1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC

129 404 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu tình hình công tác xác lập mức trọng yếu để xác định cỡ mẫu tại Công ty TNHH Kiểm toán FAC Huế đối với khách hàng Lữ hành Hương Giang ...45 1 Xác định rủi ro kiểm toán ...45 2 X

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Bước vào môi trường Đại học là một bước ngoặt lớn của cuộc đời tôi, nơi tôiđược tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ, học tập từ những người thành công vàtrong thời gian học ở trường sẽ rất khó khăn nếu tôi không nhận được sự giúp đỡ củanhững người xung quanh

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trường Đại học Kinh tế Huế đã giúp tôi tíchlũy được nhiều kiến thức bổ ích

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô Khoa Kế toán – Kiểm toán, đãtận tình truyền đạt những bài học, kinh nghiệm thực tế quý báu.Đặc biệt là côNguyễn Thị Thu Trang, cô đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tạo điều kiện cho tôi học tập

và thực hiện khóa luận này

Đồng thời gửi lời cảm ơn đến Ban giám đốc và toàn thể các anh chị nhân viêntrong công ty kiểm toán FAC Huế Đặc biệt, tôi cảm ơn anh Minh, anh Tân, chị Vân

đã tận tình giúp đỡ trong suốt quá trình tôi được học tập và làm việc thực tế tại côngty

Huế, ngày 19 tháng 05 năm 2016

Sinh viên thực tập

Lê Thị Thảo VyĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

DANH MỤC CÁC BẢNG

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 1

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 2

6 Kết cấu của đề tài 2

7 Tính mới của đề tài 3

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG MỨC TRỌNG YẾU ĐỂ XÁC ĐỊNH CỠ MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 4

1.1 Cơ sở lý luận về mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán 4

1.1.1 Mức trọng yếu 4

(1)Khái niệm về Mức trọng yếu 4

(2) Cơ sở xác lập mức trọng yếu 6

(3)Quy trình xác định mức trọng yếu 8

1.1.2 Rủi ro kiểm toán 12

(1)Khái niệm về rủi ro kiểm toán 12

(2) Các thành phần của rủi ro kiểm toán 13

(3) Mối quan hệ giữa các thành phần của rủi ro kiểm toán 15

1.1.3 Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong Kiểm toán BCTC 18

1.2 Cơ sở lí luận về chọn mẫu kiểm toán 19

1.2.1 Khái niệm về chọn mẫu kiểm toán 19

(1) Khái niệm phương pháp chọn mẫu 19

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 3

(2) Sự cần thiết và ý nghĩa của phương pháp chọn mẫu .20

1.2.2 Yêu cầu khi chọn mẫu 21

1.2.3 Các loại rủi ro trong chọn mẫu 21

1.2.4 Các phương pháp chọn mẫu trong kiểm toán 23

(1) Các phương pháp chọn mẫu 23

(2) Kĩ thuật phân tầng (tổ) trong chọn mẫu kiểm toán 26

1.2.5 Quy trình chọn mẫu kiểm toán 27

CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VIỆC ÁP DỤNG MỨC TRỌNG YẾU ĐỂ XÁC ĐỊNH CỠ MẪU TRONG KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU BÁN HÀNG VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ TẠI VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN FAC TẠI THỪA THIÊN HUẾ 33

2.1 Tổng quan về Công ty TNHH Kiểm toán FAC 33

2.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển 33

2.1.2 Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động 39

(1) Mục tiêu hoạt động 39

(2) Nguyên tắc hoạt động 39

2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lí của Công ty TNHH Kiểm toán FAC 40

2.1.4 Tổng quan quy trình kiểm toán BCTC đang áp dụng tại Công ty TNHH Kiểm toán FAC 42

2.2 Thực tế công tác xác lập mức trọng yếu để xác định mẫu tại Công ty TNHH Kiểm toán FAC đối với khách hàng Công ty TNHH MTV Lữ hành Hương Giang 43

2.2.1 Giới thiệu sơ lược Công ty TNHH MTV Lữ hành Hương Giang 43

(1) Lịch sử hình thành và phát triển 43

(2) Các chính sách kế toán áp dụng tại Công ty TNHH MTV Lữ hành Hương Giang 45 2.2.2 Tìm hiểu tình hình công tác xác lập mức trọng yếu để xác định cỡ mẫu tại Công ty TNHH Kiểm toán FAC Huế đối với khách hàng Lữ hành Hương Giang 45

(1) Xác định rủi ro kiểm toán 45

(2) Xác lập mức trọng yếu 52

(3) Vận dụng trọng yếu và rủi ro để xác định cỡ mẫu và lựa chọn phần tử kiểm tra 53

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VIỆC ÁP DỤNG MỨC TRỌNG YẾU ĐỂ XÁC ĐỊNH CỠ MẪU TẠI VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN FAC TẠI THỪA THIÊN HUẾ 59

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 4

3.1 Đánh giá việc áp dụng mức trọng yếu để xác định cỡ mẫu trong Văn phòng đại

diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế 59

3.1.1 Ưu điểm 59

3.1.2 Nhược điểm 59

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

1 Kết luận 62

2 Kiến nghị 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

BCĐKT (B/S) Bảng cân đối kế toánBCKQKD (P/L) Báo cáo kết quả kinh doanhBCKT Báo cáo kiểm toán

BCTC Báo cáo tài chính

HĐQT Hội đồng quản trịHTKSNB Hệ thống kiểm soát nội bộ

VACPA Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 6

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Quy trình xác định mức trọng yếu do VACPA ban hành 8

Sơ đồ 1.2 Mô hình rủi ro kiểm toán 16

Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với bằng chứng kiểm toán (chi phí kiểm toán) 17

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu bộ máy công ty 40

Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức Văn phòng đại diện tại Thừa Thiên Huế 41

Sơ đồ 2.3 Sơ đồ chu trình kiểm toán mẫu do VACPA ban hành 42

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Ma trận rủi ro phát hiện 17Bảng 1.2 Tỷ lệ sai lệch cho phép đối với các mức đánh giá rủi ro kiểm soát 29Bảng 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới kích cỡ mẫu của các thử nghiệm kiểm soát 30Bảng 2.1 Bảng phân tích biến động đối với khoản mục doanh thu bán hàng và cungcấp dịch vụ (ĐVT: VNĐ) 46Bảng 2.2 Bảng đánh giá các thành phần HTKSNB 47Bảng 2.3 Bảng quy định về đánh giá mức độ đảm bảo R 54Bảng 2.4 Bảng tính cỡ mẫu các khoản mục khách hàng Lữ hành Hương Giang 56

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 8

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Ngành kiểm toán tại Việt Nam ra đời vào những năm 80 của thế kỉ XX và từ đóđến nay nó đã không ngừng phát triển cùng với nền kinh tế nước ta Qua nhiều nămphát triển ngành Kiểm toán Việt Nam đã thể hiện rõ vai trò và vị thế của mình trongnền kinh tế thị trường hiện nay

Kiểm toán đã trở thành hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế với vai tròmang lại độ tin cậy của các thông tin tài chính thông qua các Báo cáo kiểm toán nhằmtạo cơ sở cho những quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Tuy nhiên, nhucầu của người sử dụng báo cáo kiểm toán luôn cao trong khi khả năng đáp ứng củaKiểm toán viên lại giới hạn bởi yếu tố thời gian và chi phí.Chính vì vậy, Kiểm toánviên cần có trách nhiệm đảm bảo hợp lí rằng Báo cáo tài chính sau khi được kiểmtoán không có những sai lệch trọng yếu cũng như phải đảm bảo về mặt thời gian, chiphí và chất lượng cuộc kiểm toán Muốn làm được điều này, Kiểm toán viên cần thựchiện xác định mức trọng yếu từ đó tiến hành xác định cỡ mẫu để thu hẹp phạm vikiểm toán

Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi đã chọn đề tài "Tìm hiểu việc áp dụngmức trọng yếu để xác định cỡ mẫu trong kiểm toán khoản mục Doanh Thu bán hàng

và Cung cấp dịch vụ tại Văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại ThừaThiên Huế"

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Tìm hiểu các lí luận về trọng yếu, rủi ro trong kiểm toán và chọn mẫu trong kiểmtoán BCTC

Tìm hiểu thực trạng phương pháp xác định các kĩ thuật xác định mức trọng yếu,rủi ro kiểm toán và phương pháp chọn mẫu mà các kiểm toán viên của Văn phòng đạidiện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế thực hiện đối với khách hàng

từ đó đưa ra các đánh giá về thực trạng áp dụng các kĩ thuật của Công ty

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 9

Đề xuất các giải pháp đối với việc áp dụng mức trọng yếu để xác định cỡ mẫucủa Văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế.

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu đề tài là phương pháp xác lập mức trọng yếu, các rủi rokiểm toán và phương pháp chọn mẫu trong kiểm toán BCTC của Công ty TNHH Kiểmtoán FAC

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi không gian: xác lập mức trọng yếu, các rủi ro kiểm toán và phương phápchọn mẫu trong kiểm toán BCTC của Công ty TNHH Kiểm toán FAC

Phạm vi thời gian: Nghiên cứu quy trình thực hiện xác lập mức trọng yếu, các rủi

ro kiểm toán và xác định cỡ mẫy trong kiểm toán BCTC một khách hàng năm 2015

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Thu thập tài liệu: tập hợp chương trình kiểm toán mẫu, hồ sơ kiểm toán kháchhàng, chuẩn mực kiểm toán kế toán để tìm hiểu việc áp dụng mức trọng yếu để xácđịnh cỡ mẫu trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Văn phòng đại diện Công ty TNHHKiểm toán FAC tại Huế

Phỏng vấn: Trưởng phòng, trưởng nhóm kiểm toán để mô tả thực tế áp dụng cácphương pháp xác định trọng yếu, rủi ro và chọn mẫu tại công ty

Phân tích kỹ thuật chọn mẫu của công ty, đánh giá ưu ngược điểm các phươngpháp xác định trọng yếu, rủi ro và chọn mẫu đang sử dụng

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận thì nội dung báo cáo của tôi gồm có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về việc áp dụng mức trọng yếu để xác định cỡ mẫu trong kiểm toán Báo cáo tài chính.

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 10

Chương 2: Thực trạng việc áp dụng mức trọng yếu để xác định cỡ mẫu trong kiểm toán khoản mục Doanh thu bán hàng và Cung cấp dịch vụ tại Văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế.

Chương 3: Đánh giá việc áp dụng mức trọng yếu để xác định cỡ mẫu tại Văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế

7 Tính mới của đề tài

Trong một cuộc kiểm toán, công việc đánh giá mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán

để đi đến xác định cỡ mẫu là vô cùng quan trọng Điều này có ảnh hưởng quan trọngđến quá trình thực hiện kiểm toán và kết luận cuối cùng của kiểm toán viên Tôi đãtham khảo và nhận thấy rằng mặc dù đề tài về phương pháp chọn mẫu như là "Thựctrạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại Công tyTNHH kiểm toán và kế toán AAC" đã được Lê Nguyễn Ngọc Anh thực hiện hay đề tài

về mức mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán như "Xác lập mức trọng yếu và việc vậndụng vào quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH kiểm toán và kếtoán AAC" do Trần Thùy Linh thực hiện tuy nhiên những đề tài đó chỉ mới đề cậpriêng lẻ các vấn đề trọng yếu, rủi ro và chọn mẫu kiểm toán chứ chưa có sự liên kết

Do đó, tôi thực hiện đề tài này để mọi người thấy rằng, công tác xác lập mức trọngyếu, rủi ro và chọn mẫu kiểm toán có mối liên hệ chặt chẽ Thêm vào đó, công tác này

ở mỗi công ty kiểm toán đều có sự khác nhau Ở đề tài này này, tôi sẽ tìm hiểu về vấn

đề áp dụng mức trọng yếu để xác định cỡ mẫu trong kiểm toán BCTC tại Văn phòngđại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC Huế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 11

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG MỨC TRỌNG YẾU ĐỂ XÁC ĐỊNH CỠ MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Cơ sở lý luận về mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán

1.1.1 Mức trọng yếu

(1)Khái niệm về Mức trọng yếu

Trong lĩnh vực kế toán, “trọng yếu” là một trong các nguyên tắc kế toán chung đượcthừa nhận và được quy định cụ thể trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 - "Chuẩnmực chung":

"9 Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc tínhchính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể BCTC, làm ảnh hưởng đến quyếtđịnh kinh tế của người sử dụng BCTC Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chấtcủa thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu củathông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính."

Bên cạnh đó, theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 – "Mức trọng yếu tronglập kế hoạch và thực hiện kiểm toán" thì:

" 09 Trong các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, các thuật ngữ dưới đây đượchiểu như sau:

(a) Trọng yếu: là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin(một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa

là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đếncác quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính."

Hay hiểu theo một cách đơn giản thì một thông tin được coi là trọng yếu nếu bỏsót hoặc sai sót thông tin đó có ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin

" (b) Mức trọng yếu: là một mức giá trị do kiểm toán viên xác định tùy thuộc vàotầm quan trọng và tính chất của thông tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụthể Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 12

thông tin cần phải có Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét cả trên phươngdiện định lượng và định tính."

Khái niệm về "Trọng yếu" và "Mức trọng yếu" đã cho ta một sự phân biệt giữa haithuật ngữ Thông thường, tính trọng yếu được đề cập sẽ gắn liền với sai phạm, cụ thể

là khi đánh giá sai phạm tức ta đang đánh giá sai phạm đó có trọng yếu hay không dựatrên hai mặt là định lượng và định tính Còn mức trọng yếu là một ngưỡng sai lệch tối

đa có thể chấp nhận được mà nếu sai phạm đó vượt qua sẽ làm người sử dụng báo cáotài chính hiểu sai về tính hình tài chính của đơn vị được kiểm toán dẫn đến nhữngquyết định không chính xác

Bên cạnh đó, "Trọng yếu" là một thuật ngữ tương đối vì vậy vấn đề coi là trọngyếu trong trường hợp này có thể lại là không mang tính trọng yếu trong trường hợpkhác

Khi lập kế hoạch kiểm toán, KTV phải xác định mức trọng yếu có thể chấp nhậnđược để làm tiêu chuẩn phát hiện ra những sai sót trọng yếu về mặt định lượng.Tuynhiên, để đánh giá những sai sót được coi là trọng yếu, KTV cần phải đánh giá trọngyếu dựa trên cả hai phương diện định lượng và định tính của sai sót, bao gồm 3 yếu tốlà:

 Về mặt giá trị : Tỷ lệ giá trị sai sót phát hiện trong giới hạn cho phép

Ví dụ : KTV quyết định mức sai sót có thể bỏ qua là 3% tổng doanh thu Vì vậysai sót hoặc bỏ sót vượt qua ngưỡng này được coi là trọng yếu

 Về mặt bản chất: Gía trị sai sót thuộc các khoản mục nào trong Báo cáo tàichính, hay thuộc các phạm vi và quy định cụ thể liên quan nào

Ví dụ : Các sai sót liên quan đến luồng tiền, các khoản thanh toán bất thường, cáctổn thất tài chính, các hành vi vi phạm pháp luật, gian lận,v.v…

 Về mặt bối cảnh : Sai sót gây ảnh hưởng như thế nào tới Báo cáo tài chính,cũng như các khoản mục đối ứng liên quan

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 13

Ví dụ : thay đổi BCTC từ lãi sang lỗ và ngược lại, báo cáo lỗ ảo vượt quá giớihạn cho phép, thay đổi xu hướng của tổng thể BCTC so với xu hướng chung của toànngành.

KTV cần xét tới khả năng có nhiều sai sót là tương đối nhỏ nhưng tổng hợp lại cóảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, như: một sai sót trong thủ tục hạch toán cuối tháng cóthể trở thành một sai sót trọng yếu, tiềm tàng nếu như sai sót đó cứ tiếp tục tái diễn vàomỗi tháng

KTV cần xem xét tính trọng yếu trên cả phương diện mức độ sai sót tổng thể củaBCTC trong mối quan hệ với mức độ sai sót chi tiết của số dư các tài khoản, của cácgiao dịch và các thông tin trình bày trên BCTC.Tính trọng yếu cũng có thể chịu ảnhhưởng của các nhân tố khác như các quy định pháp lý hoặc các vấn đề liên quan đếncác khoản mục khác nhau của BCTC và mối liên hệ giữa các khoản mục đó

Quá trình xem xét có thể phát hiện ra nhiều mức trọng yếu khác nhau tuỳ theo tínhchất của các vấn đề được đặt ra trong BCTC được kiểm toán

Việc xác đinh mức trọng yếu giúp KTV định hướng và lập kế hoạch tốt hơn bằngcách tập trung vào các tài khoản và chu trình kinh doanh quan trọng Tuy nhiên, khôngphải là bỏ qua các tài khoản hay chu trình khác, mà phân bổ thời gian ít hơn đối vớicác tài khoản và chu trình không quan trọng Điều đó giúp cho KTV thực hiện cuộckiểm toán một cách hiệu quả, các thủ tục kiểm toán được thiết kế và thực hiện phù hợpvới chi phí cũng như thời gian dành cho cuộc kiểm toán và khi phát hành Báo cáokiểm toán có đủ cơ sở để trình bày ý kiến kiểm toán “ đảm bảo hợp lý” và BCTC vẫnđược coi là trung thực và hợp lý, ngay cả khi chứa đựng các sai sót, nếu tổng sai sótnhỏ hơn bé hơn mức trọng yếu thực hiện

(2) Cơ sở xác lập mức trọng yếu

Mỗi cuộc kiểm toán đều có những hạn chế nhất định, vì vậy KTV chỉ có thể cungcấp mức độ đảm bảo hợp lý các loại báo cáo ở mức độ cao, nhưng không phải là tuyệtđối Do đó,KTV có trách nhiệm đảm bảo hợp lí rằng báo cáo tài chính không có nhữngsai lệch trọng yếu, qua đó cần xác lập mức trọng yếu có thể chấp nhận (giá trịsai lệch

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 14

tối đa cho phép), căn cứ vào đó nhằm thiết kế các thủ tục kiểm toán thích hợp để pháthiện những sai lệch có thể ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC.

Trong bước lập kế hoạch kiểm toán, KTV cần xác lập mức trọng yếu cho tổng thểBCTC và mức trọng yếu cho từng khoản mục để từ đó có thể ước tính sai lệch cóthểchấp nhận được của BCTC cũng như từng khoản mục phục vụ cho việc kiểm tra chitiết

Mức trọng yếu cho tổng thể BCTC (PM): được xác định tùy thuộc vào từngloạihình doanh nghiệp, thực trạng hoạt động tài chính, mục đích của người sử dụngthôngtin Kiểm toán viên thường căn cứ vào các chỉ tiêu tài chính sau để xác định:Doanh thu: được áp dụng khi đơn vị chưa có lãi ổn định nhưng đã có doanh thu

ổn định và doanh thu là một trong những nhân tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạtđộng Tỉ lệ được các công ty kiểm toán lựa chọn thường từ 0.5%-3% doanh thu

Lợi nhuận trước thuế: được áp dụng khi đơn vị có lãi ổn định Lợi nhuận là chỉtiêu được nhiều KTV lựa chọn vì đó là chỉ tiêu được đông đảo người sử dụng báo cáotài chính quan tâm, nhất là cổ đông của các công ty Tỉ lệ được lựa chọn thường từ 5%

- 10% lợi nhuận trước thuế

Tổng tài sản : được áp dụng khi đối với các công ty có khả năng bị phá sản, có lỗlũy kế lớn so với vốn góp Người sử dụng có thể quan tâm nhiều hơn về khả năngthanh toán thì việc sử dụng chỉ tiêu tổng tài sản là hợp lý Tỉ lệ được lựa chọn thườngnằm trong khoảng từ 0.5%-1% tổng tài sản

Vốn chủ sở hữu: được áp dụng khi đơn vị mới thành lập;doanh thu, lợi nhuậnchưa có hoặc có nhưng chưa ổn định.Tỉ lệ được lựa chọn từ 1%-2% vốn chủ sở hữu.Mức trọng yếu phân bổ cho từng khoản mục (MP/TE):là mức sai lệch tối đa củakhoản mục đó Khi phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục KTV căn cứ vàophương pháp phân bổ của công ty mình, kinh nghiệm của KTV về khoản mục đó, bảnchất của khoản mục, các đánh giá về rủi ro tiểm tàng và rủi ro kiểm soát cũng như thờigian và chi phí kiểm tra khoản mục đó để phân bổ cho hợp lý

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 15

Ngưỡng sai sót không đáng kể/sai sót có thể bỏ qua (Threshold):là mức giá trị cụthể mà sai sót dưới mức đó được coi là “ sai sót không đáng kể” và không cần tổnghợp lại vì không ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính.

“Sai sót không đáng kể" là những sai sót hoàn toàn không quan trọng, dù xem xéttrên góc độ đơn lẻ hay tổng thể, dù đánh giá về quy mô, nội dung hay trong bất kỳhoàn cảnh nào Tuy nhiên, khi có bất kỳ sự không chắc chắn nào về tính “không đángkể” của một vấn đề thì vấn đề đó không còn được coi là không đáng kể

Sơ đồ 1.1 Quy trình xác định mức trọng yếu do VACPA ban hành

Bước 1: Xác định tiêu chí được sử dụng để ước tính mức trọng yếu từ các tiêuchí đã được gợi ý trong Mẫu A710, và giải thích lý do lựa chọn tiêu chí này vào trong

ô tương ứng

1 • Xác định tiêu chí được sử dụng để ước tính mức trọng yếu

2 • Lấy Giá trị tiêu chí được lựa chọn ghi vào ô tương ứng.

3 • Lựa chọn tỷ lệ tương ứng của biểu để xác định mức trọng yếu tổng thể

4 • Xác định mức trọng yếu tổng thể = Giá trị tiêu chí x Tỷ lệ %

5 • Xác định mức trọng yếu thực hiện

6 • Xác định Ngưỡng sai sót không đáng kể/ sai sót có thể bỏ qua

7 • Lựa chọn mức trọng yếu áp dụng đối với cuộc kiểm toán

8 • Đánh giá lại mức trọng yếu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 16

Các tiêu chí phù hợp thông thường được lựa chọn có thể là:

- Lợi nhuận trước thuế;

Việc xác định tiêu chí phụ thuộc vào nhu cầu thông tin của đại bộ phận đối tượng

sử dụng thông tin tài chính (nhà đầu tư, ngân hàng, công chúng, cơ quan nhà nước ).Bước 2: Lấy Giá trị tiêu chí được lựa chọn ghi vào ô tương ứng

Giá trị tiêu chí thường dựa trên số liệu trước kiểm toán phù hợp với kỳ/năm màKTV phải đưa ra ý kiến kiểm toán hoặc soát xét Trong trường hợp kiểm toán giữa kỳ

để phục vụ cho kiểm toán cuối năm, KTV có thể sử dụng số liệu ước tính tốt nhất cho

cả năm dựa trên dự toán và số liệu thực tế đến giữa kỳ kiểm toán

Bước 3: Lựa chọn tỷ lệ tương ứng của biểu để xác định mức trọng yếu tổng thể.Các tỷ lệ đã ghi trong mẫu này là các tỷ lệ gợi ý mà thông lệ kiểm toán quốc tếtại Việt Nam thường áp dụng:

- 5% đến 10% lợi nhuận trước thuế,

Xác định tỷ lệ % cao hay thấp sẽ ảnh hưởng đến khối lượng công việc kiểmtoán được thực hiện mà cụ thể số mẫu cần phải kiểm tra, phụ thuộc vào đánh giá về rủi

ro có sai sót trọng yếu của KTV

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 17

Bước 4: Xác định mức trọng yếu tổng thể = Giá trị tiêu chí x Tỷ lệ %

Trong những trường hợp cụ thể của đơn vị được kiểm toán, nếu có một hoặc một

số nhóm các giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh (nếu xét riêng lẻ)

có sai sót với mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC nhưng có thể ảnhhưởng (nếu xét tổng thể) đến quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC, thì KTVphải xác định mức trọng yếu hoặc các mức trọng yếu áp dụng cho từng nhóm giaodịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh

Bước 5: Xác định mức trọng yếu thực hiện

Mức trọng yếu thực hiện là một mức giá trị hoặc các mức giá trị do KTV xácđịnh nhằm giảm khả năng sai sót tới một mức độ thấp hợp lý để tổng hợp ảnh hưởngcủa các sai sót không được điều chỉnh và không được phát hiện không vượt quá mứctrọng yếu đối với tổng thể BCTC

Mức trọng yếu thực hiện thông thường nằm trong khoảng từ 50% - 75% so vớimức trọng yếu tổng thể đã xác định ở trên Việc chọn tỷ lệ nào áp dụng cho từng cuộckiểm toán cụ thê là tùy thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTV và chính sách củatừng công ty

Mức trọng yếu thực hiện sẽ quyết định nội dung, lịch trình, phạm vi của các thủtục kiểm toán cần phải thực hiện

Bước 6: Xác định Ngưỡng sai sót không đáng kể/ sai sót có thể bỏ qua:

Mức tối đa là 4% của mức trọng yếu thực hiện Đây là mức quy định theo thông

lệ kiểm toán tốt nhất ở Việt Nam, các công ty có thể áp dụng hoặc đưa ra các mứckhác theo chính sách khác của mình

Bước 7: Lựa chọn mức trọng yếu áp dụng đối với cuộc kiểm toán, thông thườnglấy số làm tròn Nếu có mức trọng yếu có biến động lớn so với năm trước (thấp hơnđáng kể), KTV cần cân nhắc xem mức trọng yếu năm nay có hợp lý không so với tìnhhình hoạt động kinh doanh năm nay của đơn vị được kiểm toán

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 18

Khi xác định mức trọng yếu của năm nay, KTV phải so sánh với mức trọng yếucủa năm trước Nếu có sự thay đổi đáng kể giữa các năm (quá thấp so với năm trước),KTV phải cân nhắc ảnh hưởng của sai sót đối với số dư đầu năm.

Bước 8: Đánh giá lại mức trọng yếu

Khi kết thúc quá trình kiểm toán, nếu tiêu chí được lựa chọn để xác định mứctrọng yếu biến động quá lớn thì KTV phải xác định lại mức trọng yếu, giải thích lý do

và cân nhắc xem có cần thực hiện bổ sung thêm thủ tục kiểm toán hay không

Có 3 cách sửa đổi mức trọng yếu:

- Cập nhật lại giá trị của tiêu chí xác định mức trọng yếu (benchmark);

- Sửa đổi tiêu chí xác định mức trọng yếu;

- Sửa đổi tỷ lệ % tính mức trọng yếu

(4) Phương pháp xác định mức trọng yếu kế hoạch

Có 4 phương pháp phổ biến khi xác định mức trọng yếu kế hoạch trong kiểm toánBCTC là áp dụng tỷ lệ đơn nhất, áp dụng tỷ lệ theo quy mô của tiêu chí được lựa chọn,

áp dụng mức bình quân hóa, áp dụng mức tối thiểu Tuy nhiên, khóa luận chỉ đi vàotìm hiểu phương pháp áp dụng tỷ lệ đơn nhất do đây là phương pháp được áp dụngnhiều nhất trong các cuộc kiểm toán

Để thực hiện được phương pháp áp dụng tỷ lệ đơn nhất cần có các tỷ lệ thích hợptương ứng với từng chỉ tiêu tài chính được lựa chọn làm cơ sở Từ đó, KTV sẽ lấy 01

tỷ lệ nhất định trên 01 chỉ số tài chính để tính Mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC (PM).Các chỉ tiêu này được lựa chọn tùy thuộc thực trạng hoạt động tài chính tại từng đơn vịkhách hàng, mục đích người sử dụng thông tin Bên cạnh đó, tỷ lệ được sử dụng đểtính cũng phải dựa trên cơ sở chương trình và chính sách của chính Công ty kiểm toánđối với trọng yếu và rủi ro kiểm toán Tuy nhiên đây là chính sách chung và khi đi vàothực hiện việc tính toán, KTV có thể căn cứ vào hướng dẫn chi tiết hơn để xác địnhchính xác tỷ lệ cần chọn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 19

1.1.2 Rủi ro kiểm toán

(1)Khái niệm về rủi ro kiểm toán

Trong kiểm toán BCTC, bên cạnh việc xác định mức trọng yếu thì đánh giá rủi rokiểm toán (Audit Risk - AR) cũng là một trong những yếu tố quan trọng để có đượcmột kế hoạch kiểm toán hợp lí

Rủi ro luôn luôn tồn tại trong quá trình kiểm toán vì vậy việc phân tích và kiểmsoát rủi ro một cách có hiệu quả giúp đánh giá được mức độ rủi ro và đưa ra nhữngquyết định tối ưu để giảm thiểu tối đa rủi ro có thể xảy ra

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 - "Đánh giá rủi ro và kiểm soát nộibộ":

"Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiếnnhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những saisót trọng yếu Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát

và rủi ro phát hiện."

Trong kiểm toán quốc tế, rủi ro được xét trong quan hệvới kế hoạch kiểm toán, rủi

ro kiểm toán được hiểu là khảnăng sai sót và việc đánh giá rủi ro tiến hành qua ướctính theo tỷ lệ từ 0% đến 100% Trên thực tế, không có một chuẩn mực chính thức nào

về mức rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận, loại trừ rằng rủi ro kiểm toán phải ở mứcthấp cho phép Tuy nhiên ngay cả1% rủi ro cũng vẫn được xem là mức tồi

Ví dụ: Với một công ty kiểm toán lớn với 2.000 cuộc kiểm toán trong 1 năm, thì1% rủi ro là 20 cuộc kiểm toán tồi xảy ra trong năm đó Góc độ lý thuyết thì rủi rokiểm toán nên nhỏ hơn 1%

Rủi ro kiểm toán luôn luôn tồn tại kể cả khi cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạchchu đáo và thực hiện một cách thận trọng và nó sẽ tăng lên nếu kế hoạch kiểm toánđược lập không tốt hay không được thực hiện thận trọng

Rủi ro kiểm toán xảy ra khi BCTC còn chứa đựng những sai lệch trọng yếu nhưngKTV lại nhận xét rằng chúng đã được trình bày trung thực và hợp lí

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 20

Rủi ro xuất phát từ các sai lệch tiềm ẩn trong BCTC nhưng không được HTKSNBcủa đơn vị ngăn chặn hay phát hiện và KTV cũng không tìm ra.

Rủi ro kiểm toán luôn tồn tại do những nguyên nhân sau:

 Trình độ khả năng thực tế của KTV

 Giới hạn về thời gian và chi phí kiểm toán

 Kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán

 Gian lận khó phát hiện hơn sai sót

Đánh giá rủi ro kiểm toán là việc kiểm toán viên và công ty kiểm toán xác địnhmức độ rủi ro kiểm toán có thể xảy ra là cao hay thấp, bao gồm đánh giá rủi ro tiềmtàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện Rủi ro kiểm toán được xác định trước khi lập

kế hoạch và trước khi thực hiện kiểm toán

Trong giai đoạn lập kế hoạch, việc đánh giá rủi ro kiểm toán sẽ giúp KTV giới hạnđược phạm vi công việc phù hợp để tiết kiệm được thời gian kiểm toán những vẫn duytrì về chất lượng kiểm toán và chi phí hợp lí, cạnh tranh, xác định được những khoảngmục hay nghiệp vụ có rủi ro cao từ đó phân bô nguồn lực thích hợp thỏa mãn mục tiêukiểm toán

(2) Các thành phần của rủi ro kiểm toán

(a) Rủi ro tiềm tàng (Inherent Risk - IR)

Là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báocáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù cóhay không có hệ thống kiểm soát nội bộ

Mức độ rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh doanh của kháchhàng được kiểm toán, đặc điểm loại hình kinh doanh và cả năng lực, trình độ của nhânviên của khách hàng được kiểm toán Do đó, KTV không thể tạo ra rủi ro hay kiểmsoát rủi ro tiềm tàng mà chỉ có thể đánh giá thông qua nhiều nguồn thông tin khácnhau ví dụ như thái độ ban giám đốc, trình độ nhân viên

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 21

Vì vậy để đánh giá rủi ro tiềm tàng, KTV phải dựa vào các xét đoán chuyên môncủa mình theo các nhân tố sau: trên phương diện BCTC; trên phương diện tài khoản vànghiệp vụ.

 Trên phương diện BCTC: Rủi ro tiềm tàng nảy sinh từ đặc điêm kinh doanh củadoanh nghiệp và tiềm ẩn trong môi trường kinh doanh Ví dụ như: Sự trung thực, hiểubiết và kinh nghiệm của Ban giám đốc công ty khách hàng được kiểm toán cũng như

sự thay đổi nhân sự trong Ban quản lí trong năm kiểm toán, trình độ và kinh nghiệmchuyên môn của bộ phận kế toán và kiểm toán nội bộ và sự thay đổi của họ, những áplực bất thường đối với Ban Giám đốc, đối với kế toán trưởng, các nhân tố ảnh hưởngđến lĩnh vực kinh doanh của đơn vị

 Trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ: Rủi ro tiềm tàng nằm trongbản chất của các số dư tài khoản hoặc nghiệp vụ Nói cách khác, chính những tàikhoản, nghiệp vụ này đã ẩn chứa những rủi ro dẫn đến khả năng sai phạm cao hơn cáctài khoản nghiệp vụ khác

(b) Rủi ro kiểm soát (Control Risk - CR)

Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báocáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soátnội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời

Cũng như rủi ro tiềm tàng thì rủi ro kiểm soát cũng không chịu tác động của KTV,KTV không tạo ra nó và cũng không kiểm soát nó mà chỉ có thể đánh giá nó thông qua

hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán từ đó đưa ra mức dự kiến

KTV thường đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ cao đối với cơ sở dẫn liệu khi hệthống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không đầy đủ hay không hiệu quả hoặccũng có thể là do KTV không được cung cấp đầy đủ các bằng chứng để đánh giá sựđầy đủ hay hiệu quả của HTKSNB của khách hàng Ngược lại, rủi ro kiểm soát đượcđánh giá ở mức độ không cao khi KTV được tìm được đủ cơ sở để kết luận HTKSNBcủa khách hàng là đầy đủ và hoạt động hiệu quả tức là có khả năng ngăn ngừa, pháthiện hay sửa chửa những sai sót trọng yếu hay có kế hoạch thực hiện thử nghiệm kiểmsoát để đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 22

(c) Rủi ro phát hiện (Detection Risk - DR)

Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báocáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toánviên và công ty kiểm toán không phát hiện được

Rủi ro phát hiện khác với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát ở điểm KTV có thểtác động đến do đó KTV có trách nhiệm thực hiện các thủ tục thu thập bằng chứngkiểm toán nhằm quản lí và kiểm soát nó

Nguyên nhân làm của rủi ro này có thể là:

 Phạm vi kiểm toán bị giới hạn do khách hàng thiếu hợp tác hoặc hợp tác khôngtích cực

 Do khoảng cách địa lý và khó khăn trong việc gửi thư xác nhận đối với các đốitác liên quan đến khách hàng

 Chương trình kiểm toán, thủ tục kiểm toán áp dụng chưa phù hợp

 Bằng chứng thu thập được chưa đầy đủ và đảm bảo độ tin cậy

 Sai lệch trong chọn mẫu đối tượng kiểm toán

 Rủi ro phát hiện xuất phát từ năng lực và đạo đức nghề của KTV

(3) Mối quan hệ giữa các thành phần của rủi ro kiểm toán

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 23

Sơ đồ 1.2 Mô hình rủi ro kiểm toánCông thức thể hiên mối quan hệ giữa IR, CR, DR:

AR = IR x CR x DR (1)

 DR = AR / (CR x IR) (2)Trong đó:

 AR: Rủi ro kiểm toán

 IR: Rủi ro tiềm tàng

 CR: Rủi ro kiểm soát

 DR: Rủi ro phát hiện

Dựa theo mô hình rủi ro kiểm toán ta có thể thấy về mặt toán học, khi nhân IR,

CR, DR kết quả ta nhận được là AR (công thức 1) Theo lí thuyết về toán, AR có thểbằng 0 nếu chỉ cần một trong ba nhân tố cấu thành bằng 0 Tuy nhiên điều này khôngthể xảy ra do CR và IR là những rủi ro gắn liền với quá trình hoạt động của doanhnghiệp nó luôn xảy ra cho dù có tiến hành hoạt động kiểm toán hay không bởi vì IRluôn luôn tồn tại và KTV không thể tin tưởng tuyệt đối vào HTKSNB Mặt khác, IR và

CR có ảnh hưởng DR và vì vậy ảnh hưởng tới rủi ro kiểm toán (công thức 2) Bởi vìKTV chỉ có thể tác động đến DR do đó để giữ AR ở mức hợp lí, KTV phải khống chế

DR ở mức chấp nhận được

Do đó, KTV có thể sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán để điều chỉnh rủi ro pháthiện dựa trên các loại rủi ro khác đã được đánh giá nhằm đạt được rủi ro kiểm toán ởmức thấp như mong muốn

Mặc dù đây là mô hình này đơn giản nhưng nó có ý nghĩa rất lớn cho KTV trongviệc lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán sao cho hợp lý và đủ để bảo đảm duy trì rủi

ro phát hiện ở mức cho phép Tuy nhiên, khi sử dụng mô hình rủi ro này, KTV cần chú

ý một số điểm sau:

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 24

Trong chuẩn mực kiểm toán số 400 đã đưa ra ma trận rủi ro để giải thích rõ về mốiliên hệ giữa các loại rủi ro Cụ thể là IR và CR đều được chia thành 3 mức là thấptrung bình và cao còn DR chia thành 5 mốc là rất thấp, thấp, trung bình, cao và rất caođược thể hiện ở vùng đậm màu Dựa vào bảng 1.1 có thể dễ dàng nhận ra mức độ rủi

ro phát hiện tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Ví dụ:Trường hợp KTV đánh giá cả IR và CR đều cao (HTKSNB không hiệu quả) dẫn để

DR bị đánh giá rất thấp Để rủi ro kiểm toán ở mức chấp nhận được, KTV phải mởrộng phạm vi kiểm toán, tăng cường các thủ tục kiểm toán để nhằm giảm tối thiểu DR.Ngược lại, cả CR và IR đều được KTV đánh giá là thấp (HTKSNB hiệu quả) thì DR sẽđược đánh giá là rất cao Đề đảm bảo AR ở mức chấp nhận được, KTV phải thu hẹpphạm vi kiểm toán, số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ ít hơn

Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với bằng chứng kiểm toán (chi phí kiểm

toán)ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 25

Trong một cuộc kiểm toán, người KTV luôn phải nỗ lực để có một mức rủi rokiểm toán ở mức chấp nhận được Điều này đòi hỏi KTV phải thu thập lượng bằngchứng nhiều phù hợp và chi phí kiểm toán sẽ cao hay thấp là tùy vào đánh giá về rủi rokiểm toán Vì thế, mức rủi ro kiểm toán cao hay thấp quyết định khối lượng công việcKTV sẽ tiến hành.

1.1.3 Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong Kiểm toán BCTC

Trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và là mối quan hệ

tỉ lệ nghịch Việc đánh giá trọng yếu có ý nghĩa rất lớn đối với việc đánh giá rủi rokiểm toán.Nếu mức trọng yếu có thể chấp nhận được càng cao thì rủi ro kiểm toán sẽcàng thấp Ngược lại, nếu mức trọng yếu có thể chấp nhận được càng thấp tươngđương rủi ro kiểm toán càng cao

Ví dụ, khi mức trọng yếu có thể chấp nhận được thấp đồng nghĩa với rủi ro kiểmtoán tăng lên nhưng để kiểm soát được rủi ro kiểm soát nằm ở mức chấp nhận đượcKTV sẽ mở rộng hoặc tăng cường số lượng bằng chứng kiểm toán (phạm vi kiểmtoán) cần thu thập Nếu, mức trọng yếu có thể chấp nhận được cao thì rủi ro kiểm toánlại thấp và số lượng bằng chứng kiểm toán cũng giảm đi

Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro có ý nghĩa quan trọng đối với giai đoạn lập

kế hoạch kiểm toán Do đó, trong cuộc kiểm toán, KTV luôn xem xét đồng thời cảtrọng yếu lẫn rủi ro kiểm toán để xác định nội dung, thời gian, phạm vu của các thủ tụckiểm toán để rủi ro BCTC tồn tại các sai lệch trọng yếu ở mức có thể chấp nhận được.Kết quả đánh giá trọng yếu và rủi ro ở thời điểm lập kế hoạch có thể khác với kếtquả đánh giá ở những thời điểm khác trong quá trình kiểm toán Sự khác nhau này cóthể do sự thay đổi về tình hình thực tế hay sự hiểu biết về đơn vị được kiểm toán có sựthay đổi

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 26

1.2 Cơ sở lí luận về chọn mẫu kiểm toán

1.2.1 Khái niệm về chọn mẫu kiểm toán

(1) Khái niệm phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu kiểm toán là quá trình chọn một nhóm các khoản mục hoặc đơn vị (gọi

là mẫu) từ một tập hợp các khoản mục hoặc đơn vị lớn hơn (gọi là tổng thể) và sửdụng các đặc trưng của mẫu để suy rộng cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể

Trong đó tổng thể là toàn bộ dữ liệu mà từ đó kiểm toán viên lấy mẫu nhằm rút rakết luận về toàn bộ dữ liệu đó và đơn vị lấy mẫu là các phần tử riêng biệt cấu thànhtổng thể

Khi chọn mẫu kiểm toán, mỗi đơn vị được lựa chọn gọi là đơn vị mẫu Tập hợpcác đơn vị mẫu gọi là một mẫu và số phần tử có trong mẫu gọi là kích thước mẫu hay

là cỡ mẫu Cỡ mẫu thông thường là khá nhỏ so với tổng thể chọn mẫu

Mục tiêu của việc xác định phương pháp chọn mẫu là đánh giá sơ bộ mức độ rủi rocủa các vùng kiểm toán, từ đó xác định phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu cho cácvùng kiểm toán chính Để lựa chọn các phần tử để kiểm tra KTV bắt đầu đưa ra nhữngxét đoán về phương pháp lựa chọn phần tử thử nghiệm bao gồm:

- Chọn toàn bộ (kiểm tra 100%)

- Lựa chọn các phần tử đặc biệt

- Lấy mẫu kiểm toán

KTV có thể lựa chọn 1 trong 3 phương pháp hoặc kết hợp cả 3 để đạt hiệu quả tốiưu

(a) Chọn lựa toàn bộ (kiểm tra 100%)

Điều kiện áp dụng phương pháp này là:

 Những tổng thể có ít phần tử nhưng giá trị của từng phần tử lớn

 IR và CR đều rất cao và các phương pháp khác không thể cung cấp đầy đủ bằngchứng thích hợp

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 27

 Khi việc tính toán thường lặp lại hoặc các quy trình tính toán khác có thể thựchiện bởi hệ thống máy vi tính.

 Đơn vị được kiểm toán có dấu hiệu kiện tụng, tranh chấp

 Theo yêu cầu của khách hàng

(b) Lựa chọn các phần tử đặc biệt

Các phần tử được xem là đặc biệt nếu có các biểu hiện sau:

 Các phần tử có giá trị lớn hoặc quan trọng

 Tất cả các phần tử có giá trị từ một khoản tiền nào đó trở lên

 Các phần tử thích hợp cho mục đích thu thập thông tin

 Các phần tử cho mục đích kiểm tra các thủ tục (kiểm tra thủ tục kiểm soát)

 Tuy nhiên, khi lựa chọn các phần tử đặc biệt cần lưu ý một số điểm sau:

 Hiểu biết về tình hình kinh doanh của khách hàng, đánh giá ban đầu về IR và

CR cũng như các đặc điểm của tổng thể được thử nghiệm

 Việc lựa chọn các phần tử đặc biệt dựa trên xét đoán có thể dẫn đến rủi ro ngoàilấy mẫu

 Lựa chọn phần tử đặc biệt không phải chọn mẫu kiểm toán

(c) Lấy mẫu kiểm toán

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 530 - "Lấy mẫu kiểm toán"

"Lấy mẫu kiểm toán (sau đây gọi là “lấy mẫu”) là việc áp dụng các thủ tục kiểmtoán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một tổng thể kiểm toán sao chotất cả các đơn vị lấy mẫu đều có cơ hội được lựa chọn nhằm cung cấp cho kiểm toánviên cơ sở hợp lý để đưa ra kết luận về toàn bộ tổng thể."

(2) Sự cần thiết và ý nghĩa của phương pháp chọn mẫu

Chúng ta biết rằng số lượng các nghiệp vụ, tài sản hay chứng từ trong một cuộckiểm toán có số lượng rất lớn Đối với những đối tượng có phạm vi địa lý và quy môhoạt động rộng(như hoạt động của một cấp ngân sách, một tổng công ty có nhiềuthành viên, mỗi công ty thành viên lại có nhiều xí nghiệp…) thì không thể kiểm toán

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 28

tất cả mọi nội dung và mọi đơn vị có liên quan Do đó, trong nhiều trường hợp (mànhất là trong kiểm toán báo cáo tài chính hay kiểm toán định kỳ) không thể kiểm soáttất cả các đối tượng, các tài sản, cũng không thể soát xét và đối chiếu tất cả các chứng

từ kế toán, các số dư của các tài khoản được

Trong khi đó, chuẩn mực thận trọng thích đáng lại không cho phép công tác kiểmtoán bỏ qua những sai phạm trọng yếu để loại trừ giảm tối đa rủi ro kiểm toán Mặtkhác, nhu cầu của những người sử dụng báo cáo cũng đòi hỏi kiểm toán viên phải đưa

ra được những đánh giá chính xác nhất trong những điều kiện cho phép về chất lượngBCTC

Thêm vào đó, sự giới hạn về chi phí, thời gian kiểm toán và nhận sự khi kiểm toáncũng là một nguyên nhân giải thích cho việc chọn mẫu là cần thiết

Như vậy, chọn mẫu là một kĩ thuật cần thiết để đảm bảo chất lượng, thời lượng vàchi phí của cuộc kiểm toán ở mức thích hợp Tính đại diện của mẫu càng cao thì sốlượng mẫu kiểm toán sẽ càng ít, chi phí kiểm toán càng giảm trong khi vẫn đảm bảoyêu cầu chất lượng kiểm toán

1.2.2 Yêu cầu khi chọn mẫu

Mục đích của việc chọn mẫu chính là sử dụng các đặc trưng của mẫu để suy rộngcho đặc trưng của toàn bộ tổng thể cho nên KTV cần chọn được những mẫu mang đặctrưng của toàn bộ tổng thể hay còn gọi là mẫu đại diện

Ví dụ: Qua kiểm soát nội bộ xác định 3% phiếu chi không có chứng từ gốc đi kèm.Nếu trong hàng ngàn phiếu chi chọn 100 phiếu chi có đúng 3 lần phiếu chi không cóchứng từ gốc đi kèm thì mẫu chọn là tiêu biểu

Trên thực tế, KTV không thể biết được mẫu được chọn có mang đặc trưng củatoàn bộ tổng thể hay không dù tất cả các thử nghiệm đều được thực hiện cho nên đểtăng khả năng đại diện của mẫu KTV cần thận trọng khi thiết kế, lựa chọn và đánh giámẫu

1.2.3 Các loại rủi ro trong chọn mẫu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 29

Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 530 - "Lấy mẫu kiểm toán" đã giải thích rõhai thuật ngữ rủi ro lấy mẫu và rủi ro ngoài lấy mẫu.

"Rủi ro lấy mẫu là rủi ro mà kết luận của kiểm toán viên dựa trên việc kiểm tramẫu có thể khác so với kết luận đưa ra nếu kiểm tra toàn bộ tổng thể với cùng một thủtục kiểm toán Rủi ro lấy mẫu có thể dẫn tới hai loại kết luận sai như sau:

 Kết luận rằng các kiểm soát có hiệu quả cao hơn so với hiệu quả thực sự củacác kiểm soát đó (đối với thử nghiệm kiểm soát), hoặc kết luận rằng không có sai sóttrọng yếu trong khi thực tế lại có (đối với kiểm tra chi tiết) Kiểm toán viên quan tâmchủ yếu đến loại kết luận sai này vì nó ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của cuộc kiểmtoán và có thể dẫn đến ý kiến kiểm toán không phù hợp

 Kết luận rằng các kiểm soát có hiệu quả kém hơn so với hiệu quả thực sự củacác kiểm soát đó (đối với thử nghiệm kiểm soát), hoặc kết luận rằng có sai sót trọngyếu trong khi thực tế lại không có (đối với kiểm tra chi tiết) Loại kết luận sai này ảnhhưởng đến hiệu quả của cuộc kiểm toán vì thường dẫn tới các công việc bổ sung đểchứng minh rằng kết luận ban đầu là không đúng."

Rủi ro lấy mẫu là một phần vốn có của quy trình chọn mẫu do mẫu được chọnkhông thể đảm bảo một cách chắn chắn mẫu được chọn là mẫu đại diện Vì vậy, đểgiảm rủi ro do chọn mẫu KTV cần tăng kích cỡ mẫu tuy nhiên điều này cũng đồngnghĩa chi phí kiểm toán cũng tăng lên Vậy nên, yếu tố chủ chốt trong việc chọn mẫukiểm toán một cách có hiệu quả KTV cần cân đối giữa hai yếu to rủi ro chọn mẫu vàchi phí kiểm toán để hạn chế những rủi ro lấy mẫu xuống một mức thấp có thể chấpnhận được

"Rủi ro ngoài lấy mẫu là rủi ro khi kiểm toán viên đi đến một kết luận sai vì cácnguyên nhân không liên quan đến rủi ro lấy mẫu."

Các ví dụ về rủi ro ngoài lấy mẫu bao gồm việc kiểm toán viên sử dụng các thủ tụckiểm toán không phù hợp hoặc hiểu sai bằng chứng kiểm toán và không nhận diệnđược sai lệch hay sai sót

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 30

Ví dụ: Đối với hàng tồn kho, KTV do thiếu kinh nghiệm thay vì thực hiện thủ tụckiểm kê lại sử dụng thủ tục phỏng vấn dẫn đền kết luận sai.

Do đó, để hạn chế rủi ro ngoài lấy mẫu, KTV cần lập kế hoạch và giám sát việcthực hiện kế hoạch chu đáo đồng thời phải thực hiện các thủ tục kiểm tra chặt chẽ vàthích hợp

1.2.4 Các phương pháp chọn mẫu trong kiểm toán

Chọn mẫu thống kê (ngẫu nhiên) và chọn mẫu phi thống kê (phi ngẫu nhiên) là haiphương pháp tiếp cận chọn mẫu trong kiểm toán Hai phương pháp này nếu được ápdụng hợp lí đều có thể cung cấp bằng chứng có hiệu lực Cả hai phương pháp này đềubao gồm 3 bước là lập kế hoạch chọn mẫu, thực hiện chọn mẫu và kiểm tra mẫu vàcuối cùng là đánh giá kết quả chọn mẫu Để hỗ trợ cho công tác chọn mẫu đạt đượchiệu quả cao KTV thường dùng kĩ thuận phân tầng (tổ) để chọn mẫu trong kiểm toán.(1) Các phương pháp chọn mẫu

(a) Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên (xác suất)

Chọn mẫu ngẫu nhiên là phương pháp chọn khách quan máy móc theo mộtphương pháp đã xác định và các phần tử trong tổng thể có cơ hội như nhau để trởthành mẫu chọn Chọn mẫu ngẫu nhiên có đặc điểm là các phần tử được chọn vào mẫu

là ngẫu nhiên và được sử dụng lí thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu baogồm cả việc định lượng rủi ro do đó còn được gọi là phương pháp chọn mẫu xác suất

Do đó, để mẫu được chọn mang tính đại diện cao yêu cầu KTV phải sử dụng mộtphương pháp có tính hệ thống hóa cao Do đó, để chọn mẫu ngẫu nhiên có 3 cách chọnlà:

 Chọn mẫu theo bảng số ngẫu nhiên

Trong đó, bảng số ngẫu nhiên là tập hợp các con số ngẫu nhiên được sắp xếp hoàntoàn ngẫu nhiên sử dụng trong quá trình chọn mẫu

Cách chọn này bao gồm 4 bước:

Bước 1: Định lượng đối tượng kiểm toán bằng hệ thống con số duy nhất

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 31

Bước 2: Thiết lập mối quan hệ giữa Bảng số ngẫu nhiên với con sô định lượngcủa đối tượng kiểm toán đã định.

Bước 3: Lập hành trình sử dụng bảng

Bước 4: Chọn điểm xuất phát

Trong quá trình chọn có thể sẽ có những phần tử xuất hiện hơn một lần do đó cầnxác là chọn mẫu lặp lại (chọn mẫu không thay thế) hay chọn mẫu không lập lại (chọnmẫu thay thế) để thống nhất phương pháp chọn mẫu trong quá trình KTV thực hiệnchọn mẫu

 Chọn mẫu hệ thống là cách chọn để sao cho chọn được các phần tử của tổng thể

có khoảng cách đều nhau (khoảng cách mẫu)

Đây là phương pháp chọn máy móc theo khoảng cách xác định trên cơ sở kích cỡcủa quần thể và số lượng mẫu chọn Khoảng cách này được tính bằng cách:

ả á ẫ ổ ố ầ ử ổ ể

ổ ố ầ ử ẫ

Ta có cách xác định các mẫu được chọn như sau:

Đơn vị mẫu đầu tiên là m1

x1≤ m1≤ x1 + kTrong đó: x1là phần tử nhỏ nhấtPhần tử tiếp theo mi= m1 + (i+1)k

Ví dụ: Ta có tổng thể có kích cỡ N = 1052 đơn vị và cỡ mẫu cần chọn là n = 100thì theo công thức xác định được k = 1052 / 100 = 10,52 làm tròn là 10 Chọn điểmxuất phát là m1 = 5 ta có thể xác định các đơn vị mẫu tiếp theo là m2 = 15, m3 = 25

và chọn cho đến khi đủ được 100 đơn vị mẫu

Ưu điểm cơ bản của chọn mẫu hệ thống là đơn giản, dễ làm và bảo đảm phân bốđều đặn các mẫu chọn vào các đối tượng cụ thể (các loại khoản mục, loại tài sản hoặcloại chứng từ theo thời gian thành lập…) Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản của chọnmẫu hệ thống là dễ bị thiên lệch, và không thể đại diện cho các phần tử trong tổng thể

vì không được sắp xếp hoàn toàn ngẫu nhiên Do đó để ứng dụng phương pháp này

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 32

phải nghiên cứu kỹ quần thể được kê ra để đánh giá khả năng có sai sót hệ thống.Trong thực tế phương pháp này không được đánh giá cao lắm.

 Chọn mẫu theo chương trình vi tính

Ngày nay phần lớn các hãng, công ty kiểm toán đã thuê hoặc xây dựng các chươngtrình chọn mẫu ngẫu nhiên qua máy tính do ưu điểm loại bỏ được những số khôngthích hợp và tự động cập nhật vào giấy tờ làm việc giúp tiết kiệm thời gian và sai xóttrong qua trình ghi nhận vào giấy tời đồng thời nó cũng giảm sai sót do chủ quan củacon người

Phương pháp này vẫn tuân thủ theo hai bước đầu tiên của phương pháp chọn mẫutheo bảng số ngẫu nhiên Tuy vậy, điểm khác là ở chỗ các con số ngẫu nhiên khôngphải lấy từ bảng số ngẫu nhiên mà do máy tính tạo ra Tuy nhiên phương pháp nàycũng có nhược điểm do các nghiệp vụ đều được mã hóa và ngang nhau về xác suấtđược chọn cho nên khả năng ra thiên lệch

(b) Phương pháp chọn mẫu phi xác xuất (phi ngẫu nhiên)

Chọn mẫu phi xác xuất là phương pháp chọn mẫu theo phán đoán chủ quan khôngtheo một phương pháp cố định Việc chọn mẫu phi xác suất được dựa vào phán xétnghề nghiệp của kiểm toán viên chứ không dựa vào lí thuyết xác suất do đó bất cứmẫu chọn nào không thỏa mãn hai đặc điểm của chọn mẫu thỗng kê thì đều là chọnmẫu phi thống kê

Các phương pháp chọn mẫu phi xác xuất thường được sử dụng là chọn mẫu theokhối và chọn mẫu theo nhận định, ngoài ra còn một phương pháp chọn mẫu là chọnmẫu tình cờ nhưng phương pháp này ít được sử dụng nên sẽ không được đề cấp đếntrong bài

 Chọn mẫu theo lô (khối) là việc chọn một tập hợp các đơn vị kế tiếp nhau trongmột tổng thể

Phần tử đầu tiên trong khối đã được chọn thì phần còn lại cũng được chọn tất yếu.Mẫu chọn có thể là một khối hoặc nhiều khối Chẳng hạn có thể chọn một dãy liên tụctới 100 nghiệp vụ chỉ tiêu trong một tuần cuối tháng 10 Mẫu 100 nghiệp vụ này cũng

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 33

có thể lấy 5 khối với 20 khoản mục với mỗi khối hoặc 50 khối với 2 khoản mục mỗikhối…

Chọn mẫu theo phương pháp này chỉ được áp dụng để kiểm toán nghiệp vụ, tài sảnhoặc khoản mục của đơn vị mà KTV nắm chắc tính hình và khi số lượng khối vừa đủ

Do đó trong việc xác định các mẫu cụ thể cần đặc biệt chú ý đến các tình huống đặcbiệt như: Thay đổi nhân viên, thay đổi hệ thống kế toán và chính sách kinh tế, tính thời

vụ của nghành kinh doanh…

Theo kinh nghiệm, các chuyên gia kiểm toán cho rằng con số hợp lý cho phần lớntình hình, số lượng ít nhất là 9 khối từ 9 tháng khác nhau trong năm

 Chọn mẫu theo xét đoán (chọn mẫu theo nhận định nhà nghề): là kĩ thuật chọnmẫu dựa trên những nhận định và kinh nghiệm của bản thân KTV để chọn ra nhữngphần tử hình thành mẫu chọn

Việc chọn mẫu theo nhận định sẽ tạo cơ hội tốt cho sự xuất hiện của những mẫuđại diện, trong những trường hợp khi có kích cỡ mẫu nhỏ hoặc có tình huống khôngbình thường… Để tăng hiệu quả của các phương pháp nhận định, kiểm toán viên cầnlưu ý

- Nếu có nhiều loại nghiệp vụ trong phạm vi kiểm toán thì mỗi loại nghiệp vụđều nên có mặt trong mẫu được chọn

- Nếu có nhiều người phụ trách về nghiệp vụ trong kỳ thì mẫu được chọn nên baogồm nghiệp vụ của mỗi người

- Các nghiệp vụ, khoản mục, chứng từ có số tiền lớn cần được chọn nhiều hơn đểkiểm tra

- Các nghiệp vụ có khả năng sai sót trọng yếu sẽ được lựa chọn nhiều hơn

(2) Kĩ thuật phân tầng (tổ) trong chọn mẫu kiểm toán

Kỹ thuật phân tầng (tổ) là việc chia một tổng thể lớn thành các tổng thể con để tạothành các phần tử tương đối đồng nhất theo một tiêu thức nào đó nhằm nâng cao hiệuquả của việc lấy mẫu Kỹ thuật này thường áp dụng đối với các tổng thể có độ phântán cao và được thực hiện trước khi xác định quy mô mẫu và thực hiện chọn mẫu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 34

Các tầng (tổ) được phân chia sẽ được chọn mẫu độc lập và kết quả có thể đượcđánh giá độc lập hoặc kết hợp để từ đó suy rộng cho tổng thể Nhiệm vụ của KTVchính là phân tầng (tổ) sao cho mỗi đơn vị mẫu chỉ thuộc một tầng (tổ).

Kỹ thuật này sẽ làm giảm sự khác biệt trong cùng một tầng (tổ) và giúp KTV dễdàng tập trung vào những bộ phân chứa nhiều khả năng xảy ra sai phạm từ đó dễ chọnmẫu đại diện vì số lượng phần tử phải chọn < số lượng phần tử ban đầu làm tăng hiệuquả chọn mẫu Bên cạnh đó, ưu điểm khác của kỹ thuật này là gắn việc chọn mẫu vàotính trọng yếu và dễ dàng áp dụng các thủ tục kiểm toán thích hợp đối với từng nhóm

1.2.5 Quy trình chọn mẫu kiểm toán

(1) Quy trình chọn mẫu khi thực hiện thử nghiệm kiểm soát

Chọn mẫu thuộc tính là một phương pháp chọn mẫu thống kê được dùng đểướctính tỷ lệ của các phần tử trong một tổng thể có chứa một đặc điểm hoặc mộtthuộc tínhđược quan tâm Tỷ lệ này được gọi là tần số xuất hiện và là tỷ số của các phần tử cóchứa thuộc tính đặc thù so với tổng số phần tử trong tổng thể Tần sốxuất hiện thườngđược biểu diễn bằng số tỷ lệ Kiểm toán viên thường quan tâm đếnsự xuất hiện của cácngoại lệ các tổng thể và xem tần số xuất hiện là tần số lệch lạchay tần số sai số Mộtngoại lệ trong việc chọn mẫu thuộc tính có thể là cuộc khảosát sự lệch lạc của quátrình kiểm soát hay sai số về tiền tệ, tùy thuộc vào đó là mộtcuộc khảo sát kiểm soáthay một cuộc khảo sát chính thức nghiệp vụ

Chọn mẫu thuộc tính được sử dụng rộng rãi đối với thử nghiệm kiểm soát khi màKTV muốn ước lượng tỷ lệ sai lệch của các hoạt động kiểm soát so với thiết kế Chọnmẫu thuộc tính là cách chọn mẫu cho phép KTV ước lượng tỷ lệ xuất hiện của nhữngđặc tính cụ thể trong tổng thể và tỷ lệ sai lệch được đề cập trên trong thử nghiệm kiểmsoát được gọi là tỷ lệ sai lệch cho phép Nhìn chung, chọn mẫu thuộc tính đối với thửnghiệm kiểm soát gồm cách bước sau

Bước 1: Xác định mục tiêu của thử nghiệm

Mục tiêu của thử nghiệm kiểm soát là thu thập bằng chứng về sự thiết kế và kiểmsoát hữu hiệu của HTKSNB Do vậy, việc chọn mẫu thuộc tính để kiểm tra sẽ cung

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 35

cấp cho KTV bằng chứng nhằm khẳng định mức rủi ro kiểm soát đã được đánh giá sơ

bộ trong khâu lập kế hoạch

Bước 2: Xác định thuộc tính và các điều kiện sai lệch

Đối với việc kiểm tra hệ thống kiểm soát, một sự sai lệch xảy ra xuất phát từ quátrìnhthực hiện hoạt động kiểm soát nội bộ đã được quy định trước Điều này là rấtquan trọng đối với kiểm toán viên để xác định cái gì sẽ được xem xét là sai lệch KTV

sử dụng nhận đinh nhà nghề để xác định các thuộc tính và các sai lệch cho một thửnghiệm cụ thể Trong đó thuộc tính được hiểu là những đặc điểm mà nó cung cấpnhững minh chứng rằng một hoạt động kiểm soát thực tế được thực hiện

Ví dụ: Xem xét dấu vết phê chuẩn tín dụng trên đơn đặt hàng của khách Nếukhông có tức là đơn đặt hàng đó là phần tử sai lệch

Như vậy, khi thực hiện bước công việc này, kiểm toán viên phải lưu ý là các thuộctính và những điều kiện sai lệch cần phải được xác định rõ trước khi thực hiện các thửnghiệm

Bước 3: Xác định tổng thể phù hợp với mục tiêu kiểm toán cụ thể

Bởi vì kết quả chọn mẫu có thể suy rộng cho tổng thể nên KTV cần xác định rõtổng thể mà từ đó mẫuđược chọn ra là phù hợp với mục tiêu kiểm toán cụ thể

Ví dụ: Với mục tiêu kiểm tra tính hiệu lực cả hoạt động kiểm soát nhằm khẳngđịnh tất cả các hóa đơn bán hàng được được ghi sổ thì tổng thể không thể là các nghiệp

vụ ghi trong Nhật kí bán hàng mà phải từ Tập hồ sơ lưu các vận đơn

Bước 4: Xác định rủi ro của việc đánh giá mức rủi ro kiểm soát quá thấp và tỉ lệsai lệch cho phép

KTV sử dụng nhận định nghề nghiệp để xác định rủi ro hợp lí của việc đánh giárủi ro kiểm soát quá thấp và tỷ lệ sai lệch cho phép đối với một thử nghiệm kiểm soát.Rủi ro của việc đánh giá rủi ro kiểm soát quá thấp là tỷ lệ sai lệch thực tế lớn hơn tỷ lệsai lệch cho phép làm ảnh hưởng đến hiệu năng của cuộc kiểm toán Vì kết quả củacác thử nghiệm kiểm soát đóng vai trò quan trọngtrong việc xác định nội dung, quy

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 36

mô và thời gian của các thủ tục kiểm soát khác nên KTV luôn xác định rõ mức rủi rophải ở mức thấp từ 5% đến 10% Nói cách khác, nếu mức rủi ro của việc đánh giá CRthấp là 5% thì đồng nghĩa với mức tin cậy 95%.

Theo kinh nghiệm các KTV tỷ lệ sai lệch cho phép có thể biển đổi như sau:

Bảng 1.2 Tỷ lệ sai lệch cho phép đối với các mức đánh giá rủi ro kiểm soát

Rủi ro của việc đánh giá rủi ro kiểm soát quá thấp

Tỷ lệ sai lệch cho phép Mức thấp Cao 5 - 10% 2 - 5%

Mức vừa Thấp / Trung bình 10% 6 - 10%

Tương đối cao Thấp 10% 11 - 20%

Cực đại Không Bỏ qua thử

nghiệmBước 5: Ước đoán tỷ lệ sai lệch có thể của tổng thể

Tỉ lệ sai lệch dự kiến của tổng thể rất quan trọng vì nó đại diện cho tỉ lệ sai lệch

mà KTVdự kiến sẽ tìm thấy trong mẫu mà họ chọn ra từ tổng thể

Để ước đoán tỉ lệ sai lệch dự kiến của tổng thể, KTV thường sử dụng kết quả mẫu

từ nămtrước (được lưu trong hồ sơ làm việc kiểm toán) hoặc dựa vào kinh nghiệm củamình với các thử nghiệm tương tự đã thực hiện đối với các cuộc kiểm toán khác, hoặcbằng việc kiểm tra thử một mẫu nhỏ

Bước 6: Xác định kích cỡ mẫu

Ba yếu tố cơ bản quyết định tới kích cỡ mẫu bao gồm rủi ro của việc đánh giá thấprủi ro kiểm soát, tỷ lệ sai lệch cho phép và tỷ lệ sai lệch có thể của tổng thể Ngoài rakích cỡ tổng thể cũng có thể ảnh hưởng đến kích cỡ mẫu nhưng chỉ khi tổng thể rấtnhỏ

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 37

Bảng 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới kích cỡ mẫu của các thử nghiệm kiểm soát

Yếu tố Sự thay đổi của

các yếu tố

Ảnh hưởng tới cỡ mẫu cần có

Yêu cầu của kiểm toán viên

 Rủi ro của việc đánh giá rủi ro

kiểm soát quá thấp

 Tỷ lệ sai lệch cho phép

TăngTăng

GiảmGiảm

Các đặc trưng của tổng thể

 Tỷ lệ sai lệch có thể của tổng thể

 Quy mô tổng thể

TăngTăng

TăngTăngBước 7: Chọn mẫu

Khi sử dụng chọn mẫu thuộc tính, một điều quan trọng là các phần tử mẫu phảiđược chọn theo cách ngẫu nhiên do đó có thể được chọn bằng việc sử dụng Bảng sốngẫu nhiên, chọn mẫu hệ thống hay chọn mẫu bằng máy vi tính

Bước 8: Kiểm tra mẫu

Khi kiểm tra mẫu, KTV cần kiểm tra mỗi phần tử mẫu về các thuộc tính mà mìnhquan tâm Mỗi phần tử cần được kiểm tra xem nó có bị sai lệch so với thiết kế không.KTV chí ý tới các dấu hiệu không bình thường, chẳng hạn biểu hiện gian lận

Bước 9: Đánh giá kết quả mẫu

Kiểm toán viên nên đánh giá những khía cạnh chất lượng của các sai lệch đượcnhậndiện Điều này có liên quan đến hai vấn đề cần xem xét

 Thứ nhất là bản chất của sai lệch và nguyên nhân của sai lệch

 Thứ hai là KTV nên xem xét những sai lệch này có thể ảnh hưởng như thế nàotới các giai đoạn khác của cuộc kiểm toán

Việc đánh giá kết quả mẫu bao gồm:

 Xác định tỷ lệ sai lệch = Số sai lệch thực tế / Kích cỡ mẫu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 38

 Xác định tỷ lệ sai lệch trên (giới hạn trên) thể hiện tỷ lệ sai lệch lớn nhất củatổng thể mà kiểm toán viên có thể kì vọng dựa trên kết quả mẫu và được xác định bằngcách sử dụng chương trình máy tính hoặc bảng số ngẫu nhiên.

 Xem xét bản chất của sai lệch từ đó xem xét có cần điều chỉnh gì ở những giaiđoạn khách không và sai lệch do gian lận cần được chú ý nhiều hơn so với do hiểu saihướng dẫn hay thiếu thận trọng

 Đưa ra kết luận chung: KTV kết hợp những bằng chứng từ mẫu và kết quả cácthử nghiệm kiểm soát liên quan từ đó khẳng đinh mức CR được đánh giá có theo kếhoạch hay không Nếu không KTV cần tăng mức CR lên do đó cần tăng quy mô cácthử nghiệm cơ bản

Bước 10: Dẫn chứng bằng tài liệu trình tự lấy mẫu

(2) Quy trình chọn mẫu khi thực hiện thử nghiệm cơ bản

Thử nghiệm cơ bản bao gồm thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và

số dư và chỉ liên quan đến giá trị các khoản mục Các thử nghiệm cơ bản được thiết kế

để phát hiện các gian lận và sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính Do đó, kỹ thuậtlấy mẫucho thử nghiệm cơ bản được thiết kế để ước lượng số tiền sai sót ở một số dưtài khoản Vì vậy kĩ thuật chọn mẫu được sử dụng phố biến đối với các thử nghiệm cơbản là chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ

Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ sử dụng lý thuyết chọn mẫu thuộc tính thể hiện kếtluận bằng đơn vị tiền tệ Ở cách chọn mẫu này người KTV chọn lấy 1 đơn vị tiền tệlàm đơn vị tổng thể do đó tổng thể là số tiền lũy kế của đối tượng kiểm toán và đơn vịmẫu cũng là từng đơn vị tiền tệ cụ thể

Đặc điểm của kĩ thuật này là nếu khoản mục nào có số tiền càng lớn thì càng cónhiều cơ hội được lựa chọn Tất nhiên, với đòi hỏi tính chính xác cao khi xem xét đếntiền tệ, đặc biệt trong trường hợp có nhiều sai lầmtrong tổng thể thì kích cỡ mẫu chọnthông thường cần phải lớn Tuy nhiên, nếu trường hợp các khoản mục có xu hướngkhai giảm giá trị thì việc áp dụng phương pháp chọn mẫu theo đơn vịtiền tệ là khôngphù hợp

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 39

Kỹ thuật chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ cũng sử dụng các cách như chọn mẫu dựatheo Bảng số ngẫu nhiên, chọn mẫu dựa trên chương trình máy vi tính và chọn mẫu hệthống.

Chọn mẫu kiểm toán cho các thử nghiệm cơ bản được tiến hành qua ba bướcchính:

- Xác định phương pháp chọn lựa các phần tử của mẫu

- Thực hiện thủ tục kiểm toán

Bước 3:

- Tính toán kết quả chọn mẫu

- Thực hiện phân tích sai sót

- Đưa ra kết luận cuối cùngĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 40

CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VIỆC ÁP DỤNG MỨC TRỌNG YẾU ĐỂ XÁC ĐỊNH

CỠ MẪU TRONG KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU BÁN HÀNG VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ TẠI VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN CÔNG TY TNHH KIỂM

TOÁN FAC TẠI THỪA THIÊN HUẾ 2.1 Tổng quan về Công ty TNHH Kiểm toán FAC

2.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển

Tên công ty : Công ty TNHH Kiểm toán FAC

Tên tiếng anh: FAC Auditing Company Limited

Xuất xứ : Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Đệ Nhất

Tên viết tắt : FAC Co., Ltd

Địa chỉ : 39/3L Phạm Văn Chiêu - Phường 8 - Quận Gò Vấp - Tp HCMVăn phòng giao dịch: Số 2/23 Quách Văn Tuấn, Khu K300, P 12, Q TânBình, Tp Hồ Chí Minh

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Ngày đăng: 19/10/2016, 20:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trường Đại học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh - Khoa Kế toán-Kiểm toán – Bộ môn Kiểm toán (2014), Kiểm toán, NXB Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Khác
2. Th.S Phạm Thị Bích Ngọc, SlideBài giảng Kiểm toán căn bản, Đại học Kinh tế Huế Khác
3. Trần Thùy Linh (2013), Xác lập mức trọng yếu và việc vận dụng vào quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC, Đại học Kinh tế Huế Khác
4. Lê Nguyễn Ngọc Anh (2011), Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán Báo cáo tài chính Công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC, Đại học Kinh tế Huế Khác
5. Trần Tiến Đức (2012), Hoàn thiện quy trình đánh giá tính trọng yếu trong Kiểm toán Báo cáo tài chính tại công ty Deloitte Việt nam Khác
6. Phạm Tiến Trung (2013), Đánh giá mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán, Đại học Kinh tế - Luật TP. Hồ Chí Minh Khác
7. Đoàn Văn Hoạt, Slide Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác, Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh Khác
8. TS. Phan Thanh Hải, Bàn về các phương pháp xác định mức trọng yếu thổng thể báo cáo tài chính ở giai đoạn lập kế hoạch, Khoa kế toán Đại học Duy Tân Đà Nẵng Khác
10. Bộ Tài Chính, Hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam. ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Quy trình xác định mức trọng yếu do VACPA ban hành - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Sơ đồ 1.1. Quy trình xác định mức trọng yếu do VACPA ban hành (Trang 15)
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với bằng chứng kiểm toán (chi phí kiểm - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với bằng chứng kiểm toán (chi phí kiểm (Trang 24)
Bảng 1.2. Tỷ lệ sai lệch cho phép đối với các mức đánh giá rủi ro kiểm soát - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Bảng 1.2. Tỷ lệ sai lệch cho phép đối với các mức đánh giá rủi ro kiểm soát (Trang 36)
Bảng 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới kích cỡ mẫu của các thử nghiệm kiểm soát - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Bảng 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới kích cỡ mẫu của các thử nghiệm kiểm soát (Trang 37)
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ bộ máy quản lí của Công ty TNHH Kiểm toán FAC - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ bộ máy quản lí của Công ty TNHH Kiểm toán FAC (Trang 47)
Sơ đồ 2.2. Cơ cấu tổ chức Văn phòng đại diện tại Thừa Thiên Huế - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Sơ đồ 2.2. Cơ cấu tổ chức Văn phòng đại diện tại Thừa Thiên Huế (Trang 48)
Sơ đồ 2.3. Sơ đồ quy trình kiểm toán mẫu do VACPA ban hành - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Sơ đồ 2.3. Sơ đồ quy trình kiểm toán mẫu do VACPA ban hành (Trang 49)
Bảng 2.1. Bảng phân tích biến động đối với khoản mục doanh thu bán hàng và cung - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Bảng 2.1. Bảng phân tích biến động đối với khoản mục doanh thu bán hàng và cung (Trang 53)
Bảng 2.2. Bảng đánh giá các thành phần HTKSNB - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Bảng 2.2. Bảng đánh giá các thành phần HTKSNB (Trang 54)
Bảng 2.3. Bảng quy định về đánh giá mức độ đảm bảo R - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Bảng 2.3. Bảng quy định về đánh giá mức độ đảm bảo R (Trang 61)
Bảng 2.4. Bảng tính cỡ mẫu các khoản mục khách hàng Lữ hành Hương Giang - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Bảng 2.4. Bảng tính cỡ mẫu các khoản mục khách hàng Lữ hành Hương Giang (Trang 63)
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kĩ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w