Như vậy, với lượng rác thải sinh hoạt đô thị gia tăng nhanh chóng và các công nghệ hiện đang sử dụng không thể đáp ứng yêu cầu do điều kiện ViệtNam có mật độ dân số cao, quỹ đất hạn chế,
Trang 1Lời Cảm Ơn!
Trên cơ sởnhững kiến thức đã được họcởnhà trường trong suốt thời gian 4 năm Đại học Thực tập tốt nghiệp là cơ hội đểkiểm chứng những lý thuyết đã học thông qua thực tế Tạo điều kiện cho sinh viên rèn luyện tay nghề, nâng cao trình độchuyên môn khi ra trường Được sựnhất trí của Ban chủnhiệm Khoa kinh tếvà phát triển, Trường Đại học kinh tếHuếvà dưới sựhướng dẫn trực tiếp của thầy giáo Th.s Võ Việt Hùng, tôi tiến hành thực tập với đềtài: “Đánh giá thực trạng phân loại, thu gom và xửlý rác thải sinh hoạt tại phường TứHạ, thịxã Hương Tr à, tỉnh Thừa Thiên Huế”
Trong quá trình thực tập, nghiên cứu và viết khóa luận, tôi đã nhận được sựgiúp đỡ
và quan tâm của nhiều cá nhân, tập thểtrong và ngoài trường.
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏlòng biếtơn chân thành tới các Thầy, Cô giáo trường Đại học Kinh tếHuếđã trang bịcho tôi hệthống kiến thức làm cơ sởđểtôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Đặc biệt tôi xin được bày tỏlòng cảm ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo Th.S Võ Việt Hùng, người đã trực tiếp hướng dẫn và dày công giúp đỡtôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Phòng TN & MT thịxã Hương Tr à, UBND phường TứHạ, các cán bộvà các hộdân trên địa bàn phường TứHạđã nhiệt tình hướng dẫn, tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt quá trình thực tập, thu thập sốliệu và điều tra thực tế.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏlòng biếtơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè là chỗdựa tinh thần và hậu phương v ững chắc giúp tôi hoàn thành tốt việc học tập, nghiên cứu của mình trong những năm học vừa qua.
Lần đầu tiên thực hiện đềtài nghiên cứu Khoa học, mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng và tâm huyết với công việc cũng như nhận được nhiều sựgiúp đỡnhưng với thời gian và năng lựccó hạn, khóa luận tốt nghiệp không thểtránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn bè đểđềtài được hoàn thiện hơn.
Huế, tháng 05 năm 2014
Sinh viên Nguyễn ThịThảo My.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2MỤC LỤC
Trang LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
2.1 Mục tiêu chung 4
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
2.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Phương pháp thu thập số liệu .5
4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp .5
4.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 5
4.2 Phương pháp thống kê mô tả 6
4.3 Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí 6
4.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo .6
4.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 6
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Tổng quan về rác thải sinh hoạt 7
1.1.1.1 Các khái niệm cơ bản về rác thải sinh hoạt 7
1.1.1.2 Nguồn gốc phát sinh rác thải sinh hoạt 7
1.1.1.3 Thành phần của rác thải sinh hoạt .8
1.1.1.4 Tác hại của rác sinh hoạt 10
1.1.2 Tổng quan về vấn đề phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt .9
1.1.2.1 Phân loại rác thải sinh hoạt .12
1.1.2.2 Thu gom RTSH 14
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31.1.2.3 Các mô hình xử lý và tiêu hủy rác thải sinh hoạt 15
1.2 Cơ sở thực tiễn .19
1.2.1.Thực trạng thu gom, xử lý và quản lý rác thải sinh hoạt trên thế giới 19
1.2.2.Thực trạng thu gom, xử lý và quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam 22
1.2.3.Thực trạng thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt ở Thừa Thiên Huế 25
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÂN LOẠI, THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT Ở PHƯỜNG TỨ HẠ, THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 26
2.1 Thực trạng rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường Tứ Hạ 26
2.1.1 Lượng rác thải sinh hoạt 26
2.1.2 Nguồn gốc phát sinh, thành phần rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường Tứ Hạ 27
2.1.3 Khối lượng rác thải sinh hoạt của phường Tứ Hạ 28
2.2 Thực trạng phân loại, thu gom và xử lý RTSH của các hộ điều tra sống trên địa bàn phường Tứ Hạ - thị xã Hương Trà 29
2.2.1.Thực trạng phân loại, thu gom rác thải sinh hoạt 29
2.2.1.1 Thực trạng phân loại rác thải sinh hoạt .29
2.2.1.2 Thực trạng thu gom rác thải sinh hoạt 32
2.2.2 Thực trạng xử lý rác thải sinh hoạt 35
2.3 Đánh giá hiệu quả của hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt 38
2.3.1 Chi phí – lợi ích của hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt 38
2.3.1.1 Các khoản chi phí 39
2.3.1.2 Lợi ích 41
2.3.1.3 Lợi ích ròng của hoạt động thu gom 41
2.3.1.4 Các hiệu quả khác của hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt .42
2.3.2 Đánh giá và đề xuất của hộ điều tra về phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt .43
2.3.2.1 Về mức phí áp dụng cho hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt 43
2.3.2.2 Nhận thức, thái độ của người dân trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt 44
2.4 Những tồn tại và hạn chế trong công tác phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại phường Tứ Hạ 47
2.4.1 Những tồn tại và hạn chế .47
2.4.1.1 Công tác tuyên truyền giáo dục 47
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 42.4.1.2 Công tác quản lý và đầu tư nguồn lực 47
2.4.2 Nguyên nhân của các tồn tại và hạn chế trên 48
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VIỆC PHÂN LOẠI, THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT CỦA PHƯỜNG TỨ HẠ 49
3.1 Mục tiêu của hoạt động phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt .49
3.1.1 Mục tiêu tổng quát 49
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 49
3.2 Đề xuất một số giải pháp 49
3.2.1 Giải pháp về tổ chức quản lý rác thải sinh hoạt 49
3.2.2 Các công cụ kinh tế 51
3.2.2.1 Phí vệ sinh môi trường .51
3.2.2.2 Hệ thống đặt cọc – hoàn trả 52
3.2.3 Áp dụng các công cụ pháp lý 52
3.2.4 Các giải pháp kỹ thuật 52
3.2.4.1 Xây dựng giải pháp phân loại RTSH tại nguồn 52
3.2.4.2 Xây dựng giải pháp về thu gom 53
3.2.5 Giải pháp về tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức cộng đồng 53
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
1.Kết luận 55
2 Kiến nghị .56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Phụ lục 2: Phiếu điều tra
Phụ lục 3: Các hình ảnh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường
CN – TTCN : Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
RTSH : Chất thải rắn sinh hoạt
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
ÔNMT : Ô nhiễm môi trường
HTX : Hợp tác xã
MTĐT : Môi trường đô thị
NĐ – CP : Nghị định – Chính phủ
RTSH : Rác thải sinh hoạt
QĐ – UBND : Quyết định – Uỷ ban nhân dân
QLĐT : Quản lý đô thị
TNMT : Tài nguyên môi trường
TNTN : Tài nguyên thiên nhiên
TDP : Tổ dân phố
UBND : Uỷ ban nhân dân
VSMT : Vệ sinh môi trường
VC : Vận chuyển
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1: Nguồn gốc phát sinh rác thải sinh hoạt 9
Bảng 2: Thành phần chất thải sinh hoạt đặc trưng .10
Bảng 3: Thành phần hoá học của các cấu tử hữu cơ trong rác đô thị .10
Bảng 4: Quy mô bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt 16
Bảng 5: Lượng phát sinh chất thải rắn đô thị ở một số nước 21
Bảng 6: Phương pháp xử lý rác thải của các nước trên thế giới 23
Bảng 7: Lượng RTSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007 24
Bảng 8: Tổng lượng rác phát sinh của phường giai đoạn 2011- 2013 29
Bảng 9: Khối lượng rác thải trung bình mỗi ngày của các hộ gia đình điều tra 31
Bảng 10: Đánh giá của hộ về sự cần thiết của việc phân loại rác trước khi xử lý .32
Bảng 11: Số hộ phân loại RTSH hàng ngày trước khi xử lý 33
Bảng 12: Nguyên nhân người dân địa phương không phân loại rác 34
Bảng 13: Số trang, thiết bị phục vụ hoạt động thu gom .36
Bảng 14: Lượng rác phát sinh và thu gom được tại phường Tứ Hạ 37
Bảng 15: Cách thức xử lý RTSH của các hộ gia đình 39
Bảng 16: Ý kiến của ngời dân về việc xử lý rác của chính quyền địa phương 40
Bảng 17: Chi phí mua công cụ, dụng cụ thu gom 42
Bảng18: Chi phí vận chuyển của hoạt động thu gom rác thải 43
Bảng 19: Mức thu các đơn vị, hộ kinh doanh, trường học .44
Bảng 20: Đánh giá mức phí VSMT của các hộ gia đình 46
Bảng 21: Các ảnh hưởng khi xả rác bừa bãi 47
Bảng 22: Phản ứng của người dân khi thấy người khác xả rác bừa bãi 48
Bảng 23: Tham gia các chương trình dọn dẹp vệ sinh đường phố, BVMT 49
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Có thể nói: Môi trường có vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của thếgiới tự nhiên nói chung và con người nói riêng Là nơi để con người sinh sống, lao
động và học tập.Vì vậy, môi trường đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của các quốc
gia trên toàn thế giới Với sự bùng nổ của sản xuất công nghiệp, tốc độ phát triển kinh
tế như vũ bão hiện nay cũng như sự bùng nổ về dân số của thế giới nói chung và ViệtNam nói riêng thì nó đã kéo theo nhiều hệ lụy về sau, một trong những vấn đề quan
trọng là ô nhiễm môi trường Lượng chất thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt củacon người ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành phần và độc hại hơn về tính chất
Do vậy, chúng ta phải có những biện pháp hay phải lập ra quá trình quản lý, xử lý, thugom, phân loại sao cho có hiệu quả và an toàn nhằm mục đích giảm sự ô nhiễm do
chất thải rắn nói chung và chất thải sinh hoạt nói riêng gây ra
Từ thực tế trên, tôi đã chọn đề tài:“Đánh giá thực trạng phân loại, thu gom và
x ử lý rác thải sinh hoạt tại phường Tứ Hạ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên
Hu ế”
1 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về vấn đề rác thải sinh hoạt
- Đánh giá thực trạng rác thải, việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt
trên địa bàn nghiên cứu, đặc biệt là việc phân loại, thu gom và xử lý của các hộ gia
đình
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc phân loại, thu gom và xử
lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn Tứ Hạ
2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp phân tích thống kê
- Phương pháp chuyên gia chuyên khảo
- Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí
- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 83 Các kết quả mà nghiên cứu đạt được
- Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng trong phân loại, thu gom và xử lý rác thảisinh hoạt trên địa bàn Tứ Hạ Trong đó, chú trọng đến thực trạng phân loại, thu gom và
xử lý của các hộ điều tra
- Tìm hiểu được nhận thức, hành vi của người dân trong việc phân loại, thu gomrác thải sinh hoạt, đồng thời đánh giá được những khó khăn và hạn chế mà địa bàn
nghiên cứu gặp phải
- Từ đó dề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phân loại, thu gom
và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn Tứ Hạ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh đã trở thành nhân tốtích cực đối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, quá trình đô thị hóa ở Việt Namđang phát triển không ngừng cả về tốc độ lẫn quy mô, về số lượng lẫn chất lượng Tuynhiên bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, những tiến bộ vượt bậc thì đô thị hóaquá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, nhiều hạn chế mà bất kì một nước phát triểnnào cũng phải đối mặt Đặc biệt, môi trường sống của chúng ta ngày càng bị ô nhiễmtrầm trọng, cụ thể là ô nhiễm về đất, nước, không khí và tình trạng tài nguyên bị cạnkiệt cũng như hàng loạt các vấn đề môi trường khác cần được giải quyết, khống chếkhông chỉ đối với các thành phố trọng điểm mà vấn đề này cũng trở nên trầm trọng ởcác thị xã, phường, thôn, xóm… đòi hỏi cần được quan tâm sâu sắc và kịp thời giảiquyết một cách nghiêm túc, triệt để Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của các ngànhcông nghiệp, dịch vụ, du lịch… đã kéo theo mức sống của người dân ngày càng cao,điều này làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, nan giải trong công tác bảo vệ môi trường vàsức khỏe của cộng đồng dân cư Lượng chất thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạtcủa con người ngày càng nhiều hơn, đa dạng về thành phần và độc hại về tính chất
Rác thải sinh hoạt là vấn đề nhức nhối đối với toàn xã hội, nhất là trong quá trình
đô thị hóa, công nghiệp hóa đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay Theo dự báo của
Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến năm 2015 thì khối lượng RTSH phát sinh từ các đôthị của Việt Nam ước tính khoảng 37 nghìn tấn/ngày và năm 2020 là 59 nghìntấn/ngày, cao gấp 2- 3 lần hiện nay 1 Tác động tiêu cực của rác thải nói chung là rất
rõ ràng nếu như những loại rác thải này không được phân loại, thu gom và xử lý đúng
kĩ thuật môi trường Như vậy, với lượng rác thải sinh hoạt đô thị gia tăng nhanh chóng
và các công nghệ hiện đang sử dụng không thể đáp ứng yêu cầu do điều kiện ViệtNam có mật độ dân số cao, quỹ đất hạn chế, việc xác định địa điểm bãi chôn lấp cũngkhó khăn đã không đảm bảo môi trường và không tận dụng được nguồn tài nguyên từrác thải Việc chọn công nghệ xử lý rác như thế nào để đạt hiệu quả cao, không gâynên những hậu quả xấu cho môi trường trong tương lai hay áp dụng các công nghệ
1 Theo Báo cáo của Bộ TN & MT quốc gia, (2010)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10mới hạn chế chôn lấp rác thải nhằm tiết kiệm quỹ đất, BVMT và tận dụng nguồn tàinguyên từ rác thải đang là vấn đề cấp bách.
Đi cùng với xu hướng phát triển theo hướng CNH - HĐH của cả nước thì quátrình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Thừa Thiên Huế nóichung và thị xã Hương Trà nói riêng đã có những bước tiến vượt bậc, đã hình thànhnhiều khu, cụm công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp, làng nghề… Tuy nhiên cùng với sựphát triển kinh tế - xã hội đó thì đã làm gia tăng lượng rác thải sinh hoạt lên rất nhiều,tạo khó khăn cho công tác phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt cho các nhàquản lý môi trường đô thị
Tứ Hạ nằm ở trung tâm thị xã Hương Trà - là nơi có đường giao thông thuận lợi,tiếp giáp với thành phố nên các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp ngày càng được
mở rộng Ngoài ra, kinh tế phát triển thì đời sống của người dân được cải thiện, mứcsống ngày càng được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần nên nhu cầu tiêu dùng cácsản phẩm xã hội cũng càng cao, làm gia tăng lượng rác thải lên rất nhiều RTSH trongquá trình ăn, ở, tiêu dùng của con người được thải vào môi trường ngày càng nhiều,vượt qua khả năng tự làm sạch của môi trường dẫn đến môi trường bị ô nhiễm nghiêmtrọng Cho nên việc bảo vệ môi trường, việc xử lý, quản lý rác thải sinh hoạt đã trở nêncấp thiết cần có chủ trương, giải pháp đồng bộ để góp phần vào quá trình phát triểnkinh tế nhanh và bền vững của thị xã Hương Trà nói riêng và toàn tỉnh Thừa ThiênHuế nói chung
Xuất phát từ thực trạng trên, nhằm tìm ra các biện pháp, cách xử lý cũng nhưcông tác quản lý phù hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh
hoạt trên địa bàn Tứ Hạ, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng phân
lo ại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại phường Tứ Hạ, thị xã Hương Trà, tỉnh
Th ừa Thiên Huế” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại phường Tứ
Hạ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11- Đánh giá thực trạng rác thải cũng như việc phân loại, thu gom và xử lý rác thảisinh hoạt tại phường Tứ Hạ và của các hộ gia đình trên địa bàn phường.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc phân loại, thu gom và
xử lý rác rác thải sinh hoạt tại phường Tứ Hạ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu 1: Việc đánh giá thực trạng phân loại, thu gom và xử lýRTSH sẽ có lợi ích như thế nào cho phường Tứ Hạ?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt tại phường Tứ Hạ sẽmang lại hiệu quả gì?
Câu hỏi nghiên cứu 3: Cần có những giải pháp như thế nào để cải thiện chấtlượng môi trường của phường theo xu hướng ngày càng tốt hơn?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu về thực trạng rác thải tại phường Tứ Hạ như thành phần, khốilượng, nguồn phát sinh… và việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải ở đây
- Đối tượng trực tiếp nghiên cứu là các hộ dân ở phường Tứ Hạ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu này được thực hiện trên địa bàn phường Tứ
Hạ, cụ thể là dựa trên thông tin, số liệu điều tra từ 60 hộ dân của phường Tứ Hạ
- Phạm vi thời gian: Số liệu điều tra năm 2010 - 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu.
4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp.
- Các số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội, thực trạngrác thải trên địa bàn nghiên cứu… được thu thập số liệu từ UBND phường Tứ Hạ,phòng TNMT của thị xã Hương Trà, UBND thị xã Hương Trà,…
- Thu thập, tổng hợp nhiều tài liệu qua sách, báo, mạng internet…
4.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp.
- Phương pháp khảo sát thực địa, trực tiếp tham quan địa bàn phường Tứ Hạ đểthấy được tình hình chung về thực trạng rác thải, phân loại, thu gom và xử lý rác thảisinh hoạt trên địa bàn cũng như của các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12- Phỏng vấn bằng phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến và đề xuất của các hộ giađình về tình hình phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại phường Tứ Hạ.
- Điều tra thu thập số liệu mới:
+ Chọn mẫu điều tra: Tổng số mẫu điều tra là 60 mẫu Do hạn chế về thời giannghiên cứu, phương tiện đi lại cũng như về kinh phí nên không thể điều tra toàn bộ các
hộ trên địa bàn nghiên cứu mà chỉ điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên
+ Phương pháp điều tra: Phỏng vấn trực tiếp từng hộ với bảng hỏi được thiết kế
và chuẩn bị sẵn cho mục đích nghiên cứu
4.2 Phương pháp thống kê mô tả
Đây là phương pháp thu thập thông tin, số liệu để nhằm đánh giá tổng quát đặctrưng về một mặt nào đó của tổng thể cần nghiên cứu Trong phạm vi đề tài này,phương pháp được sử dụng để trình bày về thực trạng phân loại, thu gom và xử lý rácthải sinh hoạt tại phường Tứ Hạ, thị xã Hương Trà nhằm khái quát định hướng mụctiêu và những giải pháp chủ yếu nhằm mục đích nâng cao hiệu quả phân loại, thu gom
và xử lý rác thải sinh hoạt ở địa bàn nghiên cứu
4.3 Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí
Đây là phương pháp phân tích lợi ích và chi phí trong đó có xét đến các yếu tố xã hội
và môi trường Nói cách khác, nó là một chu trình để so sánh các lợi ích và chi phí xã hộicủa một chương trình hay một dự án, diễn đạt bằng giá trị tiền tệ ở mức độ thực tế nhất
4.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Là phương pháp quan trọng và có tính khách quan cao Để đưa ra những giảipháp phù hợp với nội dung đề tài cũng như thu thập thêm nhiều kiến thức về chuyênmôn, ngoài việc tham khảo ý kiến từ thầy cô hướng dẫn thì các buổi gặp gỡ, thảo luận,trao đổi ý kiến với các cán bộ địa phương, các nhân viên kĩ thuật hay các ý kiến củacác hộ gia đình góp vai trò hết sức quan trọng
4.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Sau khi tiến hành thu thập số liệu, tiến hành tổng hợp lại để phân tích chúng quacác chỉ tiêu được đặt ra Dựa trên kết quả phân tích đó để đánh giá thực trạng phânloại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu
Các số liệu thu thập được sẽ được xử lý bằng các phần mềm: MS Excel
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Tổng quan về rác thải sinh hoạt
1.1.1.1 Các khái ni ệm cơ bản về rác thải sinh hoạt
- Khái niệm chất thải
Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, sinh hoạt hoặc từ các hoạt động khác.2
- Khái niệm chất thải rắn
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh,dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.3
Chất thải rắn bao gồm tất cả các chất thải ở dạng rắn, thông thường phát sinh từcác hoạt động của con người và sinh vật, và được thải bỏ đi do chúng không còn giá trị
sử dụng hoặc không cần đến.4
- Khái niệm rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt động của conngười, được phát sinh từ các nguồn chủ yếu như: từ các hộ gia đình, các trung tâmthương mại, cơ quan, các trung tâm, các công trường… Rác thải sinh hoạt gồm nhữngchất hữu cơ như thực phẩm thừa, giấy, cacton, nhựa, vải, cao su, da, gỗ… các chất vô
cơ gồm thủy tinh, nhôm, sắt, thép, bụi… và rác thải sinh hoạt có thể bao gồm cả chấtthải đặc biệt
Ngoài ra rác thải còn được hiểu là thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạtđộng sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt lại môi trường
1.1.1.2 Ngu ồn gốc phát sinh rác thải sinh hoạt
Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân số,
sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị và các
Nguồn G.Tchobanoglous etal- Intergrated solidi wáte management, 1993
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14vùng nông thôn Rác thải sinh hoạt phát sinh từ hoạt động hàng ngày của con ngườinhư trong quá trình, ăn, ở, tiêu dùng… và được thải vào môi trường ngày càng nhiềuhơn, đa dạng về thành phần, độc hại về tính chất Trong đó, các nguồn chủ yếu phátsinh rác thải bao gồm: Từ các hộ gia đình, từ các trung tâm thương mại, từ cơ quan, từcác khu công nghiệp, dịch vụ công cộng, nông nghiệp, các công trình xây dựng.
Bảng 1: Nguồn gốc phát sinh rác thải sinh hoạt.
Hộ gia đình Nhà ở riêng biệt, khu tập thể, chung cư…
Các trung tâm thương mại Nhà kho, quán ăn, chợ, văn phòng, khách sạn, nhà in,
trạm xăng dầu, gara…
Cơ quan Trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính…
Khu công nghiệp Công nghiệp xây dựng, chế tạo, công nghiệp nặng, nhẹ,
nhiệt điện, lọc dầu…
Dịch vụ công cộng Rửa đường, tu sửa cảnh quan, công viên, hoạt động dọn
rác vệ sinh đường phố…
Nông nghiệp Đồng cỏ, đồng ruộng, vườn cây, nông trại
Công trình xây dựng Khu nhà xây dựng mới, sữa chữa, nâng cấp mở rộng
đường phố, cao ốc, san nền xây dựng…
(Nguồn: Integrated solid Wáste Management, McGRAW - HILL)
1.1.1.3 Thành ph ần của rác thải sinh hoạt
Thành phần của rác thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, tùy thuộcvào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, kĩ thuật, tính chất tiêu dùng và nhiều yếu tốkhác Rác thải sinh hoạt nói chung là một khối hỗn hợp không đồng nhất và phức tạpcủa nhiều vật chất khác nhau Tùy theo cách phân loại, mỗi loại rác thải có một sốthành phần đặc trưng nhất định Có rất nhiều thành phần chất thải rắn trong các rácthải có khả năng tái chế, tái sinh Vì vậy mà việc nghiên cứu thành phần rác thải sinhhoạt là điều hết sức cần thiết Từ đó ta có cơ sở để tận dụng những thành phần có thểtái chế, tái sinh để phát triển kinh tế
Mỗi nguồn thải khác nhau lại có thành phần chất thải khác nhau như: Khu dân cư
và thương mại có thành phần rác thải đặc trưng là chất thải thực phẩm, giấy, carton,nhựa, vải, cao su, rác vườn, gỗ, nhôm… Rác thải từ dịch vụ như rửa đường, hẻm phốchứa bụi, rác, xác động vật…
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Thành phần hữu cơ tiêu biểu trong rác thải sinh hoạt chủ yếu là thực phẩm thừa, giấy,carton, nhựa, vải, cao su, da, gỗ… Thành phần vô cơ gồm thủy tinh, nhôm, sắt, thép, bụi…Các chất dễ phân hủy sinh học, đặc biệt trong điều kiện thời tiết ấm áp, được gọi
là các chất thối rửa Nguồn phát sinh chất thối rửa chủ yếu là thức ăn, vật liệu chế biếnthực phẩm… Bản chất của các chất thối rửa trong rác là một yếu tố gây ảnh hưởng đếnthiết kế và vận hành hệ thống thu gom rác
Bảng 2: Thành phần chất thải sinh hoạt đặc trưng.
Chất hữu cơ dễ phân hủy, thức ăn thừa, rau 64,7
(Nguồn: Số liệu quan trắc – CEETIA)
Qua số liệu ở bảng 3 nhận thấy rằng, các thành phần hoá học trong rác thải sinhhoạt chủ yếu là cacbon và oxy Tỷ lệ cacbon rất lớn, dao động từ 44,0% - 78,0% còn tỉ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16lệ oxy dao động từ 11,6% - 44,6%, còn lại là các thành phần khác Trong thành phầnhữu cơ của rác thải sinh hoạt thì xenlulozo và các chất đồng hành chiếm tỉ lệ nhiềunhất và quan trọng nhất.
Như vậy, nếu phế thải đô thị phân huỷ một cách vô tổ chức thì môi trường, môisinh và đặc biệt là các nguồn nước sẽ bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng Ngược lạinếu chúng được xử lý, tạo ra nguồn phân hữu cơ thì đây chính là nguồn dinh dưỡngkhổng lồ sẽ được trả về cho đất, tạo ra được sự cân bằng về sinh thái
1.1.1.4 Tác h ại của rác sinh hoạt
a Tác hại của rác thải sinh hoạt đến môi trường
Môi trường đất:
Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được thu gom đều được lưu giữ lạitrong đất, một số loại chất thải khó phân huỷ như túi nylon, vỏ lon, hydrocaccbon… nằm lạitrong đất ảnh hưởng tới môi trường đất; làm thay đổi cơ cấu đất, đất trở nên khô cằn, các visinh vật trong đất có thể bị chết Rác thải vứt bừa bãi ra đất hoặc chôn lấp vào đất khôngđúng kĩ thuật có chứa các chất hữu cơ khó phân huỷ làm thay đổi PH của đất
Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa, khai khoáng, hoá chất… đổ xuống đấtlàm cho đất bị đóng cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, dẫn tới đất bị thoái hoá.Ngoài ra, các chất ô nhiễm không khí lắng đọng trên bề mặt sẽ gây ô nhiễm đất tácđộng đến các hệ sinh thái đất
Môi trường nước:
Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa rác thải rơi vãi sẽtheo dòng nước chảy, các chất độc hoà tan trong nước, qua cống rãnh, ra ao hồ, sôngngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận
Rác thải không thu gom hết ứ đọng trong các ao, hồ là nguyên nhân gây mất vệsinh và ô nhiễm các thuỷ vực Khi các thuỷ vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rác thì cónguy cơ ảnh hưởng đến các loài thuỷ sinh vật, do hàm lượng oxy hoà tan trong nướcgiảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước cũng giảm, dẫn đến ảnh hưởng tớikhả năng quang hợp của thực vật thuỷ sinh và làm giảm sinh khối của các thuỷ vực
Nước ngấm xuống đất từ các chất thải được chôn lấp, các hố phân… làm ô nhiễmnước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối lân cận Tại các bãi rác,
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đa mức mưa thấm qua thì cũng có thểgây ô nhiễm nguồn nước mặt.
Môi trường không khí:
Rác thải hữu cơ phân huỷ tạo ra mùi và các khí độc hại như CH4,CO2, NH3…gây ô nhiễm môi trường không khí
Tại các bãi trung chuyển rác sinh hoạt xen kẽ khu vực dân cư là nguồn gây ônhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xúc rác, bụi khói,tiếng ồn và các khí thải độc từ các xe thu gom, vận chuyển rác
Khí thoát ra từ các hố hoặc chất làm phân, chất thải chôn lấp chứa rác chứa CH4,
H2S, CO2, NH3, các khí độc hữu cơ làm ô nhiễm không khí
Rác thải làm giảm mỹ quan đô thị:
Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý hay thugom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên… đều lànhững hình ảnh gây mất VSMT và làm ảnh hưởng đến mỹ quan đường phố, thôn xóm.Một trong những nguyên nhân làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của ngườidân chưa cao Tình trạng người dân vứt rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnhvẫn còn phổ biến, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thugom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ
b Tác hại của rác thải sinh hoạt đến sức khoẻ con người
Rác thải đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ cộng đồng, nghiêm trọng nhất là đối vớidân cư khu vực làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn
ô nhiễm rác thải đã đến mức báo động Nhiều bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp,bệnh ngoài da, tiêu chảy, thương hàn… do rác thải gây ra Hậu quả của tình trạng rác thảisinh hoạt đổ bừa bãi ở gốc cây, đầu đường, gốc hẻm, các dòng sông, lòng hồ hoặc rác thải
lộ thiên mà không được xử lý, đây sẽ là nơi nuôi dưỡng ruồi nhặng, chuột… là nguyênnhân lây truyền mầm bệnh, gây mất mỹ quan môi trường xung quanh
Rác thải sau khi được phát sinh có thể thâm nhập vào môi trường không khí dướidạng bụi hay các chất khí bị phân huỷ như H2S, NH3… rồi theo đường hô hấp đi vào
cơ thể con người hay động vật Một bộ phận khác, đặc biệt là các chất hữu cơ, các kim
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18loại nặng thâm nhập vào nguồn nước hay môi trường đất rồi vào cơ thể con người quathức ăn, thức uống.
Ngoài những chất hữu cơ có thể bị phân rã nhanh chóng, rác thải có chứa nhữngchất rất khó bị phân huỷ (như nhựa) làm tăng thời gian tồn tại của chúng trong môitrường Mặt khác, việc xử lý rác thải nếu không có biện pháp xử lý triệt để, các chất ônhiễm dạng rắn có thể dịch chuyển thành các chất ô nhiễm dạng khí hay dạng lỏng,gây ra những hậu quả khó lường đối với sức khoẻ cộng đồng
1.1.2 Tổng quan về vấn đề phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt
1.1.2.1 Phân lo ại rác thải sinh hoạt
Phân loại rác thải là quá trình tách riêng biệt các thành phần có trong RTSH, nhằmchuyển chất thải từ dạng hỗn tạp sang dạng tương đối đồng nhất Quá trình này cần thiết
để thu hồi những thành phần có thể tái sinh có trong RTSH, tách riêng những thành phầnmang tính nguy hại và những thành phần có khả năng thu hồi năng lượng
Nhằm tách lọc ra những thành phần khác nhau phục vụ cho công tác thu gom và
xử lý được thuận tiện hơn cũng như để phục vụ cho công tác tái chế, tái sử dụng Phânloại rác quyết định chất lượng của các sản phẩm chế tạo từ vật liệu tái sinh Chẳng hạn,nếu phân loại rác không tốt, phân bón hữu cơ chế tạo từ rác sẽ có chứa những chất vô
cơ, nhựa… làm ảnh hưởng đến độ màu mỡ của đất và làm giảm năng suất, hiệu quảkinh tế trong nông nghiệp
a Lợi ích của phân loại rác thải sinh hoạt
Lợi ích kinh tế:
Phân loại rác thải mang lại nhiều lợi ích kinh tế Trước hết, nó tạo nguồn nguyênliệu sạch cho sản xuất phân compost RTSH phần lớn là có khả năng tái sinh, tái chếnhư nylon, thủy tinh, nhựa, giấy, kim loại… Khối lượng RTSH có thể phân hủy chiếmkhoảng 75%, còn lượng RTSH có khả năng tái chế chiếm khoảng 25% Khối lượngRTSH thải ra hàng ngày ở Việt Nam là rất lớn, nếu biết tận thu rác thực phẩm, xã hội
sẽ thu được hàng trăm tỷ đồng từ việc giảm chi phí chôn lấp rác và bán phân compost.Ngoài ra việc phân loại RTSH cũng sẽ giúp cho việc giảm chi phí xử lý rác.Giảm khối lượng mang đi chôn lấp, diện tích đất phục vụ cho việc chôn lấp rác cũng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19sẽ giảm đáng kể, đồng thời cũng sẽ giảm được gánh nặng chi phí trong việc xử lý nước
rỉ rác cũng như xử lý mùi
Lợi ích môi trường:
Ngoài lợi ích kinh tế, việc phân loại rác tại nguồn còn mang lại nhiều lợi ích đối vớimôi trường Khi giảm được khối lượng RTSH phải chôn lấp, khối lượng nước rỉ rác sẽgiảm, nhờ đó các tác động tiêu cực đến môi trường cũng sẽ giảm đáng kể như: Giảm rủi
ro trong quá trình xử lý nước rỉ rác, giảm ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt… Diệntích bãi chôn lấp thu hẹp sẽ góp phần hạn chế hiệu ứng nhà kính gồm CH4, CO2, NH3.
Việc tận dụng các RTSH có thể tái sử dụng hay tái chế giúp tiết kiệm đượcnguồn tài nguyên thiên nhiên, thay vì khai thác tài nguyên để sử dụng thì chúng ta cóthể sử dụng các sản phẩm tái chế này như một nguồn nguyên liệu thứ cấp Chẳng hạnnhư chúng ta có thể sử dụng lượng nhôm có trong RTSH thay vì khai thác quặngnhôm, nhờ đó chúng ta vừa tiết kiệm được nguồn tài nguyên vừa tránh được tình trạng
ô nhiễm và những vấn đề khác do việc khai thác quặng nhôm gây ra
Lợi ích xã hội:
Phân loại rác tại nguồn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việcbảo vệ môi trường Để công tác phân loại này đạt hiệu quả như mong đợi, các ngànhcác cấp phải triệt để thực hiện công tác tuyên truyền hướng dẫn cho cộng đồng Lâudần, mỗi người dân sẽ hiểu được tầm quan trọng của việc phân loại RTSH mang lạicũng như tác động tích cực của nó đối với môi trường sống
Lợi ích xã hội lớn nhất do hoạt động phân loại rác tại nguồn mang lại chính làviệc hình thành ở mỗi cá nhân nhận thức bảo vệ môi trường sống
b Các hình thức tổ chức phân loại rác thải sinh hoạt
Phân loại rác sinh hoạt tại nguồn
Rác thải hiện nay đang là một vấn đề nan giải của xã hội và môi trường, phânloại rác thải tại nguồn nếu được thực hiện tốt sẽ làm giảm chi phí, tạo thuận lợi choquá trình xử lý, tái chế và làm giảm tác động tới môi trường
Phân loại rác tại nguồn phát sinh được hiểu là các loại chất thải cùng loại, cùnggiá trị sử dụng, tái chế, hay xử lý… được phân chia và chứa riêng biệt Ví dụ, thôngthường tại mỗi hộ gia đình hay công sở, mỗi đơn vị, chất thải như các loại can, hộp,
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20chai lọ có thể chứa trong một thùng hay túi nhựa màu vàng; loại giấy hay sách báo,carton được chứa trong một thùng hay túi nhựa màu xanh; loại bao gói thức ăn haythức ăn dư thừa được chứa trong thùng hay túi nhựa màu đen.
Phân loại rác tại địa điểm tập kết rác thải thu gom
Rác thải sau khi thu gom tại địa điểm tập kết thì sẽ được phân loại, tại đây rác sẽđược phân loại theo các thành phần: vô cơ và hữu cơ Tuy nhiên hình thức phân loạinày ít được sử dụng đến vì nó tốn kém nhiều thời gian và chi phí Đa số sử dụng hìnhthức phân loại rác thải tại nguồn
1.1.2.2 Thu gom rác th ải sinh hoạt
Thu gom rác thải là hoạt động tập hợp, dồn lại các loại rác thải từ các nguồn phátsinh khác nhau để đổ vào thùng trước khi đưa lên xe chuyển đi đến các nơi xử lý chấtthải rắn Công đoạn chuyển rác thải đi đổ ở các bãi của những xe thu gom cũng đượccoi là một phần của quá trình thu gom chất thải rắn
Công đoạn thu gom rác thải có ảnh hưởng trực tiếp đối với con người, mỹ quancũng như hiệu quả của các công đoạn vận chuyển và xử lý, sử dụng hay tái chế sau đó.Việc thu gom rác thải thường chia ra thành các công đoạn sơ cấp và thứ cấp Sự phânbiệt này có hàm ý là ở nhiều khu vực, việc thu gom phải được thực hiện theo một quátrình hai giai đoạn: Thu gom rác thải từ các nhà ở và thu gom tập trung về chỗ chứatrung gian rồi từ đó lại chuyển tiếp về trạm trung chuyển hay khu xử lý và bãi chôn lấp.Các phương thức thu gom:
Thu gom theo khối: Trong hệ thống này các xe thu gom chạy theo một quytrình đều đặn theo tần suất đã được thỏa thuận trước (2 – 3 lần/tuần hay hàng ngày).Những xe này dừng tại mỗi ngã ba, ngã tư… và rung chuông Theo tín hiệu này, mọingười dân ở những phố quanh đó mang những sọt rác của họ đến đổ vào xe Có nhiềudạng khác nhau của hình thức này đã được áp dụng nhưng điểm chung là mọi gia đìnhđược yêu cầu phải có thùng rác của riêng mình ở trong nhà và mang đến cho người thugom rác vào những thời điểm quy định trước Trong một số trường hợp, chính quyềnthành phố cung cấp những thùng rác đã được tiêu chuẩn hóa, mặc dù vấn đề kinh phícho sự tiêu chuẩn hóa này cần phải được xem xét một cách cẩn thận
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21 Thu gom bên lề đường: Hệ thống này đòi hỏi một dịch vụ đều đặn và một thờigian biểu tương đối chính xác Các công nhân phải đặt lại thùng rác sau khi đã được đổhết rác Điều quan trọng là những thùng rác này phải có dạng chuẩn Nếu không sửdụng những thùng rác chuẩn thì có thể có hiện tượng rác không được đổ hết ra khỏithùng Trong những điều kiện này, rác có thể bị gió thổi hay súc vật làm vương vãi ra,
do vậy làm cho quá trình thu gom trở thành kém hiệu quả Ở những nước có thu nhậpthấp, hình thức thu gom bên lề đường thường không hoàn toàn phù hợp Một số vấn đềthường nảy sinh trong cách thu gom này, ví dụ những người nhặt rác có thể sẽ đổnhững thùng rác này ra để nhặt trước, thùng rác có thể bị mất cắp, súc vật lật đổ hay bịvứt lại ở trên phố trong một thời gian dài
1.1.2.3 Các mô hình x ử lý và tiêu hủy rác thải sinh hoạt
Xử lý rác thải là phương pháp làm giảm khối lượng và tính độc hại của rác thải,hoặc chuyển rác thải thành vật chất khác để tận dụng thành TNTN, như thu hồi lại cácchất như giấy, kim loại, thủy tinh, nhựa để làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất Xử
lý rác thải là một vấn đề tổng hợp liên quan cả về kỹ thuật lẫn kinh tế và xã hội
a Xử lý rác thải bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh
Là phương pháp phân hủy kị khí với khối lượng chất hữu cơ lớn Đây là phươngpháp lâu đời, khá đơn giản và hiệu quả đối với lượng rác thải ở các thành phố đôngdân cư
Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là phân giải yếm khí các chất hữu cơ cótrong rác thải Và các chất dễ bị thối rửa tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàudinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và các khí CO2, CH4 Trong vậnhành bãi chôn lấp, sau khi hoàn tất một lớp rác, người ta trải lên mặt một lớp phủ trunggian, thường dùng đất làm lớp phủ Ở những nơi khan hiếm đất, người ta có thể dùngcác vật liệu thay thế khác như chất hữu cơ phân rã từ sân vườn, vật liệu do tháo dỡ nhàcửa làm lớp phủ trung gian Trong một số trường hợp, để tăng hiệu quả chôn lấp rác,người ta sử dụng rác đã phân hủy của bãi rác cũ làm làm lớp che phủ trung gian củabãi chôn lấp mới Sau khi toàn bộ rác ở bãi cũ đã lấy hết, người ta tiến hành lắp đặt các
cơ sở kỹ thuật để đưa nó vào hoạt động trở lại
Các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn bãi chôn lấp:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22Quy mô bãi rác: Phụ thuộc vào quy mô dân số, chất lượng RTSH phát sinh, đặcđiểm rác thải Quy mô bãi chôn lấp được chia làm 4 loại: Loại nhỏ, loại vừa, loại lớn
Thời gian tái
(Nguồn: Giáo trình Vi sinh vật đại cương, NXB Sư Phạm)
Qua bảng 4 cho thấy rằng: Nếu lượng RTSH càng lớn thì quy mô bãi chôn lấpcàng lớn và thời gian tái sử dụng càng dài Tuy nhiên, mức độ tái sử dụng đất của bãichôn lấp tùy thuộc vào tính chất, thành phần của từng loại chất thải
Vị trí bãi rác: Bãi rác cần được đặt ở những nơi ít ảnh hưởng tới cộng đồng dân
cư và các nguồn nước mặt xung quanh, phải có điều kiện thủy văn phù hợp (hướnggió, tốc độ gió, ít ngập lụt…) Nếu điều kiện thủy văn không phù hợp thì bãi chôn lấpphải được lót bằng những chất cao su có khả năng ô nhiễm nước ngầm và ô nhiễmnước mặt các vùng lân cận Bởi vậy ở các nơi chôn rác đều phải xây dựng hệ thống thugom và xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường Để giám sát ảnh hưởng của bãichôn lấp rác đến nguồn nước ngầm, một số giếng được khoan ở xung quanh bãi chônrác nhằm để lấy mẫu, xét nghiệm chất lượng nước ngầm định kì
- Khối lượng đất phủ lớn, tốn nhiều diện tích đất
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23- Do rác được ủ trong điều kiện kị khí, khí metan và khí hidro sunfua hình thành có thểgây ngạt, cháy nổ, sinh khí C02và CH4đóng góp một phần vào sự nóng lên của Trái đất.
- Việc chôn lấp gây mùi khó chịu
b Phương pháp thiêu đốt rác
Thiêu đốt là phương pháp xử lý rác khá phổ biến ở các nước phát triển Thiêu đốtrác có ý nghĩa quan trọng làm giảm tới mức thấp nhất chất thải cho khâu xử lý cuốicùng, là một công nghệ xử lý triệt để rác thải Nhưng đây cũng là phương pháp tốnkém nhất và so với phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh chi phí có thể cao gấp 10 lần.Công nghệ này thực hiện ở các quốc gia phát triển vì một số lý do:
- Việc thu gom rác được thực hiện tận gốc, đã phân loại sơ bộ của người dân vàcác cơ sở công nghiệp
- Nền kinh tế đủ mạnh để bao cấp cho công việc thiêu đốt như là một dịch vụphúc lợi xã hội của toàn dân
Rác thải được phân loại sơ bộ bởi các đối tượng xả rác, được chứa trong các bịchnylon và các thùng rác công cộng Xe chở rác gom về nhà máy xử lý, tại đây có sự phânloại riêng các thành phần có thể tái sử dụng như kim loại, thủy tinh vụn, giấy vụn… vàcác tạp chất vô cơ Phần còn lại được đưa vào lò đốt ở nhiệt độ cao Lò đốt có thể dùngdầu hoặc nhiệt, năng lượng phát sinh có thể được tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc cáccông nghiệp cần nhiệt Mỗi lò đốt đều phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải tốnkém nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt rác có thể gây ra
Ưu điểm:
- Xử lý triệt để lượng rác cần xử lý
- Tiêu diệt triệt để các vi sinh vật gây bệnh, xử lý tốt các chất ô nhiễm
- Có thể xử lý những chất rắn có thời gian phân hủy lâu dài
- Cần diện tích đất ít và vận hành đơn giản
- Phạm vi áp dụng rộng rãi, có thể sử dụng cho nhiều loại chất thải rắn
Nhược điểm:
- Chi phí đầu tư ban đầu cao, ước tính khoảng 160 – 200 triệu USD cho một nhàmáy có công suất 3000 tấn/ngày
- Sinh ra khói bụi và các khí thải độc hại như: SO2, HCl, NOX, COX…
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24- Cần xây dựng hệ thống xử lý khí thải.
c Phương pháp ủ làm phân compost
Ủ sinh học là quá trình ổn định sinh hóa các chất hữu cơ để hình thành các chấtmùn, với thao tác sản xuất và kiểm soát một cách khoa học tạo môi trường tối ưu đốivới quá trình
Quá trình ủ hữu cơ từ rác hữu cơ là phương pháp truyền thống được áp dụng phổbiến ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Phương pháp này còn được tiếnhành ngay ở các nước phát triển (ở quy mô hộ gia đình) Ví dụ ở Canada, phần lớn cácgia đình ở ngoại ô các đô thị đều tự ủ rác của gia đình mình thành phân bón hữu cơ đểchăm bón cho cây trong vườn của chính mình Quá trình ủ được coi như quá trình lênmen yếm khí mùn hoặc hoạt chất mùn Sản phẩm thu hồi là hợp chất mùn không mùi,không chứa vi sinh vật gây bệnh và hạt cỏ Để đạt mức độ ổn định như lên men, việc ủđòi hỏi năng lượng để tăng cao nhiệt độ của đống ủ Quá trình ủ áp dụng với chất hữu
cơ không độc hại, lúc đầu là khử nước, sau là xử lý cho đến khi nó thành xốp và ẩm
Độ ẩm và nhiệt độ được kiểm tra và giữ cho vật liệu ủ luôn ở trạng thái hiếu khí trongsuốt thời gian ủ Sản phẩm cuối cùng là CO2, nước và các hợp chất hữu cơ bền vữngnhư xenlulozo, sợi…
Ưu điểm:
- Rác hay than bùn không được bỏ đi mà được tái chế thành sản phẩm phục vụcho nông nghiệp
- Dễ dàng thu gom các nguyên liệu có thể tái chế được
- Có thể xử lý được nước thải, mùi cống
- Các nguyên tắc trong sản xuất phân ủ từ rác thải đô thị và phế thải nông nghiệp
có thể áp dụng cho xử lý một số rác thải công nghiệp
Nhược điểm:
- Vốn và chi phí tương đối lớn
- Đòi hỏi người vận hành phải được đào tạo với trình độ phù hợp
- Phân phi hữu cơ và phân hữu cơ không phân giải hết phải chôn lấp còn khá lớn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25d Xử lý chất thải rắn bằng công nghệ ép kiện
Phương pháp ép kiện được thực hiện trên cơ sở toàn bộ RTSH tập trung thu gomvào nhà máy Rác được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tải, các chấttrơ, các chất có thể tận dụng được như kim loại, nylon, giấy, thủy tinh, nhựa… đượcthu hồi để tái chế Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyền qua hệ thống ép nén rácbằng thủy lực với mục đích làm giảm tối đa thể tích khối rác và tạo thành các kiện với
e Xử lý chất thải bằng công nghệ Hydromex
Công nghệ Hydromex nhằm xử lý rác đô thị thành các sản phẩm phục vụ xâydựng, làm vật liệu, năng lượng và các sản phẩm nông nghiệp hữu ích
Bản chất công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác, sau đó polyme hóa và sử dụng
áp lực để nén, định hình các sản phẩm Rác thải được thu gom chuyển về nhà máy,không cần phân loại rồi được đưa vào máy cắt, nghiền nhỏ, sau đó đi qua băng tảichuyển đến các thiết bị trộn: Chất lỏng và rác thải kết dính với nhau sau khi cho thêmthành phần polyme hóa vào Sản phẩm ở dạng bột ướt được chuyển đến máy ép cho rasản phẩm mới Các sản phẩm này bền, an toàn với môi trường
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng thu gom, xử lý và quản lý rác thải sinh hoạt trên thế giới
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, gia tăng dân số cộng với sự lãng phí tàinguyên trong thói quen sinh hoạt của con người, rác thải có số lượng ngày một tăng, thànhphần ngày càng phức tạp và tiềm ẩn ngày càng nhiều nguy cơ độc hại với môi trường vàsức khỏe con người Với sự gia tăng của rác thì việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải làđiều mà mọi quốc gia cần quan tâm Ngày nay, trên thế giới có nhiều cách xử lý rác thảinhư: công nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nhiệt, công nghệ Seraphin
Đô thị hóa và phát triển kinh tế thường đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệphát sinh chất thải rắn tăng lên tính theo đầu người Dân thành thị ở các nước phát
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26triển phát sinh chất thải nhiều hơn ở các nước đang phát triển gấp 6 lần, cụ thể ở cácnước phát triển là 2,8 kg/người/ngày; ở các nước đang phát triển là 0,5 kg/người/ngày.Chi phí quản lý cho rác thải ở các nước đang phát triển có thể lên đến 50% ngân sáchhàng năm Cơ sở hạ tầng tiêu hủy an toàn rác thải thường rất thiếu thốn Khoảng 30 –60% rác thải đô thị không được cung cấp dịch vụ thu gom.5
Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải mangtính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc vào mức sống, văn minh, dân cư ở mỗikhu vực Tuy nhiên, dù ở khu vực nào cũng có xu hướng chung của thế giới là mứcsống càng cao thì lượng chất thải phát sinh càng nhiều Theo báo cáo của Ngân hàngThế giới (WB 2004), tại các thành phố lớn như Newyork thì tỷ lệ phát sinh chất thảirắn là 1,8 kg/người/ngày; Singapo, Hồng Kông là 0,8 – 10 kg/người/ngày.5
Bảng 5: Lượng phát sinh chất thải rắn đô thị ở một số nước
Tên nước Dân số đô thị hiện nay
Nguyễn Thị Anh Hoa (2006), Môi trường và việc quản lý Chất thải rắn, Sở Khoa học công nghệ môi trường –
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27Trên thế giới, các nước phát triển đã có những mô hình phân loại và thu gom rácthải rất hiệu quả:
California: Nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình có nhiều thùng rác khácnhau Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế, rác được thu gom 3lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng Nếu có những phát sinh khác nhaunhư: Khối lượng rác tăng hay các xe chở rác phải phục vụ tận sâu trong các tòa nhàlớn, giá phải trả sẽ tăng thêm 4,92 USD/tháng Phí thu gom rác được tính dựa trên khốilượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phátsinh Tất cả chất thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn Để giảm giáthành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu gom vàchuyên chở rác.6
Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt vàcho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ, giấy, vải,thủy tinh, rác kim loại Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuấtphân vi sinh Các loại giấy còn lại như giấy, vải, thủy tinh, kim loại… đều được đưađến cơ sở tái chế hàng hóa Tại đây rác được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảytrong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng mộtcách triệt để Sau quá trình xử lý đó, rác chỉ còn như một hạt cát mịn và nước thảigiảm ô nhiễm Các cặn rác không còn mùi sẽ được đem nén thành các viên gạch lát vỉa
hè rất xốp, chúng có tác dụng hút nước khi trời mưa.7
Hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau để xử lý rác Tỷ lệ rác thải được xử lýtheo phương pháp khác nhau của một số nước trên thế giới được giới thiệu ở bảng:
Trang 28Bảng 6: Phương pháp xử lý rác thải của các nước trên thế giới
( Nguồn: Tạp chí bảo vệ môi trường, 2003)
1.2.2 Thực trạng thu gom, xử lý và quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển CNH – HĐH đất nước Côngnghiệp hoá, đô thị hoá và dân số tăng nhanh cùng với mức sống được nâng cao lànhững nguyên nhân chính dẫn đến lượng rác thải phát sinh ngày càng lớn Chính dotốc độ phát triển kinh tế - xã hội khả năng đầu tư có hạn, việc quản lý chưa chặt chẽcho nên việc quản lý tại các khu đô thị, các nơi tập trung dân cư với số lượng lớn, cáckhu công nghiệp, mức độ ô nhiễm do rác thải gây ra thường vượt quá tiêu chuẩn chophép nhiều lần Hầu hết các bãi rác trong các đô thị từ trước đến nay không theo quyhoạch tổng thể, nhiều thành phố, thị xã, phường chưa có quy hoạch bãi chôn lấp chấtthải Việc thiết kế và xử lý chất thải hiện tại ở các đô thị đã có bãi chôn lấp chưa thíchhợp, chỉ là những nơi đổ rác không được chèn lót kỹ, không được che đậy, do vậyđang tạo ra sự ô nhiễm nặng nề tới môi trường đất, nước, không khí… ảnh hưởng trựctiếp đến sức khoẻ cộng đồng
Hiện nay ở tất cả các thành phố, thị xã đã thành lập các công ty môi trường đô thị
có chức năng thu gom và quản lý rác thải Nhưng hiệu quả của công việc thu gom,quản lý rác thải còn kém, chỉ đạt từ 30 - 70% do khối lượng rác thải phát sinh ngày
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29càng lớn Trừ lượng rác thải đã quản lý, số còn lại người ta đổ bừa bãi xuống các sông,
hồ, ngòi, ao, khu đất trống làm ô nhiễm môi trường nước và không khí
Lượng rác thải sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngàycàng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các
đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khucông nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), HưngYên (12,3%), Rạch Giá (12,7%)… Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinhrác thải sinh hoạt tăng đồng đều hàng năm và với tỉ lệ tăng ít hơn (5,0%) Tổng lượngphát sinh rác thải sinh hoạt tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là cáctrung tâm văn hoá, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệutấn/năm, trong đó rác thải sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ vàkinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế
Bảng 7: Lượng RTSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007
STT Loại đô thị Lượng RTSH bình
(Nguồn: Cục Bảo vệ môi trường, 2008)
Tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi
cả nước là 0,73 kg/người/ngày.8
Với các kết quả điều tra thống kê như trên cho thấy, tổng lượng phát sinh RTSHtại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối cao (10%/năm) so vớicác nước phát triển trên thế giới Dự báo tổng lượng RTSH đô thị đến năm 2020khoảng gần 22 triệu tấn/năm Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan,
8
Theo Cục Bảo vệ môi trường, 2008
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30bộ, ngành cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăngcường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảmthiểu môi trường do RTSH gây ra.
Theo báo cáo môi trường quốc gia, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đã tăng tới 0,9 kglên 1,2 kg/người/ngày ở các thành phố lớn; từ 0,5 kg lên 0,65 kg/người/ngày tại các đôthị nhỏ Dự báo, tổng lượng chất thải rắn phát sinh có thể tăng lên đến 35 triệu tấn vàonăm 2015, 45 triệu tấn vào năm 2020 Trong khi đó, tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở cácvùng đô thị trung bình đạt khoảng 70%, ở các vùng nông thôn nhỏ đạt dưới 20% Vàphương thức xử lý rác thải chủ yếu là chôn lấp Cả nước có 91 bãi chôn lấp rác thải thì
có đến 70 bãi chôn lấp không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, không hợp vệ sinh Ngành côngnghiệp tái chế chưa phát triển do chưa được quan tâm đúng mức Một số địa phương
đã và đang thực hiện những dự án 3R, điển hình là Dự án 3R Hà Nội, song nhìn chungmới thực hiện nhỏ lẻ, không đồng bộ và thiếu định hướng Nếu phân loại tại nguồn tốt,rác thải sinh hoạt có thể tái chế khoảng 60 - 65% Chất thải hữu cơ trong rác thải sinhhoạt có tiềm năng lớn trong việc chế biến phân compost Với lĩnh vực công nghiệp,một số ngành công nghiệp có khả năng tái sử dụng, tái chế tới 80% lượng chất thải.9Hiện nay, phần lớn rác thải sinh hoạt ở Việt Nam vẫn được xử lý bằng hình thứcchôn lấp Tuy nhiên, cũng mới chỉ có 12 trong tổng số 64 tỉnh, thành phố có bãi chônlấp hợp vệ sinh hoặc đúng kỹ thuật và chỉ có 17 trong tổng số 91 bãi chôn lấp hiện cótrong cả nước là bãi chôn lấp hợp vệ sinh Lượng rác thải tại các đô thị được thu gommới đạt 70% tổng lượng rác thải phát sinh, trong khi đó việc tái chế và tái sử dụng mớichỉ giảm khoảng 10 – 12% khối lượng rác thải.9
Ở nước ta, công tác quản lý rác thải còn nhiều lỏng lẻo, do một số nguyên nhânnhư: hệ thống chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ,chưa tương thích kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế thị trường; các quy định vềthu phí BVMT đối với nước thải, chất thải rắn mặc dù đã được Chính phủ ban hành
9Viện chiến lược chính sách (2010), Đề cương chi tiết báo cáo tình hình phát triển ngành TN & MT
và xây dựng chiến lược phát triển ngành TN & MT NĂM 2011 – 2020.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31song còn mang tính hình thức, số kinh phí thu được mới chỉ bằng 1/10 so với tổngkinh phí Nhà nước phải chi cho các dịch vụ thu gom và xử lý chất thải; các chế tài xửphạt vi phạm hành chính còn quá thấp, chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa Bên cạnh đó,các cơ quan chức năng còn lúng túng trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường…
2.3 Thực trạng thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt ở Thừa Thiên Huế
Năm 2010, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện chương trình trọng điểm về bảo vệ môitrường với tổng vốn đầu tư 100 tỷ đồng; trong đó vốn huy động từ các doanh nghiệp 70
tỷ đồng, còn lại là vốn từ ngân sách Nhà nước Thừa Thiên Huế là địa phương xác địnhđúng yêu cầu kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và lợi ích đời sống cộng đồng.Tỉnh đã tăng cường công tác giáo dục và triển khai có kết quả bảo tồn thiên nhiên, nhằmphục hồi và bảo vệ các hệ sinh thái đặc thù của địa phương; ngăn ngừa, hạn chế thấpnhất mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường trên địa bàn.10
Nhờ làm tốt công tác xã hội hóa việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải nênthành phố Huế đang là 1 trong 10 đô thị sạch nhất của nước do Hiệp hội các đô thị ViệtNam bình chọn Công ty MTĐT đã có nhiều sáng kiến làm sạch đô thị, tỉ lệ thu gom rácthải đạt 80% khối lượng trở lên/ngày, hè phố được lát gạch hoặc bê tông hóa đạt tỉ lệ từ70% trở lên… Công ty Môi trường và Công trình đô thị Huế đã phối hợp với các xã,phường tăng cường tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh đô thị, giữ gìn vệ sinhmôi trường, đổ rác đúng giờ và đúng nơi quy định; đặt thêm 180 thùng rác trên cáctuyến phố trung tâm Công ty đã tính toán xây dựng kế hoạch, lộ trình hợp lý cho từng
tổ đội và cá nhân để thu gom và vận chuyển hết lượng rác thải trên 377 km đường phốvới tổng lượng rác thải khoảng 4.258 m3/ngày đêm; đồng thời quản lý và vận hành247,3 km đường điện chiếu sáng, tạo điều kiện cho nhân dân đi lại thuận tiện.10
Nhưng bên cạnh đó, cùng với quá trình phát triển nhanh về nhà ở, các công trình xâydựng mới, các làng nghề, gia tăng chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp chưa qua xửlý đã gây quá tải đối với hệ thống thoát nước, cây xanh bị chặt phá nhiều và môi trườngngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là môi trường nước, đất và không khí Cụ thểnhư: Khu công nghiệp Phú Bài đi vào sản xuất chưa có hệ thống xử lý chất thải hoàn thiện
10
Báo cáo của Công ty MTĐT Huế về quản lý chất thải rắn, năm 2010
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32đã gây ô nhiễm nghiêm trọng, nước thải khu công nghiệp còn khiến 100% giếng nước củangười dân trong khu vực bị nhiễm độc nên không thể sử dụng Nhiều hộ dân đã tính bỏlàng đi nơi khác vì cuộc sống hiện tại đang đi vào ngõ cục; các ngành đúc đồng và sảnxuất vôi hàu hoạt động trong tình trạng công nghệ sản xuất thủ công, lạc hậu, không có hệthống xử lý khói, bụi hợp quy chuẩn Các cơ sở này sử dụng cao su, lốp xe hỏng, dầu nhớtphế thải để đốt lò nên người dân xung quanh vùng còn phải đối mặt với khói đen và mùicao su cháy khét Làng bún Vân Cù thì hầu như rác và chất thải từ các cơ sở sản xuất đềuthải trực tiếp ra ngoài, kể cả sông, suối, ao, hồ gây ô nhiễm môi trường nặng nề Hay làbãi rác ở Thủy Phương gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do sự rò rỉ nước thải từ hệthống xử lý rác thải tập trung tại nhà máy xử lý rác Thủy Phương Ngoài ra, trên địa bàntỉnh Thừa Thiên Huế hiện còn một số cơ sở sản xuất khác như: Nhà máy chế biến cao sutại Nam Đông và Phong Điền, Nhà máy sản xuất tinh bột sắn Phong An, Nhà máy ximăng Long Thọ… gây ô nhiễm nặng nề mà chưa được xử lý Việc phân loại rác thải sinhhoạt ở các khu dân cư, hộ gia đình trong thành phố cũng được tuyên truyền, phổ biếnnhưng hiệu quả vẫn còn thấp.
Vấn đề ô nhiễm môi trường đang còn nhiều bức xúc nhưng lãnh đạo và nhân dânThừa Thiên Huế đang dần khắc phục tình trạng này, cụ thể: Tỉnh đã xã hội hóa việc thugom rác thải, Công ty MTĐT Huế thành lập các xí nghiệp thu gom rác thải để vươn ra cáckhu vực ngoại ô thành phố, đáp ứng nhu cầu thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt chocác vùng ven và các Phường, thị tứ phụ cận Mạng lưới thu gom rác thải sinh hoạt đô thịđang được mở rộng Việc đầu tư thực hiện các bãi chôn lấp rác theo quy hoạch của tỉnhđang được triển khai theo đúng tiến độ Đặc biệt thời gian tới hai khu liên hiệp xử lý chấtthải quy mô ở xã Phú Sơn (Hương Thủy) và Hương Bình (Hương Trà) trên tầm quyhoạch của tỉnh được xây dựng sẽ là hướng đầu tư khả thi cho việc xử lý lượng rác thảiđang ngày càng gia tăng trên địa bàn Ngoài ra để phù hợp với từng điều kiện địa hình củatừng vùng, cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt được thiết kế theo mô hình bãi chôn lấp chìm ápdụng cho vùng gò đồi và bãi chôn lấp kết hợp chìm nổi cho vùng đồng bằng ven biển
Thừa Thiên Huế phấn đấu đến năm 2015 nguồn thu phí vệ sinh môi trường dodân đóng góp đảm bảo 15% nguồn chi phí chung cho công tác xử lý vệ sinh môitrường, tăng 5% so với hiện nay.11
11
Báo cáo của Công ty MTĐT Huế về quản lý chất thải rắn, năm 2010
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÂN LOẠI,
THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI PHƯỜNG TỨ HẠ, THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 Thực trạng rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường Tứ Hạ
2.1.1 Lượng rác thải sinh hoạt
RTSH ở phường Tứ Hạ chủ yếu tập trung tại các chợ, bệnh viện, cơ quan, trườnghọc, các điểm công cộng và từ các hộ gia đình Các số liệu thống kê chính xác là rấtkhó thực hiện vì phường Tứ Hạ không thể tổ chức thu gom và quản lý toàn bộ RTSHtrên địa bàn, có một số hộ dân ở các tổ nằm ở những vùng khó quản lý nên RTSH dongười dân tự xử lý tại nơi cư trú đó Đây là vấn đề nan giải trong công tác quản lýRTSH của phường Tứ Hạ
Bảng 8: Tổng lượng rác phát sinh của phường giai đoạn 2011- 2013
Năm Tổng lượng rác phát
sinh tấn/ngày
Tổng lượng rác phát sinh tấn/tháng
Tổng lượng rác phát sinh tấn/năm
(Nguồn: Phòng TN & MT thị xã Hương Trà)
Dựa vào tổng lượng rác thải phát sinh trên địa bàn phường Tứ Hạ - thị xã HươngTrà ta thấy lượng rác thải qua các năm đều có sự biến đổi và có chiều hướng gia tăng
rõ rệt Tổng hợp theo năm, năm 2011 có tổng lượng rác phát sinh (tấn/năm) là 846,33tấn; năm 2012 tăng lên 987,38 tấn, tăng 141,05 tấn so với năm 2011 còn năm 2013 lànăm có tổng lượng rác phát sinh tăng mạnh: 1613,33 tấn, tăng 625,95 tấn so với năm
2012 và tăng 767 tấn so với năm 2011 Có thể nói, RTSH tăng nhanh như vậy là do tốc
độ đô thị hóa tăng nhanh, cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao dẫn đếnnhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên ngày càng lớn kéo theo lượng chất thải rắn nóichung và lượng RTSH nói riêng phát sinh ngày một nhiều; nếu công tác phân loại, thugom và xử lý rác không tốt sẽ dẫn tới tình trạng tồn đọng rác thải gây ô nhiễm tới cảnh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34quan môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến mỹ quan đô thị và chất lượng cuộc sống củacon người.
2.1.2 Nguồn gốc phát sinh, thành phần rác thải sinh hoạt trên địa bàn
phường Tứ Hạ
Qua khảo sát hiện trạng, hiện nay rác thải trên địa bàn 11 TDP của phường Tứ Hạ
và các cơ quan, doanh nghiệp đóng trên địa bàn phường, có thể nhận thấy rằng rác thảiphát sinh từ các nguồn chủ yếu là từ các hộ gia đình, các cơ quan, trường học, chợ, rácthải y tế RTSH sinh ra từ các nguồn khác nhau thì thành phần rác thải cũng khác nhau
Hộ gia đình trên địa bàn khá đông và lượng rác phát sinh cũng tương đối nhiều
- Rác thải từ hộ gia đình: Chủ yếu là rác từ các loại thực phẩm, giấy, túi nylon,nhựa và các dụng cụ trong gia đình đã hư hỏng
- Rác thải từ cơ quan, trường học: Phường Tứ Hạ có 66 cơ quan, doanh nghiệp.Việc thải rác từ những nguồn này cũng chiếm một tỷ lệ lớn Thành phần chủ yếu là rácthực phẩm, giấy, túi nylon
- Rác thải từ chợ: Phường có một chợ là trung tâm thương mại nên lượng rác thải ởnguồn này cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể Ở chợ chủ yếu là kinh doanh các mặt hàng nông,ngư, thủy sản và thực phẩm, chất hữu cơ dễ phân hủy, một số nhựa, bao bì và túi nylon
- Rác thải y tế: Địa bàn phường có một bệnh viện thị xã, thành phần chủ yếu làtúi nylon, kim tiêm, bệnh phẩm
Trên thực tế việc thu gom, vận chuyển rác còn hạn chế, hầu hết rác thải chưađược thu gom, vận chuyển theo đúng quy định Các trường học có tỷ lệ thùng rác đểthu gom và phân loại, xử lý còn ít; rác trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa đượcphân loại, thu gom và xử lý đúng quy định
Nhìn chung tổng lượng RTSH tại phường Tứ Hạ trong mỗi ngày là rất lớn, nguồnrác phát sinh chủ yếu là chợ, hộ gia đình Tùy thuộc vào mùa, khu vực và thời gian,mức sống của người dân mà lượng rác thải tăng hay giảm về trọng lượng và thành phần
2.1.3 Khối lượng rác thải sinh hoạt của phường Tứ Hạ
Khối lượng RTSH trung bình hàng ngày của mỗi hộ gia đình trong tổng số 60 hộđược điều tra có sự khác biệt là do số thành viên trong gia đình, thu nhập bình quânhàng tháng hay nghề nghiệp của mỗi gia đình là khác nhau Những gia đình có đông
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35thành viên thì có khối lượng RTSH hàng ngày nhiều hơn những gia đình có ít thànhviên hay những gia đình có kinh doanh, sản xuất, buôn bán thì khối lượng RTSH cóthể nhiều hơn những gia đình không kinh doanh, sản xuất Sự khác biệt về khối lượngrác thải của mỗi gia đình được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 9: Khối lượng rác thải trung bình mỗi ngày của các hộ gia đình điều tra
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2014)
Trong 60 hộ gia đình điều tra trên địa bàn phường Tứ Hạ, khối lượng RTSHtrung bình hàng ngày của mỗi gia đình chủ yếu là 1 – 2 kg/ngày, có 47 hộ và chiếm45% Các hộ gia đình có khối lượng rác dưới 1 kg/ngày là có 21 hộ chủ yếu là những
hộ làm nghề nông hay không có hoạt động kinh doanh, sản xuất, chiếm 35%; 2 – 3kg
là có 9 hộ chiếm 15,0% còn 3 – 4 kg/ngày chỉ có 2 hộ, chiếm 3,33%; trong khi đó chỉ
có 1 hộ duy nhất có lượng rác thải bình quân hàng ngày là > 4 kg, chỉ chiếm 1,67%
Trong những năm gần đây, phường Tứ Hạ có tốc độ phát triển kinh tế nhanh,nhiều hộ gia đình (đặc biệt là các hộ gia đình ở gần đường chính) kinh doanh quán ăn,nhà hàng, buôn bán, dịch vụ kèm theo đó có đường quốc lộ 1A đi qua nên việc kinhdoanh, buôn bán thuận lợi làm cho khối lượng rác thải sinh hoạt trung bình hàng ngàytại các hộ cũng có sự gia tăng Đó là những ngày bình thường còn theo như điều trathực tế, trong những ngày nghĩ, ngày lễ thì khối lượng rác có thể lớn hơn nhiều
Như vậy, khối lượng RTSH của mỗi gia đình phụ thuộc vào các yếu tố: mức thunhập, số thành viên trong gia đình Khi thu nhập của gia đình tăng, họ sẽ có xu hướngchi tiêu thoải mái hơn, tiêu dùng thoải mái hơn, các hộ gia đình có xu hướng chuyển từviệc sử dụng các sản phẩm tươi sống sang các loại thực phẩm đóng gói, đóng hộp vừatiện lợi vừa nhanh chóng Mặt khác, những hộ có số thành viên trong gia đình nhiều
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36thì sẽ tiêu dùng, chi tiêu ăn uống hàng ngày nhiều hơn so với những hộ gia đình có ítthành viên hơn, dẫn tới khối lượng rác thải từ những hộ này tăng lên Điều này làmcho khối lượng rác thải hàng ngày ngày càng tăng lên và ngày càng phong phú, đadạng hơn về chủng loại cũng như thành phần trong rác thải.
2.2 Thực trạng phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt của các hộ
điều tra sống trên địa bàn phường Tứ Hạ - thị xã Hương Trà
2.2.1 Thực trạng phân loại, thu gom rác thải sinh hoạt
2.2.1.1 Th ực trạng phân loại rác thải sinh hoạt
Với một thị xã đang trong quá trình công nghiệp hóa – đô thị hóa, dân cư ngàycàng đông, việc phân loại RTSH trong các hộ gia đình ở thị xã Hương Trà nói chung
và phường Tứ Hạ nói riêng hiện nay là hết sức cần thiết
Việc phân loại RTSH tại nguồn mang lại lợi ích rất lớn giúp cho việc thu gom dễhơn, tái sử dụng và tái chế lại những loại rác có thể sử dụng được Phân loại rác thải tạinguồn sẽ tiết kiệm được ngân sách trong việc thu gom, xử lý, giảm diện tích bãi rácđồng thời giảm ô nhiễm môi trường không khí, môi trường đất và nước ngầm, việclàm phân bón hữu cơ sẽ hiệu quả hơn, tiết kiệm nguồn tài nguyên, chi phí khai thácnhiên liệu Ngoài ra, phân loại rác tại nguồn phát sinh là một giải pháp hữu hiệu làmtăng hiệu quả kinh tế của phân loại rác, giúp cho việc quản lý rác tốt hơn, hạn chế sự ônhiễm môi trường do RTSH, góp phần bảo vệ môi trường sống
Kết quả khảo sát 60 hộ về thực trạng phân loại RTSH của người dân cho thấy,đây là vấn đề được nhiều người quan tâm, nhưng mức độ quan tâm trong cộng đồng cókhác nhau và được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 10: Đánh giá của hộ về sự cần thiết của việc phân loại rác trước khi xử lý STT Đánh giá việc phân loại rác thải Số hộ (hộ ) Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2014)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37Từ bảng trên cho thấy người dân ở phường Tứ Hạ đánh giá khá cao về sự cầnthiết của việc phân loại rác trước khi xử lý Có tới 35 hộ đánh giá việc phân loại là cầnthiết, chiếm tỷ lệ cao nhất 58,33%; và có 21/60 hộ là có đánh giá bình thường về việcphân loại rác trước khi xử lý, chiếm 35,0%; còn mức đánh giá cao nhất là rất cần thiếtthì có 4 hộ, chiếm 6,67% và đặc biệt là không có hộ nào đánh giá là việc phân loại ráckhông cần thiết.
Như vậy, có thể nhận định rằng người dân trong phường Tứ Hạ có kiến thức và
đã hiểu được sự cần thiết của việc phân loại rác thải sinh hoạt, điều này cũng chứng tỏrằng là người dân đã được cơ quan, chính quyền địa phương ở phường tuyên truyền,nâng cao ý thức của việc phân loại, thu gom rác sinh hoạt Tuy nhiên có một thực tế,khi được hỏi 60 hộ gia đình có phân loại rác trước khi thu gom và xử lý hay không thìnhận được một kết quả không trùng khớp lắm với sự đánh giá của người dân.Qua quá trình khảo sát tại địa bàn phường, kết quả cho thấy, việc phân loại RTSH tạicác hộ gia đình hiện nay chưa được thực hiện triệt để được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 11: Số hộ phân loại RTSH hàng ngày trước khi xử lý.
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2014)
Số liệu trên cho thấy trong tổng số 60 hộ gia đình được hỏi trả lời thì có 24/60
hộ, chiếm 40% trả lời có phân loại rác trước khi được thu gom và xử lý Trong đó cóđến 36/60 hộ trả lời là họ không phân loại RTSH hàng ngày, chiếm tỷ lệ cao với 60%.Điều này chứng tỏ rằng: Có một số hộ dân trong phường thường có hoạt động phânloại rác sinh hoạt hàng ngày còn đa số hộ dân thì chưa phân loại Qua đây cho thấyviệc phân loại RTSH của người dân trên địa bàn phường chưa đồng bộ, vẫn còn mangtính tự phát và không triệt để
Để tìm hiểu nguyên nhân tại sao đa số người dân ở đây đánh giá cao về việc phânloại rác là cần thiết nhưng vẫn chưa phân loại rác hàng ngày trước khi thu gom và xử
lý thì được kết quả được thể hiện ở bảng sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38Bảng 12: Nguyên nhân người dân địa phương không phân loại rác
Nguyên nhân người dân địa phương không phân loại rác Số hộ (hộ) Tỷ lệ (%)
Thiếu người hướng dẫn và quản lý việc phân loại rác 36 60,00
Người dân chưa được phổ biến về kiến thức phân loại rác 53 88,33
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2014)
Vấn đề môi trường đang là mối quan tâm của nhiều người Hầu hết mọi ngườiđều nhận thức được sự cần thiết của việc phân loại RTSH đối với việc bảo vệ môitrường, việc phân loại RTSH hàng ngày được đánh giá ở mức cần thiết Tuy nhiên việcphân loại rác phần lớn là không thực hiện do nhiều nguyên nhân
Cụ thể: Qua kết quả khảo sát các hộ điều tra thì đa số hộ cho rằng nguyên nhânchính mà người dân không phân loại rác thải là do người dân chưa được được phổ biến
về kiến thức phân loại rác với 53 hộ có ý kiến như vậy, chiếm tỷ lệ rất cao 88,33%;nguyên nhân chính thứ hai là do thiếu người hướng dẫn và quản lý việc phân loại rácthải, có 36 hộ cho rằng như vậy và chiếm 60% Tiếp đến là các nguyên nhân, ý kiếncủa 23 hộ thì cho rằng là do thiếu thùng rác để phân loại, chiếm 38,33% ; có 19 hộ cho
là do nguyên nhân địa phương ít quan tâm, chiếm 31,67% Trong khi đó thì có 3 hộ giađình cho rằng là do những nguyên nhân khác, chỉ chiếm 5%
Vậy có thể nhận định: Việc phân loại RTSH tại các hộ gia đình ở phường Tứ Hạchưa được xem trọng và nâng cao Có nhiều nguyên nhân khác nhau như đã nêu trênnhưng chiếm tỷ lệ cao nhất là do hai nguyên chủ yếu: Do người dân chưa được phổbiến về kiến thức phân loại (chiếm 88,33%), thứ hai là do thiếu người hướng dẫn vàquản lý việc phân loại rác (chiếm 60%) Vấn đề phân loại rác chưa được người dânquan tâm nhiều và phải nói đến ở đây, một phần là do các cơ quan chức năng, chínhquyền ở đây vẫn chưa quan tâm sâu sắc và đề cao về vấn đề này
Và nếu như các hộ dân không phân loại rác tại hộ gia đình thì chắc chắn sẽ gây ranhiều khó khăn cho bộ phận thu gom khi phải thu gom với một lượng rác thải lớn, lãngphí nguồn rác thải có thể sử dụng để tái chế và khâu xử lý cũng sẽ gặp nhiều khó khăn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39Ngoài ra, phân loại rác thải ngay tại nguồn phát sinh là một giải phát hữu hiệu làmtăng hiệu quả kinh tế của phân loại rác Nhưng để thực hiện được việc này, người taphải đặt những thùng rác khác nhau tại các địa điểm thu gom rác Do phát triển lượngthùng rác cũng như lượng xe chở rác đã phân loại, giải pháp phân loại rác tại nguồnlàm tăng kinh phí của hệ thống quản lý rác, cho nên việc phân loại rác tại nguồn chưađược ứng dụng rộng rãi Phân loại rác để tái sử dụng, tái chế rác thải sinh hoạt cũng làgiải pháp kinh tế hữu hiệu và làm giảm ô nhiễm môi trường Lợi ích của tái chế là tiếtkiệm được nguồn tài nguyên, giảm thiểu được một lượng rác ra môi trường Ngoài ra,
nó còn giảm nhu cầu đất đai cần thiết để chôn lấp rác thải Vì vậy, nếu người dânthường xuyên phân loại rác và phân loại đúng cách sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho xãhội, đồng thời giảm thiểu được nguy cơ gây ô nhiễm môi trường
2.2.1.2 Th ực trạng thu gom RTSH
Bên cạnh việc phân loại rác thải ngay trong gia đình là rất cần thiết và cầnthường xuyên thực hiện thì việc thu gom rác cũng không kém phần quan trọng, vì việcthu gom rác cũng là một bước quan trọng phục vụ cho công tác xử lý rác tiếp theo Vìvậy tôi đã tiến hành điều tra đối với vấn đề thu gom rác tại phường Tứ Hạ và thu đượcnhững kết quả sau:
Đơn vị thực hiện thu gom rác thải là Uỷ Ban Nhân Dân phường Tứ Hạ, đơn vị nàychịu trách nhiệm thu gom và chuyển đến bãi xử lý rác thải ở chân núi Thế Đại Việc thugom rác thải sinh hoạt được thực hiện vào các buổi sáng hoặc buổi tối trong ngày
Cơ sở vật chất phục vụ thu gom rác thải sinh hoạt: Việc đầu tư mua trang thiết
bị là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng thu gom Công tác thu gom muốn đạt hiệuquả cao thì phải có trang thiết bị và cơ sở vật chất tốt phục vụ cho công tác này Cơ sởvật chất phục vụ cho việc thu gom rác thải sinh hoạt ở phường là khá đầy đủ và đượcthực hiện ở bảng sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40Bảng 13: Số trang, thiết bị phục vụ hoạt động thu gom.
(Nguồn: UBND phường Tứ Hạ năm 2014)
Lực lượng thu gom, vận chuyển: Hiện nay phường Tứ Hạ đã thành lập đượcđội thu gom rác gồm 16 người, địa bàn tổ chức thu gom 11/11 tổ dân phố; tổng lượngrác thải hiện nay bình quân ngày đêm khoảng 4.145 kg/ngày đêm (trong đó hộ dân cư2.645kg, tổ chức và chợ 1.500kg)
Điểm riêng của phường Tứ Hạ là có đội thu gom rác thải sinh hoạt riêng gồm 17người và được chia thành ba tổ:
+ Tổ 1: Tổ thu gom gồm 11 nhân công (trong đó có một lái xe )
+ Tổ 2: Tổ vệ sinh môi trường gồm 3 người
+ Tổ 3: Tổ QLĐT phường gồm có 3 cán bộ
Thực trạng thu gom rác thải sinh hoạt: Ở phường Tứ Hạ, rác thải được thugom bằng xe ô tô chuyên dụng loại 0,4m3 nén trên các tuyến đường chính và các kiệtthuận lợi cho xe đi qua, còn các hẻm nhỏ thì được thu gom bằng xe đẩy rác chuyêndụng Rác được thu gom với tần xuất 2 lần/ ngày vào khoảng thời gian (buổi sáng bắtđầu từ 5h30, buổi chiều bắt đầu từ 15h30’) Qua điều tra ba tổ dân phố là tổ dân phố 5,
tổ dân phố 7, tổ dân phố 8 thì công tác thu gom được tiến hành vào buổi sáng
Kết quả thu gom: Hiện nay công tác thu gom tại địa bàn phường Tứ Hạ đã triểnkhai 11/11 tổ dân phố; kết quả thu gom lượng rác thải ngày đêm khoảng 3.352kg(trong đó các hộ dân cư 1.852kg, các tổ chức 1.500kg)
Trường Đại học Kinh tế Huế