1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông

132 190 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tàiNgân sách nhà nước (NSNN) có thể hiểu là một bản kế hoạch tài chính quốc gia, bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được thể hiện dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ; được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm. Trong đó, chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, hoạt động của bộ máy nhà nước và an sinh xã hội; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.Ngân sách nhà nước cấp huyện hay ngân sách huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN địa phương cấp huyện. Việc tổ chức quản lý ngân sách huyện hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết được những vấn đề bức thiết của xã hội trên địa bàn huyện. Đăk Mil là một huyện miền núi, biên giới tiếp giáp với nước bạn Campuchia, dân số trên 95.000 người, gồm 19 dân tộc anh em sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 40%, điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng yếu kém, đời sống nhân dân còn thiếu thốn, tình hình an ninh chính trị tiềm ẩn nhiều phức tạp. Thu NSNN trên địa bàn không đáp ứng chi ngân sách địa phương, mà chủ yếu phải bổ sung từ ngân sách tỉnh. Từ khi Luật NSNN ra đời, đặc biệt là Luật NSNN số 012002QH11, ngày 16122002 đã mang lại nhiều kết quả quan trọng, tích cực trong công tác quản lý NSNN. Việc phân cấp ngân sách đã nâng cao tính tự chủ, chủ động trong quản lý, điều hành NSNN góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, ổn định chính trị ở địa phương. Tuy nhiên, công tác quản lý NSNN nói chung, quản lý chi ngân sách tại huyện Đăk Mil nói riêng vẫn còn bộc lộ một số vướng mắc, bất cập, yếu kém như: Việc phân cấp giữa các cấp ngân sách đã được thực hiện nhưng chưa triệt để, nhiều lĩnh vực chi, khoản chi vẫn chưa được phân cấp cho ngân sách cấp dưới. Lập dự toán NSNN chưa được sát đúng thực tiễn, dự báo thiếu chính xác; chấp hành ngân sách còn lúng túng, thiếu nguồn lực, chưa chủ động linh hoạt; Quyết toán chi NSNN còn chậm trễ, chưa tuân thủ trình tự thủ tục. Việc phân cấp quản lý vốn đầu tư cho cấp dưới còn hạn chế; chi đầu tư còn dàn trải, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn thấp, chi thường xuyên thường vượt định mức, vượt dự toán. Định mức phân bổ chi thường xuyên theo quy định tại Quyết định số 59QĐTTg, ngày 3092010 của Thủ tướng Chính phủ dựa vào hai tiêu chí chủ yếu là dân số và hệ số vùng đã cơ bản đảm bảo được sự phát triển đồng đều giữa các địa phương, cách tính toán đơn giản, gọn nhẹ hơn. Tuy nhiên, chưa thật sự sát với thực tế khi căn cứ vào một chủ thể động, thay đổi thường xuyên như tiêu chí dân số để áp dụng tính toán cho một hệ thống định mức phân bổ không thay đổi cho một thời kỳ ổn định 5 năm, trong khi đó dân số, các chế độ, chính sách, giá cả hàng hóa thay đổi liên tục. Từ đó, khi giao dự toán cho cấp huyện thì cấp tỉnh thường giao (áp đặt) ổn định số bổ sung cân đối ngân sách của năm đầu thời kỳ ổn định cho cả giai đoạn (5 năm), mà không được điều chỉnh cho phù hợp thực tiễn của các năm cuối của thời kỳ ổn định, gây khó khăn cho công tác quản lý, điều hành chi NSNN cấp huyện. Cơ chế xin, cho vẫn còn tồn tại kìm hãm sự phát triển, tạo sự nhũng nhiễu, quan liêu của một bộ phận CBCC trong cấp phát, phân bổ ngân sách ở các cấp ngân sách; chính quyền cấp dưới còn trông chờ, ỷ lại cấp trên, thiếu tính chủ động trong thực hiện nhiệm vụ thu NSNN cấp mình. Năng lực trình độ của một số cán bộ làm công tác quản lý chi NSNN từ cấp huyện đến cấp xã, thị trấn và các đơn vị dự toán thuộc huyện còn yếu; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chi NSNN còn nhiều hạn chế... Qua những phân tích trên, học viên nhận thấy sự cần thiết trong nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng và tìm kiếm giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện Đăk Mil, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa bàn huyện. Chính vì vậy, học viên đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông” làm đối tượng nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tàiTính đến thời điểm hiện tại, ở nước ta có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bao gồm các bài viết, các quan điểm, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, chuyên đề thực tập tốt nghiệp nghiên cứu về vấn đề quản lý NSNN nói chung, quản lý chi NSNN các cấp nói riêng. Trong số đó, học viên xin nêu ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: Bài viết “Đổi mới chính sách pháp luật về phân cấp quản lý NSNN” của Ths Nguyễn Thị Hoàn Yến được đăng trên Tạp chí Tài chính số 9 2013. Tác giả đã nêu ra một số bất cập trong phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam hiện nay, kết hợp với những yêu cầu đặt ra đối với NSNN trong thời kỳ hội nhập, để đề xuất một số nội dung đổi mới pháp luật về phân cấp quản lý NSNN. Bài viết “Phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam và định hướng đổi mới” của TS. Vũ Sỹ Cường Khoa Tài chính công, Học viện Tài chính. Bài viết đã phân tích tổng quan về tình hình phân cấp quản lý ngân sách ở Việt Nam, chỉ ra những bất cập, hạn chế trong phân cấp quản lý ngân sách, bao gồm:Thứ nhất, cơ cấu ngân sách mang tính thứ bậc cao và tính lồng ghép của ngân sách cấp dưới vào ngân sách cấp trên.Thứ hai, trên thực tế, chính quyền địa phương mới chỉ được tăng quyền về tổ chức thực thi ngân sách, còn thẩm quyền quyết định vẫn thuộc về Trung ương. Xét về bản chất, phân cấp quản lý NSNN bao gồm sự phân chia 2 loại quyền: quyền quyết định và quyền tổ chức thực thi.Thứ ba, tương quan giữa nguồn thu được giữ lại và nhiệm vụ chi của các cấp chính quyền địa phương chưa tương xứng.Thứ tư, việc giao nhiều quyền cho cấp tỉnh đồng thời làm hạn chế tính tự chủ của ngân sách cấp dưới.Thứ năm, quy trình ngân sách với tính lồng ghép lớn và thời gian tương đối ngắn làm cho việc lập dự toán ở các cấp dưới mang tính hình thức.Thứ sáu, vấn đề vay nợ của địa phương và kỷ luật ngân sách.Sau đó, bài viết đã đưa ra 07 hướng cải cách phân cấp quản lý ngân sách ở Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả quản lý NSNN. Luận án tiến sĩ “Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN tỉnh An Giang giai đoạn 2011 2015 và tầm nhìn đến 2020” của tác giả Tô Thiện Hiền Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012. Trong luận án, tác giả đã tiếp cận nghiên cứu quản lý NSNN và hiệu quả quản lý NSNN tỉnh An Giang theo quy trình quản lý ngân sách, gồm: Lập dự toán NSNN; Chấp hành dự toán NSNN; Quyết toán NSNN. Luận án tiến sĩ “Phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Toàn Thắng Học viện Hành chính, năm 2013. Luận án đã:Nghiên cứu làm rõ các vấn đề liên quan đến quản lý NSNN như: khái niệm NSNN, thu chi NSNN, nguyên tắc và nội dung quản lý NSNN. Phân tích cơ sở lý luận của phân cấp quản lý NSNN như: khái niệm phân cấp quản lý NSNN, mục đích, căn cứ và nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN, nội dung phân cấp quản lý NSNN và các yếu tố ảnh hưởng. Phân tích đánh giá về thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam, nêu lên những đánh giá về ưu điểm và tồn tại cũng như nguyên nhân của những tồn tại trong phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam hiện nay. Dự báo những định hướng và đề xuất một số giải pháp về phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam. Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý ngân sách xã Thủy Sơn, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng” của tác giả Phạm Thị Thu Thảo Viện Đại học Mở Hà Nội, năm 2013. Trong luận văn, tác giả đã tiếp cận nghiên cứu công tác quản lý NSNN xã Thủy Sơn theo 03 nội dung: Lập dự toán thu chi ngân sách xã; Chấp hành dự toán ngân sách xã; Kế toán, quyết toán ngân sách xã. Bên cạnh đó, còn có rất nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề quản lý NSNN.Như vậy, các luận án, luận văn đều tiếp cận nghiên cứu công tác quản lý NSNN theo 03 nội dung cơ bản là: lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán. Tuy nhiên, điều kiện áp dụng của mỗi địa phương khác nhau là khác nhau, do đó, công tác quản lý NSNN cũng khác nhau. Hơn nữa, hiện nay chưa có công trình chính thống nào nghiên cứu quản lý chi NSNN huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, do đó, học viên đã quyết định lựa chọn đề tài này làm đối tượng nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tàiMục tiêu nghiên cứu của luận văn là tìm kiếm các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện quản lý chi NSNN của chính quyền cấp huyện tại huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới. Để thực hiện được mục tiêu nêu trên, luận văn xác định một số nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau: Xác định khung lý thuyết cho nghiên cứu về quản lý chi NSNN của chính quyền cấp huyện. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông; chỉ ra ra những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của điểm yếu trong quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý chi NSNN chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông. Phạm vi nghiên cứu: + Về nội dung: Nghiên cứu những nội dung cơ bản của quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, bao gồm: Lập dự toán chi NSNN cấp huyện; Chấp hành dự toán chi NSNN cấp huyện; Quyết toán chi NSNN cấp huyện; Kiểm tra, giám sát việc chấp hành dự toán chi NSNN cấp huyện.+ Về không gian: Huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông.+ Về thời gian: Số liệu thu thập, xử lý và phân tích trong giai đoạn 20112014; giải pháp được đề xuất đến năm 2020.

Trang 1

nguyễn ngọc lũy

quản lý chi ngân sách nhà nớc của chính quyền huyện đắk mil,

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các kết quảnghiên cứu trong luận văn là xác thực và chưa từng được công bố trong kỳ bất côngtrình nào khác trước đó

Tác giả

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

Trang 4

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

UBND : Ủy ban nhân dân

WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới

XDCB : Xây dựng cơ bản

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngân sách nhà nước (NSNN) có thể hiểu là một bản kế hoạch tài chính quốcgia, bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được thể hiện dưới hìnhthức cân đối bằng giá trị tiền tệ; được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định,thường là một năm Trong đó, chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế -

xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, hoạt động của bộ máy nhà nước và an sinh

xã hội; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy địnhcủa pháp luật

Ngân sách nhà nước cấp huyện hay ngân sách huyện là một cấp ngân sáchthực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN địa phương cấp huyện Việc tổchức quản lý ngân sách huyện hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xãhội, củng cố quốc phòng - an ninh, đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết được nhữngvấn đề bức thiết của xã hội trên địa bàn huyện

Đăk Mil là một huyện miền núi, biên giới tiếp giáp với nước bạn Campuchia,dân số trên 95.000 người, gồm 19 dân tộc anh em sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu

số chiếm trên 40%, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng yếukém, đời sống nhân dân còn thiếu thốn, tình hình an ninh chính trị tiềm ẩn nhiềuphức tạp Thu NSNN trên địa bàn không đáp ứng chi ngân sách địa phương, mà chủyếu phải bổ sung từ ngân sách tỉnh

Từ khi Luật NSNN ra đời, đặc biệt là Luật NSNN số 01/2002/QH11, ngày16/12/2002 đã mang lại nhiều kết quả quan trọng, tích cực trong công tác quản lýNSNN Việc phân cấp ngân sách đã nâng cao tính tự chủ, chủ động trong quản lý,điều hành NSNN góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cốquốc phòng - an ninh, ổn định chính trị ở địa phương

Tuy nhiên, công tác quản lý NSNN nói chung, quản lý chi ngân sách tạihuyện Đăk Mil nói riêng vẫn còn bộc lộ một số vướng mắc, bất cập, yếu kém như:Việc phân cấp giữa các cấp ngân sách đã được thực hiện nhưng chưa triệt để, nhiều

Trang 7

lĩnh vực chi, khoản chi vẫn chưa được phân cấp cho ngân sách cấp dưới Lập dựtoán NSNN chưa được sát đúng thực tiễn, dự báo thiếu chính xác; chấp hành ngânsách còn lúng túng, thiếu nguồn lực, chưa chủ động linh hoạt; Quyết toán chiNSNN còn chậm trễ, chưa tuân thủ trình tự thủ tục Việc phân cấp quản lý vốn đầu

tư cho cấp dưới còn hạn chế; chi đầu tư còn dàn trải, hiệu quả sử dụng vốn đầu tưcòn thấp, chi thường xuyên thường vượt định mức, vượt dự toán Định mức phân bổchi thường xuyên theo quy định tại Quyết định số 59/QĐ-TTg, ngày 30/9/2010 củaThủ tướng Chính phủ dựa vào hai tiêu chí chủ yếu là dân số và hệ số vùng đã cơbản đảm bảo được sự phát triển đồng đều giữa các địa phương, cách tính toán đơngiản, gọn nhẹ hơn Tuy nhiên, chưa thật sự sát với thực tế khi căn cứ vào một chủthể động, thay đổi thường xuyên như tiêu chí dân số để áp dụng tính toán cho một

hệ thống định mức phân bổ không thay đổi cho một thời kỳ ổn định 5 năm, trongkhi đó dân số, các chế độ, chính sách, giá cả hàng hóa thay đổi liên tục Từ đó, khigiao dự toán cho cấp huyện thì cấp tỉnh thường giao (áp đặt) ổn định số bổ sung cânđối ngân sách của năm đầu thời kỳ ổn định cho cả giai đoạn (5 năm), mà khôngđược điều chỉnh cho phù hợp thực tiễn của các năm cuối của thời kỳ ổn định, gâykhó khăn cho công tác quản lý, điều hành chi NSNN cấp huyện Cơ chế xin, chovẫn còn tồn tại kìm hãm sự phát triển, tạo sự nhũng nhiễu, quan liêu của một bộphận CBCC trong cấp phát, phân bổ ngân sách ở các cấp ngân sách; chính quyềncấp dưới còn trông chờ, ỷ lại cấp trên, thiếu tính chủ động trong thực hiện nhiệm vụthu NSNN cấp mình Năng lực trình độ của một số cán bộ làm công tác quản lý chiNSNN từ cấp huyện đến cấp xã, thị trấn và các đơn vị dự toán thuộc huyện còn yếu;việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chi NSNN còn nhiều hạn chế

Qua những phân tích trên, học viên nhận thấy sự cần thiết trong nghiên cứu,phân tích, đánh giá thực trạng và tìm kiếm giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chiNSNN trên địa bàn huyện Đăk Mil, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội,đảm bảo quốc phòng - an ninh trên địa bàn huyện Chính vì vậy, học viên đã mạnh

dạn lựa chọn đề tài “Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh

Đăk Nông” làm đối tượng nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tính đến thời điểm hiện tại, ở nước ta có rất nhiều công trình nghiên cứukhoa học, bao gồm các bài viết, các quan điểm, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ,chuyên đề thực tập tốt nghiệp nghiên cứu về vấn đề quản lý NSNN nói chung, quản

lý chi NSNN các cấp nói riêng Trong số đó, học viên xin nêu ra một số công trìnhnghiên cứu tiêu biểu:

- Bài viết “Đổi mới chính sách pháp luật về phân cấp quản lý NSNN” của

Ths Nguyễn Thị Hoàn Yến được đăng trên Tạp chí Tài chính số 9 - 2013 Tác giả

đã nêu ra một số bất cập trong phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam hiện nay, kếthợp với những yêu cầu đặt ra đối với NSNN trong thời kỳ hội nhập, để đề xuất một

số nội dung đổi mới pháp luật về phân cấp quản lý NSNN

- Bài viết “Phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam và định hướng đổi mới” của

TS Vũ Sỹ Cường - Khoa Tài chính công, Học viện Tài chính Bài viết đã phân tíchtổng quan về tình hình phân cấp quản lý ngân sách ở Việt Nam, chỉ ra những bấtcập, hạn chế trong phân cấp quản lý ngân sách, bao gồm:

Thứ nhất, cơ cấu ngân sách mang tính thứ bậc cao và tính lồng ghép củangân sách cấp dưới vào ngân sách cấp trên

Thứ hai, trên thực tế, chính quyền địa phương mới chỉ được tăng quyền về tổchức thực thi ngân sách, còn thẩm quyền quyết định vẫn thuộc về Trung ương Xét

về bản chất, phân cấp quản lý NSNN bao gồm sự phân chia 2 loại quyền: quyềnquyết định và quyền tổ chức thực thi

Thứ ba, tương quan giữa nguồn thu được giữ lại và nhiệm vụ chi của các cấpchính quyền địa phương chưa tương xứng

Thứ tư, việc giao nhiều quyền cho cấp tỉnh đồng thời làm hạn chế tính tự chủcủa ngân sách cấp dưới

Thứ năm, quy trình ngân sách với tính lồng ghép lớn và thời gian tương đốingắn làm cho việc lập dự toán ở các cấp dưới mang tính hình thức

Thứ sáu, vấn đề vay nợ của địa phương và kỷ luật ngân sách

Sau đó, bài viết đã đưa ra 07 hướng cải cách phân cấp quản lý ngân sách ở

Trang 9

Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả quản lý NSNN.

- Luận án tiến sĩ “Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN tỉnh An Giang giai đoạn

2011 - 2015 và tầm nhìn đến 2020” của tác giả Tô Thiện Hiền - Trường Đại học

Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012 Trong luận án, tác giả đã tiếp cậnnghiên cứu quản lý NSNN và hiệu quả quản lý NSNN tỉnh An Giang theo quy trìnhquản lý ngân sách, gồm: Lập dự toán NSNN; Chấp hành dự toán NSNN; Quyếttoán NSNN

- Luận án tiến sĩ “Phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam hiện nay” của tác giả

Lê Toàn Thắng - Học viện Hành chính, năm 2013 Luận án đã:

Nghiên cứu làm rõ các vấn đề liên quan đến quản lý NSNN như: khái niệmNSNN, thu chi NSNN, nguyên tắc và nội dung quản lý NSNN

Phân tích cơ sở lý luận của phân cấp quản lý NSNN như: khái niệm phân cấpquản lý NSNN, mục đích, căn cứ và nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN, nội dungphân cấp quản lý NSNN và các yếu tố ảnh hưởng

Phân tích đánh giá về thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam, nêulên những đánh giá về ưu điểm và tồn tại cũng như nguyên nhân của những tồn tạitrong phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam hiện nay

Dự báo những định hướng và đề xuất một số giải pháp về phân cấp quản lýNSNN ở Việt Nam

- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý ngân sách xã Thủy Sơn, huyện Thủy

Nguyên, Hải Phòng” của tác giả Phạm Thị Thu Thảo - Viện Đại học Mở Hà Nội,

năm 2013 Trong luận văn, tác giả đã tiếp cận nghiên cứu công tác quản lý NSNN

xã Thủy Sơn theo 03 nội dung: Lập dự toán thu - chi ngân sách xã; Chấp hành dựtoán ngân sách xã; Kế toán, quyết toán ngân sách xã

Bên cạnh đó, còn có rất nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu vềvấn đề quản lý NSNN

Như vậy, các luận án, luận văn đều tiếp cận nghiên cứu công tác quản lýNSNN theo 03 nội dung cơ bản là: lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán.Tuy nhiên, điều kiện áp dụng của mỗi địa phương khác nhau là khác nhau, do đó,

Trang 10

công tác quản lý NSNN cũng khác nhau Hơn nữa, hiện nay chưa có công trìnhchính thống nào nghiên cứu quản lý chi NSNN huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, do

đó, học viên đã quyết định lựa chọn đề tài này làm đối tượng nghiên cứu luận vănthạc sĩ của mình

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tìm kiếm các giải pháp phù hợp nhằmhoàn thiện quản lý chi NSNN của chính quyền cấp huyện tại huyện Đăk Mil, tỉnhĐắk Nông trong thời gian tới Để thực hiện được mục tiêu nêu trên, luận văn xácđịnh một số nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

- Xác định khung lý thuyết cho nghiên cứu về quản lý chi NSNN của chínhquyền cấp huyện

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi NSNN của chính quyền huyệnĐăk Mil, tỉnh Đăk Nông; chỉ ra ra những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân củađiểm yếu trong quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý chi NSNN chính quyền huyệnĐăk Mil, tỉnh Đăk Nông

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Nghiên cứu những nội dung cơ bản của quản lý chi NSNN

của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, bao gồm: Lập dự toán chi NSNN

cấp huyện; Chấp hành dự toán chi NSNN cấp huyện; Quyết toán chi NSNN cấp huyện; Kiểm tra, giám sát việc chấp hành dự toán chi NSNN cấp huyện.

+ Về không gian: Huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông

+ Về thời gian: Số liệu thu thập, xử lý và phân tích trong giai đoạn 2014; giải pháp được đề xuất đến năm 2020

2011-5 Câu hỏi nghiên cứu

- Chi NSNN là gì? Chi NSNN cấp huyện gồm những nội dung nào?

Trang 11

- Quản lý chi NSNN là gì? Mục tiêu quản lý chi NSNN của chính quyền cấphuyện?

- Quản lý chi NSNN cấp huyện bao gồm những nội dung nào?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý chi NSNN của chính quyềnhuyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông

- Thực trạng quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil trong thờigian qua như thế nào? Còn tồn tại những điểm yếu nào? Những nguyên nhân nàodẫn đến những điểm yếu đó?

- Trong thời gian tới, chính quyền cấp huyện ở huyện Đăk Mil cần thực hiệnnhững giải pháp nào để hoàn thiện quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện?

6 Phương pháp nghiên cứu

Mục tiêu quản lý chi NSNN của chính quyền cấp huyện

Nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN của chính quyền cấp

huyện

Nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán của bộ quản lý chi và các đơn vị sử dung, thụ hưởng

NSNN

Lập dự toán chi NSNN cấp huyện

Chấp hành dự toán chi NSNN cấp huyện

Quyết toán chi NSNN cấp huyện

Kiểm tra, giám sát việc chấp hành chi NSNN cấp

huyện

Trang 12

6.2 Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương phápluận duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương pháp nghiên cứu chủđạo xuyên suốt toàn bộ luận văn

Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống trong quá trình nghiên cứuluận văn

6.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này dựa trên nguồn thông tin thứ cấpthu thập được từ những tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở luận cứchứng minh giả thuyết, qua đó vận dụng vào điều kiện thực tiễn công tác quản lýchi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông

- Phương pháp thống kê nhằm điều tra, thu thập số liệu về tình hình chi vàkiểm soát chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông

- Phương pháp so sánh, diễn dịch: dựa trên số liệu thống kê thu thập được,luận văn sử dụng phương pháp so sánh, diễn dịch nhằm phân tích chi tiết thực trạngcông tác quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông

- Phương pháp nghiên cứu ứng dụng: dựa trên kết quả phân tích, đánh giácác nội dung công tác quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh ĐăkNông, các điểm yếu và nguyên nhân dẫn đến các điểm yếu trong quản lý chi ngânsách huyện, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi NSNN củachính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông trong thời gian tới

6.4 Quá trình nghiên cứu

Bước 1: Nghiên cứu tài liệu nhằm xác định khung lý thuyết về quản lý chiNSNN của chính quyền cấp huyện

Bước 2: Thu thập tài liệu, số liệu và tiến hành phân tích thực trạng quản lýchi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2011-2014

Bước 3: Trên cơ sở kết luận phân tích thực trạng, đề xuất một số giải pháphoàn thiện quản lý chi NSNN của chính quyền cấp huyện tại huyện Đăk Mil, tỉnhĐắk Nông đến năm 2020

Trang 13

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước của chính quyền

cấp huyện

Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước của chính

quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước của chính

quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ

NƯỚC CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN

1.1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN

1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước cấp huyện

Ngân sách Nhà nước là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử Sự hìnhthành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tếhàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của các cộng đồng và Nhà nướccủa từng cộng đồng Nói cách khác, sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của nền kinh

tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát triển của NSNN

Điều 1, Luật NSNN năm 2002 đã đưa ra rằng: “Ngân sách Nhà nước là toàn

bộ các khoản thu - chi của Nhà nước được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”.

Các khoản thu NSNN bao gồm: Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoảnthu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cánhân, các khoản viên trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Các khoản chi NSNN bao gồm: Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội,quốc phòng, an ninh, bảo đảm các hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi trả nợ Nhànước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

NSNN cấp huyện là một cấp ngân sách trong hệ thống NSNN Việt Nam.Căn cứ vào Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 và các văn bản hướng dẫn thi hànhLuật, NSNN bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Ngân sáchđịa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhândân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND) theo quy định của Luật tổ chức HĐND

và UBND theo quy định hiện hành bao gồm:

- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây sẽ gọi chung làngân sách tỉnh)

Trang 15

- NSNN cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là NSNNcấp huyện hay ngân sách huyện).

- Ngân sách xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách xã)

Hình 1.1 Hệ thống ngân sách Nhà nước Việt Nam

Nguồn: Tác giả tổng hợp

NSNN cấp huyện là một cấp ngân sách của chính quyền huyện, do UBNDhuyện xây dựng, quản lý và sử dụng, do HĐND huyện quyết định và giám sát quátrình tổ chức thực hiện

Như vậy, khái niệm NSNN cấp huyện có thể được khái quát như sau: Ngân

sách nhà nước cấp huyện là toàn bộ các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể phát

sinh trong quá trình tạo lập phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nước cấp huyện nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước cấp huyện trong khuôn khổ được phân công quản lý.

NSNN cấp huyện mang bản chất của NSNN, đó là mối quan hệ giữa NSNNcấp huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình phân bổ, sửdụng các nguồn lực kinh tế của huyện, mối quan hệ đó được điều chỉnh, điều tiết

Ngân sách Nhà nước

Ngân sách

Ngân sách tỉnh và các thành phố

trực thuộc trung ương

Ngân sách quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnhNgân sách xã, phường, thị trấn

Trang 16

sao cho phù hợp với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa Đó là Nhà nước của dân,

do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam

1.1.2 Đặc điểm của ngân sách nhà nước cấp huyện

- NSNN cấp huyện là một cấp ngân sách có nguồn thu và nhiệm vụ chi riêng.

Đó là một hướng đi đúng đắn trong quá trình phát triển nền tài chính quốc gia.Trước tiên, nó giúp cho ngân sách cấp tỉnh, Trung ương giảm được khối lượng côngviệc Tiếp theo, nó giúp cho cấp chính quyền cấp huyện có thể nắm bắt được tìnhhình kinh tế - xã hội, chủ động trong sử dụng ngân sách cấp mình để đảm bảo duytrì hoạt động của hệ thống chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cốquốc phòng an ninh trên địa bàn

- NSNN cấp huyện mang bản chất của NSNN: đó là mối quan hệ giữa NSNN

cấp huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình phân bổ, sửdụng các nguồn lực kinh tế của huyện

- Các hoạt động thu - chi của NSNN cấp huyện luôn gắn với chức năng, nhiệm vụ của chính quyền huyện theo luật định, đồng thời luôn chịu sự kiểm tra,

giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước ở cấp huyện Chính vì vậy các chỉ tiêuthu - chi của NSNN cấp huyện luôn mang tính pháp lý

hiện nhiệm vụ thu - chi của một cấp chính quyền địa phương và là đơn vị nhận bổsung từ ngân sách cấp tỉnh, đồng thời cấp bổ sung cho ngân sách cấp xã, thị trấn

Việc NSNN cấp huyện trở thành một cấp ngân sách đã làm cho bộ mặtNSNN mang một diện mạo, sắc thái mới, nền tài chính quốc gia trở nên lành mạnh

và hiệu quả hơn Ngoài ra, NSNN cấp huyện còn thể hiện bản chất chính trị củaNhà nước ta thông qua việc thực hiện đúng đắn, hiệu quả, sáng tạo, chủ động, linhhoạt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở địa phương cấp huyện

1.1.3 Vai trò của ngân sách nhà nước cấp huyện

NSNN cấp huyện có vai trò đảm bảo chức năng quản lý Nhà nước của chínhquyền nhằm duy trì hoạt động của hệ thống chính trị cấp huyện, thúc đẩy phát triểnkinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, đảm bảo an sinh xã hội, hạn chế

Trang 17

khiếm khuyết của thị trường, giữ vững ổn định, công bằng xã hội và bảo vệ môitrường, thể hiện:

- NSNN cấp huyện bảo đảm thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước của chính quyền huyện, đảm bảo hoạt động của hệ thống chính trị, củng cố quốc phòng

an ninh và trật tự an toàn xã hội:

Là một cấp chính quyền, huyện cũng tổ chức ra cho mình một hệ thống các

cơ quan, đoàn thể hành chính nhằm thực hiện các chức năng quản lý của Nhà nước.Điều đó cũng có nghĩa là để cho các cơ quan, đoàn thể đó hoạt động được cần phải

có một quỹ tài chính tập trung cho nó - đó chính là NSNN cấp huyện Mặc dùkhông lớn mạnh như ngân sách Trung ương nhưng NSNN cấp huyện cũng tạo chomình một vị thế nhất định nhằm chủ động trong việc thực hiện chức năng Nhà nước

ở địa phương Đây là công cụ quyền lực của Nhà nước, nhằm bảo vệ ý chí của Nhànước, tạo điều kiện an toàn để huyện phát triển mọi mặt

- NSNN cấp huyện là công cụ thúc đẩy sự phát triển và ổn định kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện:

Để thực hiện tốt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cấp huyện cần phải

sử dụng các công cụ sẵn có của mình để điều tiết – đó là ngân sách Huyện phải căn

cứ vào thế mạnh, nguồn lực của địa phương mình để định hướng, hình thành cơ cấukinh tế, kích thích phát triển: hỗ trợ kinh phí, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạomôi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh và nhân dân trên địa bànhoạt động và phát triển

- NSNN cấp huyện là phương tiện bù đắp khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, gìn giữ môi trường trên địa bàn huyện:

Như chúng ta đã biết, kinh tế thị trường là chạy theo lợi nhuận bất chấp hậuquả Do đó, một loạt các vấn đề xảy đến: Thất nghiệp, khoảng cách giàu nghèotăng, môi trường ô nhiễm… Những điều đó tạo ra cho nền kinh tế - xã hội một vựcthẳm phía trước Cấp huyện theo dõi các báo cáo tổng hợp từ cấp xã, thị trấn phải

có biện pháp khắc phục, giải quyết từ cơ sở

Ngoài việc quan tâm đến đời sống vật chất của người lao động, huyện phải

Trang 18

thường xuyên quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần của người dân, tăng cườngcác thiết chế văn hoá, tạo sân chơi, phương tiện giải trí lành mạnh, tiến bộ Các dịch

vụ công cộng như giáo dục, y tế phải giảm được chi phí cho người dân, làm sao để

ai cũng được học hành, chăm sóc sức khỏe đầy đủ

1.2 CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN

1.2.1 Khái niệm chi ngân sách nhà nước cấp huyện

Chi NSNN là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan gắn liền với sự tồn tạicủa Nhà nước Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trangtrải cho các chi phí của bộ máy nhà nước và thực hiện các mục tiêu kinh tế, chínhtrị, xã hội, an ninh, quốc phòng Theo các nhà chuyên môn tài chính: “Chi NSNN làviệc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng củaNhà nước theo những nguyên tắc nhất định”

Theo Điều 2.2 luật NSNN năm 2002 thì: “Chi NSNN bao gồm các khoản chi

phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, đảm bảo bộ máy hoạt động của Nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật”.

Chi NSNN bao gồm nhiều khoản chi khác nhau tùy theo cách phân loại.Theo lĩnh vực hoạt động, chi NSNN bao gồm: chi quản lý hành chính, chi đầu tưphát triển, chi sự nghiệp kinh tế, môi trường, chi sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hoáthông tin thể thao, truyền thanh, truyền hình, chi an ninh quốc phòng, chi đảm bảo

an sinh xã hội…; theo mục đích chi tiêu, chi NSNN bao gồm chi tích luỹ, chi tiêudùng; theo thời hạn tác động của các khoản chi, chi NSNN bao gồm: chi thườngxuyên, chi đầu tư phát triển và chi khác (như chi cho vay, trả nợ, viện trợ )

Như vậy, chi NSNN là tổng thể các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trịphát sinh trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc khônghoàn trả trực tiếp nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước

Chi NSNN thể hiện trong hai quá trình: Quá trình phân phối và quá trình sử

dụng tiền tệ của Nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước.

Đối với cấp ngân sách địa phương, cụ thể là ngân sách huyện thì bản chất

Trang 19

của chi NSNN cấp huyện cũng giống như bản chất của chi NSNN nói chung, điềukhác nhau đó chính là phạm vi tác động của chi NSNN Khái niệm chi NSNN cấphuyện được khái quát như sau:

Chi ngân sách nhà nước cấp huyện là việc chính quyền cấp huyện phân

phối và sử dụng quỹ NSNN của địa phương nhằm bảo đảm điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động của bộ máy Nhà nước ở cấp huyện và thực hiện các chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng

ở địa phương dựa trên các nguyên tắc nhất định.

Phạm vi chi NSNN cấp huyện rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liênquan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng

- Quyền quyết định dự toán chi ngân sách và phương án phân bổ ngân sáchcấp huyện do HĐND huyện quyết định và giao cho UNBD huyện tổ chức triển khaithực hiện

- Chi NSNN cấp huyện không mang tính lợi nhuận, chú trọng đến lợi íchcộng đồng, lợi ích kinh tế - xã hội

- Sự quản lý chi NSNN cấp huyện phải tôn trọng nguyên tắc công khai, minhbạch và có sự tham gia của công chúng

1.2.2 Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước cấp huyện

Chi NSNN thực hiện vai trò của nhà nước, là công cụ để nhà nước điều hànhnền kinh tế theo mục đích của mình, góp phần thúc đẩy kinh tế, giải quyết nhữngvấn đề xã hội và khắc phục các khiếm khuyết của thị trường Theo đó, chi NSNNnói chung và chi NSNN cấp huyện nói riêng có đặc điểm sau:

- Chi NSNN cấp huyện là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư trên địa bàn huyện Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền

kinh tế - xã hội của Nhà nước và cũng chính trong quá trình thực hiện chức năng đóNhà nước đã cung cấp một lượng lớn hàng hóa công cộng cho nền kinh tế

- Chi NSNN cấp huyện luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước cùng cấp và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước thực hiện Các khoản chi

NSNN cấp huyện đã được quy định trong Luật NSNN năm 2002, các văn bản

Trang 20

hướng dẫn thi hành Luật NSNN và các quy định về phân cấp quản lý NSNN; Cáckhoản chi tiêu này nhằm đảm bảo cho các cấp chính quyền huyện thực hiện chứcnăng quản lý, phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, chính quyền huyện phải là chủthể quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi NSNN cấp huyện nhằmthực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương.

- Chi NSNN cấp huyện cung cấp các khoản hàng hóa công cộng như đầu tư

xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, bảo đảm trật tự xã hội, đồng thời đó cũng lànhững khoản chi cần thiết, phát sinh tương đối ổn định như: chi lương và các khoản

có tính chất lương cho cán bộ, công chức, viên chức bộ máy Nhà nước, chi hànghóa dịch vụ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công cộng của các tầng lớp dân cư

- Các khoản chi NSNN mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp Điều này thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của

những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới các hình thức các khoản chi NSNN.Điều này được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về kinh tế - xã hội củaNhà nước ở địa phương

1.2.3 Nội dung chi ngân sách nhà nước cấp huyện

Nếu như quá trình thu là quá trình tạo lập, hình thành ngân sách thì chi ngânsách là quá trình sử dụng ngân sách Chi ngân sách là quá trình sử dụng quỹ NSNNtheo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế,chính trị, xã hội của Nhà nước

Nhiệm vụ chi của ngân sách huyện bao gồm:

- Chi đầu tư phát triển: Đầu tư các công trình kết cầu hạ tầng kinh tế - xã hội

do tỉnh phân cấp cho huyện quản lý theo quy định hiện hành; chi đầu tư phát triểncác chương trình mục tiêu Quốc gia do cấp huyện được giao thực hiện; các khoảnchi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật

- Chi thường xuyên: Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục vàđào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, truyền thanh, truyền hình, thể dục thể thao,khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do cấp huyệnquản lý; các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội (phần giao

Trang 21

ngân sách huyện thực hiện theo quy định trung ương và của tỉnh); hoạt động củacác cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị -

xã hội cấp huyện; hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xãhội, tổ chức xã hội nghề nghiệp ở cấp huyện theo quy định của pháp luật; thực hiệncác chính sách xã hội đối với các đối tượng do huyện quản lý; chi thường xuyên cácchương trình mục tiêu quốc gia do huyện quản lý thực hiện; trợ giá, trợ cước theochính sách của Nhà nước do cấp huyện quản lý; các khoản chi thường xuyên kháccủa cấp huyện theo quy định của pháp luật

- Chi bổ sung cho ngân sách xã, thị trấn

- Chi chuyển nguồn ngân sách cấp huyện năm trước sang năm sau

Việc cấp phát kinh phí của ngân sách huyện bao gồm cấp phát các khoản chi thường xuyên và cấp phát vốn đầu tư và được thực hiện như sau:

Căn cứ vào dự toán chi NSNN năm được giao và dự toán ngân sách quý; căn

cứ tiến độ triển khai công việc, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ và điều kiện chi ngânsách, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách quyết định chi gửi KBNN kèm theo cáctài liệu cần thiết theo chế độ quy định Việc thanh toán vốn và kinh phí ngân sáchthực hiện theo nguyên tắc chi trả trực tiếp từ KBNN cho người hưởng lương, trợcấp và người cung cấp hàng hoá, dịch vụ Các hình thức cấp phát kinh phí:

- Cấp phát bằng hạn mức kinh phí (rút dự toán): Đối tượng cấp phát theo

hình thức hạn mức kinh phí là các khoản chi thường xuyên của các đơn vị dự toáncủa NSNN:

+ Các cơ quan hành chính Nhà nước

+ Các đơn vị sự nghiệp

+ Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệpthường xuyên được NSNN cấp kinh phí

- Cấp phát bằng hình thức lệnh chi tiền: Đối tượng cấp phát theo hình thức

này là cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam thuộc huyện, hỗ trợ các tổ chức xã hội,các cơ quan, đơn vị không có quan hệ thường xuyên với ngân sách huyện, chi anninh - quốc phòng địa phương; bổ sung từ ngân sách huyện cho ngân sách cấp dưới

Trang 22

và một số khoản chi đặc biệt khác theo quyết định của thủ trưởng cơ quan tài chính.

- Đối với chi sự nghiệp kinh tế: Căn cứ vào dự toán chi NSNN năm được

giao và dự toán ngân sách quý; căn cứ tiến độ triển khai công việc, yêu cầu thựchiện nhiệm vụ và điều kiện chi ngân sách, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sáchquyết định chi gửi KBNN kèm theo các tài liệu cần thiết theo chế độ quy định

- Đối với các khoản chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia: Đối với các

khoản chi đã giao cho các đơn vị trực tiếp thực hiện thì cấp phát theo quy trình; Đốivới các khoản chi uỷ quyền thì cơ quan Tài chính cấp trên chuyển kinh phí uỷquyền cho cơ quan Tài chính cấp dưới để cấp phát

- Cấp phát vốn đầu tư: Căn cứ vào dự toán ngân sách năm được giao, giá trị

khối lượng công việc đã thực hiện và điều kiện chi ngân sách, chủ đầu tư lập hồ sơ

đề nghị thanh toán kèm theo các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật gửiKBNN huyện

- Ghi thu, ghi chi bằng hiện vật và ngày công lao động: Đối với các khoản

thu, chi ngân sách bằng hiện vật hoặc ngày công lao động: Căn cứ vào biên bản bàngiao hiện vật hoặc ngày công lao động, giá hiện vật hoặc ngày công lao động đượcduyệt, cơ quan Tài chính làm lệnh ghi thu, ghi chi ngân sách gửi KBNN để hạchtoán thu - chi NSNN

- Cấp phát kinh phí uỷ quyền: Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp

trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ thuộcchức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới đểthực hiện nhiệm vụ đó Hình thức chuyển kinh phí chủ yếu bằng hạn mức kinh phí.Đối với các khoản chi nhỏ, nội dung chi đã xác định rõ thì có thể chuyển kinh phíbằng hình thức lệnh chi tiền

1.3 QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN

1.3.1 Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước của chính quyền cấp huyện

Theo giáo trình “Quản lý học”, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2012

thì: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực

Trang 23

và hoạt động của hệ thống xã hội nhằm đạt được mục đích của hệ thống với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động”.

Quản lý tác động lên các nguồn lực và hoạt động của hệ thống xã hội Đốitượng chủ yếu và trực tiếp của quản lý là các mối quan hệ con người bên trong vàbên ngoài hệ thống Chủ thể quản lý tác động lên con người, thông qua đó mà tácđộng đến các yếu tố vật chất và phi vật chất khác như vốn, vật tư, máy móc, côngnghệ, thông tin để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hoạt động

Như vậy, khái niệm quản lý chi NSNN của chính quyền cấp huyện có thểđược khái quát như sau:

Quản lý chi NSNN chính quyền cấp huyện là quá trình chính quyền cấp

huyện vận dụng các quy luật khách quan, sử dụng hệ thống các phương pháp, công

cụ quản lý tác động lên các hoạt động chi NSNN nhằm phục vụ tốt nhất việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ở địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Quản lý chi NSNN của chính quyền cấp huyện là sự liên kết hữu cơ giữaNhà nước với tư cách là chủ thể quản lý với khách thể quản lý là các đơn vị sử dụngNSNN và đối tượng quản lý là các khoản chi NSNN

Chủ thể quản lý chi NSNN của chính quyền cấp huyện chính là chính quyền

huyện - cơ quan trực tiếp tổ chức, điều khiển quá trình phân phối, sử dụng quỹNSNN cấp huyện

Đối tượng tác động của quản lý chi NSNN của chính quyền cấp huyện là

toàn bộ các khoản chi của NSNN cấp huyện được bố trí để phục vụ cho việc thựchiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Công cụ quản lý chi NSNN của chính quyền cấp huyện: Để thực hiện quản

lý, chính quyền huyện cần phải sử dụng hệ thống các công cụ, trong đó bao gồmcác yếu tố: Các chính sách kinh tế - tài chính, pháp chế kinh tế - tài chính, chươngtrình hóa các mục tiêu, dự án

Cơ chế quản lý chi NSNN của chính quyền cấp huyện: Là phương thức mà

qua đó chính quyền huyện sử dụng các công cụ quản lý tác động vào quá trình phân

Trang 24

phối và sử dụng các nguồn lực tài chính để hướng vào đạt những mục tiêu đã định.

1.3.2 Mục tiêu quản lý chi ngân sách nhà nước của chính quyền cấp huyện

NSNN cấp huyện là cấp tài chính Nhà nước ở địa phương, hiệu quả của quản

lý NSNN cấp huyện ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính của quốc gia Do

đó, công tác quản lý chi NSNN cấp huyện có vai trò rất quan trọng, chứa đựng cảmục tiêu chung của quản lý chi NSNN nói chung và mục tiêu riêng của địa phương.Quản lý chi NSNN cấp huyện hướng đến những mục tiêu cơ bản sau đây:

- Đảm bảo việc chấp hành chính sách, pháp luật về chi NSNN của chính quyền cấp huyện: đây vừa là mục tiêu, vừa là nguyên tắc mà công tác quản lý chi

NSNN cấp huyện cần hướng tới Tuy nhiên thực tế công tác quản lý NSNN ở nước

ta những năm qua cho thấy, tình trạng một bộ phận cán bộ quản lý ngân sách viphạm các quy định về quản lý NSNN còn xảy ra Bên cạnh đó, việc chấp hànhchính sách, pháp luật về chi NSNN về phía các đối tượng sử dụng NSNN cũng làvấn đề cần nhận được sự quản lý chặt chẽ từ phía chính quyền nhằm đảm bảoNSNN được sử dụng đúng mục đích và đem lại hiệu quả cao nhất

- Nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN của chính quyền cấp huyện: căn cứ trên

các nội dung quản lý chi NSNN được quy định trong Luật NSNN năm 2002, chínhquyền cấp huyện tổ chức thực hiện đầy đủ, nghiêm túc từ khâu lập dự toán, chấphành dự toán, quyết toán và kiểm tra, giám sát việc chấp hành dự toán chi NSNN

Từ đó, dần đưa việc phân phối, sử dụng quỹ NSNN của chính quyền cấp huyện trởnên công khai, minh bạch, rõ ràng và hiệu quả Đây là mục tiêu căn bản của côngtác quản lý chi NSNN cấp huyện nhằm đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ phát triểnkinh tế - xã hội của địa phương

- Nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ quản lý chi và các đơn vị sử dụng, thụ hưởng NSNN: thông qua công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành quản

lý chi NSNN, chính quyền huyện phát hiện, xử lý kịp thời, hợp lý các trường hợp viphạm các quy định về quản lý, phân bổ, sử dụng NSNN trên địa bàn huyên Đồngthời, kết hợp với công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệmcủa cán bộ quản lý chi và các đơn vị sử dụng, thụ hưởng NSNN

Trang 25

1.3.3 Nguyên tắc quản lý chi ngân sách nhà nước của chính quyền cấp huyện

- Nguyên tắc tập trung thống nhất:

Tính thống nhất thể hiện ở tính chất pháp lý của kế hoạch tài chính, ngânsách Ở cấp huyện thì HĐND huyện phê chuẩn kế hoạch tài chính, ngân sáchhuyện, UBND huyện căn cứ Nghị quyết của HĐND quyết định giao dự toán cho chicho các đơn vị thụ hưởng ngân sách và số bổ sung cho ngân sách cấp xã Cơ chếnày đảm bảo rằng các chính sách công, các mục tiêu, ưu tiên của Nhà nước phảixuất phát từ lợi ích chung của cộng đồng, đồng thời kế hoạch tài chính, ngân sách

có tính tập trung cao

- Nguyên tắc mọi khoản chi NSNN đều phải được kiểm tra, kiểm soát trên cơ

sở chế độ, tiêu chuẩn, định mức Nhà nước:

Tất cả các khoản chi NSNN cấp huyện phải được kiểm tra, kiểm soát chặtchẽ trong quá trình chi trả, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán chiNSNN được cấp có thẩm quyền giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp cóthẩm quyền qu định Phòng Tài chính – Kế hoạch, KBNN huyện tổ chức kiểm tra,kiểm soát theo quy định

- Nguyên tắc công khai, minh bạch:

Nguồn kinh phí phục vụ cho chi NSNN cấp huyện chủ yếu từ nguồn thuế,phí do nhân dân đóng góp nên phải đảm bảo rõ ràng, công khai để các tổ chức, cánhân giám sát và tham gia Các quyết định ban hành phải có căn cứ, có cơ sở, chiphí, lợi ích gắn liền với quyết định phải rõ ràng, dễ tiếp cận Khi được phê chuẩn,

kế hoạch tài chính ngân sách trở thành nguồn thông tin truyền tải toàn bộ mục tiêu,quan điểm của chính phủ và là căn cứ để cơ quan hành pháp, lập pháp tham giakiểm tra, giám sát thực hiện; cơ quan tài chính, các đơn vị dự toán phải thực hiệncông khai dự toán, kế hoạch tài chính theo quy định Như vậy, thực hiện nguyên tắcnày vừa nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến ngân sách,vừa đảm bảo sử dụng ngân sách tiết kiệm, có hiệu quả, vừa giúp phát hiện chỉnh sửa

để thông tin về ngân sách sát đúng thực tiễn

Trang 26

- Nguyên tắc đảm bảo cân đối thu - chi trong họat động tài chính:

Kế hoạch tài chính, ngân sách nói riêng và công tác kế hoạch nói chung đềuphải mang tính cân đối và ổn định Đảm bảo cân bằng thu - chi, tránh trường hợpchi lớn hơn thu Tuân thủ nguyên tắc này để thực hiện có hiệu quả chức năng, sứmệnh của nhà nước trong việc duy trì trật tự xã hội và khắc phục những thất bại củanền kinh tế thị trường

- Nguyên tắc chi đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương:

Chi ngân sách phải dựa trên nguồn thu có được, nhưng nguồn thu lại đượchình thành chủ yếu từ hoạt động kinh tế, do đó cần ưu tiên cho chi đầu tư phát triểnkinh tế, tạo điều kiện để các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bànphát triển, thúc đẩy, nuôi dưỡng nguồn thu Mặt khác trong nền kinh tế thị trường,trách nhiệm của Nhà nước là phải tập trung giải quyết vấn đề về phát triển kinh tế -

xã hội, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo xã hội, bảo vệ môi trường,phòng chống thiên tai, dịch bệnh, khắc phục chênh lệch giữa các vùng miền NSNN chính là công cụ để Nhà nước thực hiện trách nhiệm xã hội to lớn đó

- Nguyên tắc chi cân đối hài hòa giữa các ngành với nhau, giữa trung ương

và địa phương, kết hợp giải quyết ưu tiên chiến lược trong từng thời kỳ:

Giải quyết mối quan hệ giữa phát triển ngành - địa phương, giữa các ngành,giữa các địa phương để xây dựng ngân sách, thúc đẩy phát triển cân đối, toàn diện,tạo ra mối quan hệ tương tác hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngành, các địa phương Giảiquyết mối quan hệ giữa trung ương - địa phương theo hướng giao quyền tự chủ chođịa phương để khuyến khích địa phương khai thác tiềm năng thế mạnh, tạo chủđộng cho địa phương, gắn trách nhiệm với quyền lợi địa phương

Nguyên tắc này tạo cho chi NSNN trở thành công cụ hữu hiệu để điều hành

có hiệu quả, gắn ngân sách với chính sách kinh tế và đảm bảo cho ngân sách đượccân đối vững chắc, chủ động khi có biến động về nguồn thu

1.3.4 Bộ máy quản lý chi ngân sách nhà nước của chính quyền cấp huyện

Tại cấp huyện, bộ máy quản lý chi NSNN bao gồm các cơ quan sau:

Trang 27

- HĐND huyện: Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, có nhiệm vụ

quyết định dự toán chi NSNN địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp huyện;phê chuẩn quyết toán chi ngân sách địa phương; quyết định các chủ trương, biệnpháp để triển khai thực hiện chi ngân sách; điều chỉnh dự toán chi ngân sách địaphương trong trường hợp cần thiết; giám sát việc thực hiện chi ngân sách đã đượcHĐND hyện quyết định

- UBND huyện: Là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách

nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan Nhà nước cấp trên UBND huyện cónhiệm vụ lập dự toán chi NSNN trên địa bàn, phương án phân bổ dự toán chi ngânsách cấp mình; quyết toán chi ngân sách địa phương; lập dự toán điều chỉnh chingân sách địa phương trong trường hợp cần thiết trình HĐND huyện quyết định vàbáo cáo UBND tỉnh và Sở Tài chính tỉnh Tổ chức thực hiện chi ngân sách địaphương; hướng dẫn, kiểm tra UBND cấp xã xây dựng, thực hiện chi ngân sách vàkiểm tra nghị quyết của HĐND xã về thực hiện ngân sách địa phương theo quy địnhcủa pháp luật

- Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện: Là cơ quan chuyên môn thuộc UBND

huyện, có chức năng tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lýNhà nước về lĩnh vực tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật Phòng Tàichính - Kế hoạch huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công táccủa UBND huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên mônnghiệp vụ thuộc lĩnh vực tài chính của Sở Tài chính

- Kho bạc Nhà nước huyện: Là cơ quan thuộc KBNN tỉnh Đăk Nông (trực

thuộc Bộ Tài chính) thực hiện quản lý quỹ ngân sách huyện và các quỹ khác củaNhà nước được giao, tổ chức thực hiện kiểm soát thanh toán, chi trả các khoản chiNSNN trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật

1.3.5 Nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước của chính quyền cấp huyện

Quản lý chi NSNN cấp huyện là quá trình quản lý hệ thống các quan hệ kinh

tế phát sinh trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhànước cấp huyện; quản lý các khoản chi của huyện được dự toán bởi UBND huyện,

Trang 28

đã được HĐND huyện quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảothực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cấp trên giao và huyện đề ra Quản lý chiNSNN cấp huyện bao gồm các khâu sau:

1.3.5.1 Lập dự toán chi ngân sách nhà nước cấp huyện

Luật NSNN năm 2002 quy định, hàng năm căn cứ chỉ thị của UBND tỉnh,hướng dẫn của Sở Tài chính, UBND huyện tiến hành lập dự toán ngân sách nămsau của cấp mình, đồng thời tổ chức thảo luận dự toán ngân sách với Sở Tài chính.Trên cơ sở dự toán đã được UBND tỉnh giao và tình hình thực tế địa phương,UBND huyện lập dự toán chi NSNN địa phương và phương án phân bổ ngân sáchhuyện trình HĐND huyện quyết định, đồng thời UBND huyện ra quyết định giao

dự toán chi ngân sách chi tiết, cụ thể cho các cơ quan, đơn vị thụ hưởng ngân sách,giao số bổ sung cho ngân sách cấp xã Trong quản lý chi ngân sách nhất thiết phảitheo Mục lục NSNN, có định mức cho từng nhóm mục chi hay cho mỗi đối tượng

cụ thể Nhờ đó cơ quan tài chính mới có căn cứ để lập các phương án phân bổ ngânsách, kiểm tra, kiểm soát quá trình lập, chấp hành, thẩm tra phê duyệt quyết toánkinh phí của các đơn vị thụ hưởng Đồng thời dựa vào tiêu chuẩn, định mức chi màcác ngành, các cấp, các đơn vị mới có căn cứ pháp lý để triển khai các công việc cụthể của quá trình quản lý, sử dụng kinh phí tại đơn vị mình theo đúng chế độ, chínhsách

a) Xây dựng định mức chi

Thông thường định mức chi được thể hiện dưới hai dạng: Loại định mức chichi tiết theo từng mục chi của Mục lục NSNN (còn gọi là định mức sử dụng) và loạiđịnh mức chi tổng hợp theo từng đối tượng, từng ngành, lĩnh vực được tính địnhmức chi của NSNN (còn gọi là định mức phân bổ)

Để xác định định mức chi, người ta sử dụng một số phương pháp xây dựngnhư sau:

- Đối với các định mức sử dụng:

+ Xác định nhu cầu chi cho mỗi mục;

+ Tổng hợp nhu cầu chi theo các mục đã được xác định để biết được tổng

Trang 29

mức cần chi từ NSNN cho mỗi đơn vị, mỗi ngành làm cơ sở để lên cân đối chung;

+ Xác định khả năng về nguồn tài chính có thể đáp ứng cho nhu cầu chi;+ Phân bổ dự toán ngân sách phải theo thứ tự thời gian (tháng, quý, năm) vàtình hình thu NSNN ở địa phương;

+ Cân đối giữa khả năng và nhu cầu chi để quyết định mức chi cho các mục

- Đối với định mức phân bổ:

+ Đưa ra được cơ sở tính toán để xây dựng định mức, bao gồm: định hướngphát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn lập dự toán chi, tính toán hết cácchế độ chính sách đã phát sinh, các tiêu chí phụ (vùng miền, các địa phương

có tính chất đặc thù)…;

+ Xác định đối tượng định tính và định lượng;

+ Đánh giá, phân tích tình hình thực tế chi theo định mức chi nhằm xem xéttính phù hợp của định mức hiện hành;

+ Xác định khả năng nguồn tài chính có thể huy động để đáp ứng cho nhucầu chi;

+ Thiết lập cân đối tổng quát và quyết định định mức phân bổ theo mỗi đốitượng tính định mức

b) Lập kế hoạch chi ngân sách

Để đạt được ba mục tiêu chính của quản lý chi NSNN, quá trình chuẩn bịngân sách cần đạt được mục tiêu: (i) đảm bảo ngân sách phù hợp với các chính sáchkinh tế vĩ mô và hạn chế nguồn lực; (ii) phân bổ nguồn lực phù hợp với chính sách;

và (iii) đưa ra điều kiện đối với việc quản lý hoạt động hiệu quả Những lựa chọn vàcân đối hợp lý phải được thực hiện rõ ràng khi tính toán ngân sách

Trong quá trình lập chương trình chi tiêu những ràng buộc tài chính cần phảiđược tạo lập để tránh những vấn đề phát sinh từ những phương pháp tiếp cận còn

“để ngỏ”, ví dụ như thương lượng quá mức, hoặc né tránh những sự lựa chọn cầnthiết Việc lập ngân sách thường niên (cũng như bất kỳ một chương trình chi tiêunào) thường được thực hiện theo một trong các phương pháp sau:

- Phương pháp tiếp cận từ trên xuống, phương pháp này gồm hai bước: Thứ

Trang 30

nhất, xác định các nguồn tổng hợp có sẵn phục vụ cho chi NSNN trong giai đoạnhoạch định (được trích từ khung kinh tế vĩ mô thích hợp); Thứ hai, thiết lập nhữnggiới hạn chi tiêu của ngành, lĩnh vực phù hợp với những sự ưu tiên của Chính phủ,của tỉnh.

- Phương pháp tiếp cận từ dưới lên bao gồm tính toán và định giá các

chương trình chi tiêu của ngành, lĩnh vực cho giai đoạn hoạch định trong phạm vinhững giới hạn chi tiêu của ngành, lĩnh vực đã được cung cấp;

- Các cơ chế lập, đàm phán và điều chỉnh để đạt được nhất quán tổng thể

cuối cùng giữa mục tiêu và khả năng ngân sách

Trong ngắn hạn, hầu hết các khoản chi tiêu là cố định Do đó, những đánhgiá về chi tiêu trong tương lai phải được làm rõ khi lập ngân sách, gồm cả nhữngchi phí hiện tại của những dự án đầu tư, và tổng chi phí của các dự án đầu tư vớiquy mô lớn (và kế hoạch thực hiện)

1.3.5.2 Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước cấp huyện

Sau khi HĐND huyện quyết định dự toán chi ngân sách địa phương vàphương án phân bổ ngân sách cấp huyên, UBND huyện tiến hành phân bổ và giao

dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc Dự toán chiNSNN được phân bổ chi tiết theo từng loại và các khoản mục của Mục lục NSNN

Quá trình thực hiện ngân sách phải tính đến những thay đổi trong thực tế, vàlàm tăng hiệu suất hoạt động Cần phải có thủ tục kiểm soát, tuy nhiên không nêngây cản trở đến hiệu suất cũng không làm thay đổi thành phần ngân sách bên trong,

và phải chú trọng vào yếu tố cần thiết trong khi đem lại sự linh hoạt và mềm dẻocho các cơ quan chi tiêu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình

a) Kiểm soát chi tiêu

Hệ thống ngân sách nên đảm bảo kiểm soát chi phí có hiệu quả Bên cạnhnguồn ngân sách thực tế, một hệ thống thực thi ngân sách hoàn thiện nên bao gồm:

- Hệ thống kế toán thích hợp/ngân sách hoàn thiện Ngay từ giai đoạn đầucủa tiến trình chi tiêu cần phải theo dõi chặt chẽ các hoạt động cam kết, thẩm định,kiểm soát, thanh toán và những biến động giữa các khoản phân bổ ngân sách và các

Trang 31

hạng mục ngân sách (tách khoản, chuyển khoản, điều chỉnh, bổ sung);

- Kiểm soát có hiệu quả ngay từ giai đoạn đầu tiến trình chi tiêu, cho dù dướibất kỳ hình thức hay tổ chức nào;

- Một hệ thống quản lý thông tin trong đó theo dõi các công việc đã đượchoạt động và những cam kết sẽ được thực thi trong tương lai;

- Một hệ thống quản lý nhân sự để quản lý nhân viên về số lượng, chất lượngcũng như quá trình hoạt động của họ;

- Kiểm soát chi tiêu ngân sách trên cơ sở các quy định về chế độ, chính sách,tiêu chuẩn, định mức chi của Nhà nước;

- Những thủ tục minh bạch, công khai, rõ ràng và đầy đủ về mua sắm tài sảnthông qua hình thức đấu thầu công khai và quản lý ký hợp đồng ngoài

b) Thực hiện ngân sách

Khi tiến hành thực hiện một ngân sách đã được lập đầy đủ, hiệu suất hoạtđộng và phân bổ yêu cầu những nguyên tắc sau:

- Quỹ ngân sách nên được công bố kịp thời

- Nên chuẩn bị cho quá trình thực hiện ngân sách và một bản kế hoạch tiềnmặt, căn cứ vào những dự toán ngân sách và đưa vào tài khoản cam kết hiện có

- Những dự toán bổ sung phát sinh phải được quy định đầy đủ và hạn chế vềmặt số lượng

- Tất cả các khoản chi đều phải được kiểm soát qua KBNN, các khoản thanhtoán phải có trong dự toán được duyệt, có chứng từ hợp lệ, đúng chế độ, tiêu chuẩn,định mức Những quy tắc về thanh toán cần được cung cấp đầy đủ, kịp thời, rõ ràng

để tạo điều kiện cho các đơn vị sử dụng ngân sách chủ động, linh hoạt hơn trongquản lý sử dụng cũng như có thể kiểm soát được hoạt động chi tiêu của đơn vị thụhưởng ngân sách

Việc chi ngân sách phải đảm bảo kịp thời, đầy đủ nguồn lực cho hoạt độngcủa bộ máy chính quyền huyện, đảm bảo thực hiện được các nhiệm vụ ổn địnhchính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, đảm bảo an sinh

xã hội và các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách khác của địa phương Bên cạnh đó

Trang 32

phải chú trọng:

- Ưu tiên cho chi đầu tư phát triển, đặc biệt là chi đầu tư xây dựng cơ bản

- Chú trọng đến các khoản chi thường xuyên, đặc biệt là các khoản chilương, phụ cấp cho cán bộ, công chức, viên chức

- Các khoản chi phải được kiểm soát chặt chẽ đúng quy định, trên cơ sở tiếtkiệm, hiệu quả Đảm bảo được cân đối thu - chi ngân sách

c) Điều chỉnh, bổ sung dự toán (nếu có).

Trong quá trình chấp hành chi ngân sách, có thể có những trường hợp cầnthiết phải điều chỉnh hoặc bổ sung dự toán cho phù hợp với những yêu cầu đặt ra

- Điều chỉnh kế hoạch khi: Tình hình kinh tế - xã hội có những thay đổi hoặc

do Nhà nước có những thay đổi về cơ chế chính sách, chế độ, định mức, khi cónhững biến động lớn xảy ra, có sự thay đổi nhu cầu chi tiêu

- Bổ sung dự toán ngân sách khi có các nhiệm vụ chi mới phát sinh, hoặc cấpthiết cần giải quyết, khắc phục, … trên cơ sở có nguồn thu phát sinh

1.3.5.3 Quyết toán chi ngân sách nhà nước cấp huyện

Các cơ quan quản lý NSNN cấp huyện, các đơn vị dự toán có trách nhiệm tổchức thực hiện công tác kế toán ngân sách thuộc phạm vi quản lý, lập quyết toán chingân sách, tổng hợp báo cáo quyết toán chi ngân sách

a) Khoá sổ kế toán ngân sách

Theo Thông tư số 103/2008/TT-BTC, ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chínhhướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập báo cáo quyết toán NSNN hàng năm,thì Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện phối hợp với KBNN và các đơn vị có liênquan kiểm tra, đối chiếu và điều chỉnh số liệu (nếu có) để đảm bảo số liệu khớpđúng trước khi khoá sổ và quyết toán ngân sách Thời gian khoá sổ kế toán hàngnăm được thực hiện vào cuối giờ làm việc ngày 31/12 hàng năm Các đơn vị dựtoán và ngân sách các cấp chính quyền phải thực hiện công tác khoá sổ kế toán

b) Báo cáo kế toán chi ngân sách

Các đơn vị dự toán các cấp phải báo cáo kế toán theo chế độ kế toán hànhchính sự nghiệp và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính

Trang 33

Cơ quan KBNN tổ chức hạch toán và kế toán xuất, nhập quỹ NSNN theo chế

độ kế toán KBNN

Cơ quan tài chính phải tổ chức hạch toán kế toán và báo cáo kế toán chiNSNN theo chế độ kế toán NSNN hiện hành Hàng tháng, lập báo cáo chi ngânsách địa phương gửi UBND huyện và cơ quan tài chính cấp trên

c) Quyết toán ngân sách

Nguyên tắc lập báo cáo quyết toán ngân sách:

- Số liệu trong báo cáo quyết toán phải chính xác, trung thực, đầy đủ Nộidung báo cáo quyết toán ngân sách phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toánđược duyệt và phải chi tiết theo Mục lục NSNN

- Báo cáo quyết toán năm của đơn vị dự toán gửi cơ quan tài chính phải gửikèm các báo cáo sau đây:

+ Bảng cân đối tài khoản cuối ngày 31/12 và bảng cân đối tài khoản sau khikết thúc thời gian chỉnh lý quyết toán

+ Báo cáo thuyết minh quyết toán năm

- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán và quyết toán ngân sáchcấp huyện có xác nhận của KBNN huyện về tổng số và chi tiết

- Báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán và của các cấp chínhquyền không được quyết toán chi lớn hơn thu

- Cấp dưới không được quyết toán các khoản kinh phí uỷ quyền của ngânsách cấp trên vào báo cáo quyết toán ngân sách cấp mình

Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện có trách nhiệm thẩm tra báo cáo quyếttoán của các đơn vị dự toán và tổng hợp, lập báo cáo quyết toán chi ngân sách cấphuyện trình UBND huyện để gửi Sở Tài chính và HĐND huyện phê chuẩn

Trường hợp báo cáo quyết toán năm do HĐND huyện phê chuẩn có thay đổi

so với quyết toán năm do UBND huyện đã gửi Sở Tài chính thì UBND huyện phảibáo cáo bổ sung, điều chỉnh gửi Sở Tài chính

1.3.5.4 Kiểm tra, giám sát việc chấp hành chi ngân sách nhà nước cấp huyện

Kiểm tra, giám sát là các chính sách hay quy trình hợp lý do nhân viên quản

Trang 34

lý của một đơn vị đưa ra nhằm đảm bảo đơn vị đó hoạt động đúng và hiệu quả Cónhiều hình thức kiểm soát quản lý Trước hết cần có một hệ thống kiểm soát hiệuquả và đánh giá cẩn thận các rủi ro mà đơn vị gặp phải Sau đó, lựa chọn các chínhsách và thủ tục thích hợp để kiểm soát những rủi ro này một các hiệu quả với chiphí hợp lý

Theo đó, hoạt động kiểm tra, giám sát việc chấp hành chi NSNN cấp huyện

là vô cùng quan trọng; đồng thời UBND cấp trên, các cơ quan chức năng, các cơquan bảo vệ pháp luật sẵn sàng vào cuộc khi có dấu hiệu để tìm ra, ngăn chặn, xử lýnhững sai phạm, từ đó làm cho NSNN cấp huyện hoạt động theo đúng quỹ đạo,hiệu quả, tạo nền tài chính lành mạnh

Hình thức kiểm tra, kiểm soát, giám sát bao gồm:

- Kiểm tra định kỳ: Đó là việc kiểm tra của cơ quan tài chính cấp trên đối với

quản lý ngân sách huyện, của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện đối với các đơn vị

dự toán và ngân sách cấp xã theo kế hoạch nhất định

- Kiểm tra đột xuất: Đó là việc kiểm tra của các cơ quan, đơn vị chức năng

một cách đột xuất, thường khi có các sự việc xảy ra hoặc có đơn thư khiếu nại, tốcáo liên quan đến công tác quản lý NSNN nhà nước huyện

- Kiểm tra thường xuyên: Đây là công tác kiểm tra thường xuyên trong quá

trình hoạt động của ngân sách huyện

- Kiểm soát chi ngân sách: là nhiệm vụ thường xuyên quan trọng của KBNN

huyện đối với các khoản chi tiêu ngân sách của các đơn vị thụ hưởng ngân sách,giúp các đơn vị này thực hiện đúng chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức hạnchế tối đa các sai phạm, nâng cao hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách huyện

- Giám sát: Là hoạt động của HĐND, Ban Kinh tế - Xã hội của HĐND, của

Mặt trận Tổ quốc huyện đối với công tác quản lý, sử dụng ngân sách huyện, ngânsách xã, thị trấn

1.3.6 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách nhà nước của chính quyền cấp huyện

Trên thực tế, công tác quản lý chi NSNN của chính quyền cấp huyện khá

Trang 35

phức tạp và chịu sự ảnh hưởng, chi phối của nhiều yếu tố khác nhau Những yếu tố

đó có thể phân thành 03 nhóm chủ yếu sau:

1.3.6.1 Nhóm yếu tố thuộc về huyện

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện: Tăng trưởng kinh tế là tiền

đề để tạo tiền đề vật chất cho việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,đạt được các mục tiêu khác về kinh tế (đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế,chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh

là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức),cũng như các mục tiêu về xã hội (nâng cao đời sống nhân dân, giảm thất nghiệp,giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế…) bảo vệ và cải thiện môi trường Chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội của huyện là một trong những căn cứ quan trọng của quátrình lập dự toán chi NSNN cấp huyện cũng như việc phân bổ nguồn ngân sách

- Điều kiện tự nhiên của huyện: Ở mỗi vùng, mỗi địa phương có điều kiện tự

nhiên khác nhau, do vậy cần phải có những kế hoạch chi phù hợp với điều kiện tựnhiên, kinh tế - xã hội của địa phương Chẳng hạn, ở địa phương có nhiều sông, lạihay xảy ra lũ lụt, mùa mưa kéo dài thì các khoản chi NSNN sẽ tập trung vào xâydựng đê, kè, và tu sửa đê, khi xây dựng công trình phải tránh mùa mưa, bão và cónhững biện pháp hữu hiệu để tránh thiệt hại xảy ra nhằm đảm bảo chất lượng côngtrình; hoặc địa phương có địa hình chủ yếu là đồi núi, địa hình chia cắt thì chú ý đầu

tư cho giao thông, xây dựng công trình hồ đập, hệ thống kênh mương thuỷ lợi thuậnlợi để có thể phát triển kinh tế và phát triển các ngành nghề, phát huy tiềm năng, lợithế của địa phương phù hợp với điều kiện địa hình đó

- Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của huyện: Thực trạng phát triển kinh

tế của địa phương, cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội sẽ quyết định khả năng nguồn thu

và việc bố trí nguồn chi ngân sách huyện, do đó sẽ quyết định tới việc phân cấpnguồn thu, nhiệm vụ chi, việc xác định thứ tự ưu tiên và cơ cấu bố trí chi ngân sách.Trong phân cấp ngân sách phải bảo đảm tính thống nhất, giữ vững vai trò chỉ đạocủa ngân sách Trung ương, vai trò quyết định của ngân sách tỉnh trên địa bàn, tăngcường phân cấp cho cấp huyện, xã để khuyến khích các địa phương chủ động, tích

Trang 36

cực chăm lo bồi dưỡng, khai thác tốt nguồn thu, chống thất thu, chống thất thoát,lãng phí trong sử dụng kinh phí ngân sách

- Khả năng về nguồn lực tài chính công: Dự toán về chi NSNN được lập

luôn luôn dựa vào thực tiễn và tính toán có khoa học của nguồn lực tài chính cônghuy động được, tức là căn cứ vào số thu ngân sách các năm trước và dự báo tăngthu trong năm sau và các năm tiếp theo mà đề ra kế hoạch huy động nguồn thu, vìvậy, chi NSNN không được vượt quá nguồn thu huy động được, đồng thời cũng căn

cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương để lập dự toán chi NSNNhàng năm Đối với các địa phương có nguồn thu lớn thì không phụ thuộc vào ngânsách cấp trên cấp thì chủ động hơn trong việc lập dự toán chi tiêu và quản lý chiNSNN địa phương, ngược lại các địa phương có số thu nhỏ thì chủ yếu trông chờvào sự hỗ trợ, bổ sung từ ngân sách cấp trên

- Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách huyện:

+ Năng lực quản lý của người lãnh đạo bộ máy quản lý NSNN: Năng lực

quản lý của người lãnh đạo có tầm quan trọng đặc biệt đối với công tác quản lý tàichính công ở trung ương cũng như địa phương Nếu năng lực của người lãnh đạoyếu, bộ máy tổ chức không hợp lý, các chiến lược không phù hợp với thực tế thìviệc quản lý chi tiêu nguồn lực tài chính công sẽ không hiệu quả, có thể dẫn đếntình trạng bội chi lớn, thất thoát, lãng phí ngân sách…

+ Năng lực chuyên môn của các bộ phận quản lý các khoản chi NSNN ở địa

phương Nếu cán bộ quản lý có năng lực chuyên môn cao sẽ giảm thiểu được sailệch trong cung cấp thông tin của đối tượng sử dụng nguồn lực tài chính công, kiểmsoát được toàn bộ nội dung chi, nguyên tắc chi và tuân thủ theo các quy định vềquản lý nguồn tài chính công đảm bảo theo dự toán đã đề ra

- Văn hóa, phong tục tập quán của dân cư trên địa bàn huyện: Đây là nhân

tố khách quan nhưng lại có ảnh hưởng sâu rộng đến quá trình quản lý ngân sáchhuyện nói chung Nhiều đơn vị hành chính thực hiện phân cấp mạnh công tác quản lýngân sách cho ngân sách cấp dưới, cho đơn vi dự toán cấp mình sẽ tạo quyền chủđộng cho các đơn vị Văn hoá phong phú, đa dạng, tập quán sinh hoạt của các dân tộc

Trang 37

trên địa bàn đa dạng, mật độ dân số,… đòi hỏi công tác quản lý ngân sách huyện phảilinh hoạt để phù hợp với nhu cầu của người dân Mức độ hiểu biết và chấp hành luậtpháp của người dân cũng là một vấn đề cần được quan tâm để có biện pháp quản lýngân sách huyện phù hợp nhằm phát huy hiệu quả công tác quản lý xã hội.

- Khả năng áp dụng công nghệ trong hoạt động quản lý: Thực tế đã chứng

minh với việc ứng dụng công nghệ tin học vào trong công tác quản lý chi NSNN ởđịa phương sẽ giúp tiết kiệm được thời gian xử lý công việc, đảm bảo được tínhchính xác, nhanh chóng và thống nhất về mặt dữ liệu, tạo tiền đề cho những quytrình cải cách về mặt nghiệp vụ một cách hiệu quả Chính vì lẽ đó mà công nghệ tinhọc là một trong những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý chiNSNN hiện đại của địa phương

1.3.6.2 Nhóm yếu tố thuộc đối tượng sử dụng, đối tượng thụ hưởng ngân sách nhà nước

Người dân và các cơ quan, tổ chức kinh tế - xã hội (những đối tượng sử dụng vàđối tượng thụ hưởng NSNN) là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quảcông tác quản lý chi NSNN cấp huyện Yếu tố này có thể xét dưới 02 góc độ sau:

- Một là, năng lực quản lý, sử dụng nguồn vốn NSNN: Yếu tố này được xem

xét trên góc độ một cơ quan, tổ chức, một doanh nghiệp (đơn vị dự toán, chủ đầu tư,nhà thầu thi công các dự án, công trình sử dụng nguồn vốn NSNN trên địa bànhuyện) Nếu xét riêng về vấn đề quản lý, sử dụng vốn đầu tư từ NSNN thì các tổchức, doanh nghiệp có năng lực tốt sẽ đảm bảo việc sử dụng vốn NSNN hiệu quảhơn, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư từ NSNN, nâng cao hiệu lực, hiệuquả công tác quản lý NSNN của chính quyền cấp huyện, và ngược lại

- Hai là, ý thức chấp hành các quy định trong quản lý NSNN: Ngoài năng lực

quản lý, sử dụng vốn NSNN, các đối tượng sử dụng ngân sách cần phải có ý thứcchấp hành tốt các chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức quy định của nhà nước,của chính quyền huyện trong việc phân phối, sử dụng quỹ NSNN Do đó, để đạtđược mục tiêu của NSNN, Nhà nước luôn có những chế tài cụ thể, đủ sức răn đenhằm ngăn ngừa, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật như tham ô, thanh nhũnggây thất thoát lãng phí nguồn NSNN

1.3.6.3 Nhóm yếu tố thuộc về môi trường vĩ mô

Trang 38

- Pháp luật, chính sách, quy định của Nhà nước về quản lý chi NSNN: Trong

kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, pháp luật đã trở thành một bộ phậnkhông thể thiếu trong việc quản lý Nhà nước nói chung và quản lý chi NSNN nóiriêng Hệ thống pháp luật với vai trò hướng dẫn và tạo điều kiện cho các thành phầnkinh tế trong xã hội hoạt động theo trật tự, trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo sựcông bằng, an toàn và hiệu quả đòi hỏi phải rất đầy đủ, chuẩn tắc và đồng bộ

Chẳng hạn, định mức chi tiêu của Nhà nước là một trong những căn cứ quantrọng để xây dựng dự toán, phân bổ dự toán và kiểm soát chi NSNN, cũng là mộttrong những chỉ tiêu để đánh giá chất lượng quản lý và điều hành ngân sách nhànước của các cấp chính quyền địa phương Việc ban hành các định mức chi mộtcách khoa học, cụ thể, kịp thời sẽ góp phần không nhỏ trong việc quản lý chi tiêungân sách nhà nước được chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn Hay như, việc phân cấp, sựphân định trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, các cấp chính quyền trong việcquản lý chi ngân sách nhà nước cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tácquản lý chi NSNN Sự phân định trách nhiệm, quyền hạn phải được tôn trọng và thểchế hóa thành Luật để các cơ quan cũng như từng cá nhân có liên quan biết đượcphạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình trong thực hiện nhiệm vụ, góp phầnnâng cao chất lượng quản lý chi NSNN

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia: Chiến lược phát triển

kinh tế - xã hội của quốc gia là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến việc sử dụng cácnguồn lực và tiềm năng của địa phương cũng như thu hút nguồn lực từ bên ngoài

Do đó, chi ngân sách địa phương (huyện) phải đảm bảo thực hiện chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội của quốc gia

- Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới: Tốc độ hội nhập kinh tế khu vực và

thế giới của nền kinh tế nước ta ngày một lớn và kéo theo đó là yêu cầu thay đổi, cảitiến của hàng loạt những hoạt động của nền kinh tế Trong đó, quản lý ngân sáchnhà nước là một trong những hoạt động có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sựphát triển kinh tế - xã hội của đất nước và nó cũng là một trong những yếu tố cầnthiết được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện mới Chính phủ đã có những biện

Trang 39

pháp hết sức tích cực nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý NSNN, những biệnpháp này được quán triệt thực hiện từ Trung ương đến địa phương.

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của huyện Đăk Mil

Đăk Mil là huyện nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Đăk Nông, cách Thị xãGia Nghĩa 60 km Phía bắc giáp huyện Cư Jút; Đông giáp huyện Krông Nô; phíaNam giáp huyện Đăk Song; Tây giáp tỉnh Muldulkiri; Vương quốcCampuchia Huyện Đăk Mil có 10 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm: Đắk Sắk,Đức Minh, Long Sơn, Đắk Lao, Đắk R'La, Đức Mạnh, Đắk N'Drót, Đắk Gằn,Thuận An và thị trấn Đắk Mil

Trang 40

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Đăk Mil

Nguồn: Cổng thông tin điện tử UBND huyện Đăk Mil

Đăk Mil là huyện biên giới với 46 km đường biên, có cửa khẩu Đăk Perthông thương với nước bạn Campuchia, nằm trên trục Quốc lộ 14 chạy dọc các tỉnhvùng Tây Nguyên, cách thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đăk Lăk) 57 km về phíaTây Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 296 km Ngoài ra Đăk Mil còn có quốc lộ14C là tuyến giao thông quan trọng trong an ninh - quốc phòng, giao lưu kinh tếkhu vực Tây Nguyên và hai tuyến đường tỉnh ĐT 683, ĐT 682, thông qua các tuyếnđường này, Đăk Mil có thể kết nối với các huyện Cư Jut, Đăk Song, Tuy Đức,Krông Nô trong tỉnh Đăk nông

Diện tích tự nhiên của huyện là: 68.299 ha, chủ yếu là đất đỏ bazan, thíchhợp với cây cà phê, cao su, hồ tiêu và nhiều loại cây nông, công nghiệp khác; trong

đó đất lâm nghiệp 25.174 ha, đất nông nghiệp 36.872 ha

2.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế của huyện Đăk Mil

Trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, kinh tế trong nướckhông thuận lợi Song, quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Đăk Mil đã đạt đượcnhững thành tựu quan trọng, tạo đà cho tăng trưởng kinh tế giai đoạn sau, góp phầnnâng cao đời sống nhân dân, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thếgiới Cụ thể:

- Kinh tế liên tục tăng trưởng, cơ cấu chuyển dịch đúng định hướng; kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện; các công trình, dự án trọng điểm được hìnhthành; thu hút đầu tư đạt kết quả cao

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt 11,68% giai đoạn2011-2014 Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt 33,8 triệu đồng / người /năm

+ Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tiếp tục tăng trưởng nhanh, tạo nềntảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển dịch vụ, đô thị vàchuyển dịch lao động ở khu vực nông thôn Sản xuất công nghiệp có bước chuyểndịch tích cực trong cơ cấu kinh tế cũng như cơ cấu sản xuất nội ngành; giá trị sản

Ngày đăng: 19/10/2016, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Học viện Tài chính (2004), Giáo trình Quản lý tài chính nhà nước, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý tài chính nhà nước
Tác giả: Học viện Tài chính
Nhà XB: Nxb Tàichính
Năm: 2004
2. PGS.TS Đoàn Thu Hà; PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2006), Giáo trình chính sách Kinh tế - Xã hội, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhchính sách Kinh tế - Xã hội
Tác giả: PGS.TS Đoàn Thu Hà; PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2006
3. PGS.PTS Lê Chi Mai (2006), Phân cấp ngân sách cho các cấp chính quyền địa phương, thực trạng và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân cấp ngân sách cho các cấp chính quyền địaphương, thực trạng và giải pháp
Tác giả: PGS.PTS Lê Chi Mai
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
4. GS.TS Nguyễn Quang Quynh (2006), Giáo trình kiểm toán quản lý và kiểm soát nội bộ, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kiểm toán quản lý và kiểm soátnội bộ
Tác giả: GS.TS Nguyễn Quang Quynh
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2006
5. Bộ Tài chính (2003), Luật ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Hệ thống ngân sách Nhà nước Việt Nam - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Hình 1.1. Hệ thống ngân sách Nhà nước Việt Nam (Trang 15)
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu kinh tế của huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu kinh tế của huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 (Trang 41)
Hình 2.2. Thu ngân sách nội địa của huyện Đăk Mil giai đoạn 2010 - 2014 - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Hình 2.2. Thu ngân sách nội địa của huyện Đăk Mil giai đoạn 2010 - 2014 (Trang 42)
Bảng 2.2. Một số chỉ tiêu xã hội của huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 Năm - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Bảng 2.2. Một số chỉ tiêu xã hội của huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 Năm (Trang 43)
Hình 2.3. Một số khoản chi cơ bản của ngân sách huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Hình 2.3. Một số khoản chi cơ bản của ngân sách huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 (Trang 48)
Hình 2.4. Cơ cấu bộ máy quản lý chi NSNN huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Hình 2.4. Cơ cấu bộ máy quản lý chi NSNN huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông (Trang 50)
Bảng 2.4. Nhân lực Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện giai đoạn 2011- 2014 - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Bảng 2.4. Nhân lực Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện giai đoạn 2011- 2014 (Trang 51)
Bảng 2.5. Lưu đồ lập dự toán chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Bảng 2.5. Lưu đồ lập dự toán chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil (Trang 54)
Bảng 2.7. Lưu đồ chấp hành dự toán chi NSNN của huyện Đăk Mil - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Bảng 2.7. Lưu đồ chấp hành dự toán chi NSNN của huyện Đăk Mil (Trang 63)
Bảng 2.9. Tỷ lệ chi thường xuyên so với tổng chi NSNN và so với GDP huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Bảng 2.9. Tỷ lệ chi thường xuyên so với tổng chi NSNN và so với GDP huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 (Trang 70)
Hình 2.6. Cơ cấu chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách và GDP toàn huyện Đăk Mil - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Hình 2.6. Cơ cấu chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách và GDP toàn huyện Đăk Mil (Trang 71)
Bảng 2.10. Tình hình chi cho sự nghiệp giáo dục đào tạo huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Bảng 2.10. Tình hình chi cho sự nghiệp giáo dục đào tạo huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 (Trang 72)
Hình 2.7. Cơ cấu chi sự nghiệp GDĐT huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Hình 2.7. Cơ cấu chi sự nghiệp GDĐT huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 (Trang 73)
Bảng 2.11. Tình hình chi cho sự nghiệp kinh tế huyện giai đoạn 2011-2014 - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Bảng 2.11. Tình hình chi cho sự nghiệp kinh tế huyện giai đoạn 2011-2014 (Trang 76)
Hình 2.9. Chi sự nghiệp văn hoá - thể thao - phát thanh, truyền hình huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 - Luận văn thạc sỹ - Quản lý chi NSNN của chính quyền huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Hình 2.9. Chi sự nghiệp văn hoá - thể thao - phát thanh, truyền hình huyện Đăk Mil giai đoạn 2011-2014 (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w