đây là tài liệu được nghiên cứu cấp trường, đạt điểm A trong báo cáo cuối kỳ của Lớp Sinh viên năm cuối trường Đại học Tài chính Quản trị kinh doanh. Bài được đánh giá cao khi được trình bày sinh động trong cuộc thi Nghiên cứu Khoa học sinh viên trường
Trang 1PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY
CỔ PHẦN SỮA HÀ NỘI GIAI ĐOẠN
2013- 2015
Giảng viên: Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
1 Bùi Thị Thu An
2 Phạm Thị Hằng
3 Nguyễn Thị Liên
4 Trần Thị Nguyệt
5 Trần Thị Thu Trang
Hưng Yên, tháng 4 năm 2016
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
MỤC LỤC
I
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, sữa là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong ngành thực phẩm ở Việt Nam, với mức tăng trưởng doanh thu khá cao Với một đất nước đang phát triển, có tốc độ đô thị hóa và tăng dân số cao như Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ sữa sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới Theo đánh giá của Euromonitor International, Công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu, năm 2014 doanh thu ngành sữa Việt Nam đạt 75.000 tỷ đồng, tăng trưởng 20% và và năm 2015 ước đạt 92.000 tỷ đồng, tăng trưởng 23%
Euromonitor International cũng khẳng định, sữa là một trong những ngành tiêu dùng tăng trưởng mạnh nhất của Việt Nam năm 2014, với mức 17% năm 2013
Được biết, hai mảng chính dẫn dắt sự tăng trưởng của ngành sữa trong nước là sữa nước và sữa bột Hầu hết sự cạnh tranh bị dồn ở phân khúc thị trường sữa bột (sữa công thức và các loại sữa bột khác), điều này làm cho diễn biến giá sữa chỉ tăng chứ không giảm tính đến năm 2015 mặc dù giá nguyên liệu đầu vào tại khâu nhập khẩu có giảm Việc các công ty sữa muốn duy trì mức tăng doanh thu các năm là quá rõ ràng Ví thế, dưới sự hướng dẫn
của cô Nguyễn Thị Hồng Hạnh, nhóm chọn chủ đề “Phân tích tình hình tài
chính của Công ty Cổ phần Sữa Hà Nội” (sau đây gọi là Công ty hoặc
Hanoimilk) để làm rõ hơn nguyên do
Số liệu nhóm sử dụng được lấy từ báo cáo tài chính của công ty các năm 2013, 2014,2015 và cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn
2012-2015, làm tròn 6 chữ số Trong quá trình thu thập số liệu có thể xảy ra sai số nhất định, kính mong cô và các nhóm đóng góp ý kiến
Trang 4I GIỚI THIỆU CÔNG TY
1 Giới thiệu khái quát
Được thành lập năm 2001 và chính thức đi vào hoạt động năm 2003, Công ty đã lớn mạnh và trở thành doanh nghiệp hàng đầu của ngành công nghiệp chế biến sữa, dần chiếm lĩnh được thị trường và tạo được niềm tin của người tiêu dùng với những sản phẩm sữa mang nhãn hiệu IZZI, Yotuti, Sữa tươi Hanoimilk 100% Trụ sở chính của Công ty : Km số 9, Bắc Thăng Long, Nội Bài, KCN Quang Minh, Mê Linh, Hà Nội
Công ty Cổ phần sữa Hà Nội được thành lập ngày 02/11/2001 theo giấy chứng nhận đang ký kinh doanh số 0103000592 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 02/11/2001 Lĩnh vực kinh doanh gồm: sản xuất chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa và nông sản; tư vấn đầu tư nông, công nghiệp; xây dựng công trình; kinh doanh bất động sản, khách sạn, siêu thị; kinh doanh chế biến thủy hải sản; đào tạo nghề; buôn bán thương mại một số vật gia dụng… Nhưng chủ yếu hoạt động chính là kinh doanh các sản phẩm
từ sữa
Ngày 27/12/2006 Cổ phiếu của Công ty chính thức niêm yết tại Trung tâm lưu lý chứng khoán Hà Nội với mã cổ phiếu là HNM Vốn điều lệ hiện nay của Hanoimilk là 200.000.000.000đồng (Hai trăm tỷ đồng) tương đương với 20.000.000 cổ phiếu
Cuối năm 2008, “Cơn bão melamine” tràn vào Việt Nam, Hanoimilk bị
Bộ Y tế công bố thông tin sai lệch về các sản phẩm sữa của Công ty bị nhiễm melamine, làm cho các sản phẩm của công ty gần như đặt dấu chấm hết Mặc
dù, đã được minh oan, nhưng hậu quả để lại cho Hanoimilk là rất lớn Thị phần từ vị trí thứ 3 xuống thứ 5 trong các hãng sữa Việt Nam
Ngày 19/03/ 2013, Công ty Cổ phần Sữa Tự nhiên thực hiện tăng vốn điều lệ từ 30 tỷ đồng lên 150 tỷ đồng, theo đó, giá trị vốn đầu tư của Hanoimilk là 27 tỷ đồng chỉ còn chiếm 18% vốn điều lệ của CTCP Sữa Tự nhiên
Tính đến thời điểm hiện tại tháng 4/ 2016, cổ phiếu đang ở mức 9500đ/cổ phiếu Công ty đang kinh doanh có lãi với những nỗ lực không ngừng nghiên cứu và cải tiến sản phẩm
2 Vị thế cạnh tranh
Có thể nói, đối với ngành sữa tại Việt Nam, sức cạnh tranh giữa các hãng không khác gì cuộc chạy đua, cả về chất lượng lẫn số lượng tiêu thụ Có thể đưa ra biểu đồ thể hiện vị thế cạnh tranh của Hanoimilk với các hãng cùng ngành như sau:
Trang 5Đối tượng mà công ty hướng đến chủ yếu là trẻ em với phân khúc thị trường tiềm năng thừ 5- 14 tuổi (30% nhu cầu thị trường) Do đó, tính đến năm 2013
vị thế cạnh tranh của Hanoimilk đứng sau các hãng lớn như Vinamilk (48,7%), FrieslandCampina (25,7%), TH Truemilk (7,7%) Tuy từ năm 2009
đã có sự cải tổ Doanh nghiệp bằng cách nâng tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần lên và hình thành nhóm cổ đông nòng cốt hậu thuẫn, nhưng tư tưởng “công ty cộng đồng” phần nào vẫn tồn tại trong bộ phận cổ đông kì cựu Chính điều này cùng với hệ lụy của cơn bão melamine năm 2008 đã làm cho thị phần của Hanoimilk khởi sắc mà không rõ
II PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY
1 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI SẢN VÀ NGUỒN VỐN
Từ năm 2013 đến 2015, Tổng tài sản của công ty sữa Hà nội tăng khá mạnh qua các năm từ 2013 đến 2015 Cụ thể, năm 2013 có tổng tài sản bình quân là 220.808trđ, đến năm 2014 có giá trị tăng lên 339.686 trđ tăng 54% so với năm 2013, năm 2015 có giá trị là 340.823 trđ ứng với tỉ lệ tăng so với
2013 là 55%
Trong năm 2013 TSNH có sự giảm nhẹ, cụ thể đầu năm từ 128.891trđ cuối năm giảm còn 117.394trđ Từ 2013 – 2015 TSNH tăng đặc biệt 2013 đến 2014 tăng khá nhiều từ 117.394trđ lên 228.076trđ TSNH có tỉ trọng cao
cụ thể năm 2013 đầu năm là 60.26% cuối năm là 51.55%,năm 2014 chiếm 67.14% đến năm 2015 tăng lên 67.87%.So với TSNH ,TSDH chiếm tỉ trọng ít trong tổng TS, có giá trị tương đối ổn định chỉ tăng nhẹ qua các năm.Cụ thể là trong năm 2013 đầu năm có giá trị là 84.993trđ cuối năm tăng lên 110.338trđ tương ứng với tỉ trọng 39.74% và 48.45%; đến năm 2014 TSDH tăng lên
Trang 6111.610trđ tương ứng với tỉ trọng là 32.86%; năm 2015 thì TSDH có giá trị là 109.753trđ tương ứng với tỉ trọng 32.13%.Từ cơ cấu TS cho ta thấy HANOIMILK tập trung đầu tư vào TSNH nhiều hơn TSDH ,tức là HANOIMILK đã đầu tư theo chiều sâu
Tổng nguồn vốn cũng tăng nhẹ, từ 2013 đến 2015 cụ thể qua các năm
là năm 2013 có tổng nguồn vốn là 213.884trđ ,năm 2014 là 227.732trđ ,đến năm 2015 có tổng nguồn vốn là 339.686trđ Trong đó VCSH có tỉ trọng cao hơn nợ phải trả trong tổng nguồn vốn, năm 2013 VCSH đầu năm có giá trị là 132,367trđ tương ứng với tỉ trọng là 61.89% đến cuối năm có giá trị tăng lên 134.007trđ nhưng tỉ trọng lại giảm còn 58.84% Trong đó nợ phải trả chỉ chiếm tỉ tọng đầu năm là 38.11%, cuối năm là 41.16% tương ứng với giá trị đầu năm là 81.516trđ, cuối năm là 93.724trđ Năm 2014 VCSH tăng khá nhiều, giá trị là 212.275trđ tỉ trọng trong tổng nguồn vốn cũng tăng lên 62.49%, xong 2015 lại giảm nhẹ cả về giá trị lẫn tỉ trọng, giá trị còn 210.943trđ tỉ trọng giảm còn 61.76%.Còn nợ phải trả năm 2014 là 127.411trđ tương ứng với tỉ trọng 37.51%,năm 2015 có giá trị là 130.607trđ tương ứng với tỉ trọng 38.24%
Từ cơ cấu VCSH và Nợ phải trả của HANOIMILK, ta thấy tỉ trọng VCSH luôn lớn hơn nhiều so với tỉ trọng nợ phải trả cho thấy HANOIMILK
có tiềm lực kinh tế ổn định vững chắc, luôn chủ động và không sử dụng vốn chiếm dụng nhiều nên không tận dụng được “lá chắn thuế” hiệu quả
2 PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ TÀI SẢN DÀI HẠN HẠN
Theo như lãnh đạo của Hanoimilk nói trước cổ đông ,giai đoạn 2010-2012, công ty sẽ củng cố ,ổn địng bộ máy ,đầu tư để năm 2013-2015 sẽ là giai đoạn tăng tốc
Từ năm 2013-2015, tổng tài sản có xu hướng tăng lên theo từng năm ,cụ thể:
• Năm 2013 là 227.732 triệu đồng
• Năm 2014 là 339.686 triệu đồng (tăng 111.954 triệu đồng tương đương với 49,2% so với năm 2013)
• Năm 2015 là 341.550 triệu đồng (tăng 1.137 triệu đồng ứng 0,33% so với năm 2014)
Việc tăng này là do cả tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn tăng Điều này cho thấy quy mô về vốn của công ty tăng lên ,khả năng về cuối kì quy mô sản xuất kinh doanh của công ty được mở rộng ,công ty đang trên đà tăng trưởng
Trang 7Vốn tăng tức là đầu tư có hiệu quả và công ty đang mở rộng hơn nữa các mối quan hệ kinh doanh và năng lực cạnh tranh Đi sâu vào từng chỉ tiêu cụ thể, ta thấy :
Tiền và các khoản tương đương tiền đều tăng qua các năm ,vào năm 2014 khoản này tăng lên gần 40 lần so với cùng kì năm 2013
• Năm 2013 là 2.239 triệu đồng
• Năm 2014 là 87.356 triệu đồng (tăng 85.117 tương đương 36,39
% so với năm 2013 )
• Năm 2015 là 13.106 triệu đồng (tăng 10.867 triệu đồng ,tương đương 3,74%)
Điều này chứng tỏ :công ty có điều kiện thuận lợi để thực hiện các giao dịch cần tiền và khả năng thanh toán nhanh Tuy nhiên ,nếu dự trữ tiền quá nhiều
và quá lâu ,chưa hẳn đã là tốt
Hàng tồn kho tăng cụ thể :
• Năm 2013 là 18.269 triệu đồng
• Năm 2014 là 48.315 triệu đồng (tăng 30.046 triệu đồng , tương đương 5,62 %so với năm 2013 )
• Năm 2015 là 50.025 triệu đồng (tăng 1.710 triệu đồng tương đương 3,85% so với năm 2014) Mức tăng này có thể là do:
Thứ nhất, công ty ít chú trọng đến bán hàng để thu hồi vốn ,điều này có thể làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của công ty , không có lợi cho công ty
Thứ hai, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường ở một số khu vực giảm bớt , xuất hiện một số hãng sữa nhập khẩu do chính sách thuế nhập khẩu được
ưu đãi hơn và nhu cầu của người tiêu dùng ,hoặc các sản phẩm mới của công
ty khác được tung ra thị trường làm tăng sức cạnh tranh
Thứ ba, nhiên liệu đầu vào của doanh nghiệp tăng ,về cơ bản có thể hạn chế
sự biến động của giá vốn ,nhưng việc trữ hàng tồn kho lâu và nhiều làm tốn chi phí bảo quản ,hay gây thiếu hụt vốn ở các bộ phận khác
Thêm nữa,các khoản phải thu của doanh nghiệp tăng qua các năm , chứng tỏ
cơ cấu vốn ngắn hạn dành cho các đối tượng khác chiếm dụng của doanh nghiệp giảm
Đầu tư tài chính ngắn hạn giảm qua các năm :
• Năm 2013 là 115,2 triệu đồng
• Năm là 13,383 triệu (giảm 101,817 triệu đồng tương đương 0,09% so với năm 2013 )
• Năm 2015 là 11,835 triệu đồng (giảm 1,548 triệu đồng)
Trang 8Trong đó , khoản chứng khoán kinh doanh không biến động Tuy nhiên, dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh giảm(năm 2013 là (17,4 )triệu ,
2014 là (119,217) triệu, giảm 101,817 triệu ,tương đương 875,71% so với
năm 2013 ,năm 2015 là (120,756),giảm 1,548 triệu đồng so với năm 2014) Điều này,chứng tỏ doanh nghiệp đang chú trọng đầu tư vào chứng khoán
ngắn hạn
Tài sản dài hạn cũng tăng qua các năm , nổi bật có :
Chi phí xây dựng cơ bản dở dang tăng nhiều qua các năm, cụ thể :
• Năm 2013 là 245,35 triệu đồng
• Năm 2014 là 776,84 triệu đồng (tăng 531,49 triệu đồng ,tương đương 0,75% so với năm 2013 )
• Năm 2015 tăng mạnh lên 10.009,53 triệu đồng (tăng 9.232,69 triệu
đồng tương đương 14,3 % so với năm 2014) trong khi các bộ phận khác đều có xu hướng giảm, cho thấy công ty đang tập trung lượng vốn dài hạn đầu tư xây dựng mới dây chuyền sản xuất nhằm
nâng cao khả năng sản xuất trong tương lai cho doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu tăng lên của thị trường
Trong bối cảnh như hiện nay, công ty cần chú trọng điều phối cho hợp lí giữa các chỉ tiêu, có chính sách tài chính phù hợp , hạn chế hàng tồn kho ứ đọng , sửa chữa và cải thiện tài sản cố định để nâng cao dây chuyền sản xuất , phục
vụ cho việc sản xuất sản phẩm
3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CÔNG NỢ
“Nợ” là từ mà bất cứ nhà quản trị nào cũng cần phải quan tâm khi đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, đó là con dao hai lưỡi, một lưỡi làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, mặt khác đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá sản nếu quản lý không tốt Vì vậy, quản lý nợ là một trong những công việc quan trọng của nhà tài chính
Dưới đây là bảng phân tích quy mô công nợ và tình hình quản trị nợ của Hanoimilk
QUY MÔ CÔNG NỢ
ĐVT : TRIỆU ĐỒNG
2013
năm 2014
năm 2015
CL 2014/2013 CL 2015/2014
A CÁC KHOẢN PHẢI THU 84039 85933 156485 1894 2.25% 7055 2 82.10%
I Các khoản phải thu ngắn
1 Phải thu ngắn hạn của khách
1944
8 31.19%
Trang 92 Trả trước cho người bán 9.935 18033 63179 8098 81.51% 45146 250.35%
6 Phải thu ngắn hạn khác 18.322 12593 22803 -5729 -31.27% 10210 81.08%
7 Dự phòng phải thu ngắn hạn
khó đòi (*) (4641) -7051 -11425 -2410 51.93% -4374 62.03%
B- CÁC KHOẢN NỢ PHẢI
I Nợ ngắn hạn 93.725 121497 126047 27772 29.63% 4550 3.74%
1 Vay và nợ ngắn hạn 50.225 63261 65495 13036 25.96% 2234 3.53%
2 Phải trả người bán 26.656 38417 38004 11761 44.12% -413 -1.08%
3 Người mua trả tiền trước 921 864 760 -57 -6.19% -104 -12.04%
4 Thuế và các khoản phải nộp
5 Phải trả người lao động 2.551 2151 2045 -400 -15.68% -106 -4.93%
6 Chi phí phải trả 1.665 4400 4377 2735 164.26% -23 -0.52%
9 Các khoản phải trả, phải nộp
ngắn hạn khác 3.042 3504 4337 462 15.19% 833 23.77%
4 Vay và nợ dài hạn 0 5914 4506 5914 - -1408 -23.81%
BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU NỢ VÀ TÌNH HÌNH QUẢN TRỊ NỢ
Đvt : triệu đồng
2013 NĂM2014 NĂM2015 CHÊNH LỆCH2014/2013
CHÊNH LỆCH 2015/2014
1 Hệ số các khoản phải thu 0.37 0.25 0.46 -0.12 0.21
2 Hệ số các khoản phải trả 0.41 0.38 0.38 -0.03 0
3 Hệ số các khoản nợ phải thu
so với các khoản trả 0.9 0.67 1.2 -0.23 0.53
4 Hệ số thu hồi nợ 3.14 2.61 2.21 -0.53 -0.4
5 Kỳ thu hồi nợ bình quân 115 138 163 23 25
6 Hệ số hoàn trả nợ 1.98 1.42 1.52 -0.56 0.1
7 Kỳ trả nợ bình quân 182 254 237 72 -17
Các khoản phải thu và các khoản phải trả đều tăng qua các năm từ 2013- 2015:
Các khoản phải thu năm 2014 tăng 1894 trđồng so với năm 2013 và đến năm
2015 tiếp tục tăng 82.10 % so với 2014 nhưng hệ số các khoản phải thu lại giảm mạnh 0.03 lần từ 0.41 xuống 0.38 chứng tỏ so sánh tương quan của việc quy mô tài sản thì tốc độ tăng công nợ phải thu nhỏ hơn tốc độ tăng của tài sản, bước điều chỉnh này giúp tình hình vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp theo quy mô được cải thiện,
Trang 10tránh để mất vốn đồng thời tạo tiền đề tiếp tục áp dụng chính sách tín dụng thương mại khi cần thiết
Trong cơ cấu các khoản phải thu không có sự góp mặt của các khoản phải thu dài hạn, thêm vào đó số vòng thu hồi nợ giảm ( từ năm 2013 đến 2014 giảm 0.53 lần,
từ 2014 đến 2015 giảm 0.4 lần) nhưng kì thu hồi nợ lại tăng trên 20 ngày, chứng tỏ rằng khả năng thu hồi nợ của Công ty gặp khó khăn nhưng xem xét trên một khía cạnh khác, trong 3 năm này, Hanoimilk hầu như giao dịch với các khách hàng truyền thống như Công ty TNHH Đức Tấn- Sài Gòn, Công ty TNHH Việt Phát, Công ty Tetra Park (Việt Nam & Indonexia) cho nên kì thu hồi nợ bị giảm là có thể
Trong nợ phải thu ngắn hạn, các khoản mục đều tăng: phải thu khách hàng tăng3.2% từ năm 2013 đến năm 2014, và đến năm 2015 thì tăng lên 19448 triệu đồng
so với năm 2014, cùng với đó là sự tăng lên với tốc độ tăng nhanh hơn gấp 6 lần (năm 2013 là 9935 trđ đến năm 2015 là 63179trđ) bên cạnh đó, Công ty chủ động trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi ở mức tương đối và tăng gấp 2,5 lần cho thấy Hanoimilk chuẩn bị sẵn sàng cho những khoản nợ bị chiếm dụng Mặc dù vậy nhưng vẫn đòi hỏi công tác quản trị xem xét lại cơ cấu nợ phải thu và cần có sự điều chỉnh lại
Các khoản nợ phải trả có xu hướng tăng từ năm 2013 đến năm 2015, cụ thể: tăng 33686 trđ tương ứng 35.94% từ 2013-2014, tăng 3142 trđ từ 2014-2015 nhưng
hệ số hoàn trả nợ lại tăng vọt trở lại vào năm 2015 chứng tỏ việc Công ty thực hiện tăng huy động vốn tín dụng thương mại vào năm 2015 để giảm nhu cầu tài trợ nhưng hiệu quả không cao, nhất là khi Công ty đang lâm vào tình trạng lỗ kéo dài nhiều năm, thậm chí “lời nguyền” vẫn đeo đẳng tới tận Quý I/ 2015 Tuy nhiên, công nợ phải trả chủ yếu là phải trả nhà cung cấp, người mua trả tiền trước, vay và nợ ngắn hạn, phải trả người lao động:
Khoản phải trả năm 2014 tăng 44.12% so với 2013 nhưng tới năm 2015 có dấu hiệu giảm nhẹ 413 trđ, chứng tỏ Công ty có độ tín nhiệm cao với nhà cung cấp, hơn nữa nhà cung cấp chủ yếu là cổ đông CTCP Hoàng Mai Xanh Bên cạnh đó, chỉ tiêu người mua trả trước có xu hướng giảm 6- 12 % chứng tỏ rằng sản phẩm của Hanoimilk vẫn chưa lấy lại niềm tin từ khác hàng sau 6 năm nỗ lực “ thắp lại hy vọng” từ vụ Melamine Không những thế, sức cạnh tranh cho sản phẩm mới của Hanoimilk lại gặp nhiều rào cản từ phía người tiêu dùng, do tâm lý “sính ngoại” và quyết định khi mua sản phẩm dinh dưỡng phải đảm bảo các nhân tố quan trọng
“Thành phần dinh dưỡng” “Giảm nguy cơ mắc bệnh” “Giá cả phải chăng” và “Được
sự chứng nhận bởi các chuyên gia y tế”
Các khoản vay và nợ ngắn hạn có xu hướng tăng từ 50.225trđ năm 2013 lên 63261trđ và đến năm 2015 là 65495trđ Nguồn vay chủ yếu là từ các Ngân hàng (NH Đầu tư và Phát triển VN- CN Tây HN, NH liên doanh Việt Nga) và vay của cá nhân (ông Hà Quang Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ công ty, ông Đặng Anh