNN có thể đã giúp giảm áp lực và ổn định tỷ giá nếu không có nhiều yếu tố bất lợi diễn ra trong những tháng cuối năm 2010 Yếu tố đầu tiên và có
lẽ là yếu tố quan trọng nhất là việc giá vàng thế giới tăng cao kỷ lục dẫn dến giá vàng trong nước tăng cao hơn do đầu cơ, đồng thời cũng do lạm phát bắt đầu tăng nhanh trở lại từ tháng 9/2010 Trong những tháng cuối năm 2010, thị trường ngoại hối chứng kiến sự tăng lên nhanh chóng của cầu về ngoại tệ và kết quả của sự dư cầu ngoại tệ này là tỷ giá thị trường tự do bắt đầu tăng từ tháng 9/2010 lên 20,500 đồng và vào giữa tháng 10 và tăng lên đến mức kỷ lục là trên 21,500 đồng vào cuối tháng 11 Đối mặt với tình trạng này, NHNN đã phải thực hiện hàng loạt các biện pháp hành chính như tuyên bố tăng cung ngoại tệ cho cho việc nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu cho sản xuất, thắt chặt việc trao đổi cũng như nhận gửi và cho vay bằng vàng và tăng hạn ngạch nhập khẩu vàng để làm dịu tình hình căng thẳng trên thị trường vàng, đồng thời lãi suất cơ bản tăng lên 9%/năm vào tháng 11
Sự căng thẳng của tỷ giá VND/USD cuối năm 2010 tiếp tục chuyển sang đầu năm 2011, không thể tiếp tục duy trì tỷ giá NHNN đã tuyên bố mức phá giá cao nhất trong lịch sử (9.3%) vào đầu tháng 02/2011, nâng tỷ giá chính thức lên 20,693 đồng và giảm biên độ xuống còn +/- 1% Nỗ lực này đã không có kết quả ngay lập tức Tỷ giá thị trường tự do vọt lên trên 22,100 đồng trong vòng vài ngày kể từ sau lần phá giá này Vào tháng 03/2011, NHNN đã siết chặt các hoạt động trên thị trường tự do, áp đặt trần lãi suất thấp cho tiền gửi bằng ngoại tệ và lãi suất VND khi
đó tăng lên kịch trần 14%/năm Do vậy, cung ngoại tệ đã tăng lên khi các doanh nghiệp và cá nhân chuyển tiền gửi bằng ngoại tệ sang tiền gửi bằng nội tệ để tận dụng chênh lệch lãi suất cao Bên cạnh đó, do thực thi Nghị quyết 11, tổng cầu của nền kinh tế suy giảm, nhu cầu nhập khẩu giảm và cung cầu ngoại tệ được cải thiện hơn Đồng thời NHNN cũng tuyên bố mua thêm được 3 tỷ USD cho dự trữ ngoại
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 36hối Nhờ đó, tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá NHTM đều giảm xuống từ tháng 04/2011 và có lúc còn thấp hơn tỷ giá chính thức
Giai đoạn 2010-2011 cho thấy NHNN đã chủ động hơn so với những năm trước Cụ thể, NHNN đã đi trước thị trường vào tháng 08/2010 khi các áp lực thị trường còn tương đối thấp Đồng thời, NHNN cũng đã phá giá một lần với mức độ lớn hơn vào tháng 02/2011 Những động thái này cho thấy NHNN đã bớt cứng nhắc
và đã vận động theo thị trường tốt hơn
Sang năm 2012 thì đây được xem là năm thành công trong công tác điều hành chính sách tỷ giá của NHNN Diễn biến tỷ giá năm 2012 có thể chia thành hai giai đoạn Giai đoạn 1 là từ tháng 1- 6/2012, tỷ giá khá ổn định và có xu hướng tăng nhẹ khoảng 0.55%, tỷ giá bình quân liên ngân hàng vẫn được duy trì ở mức 20,828 đồng, còn tỷ giá giao dịch của các NHTM sau một thời gian duy trì ở mức kịch trần biên độ đã được các ngân hàng điều chỉnh giảm dần vào thời điểm cuối tháng 06/2012 từ mức 20,860 đồng xuống 20,920 đồng Từ tháng 07/2012 đến cuối năm thì tỷ giá vẫn duy trì ở mức ổn định và có xu hướng giảm dần Tháng 08/2012, tỷ giá thị trường tự do có tăng nhẹ nhưng bước sang tháng 09/2012 lại bắt đầu có xu hướng giảm dần cho tới hết năm 2012 khi tỷ giá luôn xoay quanh mức 20,850 đến 20,870 đồng Như vậy, do có những quyết sách rõ ràng và minh bạch của NHNN trong công tác điều hành chính sách tỷ giá cùng với sự diễn biến theo hướng khả quan của cung cầu USD trên thị trường ngoại hối đã góp phần tạo nên thặng dư cán cân tổng thể vào nửa đầu năm 2012 và tiếp tục duy trì xu hướng ổn định đến cuối năm 2012
Trong năm 2013, tỷ giá bình quân liên ngân hàng VND/USD được duy trì ở mức 20,028 đồng trong 6 tháng đầu năm và được điều chỉnh lên mức 21,036 đồng trong 6 tháng còn lại Nhìn chung thì tỷ giá VND/USD trên thị trường chính thức và thị trường tự do năm 2013 có diễn biến tương đối ổn định và tăng nhẹ Tính chung
cả năm 2013, thì tỷ giá trung bình của 23 NHTM Việt Nam là 21,084 đồng, tăng 1.27% so với thời điểm cuối năm 2012 và tỷ giá thị trường tự do ngày 31/12/2013 là 21,186 đồng tăng 1.62% so với thời điểm cuối năm 2012 Nguyên nhân của sự ổn định và không biến động nhiều của tỷ giá VND/USD trên cả hai thị trường năm
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 372013 chủ yếu là do nguồn cung USD dồi dào, đây là năm thứ 2 liên tục thị trường ngoại hối có sự ổn định tương đối Kết quả này đạt được là do NHNN đã áp dụng hàng loạt các chính sách như: thu hẹp biên độ tỷ giá từ +/- 3% xuống còn +/-1%, giới hạn các đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ (Thông tư số 03/2012/TT- NHNN, thông tư số 37/2012/TT- NHNN), điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với đồng USD và siết chặt hoạt động của thị trường tự do
Nhìn chung giai đoạn 2011- 2013, thì thị trường ngoại hối tương đối ổn định
so với giai đoạn trước đó, nếu như giai đoạn 2009-2010 cung cầu USD trên thị trường ngoại hối có nhiều biến động kéo theo sự biến động của tỷ giá thì đến giai đoạn 2011- 2013 thì sự biến động này là không đáng kể
Bước sang năm 2014, đây được xem là năm khá ổn định của tỷ giá VND/USD Tuy nhiên lại có những biến động như sau: sau khi tỷ giá được duy trì
ổn định liên tục trong suốt quý 1, thì thị trường ngoại hối lại có những dấu hiệu nóng lên và có những biến động khá mạnh trong khoảng thời gian từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6 Ngày 19/06/2014, NHNN đã công bố điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND/USD từ mức 21,036 đồng lên 21,246 đồng, tương đương tăng 1% Với biên độ tỷ giá +/- 1% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tỷ giá trần giữa VND/USD tại các NHTM kể từ ngày 19/06 là 21,458 đồng, tỷ giá sàn là 21,034 đồng Đây là lần đầu tiên trong gần một năm, NHNN điều chỉnh tỷ giá trước những biến động của thị trường Tiếp theo là do kỳ vọng sẽ điều chỉnh tỷ giá sau phiên trả lời chất vấn của Thống Đốc NHNN nên từ ngày 1/10/2014, tỷ giá đã có những biến động, có ngân hàng đã điều chỉnh tăng tỷ giá VND/USD lên 10 đồng Tuy nhiên với sự can thiệp của NHNN bằng thông điệp là không tăng tỷ giá trong năm nay, thị trường đã đi vào ổn định trở lại Vào ngày 18/11/2014, tỷ giá VND/USD lại có những biến động mạnh, có thời điểm đạt mức 21,420 đồng Trước những diễn biến thị trường xuất hiện thông tin NHNN sẽ điều chỉnh tăng tỷ giá, NHNN đã phải 2 lần lên tiếng khẳng định là không tăng tỷ giá Như vậy, với những diễn biến tỷ giá 2014, NHNN đã có năm thứ 3 liên tiếp thành công trong nhiệm vụ kiểm soát biến động tỷ giá
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 38Năm 2015, mặc dù có nhiều áp lực đối với thị trường ngoại hối nhưng nhờ
sự điều hành hiệu quả của NHNN nên tỷ giá bình quân liên ngân hàng chỉ tăng 3.16% so với năm 2014 Đây được coi là một năm đầy biến động và thách thức trong trong chính sách tỷ giá và chính sách tỷ giá trước bối cảnh đồng USD liên tục lên giá do kỳ vọng FED điều chỉnh tăng lãi suất và bất ngờ Trung Quốc điều chỉnh phá giá mạnh đồng Nhân dân tệ, kéo theo làm sóng giảm giá mạnh đồng tiền của các đối tác thương mại của Việt Nam Trước tình hình đó, sau khi Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ ngày 11/08 thì vào ngày 12/08, NHNN đã điều chỉnh biên độ
tỷ giá giữa VND/USD tăng từ +/-1% lên +/-2% Tiếp đó, đón đầu các tác động bất lợi của khả năng FED tăng lãi suất và biến động của thị trường tài chính thế giới, ngày 19/08 NHNN đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND/USD lên 1%, đồng thời mở rộng biên độ dao động tỷ giá từ +/-2% lên +/-3% Như vậy trong năm 2015, NHNN đã tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên 3% so với năm
2014, và nới rộng biên độ dao động tỷ giá từ +/-1% lên thành +/-3%
Biểu đồ 1 Tỷ giá danh nghĩa VND/USD từ quý 1 – 1998 đến quý 1 – 2015
0.00 5,000.00 10,000.00 15,000.00 20,000.00 25,000.00
Trang 392.1.2 Diễn biến tỷ giá thực song phương VND/USD
Biểu đồ 2 Diễn biến tỷ giá thực song phương VND/USD
Trong giai đoạn từ năm 1998 - 2014, tỷ giá danh nghĩa song phương VND/USD có xu hướng tăng lên theo thời gian nhưng tỷ giá thực song phương VND/USD lại giảm dần và có xu hướng nhỏ hơn 1 trong các năm sau này
Từ năm 1998 đến năm 2003, tỷ giá thực song phương VND/USD có xu hướng tăng lên, từ chỉ số tỷ giá là 1 năm 1998 (vì đây là năm gốc trong kỳ tính toán) đã tăng lên 1.164 năm 2003 Đây là giai đoạn mà chỉ số tỷ giá thực song phương VND/USD tăng lên duy nhất trong thời gian nghiên cứu
Qua năm 2004, tỷ giá thực song phương VND/USD đã bắt đầu giảm sau 4 năm tăng lên liên tục, nhưng chỉ số tỷ giá này vẫn lớn hơn 1 Mặc dù tỷ giá danh nghĩa song phương giữa VND/USD luôn tăng liên tục qua thời gian nhưng do đây
là năm lạm phát ở Mỹ có tốc độ tăng mạnh hơn so với lạm phát của Việt Nam so với các năm trước đó nên đã làm cho tỷ giá thực song phương VND/USD bắt đầu giảm xuống so với các năm trước đó Như vậy sự tăng lên của tỷ giá danh nghĩa song phương VND/USD không đồng nghĩa với sự mất giá của VNĐ, nó tăn lên hay giảm xuống còn phụ thuộc lớn vào chênh lệch lạm phát giữa hai quốc gia
0 0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2 1.4
RER VND/USD
RER VND/USD
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế
Trang 40Từ năm 2006 đến năm 2014, đây là giai đoạn chứng kiến sự giảm xuống liên tục và đều dưới 1 của tỷ giá thực song phương VND/USD Có được điều này là do trong khoảng thời gian này tốc độ tăng lạm phát của Mỹ luôn ở mức cao hơn so với tốc độ tăng của lạm phát Việt Nam, và đồng USD liên tục bị mất giá trong những năm gần đây, mặc dù tỷ giá danh nghĩa song phương của VND/USD liên tục tăng đều trong các năm qua
2.2 Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1998 – 2014
2.2.1 Cán cân thương mại
Năm 1998 là năm mà cán cân thương mại của Việt Nam rơi vào trạng thái thâm hụt với mức thâm hụt 989 triệu USD, đây là năm mà cả 4 quý luôn ở trong tình trạng nhập siêu, mặc dù mức nhập siêu không cao nhưng đã làm cho mức thâm hụt cả năm lên gần 1 tỷ USD
Qua năm 1999, cán cân thương mại đã thoát khỏi tình trạng thâm hụt của năm 1998 và đã đạt mức thặng dư 972 triệu USD Trong năm này, chỉ có quý 1 là cán cân thương mại bị thâm hụt với mức rất thấp 17 triệu USD, còn 3 quý còn lại đều đạt thặng dư
Từ năm 2000 đến 2001, cán cân thương mại đều đạt mức thặng dư nhưng không đáng kể Cụ thể là trong năm 2000, cán cân thương mại Việt Nam thặng dư
375 triệu USD, có được mức thặng dư nguyên nhân là do trong quý 3/2000 đã đạt thặng dư 434 triệu USD trong khi hầu hết các quý còn lại đều thâm hụt nhẹ Năm
2001 cũng vậy, đây là năm mà cán cân thương mại mặc dù thặng dư nhưng không đáng kể, chỉ ở mức 481 triệu USD tăng lên 106 triệu so với năm 2000 Quý 1, quý 2
và quý 3 đều chứng kiến sự thặng dư, chỉ duy nhất trong quý 4 là cán cân thương mại đã rơi vào thâm hụt 525 triệu USD, điều này đã làm cho mức thặng dư của năm
2001 đã giảm một cách đáng kể
Sau 2 năm đạt thặng dư mặc dù mức thặng dư là chưa cao, thì bước qua năm
2002 cán cân thương mại đã rơi vào tình trạng thâm hụt, ở mức 1.054 tỷ USD, vì chỉ ngoại trừ quý 3 là đạt thặng dư nhưng chỉ là 16 triệu USD còn 3 quý còn lại
Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế