1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam

88 382 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ sự quan tâm trên đồng thời để giúp cho các nhà đầu tư trên thịtrường chứng khoán Việt Nam có thể đưa ra quyết định hợp lý nhằm mục đích sinhlợi cao nhất, tôi quyết định chọn

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VÀ KHỐI LƯỢNG CỔ PHIẾU GIAO DỊCH TRÊN THỊ

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Trang 2

Lời Cảm Ơn

Để hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên tôi chân thành cảm ơn tất cả quý Thầy cô giáo đã và đang công tác tại trường Đại học Kinh tế Huế đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy

và truyền đạt cho tôi những kiến thức, kĩ năng quý báu trong

suốt bốn năm học vừa qua.

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS.

Phan Khoa Cương, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp

đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành tốt khóa luận này.

Tôi cũng xin được gửi đến gia đình và bạn bè những lời cảm

ơn chân thành và sâu sắc vì những quan tâm, động viên và ủng

hộ đã dành cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện

đề tài.

Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu để hoàn thiện đề tài khóa luận, tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, kiến thức cũng

như kinh nghiệm thực tế nên đề tài không tránh khỏi những

thiếu sót, vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ quý Thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cám ơn!

Huế, ngày 20 tháng 05 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Huỳnh Vũ Thùy Dương

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ ii

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG iii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU iv

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1

Phần 1:ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Kết cấu đề tài 5

Phần 2:NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6

Chương I: TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VÀ KHỐI LƯỢNG CỔ PHIẾU GIAO DỊCH 6

1.1 Lý luận chung về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch 6

1.1.1 Chứng khoán 6

1.1.2 Cổ phiếu 7

1.1.3 Chỉ số giá chứng khoán VN-Index 9

1.1.4 Khối lượng cổ phiếu giao dịch 11

1.1.5 Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch 13

1.2 Các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch 15

1.2.1 Nghiên cứu tại các thị trường chứng khoán phát triển 15

1.2.2 Nghiên cứu tại các thị trường chứng khoán mới nổi 18

1.2.3 Nhận xét chung về kết quả các nghiên cứu đi trước 22

1.3 Tổng quan về phương pháp và mô hình nghiên cứu 25

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

1.3.1 Tính dừng 26

1.3.2 Mô hình VAR 28

1.3.3 Kiểm định quan hệ nhân quả Granger (Granger Causality) 29

1.3.4 Hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai 30

Chương II: PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VÀ KHỐI LƯỢNG CỔ PHIẾU GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 32

2.1 Tổng quan về tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam 32

2.1.1 Quá trình hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam 32

2.1.2 Tình hình Thị trường Chứng Khoán Việt Nam giai đoạn nghiên cứu: 01/01/2009 – 31/12/2014 33

2.2 Kết quả thực nghiệm 43

2.2.1 Dữ liệu nghiên cứu 43

2.2.2 Phân tích mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Thị trường chứng khoán Việt Nam 47

2.3 Đánh giá kết quả nghiên cứu 54

Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 59

3.1 Tăng tính minh bạch và hoàn thiện quá trình công bố thông tin 59

3.2 Nâng cao năng lực của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 61

3.3 Một số giải pháp khác 61

Phần 3:KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 68

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Mô hình VAR : Mô hình vector tự hồi quy

(Vector Autoregression Model)

Hàm IRF : Hàm phản ứng đẩy (Impulse Response

Function)

Kiểm định ADF : Kiểm định Augmented Dickey-Fuller

Kiểm định PP : Kiểm định Phillip-Perron

Mô hình MDH : Mô hình hỗn hợp của phân phối (The Mixture

of Distribution models)

Mô hình SAI : Mô hình thông tin truyền tải một cách tuần tự

(The Sequential Arrival Information models)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

Hình 2.1: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2009 33

Hình 2.2: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2010 34

Hình 2.3: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2011 36

Hình 2.4: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2012 38

Hình 2.5: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2013 40

Hình 2.6: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2014 41

Hình 2.7: Đồ thị thống kê mô tả dữ liệu 45

Hình 2.8: Hàm phản ứng đẩy IRF của biến R 50

Hình 2.9: Hàm phản ứng đẩy IRF của biến V 51

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê mô tả 44

Bảng 2.2: Kiểm định nghiệm đơn vị - tính dừng 46

Bảng 2.3: Độ trễ theo các tiêu chuẩn 47

Bảng 2.4: Mô hình VAR với độ trễ tối ưu là 4 48

Bảng 2.5: Kết quả kiểm định quan hệ nhân quả Granger 49

Bảng 2.6: Phân rã phương sai của biến R 52

Bảng 2.7: Phân rã phương sai của biến V 53

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch tại thị trường chứng khoánViệt Nam Kết quả từ mô hình VAR kiểm định Granger đã chỉ ra rằng mối quan hệgiữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch là mối quan hệ nhânquả 2 chiều Tuy nhiên, kết quả của hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sailại cho thấy rằng tại thị trường chứng khoán Việt Nam, mối quan hệ tác động qualại này còn chưa rõ ràng Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đề suất một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ1.1 Lý do lựa chọn đề tài

Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực cùng với sự ra đời của các tổ chứcquốc tế, các khối thị trường chung, đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triểnkinh tế với tốc độ và hiệu quả ngày càng cao, đặc biệt là giai đoạn hiện nay, trongđiều kiện nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thếgiới, thì hơn bao giờ hết thị trường chứng khoán càng khẳng định rõ vai trò và vị thếcủa mình đối với toàn bộ nền kinh tế Trải qua hơn 14 năm phát triển gắn liền với sựthăng trầm của nền kinh tế thế giới, quy mô và phạm vi của thị trường đang từngngày lớn mạnh với cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hiện đại, hoạt động sôi động, đạtđược hiệu quả rất cao không chỉ đóng vai trò tạo ra các công cụ có tính thanh khoảncao, là kênh cung ứng vốn cho nền kinh tế mà còn góp phần thực hiện tái phân phốicông bằng hơn, tạo cơ hội cho Chính phủ huy động các nguồn tài chính mà khônggây áp lực về lạm phát, đồng thời còn là kênh cung cấp thông tin tuyệt vời về cácchu kỳ kinh doanh trong tương lai

Sự phát triển mạnh mẽ và ngày càng hiệu quả của thị trường chứng khoán nhưhiện nay đã thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư Tuy nhiên để có thể tham gia mộtcách hiệu quả trong thị trường này, thì các nhà đầu tư cần có những kiến thức vàthông tin nhất định Thông tin tốt hay xấu, quá trình nắm bắt và xử lý thông tinnhanh hay chậm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của các giao dịch được thực hiện,hay nói cách khác chính điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà đầu tư TheoPGS.TS Trương Đông Lộc các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán thường rấtquan tâm đến khối lượng cổ phiếu giao dịch do đây có thể chứa đựng những thôngtin rất có giá trị về sự thay đổi giá cổ phiếu trong tương lai hay nói cách khác đóchính là lợi nhuận của các nhà đầu tư Khối lượng cổ phiếu giao dịch cung cấp sự

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

xác nhận thứ cấp quan trọng cho diễn biến về giá trên đồ thị, đồng thời gia tăngthêm những cảnh báo cho sự thay đổi sắp xảy đến trong xu hướng hiện tại Tuynhiên đây mới chỉ là những kết luận mang tính chất định tính Vậy, về mặt địnhlượng, liệu có mối quan hệ nào giữa giá và khối lượng giao dịch trên thị trườngchứng khoán hay không? Đây là vấn đề đang nhận được sự quan tâm của các nhàkinh tế tài chính trong nước nói riêng và trên thế giới nói chung trong nhiều nămgần đây Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá chứng khoán và khối lượng giaodịch đã được thực hiện ở cả các thị trường chứng khoán phát triển và thị trường mớinổi Mở đầu cho vấn đề này không thể nào không nhắc đến nghiên cứu của Karpoffvào năm 1987, ông đã tìm ra các bằng chứng về mối quan hệ tích cực giữa sự thayđổi giá và khối lượng giao dịch Các nghiên cứu của Hutson, Kearney và Lynch(2008), Chuang, Kuan và Lin (2009) cũng đã đưa ra các kết luận tương tự ở thịtrường chứng khoán Úc, Bỉ, Anh, Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Tây BanNha, Thụy Điển và Hoa Kỳ Ở các thị trường chứng khoán mới nổi, nghiên cứu củaMoosa và Al-Loughani (1996) chỉ ra rằng có mối quan hệ tác động qua lại giữa giá

cổ phiếu và khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Singapore và Thái Lan.Chuang, Liu và Susmel (2012) cũng tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ này trong

cả 10 thị trường chứng khoán ở khu vực Châu Á

Mặc dù mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch đã được nghiêncứu khá nhiều trong hơn hai thập kỷ qua, tuy nhiên, có rất ít những công trìnhnghiên cứu về đề tài này liên quan đến thị trường chứng khoán Việt Nam được công

bố Xuất phát từ sự quan tâm trên đồng thời để giúp cho các nhà đầu tư trên thịtrường chứng khoán Việt Nam có thể đưa ra quyết định hợp lý nhằm mục đích sinhlợi cao nhất, tôi quyết định chọn và thực hiện đề tài “Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam” qua đó hi vọng sẽ đóng góp vào kho tàng các đề tài nghiên cứu trong

lĩnh vực kinh tế tài chính cũng như sự phát triển của thị trường chứng khoán ViệtNam nói riêng và các thị trường chứng khoán trên toàn thế giới nói chung

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Thị trườngchứng khoán Việt Nam

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trênThị trường Chứng khoán Việt Nam

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Thị trường Chứng khoán Việt Nam.

Đề tài lựa chọn sử dụng dữ liệu về chỉ số giá chứng khoán (VN-Index) và khốilượng giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)

do khả năng đại diện tốt cho Thị trường Chứng khoán Việt Nam

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

Thời gian: từ 01/01//2009 – 31/12/2014.

Lý do lựa chọn: Trong khoảng thời gian từ 2000 – 2005 thị trường chứng khoán

chỉ mới ở giai đoạn khởi động, tích lũy kinh nghiệm, tạo đà cho sự phát triển về sau,thanh khoản thị trường lúc này khá kém do quy mô nhỏ và khối lượng giao dịch ít

Từ năm 2006 thị trường chứng khoán được xem có bước phát triển mang tính chấtđột phá với hoạt động giao dịch sôi động và mức tăng trưởng ấn tượng Tuy nhiên,đến năm 2008 với tác động của cuộc khủng hoảng thế giới, thị trường chứng khoánViệt Nam cũng theo đó sụt giảm mạnh khiến cho bất cứ nghiên cứu nào trong giaiđoạn này cũng mất ý nghĩa Từ năm 2009 trở đi thị trường bắt đầu tăng trưởng trởlại với các chỉ số chứng khoán bắt đầu hoàn thiện và trở về với quy luật vốn có Vìvậy, để đảm bảo tính hiệu quả, ý nghĩa thiết thực của đề tài, thời gian được chọn đểthu thập dữ liệu của các biến là 01/01/2009 – 31/12/2014

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Đề tài tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn các công trình nghiên cứutrong và ngoài nước về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổphiếu giao dịch Qua đó, tiến hành phân tích, so sánh các phương pháp và kết quảnhằm tìm ra điểm chung cũng như sự riêng biệt của từng nghiên cứu, từ đó tìm rahướng đi phù hợp

1.4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu:

Cơ sở lý luận, các khái niệm, công trình nghiên cứu của các tác giả trong vàngoài nước về về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếugiao dịch, thông tin tổng quan về tình hình thị trường chứng khoán và Sở Giao dịchchứng khoán thành phố Hồ Chí Minh được thu thập từ sách báo, các website, tạpchí chuyên ngành kinh tế, tài chính, chứng khoán

Dữ liệu hằng ngày về chỉ số VN-Index tại thời điểm đóng cửa thị trường vàkhối lượng giao dịch tổng cộng cả phiên (không tính đến khối lượng giao dịch thỏa

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

thuận do nó không ảnh hưởng tới chỉ số VN-Index) trên Sở Giao dịch chứng khoánthành phố Hồ Chí Minh được lấy từ bộ dữ liệu lịch sử của trang cophieu68.comtrong khoảng thời gian từ 01/01//2009 – 31/12/2014.

1.4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

- Thống kê mô tả: phân tích sơ bộ các đặc trưng kỹ thuật của dãy số liệu thuthập được để có cái nhìn tổng quát về đặc tính của các dãy số liệu bằng phần mềmEviews 8

- Kiểm định nghiệm đơn vị - tính dừng: đây là điều kiện tiên quyết khi đưa rakết luận có ý nghĩa trong phân tích đối với chuỗi thời gian và tăng độ chính xáccũng như độ đáng tin cậy của mô hình Để kiểm tra tính dừng của các chuỗi dữ liệutheo thời gian, đề tài sử dụng phương pháp ADF (Augmented Dickey-Fuller) và PP(Phillip-Perron)

- Mô hình tự hồi quy vector VAR 2 biến và kiểm định quan hệ nhân quảGranger: dùng để phát hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa biến động chỉ số giáchứng khoán và biến động khối lượng giao dịch, sự thay đổi chỉ số giá chứng khoán

có là nguyên nhân gây ra sự biến động của khối lượng giao dịch hay không vàngược lại

- Hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai: dùng để đánh giá mức độ tácđộng qua lại giữa sự thay đổi chỉ số giá chứng khoán và sự biến động của khốilượng giao dịch là mạnh hay yếu

1.5 Kết cấu đề tài

Chương I: Tổng quan về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối

lượng cổ phiếu giao dịch

Chương II: Phân tích mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng

cổ phiếu giao dịch trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam

Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Thị

trường chứng khoán Việt Nam

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

Phần 2 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương I TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỈ SỐ GIÁ

CHỨNG KHOÁN VÀ KHỐI LƯỢNG CỔ PHIẾU GIAO DỊCH1.1 Lý luận chung về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng

- Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ

- Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợpđồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán

1.1.1.2 Đặc điểm

Tính thanh khoản: Tính thanh khoản của một tài sản là thời gian và chi phí

chuyển đổi tài sản đó thành tiền mặt Tính thanh khoản cao hay thấp phụ thuộc vàokhoảng thời gian và chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi và rủi ro của việc giảmsút giá trị của tài sản đó do chuyển đổi Chứng khoán có tính thanh khoản cao hơn

so với các tài sản khác, thể hiện qua khả năng chuyển nhượng cao trên thị trường.Tính thanh khoản tạo ra sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư, thỏa mãn nhu cầu của họ,đồng thời cũng hạn chế rủi ro giảm sút giá trị tiền tệ của chứng khoán

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

Tính rủi ro: Chứng khoán là các tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác

động lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống Rủi ro

hệ thống hay còn gọi là rủi ro thị trường, chịu tác động của các điều kiện kinh tếchung như: lạm phát, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất v.v Rủi ro phi hệ thống làloại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản riêng lẻ hoặc một nhóm nhỏ các tài sản vàthường liên quan tới điều kiện của nhà phát hành Các nhà đầu tư thường quan tâmtới việc xem xét, đánh giá các rủi ro liên quan, trên cơ sở đó đề ra các quyết địnhtrong việc lựa chọn, nắm giữ hay bán các chứng khoán

Tính sinh lời: Chứng khoán là một tài sản tài chính mà khi sở hữu nó, nhà đầu

tư mong muốn nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương lai Thu nhập này đượcbảo đảm bằng khoản lợi tức được phân chia hằng năm mà người phát hành phải trảcho người sở hữu chứng khoán và việc tăng giá chứng khoán trên thị trường Khảnăng sinh lời bao giờ cũng quan hệ chặt chẽ với rủi ro của tài sản, thể hiện trongnguyên lý mức độ chấp nhận rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng lớn

1.1.1.3 Vai trò

Chứng khoán là công cụ rất hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường trong việc tạonên một lượng vốn tiền tệ khổng lồ tài trợ dài hạn cho các mục đích mở rộng sảnxuất kinh doanh của các doanh nghiệp hay các dự án đầu tư của Nhà nước và tưnhân Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá trị kinh tế hay nói cách khác đó làcông cụ tài chính có giá trị tương ứng như tiền mặt và được mua bán hoặc chuyểnnhượng Chứng khoán là một loại hàng hoá rất tiêu biểu trong cơ chế kinh tế thịtrường tự do

Trang 16

1.1.2.2 Đặc điểm

Tính thanh khoản: Cổ phiếu có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt một cách

dễ dàng Tuy nhiên, tính thanh khoản của cổ phiếu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố.Đầu tiên là kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành: thông thường, nếu tổ chứcphát hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trả cổ tức cao, cổ phiếu của công ty sẽthu hút nhà đầu tư và dễ dàng mua bán trên thị trường Thứ hai là mối quan hệ cungcầu: giá cổ phiếu phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu của nhà đầu tư trên thị trường.Ngoài ra, các nhân tố khác như đầu cơ, móc ngoặc, lũng đoạn chứng khoán của cánhân, tổ chức nhằm tạo ra cung cầu chứng khoán giả tạo cũng làm tính thanh khoảncủa cổ phiếu bị méo mó

Tính lưu thông: Tính lưu thông khiến cổ phiếu có giá trị như một loại tài sản

thực sự, giúp chủ sở hữu cổ phiếu thực hiện được những hoạt động như thừa kế,tặng, cho… để thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình

Tính tư bản giả: Cổ phiếu có tính tư bản giả, tức là cổ phiếu có giá trị như tiền.

Tuy nhiên, cổ phiếu không phải là tiền và nó chỉ có giá trị khi được đảm bảo bằngtiền Mệnh giá của cổ phiếu cũng không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu Với cổphiếu phổ thông thì mệnh giá chủ yếu mang tính chất danh nghĩa do giá trị của cổphiếu được quyết định bởi thị trường, nhưng với cổ phiếu ưu đãi thì mệnh giá gầnvới giá trị thực tế hơn, vì cổ tức được tính toán theo một số phần trăm nhất định củamệnh giá

Tính rủi ro cao: Về lý thuyết, khi đã phát hành, cổ phiếu không đem lại rủi ro

cho tổ chức phát hành, mà rủi ro lúc này thuộc về chủ sở hữu cổ phiếu Nguyênnhân là giá trị của cổ phiếu do các nguyên nhân khách quan quyết định, như kết quảkinh doanh của tổ chức phát hành, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của quốc gia

và toàn thế giới… Hơn nữa, giá trị cổ phiếu còn bị ảnh hưởng bởi tâm lý của sốđông nhà đầu tư khi nắm bắt các thông tin không chính xác hay chính sự thiếu hiểubiết của nhà đầu tư cũng khiến cổ phiếu rủi ro hơn Tất nhiên, rủi ro cao thường đikèm với kỳ vọng lợi nhuận lớn và điều này tạo nên sự hấp dẫn của cổ phiếu đối vớicác nhà đầu tư

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

1.1.2.3 Phân loại cổ phiếu:

- Căn cứ vào quyền lợi cổ đông: cổ phiếu bao gồm cổ phiếu phổ thông hay còngọi là cổ phiếu thường(common/ordinary stocks) và cổ phiếu ưu đãi (preferredstocks)

- Căn cứ vào khả năng chuyển nhượng: cổ phiếu ghi danh (name stocks), cổphiếu vô danh (bearer stocks)

- Căn cứ vào khả năng thu nhập và trạng thái doanh nghiệp phát hành: cổ phiếuthượng hạng (blue-chip), cổ phiếu tăng trưởng (growth stocks), cổ phiếu phòng vệ(defensive stocks), cổ phiếu thu nhập (income stocks), cổ phiếu chu kì (cyclicalstocks), cổ phiếu thời vụ (seasonal stocks)

- Căn cứ vào quyền tham gia bỏ phiếu: cổ phiếu đơn phiếu, cổ phiếu đa phiếu,

cổ phiếu lưỡng phiếu

- Căn cứ vào tình trạng phát hành: cổ phiếu được phép phát hành, cổ phiếu đãphát hành, cổ phiếu quỹ, cổ phiếu đang lưu hành

1.1.3 Chỉ số giá chứng khoán VN-Index

1.1.3.1 Khái niệm

Theo PGS.TS Nguyễn Minh Kiều thì chỉ số giá chứng khoán là chỉ báo giá cổphiếu phản ánh xu hướng phát triển của thị trường cổ phiếu, thể hiện xu hướng thayđổi của giá cổ phiếu và tình hình giao dịch trên thị trường Hay có thể hiểu đơn giảnchỉ số giá chứng khoán là thước đo bình quân giá các chứng khoán giao dịch trên thịtrường

Mỗi một thị trường chứng khoán có thể công bố một hoặc một vài chỉ số giáchứng khoán, đó có thể là chỉ số cho tất cả cổ phiếu trên thị trường của một quốcgia, như chỉ số giá Hangseng của Hồng Kông, chỉ số giá cổ phiếu tổng hợp của HànQuốc (KOSPI); cũng có thể là chỉ số cho từng ngành, nhóm ngành, như chỉ số giá

cổ phiếu ngành công nghiệp của Hoa Kỳ (DJIA) hoặc cho trường quốc tế như chỉ sốHangseng Châu á (HSAI), chỉ số Dow Joness quốc tế (DJWSI)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

Ở Việt Nam, trong giai đoạn đầu chỉ số giá chứng khoán VN-Index là chỉ sốduy nhất đại diện cho các cổ phiếu được niêm yết trên Trung tâm giao dịchchứng khoán Hiện nay, VN-Index là chỉ số được xây dựng dựa trên giá trị thịtrường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoánThành phố Hồ Chí Minh.

1.1.3.2 Ý nghĩa

Chỉ số giá chứng khoán (VN-Index) thể hiện xu hướng biến động giá tại Sở giaodịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có khả năng đại diện tốt, được coi làphong vũ biểu thể hiện tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam

Chỉ số giá chứng khoán luôn được theo dõi chặt chẽ và nhận được sự quan tâm

từ các nhà kinh tế học vì nó có liên quan chặt chẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xãhội của mỗi quốc gia và toàn thế giới

P1i, Q1i: Lần lượt là giá và số lượng cổ phiếu i tại thời điểm báo cáo

P0i, Q0i : Lần lượt là giá và số lượng cổ phiếu i tại thời điểm gốc được chọn là ngày28/07/2000

N : Số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số

Trong quá trình tính toán chỉ số, bên cạnh sự biến động về giá cổ phiếu làmthay đổi giá trị chỉ số, còn có một số nhân tố khác làm thay đổi như cơ cấu số cổphiếu niêm yết (thêm, bớt, tách, gộp cổ phiếu) Trong trường hợp này sẽ ảnh hưởngđến tính không liên tục của chỉ số, nghĩa là chỉ số ngày báo cáo không đồng nhất

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

với chỉ số ngày trước đó Do đó, cần phải thêm vào sự điều chỉnh này bằng hệ sốchia của công thức trên.

- Trường hợp có các cổ phiếu mới đưa vào niêm yết, hay tổ chức niêm yết tiếnhành nâng vốn, hệ số chia mới được tính như sau:

- Trường hợp một số loại cổ phiếu niêm yết hay tổ chức niêm yết tiến hành

giảm vốn, hệ số chia mới được tính như sau:

Các yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường:

- Giá chứng khoán: đây là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khối lượng

cổ phiếu giao dịch, thông thường đây là ảnh hưởng tích cực, làm tăng khối lượng cổphiếu giao dịch

- Khối lượng giao dịch của chính công ty phát hành: Hiện tượng mua lại cổphiếu của chính các công ty phát hành có ảnh hưởng tích cực, làm tăng khối lượng

cổ phiếu giao dịch

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

- Công ty phát hành thêm cổ phiếu: Thường có ảnh hưởng tiêu cực, làm giảmkhối lượng cổ phiếu giao dịch, khiến cho cổ phiếu bị “pha loãng” và giá cổ phiếulúc này sẽ giảm (theo một tỷ lệ nhất định phụ thuộc vào số lượng phát hành thêm).

- Hiện tượng mua bán trong nội bộ công ty: Nếu mua cổ phiếu hứa hẹn tiềmnăng phát triển trong tương lai, ảnh hưởng tích cực đến khối lượng giao dịch

1.1.4.2 Ý nghĩa

Việc phân tích khối lượng giao dịch là một công việc cần thiết nhằm khẳng địnhcác tín hiệu về giá cả Việc dự đoán giá cổ phiếu trong tương lai không chỉ đơnthuần dựa vào sự biến động giá mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong

đó không thể thiếu được khối lượng giao dịch

Trong một xu hướng giá tăng (uptrend), thông thường khối lượng sẽ gia tăngmột cách từ từ cùng với giá, điều này là sự hỗ trợ cho đà tăng trưởng, tiếp tục đẩymức giá lên cao Tuy nhiên, nếu có sự gia tăng một cách đột biến (thường là trên150% so với khối lượng trung bình 20 phiên) thì có khả năng đó là sự chốt lời đồngloạt của nhà đầu tư trên thị trường

Khi giá đang trong một xu hướng xuống (downtrend) thông thường khối lượng

sẽ giảm, các giao dịch có phần ảm đạm hơn khiến cho các cổ phiếu tiếp tục đà giảmgiá Tuy nhiên, nếu khối lượng tăng trưởng trở lại sẽ là dấu hiệu cho thấy đà giảmgiá có thể sẽ được hãm lại nhờ vào lực cầu bắt đáy (bottom-fishing) Thông thường,trong trường hợp này sẽ có một độ trễ nhất định giữa sự phục hồi khối lượng vàphục hồi của giá

Tóm lại, khối lượng cổ phiếu giao dịch cung cấp sự xác nhận thứ cấp quantrọng cho diễn biến về giá trên đồ thị, đồng thời gia tăng thêm những cảnh báo cho

sự thay đổi sắp xảy đến trong xu hướng hiện tại Khi được kết hợp với diễn biến giá,khối lượng giao dịch thể hiện xu hướng tăng/giảm của giá là đang mạnh hay yếu,bên cạnh đó còn giúp đo lường áp lực mua bán ẩn dấu đằng sau sự di chuyển củagiá, đồng thời còn cho phép nhà đầu tư có thể dự đoán được xu hướng thị trườngchứng khoán hiện tại

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

Tuy nhiên đây mới chỉ là những kết luận mang tính chất định tính Vậy, về mặtđịnh lượng, liệu có mối quan hệ nào giữa sự thay đổi giá và biến động khối lượnggiao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam hay không? Đây là vấn đề đangnhận được sự quan tâm của các nhà kinh tế tài chính trong nước nói riêng và trênthế giới nói chung trong nhiều năm gần đây Phần tiếp theo sẽ tìm hiểu về cácnghiên cứu về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch đãđược thực hiện ở cả các thị trường chứng khoán phát triển và thị trường mới nổi.

1.1.5 Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch

Phần này đưa ra cái nhìn tổng quan về một số nghiên cứu đầu tiên đặt nền tảng

lý thuyết cơ bản cho mối quan hệ giữa sự thay đổi chỉ số giá chứng khoán và khốilượng giao dịch

Karpoff (1987) đã đưa ra 4 lý do tại sao mối quan hệ giữa sự thay đổi giá và

khối lượng giao dịch lại nhận được rất nhiều mối quan tâm đặc biệt của các nhàkinh tế tài chính trên toàn thế giới Đầu tiên, mối quan hệ giữa sự thay đổi giá vàkhối lượng giao dịch cung cấp cái nhìn sâu sắc về cấu trúc thị trường tài chính như:mức độ tác động của thông tin tới thị trường chứng khoán, các thông tin được phổbiến như thế nào, mức độ giá cả truyền tải thông tin và những hạn chế của bánkhống Thứ hai, mối quan hệ này được dùng để kiểm tra tính hữu ích của nhữngphân tích kỹ thuật dùng dữ liệu quá khứ về giá và khối lượng để đưa ra suy luận về

xu hướng thị trường Hơn nữa, nó còn được sử dụng để kiểm tra vai trò của đầu cơđối với sự biến động giá, do đầu cơ có quan hệ chặt chẽ với khối lượng giao dịch.Cuối cùng, mối quan hệ giữa sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch có ảnh hưởngđến hợp đồng tương lai, chứa đựng những hàm ý quan trọng ảnh hưởng đến cácnghiên cứu trong các thị trường giao sau

Trong suốt hơn hai thập kỉ qua, nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự thay đổi giáchứng khoán và khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán đã nhận được rấtnhiều sự quan tâm từ các nhà kinh tế học Trong đó, phải kể đến hai mô hình đầutiên đặt nền tảng lý thuyết giải thích cho mối quan hệ giữa sự thay đổi giá chứng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch: mô hình hỗn hợp của phân phối (Themixture of distribution models) và mô hình thông tin truyền tải một cách tuần tự(The sequential arrival information models)

Mô hình hỗn hợp của phân phối (The mixture of distribution models) được

phát triển từ giả thuyết hỗn hợp của phân phối (Mixture of Distribution Hypothesis_ MDH) trong các nghiên cứu của Clark (1973), Epps và Epps (1976), và Harris (1986) cho rằng biến động giá và khối lượng giao dịch có mối quan hệ nhân quả do

những dòng chảy thông tin tiềm ẩn và giá cố phiếu có những thay đổi lớn bởi nhữngthông tin được truyền tải ra thị trường Nghiên cứu trên sử dụng biến khối lượnggiao dịch như là một đại lượng cho sự biến động được gây ra bởi thông tin mới đến.Các tác giả cho rằng giá trị của sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch phân phốiđộc lập với nhau và số lượng thông tin đến trong mỗi thời điểm là khác nhau Môhình chỉ ra rằng giá và khối lượng có quan hệ tương quan thuận chiều do phương sai

sự thay đổi giá trong mỗi giao dịch phụ thuộc vào khối lượng của giao dịch đó Cáctác giả cho rằng sự thay đổi giá và khối lượng là cùng phụ thuộc vào thông tin doyếu tố phân phối chung của chúng, nghĩa là việc tồn tại mối quan hệ giữa sự thayđổi giá và khối lượng là do sự phụ thuộc giữa giá và khối lượng vào tốc độ dòngchảy thông tin vào thị trường Điều này hàm ý rằng giá và khối lượng phản ứngcùng một lúc với sự xuất hiện của thông tin mới

Theo mô hình thông tin truyền tải một cách tuần tự (The sequential arrival

information models_SAI) được đưa ra bởi Copeland (1976) và phát triển sau này

bởi Jennings et al (1981), tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều tích cực giữa

thay đổi tuyệt đối của giá và khối lượng Copeland (1976) chỉ ra rằng khi có thôngtin mới được đưa ra thì nó sẽ không được phổ biến ngay với tất cả các nhà đầu tưtrên thị trường một cách đồng thời mà chỉ có một số ít các nhà đầu tư nắm đượcthông tin này Sau đó thông tin sẽ được truyền tải tuần tự dần dần đến tất cả các nhàđầu tư, hay nói cách khác, thông tin là bất cân xứng Sự cân bằng thông tin cuốicùng chỉ được hình thành sau một chuỗi trung gian hoặc cân bằng chuyển tiếp đãxảy ra Điều này gây ra những thay đổi trong giá cổ phiếu, tạo nên những cân bằng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

giá liên tiếp đi kèm với khối lượng giao dịch cao Do đó, kết luận quan trong đượcrút ra từ mô hình này là tỷ suất sinh lợi quá khứ có khả năng dự đoán khối lượnggiao dịch hiện tại và ngược lại.

Ngoài 2 mô hình trên, mô hình về nhà đầu tư “bất hợp lý” (The noise-trader

models) của Delong et al (1990) cũng cung cấp một sự giải thích cho mối quan hệ

nhân quả giữa sự thay đổi giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch Theo

mô hình này, hoạt động của những nhà đầu tư “bất hợp lý” (noise-traders), là cácnhà đầu tư thường ra quyết định mua hoặc bán không dựa trên cơ sở, phân tích kinh

tế mà thường đầu tư theo cảm tính và xu hướng, đồng thời có những phản ứng tháiquá với những thông tin tốt hoặc xấu sẽ gây ra sự định giá không đúng cổ phiếutrong ngắn hạn Trong mô hình này, mối quan hệ nhân quả giữa sự thay đổi giá vàbiến động khối lượng giao dịch được giải thích là do hành vi của các nhà đầu tư

“bất hợp lý”, hay cụ thể là do chiến lược đầu tư theo xu hướng thị trường của cácnhà đầu tư này Do thường ra quyết định dựa trên biến động giá và khối lượng giaodịch trong quá khứ nên khi giá tăng thì các nhà đầu tư này sẽ mua nhiều hơn, dẫnđến khối lượng giao dịch tăng và ngược lại, khi khối lượng giao dịch tăng, hành vitiếp tục mua vào theo xu thế thị trường của các nhà đầu tư này sẽ đẩy giá tăng

Khung lý thuyết phát triển bởi các mô hình này được chuẩn hóa và phát triểntrong các nghiên cứu tiếp theo, tạo nên nền tảng lý thuyết cơ bản cho mối quan hệgiữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch

1.2 Các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch

1.2.1 Nghiên cứu tại các thị trường chứng khoán phát triển

Đề tài nghiên cứu về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượnggiao dịch đã nhận được rất nhiều sự quan tâm trong hơn hai thập kỷ qua Mở đầucho đề tài này không thể nào không nhắc đến nghiên cứu của Karpoff (1987) “The

relation between price changes and trading volume: a survey” Bài nghiên cứu của

tác giả đóng vai trò quan trọng Tác giả phân thành 2 nhóm nghiên cứu nhỏ: đầu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

tiên, tác giả kiểm tra mối quan hệ giữa sự thay đổi giá tuyệt đối và khối lượng giaodịch; thứ hai là tác giả kiểm tra mối quan hệ giữa sự thay đổi giá trên một cổ phần

và khối lượng giao dịch Qua nghiên cứu này, Karpoff đã tìm ra các bằng chứng vềmối quan hệ tích cực giữa sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch, kể cả thay đổituyệt đối và thay đổi trên mỗi cổ phần

Tiếp nối Karpoff, Gallant, Rossi và Tauchen (1992) trong nghiên cứu “Stock

prices and volume” đã thu thập dữ liệu về giá và khối lượng hàng ngày trên sàn

chứng khoán Newyork, trong giai đoạn từ năm 1928 đến năm 1987 Sau khi điềuchỉnh dữ liệu để tránh hiện tượng “tháng giêng” và xu hướng dài hạn, các tác giả đã

sử dụng phương pháp ước lượng một nửa phi tham số của mật độ có điều kiện phụthuộc (SNP estimators) Các tác giả cũng đã tìm ra mối tương quan dương giữa biếnđộng giá có điều kiện và khối lượng giao dịch Kết quả này một lần nữa đã ủng hộcho kết quả của Karpoff

Một năm sau, Campbell, Grossman và Wang (1993) đã tiếp tục xem xét mối

quan hệ giữa khối lượng giao dịch và tương quan chuỗi trong lợi nhuận trên sàn

chứng khoán Newyork và sàn chứng khoán Mỹ trong nghiên cứu “Trading volume

and serial correlation in stock returns” Bằng cách thu thập chuỗi lợi nhuận hàng

ngày của chỉ số bình quân giá trị trong giai đoạn từ 3/7/1962 đến 30/12/1988 Tácgiả đã cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa lợi nhuận và khối lượng giao dịch

Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Martikainen, Puttonen, Luoma và Rothovius (1994) “The linear and non-linear dependence of stock returns and

trading volume in the Finnish stock market” trên Sở giao dịch chứng khoán

Helsinki cũng đã chỉ ra rằng có sự tác động qua lại giữa giá cổ phiếu và khối lượnggiao dịch trong giai đoạn 1983-1988 ở Phần Lan

Trọng tâm của các nghiên cứu sau đó đã bắt đầu tập trung vào mối tương quan năngđộng giữa sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch Đặc biệt, các mô hình VAR vàkiểm định nhân quả Granger được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu về mối

quan hệ năng động giữa giá và khối lượng Năm 2002, trong nghiên cứu “The

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

dynamic relation between stock returns, trading volume: Domestic and country evidence”, Lee và Rui (2002) đã tiến hành kiểm tra mối quan hệ năng động

cross-giữa thay đổi giá và biến động khối lượng giao dịch cho 3 thị trường chứng khoánlớn nhất thế giới: Newyork, London, Tokyo Bằng dữ liệu hằng ngày của chỉ số giáthị trường và khối lượng hàng ngày với thời kỳ lấy mẫu bắt đầu khác nhau nhưngkết thúc vào ngày 01/12/1999, do tính sẵn có của dữ liệu, thông qua mô hình VAR

và kiểm định nhân quả Granger, tác giả đã đưa ra kết luận tại mức ý nghĩa 5%, khốilượng giao dịch và giá chứng khoán không có mối quan hệ nhân quả trong cả 3 thịtrường, điều này có nghĩa là mặc dù có sự tương quan tích cực giữa khối lượng vàgiá nhưng sự biến động khối lượng không phải là nhân tố trực tiếp để dự đoán sựthay đổi giá Tuy nhiên, tác giả tìm thấy bằng chứng cho rằng có thông tin phản hồiqua lại giữa khối lượng giao dịch và giá, nghĩa là khối lượng giao dịch có ảnhhưởng đến giá, nhưng bằng hình thức gián tiếp

Trong nghiên cứu “Time and dynamic volume–volatility relation”, Eleanor, Chen và Wu (2006) đã sử dụng mô hình vector tự hồi quy (VAR) để kiểm tra mối

quan hệ năng động giữa biến động giá chứng khoán và khối lượng giao dịch Sửdụng các dữ liệu giao dịch của các chứng khoán Dow Jone 30 của sàn giao dịchchứng khoán New York trong giai đoạn từ ngày 1/4 đến ngày 30/6/1995, các tác giả

đã tìm thấy bằng chứng rằng biến động giá và khối lượng có mối quan hệ bền vững

và tương quan chặt chẽ với các với sự biến động và khối lượng trong quá khứ

Hai năm sau đó, đề tài nghiên cứu “Volume and Skewness in International Equity

Markets” của Hutson, Kearney và Lynch (2008) cũng tiến hành kiểm tra mối quan

hệ giữa khối lượng giao dịch và độ bất đối xứng của biến động giá trong 11 thị trườngchứng khoán quốc tế - Úc, Bỉ, Anh, Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Tây BanNha, Thụy Điển và Hoa Kỳ, bằng cách sử dụng dữ liệu ngày và tháng trong giai đoạn

từ tháng 1/1980 đến tháng 8/2004 Các tác giả đã xây dựng phương trình đơn và môhình VAR cho mối quan hệ giữa 3 moment đầu tiên của chỉ số giá chứng khoán vàkhối lượng giao dịch và tìm ra được các bằng chứng mạnh mẽ về mối quan hệ giữabiến động chỉ số giá và khối lượng giao dịch trong cả 11 thị trường

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

Chuang, Kuan và Lin (2009) trong quá trình nghiên cứu đề tài “Causality in

quantiles and dynamic stock return-volume relations” đã sử dụng dữ liệu về 3 chỉ

số của thị trường chứng khoán: NYSE, S&P500, FTSE 100 Dữ liệu được thu thậptheo ngày bắt đầu từ đầu năm 1990 (ngày 2/1 hoặc ngày 4/1) đến ngày 30/6/2006được lấy từ cơ sở dữ liệu Datastream Các tác giả đã tiến hành kiểm tra mối quan hệnhân quả giữa khối lượng và chỉ số giá chứng khoán dựa trên hồi quy phân vị Đầutiên, các tác giả xác định rõ mối quan hệ phi nhân quả Granger trong tất cả các phân

vị và đề nghị kiểm tra quan hệ phi nhân quả bằng kiểm định sup-Wald Bằng cách

đó, các tác giả đã tìm thấy ảnh hưởng nhân quả của khối lượng lên lợi nhuận làthường không đồng nhất qua các phân vị và ảnh hưởng của lợi nhuận lên khối lượngthì bền vững hơn

1.2.2 Nghiên cứu tại các thị trường chứng khoán mới nổi

Sự quan tâm về mối quan hệ giá chứng khoán và khối lượng giao dịch trên thịtrường chứng khoán dường như có sự chuyển hướng từ việc xem xét trên các thịtrường phát triển sang các thị trường mới nổi trong những năm gần đây

Tại khu vực châu Mỹ Latinh,Saatcioglu và Starks (1998) đã nghiên cứu đề tài

“The stock price-volume relationship in emerging stock markets” kiểm tra mối

quan hệ giữa giá chứng khoán và khối lượng hàng tháng ở 6 thị trường chứng khoánmới nổi của Mỹ Latinh: Argentina, Brazil, Chile, Colombia, Mexico, và Venezuelatrong giai đoạn từ tháng 01/1986 đến tháng 04/1995 Sử dụng dữ liệu được thu thậphằng tháng với mô hình vector tự hồi quy (VAR), kiểm định quan hệ nhân quảGranger, nghiên cứu này đã cung cấp bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa sựthay đổi giá chứng khoán và khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoánColombia và Venezuela Ngoài ra, nghiên cứu này còn chỉ ra rằng sự thay đổi giáchứng khoán dẫn đến sự thay đổi khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoánChile, và sự thay đổi khối lượng giao dịch dẫn đến sự thay đổi giá ở thị trườngchứng khoán Brazil và Mexico

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

Liên quan đến các thị trường mới nổi ở khu vực Châu Âu, trong nghiên cứu

“Stock price and volume relation in emerging markets”, Gunduz và Hatemi-J (2005) đã sử dụng kiểm định quan hệ nhân quả Granger ghi nhận có sự tác động

qua lại giữa giá và khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Hungary vàBalan Tác giả cũng đã chỉ ra sự thay đổi giá của chứng khoán tạo ra sự thay đổikhối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Nga và Thổ Nhĩ Kỳ

Tại khu vực Châu Á, trong nghiên cứu “Testing the price-volume relation in

emerging Asian stock markets” Moosa và Al-Loughani (1996) đã sử dụng dữ liệu

hàng tháng của giá và khối lượng giao dịch để chỉ ra rằng có mối quan hệ tác độngqua lại giữa giá và khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Singapore vàThái Lan, và mối quan hệ một chiều từ khối lượng giao dịch đến giá ở thị trườngchứng khoán Malaysia Tuy nhiên, không có bất kỳ mối quan hệ nào giữa giá vàkhối lượng ở thị trường chứng khoán Philipines do quy mô nhỏ của thị trường này

Sử dụng dữ liệu hàng tháng tại các thị trường mới nổi, Assogbavi và Osagie

(2006) trong nghiên cứu “Equity Valuation Process And Price-Volume Relationship

On Emerging Stock Markets” đã tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ về sự biến động giá

tác động đến khối lượng giao dịch Tuy nhiên, nghiên cứu tại chưa thể tìm ra đượcbằng chứng về sự tác động của khối lượng giao dịch đến giá chứng khoán Điều nàycho thấy sự khác nhau về thê chế, luồng thông tin tại các thị trường mới nổi là quantrọng và ảnh hưởng đến giá trị công ty Nguyên nhân được tác giả giải thích là mốiquan hệ giữa giá chứng khoán và khối lượng giao dịch phụ thuộc vào cách thông tinđược phổ biến trên thị trường và tại các thị trường mới nổi thì các nhà đầu tưthường tiếp cận thông tin có độ trễ nhất định, đặc biệt các nhà đầu tư nhỏ lẻ, do đóđiều này dẫn đến mối tương quan giữa giá chứng khoán và khối lượng giao dịch ởcác thị trường này là còn yếu và chưa rõ ràng

Tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa giá và khối lượng tại thị trường chứngkhoán Ấn Độ thông qua dữ liệu của 50 cổ phiếu thuộc 21 lĩnh vực trong giai đoạn

từ 01/01/2000 đến 31/12/2008, Brajesh Kumar, Priyanka Singh và Ajay Pandey

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

(2009) trong “The Dynamic Relationship between Price and Trading Volume:

Evidence from Indian Stock Market” đã sử dụng mô hình VAR, kiểm định Granger,

hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai để tìm ra bằng chứng về mối quan hệtích cực 2 chiều giữa giá và khối lượng giao dịch, tuy nhiên, mối quan hệ này là yếu.Hai năm sau, tiếp tục đề tài này cũng tại thị trường chứng khoán Ấn Độ,

Tripathy (2011) đã tiến hành thu thập dữ liệu hằng ngày trong giai đoạn từ

01/01/2005 đến 01/01/2010 để nghiên cứu “The Relation between Price Changes

and Trading Volume: A Study in Indian Stock Market” Bằng việc sử dụng hồi quy

2 biến, mô hình VECM, VAR, IRF, phân rã phương sai và kiểm định Johansen, tácgiả rút ra kết luận có sự tác động 2 chiều giữa biến động giá và thay đổi khổi lượnggiao dịch và tác giả cho rằng thông tin mới diễn biến hằng ngày trên thị trường ảnhhưởng tức thời đến sự biến động giá, và đặc biệt khi có tin xấu xảy ra sẽ tác độngrất nhiều đến sự biến động giá và khối lượng giao dịch Điều này được giải thích là

do các nhà đầu tư thường ác cảm trong xu hướng thị trường giảm vì vậy họ thường

có hành động nhanh hơn khi có tin xấu Bằng việc sử dụng hàm phản ứng đẩy IRF

và phân rã phương sai, tác giả cũng cho thấy rằng mức độ tác động của khối lượnggiao dịch mạnh hơn biến động giá, vì vậy các thông tin quá khứ của khối lượng giaodịch rất hữu ích để cải thiện dự báo biến động giá

Vào năm 2012, trong nghiên cứu “The bivariate GARCH approach to

investigating the relation between stock returns, trading volume, and return volatility”, Chuang, Liu và Susmel (2012) đã mở rộng mẫu quan sát, tiến hành thu

thập dữ liệu trên 10 thị trường chứng khoán Châu Á: Hong Kong, Nhật Bản, HànQuốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines và TháiLan trong giai đoạn từ ngày 01/01/1998 đến ngày 31/12/2007 Các tác giả đã sửdụng mô hình GIR-GARCH 2 biến để điều tra mối quan hệ tại một thời điểm vàmối quan hệ nhân quả giữa khối lượng giao dịch và lợi nhuận chứng khoán Bằngchứng cho thấy mối quan hệ tại một thời điểm và mối quan hệ nhân quả giữa lợinhuận và khối lượng giao dịch được tìm thấy ở tất cả các mẫu thị trường Bằng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

chứng này đã giúp củng cố hơn nữa về việc tồn tại mối quan hệ giữa lợi nhuận vàkhối lượng trên thị trường chứng khoán Châu Á nói riêng và thế giới nói chung.

Kế thừa các nghiên cứu trên, tại thị trường chứng khoán Amman(ASE) của

Jordan, trong nghiên cứu “An Empirical Investigation of the Relationship between

Stock Return and Trading Volume: Evidence from the Jordanian Banking Sector”,

Al-Jafari và Ahmad Tliti (2013) đã nghiên cứu mối quan hệ thực nghiệm giữa sự

thay đổi giá và biến động khối lượng giao dịch trong lĩnh vực ngân hàng với dữ liệuhằng ngày trong giai đoạn từ 7/2006 đến 12/2011 Bằng việc sử dụng mô hình hồiquy 2 biến, mô hình VECM, kiểm định Granger, IRF, phân rã phương sai và kiểmđịnh Johansen, tác giả chỉ ra rằng có sự tác động 2 chiều giữa thay đổi giá và khốilượng Hơn nữa kiểm định Johansen cho thấy có mối quan hệ đồng liên kết, điều đócho thấy có mối quan hệ dài hạn giữa sự biến động giá và thay đổi khối lượng giaodịch Ngoài ra, kiểm định Granger còn cho thấy thông tin quá khứ của sự thay đổigiá rất hữu ích để cải thiện dự báo biến động khối lượng giao dịch

Tại thị trường chứng khoán Karachi thuộc Pakistan, Attari, Rafiq và Awan

(2013) tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa thay đổi giá và biến động khối lượng

giao dịch trong “The Dynamic Relationship between Stock Volatility and Trading

Volume” Với dữ liệu được thu thập từ 01/2000 đến 03/2013, bằng việc sử dụng

mô hình GARCH, các tác giả cho rằng có mối quan hệ tích cực giữa thay đổi giá vàbiến động khối lượng giao dịch Các tác giả cho rằng mối quan hệ này là rất quantrọng với các nhà đầu tư cũng như nhà hoạch định chính sách do khối lượng phảnánh thông tin kỳ vọng về thị trường và mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng đốivới hoạt động giao dịch, đầu cơ, giúp dự báo và phòng ngừa rủi ro

Mặc dù mối quan hệ giữa giá và khối lượng giao dịch đã được nghiên cứu rộngrãi ở nhiều nước trong nhiều năm gần đây Nhưng cho đến nay thì ở Việt Nam chỉ

có vài nghiên cứu về mối quan hệ trên Trong đó, có lẽ phải nói đến nghiên cứu của

Trương Đồng Lộc và Trương Văn Vũ (2012) “Mối quan hệ giữa chỉ số giá thị

trường và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

Hồ Chí Minh”, với số liệu sử dụng bao gồm chuỗi chỉ số VN-Index và khối lượng

cổ phiếu giao dịch theo thời gian với tần suất tuần được thu thập trong khoảng thờigian từ 27/08/2000 - 12/05/2010 Sử dụng kiểm định Granger, kết quả nghiên cứucho thấy rằng sự thay đổi của khối lượng giao dịch không có ảnh hưởng đến sự thayđổi của chỉ số VN-Index Tuy nhiên, ở chiều ngược lại sự thay đổi của chỉ số VN-Index lại có ảnh hưởng đến sự thay đổi của khối lượng giao dịch Trên cơ sở nhữngkết quả nghiên cứu đó, các tác giả kết luận rằng mối quan hệ giữa chỉ số VN-Index

và khối lượng giao dịch chỉ xảy ra một chiều là từ chỉ số VN-Index đến khối lượnggiao dịch

Đề tài nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thanh Siêng (2010) “Mối quan hệ nhân

quả giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam” với số liệu bao gồm chuỗi giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch của 5 cổ

phiếu thuộc 5 ngành kinh tế khác nhau được niêm yết trên Sở giao dịch chứngkhoán Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm AGF, GIL, DHG, REE, STB (lần lượt làCTCP xuất nhập khẩu thủy sản An Giang, CTCP sản xuất kinh doanh xuất nhậpkhẩu Bình Thạnh, CTCP dược phẩm Imexpharm, CTCP cơ điện lạnh, NHTMCPSài Gòn Thương Tín) được thu thập theo tuần từ khi bắt đầu giao dịch đến ngày31/12/2009 Sử dụng kiểm định Granger, kết quả của nghiên cứu cho thấy mối quan

hệ nhân quả giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch không tồn tại ở cổ phiếuAGF, REE, STB, tuy nhiên lại tồn tại mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và khối lượnggiao dịch ở hai cổ phiếu GIL và DHG, cụ thể đối với cổ phiếu GIL tồn tại mối quan

hệ một chiều từ giá cổ phiếu đến khối lượng giao dịch,còn đối với cổ phiếu DHGthì lại có mối quan hệ một chiều từ khối lượng giao dịch đến giá cổ phiếu

1.2.3 Nhận xét chung về kết quả các nghiên cứu đi trước

Về phương pháp nghiên cứu: Các tác giả đã sử dụng rất nhiều các phương

pháp từ định lượng cho đến định tính để tìm ra các bằng chứng về mối quan hệ nhânquả giữa thay đổi giá cổ phiếu và biến động khối lượng giao dịch từ phương phápước lượng một nửa phi tham số của mật độ có điều kiện phụ thuộc (SNP

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

estimators), kiểm định sup-Wald, mô hình chuyển đổi trơn logistic, mô hình hồi quy

2 biến cho đến mô hình GIR-GARCH 2 biến, mô hình GARCH, mô hình VECM,hàm phản ứng IRF, phân rã phương sai và kiểm định Johansen Mỗi phương pháp

sử dụng lại có những ưu nhược điểm riêng, tuy nhiên mô hình VAR và kiểm địnhGranger lại được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu về mối quan hệ nhân quảgiữa giá và khối lượng do các ưu điểm của nó, bên cạnh đó, với các nghiên cứu tạithị trường mới nổi, do đặc tính chưa hoàn thiện của thị trường nên hàm phản ứngIRF, phân rã phương sai được đa số tác giả sử dụng để đo lường mức độ tác độngqua lại của các biến, qua đó làm tăng tính tin cậy của kết quả nghiên cứu Kế thừacác nghiên cứu trên, đề tài tiếp tục sử dụng mô hình VAR, kiểm định nhân quảGranger, hàm phản ứng IRF và phân rã phương sai để tiến hành nghiên cứu mốiquan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Thịtrường chứng khoán Việt Nam

Về thời gian nghiên cứu: Hầu hết các tác giả đều chọn giai đoạn nghiên cứu với

dữ liệu được thu thập theo tần suất ngày phụ thuộc vào tính sẵn có của dữ liệu Đồngthời, do sự kế thừa các đề tài đi trước nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả giữa biếnđộng giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Việt Nam sửdụng dữ liệu với tần suất tuần chỉ tìm ra mối quan hệ một chiều (uni-directionalcausality) là từ chỉ số giá đến khối lượng giao dịch nên nghiên cứu này sử dụng dữliệu được thu thập với tần suất ngày với hi vọng tìm ra được kết quả khả quan hơn,phù hợp với các lý thuyết cũng như kết quả của các đề tài đi trước nêu trên

Về kết quả nghiên cứu: Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu cố gắng tìm ra mối

quan hệ nhân quả giữa giá chứng khoán và khối lượng giao dịch, tuy nhiên, kết quảcủa các nghiên cứu đi trước vẫn chưa thể đạt được một sự đồng thuận ở tất cả cácthị trường chứng khoán trên thế giới

Đối với các nghiên cứu tại thị trường phát triển, nơi mà các chỉ số và dữ liệu

trên thị trường chứng khoán đã khá hoàn thiện và thể hiện rõ hơn các quy luật vốn

có của nó, hầu hết các nghiên cứu đều tìm thấy các bằng chứng định lượng về kết

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

luận khối lượng giao dịch chứa đựng những thông tin quan trọng đối với sự biếnđộng giá xảy ra trong tương lai, khi sự thay đổi khối lượng giao dịch cao thì dẫn đếnbiến động giá tích cực và ngược lại Tùy vào tình hình mẫu thị trường được chọn,giai đoạn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu từng tác giả sử dụng mà mối quan

hệ được tìm ra này là đáng kể hay yếu Tuy nhiên, phần lớn nghiên cứu tại các thịtrường phát triển đều đã tìm ra bằng chứng về mối quan hệ tác động qua lại giữa chỉ

số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch

Đối với các nghiên cứu tại thị trường chứng khoán mới nổi, việc tìm ra mối

quan hệ nhân quả giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch lại khó khănhơn do sự kém hiệu quả của thị trường, thể hiện qua thể chế tài chính yếu kém, thịtrường thường không phản ánh đầy đủ các thông tin và dễ bị ảnh hưởng bởi các tácnhân bên ngoài quốc gia Dù vậy, nhìn chung thông qua các kiểm định và mô hìnhnghiên cứu các tác giả vẫn tìm ra bằng chứng về mối quan hệ giữa sự thay đổi giá

cổ phiếu và khối lượng giao dịch ở phần lớn các thị trường mới nổi được chọn đưavào mẫu nghiên cứu Bằng chứng này đã giúp củng cố hơn nữa về việc tồn tại mốiquan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch ở các thị trường chứngkhoán mới nổi nói riêng và thị trường chứng khoán trên thế giới nói chung

Tóm lại, do các công trình nghiên cứu này được thực hiện tại nhiều quốc gia

khác nhau, trong các giai đoạn phát triển khác nhau của nhân loại với các điều kiệnkhác nhau về đặc trưng của nền kinh tế, tình hình thị trường chứng khoán, sự khácbiệt về tâm lý của các nhà đầu tư, đặc trưng khác nhau của thể chế chính trị và mức

độ phát triển kinh tế v.v… do đó khó có thể hình thành một sự thống nhất hoàn toàngiữa các công trình nghiên cứu này Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu nhìnchung vẫn giúp cũng cố bằng chứng về việc tồn tại mối quan hệ giữa chỉ số giáchứng khoán và khối lượng giao dịch trên các thị trường chứng khoán, đồng thờicũng đóng góp một vai trò rất lớn trong việc làm phong phú thêm kho tàng lý luận

về thị trường chứng khoán thế giới, làm nền tảng cho các nghiên cứu sau này

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

Tại Việt Nam, tuy Thị trường chứng khoán mới chỉ được Standard & Poor'sDow Jones (S&P DJ) khuyến nghị nằm trong danh sách nâng hạng lên thị trườngmới nổi nhưng xét riêng về tiêu chí, Việt Nam hiện đang nằm trong nhóm các thịtrường cận biên và tiến sát tới các thị trường mới nổi Và trong giai đoạn nghiên cứucủa đề tài (từ 01/01/2009 – 31/12/2014), thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầutăng trưởng trở lại với các chỉ số chứng khoán cũng như các yếu tố khác của thịtrường như nhóm tiêu chí quy mô, thanh khoản và khả năng tiếp cận thị trường bắtđầu hoàn thiện và trở về với các quy luật vốn có Với những yếu tố khá khả quannhư vậy nhưng cho đến nay thì ở Việt Nam chỉ có vài nghiên cứu về mối quan hệnhân quả giữa giá chứng khoán và khối lượng giao dịch trong đó kết quả của cácnghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tìm ra mối quan hệ một chiều giữa giáchứng khoán và khối lượng giao dịch Bài nghiên cứu hi vọng sẽ tìm ra bằng chứngđịnh lượng về mối quan hệ tác động qua lại giữa chỉ số giá chứng khoán và khốilượng cổ phiếu giao dịch, qua đó mong muốn sẽ đóng góp vào kho tàng các đề tàinghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế tài chính cũng như sự phát triển của thị trườngchứng khoán Việt Nam nói riêng và thị trường chứng khoán thế giới nói chung.

1.3 Tổng quan về phương pháp và mô hình nghiên cứu

Để nghiên cứu mối quan hệ tác động qua lại giữa chỉ số giá chứng khoán và khốilượng cổ phiếu giao dịch, qua việc tham khảo và kế thừa phương pháp nghiên cứu

của các tác giả Gunduz và Hatemi-J (2005), Brajesh Kumar, Priyanka Singh và

Ajay Pandey (2009), Tripathy (2011), Al-Jafari và Ahmad Tliti (2013)…đề tài

nghiên cứu được tiến hành theo các bước cơ bản như sau:

Bước 1: Tiến hành thống kê mô tả dữ liệu thu thập được.

Bước 2: Kiểm định nghiệm đơn vị - tính dừng.

Bước 3: Mô hình VAR và kiểm định quan hệ nhân quả Granger.

Bước 4: Hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

1.3.1 Tính dừng

1.3.1.1 Chuỗi thời gian

Chuỗi thời gian là một tập hợp gồm các số liệu có cùng khái niệm và phạm viđược thu thập liên tục thường kỳ (ngày, tuần, tháng, quý, năm) trong một khoảngthời gian dài và được sắp xếp theo thứ tự thời gian

1.3.1.2 Khái niệm tính dừng

Theo Gujarati (2003) một quá trình ngẫu nhiên Yt được gọi là dừng nếu kỳvọng và phương sai không đổi theo thời gian, đồng thời hiệp phương sai giữa haigiai đoạn quan sát (trong chuỗi đang xét) chỉ phụ thuộc vào khoảng cách và độ trễ

về thời gian giữa hai giai đoạn này chứ không phụ thuộc vào thời điểm thực tế màđồng phương sai được tính

Về mặt toán học, một chuỗi Ytđược gọi là dừng nếu thỏa mãn cả 3 điều kiện sau:

- Trung bình không đổi theo thời gian: E (Yt) = µ = const, (∀t)

- Phương sai không đổi theo thời gian: Var(Yt) = E(Yt- µ)2= σ2= const, (∀t)

- Hiệp phương sai giữa Yt và Yt+k chỉ phụ thuộc vào và độ trễ về thời gian (k)giữa hai giai đoạn này chứ không phụ thuộc vào thời điểm t :

Cov(Yt, Yt+k)= E[(Yt- μ)(Yt+k - μ)] = γk = const, (∀t)Quá trình ngẫu nhiên Ytđược coi là không dừng nếu vi phạm ít nhất một trong

ba điều kiện trên

1.3.1.3 Tầm quan trọng của một chuỗi dừng

Chuỗi dừng giúp hồi quy hiệu quả: Các biến trong bài nghiên cứu đều là các

chuỗi thời gian với một khoảng thời gian nhất định, và để các tính toán cho miềngiá trị này là phù hợp cho toàn bộ chuỗi thời gian thì biến đó phải dừng Điều nàycòn giúp tránh được hồi quy giả mạo (nonsense regression) Cụ thể, ta có thể thuđược hệ số R2 rất cao cùng với những hệ số hồi quy β1, β2, β3…đều có ý nghĩathống kê Tuy nhiên, R2cao có thể là do hai biến này có cùng xu thế chứ không phải

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

do chúng tương quan chặt chẽ với nhau, do đó, những giá trị có được trong trườnghợp này đều không đáng tin cậy.

Chuỗi dừng giúp dự báo hiệu quả: Một chuỗi dừng thì dữ liệu của nó sẽ có xu

hướng trở về mức trung bình và những dao động xung quanh mức trung bình là nhưnhau Một chuỗi không dừng hàm ý trong tương lai, chuỗi dữ liệu có thể không cònlưu giữ những đặc điểm cũ Nghĩa là ta chỉ biết được đặc điểm của chuỗi này tronggiai đoạn được nghiên cứu nhưng không thể khái quát những đặc điểm này cho giaiđoạn sau đó để phục vụ cho công tác dự báo Trong khi đó, bản chất của dự báokinh tế lượng giả định rằng những gì đã xảy ra trong quá khứ sẽ tiếp tục được duytrì trong tương lai Vì vậy, ta sẽ không thể dự báo hiệu quả nếu bản thân chuỗi dữliệu luôn luôn thay đổi

1.3.1.4 Cách kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian

Có nhiều phương pháp kiểm tra tính dừng của chuỗi thời gian như dựa trên đồ thịchuỗi thời gian, dựa trên lược đồ tự tương quan, kiểm định nghiệm đơn vị… tuy nhiêntrong phạm vi nghiên cứu nghiên cứu đề tài này, phương pháp khá phổ biến là kiểmđịnh nghiệm đơn vị (Unit root test) cụ thể là kiểm định ADF (Augmented Dicky andFuller) và kiểm định PP (Phillip-Perron) được sử dụng để kiểm định tính dừng củachuỗi thay đổi chỉ số giá chứng khoán và biến động khối lượng cổ phiếu giao dịch

Kiểm định ADF (Augmented Dicky and Fuller)

Kiểm định ADF là một hình thức mở rộng của kiểm định Dickey – Fuller (DF)

- Phương pháp này được Dickey – Fuller phát hiện năm 1979 nhằm xác định xemchuỗi thời gian có phải là Bước ngẫu nhiên (nghĩa là Yt= α0 + 1 x Yt-1 + Ut ) haykhông Kiểm định ADF được phát triển từ kiểm định DF bằng cách bổ sung thêmmột số thành phần trong mô hình hồi quy

Phương trình của kiểm định ADF có dạng như sau:

∆R t = α 0 +δ t + βR t-1 + U t

∆V t = α 0 +δ t + βV t-1 + U t

Với δt là biến xu hướng về thời gian

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

Kiểm định giả thiết:

Ho: β = 0 (Rt, Vtlà chuỗi không có tính dừng)

H1: β # 0 (Rt, Vtlà chuỗi có tính dừng)

Giả thuyết H0 sẽ bị bác bỏ nếu giá trị kiểm định ADF lớn hơn giá trị tới hạn của

nó Trong kiểm định ADF, giá trị kiểm định ADF không theo phân phối chuẩn, vìvậy giá trị tới hạn được dựa trên bảng giá trị tính sẵn của Mackinnon (1991) Sosánh giá trị kiểm định ADF với giá trị tới hạn của Mackinnon chúng ta sẽ có đượckết luận về tính dừng cho các chuỗi quan sát

Kiểm định PP (Philip-Perron)

Bởi vì kiểm định ADF dựa trên giả định sai số ngẫu nhiên nên khi sử dụngphương pháp ADF phải chắc chắn rằng khoảng mục sai số là không có tương quanvới nhau và có sự biến đổi cố định Do đó trong nghiên cứu thực nghiệm, phươngpháp ADF thường được dùng kèm theo kiểm định Philip-Perron (PP) để đảm bảothêm sự chính xác trong kết quả kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian

Phương trình cho kiểm định PP có dạng:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

Để kiểm định mối quan hệ tác động qua lại giữa chỉ số giá chứng khoán vàkhối lượng cổ phiếu giao dịch, đề tài sử dụng mô hình tự hồi quy vector VAR 2biến như sau:

R t = α 0 + ∑ + ∑ +u 1t

V t = α 1 + ∑ + ∑ +u 2t

Phương pháp ước lượng mô hình Var:

- Xét tính dừng của các biến trong mô hình

- Lựa chọn độ trễ (k) tối ưu

- Chạy mô hình với độ trễ phù hợp

1.3.3 Kiểm định quan hệ nhân quả Granger (Granger Causality)

Kiểm định quan hệ nhân quả Granger (Granger, 1969) được sử dụng phổ biếntrong nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi đơn giản là có hay không sự thay đổi của Xgây ra sự thay đổi của Y và ngược lại (X và Y phải có sự tương quan) Do đó để xácđịnh mối quan hệ tác động qua lại giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổphiếu giao dịch, đề tài sử dụng kiểm định quan hệ nhân quả Granger

Phương trình hồi quy trong kiểm định Granger có dạng:

R t = α 0 + ∑ + ∑ +u 1t

V t = α 1 + ∑ + ∑ +u 2t

- Nếu δi khác không và có ý nghĩa thống kê, nhưng ρi không có ý nghĩa thìchúng ta có thể kết luận rằng sự biến động của khối lượng giao dịch là nguyên nhângây ra sự biến động của chỉ số giá chứng khoán

- Nếu δi không có ý nghĩa thống kê, nhưng ρi khác không và có ý nghĩa thống

kê, thì chúng ta có thể kết luận rằng sự biến động của chỉ số giá chứng khoán lànguyên nhân gây ra sự biến động của khối lượng giao dịch

- Nếu cả δivà ρiđều khác không và có ý nghĩa thống kê, thì có thể kết luận rằngchỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch tác động qua lại lẫn nhau

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

- Nếu cả δivà ρi đều không có ý nghĩa thống kê, thì chúng ta có thể kết luậnrằng chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch độc lập với nhau.

1.3.4 Hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai

1.3.4.1 Hàm phản ứng đẩy (IRF)

Một trong những phương pháp dùng để phân tích mô hình vector tự hồi quy(VAR) là dùng hàm phản ứng đẩy (IRF), nó mô phỏng những ảnh hưởng của một cúsốc đối với một biến trong hệ thống dựa trên dự báo điều kiện của biến khác Hàmphản ứng đẩy (IRF) giải thích tác động của một cú sốc ngoại sinh của một biến lênmột biến khác trong mô hình, cho phép xác định hiệu ứng theo thời gian của cú sốccủa một biến nội sinh nào đó đối với các biến khác trong mô hình Vì vậy, hàm phảnứng đẩy thường được sử dụng để phát hiện các mối quan hệ động theo thời gian

Ban đầu, nhìn vào việc điều chỉnh các biến nội sinh theo thời gian sau một cúsốc giả định trong thời gian t, việc điều chỉnh này được so sánh với một quá trìnhthực tế, tức là quá trình chuỗi thời gian không có một cú sốc Các chuỗi phản ứngđẩy chính là khác biệt cốt yếu giữa hai chuỗi thời gian này Nếu các hệ số trong mộtphương trình nhỏ hơn một, các hiệu ứng sẽ giảm theo thời gian và sẽ trở lại gần giátrị cân bằng sau một thời gian nhất định

Do đó, bài nghiên cứu sử dụng hàm phản ứng đẩy (IRF) để phân tích tác độngcủa sự thay đổi chỉ số giá chứng khoán đối với biến động khối lượng giao dịch vàngược lại

1.3.4.2 Phân rã phương sai

Cùng với hàm phản ứng đẩy (IRF) phân rã phương sai cũng được dùng để kiểmtra tác động của một cú sốc đối với các biến phụ thuộc Nhiệm vụ của phân rãphương sai là để đạt được sự thông gọn về khả năng dự báo Ý tưởng là, ngay cảmột mô hình hoàn hảo thì vẫn liên quan đến sự mơ hồ về việc ước lượng các biến

Ytdo các sai số có liên quan là không chắc chắn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

Kỹ thuật này xác định dự báo có bao nhiêu phương sai lỗi đối với bất kỳ cácbiến trong mô hình với một loạt thời kỳ Thường những cú sốc giải thích cho hầuhết các phương sai lỗi, mặc dù những cú sốc này sẽ ảnh hưởng đến các biến kháctrong mô hình Phân rã phương sai xem xét rất quan trọng đối với thứ tự các biếnkhi đưa vào kiểm định, vì vậy kết quả của phân rã phương sai phụ thuộc rất nhiềuvào sự sắp xếp các biến.

Với những phân tích trễ, qua việc tham khảo các nghiên cứu đi trước, đề tài sửdụng hàm phản ứng đẩy (IRF) và phân rã phương sai theo phương pháp Cholesky

để đánh giá mức độ tác động qua lại giữa sự thay đổi chỉ số giá chứng khoán vàbiến động khối lượng giao dịch

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 40

2.1.1 Quá trình hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam

Từ đầu những năm 1990, Chính phủ đã có những định hướng để xây dựng thịtrường chứng khoán, xem đây là một kênh huy động vốn hiệu quả nhất Lúc này,một công việc cấp bách cần thực hiện ngay là nghiên cứu, xây dựng đề án thành lậpthị trường chứng khoán Ngày 6/11/1993, Ban nghiên cứu xây dựng và phát triển thịtrường vốn được thành lập theo quyết định số 207/QĐ-tccb với nhiệm vụ chủ yếu làxây dựng các đề án và chuẩn bị các điều kiện thành lập thị trường chứng khoán theonhững bước đi thích hợp

Ngày 28/11/1996 Uỷ Ban Chứng khoán Việt Nam ra đời bằng Nghị định 75/CPcủa Chính Phủ, thực hiện các chức năng tổ chức và quản lý nhà nước về chứngkhoán và thị trường chứng khoán Ngày 11/7/1998 Chính phủ đã ký Nghị định số48/CP ban hành về chứng khoán và thị trường chứng khoán, chính thức cho ra đờiThị trường chứng khoán Việt Nam

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM được thành lập theo Quyết định số127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998 và đến ngày 8/8/2007 Trung tâm Giao dịchChứng khoán TP.HCM được đổi thành Sở giao dịch chứng khoán TP HCM Trungtâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã chính thức chào đời vào ngày 8/3/2005.Khác với Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giaodịch chứng khoán của các công ty lớn), Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nộilại là “sân chơi” cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (với vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷđồng) Bên cạnh 2 thị trường tập trung trên, Thị trường chứng khoán Việt Nam cònmột thị trường nữa là thị trường phi tập trung (OTC)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 19/10/2016, 15:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Đồng Lộc và Trương Văn Vũ (2012), Mối quan hệ giữa chỉ số giá thị trường và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, Kỷ yếu khoa học 2012, Trang 133 – 143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa chỉ số giá thịtrường và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán Thànhphố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trương Đồng Lộc và Trương Văn Vũ
Năm: 2012
2. Huỳnh Thanh Siêng (2010), Mối quan hệ nhân quả giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huỳnh Thanh Siêng (2010), "Mối quan hệ nhân quả giữa giá cổ phiếu và khốilượng giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Thanh Siêng
Năm: 2010
3. Al-Jafari1 Mohamed Khaled, Ahmad Tliti (2013), An Empirical Investigation of the Relationship between Stock Return and Trading Volume: Evidence from the Jordanian Banking Sector, Journal of Applied Finance & Banking, No. 3, pp 45-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Empirical Investigation of theRelationship between Stock Return and Trading Volume: Evidence from theJordanian Banking Sector
Tác giả: Al-Jafari1 Mohamed Khaled, Ahmad Tliti
Năm: 2013
4. Brajesh Kumar, Priyanka Singh và Ajay Pandey (2009), The Dynamic Relationship between Price and Trading Volume:Evidence from Indian Stock Market, Research and Publications, No. 2009-12-04, pp 1-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The DynamicRelationship between Price and Trading Volume:Evidence from Indian StockMarket
Tác giả: Brajesh Kumar, Priyanka Singh và Ajay Pandey
Năm: 2009
5. Campbell, J.Y., Grossman, S.J., Wang, J. (1993), Trading volume and serial correlation in stock returns, Quarterly Journal of Economics 108, pp 905–939 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trading volume and serialcorrelation in stock returns
Tác giả: Campbell, J.Y., Grossman, S.J., Wang, J
Năm: 1993
6. Chuang, C.-C., Kuan, C.-M., Lin, H.-Y. (2009), Causality in quantiles and dynamic stock return-volume relations, Journal of Banking and Finance, No.33, pp 1351–1360 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Causality in quantiles anddynamic stock return-volume relations
Tác giả: Chuang, C.-C., Kuan, C.-M., Lin, H.-Y
Năm: 2009
7. Eleanor Xu, X., Chen, P., Wu, C. (2006), Time and dynamic volume–volatility relation, Journal of Banking and Finance, No. 30, pp 1535–1558 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Time and dynamic volume–volatilityrelation
Tác giả: Eleanor Xu, X., Chen, P., Wu, C
Năm: 2006
8. Gallant A. Ronald; Rossi Peter E.; Tauchen George (1992), Stock prices and volume, The Review of Financial Studies, No. 5, pp 199-242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tock prices andvolume
Tác giả: Gallant A. Ronald; Rossi Peter E.; Tauchen George
Năm: 1992
9. Gunduz, Lokman and Abdulnasser Hatemi-J (2005), Stock price and volume relation in emerging markets, Emerging Markets Finance and Trade, No. 41, pp 29-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stock price and volumerelation in emerging markets, Emerging Markets Finance and Trade
Tác giả: Gunduz, Lokman and Abdulnasser Hatemi-J
Năm: 2005
10. Hiemstra, C., Jones, J.D. (1994), Testing for linear and nonlinear Granger causality in the stock price-volume relation, Journal of Finance, No. 49, pp 1639–1664.Trường Đại học Kinh tế Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Testing for linear and nonlinear Grangercausality in the stock price-volume relation
Tác giả: Hiemstra, C., Jones, J.D
Năm: 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2009 - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.1 Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2009 (Trang 41)
Hình 2.2: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2010 - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.2 Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2010 (Trang 42)
Hình 2.3: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2011 - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.3 Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2011 (Trang 44)
Hình 2.4: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2012 - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.4 Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2012 (Trang 46)
Hình 2.5: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2013 - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.5 Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2013 (Trang 48)
Hình 2.6: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2014 - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.6 Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2014 (Trang 49)
Bảng 2.1: Thống kê mô tả - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.1 Thống kê mô tả (Trang 52)
Đồ thị dưới đây giúp quan sát rõ hơn về biến động của các chuỗi dữ liệu cũng như bước  đầu cung  cấp  cái  nhìn  tổng  quan  về tính  dừng  trong  các  chuỗi  dữ liệu nghiên cứu: - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
th ị dưới đây giúp quan sát rõ hơn về biến động của các chuỗi dữ liệu cũng như bước đầu cung cấp cái nhìn tổng quan về tính dừng trong các chuỗi dữ liệu nghiên cứu: (Trang 53)
Bảng 2.2: Kiểm định nghiệm đơn vị - tính dừng - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.2 Kiểm định nghiệm đơn vị - tính dừng (Trang 54)
Bảng 2.4: Mô hình VAR với độ trễ tối ưu là 4 - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.4 Mô hình VAR với độ trễ tối ưu là 4 (Trang 56)
Bảng 2.5: Kết quả kiểm định quan hệ nhân quả Granger - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.5 Kết quả kiểm định quan hệ nhân quả Granger (Trang 57)
Hình 2.8: Hàm phản ứng đẩy IRF của biến R - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.8 Hàm phản ứng đẩy IRF của biến R (Trang 58)
Hình 2.9: Hàm phản ứng đẩy IRF của biến V - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.9 Hàm phản ứng đẩy IRF của biến V (Trang 59)
Bảng 2.6: Phân rã phương sai của biến R - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.6 Phân rã phương sai của biến R (Trang 60)
Đồ thị thống kê mô tả dữ liệu - Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam
th ị thống kê mô tả dữ liệu (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm