Việc tìm hiểu về biến động của giá vàng,phân tích các nhân tố ảnhhưởng đến sự biến động đó trong thị trường vàng ở nước ta là rất cần thiết.. Với mục đích có thêm hiểu biết về thị trường
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã đi qua, nhưng nền kinh tế thếgiới vẫn chưa hoàn toàn hồi phục, và sự phục hồi vẫn còn nhiều bất ổn Dưới tác động củacuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, giá trị đồng USD – vốn được coi là đồng tiền mạnh bịsụt giảm; tình hình lạm phát trong nước kéo dài kéo theo sự đi xuống của trường chứngkhoán, bất động sản Với tập quán tích trữ vàng lâu đời của người dân, vàng đã trở thànhmột kênh đầu tư được quan tâm nhất nhằm bảo toàn giá trị tài sản nắm giữ Vì vậy, thịtrường vàng lại trở nên sôi động hơn, thu hút không chỉ sự quan tâm của các nhà đầu tư
mà cả các ngân hàng trung ương, các tổ chức tài chính lớn Những bất ổn của nền kinh tế
đã khiến giá vàng trên thế giới cũng như trong nước có nhiều biến động mạnh mẽ tronggiai đoạn 2008 – 2013 Việc tìm hiểu về biến động của giá vàng,phân tích các nhân tố ảnhhưởng đến sự biến động đó trong thị trường vàng ở nước ta là rất cần thiết
Với mục đích có thêm hiểu biết về thị trường vàng cũng như phân tích các biếnđộng của nó nhằm đưa ra một số giải pháp kiến nghị để phát triển thị trường vàng trongnước, em quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu nguyên nhân ảnh hưởng đến biến động giávàng ở Việt Nam giai đoạn 2008-2013” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.Ngoài mục lục, bảng biểu, kết luận, danh mục tham khảo, khóa luận được chia làm bachương chính:
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG VÀNG
Chương 2: PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN NHÂN TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG CỦAGIÁ VÀNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2013
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VÀNGVIỆT NAM
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2Mục đích của khóa luận nhằm đánh giá biến động của giá vàng, Tìm hiểu các nguyênnhân ảnh hưởng đến biến động giá vàng như: tình hình cung cầu về vàng, tình hình lạmphát, sự phát triển của TTCK, bất động sản… Từ đó đánh giá sự biến động cũng nhưnguyên nhân dẫn đến sự biến động đó trong thời gian qua, nhằm có các giải pháp ổn định
và phát triển thị trường vàng ở Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự biến động của giá vàng và các nguyên nhânảnh hưởng đến sự biến động giá vàng
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là giá vàng Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm
2013, trong mối quan hệ mật thiết với hai yếu tố giá trị của đồng USD và giá dầu thô thếgiới
5 Phương pháp nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu của đề tài dựa trên cơ sở sử dụng các phương phápnghiên cứu khoa học truyền thống và hiện đại: phương pháp duy vật biện chứng, duy vậtlịch sử, suy luận logic kết hợp với các phương pháp so sánh, tổng hợp, thống kê từ cácbảng biểu, báo cáo thường niên của các bộ, cơ quan ngành và các tổ chức quốc tế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG VÀNG 1.1 Giới thiệu về kim loại vàng
1.1.1 Giới thiệu về kim loại vàng và những tính chất đáng lưu ý
Vàng là một nguyên tố hóa học với ký hiệu Au (L.Aurum) có số hiệu nguyên tửtrong bảng tuần hoàn hóa học là 79 Là kim loại chuyển tiếp (hóa trị 3 và 1)
_Vàng không phản ứng với hầu hết các hóa chất
_Vàng được dùng làm một tiêu chuẩn tiền tệ ở nhiều quốc gia và cũng được sửdụng trong các ngành trang sức, nha khoa và điện tử
_Vàng có tính dẫn nhiệt và điện tốt, không bị tác động bởi không khí và phần lớnhóa chất Nó không bị ảnh hưởng về mặt hóa học bởi nhiệt, độ ẩm, oxy và hầu hết chất ănmòn; vì vậy nó thích hợp để tạo tiền kim loại và trang sức
_Màu của vàng rắn cũng như của dung dịch keo từ vàng (có màu đậm, thường tía)được tạo ra bởi tần số plasmon của nguyên tố này nằm trong khoảng thấy được, tạo ra ánhsáng vàng và đỏ khi phản xạ, ánh sáng xanh khi hấp thụ
_Vàng tạo hợp kim với nhiều kim loại khác; kim với đồng cho màu đỏ hơn, hợpkim với sắt màu xanh lá, hợp kim với nhôm cho màu tía, với bạch kim cho màu trắng,bismuth tự nhiên với hợp kim bạc cho màu đen
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4_Trạng thái oxi hóa thường gặp của vàng gồm +1 (vàng(I) hay hợp chất aurous)
và +3 (vàng(III) hay hợp chất auric)
1.1.2 Ứng dụng của vàng
Vàng nguyên chất quá mềm không thể dùng cho việc thông thường nên chúngthường được làm cứng bằng cách tạo hợp kim với bạc, đồng và các kim loại khác Vàng
và hợp kim của nó thường được dùng nhiều nhất trong ngành trang sức, tiền kim loại và
là một chuẩn trao đổi tiền tệ ở nhiều nước
Vì tính dẫn điện tuyệt vời, tính kháng ăn mòn và các kết hợp lí tính hóa tính mongmuốn khác, vàng nổi bật vào cuối thế kỉ 20 như là một kim loại công nghiệp thiết yếu
Các ứng dụng khác của vàng
_Vàng có thể được làm thành sợi và dùng trong ngành thêu
_Vàng thực hiện các chức năng quan trọng trong máy tính, thiết bị thông tin liênlạc, đầu máy bay phản lực, tàu không gian và nhiều sản phẩm khác
_Tính dẫn điện cao và đề kháng với ôxi hóa của vàng khiến nó được sử dụng rộngrãi để mạ bề mặt các đầu nối điện, bảo đảm tiếp xúc tốt và trở kháng thấp
_Vàng được dùng trong nha khoa phục hồi, đặc biệt trong phục hồi răng như thânrăng và cầu răng giả
_Vàng keo là dung dịch đậm màu hiện đang được nghiên cứu trong nhiều phòngthí nghiệm y học, sinh học, v.v Nó cũng là dạng được dùng làm nước sơn vàng lênceramic trước khi nung
_Vàng được dùng để tạo lớp áo phủ, giúp cho các vật chất sinh học có thể xemđược dưới kính hiển vi điện tử quét
1.2 Vai trò của vàng trong nền kinh tế
1.2.1 Vàng với vai trò là một loại tiền tệ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5_Tính được chấp nhận rộng rãi: Đây là tính chất quan trọng nhất của tiền tệ, người dân
phải sẵn sàng chấp nhận tiền trong lưu thông, nếu khác đi nó sẽ không được coi là tiềnnữa
_Tính dễ nhận biết: Người dân phải có thể nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng.
Người ta có thể dùng lửa để nhận biết được vàng có thật hay không
_Tính có thể chia nhỏ được: Tiền tệ phải có các loại mệnh giá khác nhau sao cho người
bán được nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi thanh toán bằng một loại tiền cómệnh giá lớn thì phải được nhận tiền trả lại
_Tính lâu bền: Để có thể thực hiện được chức năng cất trữ giá trị cũng như mới có ích
trong trao đổi Một vật mau hỏng không thể dùng để làm tiền, chính vì vậy những tờ giấybạc được in trên chất liệu có chất lượng cao còn tiền xu thì được làm bằng kim loại bềnchắc
_Tính dễ vận chuyển: Để thuận lợi cho con người trong việc cất trữ, mang theo, tiền tệ
phải dễ vận chuyển
_Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ phải có tính chất khan hiếm vì nếu có
thể tìm kiếm được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý nghĩa trong việc cất trữ giátrị và không được chấp nhận trong lưu thông nữa
_Tính đồng nhất: Tiền tệ phải có giá trị như nhau nếu chúng giống hệt nhau không phân
biệt người ta tạo ra nó lúc nào Có như vậy tiền tệ mới thực hiện chức năng là đơn vị tínhtoán một cách dễ dàng và thuận tiện trong trao đổi
1.2.2 Vai trò của vàng trong các chế độ tiền tệ
Để đánh dấu sự phát triển của các hình thái tiền tệ trong quá khứ, người ta thườngnhắc đến các chế độ bản vị tiền tệ Đó là những tiêu chuẩn để một quốc gia xây dựng nênthể chế tiền tệ của mình Hay hiểu một cách đơn giản hơn, bản vị có nghĩa là quốc gia sửdụng hàng hóa đúc tiền theo thể chế như thế nào
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 61.2.2.1 Chế độ đồng bản vịĐồng bản vị là chế độ lưu thông tiền tệ chuyển tiếp từ chế độ bản vị bạc sang chế
độ bản vị vàng Trong chế độ này vàng và bạc đều được sử dụng với tư cách là tiền tệ.Vàng và bạc đều là vật ngang giá đều thực hiện chức năng thước đo giá trị và phương tiệnlưu thông với quyền lực ngang nhau Cả vàng và bạc đều đúc tự do và thanh toán khônghạn chế
Tuy nhiên tiền vàng được sử dụng trong những giao dịch có giá trị lớn và thươngnghiệp bán buôn, cong bạc thì được sử dụng trong những giao dịch nhỏ và thương nghiệpbán lẻ Do lượng bạc được khai thác và đưa vào lưu thông ngày càng lớn nên giá trị của
nó ngày càng giảm trong khi vàng vẫn giữ được những giá trị khiến tỷ giá giữa hai đồngtiền này có nhiều thay đổi, điều này đã dẫn đến dự hình thành chế độ bản vị song song vàchế độ bản vị kép trong chế độ đông bản vị
Chế độ bản vị song song:
Là bản vị mà theo đó tiền vàng và tiền bạc lưu thông trên thị trường theo giá thực
tế của nó trên thị trường và nhà nước không can thiệp được Sự tồn tại song song này dẫnđến việc có hai thước đó giá trị và hai và hai hệ thống giá cả trong lưu thông là hệ thốnggiá cả theo bạc và hệ thống giá cả theo vàng
Do giá trị của bạc thấp hơn giá trị của vàng nên đã dẫn đến thực tế là vàng trởthành thước đo giá trị của bạc và bạc trở thành thước đo của các loại hàng hóa khác
Việc đồng tiền được định giá ca loại đồng tiền bị định giá thấp ra khỏi lưu thông đãdẫn đến một nhược điểm của chế độ tiền tệ này, bắt nguồn từ sự thay đổi tương quan liêntục giữa vàng và bạc Người nắm giữ tiền sẽ không thể quyết định được việc nắm giữ tiềnnào là có lợi cho mình, do đó thường có tâm lý lựa chọn một loại tiền được sử dụng phổbiến hơn
Chế độ bản vị kép:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7Khác với chế độ bản vị song song, ở chế độ bản vị kép, tiền vàng và tiền bạc lưuthông trên thị trường theo tỉ giá đã được nhà nước quy định, không phụ thuộc vào giá trịthực tế của hai kim loại này Việc quy định tỉ giá xác định rõ ràng là nhằm khắc phụcnhững rối loạn của giá cả hàng hóa trong lưu thông.
Tuy nhiên việc này không mang lại kết quả như ý muốn bởi bạc ngày càng mất giá
so với vàng dẫn đến việc nhiều người mang bạc đổi lấy vàng để cất trữ còn bạc thì càngtràn ngập trong lưu thông Tình trạng này đã trở thành quy luật “tiền xấu đuổi tiền tốt”(được gọi là quy luật Gresham)
Ví dụ: Hoa Kỳ năm vào 1972, tỷ giá pháp định giữa vàng và bạc là 1/15, sau đó tỷgiá này đã thay đổi thành 1/17, 1/19, 1/21
1.2.2.2 Chế độ bản vị vàngChế độ bản vị vàng là chế độ lưu thông tiền tệ lấy vàng làm bản vị, làm thước đogiá trị và phương tiện lưu thông Chế độ bản vị vàng gồm có những đặc điểm sau:
+ Nhà nước cho phép công dân tự do đưa vàng để đúc thành tiền hoặc thành thỏi
để cất trữ tại các cơ sở đúc tiền của Nhà nước theo những tiêu chuẩn giá cả nhất định
+ Tiền vàng được tự do lưu thông không hạn chế
+ Các loại tiền kim loại kém giá và giấy bạc ngân hàng được tự do đổi lấy tiềnvàng theo giá trị danh nghĩa của chúng, từ đó sức mua cả tiền giấy sẽ ổn định, đây là điềukiện quan trọng hàng đầu để ổn định và thúc đẩy nền kinh tế phát triển
+ Hoạt độn xuất nhập khẩu có quyền thu chi bằng tiền vàng
+Hoạt động xuất nhập khẩu vàng thỏi không bị ngăn cấm giữa các quốc gia
+Vàng được tự do luân chuyển giữa các quốc gia
Chế độ bản vị vàng là chế độ lưu thông tiền tệ ổn định bởi tiền vàng có giá trị nộitại giúp cho nền kinh tế tránh được nguy cơ lạm phát Tuy nhiên lưu thông tiền vàng cũngTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8Chế độ này phát triển theo ba giai đoạn khác nhau.
Chế độ bản vị tiền vàng:
Đây là chế độ tiền tệ thông thoáng và ổn định nhất trong lịch, đồng tiền của mộtnước được bảo đảm bằng một trọng lượng vàng nhất định theo quy định của pháp luật vớinhững yêu cầu như: Nhà nước không hạn chế việc đúc tiền vàng, tiền giấy quốc gia đượcnhà nước xác định một trọng lượng vàng nhất định và được tự do chuyển đổi ra vàng theo
tỷ lệ đó, và tiền vàng được lưu thông không hạn chế Theo cách quy định này, vàng luônđược phản ánh trung thực giá trị của mình, do đó sẽ khó có khả năng xảy ra hiện tượnglạm phát
Những đặc điểm cơ bản trong hoạt động của chế độ bản vị vàng có thể mô tả thôngqua 3 quy tắc cơ bản:
Thứ nhất, các quốc gia ấn định cố định giá trị đồng tiền của mình với vàng, và sẵnsàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá đã quy định
Thứ hai, việc xuất khẩu và nhập khẩu vàng giữa các quốc gia được tự do hoạtđộng
Thứ ba, Ngân hàng trung ương luôn phải duy trì một lượng vàng dự trữ trong mốiquan hệ trực tiếp với số tiền phát hành
Nhược điểm của chế độ tiền tệ này là đồng tiền vàng vẫn là hàng hóa, do đó vớinhu cầu ngày càng tăng của xã hội, việc sản xuất vàng không thể theo kịp để đáp ứng.Thêm vào đó giá trị thực của đồng tiền trong lưu thông càng ngày càng kém đi so vớilượng giá trị mà nó đại diện
Chế độ này được áp dụng phổ biến ở các nước cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỷ XX
Chế độ bản vị vàng thỏi:
Bản vị vàng thỏi cũng quy định cho đơn vị tiền tệ quốc gia một trọng lượng vàng
cố định, tiền trong lưu thông phải được quy định chặt chẽ về hàm lượng vàng NhưngTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9vàng được đúc thành thỏi mà không đúc thành tiền để đưa vào lưu thông nữa Bên cạnh
đó, các loại giấy bạc ngân hàng không được đổi ra vàng một cách tự do mà phải đạt mộttiêu chuẩn nhất định do Nhà nước đề ra thì mới có thể đổi ra vàng Vàng không lưu thôngtrong nền kinh tế mà chỉ dự trữ làm phương tiện thanh toán quốc tế và chuyển dịch tài sản
ra nước ngoài Hoạt động xuất nhập khẩu vàng cũng bị kiểm soát chặt chẽ và có lúc bịcấm
Chế độ bản vị hối đoái vàng:
Chế độ bản vị hối đoái vàng cùng được áp dụng trong một quãng thời gian tương
tự như chế độ bản vị vàng thỏi Cũng có những quy định tương tự như chế độ bản vị vàngthỏi chỉ khác biệt ở chỗ tiền giấy quốc gia không được trực tiếp chuyển đổi ra vàng, muốnđổi ra vàng phải thông qua một ngoại tệ Ngoại tệ đó phải được tự do chuyển đổi ra vàngVD: Dola Mỹ, Bảng Anh, Chế độ này từng được áp dụng ở Ấn Độ năm 1898, ở Đứcnăm 1924, ở Hà Lan năm 1928 Việc chuyển đổi này cũng không được thực hiện tự do
mà phải thực hiện với một số lượng đủ lớn
1.2.2.3 Chế độ lưu thông tiền giấyDưới chế độ này, đơn vị tiền tệ của một quốc gia không được chuyển đổi ra kimloại quý Theo đó, vàng bị rút ra khỏi lưu thông trong nước, , tiền giấy không được đổi ravàng và vàng mà chỉ thay thế cho vàng thực hiện chức năng của tiền tệ Tiền giấy gần nhưkhông có giá trị mà nó chỉ là loại tiền mang dấu hiệ giá trị mà thôi Sở dĩ tiền giấy đượcthừa nhận chung là do nó được Nhà nước công nhận, bảo đảm và bắt buộc mọi người phảituân thủ Một lý do khác không kém phần quan trọng là lòng tin của người dân đối vớiđồng tiền giấy Một khi lòng tin này mất đi thì người dân sẽ lựa chọn không nắm giữ đồngtiền giấy nữa và thay vào đó nắm giữ vàng hoặc những vật dụng có giá khác Chế đô nàyphổ biến vào những năm 1930
1.3 Giá vàng và các nhân tố ảnh hưởng giá vàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 101.3.1.1 Đơn vị đo lường và cách yết giá_Các đơn vị đo lường của Vàng: Trong ngành kim hoàn ở Việt Nam, khối lượngcủa vàng được tính theo đơn vị là cây (lượng hay lạng) hoặc là chỉ Một cây vàng nặng37,50 gram Một chỉ bằng 1/10 cây vàng Trên thị trường thế giới, vàng thượng được tínhtheo đơn vị là ounce hay troy ounce 1 ounce tương đương 31.103476 gram.
_Tuổi vàng (hay hàm lượng vàng) được tính theo thang độ K (karat) Một Karattương đương 1/24 vàng nguyên chất Vàng 9999 tương đương cới 24K Khi người ta nóituổi vàng là 18K thì nó tương đương với hàm lượng vàng trong mẫu xấp xỉ 75% Vàngdùng trong ngành trang sức thông thường còn gọi là vàng tây có tuổi khoảng 18K
o Thị trường vàng thế giới
Đơn vị yết giá (thông thường): USD/ounce
1 ounce = 1 troy ounce = 0,83 lượng
1 lượng = 1,20556 ounce
o Thị trường vàng trong nước
Đơn vị yết giá: VND/lượngCông thức chuyển đổi giá vàng thế giới (TG) sang giá vàngtrong nước (TN):
TN = (TG+ phí vận chuyển)*1.20556*(1+thuế NK)*tỉ giá USD/VND+phí gia công
1.3.1.2 Cơ chế định giá vàngGiá trị của vàng được quyết định bởi thị trường Mặc dù các NHTW và quỹ Tiền tệthế giới, các quỹ tín thác vàng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành giávàng khi mà các quỹ này nắm trong tay 19% vàng trên thế giới; nhưng giá trị của vàngxuất phát từ công dụng của nó chứ không phải do các NHTW quyết định Vì vậy, thịtrường quyết định giá vàng cũng như giá trị của bất cứ một loại hàng hóa nào khác TrướcTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11đây, NHTW có thể gây ảnh hưởng tới giá vàng bởi sau chiến tranh thế giới thứ hai,khoảng 68% vàng trên thế giới được cất trữ bởi các NHTW nhưng hiện nay con số đó chỉcòn 10%.
Giá vàng cũng được xác định trên quy luật cung cầu Vàng được sử dụng chủ yếulàm công cụ dự trữ giá trị nên trong từng thời điểm nhất định, việc tích trữ vàng của giớiđầu tư cũng như của các ngân hàng tăng mạnh thì giá vàng sẽ tăng và ngược lại, giá vànggiảm khi các tổ chức này bán ra
Ngoài ra cũng phải kể đến lượng cung vàng trong khai thác, mặc dù sản lượng khôngnhiều, chỉ tăng 1,7%/năm, nhưng lượng cung này cũng gây có ảnh hưởng đến giá vàng.Giá vàng được tính bằng USD, do đó giá trị của vàng phụ thuộc rất nhiều vào sự mạnhyếu của đồng USD so với các đồng tiền mạnh khác Nghĩa là khi đồng USD suy yếu, giávàng sẽ tăng và ngược lại
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới giá vàng
Thị trường vàng là một trong những thị trường sôi động nhất trên thế giới, thể hiện
ở tính thanh khoản cao Giá vàng tại một thời điểm, một địa điểm cụ thể nào đó thường làkết quả tổng hợp của tình hình tài chính-tiền tệ, mức độ tin tưởng lạc quan hay bi quancủa công chúng về nền kinh tế, về các biến cố chính trị, quân sự tại thời điểm đó Nhưngtrước hết, về cơ bản, nhân tố tạo nên biến động giá vàng chính là những nhân tố ảnhhưởng tới cung vàng và cầu vàng, qua đó tác động đến giá vàng và tính thanh khoản củathị trường vàng thế giới
1.3.2.1 Mức cung về vàng
Xu hướng chung của mức cung:
- Từ 1970-1987, mức cung đã tăng từ 1034 tấn/năm lên 1606 tấn/năm, tăng 55%.Nhìn chung, mức phát triển của các hầm mỏ không đều: gia tăng mạnh vào đầu thời kỳ vàTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12sau đó sau đó dừng lại ở mức ổn định 1200 tấn/năm Các nguồn cung khác cũng biếnđộng ít nhiều qua các năm với nhiều nguyên nhân khác nhau.
- Chi phí khai thác vàng của các hầm mỏ quan trọng là nhân tố chủ yếu của giávàng thế giới Nam Phi khai thác được khoảng 40-50% sản lượng vàng hầm mỏ với giáthành khoảng 200USD/oz Còn 95% sản lượng vàng hầm mỏ của toàn thế giới năm 1996
có giá thành bình quân khoảng 300USD/oz
Nguồn website www.cpmgroup.com
Biều đồ 1.1: Tổng cung vàng trên thế giới từ năm 1973 đến 2009
Hoạt động khai thác hầm mỏ của các nước có sản lượng lớn:Khối lượng khai thác chính là yếu tố lớn nhất đóng góp cho nguồn cung vàng chothị trường vàng thế giới
- Nam Phi khai thác vàng nhiều nhất, đạt xấp xỉ 40-50% sản lượng vàng khai tháchàng năm của thế giới; Sản lượng khai thác trung bình mỗi năm lên đến 350 tấn
- Canada, nước khai thác vàng đứng thứ hai sau Nam Phi Từ năm 1980, Canada
đã có hơn 150 dự án phục hồi và khai thác mới, đưa ra sản lượng khai thác hàng năm củanước này đạt khoảng 130 tấn/năm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13- Mỹ, nước đứng thứ ba trong công nghiệp khai thác vàng năm 1985 trở về trước.Gần đây, sản lượng vàng của Mỹ cung ứng cho thị trường đã vượt qua Canada.
- Úc, từ 1980, hoạt động khai thác vàng ở vùng này trở nên nhộn nhịp, nhờ vậy màtrong vòng 8 năm (1980 – 1987), sản lượng khai thác đã tăng đạt mức 108 tấn/năm
- Brazil là nước khai thác vàng mới đây đã đứng vào danh sách năm nước sản xuấtvàng lớn trên thế giới Sức sản xuất của Brazil tăng đều đạt 80 tấn/năm tính đến năm
1996 Brazil được đặt biệt chú ý là do tiềm năng trữ lượng vàng của nước này được đánhgiá vào khoảng 30.000 tấn, lớn hơn trữ lượng đã biết của Nam Phi Đây là yếu tố quyếtđịnh cho tương lai thị trường vàng thế giới
Ngày nay, sản lượng khia thác vàng trên thế giới đang chậm lại Nhiều nguyênnhân lý giải cho điều này như sau:
- Chi phí khai thác và chế biến vàng cao mà giá vàng lại giảm (trước khủng hoảngkinh tế 2008) gây khó khăn cho các công ty khai thác vàng Nhiều công ty khai thác bịthua lỗ, dẫn đến phá sản
- Tai nạn lao động của các hầm mỏ tăng cao khiến công nhân ở các mỏ vàng đìnhcông, đòi tăng lương và có những biện pháp an toàn lao động Sự việc này làm trì trệ việckhai thác vàng ở các mỏ
- Các hầm mỏ vàng cũ trên thế giới ngày càng cạn kiệt và chi phí để phát hiện các
mỏ mới khá tốn kém
Theo hội đồng vàng thế giới, sản lượng vàng khai mỏ hàng năm trong vài năm quagần mức 2500 tấn, trong khi nhu cầu vàng lại vượt gần 1000 tấn so với sản lượng khaimỏ
Theo hội đồng vàng thế giới, sản lượng vàng trong 9 tháng đầu năm 2010 ước tínhkhoảng 2.993,3 tấn, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm 2009 Tuy nhiên dựa vào số liệu công
bố vào tháng 2/2011, tổng sản lượng vàng khai thác trên toàn thế giới vẫn tăng so với nămTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 142009 Trong đó, Úc là nước đóng vai trò lớn nhất vào sản lượng vàng khai thác do các mỏkhai thác vàng nước này đạt được sản lượng cao Tiếp sau đó là Mexico, Argentina và Mỹkhi các nước này đang mở rộng quy mô khai mỏ.
Nguồn: Báo cáo tháng 1/2011 của Hội đồng vàng thế giới, tải từ www.gold.org
Biểu đồ 1.2: Tổng sản lượng vàng khai thác và vàng tái chế của toàn thế giới năm
âm, phải nhập khẩu nhiều hơn sản xuất, và ngược lại, những năm khác khi có số dưdương thì cần nhiều xuất hơn nhập để cho quỹ dự trữ ở một mức hợp lý Hiện nay, cácchính sách giao dịch về vàng từ quỹ dự trữ của các ngân hàng Trung ương và của các cơquan tiền tệ quốc tế được chia làm ba loại:
- Các cơ quan tiền tệ và NHTW mua số vàng từ những nước có nguồn khai thác vàsản xuất ngay trong nước (như các nước thuộc châu Phi và châu Mỹ La Tinh) Bởi vìTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15vàng sản xuất trong nước thường có giá thấp hơn giá vàng thế giới lại được trả bằng bản
tệ Sự gia tăng các quỹ dự trữ này chủ yếu nhằm cải thiện khả năng giải quyết các món nợnước ngoài
- Với những nước không sản xuất vàng, nhập vàng từ nước ngoài với một tỷ lệnhất định nào đó trong tổng quỹ dự trữ (cân đối cùng với các ngoại tệ khác) nhằm hạn chếnhững rủi ro do đã quá lệ thuộc vào một đồng tiền nào đó (chẳng hạn USD) hoặc để thựchiện một chính sách kinh tế đối ngoại nào đó với các nước bạn hàng
- Những nước bán đứt hoặc bán theo phương thức “Gold Swap” nhằm có nguồnngoại tệ thanh toán nợ nước ngoài Tuy nhiên, khó có thể thanh toán nợ nước ngoài bằngcách bán vàng dự trữ để rồi sau đó, lại vội vàng mua vàng trở lại khi điều kiện kinh tế chophép
1.3.2.2 Mức cầu về vàngCần phân biệt vàng nguyên liệu dùng để chế biến ra sản phẩm hàng hóa và vàngtiền tệ dùng như một phương tiện đầu tư, dự trữ, song cũng có một số lớn vàng vừa lànguyên liệu vừa mang tính chất dự trữ Đối với vàng tiền tệ, mức cầu thuần túy đáp ứng
dự trữ cũng rất khó xác định vì nó bị chi phối bởi mức độ tăng giảm dự trữ tùy theo sựthay đổi giá vàng bằng bản tệ và tình hình hối đoái
Mức cầu của khu vực kim hoàn:
Đây là lĩnh vực tiêu thụ chủ yếu của thị trường vàng, hàng năm tiêu thụ từ 50%đến 75% sản lượng vàng khai thác từ các hầm mỏ Mức cầu hàng năm của khu vực này đãtăng dần trong những năm gần đây, tùy thuộc sự biến động của giá vàng tính bằng bản tệcủa nước tiêu thụ Tùy vào phong tục tập quán của từng dân tộc, từng quốc gia mà việcmua sắm nữ trang ở mỗi nước lại có ý nghĩa khác nhau Ở Châu Âu, vật trang sức nói lênđịa vị xã hội, những bậc vua chúa, hoàng thân quốc thích thường đeo những trang sức cầu
kỳ và đắt tiền Trang sức ở Châu Âu thường có hàm lượng vàng thấp, chủ yếu là mẫu mãTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16thẩm mỹ vừa là tài sản tích lũy, vì vậy trang sức khu vực này thường có hàm lượng vàngcao Cũng chính từ sự khác biệt này mà nữ trang được chế biến rất khác nhau giữa cácnước.
Ở mỗi nước, nhu cầu về vàng cho khu vực kim hoàn còn có thể tăng giảm dó hoạtđộng xuất khẩu các sản phẩm kim hoàn sang các nước khác
Mức cầu của các ngành công nghiệp sử dụng vàng:
Nhờ vào tính chất vật lý và nhu cầu thẩm mỹ của vàng, một số ngành công nghệcao, đặc biệt là các vi mạch, chế tạo linh kiện, thiết bị điện từ, dụng cụ quang học, hàngkhông vũ trụ, nha khoa đã sử dụng nguyên liệu vàng ngày càng nhiều, với tổng mức tiêuthụ khoảng 200-300 tấn/năm Riêng Mỹ và Nhật tiêu thụ 70% nguyên liệu vàng dùng chongành điện tử, khoảng từ 70 đến 90 tấn/năm
Mức cầu dự trữ của các ngân hàng quốc gia:
Tùy vào tình hình chính trị - xã hội, chính sách tài chính của mỗi quốc gia mà việc
dự trữ vàng được xem là nguồn dự trữ chính của quốc gia Nhà nước sẽ sử dụng vàngtrong việc điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia
Mức cầu về đầu tư và đầu cơ:
Một số lượng vàng dùng để giao dịch trên thị trường không cần đến công nghiệpchế tác, nó được giữ ở dạng nguyên chất và được đúc thành thỏi, nén để đáp ứng nhu cầutích trữ của từng đối tượng Việc mua bán, tích trữ loại vàng này trong những điều kiệnnhất định đã gây nên những đợt biến động giá vàng tách xa giá trị thực của nó Hiện nay,trung tâm tích trữ vàng lớn nhất thuộc về khu vực Trung và Viễn đông, nơi vàng đượcxem là phương tiện đầu tư và đầu cơ rất thuận lợi Bởi tình hình chính trị ở khu vực nàyluôn sôi động nên không phát triển được các hình thức chứng khoán, tín dụng, dân chúng
có truyền thống ưa thích vàng Mức cầu vàng tại đây phụ thuộc rất lớn vào thu nhập quantrọng là dầu hỏa
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17 Tình hình đầu tư và đầu cơ vàng ở các nước:
Không như 20 năm trước đây, các nhà đầu tư phương Tây hiện nay không còn chú
ý đến vàng Họ đã chuyển một phần vốn quan trọng sang TTCK, đầu tư ngày càng nhiềuvào các cổ phiếu của các công ty đa quốc gia, các công ty tài chính Do đó, nhu cầu đầu tư
và đầu cơ vàng đã giảm đáng kể
Các trung tâm tích trữ vàng với số lượng lớn hiện nay thuộc khu vực Trung vàViễn Đông
- Tại Trung Đông, nơi có truyền thống ưa thích vàng, tình hình chính trị luôn sôiđộng, không có các hình thức đầu tư chứng khoán và tín dụng Vì thế vàng vẫn làphương tiện đầu tư và đầu cơ rất thuận lợi Tuy nhiên, số cầu về vàng của họ còn tùythuộc một nhân tố quan trọng là nguồn thu nhập từ dầu mỏ
- Vùng viễn Đông được xem là một trung tâm tiêu thụ lớn số vàng từ các thịtrường vàng phương tây Thị trường tiêu thụ vàng lớn nhất khu vực này là HongKong,Singapore và Tokyo Ở đây, số lượng giao dịch bằng vàng thật rất cao do nhu cầu dự trữ
và sản xuất nữ trang rất lớn
1.3.2.3 Tổng hợp các yếu tố cơ bản của giá vàngTrong các nhân tố trên, mức cầu về kim hoàn, về đầu tư và mức cung về tái chế(vàng dùng lại) chịu ảnh hưởng của các biến động về giá vàng trong ngắn hạn
Khi giá vàng tăng thì các mức cung cầu sẽ bị ảnh hưởng theo, cầu tăng và cung sẽgiảm (những tư nhân đầu tư và đầu cơ sẽ dự báo giá vàng tăng và họ sẽ gia tăng số lượngmua vào, trong khi các nhà sản xuất, khai thác từ hầm mỏ cũng sẽ trì hoãn việc giao hàng
để hi vọng bán với giá cao hơn trong vài tuần tới) Sự mất cân đối tạm thời này giữ cung
và cầu tạo cho giá vàng có chiều hướng giá tăng Mặt khác, khi sự mất cân đối giữa cung
và cầu đi trước sự biến động của giá vàng, những cơn sốt giá rất nặng nề sẽ xuất hiện.Đây là một sự biến động do mất cân đối giữa các nhân tố nội tại của thị trường vàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, sự mất cân đối cung cầu có thể đi trước (và lànguyên nhân) hay theo sau (và là hậu quả) của sự thay đổi giá vàng Cuối cùng các nhân
tố cơ bản của cung cầu sẽ kiềm giữ hoặc làm thay đổi những lực lượng đầu cơ quá đángtrên thị trường
1.3.2.4 Một số yếu tố tác động đến giá vàng thế giớiCác yếu tố này có mối quan hệ tác động qua lại với vàng Chúng không làm thayđổi về cơ bản mức giá vàng đã xác lập theo những nhân tố nội tại của thị trường vàng(cung và cầu) nhưng lại có thể là nguyên nhân làm giá vàng biến động Ngược lại, nócũng chịu ảnh hưởng của giá vàng khi giá vàng biến động trước
Giá Đô la Mỹ:
Trong thời đại ngày nay,đô la Mỹ luôn là đồng tiền có sức mạnh to lớn trong vaitrò là đồng tiền thanh toán toàn cầu Vì vậy, hầu hết các loại hàng hóa hay ngoại tệ khigiao dịch quốc tế thường được định giá theo USD, và vàng cũng không là ngoại lệ Do đóbất cứ biến động nào ảnh hưởng đến giá trị đồng USD thì cũng tác động trực tiếp đến nhucầu vàng
Nguồn: www.forexoma.com
Biểu đồ 1.3: Biều đồ phân tích kỹ thuật giá vàng và tỷ giá USD/CHF
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19Biểu đồ phân tích kỹ thuật cho thấy xu hướng biến động ngược chiều của giá vàng
Tuy nhiên, khi khảo sát giá vàng và giá USD trên thị trường thế giới từ tháng11/1978 đến tháng 4/1986, người ta đã ghi nhận được:
+ Giá vàng và giá USD biến động ngược chiều: 62,5% tổng số trường hợp.+ Giá vàng và giá USD biến động cũng chiều: 37,5% tổng số trường hợp.Như vậy mối quan hệ giữa giá vàng và giá USD không phải lúc nào cũng diễn ratheo đúng quy luật Ngoài ra, trong sự biến đổi ngược chiều hoặc cùng chiều, tỷ lệ biếnđộng tăng giảm giá vàng không cùng thời điểm và cũng không cùng một tỷ lệ biến độngcủa đô la Mỹ Bởi vì bản thân giá vàng và giá USD còn chịu tác động đồng thời của nhiềuyếu tố khác
Những yếu tố chính ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị đồng đô la Mỹ gồm:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20- Nền kinh tế Mỹ: thị trường nhà ở, thị trường lao động, thị trường tín dụng, thị trườngvốn.
- Lãi suất cơ bản được công bố bởi Cục dự trữ Liên Bang Mỹ
- Nếu không có những tác động đặc biệt của các nhân tố ngoại thì giá trị vàng và giá trịUSD thường có xu hướng ngược chiều nhau
Giá dầu thô:
Thị trường vàng và thị trường dầu là hai thị trường hàng hóa có mối quan hệ chặtchẽ với nhau Điều này được lý giải rằng:
Dầu là nguồn đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất Bất cứ sự biến động củathị trường dầu cũng tác động dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế thế giới Mặt khác, khuvực khai thác và xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới được biết đến là vùng Trung Đông
Do một số ưu điểm của vàng nên các nước trong khu vực này thường dự trữ tài sản dướidạng vàng Vì thế, việc bán dầu của họ cũng gắn với mua vàng trên thị trường thế giới.Chính nguồn cung về dầu và nguồn cầu về vàng ở khu vực này đều có số lượng lớn chiphối giá cả của hai mặt hàng và hình thành mối quan hệ về giá
Mặt khác, vì USD là đơn vị tiền tệ dùng trên các hóa đơn mua bán dầu thô, do đó,mối quan hệ giá vàng – giá dầu thô – giá USD lại có xu hướng tác động phức tạp lên
nhau Vàng và dầu là những hàng hóa có giá trị thực và có nhu cầu lớn đối với nền kinh tếthế giới trong khi đồng USD thực chất nó không có giá trị thực, chỉ là một dạng dấu hiệucủa giá trị Vì vậy khi USD mất giá thì các hàng hóa được định giá bằng đồng tiền này –các hàng hóa có giá trị thực – sẽ đồng loạt lên giá để phản ánh đúng giá trị thực của nó.Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của USD lên từng loại hàng hóa không phải bao giờ cũngngang nhau, do USD không chỉ điều chỉnh hai thị trường vàng và dầu mà nó còn ảnh
hưởng tới rất nhiều các thị trường khác và các thị trường này có quan hệ, tác động phứctạp lẫn nhau Ngoài ra thị trường vàng và dầu cũng chỉ bị chi phối bởi giá trị của đồngTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21USD mà nó còn chịu tác động bởi hàng loạt các yếu tố khác như quan hệ cung cầu, tâm lýcủa người tích trữ, nhà đầu tư, đầu cơ…
Một cách giải thích khác về mối quan hệ giữa vàng – dầu và USD là: khi giá dầuthô giảm, những nước cần tiêu thụ sẽ ít tốn USD hơn để đáp cứng cho nhu cầu này, giúpcho các nước đó giảm tỷ lệ lạm phát, giá trị đồng bản tệ sẽ tăng lên, tỷ giá so với USDgiảm xuống, dẫn đến sự sụt giảm giá vàng Trong khi đó, với các nước xuất khẩu dầu như
Mỹ, giá dầu thô giảm làm cho nguồn thu giảm, gây ảnh hưởng xấu đến giá USD và ảnhhưởng tốt cho giá vàng tăng lên trên thị trường thế giới Ngược lại, khi khủng hoàng quân
sự, chính trị tại Trung Đông bùng nổ trở lại, giá dầu tăng lên thì giá vàng sẽ nhạy cảm vớicường độ căng thẳng tại vùng này Lúc đó, không phải giá vàng tăng theo giá dầu mà làcùng với giá dầu chịu ảnh hưởng của các biến động về chính trị Vì vậy, chúng ta cầnkhảo sát các nguyên nhân trực tiếp làm tăng giảm giá dầu để đánh giá các mức độ ảnhhưởng khác nhau làm thay đổi giá vàng
Giá cả của các loại hàng hóa khácKhi nền kinh tế tăng trưởng quá mạnh dễ dẫn đến lạm phát gia tăng, đồng tiền mấtgiá, ngược lại khi nền kinh tế tăng trưởng chậm và trì trệ trong thời gian dài sẽ gây ra tìnhtrạng giảm phát, khi giá cả hàng hóa giảm nhiều hơn so với mức giá chung của nền kinh
tế Nếu chỉ số lạm phát tăng hoặc giảm quá một mức độ nào đó, nó sẽ có tác động đến giávàng Tuy vậy, việc định lượng các yếu tố lạm phát ảnh hưởng trên giá vàng sẽ sẽ không
rõ rệt – nhất là ở những nước có mức độ lạm phát hoặc giảm phát không cao Mối quan hệqua lại giữa giá vàng với tốc độ lạm phát hoặc giảm phát có một số đặc điểm:
- Khi lạm phát xảy ra,giá cả các hàng hóa luôn tăng, lúc này Chính phủ khôngkiểm soát được tốc độ lạm phát, công chúng sẽ đầu tư vào một phương thức dự trữ tài sảnkhác an toàn hơn, có thể bảo toàn vốn một cách hiệu quả nhất Mức độ lạm phát càng cao,chức năng phương tiện thanh toán thay cho tiền của vàng càng thể hiện rõ nét hơn Vì thế,Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22chỉ số gia tăng giá vàng được xem như là chỉ số chủ yếu phản ánh cho sự gia tăng giá cảhàng hóa – tức mức độ lạm phát.
- Một trong những ảnh hưởng xấu của lạm phát là làm gia tăng tính ngẫu nhiêntrong phân phối lại thu nhập của cải trong dân chúng Do đó, khi lạm phát diễn ra trongmột thời gian dài, dân chúng sẽ sử dụng vàng để làm hàng rào che chắn lạm phát và tránhviệc bị điều tiết thu nhập, của cải dưới dạng bằng tiền Theo đó, số cầu về vàng sẽ phátsinh ở mỗi người và sẽ thường xuyên đẩy số cầu vàng tăng cao, làm cho giá vàng tăngthêm
- Ở một góc độ khác, không phải lúc nào chỉ số gia tăng giá vàng cũng phản ánhmức tăng chỉ số lạm phát nhất là khi có yếu tố đầu cơ can dự vào Yếu tố này sẽ đẩy giávàng đột biến tăng cao và đôi khi hiện tượng này xảy ra trước mang tính báo động sẽ cólạm phát gia tăng đột biến Nhưng cũng có lúc nó chẳng phải là dấu hiệu của một cơn sốtgiá cả các hàng hóa khác mà chỉ đơn thuần là vì người đầu cơ muốn tìm thu nhập cao hơnqua dịch vụ cung cấp “hàng rào vàng”
Chính sách của Nhà nước đối với vàngBên cạnh những chủ trương chính sách của Nhà nước về kinh tế, chính trị có thểảnh hưởng gián tiếp đến giá vàng, những sự thay đổi trong chủ trương của nhà nước vềquyền cất giữ vàng, kinh doanh vàng và các chính sách thuế khóa đối với vàng… cũng làcác nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến giá vàng
Có thể thấy ở phần lớn các nước, Nhà nước luôn tìm cách ngăn chặn người dânmua bán và cất trữ vàng nhằm chuyển vàng vào công quỹ Đến nay, tất cả các biện phápthả lỏng hay thắt chặt đối với vàng đều đã được các nước áp dụng, từ những quy định chỉ
ở mức độ kiểm soát việc kinh doanh vàng khi xuất – nhập vào lãnh thổ cho đến biện phápgắt gao như cấm tư nhân cất giữ vàng dưới bất kì dạng nào khác ngoài nữ trang, đồ mỹnghệ và Nhà nước nắm giữ độc quyền ngoại thương về vàng Và vì vậy đã dẫn đến hậuTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23quả mức cung không đủ cho mức cầu về vàng của tư nhân, mức chênh lệch giữa giá vàngnội địa và giá vàng thế giới đã tạo điều kiện cho các hoạt động buôn lậu phát triển.
Hiện nay, những biện pháp cứng rắn đó mặc dù ko còn được áp dụng nhưng nhànước luôn quản lý việc kinh doanh vàng theo những mức độ phù hợp với điều kiện kinh tế
và quan điểm chính trị Phần lớn các nước cho phép tư nhân tự do cất trữ và kinh doanhvàng, nhưng tuyệt đối không được xuất nhập khẩu vàng Bên cạnh đó nhà nước cũng tăngcường các biện pháp để kiểm soát hối đoái Có thể thấy chỉ cần một sự thay đổi trong cácbiện pháp cụ thể nêu trên cũng có thể ảnh hưởng kéo theo sự thay đổi giá vàng trongnước
Khi vàng đã trở thành một loại hàng hóa thì điểu tất yếu là việc kinh doanh vàngcũng phải chịu thuế kinh doanh như những loại hàng hóa khác Ở các nước khác nhau sẽ
áp dụng những mức thuế trên các giao dịch về vàng khác nhau tùy thuộc vào quy định củanhà nước Có những nước đánh một mức thuế rất cao như Ý (thuế suất 35%), Tây BanNha (thuế suất 30%) Nhưng cũng có những nước không đánh thuế trên các giao dịch vềvàng như Luxembourg, vì vậy nên họ đã mặc nhiên được hưởng một khoản lãi đáng kểkhi kinh doanh vàng Tất nhiên, những khoản thuế có liên quan đến hoạt động kinh doanhvàng rồi cũng được đưa vào giá bán các sản phẩm của vàng Vì vậy, việc áp dụng chínhsách thuế đánh trên vàng sẽ gây ảnh hưởng đến giá vàng
Khi giá bán có tính thuế thì giá vàng trong nước sẽ tăng, lúc này nếu như thu nhậpcủa công chúng vẫn không tăng theo thì sẽ dẫn đến mức cầu về vàng có thể giảm Lúc đó,nhu cầu về nữ trang làm từ nguyên liệu vàng sẽ bị giảm xuống, thay vào đó là các loại nữtrang khác vừa rẻ, vừa có mẫu mã đa dạng phong phú Mặt khác, dó các nhà đầu cơchuyển dịch vốn sang các thị trường khác như thị trường chứng khoan, thì trường hội đoáinên số cầu về vàng dự trữ cũng sẽ giảm đi Bởi lẽ, nếu áp dụng thuế suất 30% thì chênhlệch giữa giá bán và giá mua không thể dưới 30% giá bán, trong khi hiếm khi có biến bốgây tăng giảm giá vàng 30% trong ngắn hạn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24Tuy nhiên, khi giá vàng trong nước tăng cao so với vàng thế giới, các hoạt độngbuôn lậu đưa vàng vào thị trường nội địa sẽ xuất hiện, hình thành nên một thị trường phichính thức Các nhà đầu tư, đầu cơ vàng sẽ tiếp tục hoạt động vì họ là người ăn theo mứcthuế suất cao đánh trên vàng Điều này sẽ dẫn đến giá vàng biến động phức tạp, vì tồn tạinhiều mức giá khác nhau trên cũng một địa bàn, tạo điều kiện cho các hoạt động đầu cơđẩy giá vàng lên xuống bất ngờ.
1.3.2.5 Tình hình chính trị xã hộiKhông thể phủ nhận rằng thị trường vàng là thị trường ngày càng nhạy cảm với cácvấn đề về chính trị quan trọng trên thế giới Những biến động giá vàng lớn trên thế giớiphần lớn đều bị ảnh hưởng bởi những nguyên nhân như: Chính trị, chiến tranh, thiên tai,khủng bố…đây là những nguyên nhân gây ảnh hưởng gián tiếp đến giá vàng nhưng cũngkhiến giá vàng thay đổi tức thì
Thực tế đã cho thấy, vàng đều tăng giá mỗi khi có bất ổn chính trị như sự kiện11/9 ở Mỹ, cuộc chiến ở Afghanistanm ở Iraq, những hành động của Triều Tiên trong vấn
đề vũ khí hạt nhân
Ngoài ra những chính sách về kinh tế, chính trị của Chính phủ hay thiên tai tại một
số quốc gia có nền kinh tế lớn và quan trọng là yếu tố không nhỏ gây xáo trộn thị trườngvàng thế giới
Các thành viên chính phủ hay những người đứng đầu các ngân hàng trung ương,chính những người này có thể gây ảnh hưởng tới giá trị của một loại tiền tệ nào đó quanhững gì họ nói, những gì họ làm Các chức vụ quan trọng như: tổng thống, thủ tướng,thống đốc hay chủ tịch các ngân hàng… luôn có sự thay đổi theo nhiệm kỳ hay có lý dokhác Nhưng chúng luôn được quan tâm chặt chẽ từ các nhà đầu tư, dù ai ngồi vào các vịtrí đó thì những quyết sách của họ đều rất quan trọng và đều có những thay đổi, những tácđộng nhất định tới thị trường ngoại hối
Những nhân tố chính trị ( ví dụ điển hình)Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25Những nhân tố chính trị đôi khi có thể tác động và gây ra ảnh hưởng lớn đến biếnđộng tỷ giá Nó làm tỷ giá biến động khá nhanh và mạnh tùy theo từng trường hợp có thểkéo dài hay chấm dứt nhanh chóng.
- Việc Anh gia nhập EU
- Việc các nước Châu Âu không ký hiệp ước Châu Âu
- Việc bầu cử tổng thống Mỹ
- Việc ông Sarkozy thắng cử tổng thống Pháp
- Căng thẳng Trung Đông, Bắc Triều Tiên…
- Vấn đề định giá lại CNY
1.3.2.6 Thị trường chứng khoánTTCK và thị trường vàng là hai thị trường phổ biến có thể thay thế cho nhau vềmặt đầu tư Điều này có nghĩa là một nhà đầu tư có thể cho đầu tư vào chứng khoán,vàng, hoặc kết hợp với nhau trong danh mục đầu tư của mình Về lý thuyết, luồng vốn sẽdịch chuyển từ kênh có tỷ suất sinh lời thấp sang kênh đầu tư có tỷ suất sinh lời cao hơn
TTCK có mức rủi ro cao hơn thị trường vàng, vì khi DN phá sản, giá trị của sốchứng khoán nắm giữ có thể về không Đầu tư vào vàng, có thể lãi hoặc lỗ nhưng khôngbao giờ mất trắng vì vàng có giá trị nội tại của nó Một nhà đầu tư khôn ngoan có thểphân tán rủi ro bằng cách kết hợp đầu tư vào vàng và chứng khoán
Biến động của TTCK thường chịu ảnh hưởng chính từ các chỉ số kinh tế quantrọng từ Mỹ - Châu Âu và Châu Á được công bố mỗi ngày trên các trang tin tiếng Anhđáng tin cậy như Forexfactory, Fxstreet, …; từ báo cáo lợi nhuận của các công ty hoạtđộng trong nhiều ngành nghề từ công nghiệp, công nghệ cho tới dược phẩm, nông nghiệp,hóa chất,…; quan trọng hơn cả là từ báo cáo lợi nhuận từ các công ty hoạt động trong lĩnhvực tài chính – ngân hàng Ngoài ra, khối lượng giao dịch và giá cổ phiếu của hầu hết cáccông ty hoạt động trong các lĩnh vực nêu trên còn chịu ảnh hưởng mạnh từ các chính sáchkinh tế và các gói cứu trợ hay kích thích kinh tế của Chính phủ các nước
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26Điểm đáng chú ý là TTCK Mỹ luôn là thị trường quyết định cho biến động của cácTTCK khác gồm Châu Âu và Châu Á do khối lượng giao dịch lớn Theo đó, tầm ảnhhưởng của chứng khoán Mỹ lên giá vàng là quan trọng hơn cả so với các TTCK khác.Biến động giá của TTCK thường ngược chiều với biến động của giá vàng, tuy nhiênchứng khoán không phải là nhân tố thường xuyên ảnh hưởng lên giá vàng.
1.3.2.7 Yếu tố tâm lýTrước những bất ổn kinh tế, chính trị hay những biến động của giá dầu, giá USD,TTCK, thị trường bất động sản…tất yếu sẽ dẫn đến việc quyết định của các nhà đầu tư,đầu cơ, những người dân mua bán hay vẫn giữ vàng Giá vàng cao thì bán, thấp thì sẽmua Đây là quy luật tất yếu Nhưng không phải lúc nào giới đầu tư cũng sẽ cư xử nhưvậy Ví dụ như khi thị trường vàng khá trầm lắng, chỉ cần một tác động của một tổ chức
dự trữ hay tổ chức kinh doanh vàng mua một khối lượng lớn vàng, thì sẽ có những kẻ ăntheo sẽ mua vàng theo dây chuyền, đẩy giá vàng lên cao mặc dù không hề có yếu tố ngoạicảnh nào tác động
Ngoài ra, nhu cầu vàng cũng tăng cao trong những dịp lễ như lễ cưới, valentine…Đây cũng là một minh chứng cho yếu tố tâm lý tác động đến cầu vàng
1.4 Thị trường vàng
1.4.1 Khái niệm
Là nơi diễn ra hoạt động kinh doanh mua bán vàng
1.4.2 Đặc điểm chung của thị trường vàng
Thị trường vàng không nhất thiết phải tập trung ở một vị trí địa lý xác định mà labất cứ đâu diễn ra hoạt động mua bán vàng, do đó nó còn được gọi là “thị trường khônggian”
Thị trường vàng là thị trường toàn cầu, không ngủ Do sự chênh lệc về múi giờgiữa các khu vực nên thị trường diễn ra suốt ngày đêm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27Các nhóm thành viên thị trường duy trì quan hệ liên tục với nhau thông qua cácphương tiện điện tử: điện thoại, mạng vi tính, telex và fax Do thông tin được truyền đi rấtnhanh và hiệu quả nên tuy các thành viên tham gia ở rất xa nhau, nhưng vẫn có thể hoạtđộng rất hiệu quả.
Thị trường vàng nhạy cảm với các chính sách tiền tệ của quốc gia, các sự kiệnchính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý
1.4.3 Phân loại
1.4.3.1 Thị trường vàng giao ngayThị trường vàng giao ngay là thị trường mà ở đó việc mua và bán được thực hiệnngay hoặc chậm nhất là sau hai ngày kể từ thời điểm thỏa thuận Các nghiệp vụ này đượcthực hiện trên cơ sở giá vàng giao ngay, giá được xác định và có giá trị tại thời điểm giaodịch
1.4.3.2 Thị trường vàng kì hạnThị trường vàng kì hạn là thị trường mà ở đó việc mua bán vàng sẽ được thực hiệnsau một thời gian nhất định kể từ khi thỏa thuận Thị trường vàng kỳ hạn là nơi cung cấpphương tiện phòng chống rủi ro khi tỷ giá vàng biến đổi bất thường Hợp đồng mua bánvàng kỳ hạn được sử dụng để cố định giá mua hoặc bán vàng theo một mức giá cố định đãbiết trước mà không cần tính đến sự biến động của giá vàng trên thị trường
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28CHƯƠNG II PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN NHÂN TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG CỦA GIÁ VÀNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2013 2.1 Khái quát về tình hình nền kinh tế thế giới và Việt Nam giai đoạn 2008- 2013
2.1.1 Tình hình thế giới
Những ngày cuối tháng 8, đầu tháng 9/2008, cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất
kể từ sau Thế chiến thứ II bắt đầu lan rộng Từ sự suy thoái của thị trường nhà đất Mỹ,cuộc khủng hoảng lan sang thị trường tài chính và rồi tới kinh tế toàn cầu Để cứu vãn nềntình thế, ngân hàng trung ương các nước đã phải cắt giảm lãi suất, bơm tiền cho các công
ty hay mua lại nợ xấu Tuy nhiên, động thái đó cũng không thể ngăn cản Nhật, EU, Mỹ,Nga và nhiều quốc gia khác trên thế giới rơi vào suy thoái trong quý IV năm đó
Sau nhiều động thái, đến tận cuối năm 2009, khu vực đồng tiền chung châu Âutuyên bố EU, trừ Hy Lạp và Tây Ban Nha, đã thoát khỏi suy thoái Các nền kinh tế khácnhư Nhật Bản, Singapore, Hong Kong, Đức, Pháp cũng cho biết đã ra khỏi thời kỳ đen tốinhất Tuy nhiên, thay vào đó lại là hàng loạt những cuộc khủng hoảng mang tầm quốc giahoặc khu vực diễn ra trên khắp thế giới khi điểm yếu của mỗi nền kinh tế bộc lộ và bịkhoét sâu Vì vậy, cho dù đã qua khỏi giai đoạn tồi tệ nhất nhưng thế giới vẫn sẽ phải mất
ít nhất 10 năm để lấy lại đà phục hồi như giai đoạn trước khủng hoảng Nhận định nàykhông phải là quá bi quan nếu nhìn vào bức tranh kinh tế toàn cầu hiện nay
Mỹ: 5 năm sau khủng hoảng tài chính, nền kinh tế số một thế giới vẫn chưa hoàn
toàn hồi phục Để cứu vãn nền kinh tế, từ tháng 11/2008, FED đã phải liên tục tung ra cácgói kích thích: Chương trình mua lại trái phiếu hiện tại (QE3) đã được thực hiện để bơm
85 tỷ USD mỗi tháng vào nền kinh tế; Lãi suất cũng được duy trì ở mức kỷ lục gần 0%nhiều năm nay Đến thời gian gần đây, kinh tế Mỹ mới có một số dấu hiệu lạc quan Nướcnày đã tăng trưởng, cao hơn thời kỳ tiền khủng hoảng năm 2006, niềm tin DN và đầu tưdần được cải thiện, thị trường nhà hồi phục, chứng khoán cũng phát triển dần
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29Châu Âu: Trong khi đó, sau khi tuyên bố thoát khỏi suy thoái từ cuối năm 2009,
châu Âu lại gần như ngay lập tức rơi vào cuộc khủng hoảng nợ công Một phần nguyênnhân bắt nguồn từ cơn địa chấn tài chính 2008 Các quốc gia tăng cường tung kích thíchbằng các biện pháp tài khóa đã khiến thâm hụt ngân sách và nợ công tăng dần Khủnghoảng bắt đầu từ cuối năm 2009 tại Hy Lạp, sau đó lan ra toàn khu vực đồng Euro Nhữngdiễn biến này đã khiến đồng Euro mất giá trầm trọng, tỷ lệ thất nghiệp tại Hy Lạp hay TâyBan Nha thường xuyên trên 25%, GDP Hy Lạp thậm chí còn giảm tới 30% kể từ năm
2008 Lo ngại tình hình đó, các lãnh đạo EU đã phải nới lỏng biện pháp khắc khổ, vì vậy,hoạt động tại châu Âu đã có một số dấu hiệu khởi sắc Tốc độ suy thoái tại Italy và TâyBan Nha đã giảm trong quý II, các số liệu thương mại tại Đức cũng tăng mạnh
Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: Trái ngược với tình cảnh tại Mỹ và châu
Âu, trong những năm đầu của cuộc khủng hoảng, khu vực Đông Á – Thái Bình Dương lại
là điểm sáng khi đóng góp tới 40% tăng trưởng GDP thế giới Những nền kinh tế châu Á,như Nhật Bản, Singapore hay Hong Kong (Trung Quốc) cũng thoát khỏi suy thoái tươngđối sớm, hầu hết vào nửa cuối năm 2009 Thậm chí, một số quốc gia trong nhóm nền kinh
tế mới nổi (BRICS), như Ấn Độ hay Trung Quốc chỉ bị giảm nhẹ tăng trưởng GDP tronghai năm 2008 và 2009, nhưng vẫn ở mức cao so với toàn cầu
_ Dù vậy, kinh tế Nhật Bản sau đó lại liên tiếp gặp vấn đề Chưa giải quyết được
tình trạng giảm phát liên tiếp trong gần hai thập kỷ, đầu năm 2011, Nhật lại lao đao vìthảm họa kép động đất - sóng thần, gây thiệt hại hàng trăm tỷ USD Nợ công của nướcnày cao nhất thế giới với 231% GDP, và kinh tế còn tăng trưởng âm quý III năm ngoái.Tình hình tại đất nước mặt trời mọc chỉ có dấu hiệu khởi sắc từ cuối năm 2012
_ Trong khi đó, kinh tế Trung Quốc lại có nhiều dấu hiệu chững lại sau ba thập kỷ
tăng trưởng cao Để ngăn tác động của khủng hoảng tài chính, tháng 11/2008, nước này
đã chi gần 600 tỷ USD để kích thích kinh tế, từ đầu tư cơ sở hạ tầng đến an sinh xã hội.Trong 2 năm 2009 và 2010, Trung Quốc đã dần leo lên vị trí nền kinh tế số 2 thế giới
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30Nhưng sau khủng hoảng, để không bị suy giảm, nước này vẫn liên tục tung kíchthích dưới dạng các khoản cho vay khổng lồ Hệ quả là tỷ lệ cấp tín dụng trên GDP tăng
từ 120% lên gần 200% trong 5 năm qua Nhu cầu nội địa yếu, thị trường Âu - Mỹ chưahồi phục đã khiến cả tăng trưởng GDP, lạm phát, sản xuất và xuất khẩu của Trung Quốcliên tục giảm sút Nền kinh tế Trung Quốc có nhiều dấu hiệu rơi vào "thập kỷ mất mát"như Nhật Bản thập niên 90, với các biểu hiện như tăng trưởng chậm, giảm phát và nợ xấu
2.1.2 Tình hình Việt Nam
2.1.2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP
Từ khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra năm 2008, Việt Nam chìm trong vòngxoáy tăng trưởng chậm khi các thị trường xuất khẩu lớn bị ảnh hưởng, sức mua trongnước giảm Cả giai đoạn này, tăng GDP luôn thấp hơn 7% và ngày càng đi xuống, đếnnăm 2012 chỉ còn 5,03%, chưa bằng hai phần ba so với mức trước khi khủng hoảng
Chính phủ đã tung ra gói kích cầu một tỷ USD vào năm 2009 nhưng do những yếu kémnội tại, nền kinh tế chưa thể khôi phục Năm 2013 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm(2011 - 2015) nhưng tăng trưởng GDP có thể chỉ đạt 5,2 - 5,3%, điều này sẽ dồn gánhnặng cho những năm tới nhằm đạt mục tiêu 7 - 7,5%
Nguồn: Tổng cụ thống kê
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trường GDP ở Việt Nam giai đoạn 2007-2013
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 312.1.2.2 Tình hình sản xuất công nghiệpTrong 5 năm trở lại đây, lĩnh vực công nghiệp có sự suy yếu dần do ảnh hưởng củakinh tế toàn cầu, sức mua trong nước và nhu cầu xuất khẩu giảm Đến năm 2012, tăngtrưởng nhóm ngành công nghiệp ở mức báo động khi chỉ số sản xuất công nghiệp tăngdưới 5% Từ đó, Chính phủ đã phải đưa ra nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩytăng trưởng như hạ lãi suất, tạo điều kiện giảm hàng tồn kho cho DN Với hành độngnày, sản xuất công nghiệp của Việt Nam 8 tháng đầu năm 2013 đã nhích lên, song vẫncòn ở mức rất thấp.
Nguồn: Tổng cục thống kê
Biểu đồ 2.2: Chỉ số sản xuất công nghiệp ở Việt Nam
2.1.2.3 Sức mua suy yếu, tiêu thụ hàng hóa khó khănTrước khủng hoảng kinh tế, tổng mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tăng tới 31%,song khi thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, tăng trưởng kinh tế giảm, đời sống người dânkhó khăn, tốc độ tăng của chỉ tiêu này liên tục giảm từ năm 2010 đến nay, phản ánh sứccầu ngày càng đi xuống Tại một báo cáo khảo sát DN gần đây, phòng Thương mại vàCông nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng chỉ ra khó khăn lớn nhất của DN lúc này không còn
là lãi suất mà chính là thị trường tiêu thụ
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32Biều đồ 2.3: Tổng mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ
2.1.2.4 Số doanh nghiệp 'khai sinh' ngày càng giảm
Từ năm 2010, số lượng DN thành lập mới lần đầu tiên có xu hướng giảm xuống kể
từ khi Luật DN có hiệu lực Bên cạnh đó, số DN rời thị trường cũng chiếm tỷ trọng đáng
kể Điều này cho thấy khó khăn của DN vẫn còn đấy như sự suy giảm của thị trườngtrong nước, niềm tin giảm xuống do sức mua của nền kinh tế xuống rất thấp
Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh
Biều đồ 2.4: Số DN đăng ký thành lập mới ở Việt Nam
2.1.2.5 Thu hút vốn nước ngoài khó khănKhả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong những năm kinh tếthế giới biến động đã giảm sút rất rõ rệt Từ mức gần 72 tỷ USD năm 2008, đến nay trungTrường Đại học Kinh tế Huế