ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC ĐO LƯỜNG RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM: MỘT ỨNG DỤ
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐO LƯỜNG RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM:
MỘT ỨNG DỤNG CỦA VALUE AT RISK
Trang 2i
Lời Cám ƠnĐầu tiên, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến toàn thể quý thầy, cô giáo trong trường, đặc biệt là các thầy cô giáo của khoa Tài chính - ngân hàng đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt kiến thức cho sinh viên trong suốt bốn năm học Vốn kiến thức tiếp thu được trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để tôi bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn sâu sắc nhất đến cô giáo, TS Phạm Thị Thanh Xuân, người đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt, hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Chính cô là người đã động viên, khích lệ, truyền đam mê nghiên cứu khoa học của mình cho sinh viên Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến sự giúp đỡ của cô
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn đến các anh chị, cán bộ nhân viên phòng Tổng hợp – NHTM cổ phần Vietcombank đã nhiệt tình chỉ dẫn, cung cấp số liệu, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Rất mong nhận được sự góp ý sửa chữa của quý thầy cô giáo để bài luận văn được hoàn chỉnh hơn
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VÀ KÍ HIỆU VIẾT TẮT
ACB : Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu Việt Nam
Eximbank : Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam
TSSL : Tỷ suất sinh lợi
VaR : Value at risk
VCB : Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam
Vietinbank : Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
VIB : Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4iii
MỤC LỤC
Trang
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu của nghiên cứu 4
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Rủi ro tỷ giá và tính tất yếu của rủi ro tỷ giá 5
1.2 Tổng quan về quản trị rủi ro tỷ giá 6
1.2.1 Khái niệm 6
1.2.2 Sự cần thiết của quản trị rủi ro tỷ giá 6
1.3 Value at Risk và cơ sở khoa học để đo lường rủi ro tỷ giá 7
1.3.1 Khái quát về sự phát triển của các phương pháp phân tích và QTRR 7
1.3.2 Lý luận chung về VaR và sự phát triển thực nghiệm của VaR 9
1.3.3 Các phương pháp tính VaR 10
1.3.3.1 Phương pháp mô phỏng lịch sử (Historical Method) 10
1.3.3.2 Phương pháp phương sai-hiệp phương sai (Variance-Covariance Method) 11
1.3.3.3 Phương pháp mô phỏng Monte-Carlo (Monte-Carlo Simulation) 13
1.3.4 Các thông số ảnh hưởng đến VaR của danh mục 14
1.3.4.1 Độ tin cậy 14
1.3.4.2 Khoảng thời gian đo lường VaR 14
1.3.4.3 Lựa chọn phương pháp tính VaR 15
1.3.5 Các hạn chế của phương pháp tính VaR 15
1.3.6 Giới thiệu Back-test 16
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 51.3.7 Giới thiệu Stress-test và E-VaR 17
1.4 Tóm tắt các nghiên cứu trước 18
1.4.1 Các nghiên cứu trong nước 18
1.4.2 Các nghiên cứu ngoài nước 19
Kết luận chương 1 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KDNT CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2014 ỨNG DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH VaR TRONG VIỆC ĐO LƯỜNG RỦI RO TỶ GIÁ TẠI CÁC NHTM 22
2.1 Thực trạng kinh doanh ngoại tệ tại các NHTM VN giai đoạn 2012-2014 22
2.1.1 Khung pháp lý trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Việt Nam 22
2.1.2 Các giao dịch ngoại tệ đang được triển khai ở các NHTM Việt Nam 23
2.1.2.1 Giao dịch ngoại tệ giao ngay (Spot operation) 24
2.1.2.2 Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn (Forward operation) 25
2.1.2.3 Giao dịch ngoại tệ hoán đổi (Swap Operation) 26
2.1.2.4 Giao dịch ngoại tệ quyền chọn (Option Operation) 27
2.1.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các NHTM Việt Nam 28
2.1.3.1 Tình hình biến động tỷ giá USD/VND giai đoạn 2012-2014 28
2.1.3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các NHTM giai đoạn 2012-2014 29
2.2 Vận dụng các phương pháp tính VaR trong việc đo lường rủi ro tỷ giá tại các NHTM Việt Nam 31
2.2.1 Tình huống nghiên cứu 31
2.2.2 Cơ sở dữ liệu 32
2.2.3 Sơ lược về chuỗi biến động tỷ giá 33
2.2.4 Ứng dụng mô hình VaR để đo lường rủi ro tỷ giá 35
2.2.4.1 Phương pháp mô phỏng lịch sử (Historical Method) 35
2.2.4.2 Phương pháp phương sai-hiệp phương sai (Variance-Covariance Method) 36
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6v
2.2.4.4 Tổng hợp kết quả tính VaR theo các phương pháp 40
2.2.5 Ứng dụng Back-test để kiểm tra tính chính xác của VaR 42
2.2.6 Ứng dụng E-VaR để khắc phục hạn chế của VaR 44
2.2.7 Ứng dụng Stress test để khắc phục hạn chế của VaR 45
2.3 Kiểm tra tính đúng đắn của kết quả đo lường Những lưu ý liên quan đến kĩ thuật tính toán VaR trên bộ số liệu tỷ giá Việt Nam 47
2.3.1 Kiểm tra tính đúng đắn của các phương pháp tính VaR 47
2.3.2 Những lưu ý liên quan đến kĩ thuật tính toán VaR trên bộ số liệu tỷ giá của Việt Nam 48
Kết luận chương 2 49
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG KẾT QUẢ TÍNH VaR ĐỂ ĐƯA RA KIẾN NGHỊ ĐẦU TƯ VÀ CÁC CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ 50
3.1 Ứng dụng kết quả tính VaR để đưa ra quyết định đầu tư 50
3.2 Ứng dụng chi phí rủi ro biên để phòng ngừa rủi ro tỷ giá 51
3.3 Một số chiến lược phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng hợp đồng quyền chọn 52 Kết luận chương 3 56
PHẦN 3: KẾT LUẬN 57
1 Kết quả đạt được 57
2 Hạn chế của nghiên cứu 57
3 Hướng phát triển của đề tài 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 61
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang BẢNG
Bảng 1.1 Sự phát triển của các phương pháp phân tích và QTRR 8
Bảng 1.2 Ma trận Covariance 12
Bảng 2.1 Tình hình kinh doanh của các NHTM giai đoạn 2012-2014 29
Bảng 2.2 Cơ cấu danh mục đầu tư 32
Bảng 2.3 Chuỗi dữ liệu tỷ giá 32
Bảng 2.4 Tính toán VaR theo phương pháp mô phỏng lịch sử 35
Bảng 2.5 Kết quả tính TSSL và độ lệch chuẩn của tỷ giá 36
Bảng 2.6 Kết quả tính ma trận Covariance 37
Bảng 2.7 Kết quả tính toán tỉ suất sinh lợi trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn của danh mục 37
Bảng 2.8 Kết quả tính VaR theo các phương pháp 40
Bảng 2.9 Kết quả kiểm định Back-test 42
Bảng 2.10.Kết quả tính E-VaR theo phương pháp phương sai-hiệp phương sai và mô phỏng Monte Carlo 44
Bảng 2.11 Kết quả tính E-VaR theo phương pháp mô phỏng lịch sử 44
Bảng 2.12 So sánh kết quả tính VaR và E-VaR 45
Bảng 2.13 Tỷ giá các ngoại tệ vào ngày 09/02/2015 47
Bảng 3.1 Kết quả tính toán chi phí rủi ro biên của các hợp đồng kì hạn 51
Bảng 3.2 Tổng hợp lợi nhuận của chiến lược Long Straddle 53
Bảng 3.3 Tổng hợp lợi nhuận của chiến lược Short Straddle 55
Bảng 3.4 Các chiến thuật quyền chọn và cách thực hiện 55
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Trang DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tình hình biến động tỷ giá USD/VND giai đoạn 2012-2014 28
Biểu đồ 2.2 Kết quả KDNT của các NHTM giai đoạn 2012-2014 30
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 1.1 Phân phối tỉ suất sinh lợi tính VaR 11
Hình 2.1 Lãi/Lỗ của khách hàng trong vị thế mua ngoại tệ 24
Hình 2.2 Phân phối lời/lỗ của USD/VND 33
Hình 2.3 Phân phối lời/lỗ của EUR/VND 33
Hình 2.4 Phân phối lời/lỗ của JPY/VND 34
Hình 2.5 Kết quả tính VaR bằng mô phỏng Monte Carlo với xác suất 5% 39
Hình 2.6 Kết quả tính VaR bằng mô phỏng Monte Carlo với xác suất 1% 40
Hình 2.7 Kết quả Stress test bằng phương pháp mô phỏng Monte Carlo 46
Hình 3.1 Lời/Lỗ trong chiến lược Long Straddle 52
Hình 3.2 Lời/Lỗ trong chiến lược Short Straddle 54
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Theo lời khuyên của các chuyên gia kinh tế, các ngân hàng nên chuyển dần
cơ cấu thu nhập chủ yếu dựa trên hoạt động cấp tín dụng sang hoạt động dịch vụ mà trong đó kinh doanh ngoại tệ (KDNT) là một hoạt động có tốc độ tăng trưởng thu nhập rất cao Tuy nhiên, việc kinh doanh ngoại tệ cũng chứa đựng những rủi ro tiềm tàng có khả năng gây mất mát lớn nếu các ngân hàng không có các giải pháp phòng ngừa và quản lý hợp lý Kenyon (1991) đã nói : “Chìa khóa để thành công trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ chính là quản trị rủi ro tỷ giá” Đó là lý do mà tôi quyết định thực hiện đề tài: “Đo lường rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam – Một ứng dụng của Value at Risk”
Nghiên cứu tiến hành với danh mục gồm ba đồng ngoại tệ được giao dịch phổ biến trên thị trường ngoại hối, đó là USD, EUR, JPY Dữ liệu sử dụng trong đề tài là chuỗi tỷ giá của các đồng ngoại tệ này, được lấy từ website của ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), thu thập từ ngày 02/01/2007 đến ngày 02/02/2015, cập nhật hàng tuần, gồm 423 quan sát
Ba phương pháp tính VaR khác nhau đã được áp dụng: (i) Phương pháp mô phỏng lịch sử, (ii) phương pháp phương sai và hiệp phương sai và (iii) phương pháp
mô phỏng Monte-Carlo Ba kiểm định hỗ trợ: Back test, Stress test và E-VaR đã được thực hiện Dựa trên dữ liệu quan sát, nghiên cứu đã tính ra tỷ lệ lỗ tối đa mà ngân hàng có thể phải đối mặt là 2,24% cho danh mục đầu tư của mình Xác suất gặp mức lỗ tối đa này là 1% Giá trị VaR tính được này sẽ là cơ sở cho các quyết định kinh doanh và quản trị rủi ro ngoại hối của ngân hàng trong ngắn hạn
Từ những kết quả đạt được, so sánh với mức sinh lợi bình quân của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, tôi khuyến nghị ngân hàng nên đầu tư vào danh mục ngoại hối này Tuy nhiên, để tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện tối thiểu hóa rủi ro, các chiến lược phòng ngừa cũng nên được thực hiện Nghiên cứu khuyến nghị nhà quản trị có thể sử dụng các công cụ ngoại tệ phái sinh và chi phí rủi ro biên trong việc chọn lựa hợp đồng giao dịch ngoại tệ phái sinh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 101
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động thương mại, đầu tư quốc tế Theo đó, sự phát triển của thị trường ngoại hối là hết sức thiết yếu với vai trò là chiếc cầu nối giữa nền kinh tế nội địa với nền kinh tế
thế giới Trong bối cảnh đó, các Ngân hàng thương mại hiện nay đang có xu thế mở
rộng nhiều nghiệp vụ kinh doanh hiện đại mới trên thị trường Cùng với các hoạt động mang tính chất truyền thống, hoạt động KDNT đã là một hoạt động mang lại lợi nhuận chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng số lợi nhuận chung của một số ngân hàng thương mại (NHTM) Cụ thể, KDNT của Vietcombank năm 2012 đóng góp 34,86% vào lợi nhuận trước thuế của ngân hàng, sau đó giữ ở mức 22,89% cho năm
2014 tương đương với 1.345.079 triệu VND
Tuy nhiên, ở một số các NHTM khác, kết quả KDNT lại không mấy khả quan Đơn cử trường hợp của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB), việc kinh doanh này liên tục âm trong hai năm 2012 và 2013 với mức lỗ
−1.863.643 triệu VND năm 2012 và -77.616 triệu VND năm 2013 Năm 2014 có
vẻ khả quan hơn đối với ACB trong KDNT khi ngân hàng đã thu được lợi nhuận 183.634 triệu VND Hay trường hợp của ngân hàng thương mại quốc tế (VIB), lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngoại hối năm 2012 và 2013 lần lượt là 38.199 triệu VND và 81.091 triệu VND, tuy nhiên năm 2014, ngân hàng VIB lại chứng kiến mức lỗ -23.982 triệu VND Vậy, yếu tố nào đã làm nên sự khác biệt trên? “Chìa khóa để thành công trong hoạt động KDNT chính là quản trị rủi ro tỷ giá” (Kenyon, 1991) Thật vậy, cũng như các hoạt động kinh doanh khác, KDNT cũng chứa đựng những rủi ro tiềm tàng có khả năng gây mất mát lớn nếu các Ngân hàng không có các giải pháp phòng ngừa và quản lý hợp lý
Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2007-2008 nổ ra, hàng loạt các định chế tài chính lớn như Lehman Brothers, Sterns Bear, Merrill Lynch,… sụp đổ Taleb (2007) đã nói: “Những rủi ro lớn nhất là điều bạn không bao giờ có thể nhìn thấy
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11và đo lường Những điều vượt ra khỏi ranh giới của xác suất thông thường mà bạn không thể tưởng tượng chúng có thể xảy ra trong cuộc đời bạn - mặc dù, tất nhiên, chúng thực sự xảy ra, thường xuyên hơn bạn quan tâm để nhận ra Cơn bão tàn phá xảy
ra Động đất xảy ra Và thời điểm đó, các thảm họa lớn về tài chính xảy ra Thảm họa
mà các mô hình đo lường rủi ro bằng cách nào đó luôn bỏ lỡ” Điều này một lần nữa lại đặt ra câu hỏi lớn về vai trò của quản trị rủi ro tài chính?
Cuối cùng, trong bối cảnh ngân hàng nhà nước (NHNN) đã có những định hướng rõ ràng về việc triển khai Basel II tại Việt Nam với việc ban hành Công văn 1601/NHNN-TTGSNH ngày 17/3/2014 về việc thực hiện Hiệp ước vốn Basel II Basel
II và các văn bản bổ sung của Basel yêu cầu các NHTM phải có hệ thống quản lý rủi ro tiên tiến, trong đó bao gồm chính sách quản lý rủi ro, các phương pháp luận quản lý rủi
ro Các yêu cầu của Basel II về hệ thống quản lý rủi ro xoay quanh việc xây dựng, triển khai và ứng dụng các mô hình đo lường rủi ro Theo yêu cầu của NHNN, đến thời điểm cuối năm 2018, các NHTM sẽ phải xây dựng các mô hình để đo lường Xác suất khách hàng không trả được nợ (PD - Probability of Default), Giá trị chịu rủi ro (VaR - Value at risk) Các mô hình này cần phải được triển khai trong hoạt động quản lý rủi
ro và phải được ứng dụng trong các hoạt động kinh doanh hàng ngày (Use test) của ngân hàng
Sự cần thiết là vậy, song các nghiên cứu trong nước về những mô hình đo lường rủi ro vẫn còn rất ít Do đó, với mục tiêu quản trị rủi ro cho hoạt động KDNT của các
NHTM, tôi mạnh dạn đề xuất đề tài: “Đo lường rủi ro trong kinh doanh ngoại hối
tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam: Một ứng dụng của Value at Risk Tôi hi
vọng qua đề tài này, các NHTM nói riêng cũng như các nhà đầu tư ngoại hối nói chung sẽ có cái nhìn chuẩn xác hơn về tình hình hiện tại cũng như rủi ro trong tương lai
mà mình có thể gặp phải Từ đó, giúp họ đưa ra những quyết định đúng đắn trong đầu
tư và quản trị rủi ro
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 123
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu ứng dụng Value at Risk trong việc đo lường rủi ro tỷ giá, từ đó đưa ra các biện pháp quản trị rủi ro (QTRR) cho các NHTM Việt Nam
Mục tiêu cụ thể: nghiên cứu tập trung trả lời những câu hỏi sau:
Thứ nhất, tại sao rủi ro tỷ giá được xem là tất yếu trong cơ chế điều hành
chính sách của các quốc gia nói chung và của các NHTM Việt Nam nói riêng?
Thứ hai, thực trạng hoạt động KDNT tại các NHTM Việt Nam diễn ra như thế
nào?
Thứ ba, tại sao phải QTRR tỷ giá? Thực sự Value at risk là gì? Sự phát triển
thực nghiệm của VaR trong QTRR như thế nào?
Thứ tư, VaR được vận dụng như thế nào trong quá trình đo lường rủi ro tỷ giá?
Từ kết quả đo lường được, NHTM có thể đưa ra quyết định đầu tư và thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro như thế nào?
Thứ năm, hiệu quả của các phương pháp tính VaR? VaR có những hạn chế
nào, cách khắc phục ra sao? Tính toán VaR dựa trên bộ số liệu tỷ giá của Việt Nam
có những lưu ý gì?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là các phương pháp tính VaR và ứng dụng của VaR trong đo lường rủi ro tỷ giá
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tìm hiểu các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, các đề tài liên quan được sử dụng làm tài liệu tham khảo Các sách, báo, tạp chí chuyên ngành tài chính cũng được sử dụng để hình thành được cơ
sở lý thuyết và những giả định cơ bản của mô hình nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu: sử dụng số liệu thứ cấp, thu thập chuỗi dữ liệu tỷ giá thông qua website của ngân hàng Vietcombank
Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: Sử dụng ba phương pháp tính VaR: phương pháp mô phỏng lịch sử, phương pháp phương sai-hiệp phương sai và phương pháp mô phỏng Monte-Carlo Ba kiểm định: Back test, Stress test và E-VaR được thực hiện để hỗ trợ và khắc phục nhược điểm của các phương pháp tính VaR Bên cạnh đó, tính toán chi phí rủi ro biên (MRC) để giúp ngân hàng đưa ra quyết định phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Phần mềm hỗ trợ: Eviews 7.0 và Crystal Ball tích hợp với Excel 2010
5 Kết cấu của nghiên cứu
Kết cấu của đề tài gồm có 3 phần như sau:
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu, gồm có:
Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM giai đoạn 2012-2014 Ứng dụng các phương pháp tính VaR trong việc đo lường rủi ro tỷ giá tại các NHTM Việt Nam
Chương 3: Ứng dụng kết quả tính VaR để đưa ra kiến nghị đầu tư và các chiến lược phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Phần III: Kết luận lại những nội dung đã làm được so với mục tiêu nghiên
cứu đặt ra của đề tài, những hạn chế và hướng phát triển tiếp theo của đề tài
Phần cuối cùng mà đề tài sẽ trình bày là danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục hỗ trợ giải thích cho các kết quả tính toán
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 145
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Rủi ro tỷ giá và tính tất yếu của rủi ro tỷ giá
“Sự sụp đổ của chế độ tỷ giá cố định được thiết lập thông qua hệ thống tiền
tệ Bretton Woods đã tạo ra sự biến động không lường trước của tỷ giá hối đoái, mặc
dù chính phủ các nước đã cố gắng neo những tỷ giá này lại” (Bandopadhya, Gotti, and Lu, 2010) Sự biến động này đã tạo ra những thua lỗ tiềm tàng cho những nhà đầu tư KDNT Những thua lỗ tiềm ẩn này được gọi bằng một khái niệm quen thuộc hơn là rủi ro tỷ giá
Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá tương ứng với một trạng thái ngoại tệ nhất định Nói cách khác, rủi ro tỷ giá là do sự biến động của tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai Rủi ro tỷ giá có thể phát sinh trong nhiều hoạt động khác nhau của các ngân hàng và doanh nghiệp, nhưng nhìn chung bất cứ hoạt động nào mà ngân lưu thu phát sinh bằng một loại đồng tiền trong khi ngân lưu chi phát sinh bằng một loại đồng tiền khác đều chứa đựng nguy
cơ rủi ro tỷ giá Rủi ro tỷ giá thể hiện ở chỗ khi tỷ giá thay đổi làm cho ngân lưu thay đổi theo
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá là do trạng thái ngoại hối không cân xứng, tức là có sự chênh lệch giữa giá trị tài sản có và tài sản nợ ngoại hối hoặc chênh lệch giữa doanh số mua vào và bán ra của đồng tiền nước ngoài “Rủi ro tỷ giá ngày càng trở nên nghiêm trọng khi mà sự biến động cung-cầu ngoại tệ, cũng như các nhân tố khác của nền kinh tế đang diễn ra ngày càng nhanh” (Viktor Popov and Yann Stutzmann, 2003)
Với các NHTM, rủi ro tỷ giá tồn tại chủ yếu do sự mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên nhiều lĩnh vực (Hillier, 2003) Đặc biệt là hoạt động KDNT, cụ thể là trên các giao dịch ngoại tệ phái sinh như quyền chọn, kỳ hạn, hoán đổi đã mở
ra cho ngân hàng nhiều trạng thái ngoại tệ, cũng như nhiều mức rủi ro tiềm ẩn khi
tỷ giá biến động (Crouhy el, 2001)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Tuy nhiên các NHTM không thể không tiến hành các giao dịch ngoại tệ này, cũng như không thể không mở rộng phạm vi hoạt động của mình được vì nhu cầu giao dịch cũng như bảo hiểm tỷ giá của khách hàng ngày càng cao
1.2 Tổng quan về quản trị rủi ro tỷ giá
1.2.1 Khái niệm
Để KDNT có lãi thì các NHTM phải tạo trạng thái ngoại hối mở1
và tỷ giá phải biến động Tiềm năng thu lãi và tiềm ẩn rủi ro trong KDNT là đồng hành với nhau Lãi, lỗ trong KDNT có thể phát sinh cùng với quy mô biến động tỷ giá, trong khi tỷ giá biến động là không giới hạn nên có thể làm cho lãi, lỗ phát sinh là rất lớn Điều này buộc ngân hàng phải có một cơ chế quản lý và giám sát hoạt động KDNT một cách chặt chẽ Rủi ro tỷ giá là một yếu tố khách quan, ngân hàng không thể loại trừ được tất cả mọi rủi ro có thể xảy ra khi tham gia giao dịch mà ngân hàng chỉ có thể đưa ra các biện pháp phòng ngừa nhằm hạn chế sự xuất hiện của rủi ro
Do vậy, quản trị rủi ro tỷ giá tại ngân hàng có thể được hiểu là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất do rủi ro tỷ giá gây ra
Quy trình quản trị rủi ro thông thường gồm năm bước: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát, phòng ngừa rủi ro và tài trợ rủi ro
1.2.2 Sự cần thiết của quản trị rủi ro tỷ giá
Như đã phân tích ở trên, rủi ro tỷ giá là tất yếu trong hoạt động KDNT của các NHTM, cho nên quản trị rủi ro tỷ giá là một nội dung quan trọng mà các ngân hàng cần đặc biệt quan tâm
Quản trị rủi ro tỷ giá là quan trọng vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Nếu ngân hàng có chương trình quản trị rủi ro phù hợp, nó sẽ hạn chế được những tổn thất mà ngân hàng có thể gặp phải Ngoài ra, có chiến lược
Trang 16Ngày nay, do sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và hội nhập kinh
tế quốc tế, các hoạt động KDNT trên thị trường ngoại hối đã trở nên đa dạng và hiệu quả hơn Tuy nhiên, chính trong bối cảnh đó, những rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh doanh ngoại hối cũng nhiều hơn và phức tạp hơn Điều đó đòi hỏi các nhà quản lý phải nhận biết được các rủi ro, đồng thời có các quyết sách kịp thời và thích hợp trong việc đưa ra các biện pháp xử lí và phòng ngừa
1.3 Value at Risk và cơ sở khoa học để đo lường rủi ro tỷ giá
1.3.1 Khái quát về sự phát triển của các phương pháp phân tích và QTRR
Cho tới nay, theo sự phát triển của thời gian, đã có nhiều phương pháp đánh giá rủi ro trong tài chính Năm 1938, Macaulay là người đầu tiên đề xuất phương pháp đánh giá rủi ro của lãi suất trái phiếu Phương pháp này giúp tính toán kì hạn trung bình của trái phiếu
Năm 1952, Markowitz mở đường cho phương pháp phân tích quan hệ rủi lãi suất qua mô hình phân tích trung bình và phương sai (Mean-Variance Analysis) Cho tới nay, phương pháp này vẫn được ứng dụng rộng rãi trong quản lí các danh mục và cơ cấu đầu tư
ro-Năm 1963, William Sharpe mở ra bước ngoặc cho sự phát triển của thị trường tài chính với mô hình nghiên cứu về định giá tài sản vốn (CAPM) Mô hình
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17này được xây dựng trên cơ sở áp dụng phương pháp phân tích Mean-Variance của Markowitz kết hợp với điều kiện cân bằng thị trường tài chính
Năm 1966, Stephen Ross đưa ra mô hình khái quát hơn về quan hệ giữa lợi suất và nhiều nhân tố, gọi là “Mô hình đa nhân tố” (Multi Factor Model) Từ mô hình này, kết hợp với “Nguyên lí không cơ lợi”, Stephen Ross đã xây dựng “Lý thuyết định giá cơ lợi” (Arbitrage Pricing Theory)
Ngày nay, những tiến bộ về khoa học kĩ thuật đã cho phép phát triển và hoàn thiện hàng loạt các hệ thống và phương pháp định giá rủi ro, đáng chú ý là “Giá trị rủi ro” (Value at risk-VaR)
Có thể khái quát sự phát triển của các phương pháp phân tích và quản trị rủi
ro như bảng sau:
Bảng 1.1 Sự phát triển của các phương pháp phân tích và QTRR
1938 Thời lượng trái phiếu
1952 Khung kì vọng-Phương sai của Markowitz
1963 Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) của Sharpe
1966 Mô hình đa nhân tố
1973 Mô hình định giá quyền chọn Black-Scholes
1988 Tài sản theo trọng số rủi ro đối với NHTM
1993 Value at risk
1994 Thước đo rủi ro
1997 Thước đo tín nhiệm, Rủi ro tín dụng
1998 Sự kết hợp của rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường
1998 Phân bổ ngân quỹ cho rủi ro
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 189
1.3.2 Lý luận chung về VaR và sự phát triển thực nghiệm của VaR
Value at risk là gì?
Trong QTRR tài chính, VaR là một giá trị được sử dụng rộng rãi để đo mức
độ tổn thất trên một danh mục tài sản tài chính nhất định Cho một danh mục, xác suất và khoảng thời gian không đổi, VaR được định nghĩa như một giá trị ngưỡng sao cho xác suất để tổn thất của danh mục trong khoảng thời gian nhất định không vượt quá giá trị này là một số α cho trước
“Value at Risk, VaR, là phương pháp đo lường khoản lỗ lớn nhất mà ngân hàng có thể gặp phải với một mức xác suất nhất định khi tỷ giá biến động trong điều kiện bình thường Một khoản lỗ lớn hơn VaR có thể xảy ra nhưng với xác suất nhỏ hơn” (Theo Thomas J Linsmeier and Neil D Pearson, 1996) Trong thực hành, chúng ta hay chọn mức xác suất để tính VaR là 95% hoặc 99%, vậy xác suất để khoản lỗ lớn hơn VaR là 5% hoặc 1% Theo quy tắc xác suất nhỏ xem như điều đó
là không xảy ra
Giá trị rủi ro của danh mục tài sản trong một chu kì k (đơn vị thời gian) với
độ tin cậy (1- α) %, kí hiệu là VaR(k,α) và được xác định như sau:
P [ X ≤ VaR (k,α) ] = α
Trong đó, X là hàm lãi, lỗ chu kì k của danh mục, 0<α<1
Như vậy, nếu nhà đầu tư nắm giữ danh mục sau k chu kì, với độ tin cậy (1-α)
%, khả năng tổn thất tối đa sẽ bằng VaR(k,α)
Lịch sử phát triển thực nghiệm của Value at Risk
Thuật ngữ giá trị rủi ro VaR đã được sử dụng rộng rãi và thực sự trở thành một khái niệm quan trọng trong khoa học kinh tế từ sau sự kiện thị trường chứng khoán sụp
đổ năm 1987 Người đã tiếp cận giá trị VaR đầu tiên là Harry Markowitz vào năm
1952 Trong bài báo về tài chính "Sự lựa chọn danh mục đầu tư (Porfolio Selection)", ông đã dựa vào ma trận hiệp phương sai lợi suất để phát triển phương pháp tối ưu danh mục đầu tư
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19Trong những năm đầu thập niên 80, Ủy ban Chứng khoán và Ngoại hối liên bang Hoa Kì (SEC-Securities and Exchange Commission) đã thông qua VaR để ràng buộc các yêu cầu về vốn của các công ty tài chính cho các khoản lỗ phát sinh, với độ tin cậy 95% trong khoảng thời gian 30 ngày Chuỗi lợi suất quá khứ được sử dụng để tính toán các khoản lỗ tiềm năng
Những sự kiện tài chính đầu những năm 1990 cho thấy rất nhiều công ty đã gặp rắc rối vì tổn thất vượt xa mức dự kiến hoặc không được xác định một cách rõ ràng từ trước Lúc này, tất cả các bàn giao dịch đều quan tâm đến việc tính giá trị tổn thất, VaR đã trở thành một điều kiện tất yếu trong các báo cáo về rủi ro của hầu hết các công ty Tại Ngân hàng JP Morgan, Giám đốc điều hành nổi tiếng - Dennis Weatherstone đã tuyên bố "Báo cáo lúc 4:15", với ý nghĩa phải tổng kết tổn thất của tất cả các công ty trong ngày trong vòng 15 phút khi thị trường đóng cửa giao dịch
Độ đo tổn thất VaR đã được phát triển cho mục đích này
Từ năm 1994, với sự ra đời của RiskMetric, một gói sản phẩm ứng dụng VaR mang thương hiệu của một công ty tách ra từ JPMorgan Chase, Value at risk đã được áp dụng rộng rãi và trở thành một tiêu chuẩn trong việc đo lường và giám sát rủi ro tài chính, đặc biệt là rủi ro thị trường, trên toàn thế giới
1.3.3 Các phương pháp tính VaR
1.3.3.1 Phương pháp mô phỏng lịch sử (Historical Method)
Phương pháp đơn giản này đưa ra giả thuyết rằng sự phân bố tỷ suất sinh lợi trong quá khứ có thể tái diễn trong tương lai Nói cụ thể, VaR được xác định như sau:
1 Xác định giá trị hiện tại của danh mục đầu tư (V0)
2 Tính tất cả các tỷ suất sinh lợi quá khứ của danh mục đầu tư này theo từng
hệ số rủi ro
Công thức tính tỷ suất sinh lợi: %ΔV t = (V t - V t-1 )/V t-1 ; t=1,…,n
3 Sắp xếp các tỷ suất sinh lợi theo thứ tự từ thấp nhất đến cao nhất
4 Tính VaR theo độ tin cậy và số liệu tỷ suất sinh lợi quá khứ Chẳng hạn:
nếu ta có một danh sách bao gồm 1400 dữ liệu quá khứ (historical data) và nếu độ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2011
tin cậy là 95%, thì VaR là giá trị thứ 70 trong danh sách này = (1 – 0,95) × 1400 Nếu độ tin cậy là 99% thì VaR là giá trị thứ 14
Ưu điểm của phương pháp là cho kết quả nhanh, khối lượng tính toán ít, phù
hợp khi nhà quản trị có một danh mục tài sản tài chính, hay các hợp đồng kỳ hạn với giá trị nhỏ
Nhược điểm của phương pháp này là kết quả tính VaR kém chính xác
1.3.3.2 Phương pháp phương sai-hiệp phương sai (Variance-Covariance Method)
Phương pháp này còn có tên gọi khác là phương pháp phân tích Phương pháp này sử dụng những hiểu biết về các giá trị nhập liệu và những mô hình định giá có liên quan, với giả định đây là phân phối chuẩn
Hình 1.1 Phân phối tỉ suất sinh lợi tính VaR
Đầu tiên hãy nói về sự ra đời của phương pháp phương sai-hiệp phương sai này Các nhà quản trị cho rằng rủi ro của một danh mục đầu tư phải có sự liên hệ từ các rủi ro của các tài sản, chứ nó không thể bằng tổng rủi ro của các tài sản trong một danh mục đầu tư Chính vì thế khái niệm Covariance đã được ra đời để tính toán rủi ro cho một danh mục đầu tư Bên cạnh đó, phương pháp mô phỏng lịch sử còn có thêm một khuyết điểm khi không chú ý đến sự biến động rủi ro cùng nhau của các tài sản trong một danh mục Do vậy nếu sử dụng phương pháp này để đo lường VaR cho danh mục thì kết quả càng không chính xác Từ những lý do này mà
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21phương pháp phương sai-hiệp phương sai đã được ra đời để đáp ứng nhu cầu tính VaR làm sao vừa có thể đáp ứng được tính chính xác, vừa thể hiện được sự biến động rủi ro của cả danh mục bằng ma trận covariance
Bước 3: Tính toán ma trận Covariance cho danh mục
Nếu danh mục chỉ có một tài sản thì thay vì tính ma trận Covariance chúng ta tính thẳng ra độ lệch chuẩn bằng những công thức quen thuộc Còn nếu danh mục
có từ hai tài sản trở lên phải sử dụng đến ma trận Covariance Ma trận này được tính toán như sau:
Bảng 1.2 Ma trận Covariance
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2213
Với Cov i,j = độ lệch chuẩn đồng tiền i (σ i ) x độ lệch chuẩn đồng tiền j (σ j ) x
hệ số tương quan giữa đồng tiền i và j (ρ ij ) Tuy nhiên trong Excel chúng ta có thể
tính toán đại lượng này dễ dàng bằng cách dùng hàm Covariance
Bước 4 Tính độ lệch chuẩn cho danh mục
σ =√𝑤1 Cov 1,1 + 𝑤2Cov 2,2 + ⋯ + 𝑤 n Cov n,n + 2𝑤 1 𝑤 2 Cov 1,2 + 2𝑤 1 𝑤 3 Cov 1,3 + ⋯ + 2𝑤 i 𝑤 j Cov i,j
Bước 5 Tính VaR của danh mục theo công thức:
VaR = (𝑿 ̅ - Z ασ).V n với Zσ được tính theo phân phối chuẩn N(0;1) và trong Excel thường được tính với hàm Normdist
Ưu điểm của phương pháp này là đảm bảo tính tương quan của các đồng tiền
trong danh mục, do đó VaR tính toán được sẽ chính xác hơn
Nhược điểm: VaR vướng phải một giả định là tuân theo phân phối chuẩn Nếu
tỷ suất sinh lợi có điều kiện không tuân theo phân phối chuẩn, VaR tính được sẽ nhỏ hơn giá trị VaR thật sự
1.3.3.3 Phương pháp mô phỏng Monte-Carlo (Monte-Carlo Simulation)
Đây là phương pháp toàn diện nhất trong các phương pháp tính VaR, với một kịch bản các tình huống có thể xảy ra, cộng thêm với nhiều mô phỏng sẽ cho ra kết quả chính xác về phân phối xác suất của VaR Với sự hỗ trợ của các phần mềm, việc tính toán tìm ra VaR ở mức độ tin cậy 95% hay 99% đã trở nên không đáng lo ngại Quy trình tính toán:
Bước 1: Nhận diện nhân tố rủi ro đang tác động đến trạng thái ngoại tệ mà ngân
hàng gặp phải Trong trường hợp đo lường rủi ro tỷ giá thì đó là sự biến động của tỷ giá
Bước 2: Tiến hành xây dựng các giả định cho nhân tố rủi ro đã xác định ở bước 1 Bước 3: Từ các giả định bước 2 tiến hành mô phỏng
Bước 4: Trên kết quả mô phỏng tiến hành tính VaR tại các mức xác suất 5% và 1%
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23 Ưu điểm phương pháp này cho kết quả chính xác, vì nó bao hàm những biến
động có thể xảy ra trong quá khứ vào kết quả tính toán VaR
Nhược điểm của phương pháp này là đòi hỏi khối lượng tính toán nhiều
Tuy nhiên, ngày nay, với sự phát triển các phần mềm thì việc tính toán đã trở nên đơn giản rất nhiều Nên phương pháp này được sử dụng rộng rãi để tính toán VaR trong thực tế
1.3.4 Các thông số ảnh hưởng đến VaR của danh mục
Ðối với nhà đầu tư thì VaR của một danh mục tài sản tài chính phụ thuộc vào
ba thông số quan trọng sau đây:
Độ tin cậy
Khoảng thời gian đo lường VaR
Việc lựa chọn các phương pháp tính VaR
1.3.4.1 Độ tin cậy
Độ tin cậy ảnh hưởng rất lớn đến ước tính của VaR Mỗi ngân hàng khác nhau
sẽ có một nhu cầu về độ tin cậy khác nhau, nó tuỳ thuộc vào khẩu vị rủi ro của từng nhà đầu tư Những nhà đầu tư không thích rủi ro sẽ muốn có độ tin cậy cao Bên cạnh
đó, với mục đích kiểm định tính đúng đắn của ước tính VaR, thì việc chọn độ tin cậy không cần quá cao, bởi lẽ nếu độ tin cậy quá cao thì lúc đó VaR sẽ cao hơn, hay nói cách khác là xác suất để thua lỗ lớn hơn VaR sẽ thấp đi, dẫn đến thời gian để thu thập
dữ liệu xác định tính đúng đắn của kiểm định sẽ kéo dài hơn
1.3.4.2 Khoảng thời gian đo lường VaR
Một trong những yếu tố quan trọng để áp dụng VaR đó là thời gian sử dụng VaR Theo The Market Risk Amendment (MRA), VaR nên được đo lường trong 10 ngày Tuy nhiên tất cả các bài nghiên cứu đều cho rằng việc áp dụng thời gian tính VaR như thế nào là tuỳ thuộc vào mục đích kinh tế của VaR Chẳng hạn, các định chế ngân hàng thích chu kì thời gian 2 tuần Nhiều công ty báo cáo VaR theo quý và
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 241.3.4.3 Lựa chọn phương pháp tính VaR
Ba phương pháp tính VaR truyền thống có những đặc điểm cũng như những giả định riêng Trong đó, phương pháp mô phỏng lịch sử và mô phỏng Monte Carlo
về cơ bản là giống nhau Phương pháp mô phỏng Monte Carlo như là sự phát triển của phương pháp mô phỏng lịch sử, nó cũng tiến hành tính VaR dựa trên sự sắp xếp chuỗi TSSL trung bình của danh mục theo thứ tự từ nhỏ đến lớn dựa trên 10.000 mô phỏng Phương pháp phương sai-hiệp phương sai khác hai phương pháp trên ở chỗ
nó xem xét khía cạnh rủi ro của một danh mục đầu tư phải có sự liên hệ rủi ro của các tài sản trong danh mục, tức chú ý đến sự biến động rủi ro cùng nhau của các tài sản trong cùng một danh mục “Vấn đề là, con số VaR được ước tính bởi các phương pháp khác nhau có thể cho những kết quả rất khác nhau” (Tanya Beder, 1995; Marshall và Siedel, 1997) Chính vì thế mà trong thực tiễn sử dụng VaR, mỗi nhà quản trị rủi ro phải lựa chọn cho mình một phương pháp được xem là thích hợp nhất Thông thường là phụ thuộc vào những yếu tố sau:
Khả năng nắm bắt rủi ro thị trường của các nhà quản trị
Dễ thực hiện, dễ giải thích cho quản lí cấp cao
Khả năng phân tích linh hoạt kết hợp với các giả định thay thế
Độ tin cậy của kết quả
1.3.5 Các hạn chế của phương pháp tính VaR
Mặc dù VaR là công cụ đo lường rủi ro được sử dụng rất phổ biến trong quản trị rủi ro tài chính, VaR vẫn có những hạn chế nhất định trên cả phương diện
lý thuyết lẫn thực tiễn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25 Về phương diện lý thuyết: VaR dựa trên giả định rằng các yếu tố của thị trường tài chính tuân theo quy luật phân phối chuẩn2
Giả định này được cho là khá tốt để quản lí các vị thế kinh doanh theo ngày, bởi từ ngày này qua ngày khác, rủi ro được cho là có khuynh hướng tiến đến phân phối chuẩn Điều này đã được các nhà khoa học chứng minh là gần như chính xác với các hiện tượng tự nhiên Tuy nhiên, với một thế giới tài chính đầy biến động thì đây là một giả định hầu như không chính xác
Về phương diện thực tiễn: VaR chỉ đo lường được rủi ro lớn nhất trong phần lớn các tình huống Tuy nhiên, VaR chưa trả lời được câu hỏi: trong xác suất nhỏ các tình huống (1% hay 5% tình huống xấu - ứng với các diễn biến thất thường của thị trường) khi xảy ra, mức tổn thất sẽ là bao nhiêu? Như đã đề cập, theo thống kê, các tình huống tưởng chừng hiếm xảy ra nhưng lại xuất hiện khá thường xuyên Song song đó, VaR chỉ phản ánh những biến động từ dữ liệu lịch sử do người tính toán cung cấp, nên có đôi lúc chuỗi dữ liệu này không bao gồm những biến động lớn trong các cuộc khủng hoảng, dẫn đến kết quả không đáng tin cậy
1.3.6 Giới thiệu Back-test
Như đã đề cập ở trên, các phương pháp tính VaR có những hạn chế nhất định nên đôi lúc giá trị VaR tính toán ra không đánh giá chính xác được rủi ro Do vậy phải cần đến phép kiểm định Back-test
Back test thực chất là một phép kiểm tra để so sánh VaR tìm được với những
dữ liệu trong quá khứ để đảm bảo rằng các mức lỗ thực sự gặp phải trong quá khứ tương ứng với danh mục đồng tiền đang có không vượt quá một giới hạn nào đó Nếu độ tin cậy là 95% thì số lần bị lỗ vượt quá này không quá N*5% Với N là kích thước mẫu
Ví dụ: NHTM A áp dụng hệ thống VaR với độ tin cậy 95%, và trong 252 ngày làm việc trong 1 năm vừa rồi, ngân hàng đó xác định được VaR của danh mục Khi tiến hành phép thử Back-test:
2
Đối với phương pháp phương sai-hiệp phương sai
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2617
- Nếu số ngày tổn thất vượt quá giá trị VaR là trên 13 ngày (5% của 252 ngày làm việc) thì kết quả tính VaR của ngân hàng vẫn chưa cho kết quả chính xác, và ngân hàng đó buộc phải điều chỉnh cách thức đánh giá VaR
- Nếu số ngày tổn thất vượt quá giá trị VaR là dưới 13 ngày, thì kết quả tính VaR của ngân hàng đó là chấp nhận được
1.3.7 Giới thiệu Stress-test và E-VaR
Stress test
Mục đích chính của phương pháp đo lường VaR là ước tính những khoản lỗ
có thể xảy ra dưới những điều kiện thông thường của thị trường Vấn đề là việc đo lường VaR dựa trên những dữ liệu lịch sử gần đây có thể bỏ qua việc phát hiện các tình huống cực kì bất thường có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng Vấn đề này được đặc biệt quan tâm từ sau khủng hoảng kinh tế năm 2008, khi các nhà quản trị tài chính hàng đầu nước Mỹ phải đối mặt với những cơn lỗ khủng khiếp mà họ, thậm chí rằng, không biết được khoản lỗ này xuất phát từ đâu Chính giá trị có rủi ro VaR
mà họ thần tượng đã phản bội lại họ khi không thể đo lường những cú sốc kinh tế như thế Đó là lý do tại sao các phương pháp tính VaR cần được bổ sung một chương trình kiểm tra thường xuyên Stress test
Stress test có thể được mô tả như là một quá trình để xác định và quản lý các tình huống có thể gây ra các thiệt hại bất thường Phép thử Stress test sẽ đưa ra những bối cảnh của các nhân tố rủi ro như tỷ giá biến động khác xa so với điều kiện bình thường, xác định VaR ứng với từng bối cảnh này Qua đó, giúp các tổ chức có thể hình dung ra được số tổn thất vượt quá VaR nằm trong khoảng giá trị là bao nhiêu
E-VaR
E-VaR là chữ viết tắt của Expanded Value at Risk, tức nó là giá trị mở rộng của VaR Thường E-VaR được dùng trong những trường hợp mà kiểm định Back test cho kết quả bác bỏ VaR, tức số ngày trong quá khứ có độ biến động thua lỗ lớn hơn VaR vượt quá số lượng cho phép E-VaR sẽ được tính theo mô hình sau đây Giả sử một dữ liệu đầu vào là những thua lỗ vượt quá VaR ký hiệu là L, hàm mật độ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27xác suất chuẩn của L ký hiệu là 𝜑(L) , đồng thời mức ý nghĩa ký hiệu là 𝛼 và hàm xác suất của mức ý nghĩa này ký hiệu là 𝜗(𝛼) lúc này E-VaR sẽ được tính như sau:
Với pi là xác suất thua lỗ ứng với mức lỗ li
E-VaR sẽ cho kết quả chính xác hơn VaR trong những trường hợp Back–test bác bỏ VaR Tuy nhiên không phải lúc nào E-VaR cũng hữu hiệu vì nếu nhà quản trị cứ đi dự phòng rủi ro thì mức lợi nhuận sẽ phải giảm xuống ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh Nên một lần nữa khẳng định lại rằng E-VaR chỉ nên sử dụng trong những hợp đồng KDNT lớn hoặc trong trường hợp Back-test cho rằng VaR đang đánh giá thấp rủi ro
1.4 Tóm tắt các nghiên cứu trước
1.4.1 Các nghiên cứu trong nước
Trần Mạnh Hà (2010) - Ứng dụng VaR trong việc cảnh báo và giám sát rủi ro thị trường đối với hệ thống NHTM Việt Nam Theo tác giả, lợi ích lớn
nhất của VaR chính là việc đòi hỏi phải thay đổi suy nghĩ về quản trị rủi ro thị trường đối với những tổ chức tài chính áp dụng nó Định chế tài chính mà thông qua quy trình tính toán VaR sẽ buộc phải chấp nhận việc phơi bày những rủi ro tài chính và do đó sẽ phải thiết lập chức năng quản trị rủi ro thích hợp với bản thân Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của VaR như “hiệu ứng đuôi chuông”, khoảng tin cậy,…đồng thời cũng đề xuất các biện pháp khắc phục như sử dụng phép thử Back-test, Stress-test để đảm bảo hệ thống VaR của ngân hàng cho kết quả chính xác
Lê Đức Thọ (2011) – Lý thuyết cực trị và ứng dụng trong đo lường rủi
ro tài chính Bài viết đã nghiên cứu các lý thuyết cực trị trong đo lường rủi ro tài
chính và khẳng định tầm quan trọng của các mô hình định lượng trong QTRR danh mục (bao gồm VaR và ES) Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của VaR và đề xuất mô hình xác định tổn thất kỳ vọng ES (Expected Shortfall) để khắc phục được nhược điểm của VaR Theo tác giả, sự kết hợp giữa VaR và ES là có
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2819
hiệu quả trong QTRR khi VaR chỉ đo lường được những tổn thất trong điều kiện thị trường hoạt động bình thường còn ES lại giúp cho các nhà đầu tư cũng như các định chế tài chính biết được mức tổn thất tối đa trong trường hợp có những diễn biến xấu của thị trường
Bùi Quang Tín (2013) – Quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM cổ phần tại thành phố Hồ Chí Minh Luận án chỉ ra rằng hoạt động kinh
doanh ngoại hối những năm trước đây chưa được quan tâm đúng mức, các NHTM chỉ tập trung vào khâu tín dụng, có những ngân hàng doanh thu từ tín dụng chiếm đến 90% tổng doanh thu Bên cạnh đó, nghiên cứu đã làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngoại hối cũng như gây ra rủi ro ngoại hối của các NHTM trong điều kiện hiện nay Qua đó, tác giả đề xuất các chính sách và giải pháp để tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động KDNT, trong đó có các biện pháp chủ yếu như thiết lập trạng thái ngoại hối hợp lý, sử dụng các phương pháp tính VaR, sử dụng các sản phẩm phái sinh ngoại tệ và hạn chế các giao dịch trên thị trường khi không thực sự có nhu cầu
Hoàng Đức Mạnh (2014) – Một số mô hình đo lường rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam Luận án đề xuất nhiều cách tiếp cận mới cũng
như các mô hình đo lường rủi ro, trong đó có VaR Nghiên cứu sử dụng các số liệu của các cổ phiếu được lựa chọn tính chỉ số VN30, và các chỉ số VNINDEX, HNX Các cổ phiếu được chọn để tính VN30 là những cổ phiếu có mức vốn hóa và thanh khoản đại diện cho sàn HOSE Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp EVT (ký thuyết giá trị cực trị) là phù hợp và phản ánh được giá trị tổn thất thực tế của danh mục nếu sử dụng giả thiết phân phối chuẩn cho chuỗi lợi suất các cổ phiếu
1.4.2 Các nghiên cứu ngoài nước
Philippe Jorion (1996) – Risk: Measuring the Risk in Value at Risk
Những thảm họa tài chính lớn xảy ra đặt ra nhu cầu cần phải có một công cụ đo lường rủi ro tốt hơn Nghiên cứu chứng tỏ rằng mặc dù VaR có nhiều ứng dụng trong thực tiễn quản trị rủi ro, nhưng nó vẫn có những hạn chế: VaR chỉ đúng nếu như nó được đo lường với một số lượng quan sát nhất định, tuy nhiên thực tế, VaR
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29chỉ phản ánh những biến động từ dữ liệu lịch sử do người tính toán cung cấp, do vậy đôi lúc chuỗi dữ liệu này không bao gồm những biến động lớn trong các cuộc khủng hoảng, dẫn đến kết quả tính VaR không chính xác Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra các phương pháp đo lường VaR khác nhau sẽ có kết quả khác nhau Tác giả sử dụng một danh mục trái phiếu làm dữ liệu đầu vào để đo lường mức tổn thất trong 10 ngày, mức ý nghĩa 5%, số lượng quan sát 250 ngày Kết quả cho thấy VaR tính theo phương pháp mô phỏng lịch sử là 17.000 USD, trong khi tính theo phương pháp Riskmetrics là 18.200 USD Qua đó, tác giả cũng đề xuất cách tính độ lệch chuẩn của VaR để xem xét mức độ sai lệch của công cụ đo lường hiện đại này
Darryll Hendricks, 1996, Evaluation of Value at Risk models using Historical data Tác giả tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá hiệu
quả của VaR trong QTRR Nghiên cứu sử dụng 12 cách tiếp cận VaR với 1000 danh mục ngoại hối được lựa chọn ngẫu nhiên Với việc sử dụng 9 tiêu chí để đánh giá, tác giả nhận thấy rằng: nhìn chung, tất cả các cách tiếp cận mô hình đều đánh giá được mức độ rủi ro của danh mục ở mức trung bình và không có cách tiếp cận nào tốt hơn cách nào
Jeremy Berkowitz, James O’Brien, 2001, How accurate are Value at risk Models at Commercial Banks? Nghiên cứu này lần đầu tiên cung cấp những bằng
chứng trực tiếp về hiệu quả của VaR trong hoạt động của các ngân hàng Tác giả đã phân tích sự phân bổ lợi nhuận và mức lỗ hàng ngày bằng các phương pháp tính VaR của 6 ngân hàng lớn ở Mỹ Tất cả các ngân hàng này đều đáp ứng các tiêu chuẩn của Basel, có lượng giao dịch tương đương 10% tổng tài sản hoặc đạt mức 1
tỷ USD Đây là các đại lý giao dịch phái sinh lớn nhất nước Mỹ và tất cả đều nằm trong top 10 về khối lượng giao dịch danh nghĩa đang lưu hành năm 1999 Mức lãi,
lỗ và hàng loạt dữ liệu VaR được duy trì bởi các ngân hàng nhằm đánh giá việc tuân thủ các yêu cầu về vốn Theo tác giả, VaR được xem như một chỉ số dự báo cho quản trị rủi ro nội bộ Bên cạnh đó, bài viết tiến hành đánh giá hiệu quả của VaR bằng nhiều phương pháp khác nhau Với độ tin cậy 99%, có hai phát hiện quan trọng: trong điều kiện thị trường hoạt động bình thường, VaR ước tính gần như
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3021
chính xác mức lãi, lỗ Tuy nhiên, khi thị trường đón nhận những cú sốc thì VaR lại không thể đo lường được Cùng với đó, để đánh giá hiệu quả của VaR, tác giả tiến hành so sánh kết quả VaR tính toán ra được với VaR của nghiên cứu khác có sử dụng mô hình Garch Kết quả chỉ ra rằng, VaR tính toán bằng các phương pháp khác nhau sẽ cho ra kết quả khác nhau
Kết luận chương 1
Chương 1 đã cung cấp những vấn đề khái quát về rủi ro tỷ giá, sự cần thiết của quản trị rủi ro tỷ giá, các phương pháp đo lường rủi ro tỷ giá Value at risk cùng với các phép thử Back-test, Stress-test để khắc phục những nhược điểm của VaR Bên cạnh đó, chương này đã điểm qua những nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó nắm bắt được các đặc điểm hạn chế của phương pháp tính VaR cũng như có cái nhìn khái quát về kết quả của các nghiên cứu trước, làm cơ sở cho việc so sánh với kết quả của nghiên cứu này
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KDNT CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2014 ỨNG DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH VaR
TRONG VIỆC ĐO LƯỜNG RỦI RO TỶ GIÁ TẠI CÁC NHTM 2.1 Thực trạng kinh doanh ngoại tệ tại các NHTM VN giai đoạn 2012-2014
2.1.1 Khung pháp lý trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Việt Nam
Thứ nhất, Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày
13/12/2005 Pháp lệnh gồm 10 chương, 46 điều, quy định những khái niệm, nền tảng
cơ bản cho hoạt động trao đổi cũng như quản lý ngoại hối của Việt Nam Pháp lệnh
đã nêu rõ những hạn mức ngoại tệ được mang theo khi xuất cảnh mà không cần khai báo, hoặc trường hợp đầu tư trực tiếp Nói chung đây là văn bản có tính chi phối chung cho hoạt động KDNT
Thứ hai, Quyết định số 2635/QĐ-NHNN ngày 06/11/2008 của NHNN về
việc ban hành một số quy định liên quan đến giao dịch ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động kinh doanh ngoại hối Nội dung quyết định này quy định biên độ dao động của tỷ giá giao dịch tại các tổ chức tín dụng được thực hiện KDNT so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng công bố
Thứ ba, Quyết định 21/2008/QĐ - NHNN ngày 11/07/2008 ban hành Quy
chế Đại lý đổi ngoại tệ Để tăng quy mô giao dịch ngoại tệ, các tổ chức được kinh doanh ngoại hối sẽ tiến hành thành lập các Đại lý quy đổi ngoại tệ Quyết định này quy định rõ về thủ tục, cách thức cũng như điều kiện mở đại lý quy đổi ngoại tệ Cùng với đó là trách nhiệm của các bên, hình thức kiểm tra giám sát của NHNN
Thứ tư, Công văn 9699/NHNN - QLNH ngày 30/10/2008 hướng dẫn hoạt
động Đại lý đổi ngoại tệ Công văn này quy định bổ sung cho quyết định 21 Theo đó, các chi nhánh NHNN ở các tỉnh, thành phố sẽ kiểm tra và cho kết luận về địa điểm mà
tổ chức tín dụng xin phép đặt Đại lý thu đổi ngoại tệ Đồng thời giám sát việc chấp hành chế độ báo cáo của những đại lý này
Thứ năm, Thông tư số 20/2011/TT-NHNN ngày 29/08/2011 của NHNN quy
định về việc mua, bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân với tổ chức tín dụng được phép
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3223
Theo đó, thông tư này cho phép cá nhân cũng được mua ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu học tập, sinh hoạt, chữa bệnh, ở nước ngoài Đồng thời quy định rõ hạn mức áp dụng cho một cá nhân là 100 USD/người/1 ngày Nhưng hạn mức này có thể thay đổi theo mức độ tự cân đối ngoại tệ của tổ chức tín dụng Cùng với đó là việc quy định về nghiệp vụ mua lại ngoại tệ của cá nhân khi có nhu cầu giao dịch
Thứ sáu, Thông tư số 07/2012/TT-NHNN ngày 20/3/2012 của NHNN quy định
về trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Theo
đó tổ chức tín dụng chỉ được phép duy trì trạng thái ngoại tệ dương hoặc âm không quá 20% vốn tự có vào cuối ngày Riêng với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì tổng trạng thái ngoại tệ dương hoặc âm không quá 5 triệu USD vào cuối ngày
Thứ bảy, Pháp lệnh số 06/2013/PL – UBTVQH13 hướng dẫn sửa đổi, bổ sung
một số điều của Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014
Thứ tám, Thông tư số 21/2014/TT-NHNN hướng dẫn về phạm vi hoạt động
ngoại hối, điều kiện, trình tự, thủ tục chấp thuận hoạt động ngoại hối của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Nhận xét: Do tính đặc thù cũng như rủi ro từ sự biến động của tỷ giá mà
hoạt động KDNT được chi phối bởi nhiều văn bản pháp lý Tuy nhiên nếu so sánh với một số nước phát triển như Mỹ đã quy định rõ mức lỗ tối đa hàng ngày cho một ngân hàng là bao nhiêu, thì cách quản lý bằng trạng thái ngoại tệ của Việt Nam có phần chưa đánh giá được rủi ro tỷ giá mà các ngân hàng đang vướng phải Chính vì như thế một yêu cầu cho những NHTM ở Việt Nam có hoạt động KDNT là phải tự xây dựng cho mình một phương pháp đo lường rủi ro thích hợp
2.1.2 Các giao dịch ngoại tệ đang được triển khai ở các NHTM Việt Nam
Hiện nay, trên thị trường ngoại hối có 5 nghiệp vụ kinh doanh phổ biến là: giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn Trong đó, nghiệp vụ giao ngay được xem là nghiệp vụ gốc, còn các nghiệp vụ khác là phái sinh, tức được bắt nguồn từ nghiệp vụ giao ngay Sở dĩ nghiệp vụ giao ngay được gọi là nghiệp vụ gốc
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Hình 2.1 Lãi/Lỗ của khách hàng trong vị thế mua ngoại tệ
Nguồn: tác giả tự vẽ
là bởi tỷ giá giao ngay được hình thành trực tiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường, còn các nghiệp vụ phái sinh có tỷ giá không được hình thành trực tiếp từ thị
trường mà bắt nguồn từ tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất giữa các đồng tiền
2.1.2.1 Giao dịch ngoại tệ giao ngay (Spot operation)
Giao dịch ngoại tệ giao ngay được thực hiện khi khách hàng có nhu cầu mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ nhất định để phục vụ cho việc thanh toán các hợp đồng xuất nhập khẩu, hoặc thực hiện một số giao dịch khác được phép theo quy định của Pháp lệnh ngoại hối 2005 và theo các quy định khác của pháp luật
Giao dịch spot là giao dịch mà khách hàng và ngân hàng thỏa thuận mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ nhất định theo tỷ giá niêm yết tại thời điểm thỏa thuận (ngày T) và việc chuyển giao sẽ được thực hiện vào ngày T hoặc ngày T + 2
Ưu điểm: Giao dịch ngoại hối giao ngay có ưu điểm là thủ tục nhanh chóng,
thời gian giao dịch nhanh, đáp ứng ngay nhu cầu ngoại tệ hoặc chuyển đổi ngoại tệ của khách hàng
Hạn chế: Khách hàng có thể gặp rủi ro tỷ giá tùy theo từng vị thế mua (Long
position) hoặc vị thế bán ngoại tệ (Short position) Hình 2.1 minh họa lãi/lỗ của người ở vị thế Long position trong giao dịch Spot Nếu tỷ giá giao ngay vào thời điểm t (St) > tỷ giá giao ngay tại thời điểm 0 (S0) thì người này sẽ có lợi nhuận Ngược lại, nếu St<S0 người này sẽ phải chịu rủi ro tỷ giá
Trang 3425
Chính vì hạn chế này của giao dịch Spot mà các ngân hàng đã tiếp tục triển khai các giao dịch phái sinh khác để đáp ứng nhu cầu bảo hiểm rủi ro tỷ giá
2.1.2.2 Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn (Forward operation)
Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn (được thể hiện qua hợp đồng kỳ hạn) là giao dịch trong đó hai bên cam kết mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ nhất định theo tỷ giá
đã được xác định tại thời điểm kí kết hợp đồng và việc thanh toán sẽ được thực hiện trong tương lai (Theo Nguyễn Văn Tiến, 2008)
Hợp đồng kì hạn ra đời nhằm cung cấp công cụ phòng ngừa rủi ro hối đoái, tức là rủi ro phát sinh do sự biến động bất thường của tỷ giá nhờ vào sự cố định tỷ giá theo thỏa thuận tại thời điểm kí kết hợp đồng Bên cạnh đó, hợp đồng kỳ hạn còn giúp cho khách hàng có thể tính toán được chi phí phát sinh liên quan đến khoản ngoại tệ giao dịch kì hạn, đồng thời giúp họ tránh được sự khan hiếm ngoại
tệ trong tương lai vì hợp đồng Forward là bắt buộc thực hiện
Ưu điểm: Hợp đồng kì hạn đáp ứng được nhu cầu của cả bên mua và bên bán
về quy mô giao dịch, ngày tiến hành giao dịch, loại ngoại tệ giao dịch Do đó, các điều khoản của hợp đồng có thể được thiết kế linh hoạt tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên tham gia
Hạn chế: Một khi đã kí kết hợp đồng kì hạn thì cả hai bên buộc phải thực
hiện nghĩa vụ theo các điều khoản đã quy định trong hợp đồng chứ không được thanh lý hay chuyển nhượng Bên cạnh đó, giao dịch kì hạn hoàn toàn phụ thuộc vào chủ quan của các bên tham gia hợp đồng mà không chịu sự chi phối của bất kì một quy chuẩn hay văn bản pháp lí nào, điều này dễ dẫn đến một trong hai bên cố tình vi phạm hợp đồng, phá vỡ nghĩa vụ của mình
Khi tỷ giá trên thị trường tại thời điểm đáo hạn của hợp đồng kì hạn có sự chênh lệch so với tỷ giá kỳ hạn cam kết, người bán hoặc người mua sẽ gặp tổn thất
Cụ thể, nếu tỷ giá trên thị trường St > giá thực hiện X thì người mua sẽ có lời và người bán sẽ bị lỗ và ngược lại
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 352.1.2.3 Giao dịch ngoại tệ hoán đổi (Swap Operation)
Hợp đồng hoán đổi ngoại hối là một cam kết song phương về việc đồng thời mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định trong một thời gian xác định với tỷ giá của 2 giao dịch được xác định tại thời điểm kí kết hợp đồng, trong đó ngày giá trị mua vào và bán ra là khác nhau (Theo Nguyễn Văn Tiến, 2008)
Một giao dịch hoán đổi ngoại hối có thể là sự kết hợp của một giao dịch giao ngay và một giao dịch kỳ hạn (Spot - Forward Swap) hoặc bao gồm hai giao dịch
kỳ hạn có ngày giá trị khác nhau (Forward - Forward Swap) Cả hai giao dịch của hoán đổi phải được ký kết cùng một lúc
Ưu điểm: Lợi ích của khách hàng khi thực hiện giao dịch Swap là tránh
được rủi ro tỷ giá, hưởng chênh lệch lãi suất giữa các đồng tiền, quản lý dòng tiền hiệu quả hơn nhờ vào sự chênh lệch kỳ hạn giữa hai giao dịch trong Swap Một lợi ích khác là nếu khách hàng có nhu cầu sử dụng loại ngoại tệ A, nhưng hiện tại chỉ có ngoại tệ B mà khách hàng không muốn bán ngoại tệ B thì có thể dung hợp đồng swap để làm điều này
Hạn chế:
Khi đáo hạn, hợp đồng bắt buộc phải thực hiện, không kể đến tỷ giá giao ngay ở thời điểm đó như thế nào Điểm này có lợi là bảo hiểm rủi ro cho khách hàng nhưng lại đánh mất cơ hội kinh doanh nếu tỷ giá biến động trái với dự tính của khách hàng
Hợp đồng hoán đổi chỉ quan tâm đến tỷ giá ở 2 thời điểm: ngày hiệu lực và ngày đáo hạn chứ không quan tâm đến sự biến động tỷ giá trong suốt quãng thời gian giữa 2 thời điểm đó
Chính vì những hạn chế trên, hợp đồng hoán đổi được xem là thích hợp với vai trò là công cụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá hơn là đáp ứng nhu cầu kinh doanh và kiếm lời dựa vào biến động tỷ giá
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3627
2.1.2.4 Giao dịch ngoại tệ quyền chọn (Option Operation)
Hợp đồng quyền chọn tiền tệ là một công cụ phái sinh tài chính cho phép người mua có quyền (chứ không phải nghĩa vụ) mua hoặc bán tài sản trong tương lai với tỷ giá đã xác định tại thời điểm kí kết hợp đồng, trong một khoảng thời gian nhất định (Theo Nguyễn Văn Tiến, 2008)
Đây là một trong những giao dịch ngoại tệ phái sinh mà ngân hàng triển khai
để đáp ứng nhu cầu bảo hiểm rủi ro tỷ giá cho khách hàng Tuy nhiên không áp dụng với cặp USD/VND vì đây là cặp đồng tiền được NHNN quản lý, nếu áp dụng sẽ gây
ra hiện tượng đầu cơ, gây thiệt hại cho ngân hàng Với những cặp tỷ giá này khách hàng có nhu cầu bảo hiểm rủi ro tỷ giá sẽ thực hiện giao dịch Forward hoặc Swap
Có hai loại hợp đồng quyền chọn là hợp đồng quyền chọn mua và hợp đồng quyền chọn bán Với hợp đồng quyền chọn mua, khách hàng sẽ có quyền chứ không
có nghĩa vụ phải mua một số lượng ngoại tệ nhất định theo tỷ giá đã thỏa thuận Hoàn toàn tương tự với hợp đồng quyền chọn bán, khách hàng sẽ có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải bán một số lượng ngoại tệ nhất định, theo tỷ giá đã thỏa thuận, trong khoảng thời gian xác định được quy định tại hợp đồng với Ngân hàng
Ưu điểm: Tránh được rủi ro tỷ giá, dự toán trước được chi phí lớn nhất phát sinh
nhờ vào cố định tỷ giá, mặt khác giúp khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc quản trị chi phí nhờ vào quyền thực hiện hay không thực hiện hợp đồng quyền chọn
Hạn chế: Người mua quyền chọn phải bỏ ra một khoản phí để mua quyền dù
có thực hiện quyền hay không Người bán quyền chọn bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ bán/mua ngoại tệ nếu người mua thực hiện quyền mua/ bán
Giao dịch ngoại tệ giao sau (Future operation) hầu như không được sử dụng tại Việt Nam nên nghiên cứu không nêu rõ loại giao dịch này
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 372.1.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các NHTM Việt Nam
2.1.3.1 Tình hình biến động tỷ giá USD/VND giai đoạn 2012-2014
Đơn vị tính: VND
Biểu đồ 2.1 Tình hình biến động tỷ giá USD/VND giai đoạn 2012-2014
Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Nhìn chung, sau những năm có nhiều biến động, tỷ giá giai đoạn 2012-2014 được duy trì ổn định Nếu như trước đây, tỷ giá giữa thị trường chính thức và tự do chênh lệch đáng kể thì từ những tháng cuối năm 2011, tỷ giá đạt mức ổn định, sự hoạt động công khai của thị trường tự do đã bị thu hẹp Tỷ giá bình quân liên ngân hàng được duy trì ở mức biến động không quá 1% trong quý IV năm 2011, không đổi ở mức 20.828 VND/USD trong cả năm 2012, trong đó tỷ giá mua trung bình của các NHTM
ở mức 20.836 VND/USD Ngày 28/06/2013, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 1% lên mức 21.036 VND/USD Bước sang năm 2014, NHNN tiếp tục điều hành tỷ giá theo hướng linh hoạt với mục tiêu tiếp tục ổn định tỷ giá, giảm dần tình trạng đôla hóa trong nền kinh tế Chiều ngày 18/06/2014, NHNN đã quyết định nâng tỷ giá thêm 1% lên 21.246 VND/USD, có hiệu lực từ ngày 19/06
Khi tỷ giá đột nhiên có sự tăng đột biến như thế này, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động KDNT của các NHTM Đặc biệt, đối với các ngân hàng đang ở trạng thái Short position sẽ gặp rủi ro tỷ giá Với một vài ngân hàng đã dự báo trước được,
Trường Đại học Kinh tế Huế