Trong thời gian qua, việc triển khai xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng XHTD nội bộ tại một số NHTM là một trong những công cụ quản trị rủi ro cơ bản và hữu hiệu, được các NHTM triển kh
Trang 1kể trong tổng nguồn thu của NH Để tham gia vào cuộc cạnh tranh đặc biệt là trong hoạt động tín dụng, các NHTM trong nước ngay từ bây giờ phải tự đổi mới mình, phải xây dựng hệ thống quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế Trong thời gian qua, việc triển khai xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng (XHTD) nội bộ tại một số NHTM là một trong những công cụ quản trị rủi
ro cơ bản và hữu hiệu, được các NHTM triển khai nhằm hạn chế và giới hạn rủi ro
ở mức mục tiêu, đồng thời cũng hỗ trợ NH trong việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, tiến tới mục đích tối đa hóa lợi nhuận và bảo vệ sự ổn định của hệ thống NH đối với thị trường tài chính hiện nay tại Việt Nam
Hiện nay, khá nhiều các mô hình đánh giá XHTD đang được sử dụng tại các NHTM cùng với các tổ chức XHTD quốc tế uy tín đã có mặt tại thị trường Việt Nam như Fitch Ratings, Moody’s, S&P…Tuy nhiên, hiệu quả trong việc XHTD thực tế còn nhiều tồn tại, XHTD do các công ty xếp hạng chỉ mới dừng lại ở các công ty có niêm yết và kết quả xếp hạng có khả năng chưa chính xác do thị trường tài chính Việt Nam còn sơ khai, chất lượng và độ tin cậy của thông tin không cao, bên cạnh đó một số các mô hình tài chính đòi hỏi bề dày về cơ sở dữ liệu trong khi
hệ thống lưu trữ thông tin của Việt Nam còn kém và thậm chí là không có hệ thống lọc thông tin Do đó, việc nghiên cứu nâng cao chất lượng XHTD là cần thiết và là
đề tài cần được quan tâm đầu tư tại các NHTM
Đối với NHTMCP Quốc Tế Việt Nam, từ cuối năm 2008, NH đã triển khai thành công hệ thống XHTD nội bộ với sự phối hợp của công ty Ernst & Young Việt
tế Hu
ế
Trang 2Nam Với sự tư vấn của công ty này, VIB đã tích cực xây dựng và hoàn thiện hệ thống XHTD nội bộ, tuy nhiên, hệ thống này còn hạn chế, đòi hỏi cần bổ sung nhằm hoàn thiện và phù hợp hơn với môi trường kinh doanh hiện nay
Sau thời gian thực tập tại phòng tín dụng Khách hàng Doanh nghiệp của NHTMCP Quốc Tế Viêt Nam- CN Huế, được làm việc cùng các anh chị nhân viên tín dụng cũng như tìm hiểu về hệ thống chấm điểm tín dụng của NH; đồng thời cùng sự giúp đỡ của ban lãnh đạo và nhân viên em chọn đề tài khóa luận “NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM- CHI NHÁNH HUẾ”
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về công tác XHTD nội bộ của NHTM, qua đó đánh giá những ưu khuyết điểm của nó, từ đó giải quyết khắc phục yếu điểm
và phát huy ưu điểm nhằm giúp quy trình chấm điểm và XHTDDN hoàn thành vai trò trong việc hỗ trợ công tác tín dụng tại NHTMCP VIB- chi nhánh Huế
- Phân tích thực trạng công tác XHTD nội bộ KHDN tại NHTMCP VIB- CN Huế
- Đưa ra các góp ý sửa đổi nhằm hoàn thiện hơn mô hình XHTD tại NHTMCP VIB- CN Huế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác XHTD nội bộ KHDN tại NHTMCP Quốc Tế -CN Huế
3.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Việc nghiên cứu đề tài thực hiện theo phương pháp tiếp cận và nghiên cứu thực nghiệm để từ đó đưa ra kết luận và đề xuất các giải pháp
tế Hu
ế
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ
TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về xếp hạng tín dụng nội bộ:
1.1.1 khái niệm xếp hạng tín dụng nội bộ:
Thuật ngữ xếp hạng tín dụng ( Credit Ratings) lần đầu tiên được sử dụng cách đây 100 năm khi công ty Moodys phát hành định kỳ các chỉ số thông tin tín nhiệm của các doanh nghiệp (DN) trong ngành đường sắt của Mỹ, được Jonh Moody đưa vào cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt” vào năm 1909 khi tiến hành nghiên cứu phân tích và công bố bảng XHTD lần đầu tiên cho 1500 loại trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái ABC được xếp lần lượt là Aaa đến
C (hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế)
Tại Việt Nam, thuật ngữ “Credit Rating” được dịch theo nhiều nghĩa khác nhau như “xếp hạng tín dụng”, “xếp hạng tín nhiệm”, “xếp loại tín dụng”, và “phân loại tín dụng” Trong đó, sát nghĩa nhất và theo thói quen của thị trường là hai từ
“phân loại tín dụng” và “xếp hạng tín dụng” Về định nghĩa, mỗi tổ chức tài chính định nghĩa “xếp hạng tín dụng” khác nhau, nhưng nội dung cốt lõi đều bao hàm ý kiến đánh giá chất lượng tín dụng hay khả năng trả nợ của chủ thể phát hành
Theo Standards & Poor’s, XHTD là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng, khả năng và sự sẵn sàng thanh toán các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn của một chủ thể phát hành, như một DN, Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân XHTD cũng đề cập đến chất lượng tín dụng của một khoản nợ riêng lẻ, như một trái phiếu DN hoặc một trái phiếu của chính quyền địa phương, và xác suất tương đối
Trang 5Theo Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI): “ XHTD doanh nghiệp là đánh giá các khả năng của DN thực hiện thanh toán đúng hạn một nghĩa
vụ tài chính”
Như vậy, có thể hiểu: “XHTD là các ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và
sự sẵn sàng thanh toán các nghĩa vụ tài chính (gốc và lãi) của một đối tượng xếp hạng một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống phân loại theo ký hiệu đã được xác định trước trong suốt thời gian tồn tại của đối tượng xếp hạng đó” Một đối tượng xếp hạng có thể là một chủ thể phát hành (doanh nghiệp, Chính phủ, Ủy ban nhân dân) hoặc một khoản vay riêng lẻ (một thương phiếu/ kỳ phiếu/ trái phiếu/ giấy nhận nợ của doanh nghiệp; một tín phiếu/ trái phiếu của Chính phủ/ chính quyền địa phương)
1.1.2 Đối tượng của XHTD nội bộ:
XHTD người đi vay:
XHTD người đi vay chủ yếu dự báo nguy cơ vỡ nợ theo ba cấp độ cơ bản là nguy hiểm, cảnh báo và an toàn dựa trên xác suất trả được nợ (PD- Probalility of Default) Cơ sở của xác suất này là dữ liệu về các khoản nợ quá khứ trước đó của
KH bao gồm: nợ đã trả, khoản nợ không thu hồi được Dữ liệu phân theo ba nhóm: nhóm dữ liệu tài chính liên quan tới hệ số tài chính của KH cũng như đánh giá của
tổ chức xếp hạng Nhóm dữ liệu phi tài chính liên quan tới trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển thị trường, sản phẩm mới, các dữ liệu liên quan tới tăng trưởng ngành; và nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan tới hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ như: tình hình số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi
tế Hu
ế
Trang 6 XHTD khác:
Ngoài ra còn có XHTD quốc gia ( đánh giá mức độ tin cậy của một quốc gia,
để từ đó có thể so sánh với môi trường đầu tư giữa các quốc gia, quốc gia nào càng được xếp hạng cao thì càng nhận được sự tín nhiệm của các nhà đầu tư nước ngoài nên sẽ thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư) và XHTD các công cụ đầu tư ( như: trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ và các loại trái phiếu, kỳ phiếu của ngân hàng )
Trong phạm vi bài khóa luận, em đi tìm hiểu và nghiên cứu việc XHTD đối với doanh nghiệp
1.1.3 ý nghĩa của XHTD trong hoạt động tín dụng của NHTM:
1.1.3.1 Đối với NHTM:
Hoạt động tín dụng đối với KH doanh nghiệp là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất trong các hoạt động kinh doanh của các NHTM Trước những rủi ro mà
NH phải đối mặt đòi hỏi các NH phải có những biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi
ro để đảm bảo an toàn cho hoạt động của mình XHTNDN sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về “sức khỏe” của DN, cả trong ngắn hạn và dài hạn, đóng vai trò cần thiết trong hoạt động tín dụng NH Cụ thể:
XHTD doanh nghiệp là cơ sở để NH phân tích, thẩm định trước khi quyết định cấp tín dụng:
Thông thường, trước khi đưa ra quyết định cấp tín dụng cho KH, các NH sẽ tiến hành kiểm tra các giấy tờ để đánh giá tư cách KH về mặt pháp lý, kiểm tra tính khả thi của dự án vay vốn, đo lường khả năng trả nợ của KH, cuối cùng là xem xét đến các giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu tài sản đối với tài sản đảm bảo Nếu tất
cả đều hợp lệ và phù hợp với quy trình cho vay của NH thì KH sẽ được NH đồng ý cho vay, ký hợp đồng tín dụng và giải ngân
Với phương thức XHTDDN, trên cơ sở phân tích các yếu tố định tính và định lượng dựa trên chương trình đã được thiết lập sẵn hệ thống cho điểm và nhận xét thì
NH có thể rút ngắn được thời gian cho vay, đánh giá được tổng hợp về tình hình
tế Hu
ế
Trang 77
hoạt động kinh doanh của DN Bên cạnh đó, với điểm số mà DN đạt được các NH
sẽ định được mức độ rủi ro đối với DN đó, từ đó có chính sách cho vay phù hợp Như vậy, với việc XHTDDN trước khi ra quyết định cấp tín dụng sẽ giúp cho các NH đánh giá tư cách của DN, đo lường thiện chí và khả năng trả nợ của DN dựa trên những khoản vay trước đó, xác định được đối tượng KH có mức độ rủi ro thấp, không gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của mỗi NH, là cơ sở để quyết định cho vay phù hợp với quy định và chính sách cho vay của mình
XHTDDN là một phương pháp để giám sát sau khi cấp tín dụng:
Sau khi xem xét khoản vay, đánh giá đó là khoản vay tốt, rủi ro ở mức thấp, có thể chấp nhận thì NH mới đồng ý cấp tín dụng Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa
là trong thời gian tới khoản vay đó vẫn bảo đảm xếp hạng như ban đầu Đối với một
số DN, lĩnh vực hoạt động kinh doanh của họ dễ bị tác động bởi những điều kiện xung quanh về thời tiết, khí hậu, các chính sách… những tác động này làm cho tình hình kinh doanh của DN phát triển hoặc có thể ngược lại Vì vậy, định kỳ NH cần tiến hành chấm điểm lại DN hoặc khi bất kỳ có biến động gì xảy ra mà theo đánh giá của nhân viên chấm điểm cho rằng nó có tác động đến DN thì NH cũng cần chấm điểm lại
Với cách thức như vậy, NH sẽ sớm phát hiện ra những DN bắt đầu có dấu hiệu không tốt, xuất hiện rủi ro gây ảnh hưởng đến NH trước khi có rủi ro thực sự xảy ra
Từ đó, NH sẽ có biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro kịp thời Đối với DN sau khi chấm điểm lại mà kết quả tốt thì NH sẽ có những chính sách phù hợp nhằm định hướng quan hệ KH trong tương lai
XHTDDN là cơ sở để quản lý danh mục tín dụng và xây dựng chính sách KH:
Căn cứ vào mức XHDN sau khi tổng hợp điểm, các NH sẽ xác định được khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính và mức rủi ro của DN Trên cơ sở đó, NH sẽ tiến hành xây dựng danh mục tín dụng Đây là cách thức để NH kiểm soát các khoản vay nhằm giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra Đối với những DN được xếp hạng thấp,
tế Hu
ế
Trang 8ảnh hưởng đến nguy cơ mất vốn của NH thì các NH trích dự phòng rủi ro đối với những khoản vay đó
Đồng thời căn cứ vào kết quả xếp hạng đó, các NH sẽ xây dựng các chính sách tương ứng với từng mức hạng như chính sách tiếp thị KH, chính sách về cấp tín dụng, chính sách về lãi suất cho vay, chính sách đảm bảo tiền vay, chính sách về dịch vụ-phí dịch vụ, chính sách về tiền gửi… để có thể duy trì mối quan hệ lâu dài với KH
1.1.3.2 Đối với thị trường tài chính:
- Việc XHTDDN đòi hỏi các DN muốn được xếp hạng phải công khai các báo cáo tài chính của mình Điều này cho phép hình thành một một thị trường cân bằng
và minh bạch thông tin tài chính và hơn nữa hạn chế tính mất cân xứng về thông tin thị trường, làm cho thị trường tài chính ngày càng được chuẩn hóa và mang tính toàn cầu hóa
- Thông qua XHTD, các tổ chức khác sử dụng kết quả XHTD để quản bá hình ảnh của tổ chức mình, cung cấp thông tin cho các đối tác, tạo niềm tin cho thị trường
1.1.3.3 Đối với nhà đầu tư:
- Các nhà đầu tư sử dụng kết quả XHTD để thực hiện chiến lược đầu tư sao cho rủi ro thấp nhất nhưng kết quả đạt được như mong muốn;
- XHTD giúp nhà đầu tư có thêm công cụ đánh giá rủi ro tín dụng, giảm thiểu chi phí thu nhập, phân tích, giám sát khả năng trả nợ của các tổ chức phát hành trái phiếu, công cụ nợ
1.1.3.4 Đối với cơ quan quản lý Nhà Nước:
- Thông tin XHTDDN sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá được đối tượng mình quản lý, có cơ sở thông tin để so sánh theo ngành kinh tế, lĩnh vực hoạt động của DN Là cơ sở giúp cho các cơ quan quản lý Nhà nước đưa ra những giải pháp thích hợp nhất để thúc đẩy sự phát triển hoạt động của DN trong ngành
tế Hu
ế
Trang 91.1.4 Nguyên tắc XHTD nội bộ:
XHTD được thực hiện dựa trên nguyên tắc chủ yếu bao gồm phân tích tín nhiệm trên cơ sở ý thức và thiện chí trả nợ của KH trong lịch sử, đánh giá tiềm năng trả nợ qua đo lường năng lực tài chính của KH Từ đó đánh giá rủi ro toàn diện và thống nhất dựa vào hệ thống ký hiệu xếp hạng Trong phân tích XHTD cũng cần chú ý đến phân tích định tính để bổ sung cho những thiếu sót của phân tích định lượng Các chỉ tiêu phân tích có thể thay đổi phù hợp với yếu tố môi trường chung
1.1.4.1 Kết hợp phân tích định tính và định lượng:
- XHTD kết hợp với các tiêu chí định tính và định lượng thông qua việc phân tích, đánh giá và cho điểm đối với từng tiêu chí Phân tích định tính để bổ sung cho những phân tích định lượng
Trang 10- Phê duyệt kết quả: kết quả của XHTD phải được phê duyệt bởi cấp cao hơn của người chẩm điểm và xếp hạng, hoặc được xếp hạng tự động qua hệ thống máy tính, dưới sự phản biện của người chấm điểm
- Tính đơn giản, dễ hiểu và dễ so sánh: kết quả XHTD phải đơn giản, dễ hiểu
và dễ so sánh: xây dựng thang điểm, các chỉ tiêu được cho điểm, sau đó tổng hợp lại
1.1.4.3 XHTD phải được thực hiện liên tục:
Mục đích của XHTD là đánh giá rủi ro hiện tại và dự báo rủi ro tương lai về khả năng trả nợ của KH Song hoạt động kinh doanh của DN thì diễn ra liên tục và biến đổi khôn lường, bởi vậy việc XHTD phải được thực hiện liên tục theo các báo cáo tài chính của DN
Trang 1111
Sơ đồ 1.1 Các bước xếp hạng tín dụng nội bộ doanh nghiệp
1.1.5.1 Thu thập thông tin:
Thu thập thông tin liên quan đến các chỉ tiêu sử dụng trong phân tích đánh giá, thông tin xếp hạng của các tổ chức tín dụng khác liên quan đến đối tượng xếp hạng Chủ yếu là lấy từ báo cáo tài chính của DN vay vốn bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tề
- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính
Số lượng thông tin cần thu thập phụ thuộc vào mục tiêu và kinh nghiệm của người phân tích Sự chính xác toàn diện của thông tin là yếu tố quyết định đến kết quả phân tích Hơn nữa, ngoài những nguồn thông tin chính thức từ hệ thống báo cáo tài chính, cần phải thu thập thêm các thông tin phi tài chính như: thông tin từ các đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp yếu tố đầu vào, KH, các đại lý tiêu thụ của DN…
tế Hu
ế
Trang 121.1.5.2 Phân loại theo ngành và quy mô:
Mỗi ngành nghề kinh doanh có những đặc điểm riêng biệt, tính chất hoạt động khác nhau chịu tác động của các yếu tố khác nhau gây ảnh hưởng lớn đến khả năng trả nợ của DN Quy mô của DN là yếu tố vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của các DN trên thị trường Với những DN có quy mô lớn sẽ có lợi thế về quy mô giá thành sản phẩm thấp, đa dạng hóa sản phẩm, vốn lớn có thể đầu tư theo chiều sâu cải tiến thiết bị và ngược lại
1.1.5.3 Phân tích và chấm điểm các chỉ tiêu:
Phân tích bằng mô hình để kết luận về mức xếp hạng Sử dụng đồng thời chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính Các chỉ tiêu tài chính được chấm điểm dựa trên ngành nghề và quy mô của DN thường gồm: chỉ tiêu thanh khoản, chỉ tiêu cân
nợ, chỉ tiêu hoạt động và chỉ tiêu thu nhập Với mỗi chỉ tiêu có một mức điểm và trọng số khác nhau Các chỉ tiêu phi tài chính thường gồm chỉ tiêu về khả năng trả
nợ, uy tín giao dịch với NH, lưu chuyển tiền tệ…
1.1.5.4 Đưa ra kết quả XHTD:
Sau khi chấm điểm các chỉ tiêu tài chính, phi tài chính, cán bộ tín dụng (CBTD) tổng hợp điểm bằng việc nhân với các trọng số tương ứng Để đưa ra kết quả xếp hạng, CBTD sẽ đối chiếu tổng điểm KH đạt được với bảng phân loại KH
và đưa ra kết quả xếp hạng KH
1.1.5.5 Phê chuẩn và sử dụng kết quả xếp hạng:
Để đảm bảo hệ thống XHTD phù hợp với thực tiễn, kết quả xếp hạng phản ánh được chính xác mức độ rủi ro của từng KH, các NH cần định kỳ ra soát để chỉnh sửa hoàn thiện hệ thống
1.1.6 Một số nhân tố ảnh hưởng đến kết quả XHTD doanh nghiệp:
1.1.6.1 Nhân tố chủ quan:
- Thứ nhất, là chất lượng thông tin về DN Chất lượng thông tin đóng vai trò quan trọng trong quá trình chấm điểm Giá trị của kết quả chấm điểm phụ thuộc vào tính chính xác, đầy đủ và được cập nhật thường xuyên của thông tin Để có thể đưa
tế Hu
ế
Trang 1313
ra được mức hạng tương đối chính xác về DN thì nguồn thông tin phải được thu thập, hệ thống trong một thời gian dài, có như vậy mới đảm bảo được giá trị thời gian đối với việc tính toán, cho điểm các chỉ tiêu được sử dụng trong chương trình chấm điểm
- Thứ hai, việc xây dựng chương trình chấm điểm, bên cạnh nguồn thông tin phải chính xác thì một chương trình chấm điểm khoa học, hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế cũng đóng vai trò quan trọng không kém
- Thứ ba, trình độ chuyên môn hóa của cá nhân thực hiện công việc chấm điểm Đây không phải là công việc chỉ đơn thuần là “cho điểm” mà nó là một công việc khó, đòi hỏi phải thực hiện cả công việc phân tích và đưa ra các đánh giá mang tính chính xác, cần thiết, hỗ trợ cho công việc quản lý cũng như đầu tư của NH
- Môi trường công nghệ: công nghệ là nguồn thay đổi năng động nhất trong kinh doanh Sự thay đổi này mang lại những thách thức cũng như những đe dọa đối với DN Ảnh hưởng của công nghệ đối với hoạt động kinh doanh của DN thể hiện qua: vòng đời của sản phẩm ngày càng ngắn hơn, xuất hiện nhiều phương pháp chế biến mới, tự động hóa và tăng năng suất, chi phí đào tạo nhân công nhiều hơn, chi phí cho việc nghiên cứu và triển khai đa dạng hơn, cung cách làm việc công nghiệp hơn…
- Môi trường pháp luật: các đạo luật, các chính sách bảo vệ cho người tiêu dùng, các tổ chức kinh tế và bảo vệ môi trường, bảo vệ sự cạnh tranh, chống độc
tế Hu
ế
Trang 14quyền sẽ tạo ra những phạm vi hoạt động rộng rãi cho các DN hoặc các chính sách pháp luật cũng có thể là những nguy cơ đối với DN khi áp dụng chính sách mới
- Các nhân tố bên trong DN như: chiến lược kinh doanh, vòng đời của DN, các sản phẩm, đặc thù của các thị trường cung cấp và tiêu thụ, khả năng cạnh tranh… cũng sẽ ảnh hưởng đến kết quả xếp hạng của DN
1.2 Một số mô hình xếp hạng tín dụng doanh nghiệp được áp dụng ở quốc tế và Việt Nam:
1.2.1 Mô hình xếp hạng tín dụng doanh nghiệp trên thế giới:
1.2.1.1 Mô hình toán học chấm điểm tín dụng z-score:
Mô hình Altman Z-score được công bố năm 1968 bởi Edward Altman, đại học New York Mô hình được sử dụng để tính toán và dự báo khả năng vỡ nợ của DN trong vòng 02 năm Mô hình Z-score là một trong những mô hình tính toán khả năng vỡ nợ tài chính của DN với lợi thế dễ tính toán do sử dụng các dữ liệu từ báo cáo tài chính để tính toán
Z-score sử dụng mô hình tuyến tính bậc nhất giữa các chỉ tiêu tài chính được lượng hóa bằng các hệ số Mô hình sử dụng phương pháp hồi quy dựa trên cơ sở dữ liệu trong quá khứ và từ đó đưa ra dự báo cho tương lai
Các biến thiên của mô hình Altman Z – score:
Chỉ số Z được xây dựng bởi Edward I Altman (1968), Đại Học New York, dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số lượng lớn các công ty khác nhau tại
Mỹ Chỉ số Z là công cụ được cả hai giới học thuật và thực hành, công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới Mặc dù chỉ số Z được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao như Mexico, Ấn Độ Chỉ số này dựa trên phương pháp thống kê với công cụ phân tích biệt số đa yếu tố (MDA) Chỉ số Z bao gồm 5 tỷ số X1, X2, X3, X4, X5:
Trang 1515
Vốn luân chuyển = tài sản ngắn hạn - nợ ngắn hạn
Những khoản thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sẽ làm giảm tỷ số X1
Tỷ số này đo lường lợi nhuận giữ lại tích lũy qua thời gian Sự trưởng thành của công ty cũng được đánh giá qua tỷ số này Các công ty mới thành lập thường có
tỷ số này thấp vì chưa có thời gian để tích lũy lợi nhuận hoạt động trong 5 năm
Sự tồn tại và khả năng trả nợ của công ty sau cùng đều dựa trên khả năng tạo
ra lợi nhận từ tài sản đó Vì vậy, tỷ số X3 theo Altman thể hiện tốt hơn các thước đo
tỷ suất sinh lợi
Nợ = nợ ngắn hạn + nợ dài hạn
Vốn cố phần = Cổ phần thường + cổ phần ưu đãi
Tỷ số này cho biết giá trị tài sản công ty sụt giảm bao nhiêu lần trước khi công
ty lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Nếu tỷ số này thấp hơn 1/3 thì xác suất công ty phá sản là rất cao
Đối với công ty chưa cổ phần hóa thì giá trị thị trường được thay bằng giá trị
Trang 16X5 thay đổi trên một khoảng rộng đối với các ngành khác nhau và các quốc gia khác nhau
Từ một chỉ số Z ban đầu, Altman phát triển thêm Z' và Z" để có thể áp dụng theo từng loại hình của doanh nghiệp:
Đối với DN đã cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z = 1.2X1 + 1.4X2 + 3.3X3 + 0.64X4 + 0.999X5 Đối với DN chưa cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z' = 0.717X1 + 0.847X2 + 3.107X3 + 0.42X4 + 0.998X5 Đối với các DN phi sản xuất:
Z" = 6.56X1 + 3.26X2 + 6.72X3 + 1.05X4 Chỉ số Z (hoặc Z’ và Z’’) càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp
Để tăng được chỉ số này đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản trị, rà soát để giảm những tài sản không hoạt động, tiết kiệm chi phí hợp lý, xây dựng thương hiệu Đó chính là sự kết hợp gián tiếp của nhiều yếu tố tài chính và phi tài chính trong mô hình mới tạo được chỉ số an toàn
1.2.1.2 Mô hình xếp hạng tín dụng của Fitch:
Fitch xếp hạng DN dựa trên phân tích định tính và phân tích đinh lượng Phương pháp phân tích của Fitch bao gồm phân tích dữ liệu tài chính và hoạt động kinh doanh của DN trong khoảng thời gian ít nhất là 5 năm Mục tiêu chủ yếu trong cách tiếp cần của Fitch là phân tích so sánh mà Fitch sử dụng để đánh giá sức mạnh của mỗi DN và rủi ro kinh doanh trong mối quan hệ với các DN khác trong cũng một nhóm các DN tương đồng Thêm vào đó, phân tích độ nhạy cũng được thực hiện thông qua một vài kịch bản để đánh giá khả năng của DN khi đương đầu với những thay đổi trong môi trường kinh doanh Một nhân tố xếp hạng then chốt theo Fitch là tính linh hoạt tài chính mà nó dựa phần lớn vào khả năng tạo ra dòng tiền tự
do từ hoạt dộng kinh doanh của DN
Trang 171.2.1.3 Mô hình XHTD của Moody’s:
Moody’s thiết lập 11 tỷ số chung nhất để sử dụng trong phân tích so sánh, các tỷ
số này đƣợc Moody’s ứng dụng rộng rãi ở những quốc gia khác nhau, những ngành khác nhau và cả ở các báo cáo XHTD doanh nghiệp Tuy nhiên, trong quy trình cụ thể, Moody’s có thể xem xét bớt hoặc thêm vào các chỉ tiêu cho phù hợp với từng ngành riêng biệt Theo báo cáo của Moody’s, họ nghiên cứu khoản 50% các công ty phi tài chính của Mỹ về phân phối của 11 tỷ số trên tất cả các ngành theo hạng mức tín dụng từ cao đến thấp ( tính tỷ số trung bình từng ngành) Trong đó, 5 tỷ số có mối quan hệ mạnh mẽ với các hạng mức tín nhiệm ngành từ Aaa đến C
Bảng 1.1: Phân phối 11 tỷ số chính của Moody’s theo hạng mức tín nhiệm
Tổng nợ/EBITDA
Tổng nợ/Giá trị sổ sách của vốn
Trang 181.2.1.4 Mô hình xếp hạng tín dụng của Standar & Poor’s:
Cũng như Fitch, phương pháp xếp hạng của S&P bao gồm cả phân tích định tính và định lượng S&P cũng tập trung nhiều vào phân tích dòng tiền và khả năng thanh toán trong quá khứ Về phân tích khả năng sinh lợi, theo tiêu chuẩn xếp hạng
DN 2006, là một phần trong bước phân tích rủi ro tài chính của DN nhưng theo tiêu chuẩn XHTDDN 2008, S&P nhấn mạnh khả năng sinh lợi như một phần của bước đánh giá rủi ro kinh doanh và năng lực cạnh tranh
Trong quy trình xếp hạng, S&P phân loại theo rủi ro là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính
Rủi ro kinh doanh bao gồm rủi ro ngành, khả năng cạnh tranh, vị thế DN trong ngành, lợi thế kinh tế, khả năng sinh lợi trong sự so sánh với các DN khác trong nhóm tương đồng S&P nhấn mạnh nhân tố chính trong rủi ro kinh doanh là khả năng cạnh tranh của DN
Rủi ro tài chính gồm phân tích chính sách tài chính, thông tin kế toàn, khả năng đáp ứng của dòng tiền, cấu trúc vốn, khả năng thanh toán ngắn hạn
tế Hu
ế
Trang 1919
Nhìn chung, các tổ chức XHTD hàng đầu trên thế giới gồm Fitch, S&P, Moody's sử dụng chủ yếu phương pháp chuyên gia, đánh giá một cách toàn diện về nền kinh tế, ngành và công ty Tuy nhiên, dù sử dụng phương pháp mô hình toán học hay phương pháp chuyên gia, mỗi hệ thống XHTD đều có một số khuyết điểm nhất định Nếu như phương pháp định lượng cần sự hỗ trợ của các nhân tố mềm thì phương pháp chuyên gia, tự thân đã chứa đựng rủi ro do yếu tố chủ quan trong xếp hạng
1.2.1.5 Bài học kinh nghiệm ở Việt Nam:
Phương pháp xếp hạng: sử dụng 3 phương pháp xếp hạng: phương pháp chuyên gia, phương pháp mô hình toán học và phương pháp kết hợp Tùy vào đặc thù của từng loại DN và ngành nghề cũng như khả năng của tổ chức XHTD mà lựa chọn phương pháp thích hợp nhất
Chuẩn hóa bảng XHTD doanh nghiệp: Việc XHTD cần được chia hạng tín nhiệm theo thang quy ước phổ biến trên thế giới, đó là hệ thống ký hiệu bằng bốn chữ cái A, B, C, D và được sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp tùy theo mức độ rủi ro được đánh giá
Chỉ tiêu phân tích: Các chỉ tiêu phân tích phải bao gồm cả chỉ tiêu tài chính và phi tài chính Việc xây dựng các chỉ tiêu tài chính phải đặt trong môi trường ngành kinh tế, quy mô của DN, điều này giúp các NHTM có những đánh giá chính xác và xác thực về DN Vì vậy cần phải xây dựng khung XHTD với từng ngành nghề lĩnh vực kinh doanh cụ thể Đối với các chỉ tiêu phi tài chính phải chi tiết hóa các hạng mục trong các chỉ tiêu đặc biệt cần phải đổi mới các chỉ tiêu phù hợp trong điều kiện hệ thống chính sách pháp luật, kinh tế Việt Nam có nhiều biến động như hiện nay
Xây dựng cơ sở dữ liệu ngành tại hệ thống NHTM: trong phân tích xếp hạng, các chỉ tiêu tài chính sau khi được tính toán đều được so sánh với chỉ tiêu ngành Đây là chỉ tiêu quan trọng cho phép đánh giá tình hình tài chính của DN lành mạnh hay yếu kém Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có những nghiên cứu thống kế đầy đủ
tế Hu
ế
Trang 20và có độ tin cậy cao về các chỉ số tài chính trung bình ngành để có thể làm chuẩn trong phân tích tình hình tài chính của DN Do đó, đòi hỏi các NHTM cần có những chuyên gia giỏi, am hiểu về tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế có thể xây dựng một
bộ chỉ tiêu ngành có độ tin cậy cao phù hợp với từng loại hình DN trong từng lĩnh vực hoạt động cho NH
Các tổ chức XHTD độc lập cần có nhiều sản phẩm xếp hạng cung cấp cho NH tham khảo: các NHTM nước ngoài đều tham khảo kết quả XHTD của các tổ chức xếp hạng nổi tiếng như S&P, Fiting rating’s… trước khi đưa ra kết quả xếp hạng
DN Do vậy, các tổ chức XHTD độc lập trong nước cần thực hiện xếp hạng nhiều loại hình tổ chức hơn chứ không phải chỉ xếp hạng riêng đối với loại hình công ty
cổ phần để phục vụ cho thị trường chứng khoán như hiện nay Việc tham khảo kết quả xếp hạng sẽ giúp NH có những đánh giá chính xác và đáng tin cậy, hạn chế những rủi ro tổn thất xảy ra
Cải tiến công nghệ thông tin: công nghệ thông tin là một trong những yếu tố quan trọng phục vụ cho công tác XHTD theo thông lệ quốc tế để đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM Đây cũng là đòi hỏi để tạo ra sức mạnh tổng hợp cho
hệ thống NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Kết quả XHTD chỉ có giá trị trong một thời gian nhất định, vì vậy mà các NHTM phải luôn theo sát các DN được xếp hạng để có sự điều chỉnh và đưa ra kết quả chính xác Đồng thời phải đổi mới khung XHTD cho phù hợp với điều kiện biến động của ngành, nền kinh tế từng thời kỳ
Cần thúc đẩy xây dựng những tổ chức XHTD hoạt động theo mô hình công ty kinh doanh và độc lập
1.2.2 Một số hệ thống xếp hạng tín dụng ở Việt Nam:
1.2.2.1 Hệ thống xếp hạng của trung tâm tín dụng CIC:
Do thị trường tài chính chậm phát triển so với khu vực và trên thế giới nên các
tổ chức XHTD ở Việt Nam cũng được thành lập muộn hơn Năm 1993, tổ chức XHTD đầu tiên của Việt Nam mới được thành lập, đó là trung tâm thông tin tín
tế Hu
ế
Trang 2121
dụng Việt Nam (gọi tắt là CIC) Đây là tổ chức sự nghiệp Nhà nước thuộc NH Nhà nước Việt Nam, có chức năng thu nhận, lưu trữ, phân tích, xử lý, dự báo thông tin tín dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước của NH Nhà nước; thực hiện các dịch vụ thông tin NH theo quy định của NH Nhà nước và của pháp luật
Kho dữ liệu của CIC hiện nay đã thu thập thông tin từ 100% các TCTD hoạt động theo Luật các TCTD, một số tổ chức khác có hoạt động NH như quỹ đầu tư và phát triển đô thị TPHCM, Bình Dương, Đà Nẵng, Quỹ bảo vệ môi trường,… với tổng dư nợ được cập nhật đạt trên 95% tổng dư nợ nền kinh tế
Phương pháp của CIC thiên về lịch sử vay vốn, quan hệ với các tổ chức tín dụng của DN hơn là phân tích chuyên sâu về khả năng cạnh tranh của DN, cũng như khả năng đảm bảo trả nợ của doanh nghiệp
Thông tin mà CIC cung cấp cho các đối tượng có nhu cầu tập trung về tình hình hoạt động của DN, về Ban lãnh đạo, các chi nhánh, văn phòng đại diện, thông tin về quan hệ tín dụng (danh sách tổ chức tín dụng quan hệ, diễn biến dư nợ trong
kỳ, tình hình vay nợ và nợ không đủ tiêu chuẩn của DN), tình hình tài chính qua các năm, bảng so sánh chỉ tiêu tài chính qua các năm, bảng tính điểm tình hình hoạt động DN qua các năm, các chỉ tiêu phi tài chính, nhận xét chung về tình hình hoạt động và vay nợ của DN
1.2.2.2 Công ty cổ phần XHTDDN Việt Nam (CRV)
Công ty CRV thành lập ngày 05/12/2006, là một tổ chức độc lập cung cấp thông tin tín nhiệm của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và thông tin tín nhiệm của các ngành kinh tế nói chung Ngoài ra công ty còn mở rộng cung cấp thông tin tín dụng cho hầu hết các DN lớn ở Việt Nam, các DN đang giao dịch trên thị trường OTC và các DN Việt Nam nói chung
Phương pháp xếp hạng của CRV dựa trên một quy trình đánh giá bao gồm hơn
100 chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, đã có tham khảo công nghệ của các tổ chức đánh giá tín nhiệm nổi tiếng trên thế giới Mô hình CRV sử dụng là mô hình phân tích DA (Discriminent Analise) Mục tiêu chung của DA trong XHTD là phân biệt
tế Hu
ế
Trang 22DN có nguy cơ phá sản và DN không có nguy cơ phá sản một cách khách quan và chính xác nhất, bằng việc sử dụng hàm phân biệt, trong đó biến số là các chỉ tiêu tài chính Mục tiêu chính là tìm một hệ các tổ hợp tuyến tính của các biến nhằm phân biệt tốt nhất các nhóm, các cá thể trong mỗi nhóm gần nhau nhất và các nhóm được phân biệt tốt nhất (xa nhau nhất)
Từ năm 2012, CRV mỗi năm đưa ra một báo cáo thường niên chỉ số tín nhiệm Việt Nam, cung cấp thông tin tín nhiệm của các DN đồng thời đánh giá rủi ro của các ngành kinh tế
1.2.2.3.Công ty thông tin tín nhiệm và xếp hạng DN (C&R)
Công ty C&R thành lập vào năm 1996, là một trong những công ty hoạt động chuyên về thông tin tín nhiệm đầu tiên tại Việt Nam VietnamCredit (C&R) là thành viên chính thức duy nhất tại Việt Nam của Cổng thông tin tín nhiệm châu Á-Asiagate (Asia Credit Information Gateway) Công ty sử dụng các chuyên gia để viết báo cáo tín nhiệm về công ty, về ngành kinh tế và báo cáo rủi ro khác Song thông tin mà công ty C&R đưa ra khá giống với thông tin mà CIC đưa ra trước đó,
đó là đưa ra các thông tin về hồ cơ công ty (tên, địa chỉ ngành nghề kinh doanh, lịch
sử hoạt đông,…) và xếp hạng của riêng họ
tế Hu
ế
Trang 2323
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI
BỘ KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM- CHI NHÁNH HUẾ
2.1 Tổng quan về NHTMCP Quốc Tế Việt Nam-chi nhánh Huế:
2.1.1 Giới thiệu chung về NHTMCP Quốc Tế- chi nhánh Huế:
NH Quốc Tế Việt Nam (VIB) được thành lập năm 1996 trụ sở đặt tại 16 Phan
Chu Trinh, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, được thành lập theo quyết định số
22/QĐ/NH5 ngày 25/1/1996 của Thống đốc NH Nhà nước Việt Nam.Từ khi bắt đầu hoạt động ngày 18/9/1996, NH Quốc Tế đang phát triển thành một trong những tổ chức tài chính trong nước dẫn đầu thị trường Việt Nam Sau gần 20 năm hoạt động, VIB đã trở thành một trong những NHTMCP lớn với hơn 3.500 cán bộ nhân viên phục vụ KH tại gần 160 chi nhánh và phòng giao dịch tại trên 27 tỉnh thành, phục
vụ hơn 1,3 triệu KH cá nhân, KH doanh nghiệp và định chế tài chính NH Quốc Tế
đang tiếp tục củng cố vị trí của mình trên thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam Năm 2014, VIB đã đạt lợi nhuận trước thuế 648 tỷ, tương đương 201% so với
kế hoạch do Đại hội đồng cổ đông giao từ đầu năm Cũng trong năm này, VIB là
NH duy nhất được tổ chức XHTD quốc tế Moody’s nâng hạng, trở thành một trong hai NH có chỉ số sức mạnh tài chính cao nhất trong số 9 NH lớn ở Việt nam được Moody’s đánh giá và lần thứ 2 vinh dự trở thành “Nhà phát hành xuất sắc nhất Châu Á-Thái Bình Dương” do Tổ chức tài chính quốc tế IFC trao tặng trong khuôn khổ hợp tác chương trình tài trợ thương mại toàn cầu (GTFP)
Với các giải pháp công nghệ sáng tạo và hướng đến KH, VIB đã đạt giải
“Lãnh đạo công nghệ tiêu biểu khu vực Đông Nam Á năm 2014” do tổ chức IDG trao tặng
Tăng trưởng tín dụng cho KH đạt 43.704 tỉ, tăng 12% so với năm 2013 Trong quá trình hoạt động, NH Quốc Tế đã được các tổ chức uy tín trong nước, nước ngoài và cộng đồng xã hội ghi nhận bằng nhiều danh hiệu và giải thưởng như:
tế Hu
ế
Trang 24danh hiệu “Thương hiệu mạnh Việt Nam”, danh hiệu “NH có dịch vụ bán lẻ được hài lòng nhất”, “NH thanh toán quốc tế xuất sắc”, “NH có chất lượng dịch vụ KH tốt nhất”
2.1.2 Tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi, chiến lược kinh doanh của VIB:
Là một trong những NH tiên phong trong việc cải tổ hoạt động kinh doanh
NH Quốc Tế luôn định hướng lấy KH làm trọng tâm, lấy chất lượng dịch vụ và giải pháp sáng tạo làm phương châm kinh doanh với quyết tâm “Trở thành NH luôn sáng tạo và hướng tới KH nhất Việt Nam” Một trong những sứ mệnh được ban lãnh đạo NH Quốc Tế xác định ngay từ đầu là “Vượt trội trong việc cung cấp các giải pháp sáng tạo nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của KH” Do vậy, hiện nay NH Quốc Tế đã và đang tăng cường hiệu quả sử dụng vốn, cùng năng lực quản trị điều hành, tiếp tục chú trọng phát triển mạng lưới NH bán lẻ và các sản phẩm mới thông qua các kênh phân phối đa dạng để cung cấp các giải pháp tài chính trọn gói cho nhóm KH trọng tâm, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ KH ngày càng tốt hơn NHTMCP Quốc Tế Việt Nam – Chi nhánh Huế ( VIB Huế) được thành lập từ ngày 08/08/2007, có trụ sở chính tại 51 Hai Bà Trưng, phường Vĩnh Ninh, TP Huế Trải qua gần 5 năm hoạt động, mạng lưới được mở rộng với 1 chi nhánh và 2 phòng giao dịch (VIB Trường Tiền, VIB Đông Ba); 10 máy ATM, gần 70 POS cùng với chất lượng dịch vụ vượt trội
NH Quốc Tế khu vực Huế đã ngày càng khẳng định là một thương hiệu mạnh tại địa bàn Là một NH đa năng, VIB cung cấp những sản phẩm, dịch vụ hiện đại, tiện ích cho KH
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban:
2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy:
Bộ máy quản lý tại chi nhánh Huế được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng khá gọn nhẹ, vừa đảm bảo tính linh hoạt trong quản lý vừa giúp tiết kiệm trong chi phí
tế Hu
ế
Trang 2525
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của NHTMCP Quốc Tế:
( Nguồn: Website: www.Vib.com.vn) Quan hệ trực tuyến:
- Thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ nhân viên trong NH, quản lý
và bảo quản tài sản của chi nhánh nhƣ ô tô, kho vật liệu dự trữ của cơ quan theo đúng nhiệm vụ và một số nhiệm vụ khác
Trang 26- Nghiên cứu đề xuất các biện pháp giải quyết vướng mắt trong hoạt động kinh doanh tại NH Quốc Tế, phản ánh kịp thời những vấn đề, nhiệm vụ mới phát sinh để báo cáo Giám đốc xem xét và giải quyết
- Phân tích hoạt động kinh doanh của KH vay vốn, báo cáo công tác tín dụng cho lãnh đạo
- Thực hiện việc thu chi cho KH đến giao dịch, đảm bảo an toàn tài sản
- Thanh toán quốc tế, thu hút và chi trả ngoại hối
2.1.3.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP Quốc Tế:
Năm 2014, mặc dù nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thực sự có dấu hiệu rõ ràng
về việc phục hồi, VIB vẫn đạt được những chỉ tiêu tài chính khả quan: Lợi nhuận sau thuế của VIB là 523 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 648 tỷ đồng Các yếu tố dẫn đến sự tăng trưởng về lợi nhuận này bao gồm:
Doanh thu thuần đạt 3.470 tỷ đồng, tăng 38% so với năm trước, với tổng tài sản đạt 80.661 tỷ đồng; Số dư tín dụng đạt 44.004 tỷ đồng (bao gồm cả 3.520 tỷ đồng trái phiếu DN và 2.305 tỷ đồng trái phiếu VAMC); Tiền gửi của KH đạt 49.052 tỷ đồng, tăng 13%, trong đó tiền gửi không kỳ hạn tăng 19%
tế Hu
ế
Trang 2727
Chi phí hoạt động được kiểm soát tốt, chỉ tăng 4.6% so với năm 2013 trong khi chúng ta tiếp tục đầu tư vào nhân sự, hệ thống và tài sản Tốc độ tăng trưởng doanh thu cao hơn chi phí giúp tỷ lệ chi phí trên thu nhập từ hoạt động NH cốt lõi giảm từ 59% xuống 56%
Tăng trưởng tín dụng cho KH đạt 43.704 tỉ, tăng 12% so với năm 2013
Tỷ lệ nợ xấu của VIB được kiểm soát ở mức tốt 2,51%, giảm so với năm 2013 (2,82%) Chất lượng danh mục tín dụng được đảm bảo
Trong năm 2015, NH Quốc Tế đặt ra mục tiêu kinh doanh với những chỉ tiêu tài chính
cơ bản: Tổng tài sản tăng 9% lên 88.251 tỷ đồng; Huy động vốn tăng 8% lên 53.000
tỷ đồng; VIB cũng dự tính 2 phương án tăng trưởng tín dụng Phương án 1, tín dụng chỉ tăng 11%, tương ứng dư nợ cho vay 42.380 tỷ đồng (theo chỉ tiêu NHNN đã
giao), Ở phương án 2, VIB đặt kế hoạch dư nợ tăng 27% trong 2015 lên 48.532 tỷ đồng, Nợ xấu tiếp tục duy trì ở dưới 3% theo quy định của NHNN
Bảng 2.1: Tình hình tài sản và nguồn vốn của NH Quốc Tế - CN Huế giai đoạn
2012-2014:
ĐVT: Triệu đồng
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
1 Tiền gửi của các TCTD khác 0 0 0 0 0 0
2 Tiền gửi của các tổ chức kinh
Trang 28Đạ i h
tế Hu
ế
Trang 29III Lợi nhuận trước thuế 1.827,2 2.182,1 3402,47 354,9 19,42 1220,37 55,9
(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp VIB HUế)
tế Hu
ế
Trang 30- Về thu nhập: Hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu mang lại thu nhập cho NH, trong đó thu từ lãi cho vay và từ hoạt động KDNH chiếm tỷ trọng lớn, hơn 90% tổng thu nhập của NH Mặc dù nền kinh tế Việt Nam nói chung và tình hình kinh tế của Thừa Thiên Huế nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, lạm phát tăng cao, chính sách tiền tệ thắt chặt làm cho các DN kinh doanh kém hiệu quả, dẫn đến nhu cầu vay vốn của các DN giảm đi, nhưng nhìn chung, thu nhập của NH qua các năm vẫn tăng Thu nhập năm 2013 là 27.921,9 triệu, tăng 6.687,2 triệu(tương ứng với tăng 34,95%) so với năm 2012; thu nhập năm 2014 là 35.098,16 triệu, tăng 7.176,5 triệu( tương ứng với tăng 25,7%) so với năm 2013 Thu nhập của NH tăng
là do CN có chính sách sàng lọc KH hiệu quả, khiến cho việc thu hồi nợ nhanh chóng, hơn nữa, CN đã tạo được lòng tin ở KH và có chính sách hỗ trợ lãi suất nên
DN tìm đến vay vốn tại chi nhánh nhiều hơn, năng suất lao động được cải thiện,vẫn tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống công nghệ và các giải pháp NH sáng tạo, thu hút nhân sự chất lượng cao và cải thiện mạnh mẽ thu nhập cho cán bộ nhân viên Năm 2014 tăng doanh thu so với năm 2013 là do VIB Huế đã tăng cường quản bá sản phẩm dịch vụ và nhờ sự nỗ lực của VIB đã đẩy mạnh triển khai hàng loạt các dịch vụ NH điện tử, thanh toán chuyển tiền, kiều hối tăng cao khiến cho thu nhập từ hoạt động KDNH tăng cao
- Về chi phí: cùng với thu nhập, khoản mục chi phí của NH tăng qua các năm nhưng không đồng đều Chi phí từ năm 2012 tới năm 2014 lần lượt là 19.407,50 triệu, 25.739,80 triệu và 31.695,69 triệu Trong đó, chi trả lãi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong phần chi phí, tiếp theo là chi phí cho hoạt động kinh doanh NH và các khoản chi khác
- Về lợi nhuận: nhìn chung, lợi nhuận của VIB tăng trưởng và khá ổn định qua các năm Lợi nhuận trước thuế cũng tăng qua các năm Năm 2013 là 2.182,1 triệu, tăng 354,9 triệu (tương ứng với 19,42%) so với năm 2012; của năm 2014 là 3.402,47 triệu, tăng 1.220,37 ( tương ứng với 55,9%) so với năm 2013
- Qua phân tích ta thấy, hoạt động kinh doanh của NH Quốc Tế trong những năm gần đây khá là hiệu quả và ổn định Lợi nhuận luôn ở mức dương và tăng dần,
tế Hu
ế
Trang 312.2 Thực trạng xếp hạng tín dụng nội bộ doanh nghiệp tại NHTMCP Quốc Tế:
2.2.1 Chính sách tín dụng của NHTMCP Quốc Tế - CN Huế:
NHTMCP Quốc Tế - CN Huế xây dựng chính sách tín dụng theo hướng đảm bảo tính chủ động và linh hoạt trong hoạt động thực tế nhằm nắm bắt tốt nhất các cơ hội phát triển đầu tư tín dụng theo mục tiêu kinh doanh từng thời kỳ, đảm bảo mục tiêu quản trị rủi ro theo hướng không tập trung quá cao cho một nhóm KH, những lĩnh vực ngành nghề có liên quan với nhau hay đối với một loại ngoại tệ
Chính sách tín dụng chú trọng tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan, quan điểm bình đẳng tới KH, không phân biệt thành phần kinh tế hay hình thức sở hữu, các ưu đãi tín dụng chỉ áp dụng căn cứ vào năng lực tài chính và mức độ rủi ro cũng như thiện chí trả nợ của từng KH Chính sách tín dụng cũng chú trọng đề cao trách nhiệm cá nhân nhằm nâng cao tính minh bạch và chất lượng trong hoạt động tín dụng
2.2.2 Văn bản quy định về XHTD của NHTMCP Quốc Tế:
Hoạt động XHTD của NH Quốc Tế được thực hiện theo quy định số 203/2009/QĐ –VIB ngày 2/2/2009, ngoài ra, còn căn cứ theo quy chế cho vay số 1356/2006/QC – VIB ngày 23/5/2006 của Hội đồng quản trị và được sửa đổi theo quy đinh số 4862/2007/QĐ – VIB ngày 29/11/2007 Quy định này quy định cả xếp XHTD doanh nghiệp và XHTD cá nhân
Tại quy định này, các khía cạnh cơ bản nhất của hoạt động XHTD đều được nêu rõ như : khái niệm XHTD, đối tượng và phạm vi XHTD, mục đích của XHTD , các nguyên tắc XHTD, đồng thời quy định còn nêu rõ việc cho điểm tín dụng căn
tế Hu
ế
Trang 32cứ vào tiêu chí nào, các tiêu chí đó được xác định ra sao, thang điểm được xác định
và cho ra sao Và phần quan trọng nhất đó là xác định việc xếp loại KH căn cứ vào điểm tín dụng:
Bảng 2.3: Bảng phân loại XHTD doanh nghiệp của NH Quốc Tế:
KH có năng lực trả nợ không kém nhiều so với
KH hàng được xếp hạng AAA Khả năng hoàn trả khoản vay được xếp là rất tốt
KH
KH có ít nguy cơ mất khả năng trả nợ hơn các nhóm từ B đến D Tuy nhiên KH này đang đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn hoặc các ảnh hưởng từ các điều kiện kinh doanh, tài chính và kinh tế bất lợi, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của KH
Nhóm 3 60-65 B Có nhiều nguy cơ mất khả năng trả nợ nhiều
tế Hu
ế
Trang 33nợ của KH
56-60 CCC KH hiện thời đang bị suy giảm khả năng trả nợ,
nó phụ thuộc vào độ thuận lợi của các điều kiện kinh doanh, tài chính kinh tế
Nợ
KH đã thực hiện các thủ tục xin phá sản hoặc
có các động thái tương tự nhưng việc trả nợ của
KH vẫn được duy trì
Nợ
KH mất khả năng trả nợ, tổn thất đã thực sự xãy ra
(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp VIB Huế) 2.2.3 Hệ thống công nghệ thông tin và phần mềm chấm điểm:
Việc XHTDDN của NH Quốc Tế được thực hiện thông qua hệ thống phần mềm trong hệ thống nội bộ của NH Các CBTD sau khi tiến hành thu thập thông tin tài chính và phi tài chính của KH sau đó sẽ nhập thông tin vào hệ thống nội bộ sau
đó hệ thống sẽ trả về kết quả Ngoài lần chấm lần đầu, số lần tối đa được sửa đổi với mỗi KH là 2 lần sau đó việc chấm điểm và xếp hạng buộc phải thực hiện duyệt điểm Việc xác nhận thông tin tài chính của KH chỉ được thực hiện duy nhất 1 lần Điều này tăng tính khách quan của mô hình xếp hạng và kết quả xếp hạng
tế Hu
ế
Trang 34( Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp VIB Huế)
Sơ đồ 2.2: Quy trình chấm điểm khi sử dụng phần mềm chấm điểm ở NH Quốc
Tế:
2.2.4 Quy trình chấm điểm tín dụng tại NH Quốc Tế:
Mô hình chấm điểm gồm hai phần là chấm điểm định lƣợng theo các chỉ số tính toán trực tiếp từ báo cáo tài chính của DN, và chấm điểm định tính trên cơ sở đánh giá của NH về các mặt của DN Thông tin dùng để chấm điểm DN là báo cáo tài chính năm gần nhất, thông tin phi tài chính cập nhật đến thời điểm chấm Tùy theo mức độ quan trọng mà giữa các chỉ tiêu và nhóm chỉ tiêu có trọng số khác nhau Căn cứ tổng điểm đạt đƣợc sau khi đã nhận điểm ban đầu với trọng số để xếp loại DN theo mức rủi ro tăng dần từ AAA (rủi ro thấp nhất) đến C (rủi ro cao nhất)
tế Hu
ế
Trang 3535
Hệ thống mới này chia theo 3 đối tượng: KH doanh nghiệp; KH cá nhân và
KH định chế tài chính Việc chấm điểm tín dụng KHDN được phân chia thành 2 nhóm KH: NHóm 1 gồm các DN quy mô lớn, trung bình và nhỏ, nhóm 2 gồm các
Trường hợp DN kinh doanh đa ngành nhưng không có ngành nào có doanh thu chiếm trên 50% tổng doanh thu thì NH có quyền được chọn ngành có tiềm năng phát triển nhất trong các ngành mà DN có hoạt động để chấm điểm và xếp hạng Ngoài ra còn căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế của DN Xác định và phân loại ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của DN theo 4 ngành chủ yếu là:
Nông, lâm và ngư nghiệp
DN
Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính
Chấm điểm các
chỉ tiêu phi tài
chính
Tổng hợp điểm
tế Hu
ế
Trang 36Còn nếu không có ngành nghề nào đáp ứng được điều kiện trên, NH được lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính
Cụ thể những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh được phân vào 4 ngành nghề chính như sau:
Bảng 2.4: phân loại theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh:
mỹ phẩm, văn hóa phẩm, vật liệu xây dựng, hàng điện
tử, máy móc, phương tiện giao thông vận tải, hóa chất ( bao gồm cả phân bón và thuốc trừ sâu), hàng tiêu dùng, hàng mỹ thuật, mỹ nghệ, khí đốt
Trang 3737
- Chăm sóc sức khỏe, làm đẹp
- Tư vấn, môi giới
- thiết kế thời trang, gia công may mặc
- Bưu chính viễn thông
- Vận tải đường bộ, đường song, đường sắt, hàng không
- Vệ sinh môi trường, văn phòng…
- sản xuất điện khí đốt
- Khai thác khoán sản
- Khai thác than, vật liệu xây dựng, dầu khí
(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp VIB Huế)
Bước 2: Xác định quy mô: Quy mô dựa trên các chỉ tiêu:
- Nguồn vốn kinh doanh: là tổng giá trị vốn đầu tư của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần và vốn khác của chủ sở hữu
- Số lao động: là số lao động thực tế sử dụng (được nêu ở bảng thuyết minh báo cáo tài chính hoặc các nguồn khác) tính bình quân trong 3 năm gần nhất
tế Hu
ế
Trang 38Trường hợp DN có thời gian thành lập và hoạt động dưới 3 năm thì tính bình quân lao động cho cả thời gian hoạt động
- Doanh thu thuần
- Tổng tài sản
Bảng 2.5: Tính quy mô doanh nghiệp
Trang 3939
Bảng 2.6 Kết quả chấm điểm quy mô doanh nghiệp:
(Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp VIB Huế)
Bước 3: Xác định loại hình sở hữu của DN:
Căn cứ vào đối tượng sở hữu, DN được chia thành các loại đối tượng khác nhau:
Bước 4: Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính:
Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính: NH sẽ so sánh các chỉ tiêu tài chính của DN với tiêu chuẩn trung bình của ngành cho điểm các chỉ tiêu này Tuy nhiên, trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả và tính chính xác trong công việc cho điểm các chỉ tiêu tài chính của DN thì NH nên thực hiện một cuộc điều tra thống kê về một mẫu các DN trong cùng một ngành nghề Mẫu điều tra phải có tính đại diện cao cho các DN hoạt động tốt và DN hoạt động kém trong cùng một ngành nghề Các chỉ tiêu tài chính của DN sau khi được tính toán sẽ tương ứng được chuyển sang một con số tỷ lệ phần trăm để thể hiện vị trí về tình hình tài chính của DN so với DN khác trong mẫu điều tra Sau đó, căn cứ vào các con số tỷ lệ phần trăm này và tiêu chuẩn trung bình ngành mà NH sẽ có nhận định đầy đủ hơn về mức rủi ro tài chính của DN và sau đó cho điểm các chỉ tiêu tài chính
tế Hu
ế
Trang 40Bảng 2.7: Các chỉ tiêu tài chính và ý nghĩa các chỉ tiêu trong hệ thống
ngắn hạn
2 Khả năng thanh
toán nhanh(lần)
=(Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho)/ nợ ngắn hạn
Đánh giá khả năng thanh khoản nhanh (loại trừ hàng tồn kho) đối với các khoản
Đánh giá khả năng tức thời của DN bằng tiền và các khoản tương đương tiền
tế Hu
ế