PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kể từ khi công cuộc Đổi mới ở Việt Nam được khởi xướng tại Việt Nam, di dân với số lượng lớn đã trở thành một thách thức trọng tâm cho các nhà hoạch định chính sách trong nỗ lực vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vừa ổn định xã hội. Công cuộc đổi mới đã giảm thiểu đáng kể vai trò kiểm soát của Nhà nước đối với nền kinh tế và khuyến khích sự phát triển của kinh tế thị trường. Chính điều này cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy sự di cư nội địa và di cư quốc tế. Di cư giữa các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam, ngày càng thu hút nhiều người di cư là phụ nữ, đặc biệt nếu chúng ta tính đến những người đi xuất khẩu lao động và vợ của những người di cư. Cả hai nhóm người di cư từ Việt Nam đến các nước Châu Á đã trở thành tâm điểm của những thảo luận chính trị gay gắt trong và giữa các nước về an ninh quốc gia, chủ nghĩa dân tộc và buôn bán người, đưa ra những lối diễn đạt mới về vấn đề chính trị hóa của di cư. Và gần đây, dòng người di cư chuyển hướng tới các quốc gia đang trải qua thời kỳ quá độ về di cư như là Đài Loan và Hàn Quốc. Tuy nhiên còn một dòng di cư nữa âm thầm nhưng cũng mạnh mẽ không kém đó là di cư của những phụ nữ Việt Nam theo hình thức hôn nhân với người nước ngoài. Theo Báo cáo Di cư năm 2005 của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), sự gia tăng mạnh mẽ của di cư trong phạm vi Châu Á là một trong những thay đổi quan trọng từ đầu thập kỷ 90 (IOM, 2005). Mặc dù có những dòng di cư lớn từ Châu Á ra khỏi lục địa này, đến Canada và Úc chẳng hạn, dòng di cư trong pham vi Châu Á thực sự vẫn lớn hơn nhiều. Dưới tác động của xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong những năm gần đây, hiện tượng người Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ kết hôn với người nước ngoài đã tăng lên nhanh chóng. Hôn nhân quốc tế trong bối cảnh giao lưu văn hóa, toàn cầu hóa là một khuynh hướng tự nhiên và nếu được quản lý tốt có thể góp phần tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc. Tính đến hết năm 2012 đã có trên 294. 280 trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hoặc với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc trên 50 quốc gia và các vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó có 80% là phụ nữ (Bộ Tư pháp, 2013). Một hiện tượng nữa xuất hiện và thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội đó là hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài, cụ thể là Hàn Quốc và Đài Loan. Theo báo cáo của Chương trình phòng, chống buôn bán người của các tổ chức Liên hiệp quốc (UNIAP) cho rằng Việt Nam là quốc gia có số lượng cô dâu lấy chồng nước ngoài khá cao trong khu vực Châu Á. Tính đến năm 2012 có tới gần 300.000 cô dâu lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Malaixia, Nhật Bản v.v. (Bộ Công An, 2013). Tại Hàn Quốc, trong vòng 5 năm (tính từ năm 2005 đến 2010) có tới 36.000 cô dâu kết hôn với đàn ông Hàn Quốc trong đó cô dâu Việt Nam chiếm số lượng 35% (UNIAP, 2012). Với Đài Loan, nếu như năm 1994, chỉ có 530 visa dưới hình thức kết hôn được cấp cho phụ nữ Việt Nam thì tới năm 2002 con số này là 55.906 phụ nữ Việt tiếp tục sang Đài Loan lấy chồng và đến năm 2010 con số ước tính số phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan tăng tới trên 120.000 người. (Bộ Tư Pháp, 2004 và 2011). Đa số phụ nữ kết hôn chủ yếu tập trung các tỉnh miền Tây Nam Bộ mà nổi bật là Thốt Nốt, Cần Thơ (chiếm 79%), ngoài miền Bắc cũng chỉ tập trung một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng và tập trung nhiều ở một số xã thuộc Huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (UNIAP, 2012). Trong số các phụ nữ kết hôn với người nước ngoài, nhiều người đã có cuộc sống khá ổn định, nhanh chóng hội nhập vào xã hội mới. Tuy nhiên, cũng đã xuất hiện những hiện tượng không bình thường trong quan hệ hôn nhân quốc tế, thậm chí trở thành dịch vụ kinh doanh, quan hệ trao đổi, mua bán. Không ít cô gái Việt trở thành nạn nhân của nạn buôn người và nhiều tệ nạn xã hội khác. Tại Việt Nam, quảng cáo tìm vợ Việt của các ông chồng Hàn Quốc và Đài Loan được đăng tải rộng rãi trên các tờ báo địa phương và mạng internet. Nhiều buổi xem mặt hay tuyển chọn vợ của đàn ông ngoại quốc giống như xem một món hàng gây bức xúc trong dư luận (Nguyễn Ngọc Anh, 2013). Ngày nay, thực trạng di cư của phụ nữ thuộc các tầng lớp nghèo của Việt Nam đến các nước châu Á, nơi chứng kiến xu hướng nữ hóa dòng di cư trong những thập kỷ trước cho thấy sự di cư này làm nảy sinh câu hỏi quan trọng và cấp thiết về quyền con người và quyền công dân của những người di cư, đặc biệt là của phụ nữ nghèo, những người rất dễ gặp phải rủi ro trong quá trình di cư. (IOM 2005). Đặc biệt, các số liệu thống kê cho thấy việc phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan đã trở thành một hiện tượng di cư theo hình thức kết hôn tại Việt Nam trong những năm gần đây. Nhiều nghiên cứu, cũng như các phương tiện truyền thông cũng cho rằng xu hướng kết hôn với người nước ngoài thường bắt nguồn từ mục tiêu kinh tế, kết hôn theo phong trào và kết hôn do bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của các đối tượng môi giới bất hợp pháp (Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, 2012). Có thể nói lấy chồng nước ngoài (cụ thể là Hàn Quốc, Đài Loan) đã và đang trở thành một hiện tượng xã hội cần phải xem xét và nghiên cứu một cách nghiêm túc. Như vậy, các câu hỏi về thực tế cuộc sống của phụ nữ Việt Nam khi lấy chồng nước ngoài họ gặp phải những vấn đề gì? Các yếu tố nào tác động hay ảnh hưởng tới hiện tượng này như vậy? Những hệ lụy cũng như các giải pháp trước mắt hay lâu dài của các vấn đề kết hôn với người nước ngoài là gì…? Để trả lời các câu hỏi này, cần có một cuộc nghiên cứu về chính cuộc sống của phụ nữ Việt Nam tại nơi họ kết hôn là một việc cần thiết để đưa ra các bằng chứng có thật và những cơ hội và những thức mà các cô dâu Việt gặp phải khi lấy chồng nước ngoài. Từ những vấn đề đặt ra ở trên, tôi thực sự muốn tìm hiểu về cuộc sống của phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài tại chính quốc gia mà họ lựa chọn. Việc nghiên cứu tại nước ngoài là một điều khó khăn và tốn kém đối với các nghiên cứu sinh tại Việt Nam. Trong dự án phối hợp giữa Viện Nghiên Cứu Phát triển Xã hội và trường Đại học Western Ontario (Canada) với sự tài trợ của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế của Canada, tôi được tham gia vơi tư cách là nghiên cứu viên. Được sự đồng ý của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội và trường Đại học Western Ontario tôi đã được sử dụng toàn bộ số liệu cho luận án của mình. Đây là một trong những nghiên cứu hiếm hoi tại Việt Nam khi thực hiện nghiên cứu về cô dâu Việt Nam tại chính Hàn Quốc và Đài Loan. Trong phạm vi của luận án, tôi muốn tìm hiểu về thực trạng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngòai, cụ thể là tại Đài Loan và Hàn Quốc như một quá trình và những trải nghiệm trong bối cảnh tòan cầu hóa. Cụ thể là nghiên cứu về “Phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài, Cơ hội và thách thức” được tiến hành tại Hàn Quốc, Đài Loan và một số địa bàn của Việt Nam.
Trang 1LA
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ THANH NHÀN
PHỤ NỮ VIỆT NAM LẤY CHỒNG NƯỚC NGOÀI:
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC (Nghiên cứu trường hợp tại Hàn Quốc và Đài Loan)
CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 62 31 30 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN HỮU MINH
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để luận án “Phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài: cơ hội và thách thức” đạt được kết quả theo yêu cầu đề ra tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Khoa học Xã hội, Phòng Quản lý đào tạo, Khoa Xã hội học và những người thầy đáng kính đã tạo những điều kiện tốt nhất cũng như truyền đạt kiến thức và đóng góp ý kiến quí báu cho quá trình học tập thực hiện kế hoạch đào tạo của nghiên cứu sinh
Xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo và các đồng nghiệp của tôi tại Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, GS.TS Daniel Belanger của trường Đại học Western Ontario, Canada đã ủng hộ và tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ cho tôi trong quá trình thu thập số liệu và cho phép sử dụng số liệu để thực hiện luận án
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Thăng Long, Bộ môn Công tác Xã hội, đơn vị công tác hiện tại của tôi đã tạo điều kiện thuận lợi nhất và sự động viên khích lệ của thầy cô và đồng nghiệp đối với tôi trong quá trình nghiên cứu
Xin đặc biệt trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hữu Minh – người đã hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình làm Luận án với tình cảm, tinh thần trách nhiệm của một nhà khoa học
Cuối cùng, xin cảm ơn sâu sắc đến những người thân yêu trong gia đình, sự động viên và cả sự hy sinh của họ là nguồn động lực to lớn để tôi có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu này
Nghiên cứu sinh
Vũ Thị Thanh Nhàn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ xã hội học với đề tài “Phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài: cơ hội và thách thức” (nghiên cứu trường hợp tại Đài Loan và Hàn Quốc) là công trình nghiên cứu mà tôi đã dành nhiều thời gian cũng như nỗ lực với tinh thần khách quan và trung thực
Nghiên cứu sinh
Vũ Thị Thanh Nhàn
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC BẢNG 8
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 9
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 8
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 16
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 16
7 Cơ cấu của luận án 17
PHẦN NỘI DUNG 18
Chương I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 18
I Tổng quan tình hình nghiên cứu 18
1 Tình hình chung về hiện trạng di cư thông qua kết hôn xuyên biên giới 18
2 Phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài: những cơ hội 22
3 Những thách thức của phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc và Đài Loan 33
II Cơ sở lý luận của luận án 44
1 Một số khái niệm được sử dụng trong luận án 44
2 Khung phân tích 47
3 Một số lý thuyết được sử dụng trong luận án 47
III Tiểu kết Chương I 53
Chương II: ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU HỌC CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐẶC ĐIỂM CÁC CUỘC HÔN NHÂN CỦA CÔ DÂU VIỆT 56
Trang 51 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội tại địa bàn nghiên cứu 56
2 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 60
3 Đặc điểm các cuộc hôn nhân của các cô dâu Việt 68
4 Tiểu kết Chương II 87
Chương III: TRÁCH NHIỆM VÀ ÁP LỰC ĐÓNG GÓP KINH TẾ CHO NGƯỜI Ở LẠI CỦA CÔ DÂU VIỆT NAM LẤY CHỒNG ĐÀI LOAN VÀ HÀN QUỐC 90
1 Cô dâu Việt với nhiệm vụ lấy chồng để gửi tiền về quê 93
2 Sử dụng tiền gửi về quê nhà 96
3 Gửi tiền về quê nhà: áp lực hay sự tự nguyện? 105
4 Thái độ của gia đình gốc và phản ứng của gia đình chồng trong việc cô dâu gửi tiền về quê nhà 109
5 Tiểu kết Chương III 114
Chương IV: BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ CUỘC HÔN NHÂN THẤT BẠI – PHÂN TÍCH TRƯỜNG HỢP CÁC CÔ DÂU QUAY VỀ VIỆT NAM TẠI XÃ PHẢ LỄ, HUYỆN THỦY NGUYÊN, HẢI PHÒNG 116
1 Giấc mơ thiên đường từ những cuộc hôn nhân thông qua môi giới 120 2 Giúp đỡ cha mẹ ở quê nhà 124
3 Cuộc hôn nhân thất bại: Những giấc mơ không thành hiện thực 124
4 Hồi hương hay tiếp tục ra đi? Một kết cục mới cho những hành trình đã cũ? 128
5 Tiểu kết Chương IV 132
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 134
1 Kết luận 134
2 Khuyến nghị 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
Trang 6PHỤ LỤC 1 151
PHỤ LỤC 2 162
PHỤ LỤC 3 167
PHỤ LỤC 4 171
Trang 7UNFPA: Quỹ Dân số Liên hợp quốc
UNIAP: Dự án Liên minh các Tổ chức Liên Hợp Quốc về phòng chống
buôn bán người USD: Đơn vị tiền tệ của Hợp chủng quốc Hoa kỳ
UBND: Ủy ban nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Bảng tổng hợp đối tượng phỏng vấn tại Hàn Quốc và Đài Loan Bảng 2: Danh sách phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tại xã Phả Lễ
Bảng 3: Thông tin nhân khẩu học của xã nghiên cứu
Bảng 4: Số hộ gia đình trả lời bảng hỏi
Bảng 5: Thông tin nhân khẩu học về cô dâu được phỏng vấn
Bảng 6: Thông tin nhân khẩu học về các thành viên gia đình chồng cô dâu
tại Hàn Quốc và Đài Loan
Bảng 7: Tổng số hộ điều tra tại Thốt Nốt, Cần Thơ
Bảng 8: Các chỉ báo về điều kiện sống của hộ gia đình có con đi lấy chồng
nước ngoài và không có con đi lấy chồng nước ngoài
Bảng 9: Thông tin đối tượng phỏng vấn
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Độ tuổi của cô dâu
Biểu đồ 2: Trình độ học vấn của cô dâu
Biểu đồ 3: Nghề nghiệp cô dâu trước khi kết hôn
Biểu đồ 4: Nghề nghiệp cô dâu thời điểm lấy chồng nước ngoài
Biểu đồ 5: Quốc tịch của chú rể
Biểu đồ 6: Tuổi của chú rể
Biểu đồ 7: Nghề nghiệp của chú rể
Biểu đồ 8: Thời gian làm quen đến khi kết hôn
Biểu đồ 9: Hình thức giao tiếp khi bắt đầu kết hôn
Biểu đồ 10: Giao tiếp với chồng và gia đình chồng tại thời điểm hiện tại Biểu đồ 11: Số tiền cô dâu Việt gửi về trong 12 tháng qua (tính đến thời điểm
nghiên cứu) Biểu đồ12: Chi trả cho các cuộc hôn nhân
Biểu đồ 13: Sử dụng tiền gửi về quê nhà
Biểu đồ 14: Mức độ đóng góp kinh tế đối với quê nhà
Biểu đồ 15: Thái độ ủng hộ hôn nhân của các gia đình tại Việt Nam
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi công cuộc Đổi mới ở Việt Nam được khởi xướng tại Việt Nam, di dân với số lượng lớn đã trở thành một thách thức trọng tâm cho các nhà hoạch định chính sách trong nỗ lực vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vừa
ổn định xã hội Công cuộc đổi mới đã giảm thiểu đáng kể vai trò kiểm soát của Nhà nước đối với nền kinh tế và khuyến khích sự phát triển của kinh tế thị trường Chính điều này cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy sự di cư nội địa và di cư quốc tế
Di cư giữa các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam, ngày càng thu hút nhiều người di cư là phụ nữ, đặc biệt nếu chúng ta tính đến những người đi xuất khẩu lao động và vợ của những người di cư Cả hai nhóm người di cư từ Việt Nam đến các nước Châu Á đã trở thành tâm điểm của những thảo luận chính trị gay gắt trong và giữa các nước về an ninh quốc gia, chủ nghĩa dân tộc và buôn bán người, đưa ra những lối diễn đạt mới về vấn đề chính trị hóa của di cư Và gần đây, dòng người di cư chuyển hướng tới các quốc gia đang trải qua thời kỳ quá độ về di cư như là Đài Loan và Hàn Quốc Tuy nhiên còn một dòng di cư nữa âm thầm nhưng cũng mạnh mẽ không kém đó là di cư của những phụ nữ Việt Nam theo hình thức hôn nhân với người nước ngoài
Theo Báo cáo Di cư năm 2005 của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), sự gia tăng mạnh mẽ của di cư trong phạm vi Châu Á là một trong những thay đổi quan trọng từ đầu thập kỷ 90 (IOM, 2005) Mặc dù có những dòng di cư lớn từ Châu Á ra khỏi lục địa này, đến Canada và Úc chẳng hạn, dòng di cư trong pham vi Châu Á thực sự vẫn lớn hơn nhiều
Dưới tác động của xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh
mẽ, trong những năm gần đây, hiện tượng người Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ
Trang 11kết hôn với người nước ngoài đã tăng lên nhanh chóng Hôn nhân quốc tế trong bối cảnh giao lưu văn hóa, toàn cầu hóa là một khuynh hướng tự nhiên
và nếu được quản lý tốt có thể góp phần tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc
Tính đến hết năm 2012 đã có trên 294 280 trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hoặc với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc trên 50 quốc gia và các vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó
có 80% là phụ nữ (Bộ Tư pháp, 2013) Một hiện tượng nữa xuất hiện và thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội đó là hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài, cụ thể là Hàn Quốc và Đài Loan
Theo báo cáo của Chương trình phòng, chống buôn bán người của các
tổ chức Liên hiệp quốc (UNIAP) cho rằng Việt Nam là quốc gia có số lượng
cô dâu lấy chồng nước ngoài khá cao trong khu vực Châu Á Tính đến năm
2012 có tới gần 300.000 cô dâu lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Malaixia, Nhật Bản v.v (Bộ Công An, 2013) Tại Hàn Quốc, trong vòng 5 năm (tính từ năm 2005 đến 2010) có tới 36.000 cô dâu kết hôn với đàn ông Hàn Quốc trong đó cô dâu Việt Nam chiếm số lượng 35% (UNIAP, 2012) Với Đài Loan, nếu như năm 1994, chỉ có 530 visa dưới hình thức kết hôn được cấp cho phụ nữ Việt Nam thì tới năm 2002 con số này là 55.906 phụ nữ Việt tiếp tục sang Đài Loan lấy chồng và đến năm 2010 con số ước tính số phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan tăng tới trên 120.000 người (Bộ Tư Pháp, 2004 và 2011) Đa số phụ nữ kết hôn chủ yếu tập trung các tỉnh miền Tây Nam Bộ mà nổi bật là Thốt Nốt, Cần Thơ (chiếm 79%), ngoài miền Bắc cũng chỉ tập trung một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng và tập trung nhiều ở một số xã thuộc Huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (UNIAP, 2012)
Trong số các phụ nữ kết hôn với người nước ngoài, nhiều người đã có cuộc sống khá ổn định, nhanh chóng hội nhập vào xã hội mới Tuy nhiên,
Trang 12cũng đã xuất hiện những hiện tượng không bình thường trong quan hệ hôn nhân quốc tế, thậm chí trở thành dịch vụ kinh doanh, quan hệ trao đổi, mua bán Không ít cô gái Việt trở thành nạn nhân của nạn buôn người và nhiều tệ nạn xã hội khác Tại Việt Nam, quảng cáo tìm vợ Việt của các ông chồng Hàn Quốc và Đài Loan được đăng tải rộng rãi trên các tờ báo địa phương và mạng internet Nhiều buổi xem mặt hay tuyển chọn vợ của đàn ông ngoại quốc giống như xem một món hàng gây bức xúc trong dư luận (Nguyễn Ngọc Anh, 2013)
Ngày nay, thực trạng di cư của phụ nữ thuộc các tầng lớp nghèo của Việt Nam đến các nước châu Á, nơi chứng kiến xu hướng nữ hóa dòng di cư trong những thập kỷ trước cho thấy sự di cư này làm nảy sinh câu hỏi quan trọng và cấp thiết về quyền con người và quyền công dân của những người di
cư, đặc biệt là của phụ nữ nghèo, những người rất dễ gặp phải rủi ro trong quá trình di cư (IOM 2005)
Đặc biệt, các số liệu thống kê cho thấy việc phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan đã trở thành một hiện tượng di cư theo hình thức kết hôn tại Việt Nam trong những năm gần đây Nhiều nghiên cứu, cũng như các phương tiện truyền thông cũng cho rằng xu hướng kết hôn với người nước ngoài thường bắt nguồn từ mục tiêu kinh tế, kết hôn theo phong trào và kết hôn do bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của các đối tượng môi giới bất hợp pháp (Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, 2012) Có thể nói lấy chồng nước ngoài (cụ thể là Hàn Quốc, Đài Loan) đã và đang trở thành một hiện tượng xã hội cần phải xem xét và nghiên cứu một cách nghiêm túc Như vậy, các câu hỏi về thực tế cuộc sống của phụ nữ Việt Nam khi lấy chồng nước ngoài họ gặp phải những vấn đề gì? Các yếu tố nào tác động hay ảnh hưởng tới hiện tượng này như vậy? Những hệ lụy cũng như các giải pháp trước mắt hay lâu dài của các vấn đề kết hôn với người nước ngoài là gì…? Để trả lời
Trang 13các câu hỏi này, cần có một cuộc nghiên cứu về chính cuộc sống của phụ nữ Việt Nam tại nơi họ kết hôn là một việc cần thiết để đưa ra các bằng chứng có thật và những cơ hội và những thức mà các cô dâu Việt gặp phải khi lấy chồng nước ngoài
Từ những vấn đề đặt ra ở trên, tôi thực sự muốn tìm hiểu về cuộc sống của phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài tại chính quốc gia mà họ lựa chọn Việc nghiên cứu tại nước ngoài là một điều khó khăn và tốn kém đối với các nghiên cứu sinh tại Việt Nam Trong dự án phối hợp giữa Viện Nghiên Cứu Phát triển Xã hội và trường Đại học Western Ontario (Canada) với sự tài trợ của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế của Canada, tôi được tham gia vơi tư cách là nghiên cứu viên Được sự đồng ý của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội và trường Đại học Western Ontario tôi đã được
sử dụng toàn bộ số liệu cho luận án của mình Đây là một trong những nghiên cứu hiếm hoi tại Việt Nam khi thực hiện nghiên cứu về cô dâu Việt Nam tại chính Hàn Quốc và Đài Loan
Trong phạm vi của luận án, tôi muốn tìm hiểu về thực trạng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngòai, cụ thể là tại Đài Loan và Hàn Quốc như một quá trình và những trải nghiệm trong bối cảnh tòan cầu hóa Cụ thể
là nghiên cứu về “Phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài, Cơ hội và thách thức” được tiến hành tại Hàn Quốc, Đài Loan và một số địa bàn của Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu “Phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài, Cơ hội và thách thức” tiến hành điều tra thực địa đối với cô dâu Việt lấy chồng nước ngoài tại Đài Loan và Hàn Quốc, cô dâu Việt thất bại trở về tại Thủy Nguyên, Hải Phòng, số hộ gia đình có con và không có con lấy chồng nước ngoài tại
Trang 14huyện Thốt Nốt, Cần Thơ, thành viên gia đình các cô dâu Việt Nam nhằm đạt mục đích sau:
sẽ được so sánh với những trải nghiệm thực tế của những cô dâu Việt tại hai
nước Hàn Quốc và Đài Loan
Xem xét sự tác động của việc lấy chồng nước ngoài đến đời sống kinh tế và xã hội của cộng đồng nơi đi Di cư của phụ nữ trẻ qua con đường
hôn nhân sang Đài Loan và Hàn Quốc cũng dẫn đến những thay đổi về cấu trúc tuổi và giới của dân số, dù ở cấp độ địa phương, và có thể gây những khó khăn cho việc kết hôn của những người đàn ông trẻ tuổi Đặc biệt, trong bối cảnh của cấu trúc dân số Việt Nam trong những năm gần đây (tỉ lệ sinh tự nhiên cho thấy số trẻ trai cao hơn số trẻ gái một cách bất thường, UNFPA, 2009) thì việc phụ nữ Việt Nam di cư theo hình thức kết hôn liệu có là thách thức đối với đàn ông Việt Nam ở quê nhà Ngoài ra, luận án cũng muốn tìm hiểu phản ứng của gia đình, cộng đồng đối với những cuộc hôn nhân lỡ dở
của phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc và Đài Loan
Tìm hiểu những cơ hội và thách thức của những phụ nữ Việt Nam
di cư sang Hàn Quốc, Đài Loan thông qua con đường kết hôn Cũng với
xu hướng kết hôn với người nước ngoài tăng mạnh thì sự đưa tin của truyền thông trước những bi kịch kết hôn của cô gái Việt Nam khi lấy chồng nước
Trang 15ngoài tạo nên một dư luận không tốt đối với việc di cư thông qua kết hôn của những phụ nữ Trong nghiên cứu này chúng tôi muốn tìm hiểu những cơ hội
và thách thức mà các cô dâu Việt sẽ gặp phải trong hành trình kiếm tìm hạnh phúc của họ tại chính nơi họ lấy chồng là Hàn Quốc và Đài Loan
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để đạt được các mục đích nghiên cứu đề ra và thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, luận án cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Những yếu tố ảnh hưởng tới quyết định lấy chồng Hàn Quốc và Đài Loan của cô dâu Việt Nam? Việc lấy chồng Hàn Quốc và Đài Loan đã đem lại cho cô dâu và gia đình họ những cơ hội nào trong cuộc sống?
- Quyền tự quyết và quá trình thương thuyết đối với chồng và các thành viên gia đình chồng của cô dâu Việt Nam thể hiện như thế nào trong từng giai đoạn sống tại nơi ở mới? Các cô dâu Việt đã gặp phải những thách thức gì trong quá trình hòa nhập với cuộc sống quê chồng?
- Những đóng góp tài chính của phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc
và Đài Loan đem lại những hệ quả gì cho người ở lại? Những áp lực nào dẫn đến việc phụ nữ Việt Nam phải có trách nhiệm gửi tiền về quê nhà?
- Những nguyên nhân nào dẫn đến việc cô dâu Việt lấy chồng Đài Loan
và Hàn Quốc hồi hương? Liệu những bài học kinh nghiệm mà các cô dâu đã trải nghiệm có giúp gì cho họ trong những định hướng phía trước?
2.3 Giả thuyết nghiên cứu
Một trong những những nhiệm vụ quan trọng của luận án là đưa ra được những bằng chứng khoa học để xem xét các giả thuyết nghiên cứu sau Trong phạm vi của luận án này tôi xin được đưa ra các giả thuyết sau dựa trên các câu hỏi nghiên cứu
Trang 16Giả thuyết 1:
Các yếu tố về kinh tế có ảnh hưởng quan trọng tới quyết định kết hôn của phụ nữ Việt Nam tại Hàn Quốc và Đài Loan
Giả thuyết 2:
Những yếu tố quan trọng thúc đẩy và hỗ trợ sự hòa nhập cuộc sống của
cô dâu Việt khi lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan xuất phát từ nỗ lực của chính
cô dâu thông qua những trải nghiệm khi kết hôn
Giả thuyết 3:
Những áp lực về kinh tế cũng như những khoản nợ của gia đình gốc thúc đẩy các cô dâu tại Hàn Quốc và Đài Loan chấp nhận nhiều rủi ro để nỗ lực kiếm tiền gửi về quê nhà
Giả thuyết 4:
Mong ước về một cuộc hôn nhân thành công là lý do chính để các cô dâu Việt hồi hương tiếp tục ra đi tìm kiếm các cơ hội hôn nhân mới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án nhằm tìm hiểu những cơ hội và thách thức của cô dâu Việt Nam khi lấy chồng Đài Loan và Hàn Quốc
3.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể chính của nghiên cứu này là các cô dâu Việt Nam lấy chồng tại Hàn Quốc và Đài Loan cùng một số cô dâu Việt Nam đã trở về sinh sống tại Thủy Nguyên, Hải Phòng
Ngoài ra khách thể nghiên cứu khác được bổ sung trong luận án này bao gồm các đối tượng liên quan như: Gia đình cô dâu tại Việt Nam (bố mẹ
và anh chị em ruột; Gia đình chồng của cô dâu Việt (cha mẹ chồng và chồng); Cán bộ Trung tâm hỗ trợ cho câu dâu Việt tại Hàn Quốc và Đài Loan
Trang 173.3 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung của luận án tập trung chủ yếu vào việc phản ánh những yếu tố ảnh hưởng tới cơ hội và những thách thức của cô dâu Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc và Đài Loan
3.4 Thời gian tiến hành nghiên cứu
Toàn bộ số liệu của đề tài nghiên cứu được sử dụng từ nghiên cứu trong khuôn khổ dự án hợp tác với trường Đại học Westen Ontario (Canada)
và Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (Thuộc Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam) do Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (IDRC) tài trợ Toàn bộ số liệu của cuộc nghiên cứu được sự đồng ý cho phép sử dụng của Trường Đại học Westen Ontario (Canada) và Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội Hầu hết các số liệu phỏng vấn đều chưa công bố Thời gian tiến hành nghiên cứu tại thực địa từ tháng 2/2009 – 2/2012
3.5 Địa bàn nghiên cứu
Tài Đài Loan: Nghiên cứu được thực hiện tại Thành phố Đài Bắc, Đài Trung của Đài Loan
Tại Hàn Quốc: Tỉnh Chung Nam và thành phố Seoul, Hàn Quốc
Tại Việt Nam: xã Phả Lễ, huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng xã Trung Nhất, xã Thới Thuận, xã Tấn Lộc, quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Bất cứ một luận án thuộc lĩnh vực khoa học xã hội cũng phải sử dụng
hệ thống các quan điểm chỉ đạo công tác nghiên cứu khoa học theo định hướng chung Thường thì nguồn gốc của phương pháp này mang màu sắc triết học và là kim bao gồm các quan điểm
Quan điểm duy vật biện chứng: Với 2 nguyên lý (Mối liên hệ phổ biến
và về sự phát triển); 3 quy luật (Đấu tranh thống nhất giữa các mặt đối
Trang 18lập, Phủ định của phủ định, Lượng đổi chất đổi); 6 cặp phạm trù (Bản chất – Hiện tượng , Cái chung – Cái riêng, Tất nhiên – Ngẫu nhiên, Nội dung – Hình thức, Khả năng – Hiện thực, Nguyên nhân – Kết quả)
Quan điểm thực tiễn: tính ứng dụng của vấn đề nghiên cứu
Quan điểm hệ thống : Xem xét sự vật trong chỉnh thể
Quan điểm lịch sử: Xem xét sự vật trong những hoàn cảnh cụ thể
Trên cơ sở phương pháp luận này sẽ tiến hành các phương pháp nghiên cứu theo từng chuyên ngành đặc thù Trong phạm vi luận án này tôi sẽ tập trung sử dụng các phương pháp mà chuyên ngành xã hội học sử dụng
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Số liệu được sử dụng để phân tích trong luận án này được sử dụng từ số
liệu từ dự án: Di cư quốc tế của phụ nữ Việt Nam đến các nước Châu Á: Trải nghiệm, Quyền con người và Quyền công dân được thực hiện bởi
Trường Đại học Western Ontario (Canada) và Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (Việt Nam) do Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (IDRC) tài trợ Nghiên cứu sinh đóng vai trò là nghiên cứu viên trong dự án tham gia thực hiện thu thập số liệu tại Đài Loan và Việt Nam Những phỏng vấn thực hiện tại Hàn Quốc do các đồng nghiệp của NCS tại Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội thực hiện Toàn bộ phỏng vấn sâu tại Hàn Quốc và Đài Loan sẽ được sử dụng để phân tích chính cho luận án này và sử dụng một số thông tin phỏng vấn tại Hải Phòng để phân tích Ngoài ra luận án cũng sử dụng một số phân tích cơ bản trong bộ số liệu điều tra định lượng tại Thốt Nốt Cần Thơ để làm bằng chứng cho những phân tích của luận án Việc sử sụng số liệu đã được
sự đồng ý của ISDS
4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp thu thập thông tin đóng vai trò quan trọng đối với chất lượng và độ tin cậy của nghiên cứu thực nghiệm Để trả lời những vấn đề mà
Trang 19luận án đề ra, cuộc nghiên cứu đã sử dụng nhiều phương pháp thu thập thông tin khác nhau
Luận án thu thập và phân tích những tài liệu chuyên ngành có sẵn để hệ thống hóa cơ sở phương pháp luận, cách tiếp cận, phương pháp phân tích nhằm hướng dẫn cho việc thiết kế nghiên cứu thực nghiệm, đặc biệt thiết kế các công cụ nghiên cứu Nghiên cứu sẽ bao gồm việc phân tích các số liệu hiện có và thu thập số liệu Đồng thời cũng sẽ sử dụng các tài liệu, số liệu thống kê và các nghiên cứu định tính Nghiên cứu được tiến hành tại Việt Nam và hai địa bàn tiếp nhận người nhập cư Việt Nam (Đài Loan và Hàn Quốc) Cụ thể, nghiên cứu sẽ sử dụng các phương pháp sau:
4.2.1.1 Phân tích tài liệu thứ cấp và tổng quan tài liệu
Để chuẩn bị cho các nghiên cứu trường hợp tại Đài Loan và Hàn Quốc, nghiên cứu sẽ thu thập các thông tin về di cư giữa các quôc gia và các hoạt động trao đổi giữa các nước Di cư để lao động và để kết hôn của phụ nữ Việt Nam sang Đài Loan và Hàn Quốc đã tăng liên tục từ những năm 1990 Các dòng di cư như vậy sẽ được ghi nhận thông qua các số liệu thống kê và các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình di cư sẽ được thảo luận trong khuôn khổ nghiên cứu này Việc tổng quan các số liệu và báo cáo sẵn có sẽ giúp xây dựng nền tảng cho việc thu thập số liệu mới Trong phần này tôi đã thu thập
và tổng hợp, phân tích các tài liệu đã được công bố, các nguồn tài liệu sẵn có (báo cáo nghiên cứu, tài liệu thống kê, báo chí Việt Nam và quốc tế v.v.) để thực hiện phần tổng quan tài liệu cho luận án
4.2.1.2 Phương pháp định tính
Đối với nghiên cứu về cô dâu Việt Nam lấy chồng nước ngoài hiện nay cũng đang là vấn đề nhạy cảm Các chủ đề và mục tiêu nghiên cứu đều liên quan đến tìm hiểu và phân tích cũng như lý giải những câu hỏi mà nghiên cứu
Trang 20đề ra vì vậy phương pháp phù hợp đối với nghiên cứu này là phương pháp định tính với kỹ thuật chủ yếu là phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, cụ thể: Tại Hàn Quốc và Đài Loan
• Phỏng vấn những cô dâu hiện nay đang sống ở nước ngoài: 19 cô đang sống ở Đài Loan và 21 cô sống tại Hàn Quốc
• Phỏng vấn sâu 12 người là chồng của cô dâu tại Hàn Quốc và Đài Loan
• Phỏng vấn sâu 10 cha mẹ chồng của cô dâu tại Hàn Quốc và Đài Loan
Bảng 1: Bảng tổng hợp đối tượng phỏng vấn tại Hàn Quốc và Đài Loan
2 cô dâu đã rời khỏi nhà chồng hiện
đang sống tự do tại Đài Loan
Đối tượng khác: Trung tâm hỗ trợ cô
dâu Việt
Tại Việt Nam
Nghiên cứu tại xã Phả Lễ, huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng (là xã có nhiều cô dâu đi lấy chồng nước ngoài và cả các cô dâu thất bại trở về)
• Phỏng vấn sâu cũng được tiến hành với những cô dâu quay lại Việt Nam trong đó có 10 người là quay lại lâu dài và 10 người quay lại trong một thời gian ngắn
• Phỏng vấn sâu 8 thành viên gia đình của các cô dâu đã lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan
Trang 21• Phỏng vấn những người liên quan đến việc làm mai mối hôn nhân: 2 người cho Đài Loan và Hàn Quốc
• Phỏng vấn sâu đối với cán bộ lãnh đạo (cán bộ tòa án, đại diện chính quyền v.v.)
• Thảo luận nhóm đòan thể tại địa phương (bao gồm Thanh niên, phụ nữ, Y
tế, Tư pháp, Hội nông dân, Cựu chiến binh, thương binh xã hội v.v.)
Bảng 2: Danh sách phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tại xã Phả Lễ
sâu
Thảo luận nhóm
Cô dâu quay trở về Việt nam thời gian ngắn
(đang làm thủ tục để đi tiếp)
Thành viên gia đình cô dâu lấy chồng Hàn
Quốc, Đài Loan (cha, mẹ, anh chị em ruột)
Những người làm dịch vụ mai mối hôn nhân 2 x
4.2.1.3 Phương pháp định lượng
Một cuộc điều tra định lượng tại 3 xã thuộc địa bàn nơi đi tại Việt Nam
sẽ được tiến hành để đo lường tác động kinh tế xã hội đối với quê nhà do các
cô dâu lấy chồng nước ngoài đem lại Tuy nhiên để so sánh được những tác động này một cách rõ nét, nghiên cứu này sẽ tiến hành nghiên cứu cả những gia đình có cô dâu đi lấy chồng nước ngoài và gia đình không có cô dâu đi lấy chồng nước ngoài Cuộc khảo sát được tiến hành tại 3 xã của huyện Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ: xã Tấn Lộc, Xã Trung Nhất, xã Thới Thuận Việc chọn
Trang 22địa điểm khảo sát cũng được cân nhắc kỹ vì đây là 3 trong số 8 xã của huyện Thốt Nốt có tỷ lệ phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài (chủ yếu là Đài Loan và Hàn Quốc) cao nhất thành phố Cần Thơ
Phương pháp điều tra định lượng cho phép thu thập được các thông tin
cơ bản và hệ thống trên qui mô tương đối lớn về đối tượng nghiên cứu Trong quá trình thực hiện phương pháp điều tra định lượng việc chọn mẫu đóng vai trò quan trọng Để đảm bảo tính đại diện của mẫu nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn được thực hiện với các bước sau: (1) Bước 1: Chọn các thôn được sắp xếp theo dân số từ thấp đến cao; (2) chọn ngẫu nhiên các thôn theo số lượng dân số và số lượng thôn tại mỗi xã
Bảng 3: Thông tin nhân khẩu học của xã nghiên cứu
Đặc điểm Xã Tân Lộc Xã Trung Nhất Xã Thới Thuận
Tổng số
Trang 234.2.1.4 Một số phương pháp bổ sung cho nghiên cứu
Ngoài các phương pháp chủ đạo như phương pháp định tính, phương pháp định lượng, tổng hợp các số liệu thứ cấp nghiên cứu sinh còn sử dụng thêm các phương pháp quan sát về cuốc sống của cô dâu Việt Nam tại Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam để thu thêm các thông tin hữu ích
Một kỹ thuậtt khá quan trọng trong việc sử dụng phương pháp định tính
đó là kỹ thuật phỏng vấn hồi cố (retrospective interviews) cho các phỏng vấn sâu đối với cô dâu đang sinh sống tại Hàn Quốc và Đài Loan, các cô dâu thất bại hồi hương, chồng và cha mẹ chồng cô dâu tại Hàn Quốc, Đài Loan Kỹ thuật phỏng vấn hồi cố có vai trò quan trọng trong nghiên cứu này vì không ít
Trang 24các trường hợp hôn nhân tan vỡ, quá trình kết hôn, những sự kiện thông tin xảy ra đã lâu trong quá khứ Kỹ thuật này đòi hỏi kinh nghiệm khai thác của nghiên cứu viên và giúp thu thập được thông tin một cách đầy đủ nhất Bên cạnh đó, kỹ thuật này có thể gặp những hạn chế đối với những đối tượng phỏng vấn có trí nhớ không tốt hoặc trong tình trạng quá xúc động
Việc kết hợp chặt chẽ giữa nhiều phương pháp khác nhau là cơ sở quan trọng để đảm bảo sự kiểm chứng và sự bổ sung thông tin lẫn nhau trong quá tình phân tích và xử lý số liệu
4.2.2 Phân tích số liệu và đạo đức nghiên cứu
Số liệu định tính:
Toàn bộ những cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm sẽ được ghi âm
và gỡ băng Sau khi mã hóa toàn bộ các biên bản phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm sẽ được đọc và xử lý qua chương trình phân tích số liệu định tính Nvivo (phiên bản 10.0)
Số liệu định lượng
Với các bảng hỏi định lượng sẽ được nhập và xử lý trên phần mềm chuyên về xử lý số liệu định lượng SPSS (phiên bản 16.0)
4.2.3 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ đảm bảo tính vô danh với tất cả những người tham gia Nghiên cứu cũng duy trì tính bảo mật về số liệu nghiên cứu và đảm bảo quyền của người tham gia được thông báo về mục tiêu nghiên cứu cũng như từ chối
và rút khỏi cuộc nghiên cứu khi nào họ muốn và đảm bảo là không có sự ép buộc hoặc sức ép để tham gia nghiên cứu
Toàn bộ tên được sử dụng trong các trích dẫn phỏng vấn sâu đều được thay đổi và không sử dụng tên thật trong bất cứ tài liệu nào
Trang 255 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Có thể nói lấy chồng nước ngoài (cụ thể là Hàn Quốc, Đài Loan) đã và đang trở thành một hiện tượng xã hội cần phải xem xét và nghiên cứu một cách nghiêm túc Nhiều nghiên cứu trong nước mới chỉ tìm hiểu thông qua tài liệu và nghiên cứu tại Việt Nam Như vậy, các câu hỏi về thực tế cuộc sống của phụ nữ Việt Nam khi lấy chồng nước ngoài họ gặp phải những vấn đề gì? Các yếu tố nào tác động hay ảnh hưởng tới hiện tượng này như vậy? Những
hệ lụy cũng như các giải pháp trước mắt hay lâu dài của các vấn đề kết hôn với người nước ngoài là gì…? Luận án đã trả lời các câu hỏi trên bằng chính
số liệu từ cuộc nghiên cứu về cuộc sống của phụ nữ Việt Nam tại nơi họ kết hôn (Đài Loan và Hàn Quốc) Đây là một trong những đóng góp quan trọng trong việc đưa các bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm giúp bổ sung thêm các khuyến nghị và giải pháp nhằm hạn chế rủi ro cho vấn đề phụ nữ Việt nam lấy chồng nước ngoài nói chung và phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc Đài Loan nói riêng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận án nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện việc phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới cơ hội và thách thức đối với cô dâu Việt Nam lấy chồng nước ngoài góp phần bổ sung về mặt nhận thức trong các nghiên cứu xã hội học về vấn đề di cư thông qua hình thức kết hôn tại Việt Nam hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả đạt được từ nghiên cứu thực nghiệm giúp chúng ta có được cái nhìn toàn diện, phản ánh đúng bản chất thực trạng của vấn đề phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài, cụ thể là các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định kết hôn xuyên biên giới của phụ nữ Việt Nam, những thách thức mà các cô
Trang 26dâu Việt Nam gặp phải khi kết hôn tại Hàn Quốc và Đài Loan, những cơ hội cho cô dâu và gia đình tại Việt Nam đạt được là gì
Các phát hiện từ kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo tích cực đối với các nhà quản lý xã hội, các nhà hoạch định chính sách trong việc có những can thiệp phù hợp đối với những vấn đề này trong tương lai
7 Cơ cấu của luận án
Luận án dài 142 trang với 9 bảng và 15 biểu đồ Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khuyến nghị, luận án bao gồm 4 chương với nội dung như sau: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của luận án Chương 2: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu và đặc điểm
các cuộc hôn nhân của cô dâu Việt
Chương 3: Trách nhiệm và áp lực đóng góp kinh tế cho người ở lại của cô
dâu Việt Nam lấy chồng Đài Loan Hàn Quốc
Chương 4: Bài học kinh nghiệm từ một số cuộc hôn nhân thất bại
Trang 27PHẦN NỘI DUNG
Chương I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
LUẬN CỦA LUẬN ÁN
I Tổng quan tình hình nghiên cứu
1 Tình hình chung về hiện trạng di cư thông qua kết hôn xuyên biên giới
Di cư giữa các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam, ngày càng thu hút nhiều người di cư là phụ nữ, đặc biệt nếu chúng ta tính đến những người đi xuất khẩu lao động và vợ của những người di cư Cả hai nhóm người di cư từ Việt Nam đến các nước Châu Á đã trở thành tâm điểm của những thảo luận chính trị gay gắt trong và giữa các nước về an ninh quốc gia, chủ nghĩa dân tộc và buôn bán người, đưa ra những lối diễn đạt mới về vấn đề chính trị hóa của di cư (Lê Bạch Dương, 2009) Trong những nămần đây, dòng người di
cư chuyển hướng tới các quốc gia đang trải qua thời kỳ quá độ về di cư như là Đài Loan và Hàn Quốc Tuy nhiên còn một dòng di cư nữa âm thầm nhưng cũng mạnh mẽ không kém đó là di cư của những phụ nữ Việt Nam theo hình thức hôn nhân với người nước ngoài (Lê Bạch Dương, 2009)
Trong nhiều năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường
và xu hướng hội nhập quốc tế, khu vực diễn ra ngày càng mạnh mẽ, hiện tượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài ngày càng gia tăng và trở thành những vấn đề xã hội đòi hỏi Quốc hội, Chính phủ, và chính quyền địa phương các cấp, đặc biệt là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long phải quan
Trang 28tâm giải quyết về mặt chính sách 1 Dưới tác động của xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong những năm gần đây, hiện tượng người Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ kết hôn với người nước ngoài đã tăng lên nhanh chóng Tính đến hết năm 2013 đã có trên 294.280 trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hoặc với công dân Việt Nam định cư
ở nước ngoài, thuộc trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó có 80% là phụ nữ 2 Hôn nhân quốc tế trong bối cảnh giao lưu văn hóa, toàn cầu hóa là một khuynh hướng tự nhiên và nếu được quản lý tốt có thể góp phần tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc Trong số các phụ nữ kết hôn với người nước ngoài, nhiều người đã có cuộc sống khá ổn định, nhanh chóng hội nhập vào xã hội mới Tuy nhiên, cũng đã xuất hiện những hiện tượng không bình thường trong quan hệ hôn nhân quốc tế, thậm chí trở thành dịch vụ kinh doanh, quan hệ trao đổi, mua bán Không ít cô gái Việt trở thành nạn nhân của nạn buôn người và nhiều tệ nạn xã hội khác
Vì sự bất bình đẳng về kinh tế xã hội trong khu vực, các cô dâu nước ngoài thường gặp phải nhiều rủi ro và bị hạn chế nhiều quyền con người ở những nước tiếp nhận Các nước tiếp nhận thường thiếu các chính sách về hôn nhân đối với các cô dâu đến từ nhiều nước một cách toàn diện (Piper, 2003; 2004) Mặt khác, nhiều phụ nữ di cư lấy chồng nước ngoài cũng bị mất các quyền lợi nhân thân khi trở về nước Bất chấp những rủi ro như vậy, những phụ nữ di cư thông qua kết hôn đã thể hiện khả năng của mình trong quá trình di cư Một phụ nữ Việt Nam nghèo có thể dựa vào hôn nhân với một người đàn ông ở Đài Loan hoặc Hàn Quốc như là một chiến lược để thoát
Trang 29khỏi cảnh nghèo và hỗ trợ cho gia đình của mình thông qua các món tiền gửi
về (Belanger và cộng sự 2007)
Trong chương tổng quan này sẽ tìm hiểu thực trạng di cư của phụ nữ Việt Nam đến các nước châu Á, thông qua con đường kết hôn từ các nghiên cứu về chủ đề liên quan Sự di cư này làm nảy sinh câu hỏi quan trọng và cấp thiết về quyền con người và quyền công dân của những người di cư, đặc biệt
là của phụ nữ nghèo, những người rất dễ gặp phải rủi ro trong quá trình di cư
Vấn đề phụ nữ kết hôn với người nước ngoài phát triển mạnh trong những năm gần đây đã trở thành mối quan tâm của nhiều xã hội Những thay đổi nhân khẩu học và văn hóa ở một số quốc gia trong khu vực đã làm tăng nhu cầu về lao động và nhu cầu tìm kiếm vợ người nước ngoài Quá trình già hóa dân số ở một số quốc gia phát triển hơn đã làm tăng thêm nhu cầu lao động nhập cư để bù vào số lượng lao động đang bị thiếu ở trong nước, đặc biệt là lao động ở vị trí thấp; đồng thời xu hướng phụ nữ trì hoãn hôn nhân hoặc chọn giải pháp không kết hôn, không sinh con để tập trung vào công việc và các nhu cầu cá nhân ngày càng cao Chính vì thế mà nhu cầu tìm kiếm
cô dâu nước ngoài ngày càng tăng (Piper và Roces, 2003; Wang và Chang, 2002) Tại một số quốc gia của Châu Á, truyền thông ngày càng ảnh hưởng tới việc lựa chọn bạn đời tại một số nước đang phát triển thông qua việc xây dựng hình tượng người phụ nữ - các cô dâu nước ngoài- như những người phù hợp với các vai trò làm mẹ và làm vợ (Jones và Ramdas, 2004) Ngoài ra việc thiếu hụt nữ giới ở một số nước Châu Á cũng thúc đẩy nhu cầu tìm vợ của đàn ông nước này Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng ở Trung Quốc do kết quả của các chính sách dân số một con và hệ lụy của nó là nạn nạo phá thai lựa chọn giới tính trước sinh và giết trẻ sơ sinh là bé gái do tình trạng phân biệt đối xử nam nữ (Attane và Veron, 2005) Tai Việt Nam, theo báo cáo của
Bộ Tư pháp, tính từ tháng 5 đến ngày 31/12/2010, cả nước có 294.280 công
Trang 30dân kết hôn với người nước ngoài Thời gian đầu, số phụ nữ lấy chồng Đài Loan rất cao nhưng những năm sau, số phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc tăng vọt (Báo cáo của Bộ tư pháp, 2012) Rõ ràng, xu hướng di cư thông qua con đường hôn nhân đã thực sự trở thành một vấn đề xã hội
Theo số liệu, di cư đến Đài Loan để kết hôn đã bắt đầu từ những năm
1990 Cho đến năm 2005 đã có gần 100.000 “cô dâu Việt Nam” kết hôn ở đất nước này (Hsia, 2005) Di cư để kết hôn đến Hàn Quốc cũng bắt đầu vào những năm 2000-2001 và gia tăng nhanh chóng Chỉ tính riêng năm 2005 đã
có khoảng 5000 cô dâu Việt Nam đến Hàn Quốc và theo ước tính có thể tăng lên rất nhiều trong những năm tới (Kim, 2006)
Di cư vì hôn nhân thường tiếp nối hoặc song song với sự phát triển của các doanh nghiệp và quan hệ ngoại giao, bao gồm các hiệp định song phương
về trao đổi lao động (Hsia, 2005) Một khi hàng hóa đã được trao đổi, tiền đã được đầu tư và công nhân được quay vòng, các mạng lưới bắt đầu phát triển
và tạo điều kiện cho quá trình di cư vì hôn nhân được thương mại hóa xảy ra cùng một lúc hoặc tiếp nối theo
Như vậy phụ nữ di cư thông qua con đường kết hôn ngoài việc tìm kiếm hạnh phúc riêng thì mục đích kinh tế cũng được thể hiện qua các dòng tiền mà họ gửi về cho quê nhà Mặc dù, những phụ nữ này có đóng góp cho phát triển nhưng họ bị thiếu vắng trong các chính sách liên quan đến bảo trợ
xã hội Nhiều nghiên cứu cho thấy, những vấn đề mà phụ nữ di cư kết hôn phải đối mặt là hết sức phức tạp như những khác biệt về văn hóa, luật pháp, phong tục tập quán, ăn uống, ngôn ngữ, lối sống; vấn đề việc làm, giáo dục con cái (Lê Thị Quý, 2009) Trong các can thiệp quốc gia đối với tình trạng di
cư hôn nhân và buôn bán người ở Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung vào các hoạt động ngăn chặn buôn bán phụ nữ, điều tra, xét xử tội phạm; còn lúng
Trang 31túng trước hiện tượng di cư kết hôn ồ ạt tại nhiều địa phương (Lê Bạch Dương và cộng sự, 2009)
2 Phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài: những cơ hội
Phần này giúp nhìn lại những bằng chứng từ các nghiên cứu liên quan trong việc phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài sẽ đem lại cho họ những
cơ hội gì và cho ai Theo từ điển Tiếng Việt khái niệm cơ hội (danh từ) là hoàn cảnh thuận lợi gặp được để thực hiện điều mong muốn dự định Trong luận án này, tôi muốn tìm hiểu về cơ hội của các cô dâu Việt Nam khi lấy chồng nước ngoài qua những bằng chứng từ các nghiên cứu Rõ ràng việc kết hôn với người nước ngoài đã đem lại cho những người phụ nữ này nhiều cơ hội, những cơ hội này xuất hiện ở nhiều cấp độ khác nhau trong xã hội và mang tính đa chiều Trong khuôn khổ của luận án này “mối quan hệ đa chiều” được phân tích một cách linh hoạt giữa việc phụ nữ kết hôn với người nước ngoài đem lại những cơ hội nào cho xã hội và chính xã hội đã tạo những điều kiện thuận lợi gì trong việc lấy chồng ngoại quốc ở những cấp độ sau
Thứ nhất, ở cấp độ vĩ mô (cấp độ xã hội, cộng đồng) sẽ được tìm hiểu trong những chính sách, văn bản pháp lý và mức độ hỗ trợ cấp nhà nước trong quá trình di cư của người dân nói chung và phụ nữ lấy chồng nước ngoài nói riêng Phần này cũng sẽ tìm hiểu xem việc phụ nữ di cư bằng hình thức kết hôn đem lại những cơ hội gì cho xã hội
Thứ hai, ở cấp độ vi mô (cấp độ gia đình và cá nhân) sẽ tìm hiểu những yếu tố tích cực trong quá trình phụ nữ di cư bằng hình thức kết hôn
2.1 Cơ hội từ cấp độ vĩ mô (cấp độ xã hội)
2.1.1 Những hỗ trợ cho cô dâu Việt Nam lấy chồng nước ngoài từ góc độ Pháp luật Việt Nam
Điều đầu tiên cho thấy Việt Nam có một khung chính sách khá ổn định trong việc hỗ trợ cũng như bảo vệ hôn nhân cho công dân Việt Đây là những
Trang 32bước thuận lợi cơ bản trong quá trình toàn cầu hóa khi mà xu hướng kết hôn xuyên quốc gia ngày càng mở rộng Với mục tiêu “Bảo vệ Quyền và lợi ích chính đáng của Phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài” Việt Nam đã có những cơ sở pháp lý khá đầy đủ trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho phụ nữ Việt Nam kết hôn xuyên biên giới
Vấn đề hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài không phải là mới mà được qui định tại những văn bản pháp luật cao nhất của Nhà nước Việt Nam như:
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 có hiệu lực mới nhất
từ 1/1/2014 trong đó Điều 36 qui định:
1 Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau
2 Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người
mẹ và trẻ em
Bộ luật Dân sự 2005 qui định liên quan đến quyền nhân thân như quyền kết hôn, quyền ly hôn, quyền được khai sinh, quyền được khai tử, quyền có quốc tịch (Bộ Ngoại giao, 2012)
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (chương VIII có 10 điều qui định
về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài) khẳng định “quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các qui định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia” Ngoài ra vấn đề hôn nhân và gia đình còn được điều chỉnh bởi Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP, Nghị định số 158/2006/NĐ-CP Nội dung của các văn bản, Nghị định này xoay quanh mối quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài Theo các văn bản này thì các hành vi vi phạm pháp luật trong quan hệ hôn nhân và gia đình tùy mức độ sẽ bị xử lý bởi các
Trang 33chế tài hình sự theo qui định của Bộ luật hình sự, chế tài hành chính theo các qui định của các văn bản về xử phạt vi phạm hành chính hoặc các biện pháp dân sự như vấn đề chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại, vấn đề nuôi dưỡng, vấn đề hủy đăng ký kết hôn, hủy hôn nhân trái pháp luật (Dương Thanh Mai, Lê Thị Hoàng Thanh, 2009)
Đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, nhằm nâng cao hiệu quả của Quản lý Nhà nước, làm lành mạnh hóa quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, bảo đảm hạnh phúc lâu dài cho các chị em phụ
nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài cũng như bảo đảm thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, ngày 25/2/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 03/2003/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý Nhà nước (sau đây gọi tắt là Chỉ thị 03) Chỉ thị 03 được thực hiện mang tính chất liên ngành trong đó Bộ Tư pháp là cơ quan chủ chốt còn các Bộ ngành liên quan như Công An, Ngoại giao, Văn hóa – Thể thao và Du lịch, ngành Thông tin – Truyền thông, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Ủy ban Nhân dân các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương cũng tích cực triển khai các hoạt động thực hiện Chỉ thị số 03/2005/CT-TTg
Đối với ngành Tư pháp đã xây dựng và hoàn thiện thể chế bằng cách
Bộ Tư pháp tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định 69/2006/NĐ-CP
có qui định cụ thể về hồ sơ đăng ký kết hôn và thủ tục đăng ký kết hôn theo hướng chặt chẽ hơn, đặc biệt là qui định phỏng vấn các bên nam nữ trước khi đăng ký kết hôn để kiểm tra, làm rõ sự tự nguyện kết hôn của họ, về khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của nhau Ngoài ra, để hạn chế tình trạng kết hôn thông qua môi giới, Bộ Tư pháp chỉ đạo các Sở Tư pháp yêu cầu các bên kết hôn phải trực tiếp nộp hồ sơ, không chấp nhận việc nộp hồ sơ đăng ký qua người thứ ba
Trang 34Bộ Công an cũng tập trung chỉ đạo lực lượng công an các cấp để tăng cường công tác nắm tình hình mở đợt điều tra rà soát kiên quyết triệt xóa các
cơ sở môi giới hôn nhân bất hợp pháp, các tụ điểm tổ chức cho người nước ngoài xem mặt phụ nữ Việt Nam đồng thời chấn chỉnh công tác quản lý Nhà nước về an ninh trật tự, nhất là trong lĩnh vực quản lý nhân khẩu, quản lý người nước ngoài, quản lý xuất nhập cảnh
Bộ Ngoại giao đã xác định Đài Loan và Hàn Quốc là những địa bàn quan trọng để tập trung giải quyết những công tác liên quan đến hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Trong những năm qua Bộ Ngoại giao đã chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt Nam ở Đài Loan và Hàn Quốc nắm chắc tình hình về cuộc sống của cộng đồng phụ nữ Việt Nam kết hôn tại nước sở tại, phối hợp với các cơ quan hữu quan của những nước này thành lập các tổ chức hiệp hội thích hợp nhằm giúp đỡ họ trong việc hòa nhập với cộng đồng nơi họ sinh sống
Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch đã triển khai mô hình can thiệp giảm thiểu tiêu cực trong vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài như thành lập Ban chỉ đạo triển khai mô hình xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các Câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững, thành lập tổ
tư vấn hôn nhân đặc biệt là hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật, đấu tranh phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội liên quan đến kết hôn có yếu tố nước ngoài trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian qua được các cơ quan truyền thông quan tâm
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã ban hành các văn bản chỉ đạo tổ chức một số hội nghị quán triệt những vấn đề xã hội liên quan đến vấn đề phụ
nữ kết hôn với người nước ngoài, xúc tiến thành lập các Trung tâm hỗ trợ kết hôn tại các địa phương có đông phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài như
Trang 35Hải Dương, Đà Nẵng, Quảng Nam, Lâm Đồng, Bình Phước, TP Hồ Chí Minh, An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Sóc Trăng, Cà Mau, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ và Long An
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã tổ chức cho thanh niên học tập về văn bản pháp luật hôn nhân và gia đình, luật Bình đẳng giới, Luật phòng chống Bạo lực gia đình để giúp thanh niên có nền tảng kiến thức trước khi quyết định chọn bạn đời (Bộ Tư pháp, 2012)
2.1.2 Điều ước quốc tế song phương và đa phương liên quan đến hỗ trợ phụ
nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài
Cho đến nay Việt Nam đã ký 14 Hiệp định tương trợ tư pháp (về dân sự
và gia đình) với nhiều nước trong đó có Trung Quốc (năm 1998), Hàn Quốc năm 2002, Đài Loan năm 2010 Trong các Hiệp định này, một số quyền liên quan đến quan hệ vợ chồng như Quyền về nhân thân, tài sản của vợ chồng hoặc vấn đề ly hôn được giải quyết theo Luật nơi vợ chồng cùng cư trú hoặc theo luật nơi Tòa án thụ lý (nếu hai người cư trú hai nước) Ngoài ra còn có các Thỏa thuận cấp Nhà nước như Hiệp định tương trợ tư pháp Tháng 10 năm 2010, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Bộ Bình đẳng giới – Gia đình của Hàn Quốc ký biên bản ghi nhớ vê hợp tác xây dựng các hoạt động hôn nhân quốc tế lành mạnh và nâng cao quyền năng của phụ nữ trong đó có việc phối hợp giới thiệu, hướng dẫn cô dâu Việt Nam những điều kiện cần thiết về pháp luật, phong tục văn hóa Hàn Quốc trước khi xuất cảnh ( Bộ Tư pháp, 2012)
Về phía các nước và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Đài Loan cũng có những hoạt động trợ giúp các cô dâu nước ngoài trong đó có cô dâu Việt Nam như dạy ngôn ngữ, dạy văn hóa, các chương trình phòng chống bạo lực gia đình để thúc đẩy quá trình hòa nhập của cô dâu Việt trong đất nước nơi đến
Trang 36(Lê Thị Quý, 2009) Tại Hàn Quốc cô dâu nước ngoài sau 2 năm cư trú liên tục sẽ được xét nhập quốc tịch, nếu có con với chồng Hàn Quốc thì được xem xét để nhập nhanh hơn Đặc biệt Luật quốc tịch sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/1/2011 của Hàn Quốc cho phép cô dâu nước ngoài không bắt buộc phải thôi quốc tịch gốc, giúp giảm thiểu nảy sinh vấn đề không quốc tịch khi cô dâu nước ngoài đã cắt quốc tịch gốc trong khi chưa đủ tiêu chuẩn để nhập quốc tịch tại quốc gia mới Hàn Quốc cũng có chính sách đối với gia đình đa văn hóa (hôn nhân có yếu tố nước ngoài) giao cho các Bộ chức năng (Bộ Tư pháp,
Bộ Bình đẳng giới và Gia đình, Giáo dục, Văn hóa – Thể thao – Du lịch …) kiện toàn và thực thi chính sách bảo vệ và hỗ trợ các gia đình này, cụ thể ban hành Luật hỗ trợ gia đình đa văn hóa trong tháng 8/2008; lập Ủy ban đặc biệt trực thuộc Văn phòng Tổng thống về chống phân biệt đối xử với người nước ngoài, thiết lập nhiều website và đường dây nóng đa ngôn ngữ giúp tư vấn các
cô dâu nước ngoài; xây dựng hơn 200 trung tâm hỗ trợ gia đình đa văn hóa trên toàn quốc
Tại Đài Loan, Luật Quốc tịch sửa đổi năm 2000, điều kiện nhập tịch cho cô dâu nước ngoài là 3 năm cư trú liên tục, có đăng ký kết hôn hợp pháp
và được chồng bảo lãnh Đài Loan đặt vấn đề giúp đỡ tạo điều kiện cho cô dâu Việt Nam là trách nhiệm của các cấp chính quyền, hàng năm nước này chi khoảng 10 triệu USD giúp cô dâu nước ngoài hòa nhập cộng đồng như tổ chức các lớp dạy tiếng, dạy nghề phổ biến pháp luật, lập đường dây nóng tư vấn về hôn nhân và gia đình, mở các trung tâm hỗ trợ giải quyết tình trạng bạo lực gia đình (Bộ Tư Pháp, 2012)
Như vậy, những phân tích trên cho thấy Việt Nam có một khung chính sách khá ổn định trong việc hỗ trợ cũng như bảo vệ hôn nhân cho công dân Việt Có thể nói, đây là là những cơ hội giúp cho cô dâu Việt có điều kiện
Trang 37được làm dâu một cách an toàn trong quá trình toàn cầu hóa khi mà xu hướng kết hôn xuyên quốc gia ngày càng mở rộng
2.1.3 Những cơ hội về kinh tế xã hội trong thời đại hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Với xu thế hội nhập, ngày càng có nhiều người Việt Nam tìm kiếm công việc và cơ hội đi ra nước ngoài để thoát khỏi cảnh nghèo khổ và đạt được một vị thế xã hội cao hơn Xu hướng phát triển quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng là hiện tượng có tính qui luật trong quá trình
di dân từ những nước có điều kiện kinh tế thấp hơn sang những nước có điều kiện kinh tế cao hơn trong quá trình hội nhập quốc tế Trong khi nhiều phụ nữ các nước và vùng lãnh thổ có nền công nghiệp hện đại có xu hướng không thích lập gia đình thì phụ nữ Việt Nam lại có nhiều phẩm chất phù hợp với tiêu chuẩn gia đình phương đông (bản chất hiền hòa, chịu thương chịu khó, yêu thương chồng con…) là lý do ngày càng có nhiều đàn ông các nước (trong đó có Hàn Quốc và Đài Loan) đến Việt Nam tìm vợ (Lương Thị Lanh,
Bộ tư Pháp, 2012)
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hôn nhân xuyên biên giới đều
có màu sắc của “mục tiêu kinh tế” và đa số các cô dâu Việt khi đi lấy chồng đều tìm cách gửi tiền về quê nhà (Bùi Quang Dũng, 2007; Trần Thị Kim Xuyến, 2005)
Như vậy, với con số khả lớn các cuộc hôn nhân đã được hình thành giữa công dân Việt nam với người nước ngoài đã tạo được những giao lưu với các nước trên cả lĩnh vực xã hội và kinh tế Hàng năm số chị em phu nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài đã gửi giúp đỡ gia đình với số tiền đáng kể giúp gia đình cải thiện đời sống, một số gia đình Đài –Việt, Hàn – Việt đã quay trở
Trang 38lại đầu tư tại Việt Nam, góp một phần vào việc phát triển kinh tế đất nước (Lương Thị Lanh, Bộ tư Pháp, 2012)
Nhìn lại các quan niệm về hôn nhân xuyên biên giới có thể tạm chia thành hai loại: một là trên các phương tiện truyền thông và từ các nghiên cứu thực địa Đặc điểm chung của các ý kiến báo chí thường mang màu sắc phủ định không tán thành căn cứ vào một số cuộc hôn nhân thất bại (điều này xin được phân tích sâu hơn trong phần sau) trong khi đó các bằng chứng thu được
từ thực địa lại cho thấy nhiều người dân chia sẻ với cô dâu và gia đình họ khi các cô dâu xuất ngoại với mục tiêu đổi đời cho bản thân và gia đình (Bùi Quang Dũng, 2007) Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, nhiều người dân trong cộng đồng các cô gái lấy chồng nước ngoài không có thái độ phản đối mà họ thông cảm và đồng tình với sự báo hiếu cho cha mẹ của các cô gái này Trong một nghiên cứu định lượng khác cũng cho thấy có tới gần 74% trong số 460 thanh niên ở Đồng bằng Sông Cửu Long cho rằng việc lấy chồng Đài Loan là hoàn toàn bình thường (Trần Thị Kim Xuyến, 2005; Ủy ban dân
số, Gia đình và Trẻ em, 2005) Một nghiên cứu được thực hiện tại Thủy Nguyên, Hải Phòng cho thấy việc lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan được gần 90% các thành viên trong gia đình (cha, mẹ, anh, chị em trai, gái) ủng hộ (Hoàng Bá Thịnh, 2012)
Như vậy, sự “cởi mở” trong cách nhìn nhận của cộng đồng và gia đình
về giới trẻ đối với hôn nhân có yếu tố nước ngoài cũng vừa động lực vừa là
cơ hội khiến tỷ lệ phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại ngày càng gia tăng (Hoàng Bá Thịnh, 2012)
2.2 Cơ hội từ cấp độ cá nhân (gia đình và bản thân người kết hôn)
Phần này sẽ đi sâu vào phân tích những cơ hội của cô dâu Việt Nam khi lấy chồng nước ngoài đem lại cơ hội gì cho gia đình và bản thân họ Khái niệm sử dụng trong phần này khái niệm chủ thể Theo nghĩa triết học “Tính
Trang 39chủ thể của con người là khả năng con người đưa ra lựa chọn và thực thi lựa chọn đó một cách phù hợp với môi trường xung quanh” 3 Trong luận án này, khái niệm chủ thể được hiểu trong bối cảnh bước vào cuộc sống hôn nhân với người chồng Đài Loan, Hàn Quốc, sống với những người bất đồng về ngôn ngữ, xa lạ về phong tục tập quán và văn hóa các cô dâu Việt đã luôn nỗ lực để hòa nhập với cuộc sống quê chồng
Phát hiện từ một số nghiên cứu hiện nay thường tập trung vào mô tả những khó khăn của cô dâu ngoại quốc như bạo lực gia đình, rào cản ngôn ngữ, nạn buôn người, tình trạng phân biệt đối xử v v (Belanger và cộng sự, 2011) Một số phương diện khác của hiện tượng này bị bỏ qua hoặc có rất ít nghiên cứu đề cập Một vài nghiên cứu hiếm hoi đề cập về vị thế của người di
cư trong gia đình bố mẹ đẻ và vấn đề tiền gửi cũng như những trao đổi xã hội hay đầu tư kinh doanh xuyên quốc gia cho thấy nhiều phụ nữ kết hôn đã tìm cách kinh doanh các mặt hàng đem lại lợi nhuận khá thành công (Belanger và cộng sự, 2011)
Một số nghiên cứu cũng đã cho thấy, mức sống của hộ gia đình có con
đi lấy chồng nước ngoài khá hơn hẳn (về thu nhập và điểu kiện sống) so với gia đình không có con lấy chồng ngoại quốc (Trần Giang Linh, 2007; Trần Thị Kim Xuyến, 2005) Về mặt cơ hội, rõ ràng các cô dâu Việt khi di cư đã đem lại khá nhiều điều tốt đẹp cho gia đình và bản thân họ Những cơ hội ở đây có thể là: mức sống gia đình tăng lên, thu nhập từ các khoản gửi về cũng giúp cho gia đình thay đổi các điều kiện sống, các cô dâu có được cuộc sống sung sướng hơn quê nhà v.v Mặc dù nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phụ
nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài đều tìm cách để gửi tiền về quê nhà nhưng
3 Bandura A, 1989, Human Agency in Social Cognitive Theory, American Psychologist, Vo44, No 9,
1175-1184
Trang 40đa số các nghiên cứu đều ít hoặc chưa lượng hóa số tiền gửi về (Belanger và cộng sự, 2011)
Việc gia tăng nhanh chóng các cuộc hôn nhân quốc tế trong khu vực Châu Á đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu trên thế giới, trong đó tính chủ thể của họ đã được khai thác từ nhiều góc độ và bối cảnh khác nhau Nghiên cứu của Piper và Roces (2003) xem xét mối quan hệ giữa di cư để làm việc và kết hôn nhằm nêu lên quyền tự chủ của người phụ nữ di cư Các tác giả cho rằng việc phụ nữ di cư ra nước ngoài làm việc nhằm có được nhiều quyền hơn và giúp đỡ được gia đình cha mẹ đẻ là lựa chọn của chính bản thân
họ Tương tự, đó cũng có thể là chiến lược của họ khi quyết định lấy chồng nước ngoài nhằm thoát nghèo và có thể định cư tại một nước phát triển Nếu như Piper và Roces (2003) cho rằng việc phụ nữ lấy chồng nước ngoài qua hình thức di cư là động lực nhằm thoát nghèo thì Constable (2003a, 2003b) nhấn mạnh vào động lực di cư của những phụ nữ này là nhằm thoát khỏi những giới hạn của quan điểm quyền gia trưởng đối với phụ nữ và hôn nhân
Cụ thể là, phụ nữ ngày càng chứng tỏ tính chủ động của mình trong các quá trình ra quyết định; chứ họ không hoàn toàn chịu sự kiểm soát hay ép buộc từ phía gia đình cha mẹ đẻ hoặc gia đình nhà chồng
Một nhà nữ quyền khác, Nakamatsu (2005) xem xét sự thể hiện tính tự chủ của những cô dâu ngoại quốc trong các trải nghiệm và bối cảnh khác nhau: trong khi làm việc với các tổ chức môi giới, khi thương lượng với các nhà chức trách và các tổ chức phi chính phủ khác, và khi giúp đỡ các cô dâu khác tại nước sở tại
Một nghiên cứu khác của Wang (2007) đã chỉ ra các hoàn cảnh trong
đó các cô dâu có thể xây dựng các chiến lược thích hợp nhằm làm củng cố vị trí của mình trong gia đình chồng và hòa nhập với xã hội mới Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các cô dâu ngoại quốc đã biết tận dụng vai trò được các mong