Mô hình CAMEL là hệ thống các chỉ tiêu được xây dựng với mục đích đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động kinh doanh của một NHTM.. - Sử dụng CAMEL đánh giá hoạt động kinh doanh của Eximba
Trang 1KHOA KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH -o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2KHOA KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH -o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
SỬ DỤNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CAMEL
Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn:
Trang 3
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành đối với giáo viên phụ trách- ThS Lê Tô Minh Tân, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Kế Tài chính, trường đại học Kinh tế Huế đã giảng dạy
toán-và trau dồi kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Cảm ơn tất cả những người bạn, người thân đã luôn động viên và tạo điều kiện giúp
đỡ để tôi hoàn thành tốt khóa luận này
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Phan Thị Diễm Thúy
Đại học Kinh tế Huế
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM 4
1.1 Giới thiệu về đánh giá hoạt động kinh doanh của NHTM 4
1.2 Mục đích và ý nghĩa 5
1.3 Căn cứ và phương pháp đánh giá 5
1.3.1 Căn cứ đánh giá 5
1.3.2 Phương pháp đánh giá 6
1.4 Mô hình CAMEL trong đánh giá hoạt động kinh doanh của NHTM 7
1.4.1 Sơ lược về mô hình CAMEL 7
1.4.2 Hệ thống chỉ tiêu 8
1.4.2.1 C- Capital adequacy (Mức độ an toàn vốn) 8
1.4.2.2 A- Asset quality (Chất lượng tài sản) 9
1.4.2.3 M- Management (Năng lực quản trị) 10
1.4.2.4 E- Earning (Khả năng sinh lời) 11
1.4.2.5 L- Liquidity (Khả năng thanh khoản) 12
1.5 Giới thiệu một số mô hình khác được sử dụng để đánh giá hoạt động NHTM trên thế giới 13
1.5.1 Mô hình FIRST 13
Đại học Kinh tế Huế
Trang 51.5.2 Mô hình PEARLS 13
1.5.3 Mô hình Giám sát dựa trên rủi ro 14
1.6 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 15
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM SỬ DỤNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CAMEL 17
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam 17
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 17
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 18
2.2 Đánh giá hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam sử dụng hệ thống chỉ tiêu CAMEL 21
2.2.1 C- Capital adequacy (Mức độ an toàn vốn) 21
2.2.2 A- Asset quality (Chất lượng tài sản) 25
2.2.3 M- Management (Năng lực quản trị) 34
2.2.4 E- Earning (Khả năng sinh lời) 42
2.2.5 L- Liquidity (Khả năng thanh khoản) 49
2.3 Xếp loại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam dựa trên Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN 53
2.3.1 Cơ sở xếp loại 53
2.3.2 Tiến hành xếp loại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam 55
2.4 Tổng hợp đánh giá điểm mạnh, điểm yếu về hoạt động kinh doanh của Eximbank giai đoạn 2007-2011 60
2.4.1 Điểm mạnh 60
2.4.2 Điểm yếu 61
CHƯƠNG 3: DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 62
3.1 Dự báo hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu VN 62
3.1.1 Cơ hội và thách thức 62
3.1.2 Dự báo hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam 63
Đại học Kinh tế Huế
Trang 63.2 Giải pháp hoàn thiện hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Xuất Nhập
Khẩu Việt Nam 64
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện nhóm chỉ tiêu C- Mức độ an toàn vốn 64
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện nhóm chỉ tiêu A- Chất lƣợng tài sản 65
3.2.3 Giải pháp hoàn thiện nhóm chỉ tiêu M- Năng lực quản trị 65
3.2.4 Giải pháp hoàn thiện nhóm chỉ tiêu E- Khả năng sinh lời 66
3.2.5 Giải pháp hoàn thiện nhóm chỉ tiêu L- Khả năng thanh khoản 66
3.2.6 Các giải pháp khác 67
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Kiến nghị đối với Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC
Đại học Kinh tế Huế
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Vốn điều lệ của Eximbank 21
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp vốn CSH của các ngân hàng 22
Bảng 2.3 Tổng hợp Hệ số tự tài trợ của các ngân hàng 23
Bảng 2.4 Vốn tự có của Eximbank 23
Bảng 2.5 Tỷ lệ an toàn vốn của các NH 24
Bảng 2.6 Tỷ lệ vốn CSH trên tổng dƣ nợ của các NH 25
Bảng 2.7 Tổng tài sản của Eximbank 25
Bảng 2.8 Tổng tài sản của các NH khác 26
Bảng 2.9 Cơ cấu tài sản Có của Eximbank 27
Bảng 2.10 Dƣ nợ cho vay trên tổng tài sản của Eximbank 28
Bảng 2.11 Tỷ lệ nợ xấu của Eximbank 29
Bảng 2.12 Khả năng bù đắp nợ xấu của Eximbank 30
Bảng 2.13 Tỷ trọng các khoản đầu tƣ trên tổng tài sản của Eximbank 31
Bảng 2.14 Tỷ trọng các khoản mục trong chứng khoán đầu tƣ 32
Bảng 2.15 Tỷ lệ phản ánh chất lƣợng cam kết ngoại bảng của Eximbank 33
Bảng 2.16 Số lƣợng thành viên HĐQT và BKS 34
Bảng 2.17 Một số chỉ tiêu thể hiện năng lực quản trị của Eximbank 40
Bảng 2.18 Tỷ lệ Lợi nhuận ròng/ Tổng nhân viên của các NH khác 40
Bảng 2.19 Tỷ lệ Chi phí ngoài lãi/ Tổng tài sản BQ của các NH khác 41
Bảng 2.20 Tỷ lệ Tổng thu nhập/ Tổng tài sản BQ của các NH khác 42
Bảng 2.21 Cơ cấu thu nhập hoạt động của Eximbank 42
Bảng 2.22 ROA của các NH khác 44
Bảng 2.23 ROE của các NH khác 45
Bảng 2.24 Chênh lệch lãi suất BQ của các NH 46
Bảng 2.25 Tỷ lệ thu ròng từ dịch vụ của các NH khác 47
Bảng 2.26 NIM của các NH 48
Bảng 2.27 Tỷ lệ NNIM của Eximbank 49
Đại học Kinh tế Huế
Trang 10Bảng 2.28 Tăng trưởng huy động vốn trên thị trường I 50
Bảng 2.29 Huy động vốn trên thị trường II và tỷ trọng của nó so với TT I 50
Bảng 2.30 Tỷ lệ khả năng chi trả của Eximbank 51
Bảng 2.31 Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động của Eximbank 51
Bảng 2.32 Tỷ lệ thanh khoản của các NH 52
Bảng 2.33 Tỷ lệ Tài sản thanh khoản/ Tổng tiền gửi của Eximbank 53
Bảng 2.34 Xếp loại nhóm chỉ tiêu Vốn tự có 55
Bảng 2.35 Xếp loại nhóm chỉ tiêu Chất lượng tài sản 56
Bảng 2.36 Tỷ lệ cho vay, ứng trước KH và cho vay các TCTD/ Tổng tài sản 60
Bảng 2.37 Xếp loại nhóm chỉ tiêu Năng lực quản trị 57
Bảng 2.38 Xếp loại nhóm chỉ tiêu Kết quả hoạt động kinh doanh 58
Bảng 2.39 Xếp loại nhóm chỉ tiêu Khả năng thanh khoản 58
Bảng 2.40 Tổng hợp xếp loại 5 nhân tố của Eximbank 59
Đại học Kinh tế Huế
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức của Eximbank 20
Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng trưởng vốn điều lệ Eximbank 21
Biểu đồ 2.2 Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của Eximbank 25
Biểu đồ 2.3 Tốc độ tăng trưởng hoạt động cho vay KH của Eximbank 27
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ các nhóm nợ 3, 4, 5 trên tổng dư nợ cho vay KH 30
Biểu đồ 2.5 ROA của Eximbank 43
Biểu đồ 2.6 ROE của Eximbank 45
Biểu đồ 2.7 Tỷ lệ thu dịch vụ và thu ròng từ dịch vụ của Eximbank 47
Đại học Kinh tế Huế
Trang 12PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng với thế giới theo
lộ trình đã cam kết khi gia nhập tổ chức Thương mại thế giới – WTO, theo đó các doanh nghiệp nói chung và hệ thống NHTM Việt Nam nói riêng đang đứng trước tình thế cạnh tranh dường như gay gắt và khốc liệt hơn Hơn thế nữa, môi trường hoạt động ngân hàng trong những năm gần đây đang có nhiều bất ổn và khó khăn Chính vì vậy, việc đánh giá, phân tích đúng đắn và kịp thời hoạt động kinh doanh của các NHTM trong nước là rất cần thiết nhằm phòng ngừa rủi ro chung cho toàn hệ thống, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh cho mỗi NHTM Mô hình CAMEL là hệ thống các chỉ tiêu được xây dựng với mục đích đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động kinh doanh của một NHTM Mô hình này đã được công nhận ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới, trong đó, chính thức được công nhận ở Việt Nam thông qua Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN về xếp loại NHTM cổ phần Điều này khẳng định độ tin cậy và tính thực tiễn cao của mô hình CAMEL khi áp dụng nó để đánh giá hoạt động kinh doanh của một NHTM ở Việt Nam
Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam- Eximbank được biết đến là một trong những NHTM lớn và hoạt động hiệu quả nhất Việt Nam Đây là một định chế tài chính tầm cỡ quốc gia và có tầm ảnh hưởng lớn đến toàn bộ hệ thống ngân hàng Điều này không đồng nghĩa rằng Eximbank không có những hạn chế trong hoạt động của mình Vào những năm cuối thập niên 90, hoạt động của Eximbank bị sa sút nghiêm trọng và đã phải đối mặt với nguy cơ phá sản [11] Hiện nay, tuy đã hồi sinh và khẳng định được vị thế của mình, song công tác kiểm tra và đánh giá, phân tích hoạt động của Eximbank cần được chú trọng hơn nữa Bởi, một biến động xấu của Eximbank cũng có thể gây ra những khủng hoảng khó lường cho hệ thống ngân hàng Những thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh của Eximbank không chỉ thu hút sự chú ý của hệ thống thanh tra ngân hàng mà còn là mối quan tâm của khách hàng, các nhà đầu
tư và ban quản lý Nguồn dữ liệu này sẽ giúp ban quản lý tập trung khắc phục những
Đại học Kinh tế Huế
Trang 13khía cạnh có vấn đề và phát huy lợi thế, nâng cao năng lực cạnh tranh của Eximbank trên thị trường ngân hàng hiện nay
Từ những nhận định đó, tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam sử dụng hệ thống chỉ tiêu CAMEL” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Trình bày cơ sở lý luận về đánh giá hoạt động kinh doanh của NHTM và hệ thống chỉ tiêu CAMEL
- Giới thiệu sơ lược về lịch sử hình thành phát triển và cơ cấu tổ chức của Eximbank
- Sử dụng CAMEL đánh giá hoạt động kinh doanh của Eximbank trong giai đoạn 2007-2011 nhằm nhận diện những ưu thế và hạn chế của NH qua 5 nhóm tiêu chí: Mức độ an toàn vốn; Chất lượng tài sản; Năng lực quản trị; Khả năng sinh lời và Khả năng thanh khoản
- Tiến hành chấm điểm, xếp loại Eximbank để có cái nhìn tổng quát quá trình hoạt động kinh doanh của Eximbank qua 5 năm;
- Từ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của Eximbank, dự báo về tình hình hoạt động kinh doanh và đưa ra giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện hơn hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Xuất
Nhập Khẩu Việt Nam thông qua 5 nhóm chỉ tiêu của mô hình CAMEL
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
+ Phạm vi thời gian: 5 năm (2007-2011)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 144 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp được sử dụng ở đây là tổng hợp hệ thống cơ sở lý luận về mô hình CAMEL và các văn bản pháp lý có liên quan; tìm hiểu về môi trường kinh doanh ngành ngân hàng nói chung, và môi trường kinh doanh của Eximbank nói riêng từ internet, báo chí, truyền hình, các đề tài nghiên cứu khoa học… nhằm phục vụ tốt hơn cho quá trình nghiên cứu của mình
4.2 Phương pháp thu thập số liệu
Các số liệu được sử dụng là các số liệu thứ cấp và được thu thập trên website chính thức của Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam: báo cáo tài chính đã kiểm toán, báo cáo thường niên, bản cáo bạch
4.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê: Dựa trên số liệu thu thập, sử dụng hoặc tính toán các
số tuyệt đối và tương đối để phân vào các nhóm chỉ tiêu của mô hình CAMEL, với mục đích phản ánh đầy đủ các khía cạnh hoạt động của Ngân hàng;
- Phương pháp so sánh: Số liệu có sẵn hoặc đã qua tính toán được so sánh qua
các năm để thấy được tiến trình hoạt động, đồng thời so sánh với các doanh nghiệp trong ngành và tham chiếu với các quy định của NHNN;
- Phương pháp phân tích SWOT: Từ những kết quả phân tích, đánh giá điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của Eximbank
Đại học Kinh tế Huế
Trang 15PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA NHTM 1.1 Giới thiệu về đánh giá hoạt động kinh doanh của NHTM
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, đánh giá là hoạt động nhận định giá trị của một chủ thể Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật Các Tổ chức Tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận [21] Đánh giá hoạt động kinh doanh của NHTM là quá trình nhận định giá trị của NHTM thông qua hoạt động kinh doanh của NH trên thị trường Nói rõ hơn, đó là quá trình phân tích, đưa ra những ý kiến mang tính chất kết luận, dự đoán về hoạt động kinh doanh của NHTM Đây là một vấn đề mang tính tổng quát và toàn diện đòi hỏi người đánh giá phải xem xét tất
cả các vấn đề trong hoạt động của một NHTM và đặt trong tương quan so sánh với các NHTM trong nền kinh tế
Tùy thuộc vào đối tượng cụ thể, việc đánh giá có thể đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau Các phương diện chủ yếu có thể đề cập đến trong việc đánh giá hoạt động kinh doanh của một NH là: Các nghiệp vụ kinh doanh sinh lời trực tiếp; các biện pháp đảm bảo an toàn kinh doanh; việc tổ chức và hiệu quả quản lý hoạt động NH (bộ máy, nhân sự, phương pháp quản lý…); chiến lược kinh doanh của NH; sự tôn trọng; chấp hành các quy định của pháp luật (quản lý kinh doanh ngoại hối, chấp hành các giới hạn của NHNN, thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước…); kết quả kinh doanh…[13]
Việc đánh giá hoạt động kinh doanh của một NHTM đối với các quốc gia đều nằm trong khuôn khổ chung Nhưng ở mỗi nước, hay nhóm nước, người ta có thể sử dụng các phương pháp khác nhau tùy vào mục đích đánh giá Tuy nhiên, cũng có những nội dung thống nhất và xu hướng phát triển đánh giá hoạt động NH cũng có sự giao thoa Những sự quan tâm cá biệt đến kết quả đánh giá nhằm những mục đích nhất định đôi khi dẫn đến sự thiên lệch Do đó, xu hướng gần đây là hình thành những tổ
Đại học Kinh tế Huế
Trang 16chức phân tích, đánh giá hoạt động NH theo những phương pháp và nội dung có sức thuyết phục cao, nhằm đạt được những kết luận tương đối khách quan, được xã hội chấp nhận
1.2 Mục đích và ý nghĩa
Đánh giá hoạt động kinh doanh của một NHTM thực sự cần thiết trong cơ chế thị trường, bởi bất kỳ một quyết định nào về kinh tế vĩ mô hay vi mô đều xuất phát từ thực tế lịch sử và yêu cầu của tương lai
Việc đánh giá hoạt động ngân hàng ở mức độ nào tùy thuộc vào mối quan tâm của các nhà quản lý Tuy nhiên, trong bất kỳ trường hợp nào cũng cần có sự đánh giá đúng đắn hoạt động NH để đưa ra những kết luận thỏa đáng và có những định hướng sáng suốt, những điều chỉnh cần thiết cho từng NH Đánh giá hoạt động NH được cả
xã hội quan tâm vì nó không chỉ dẫn dắt những ứng xử trong nội bộ NH, những ứng
xử của bạn hàng đối tác, mà còn dẫn đến những ứng xử của người dân (người góp vốn, người tiêu dùng), đến những hoạt động thích ứng của quản lý kinh tế vĩ mô nhằm đạt được sự phát triển kinh tế- xã hội ổn định Đánh giá hoạt động kinh doanh của NHTM không chỉ dừng ở việc đánh giá chính xác, đúng đắn hoạt động của một NHTM, mà còn sử dụng các kết quả này vào việc điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao tính thích nghi và khẳng định sự nhạy cảm của từng NH đối với thị trường
1.3 Căn cứ và phương pháp đánh giá
1.3.1 Căn cứ đánh giá
Để nghiên cứu, phân tích và đánh giá một cách đúng đắn và thường xuyên hoạt động kinh doanh của một NH người ta thường dựa vào các luồng thông tin sau:
- Số liệu thống kê- kế toán: Đây là những số liệu từ chi tiết đến tổng hợp về các
mặt của hoạt động NH: Số liệu về từng nhóm nghiệp vụ theo sự phân tổ nhất định, số liệu của bảng cân đối tài khoản, kết quả hoạt động theo thời gian, kết cấu tài sản Có và tình hình tài sản Có, khả năng thanh toán của NH, sự biến động quy mô hoạt động của NH…
Đại học Kinh tế Huế
Trang 17- Các nguồn thông tin chi tiết và tổng hợp trong và ngoài NH: Đây là nguồn tư
liệu rất phong phú và đa dạng với những độ tin cậy khác nhau Do đó, khi tiếp xúc với các thông tin này phải cân nhắc và kiểm tra kỹ lưỡng
1.3.2 Phương pháp đánh giá
Người ta thường sử dụng phối hợp các phương pháp đánh giá sau để có được kết quả nhận định chính xác và thỏa đáng nhất:
- Phương pháp đánh giá trực tiếp và gián tiếp: Đây là hai phương pháp thường
được sử dụng trong đánh giá hoạt động NHTM Trong thời đại bùng nổ thông tin, hoạt động kinh tế thị trường ngày càng năng động thì ranh giới giữa hai phương pháp này cũng dần được xóa đi Điều cơ bản trước tiên là cần phải có thông tin chất lượng, độ tin cậy cao Như vậy, kết quả và giá trị phân tích, đánh giá không phụ thuộc vào việc thực hiện trực tiếp hay gián tiếp, mà phụ thuộc vào nội dung của phương pháp tiến hành
- Phương pháp so sánh: Nội dung của phương pháp này là nhìn nhận từng chỉ
tiêu cả về số tuyệt đối và tương đối theo diễn biến của thời gian (so sánh thời kỳ này với thời kỳ trước, so với cùng kỳ của quá khứ…) và không gian (so sánh với các NHTM khác trong nước hoặc ngoài nước, so sánh với những yêu cầu đã đặt ra…)
- Phương pháp đánh giá cá biệt: Phương pháp này được áp dụng khi thực hiện
phân tích theo từng vấn đề, từng chỉ tiêu, từng hiện tượng (có những biến động bất thường) nhằm đánh giá, tìm hiểu bản chất của vấn đề Người ta sử dụng phương pháp này để đánh giá mức độ ảnh hưởng “lan tỏa” của hiện tượng và đưa ra cách thức ứng
xử thích hợp
- Phương pháp đánh giá toàn diện: Đây là phương pháp đánh giá tổng hợp các
mặt hoạt động của NH, đi theo thời gian và từng hiện tượng, vấn đề riêng đến tổng hợp đánh giá toàn diện Các hiện tượng, vấn đề được đặt riêng biệt, nhưng đồng thời cũng trong mối tương quan chung
- Phương pháp đánh giá cho điểm: Xu hướng chung hiện nay, phương pháp
đánh giá cho điểm được nhiều nước áp dụng Phương pháp này được thực hiện dựa
Đại học Kinh tế Huế
Trang 18trên thang điểm đặt ra cho từng chỉ tiêu theo từng mức độ Từng chỉ tiêu, từng vấn đề được “lượng hóa” và đánh giá bằng bảng điểm, sau đó là tổng hợp điểm đánh giá tổng quát cho một NHTM Phương pháp này thường gặp khó khăn khi phải xây dựng được các thang điểm Nhưng bù lại, nó tỏ ra rất thích ứng với yêu cầu chặt chẽ, khắt khe của nền kinh tế thị trường
Trong tất cả phương pháp trên, việc phân tích các yếu tố tài chính và phi tài chính đã dần ngang nhau về mặt giá trị Bởi ngày nay, hiện tại và tương lai của một ngân hàng có mối quan hệ khăn khít với nhau Kết quả hiện tại và sự ổn định kinh doanh sắp tới đều được tính đến khi đánh giá Qua các yếu tố tài chính chủ yếu xác định được hiện tại, còn qua các yếu tố phi tài chính lại phần nhiều xác định được tương lai và những khả năng đột biến [13]
1.4 Mô hình CAMEL trong đánh giá hoạt động kinh doanh của NHTM
1.4.1 Sơ lược về mô hình CAMEL
Hệ thống đánh giá CAMEL là hệ thống đánh giá tình trạng vững mạnh của các
tổ chức tài chính Việc đánh giá dựa trên 5 tiêu chí: Mức độ an toàn vốn, Chất lượng tài sản, Năng lực quản lý, Khả năng sinh lời và Khả năng thanh khoản CAMEL chính
là viết tắt từ chữ cái đầu của các chữ tiếng Anh Capital adequacy, Asset quality, Management, Earnings, và Liquidity của 5 tiêu chí trên
Hệ thống đánh giá CAMEL do Cục Quản lý các tổ hợp tín dụng Hoa Kỳ (National Credit Union Administration - NCUA) xây dựng, song không chỉ có Hoa Kỳ
mà còn có nhiều nước trên thế giới áp dụng Sau khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, hệ thống đánh giá CAMEL được Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Nhóm Ngân hàng Thế giới khuyến nghị áp dụng ở các nước bị khủng hoảng như một trong các biện pháp để tái thiết khu vực tài chính [1]
Các yếu tố của CAMEL được thiết kế để đo lường tổng thể độ mạnh của TCTD
và xác định hoặc dự đoán các yếu tố rủi ro khác nhau có thể đưa TCTD đối diện với các vấn đề hay thất bại trong hoạt động
Đại học Kinh tế Huế
Trang 19Theo đánh giá của Basel thì 90% kết quả xếp hạng CAMEL là không đổi sau 3 tháng đánh giá, 80% kết quả xếp hạng là không đổi sau 12 tháng đánh giá Còn sau 18 tháng đánh giá thì kết quả xếp hạng chỉ giống như việc lựa chọn một con số ngẫu nhiên, mà không còn chính xác nữa Do vậy, xếp hạng CAMEL không còn ý nghĩa nghiên cứu khi để thời gian dài [15]
Ở Việt Nam, các quy định xếp loại NHTM cổ phần được ban hành kèm theo Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN Đây là một Quyết định mới được xây dựng dựa trên các tiêu chí đánh giá CAMEL nhằm đưa ra các thang điểm cho các chỉ tiêu xếp loại cụ thể Trên cơ sở đó, các NHTM cổ phần được xếp loại theo các hạng A, B, C, D với ý nghĩa từ tốt đến xấu Việc triển khai thực hiện giám sát ngân hàng theo mô hình CAMEL của NHNN được đánh giá là phù hợp với mức độ phát triển các hoạt động ngân hàng và hệ thống ngân hàng ở Việt Nam hiện nay
1.4.2 Hệ thống chỉ tiêu
1.4.2.1 C- Capital adequacy (Mức độ an toàn vốn)
Vốn là điều kiện tiên quyết trong hoạt động của NH, đồng thời là yếu tố tạo nên sức mạnh và khả năng cạnh tranh của NH trên thị trường Vốn chi phối toàn bộ các hoạt động và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của NH trên thị trường trong nước và vươn ra thị trường thế giới Vốn là yêu cầu quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyết để cấp phép cho một NH thành lập và đi vào hoạt động, đảm bảo khả năng tồn tại và phát triển của NH đó Giá trị vốn thực có là giới hạn mức thua lỗ tối đa
mà ngân hàng có thể chịu đựng và NH muốn tiếp tục hoạt động nhất thiết phải duy trì mức vốn đầy đủ Theo quy định của luật pháp và các quy chế về an toàn ngân hàng của nhiều nước, phạm vi hoạt động và quy mô kinh doanh của một ngân hàng phụ thuộc vào quy mô của vốn tự có Vốn tự có là cơ sở để tính toán các giới hạn đảm bảo
an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vấn đề quản lý vốn của NH trở thành một yêu cầu pháp lý vì lợi ích của công chúng Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để quản lý an toàn NH là Tỷ lệ an toàn vốn Đây là hệ số cơ bản để đánh giá mức đủ vốn cho ngân hàng hoạt động an toàn, và phải đạt mức tối thiểu theo quy định (phổ biến là 9%) Ngoài ra, còn có những quy định về các giới hạn an toàn hoạt động
Đại học Kinh tế Huế
Trang 20khác trên cơ sở vốn tự có của ngân hàng như: giới hạn tối đa góp vốn đầu tư, liên doanh liên kết, mua cổ phần; giới hạn về cho vay tối đa cho một khách hàng; giới hạn cho vay các đối tượng ưu đãi; giới hạn về mức bảo lãnh tối đa cho một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng; giới hạn về trạng thái ngoại hối mở; giới hạn đầu tư vào tài sản cố định so với vốn tự có [9]
Như vậy, có đủ vốn là yếu tố đầu tiên đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn Một ngân hàng thường xuyên duy trì đầy đủ vốn; số vốn được bổ sung từ kết quả kinh doanh ngày một cao hơn là biểu hiện của sự ổn định, lành mạnh và hoạt động hiệu quả Những ngân hàng thiếu vốn với giá trị ròng thấp sẽ dễ đổ vỡ khi gặp phải những rủi ro hoặc trước những biến động của môi trường kinh doanh
1.4.2.2 A- Asset quality (Chất lượng tài sản)
Nội dung hoạt động chủ yếu của một NHTM thể hiện ở tài sản Có của NH đó Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản Có quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu tổng hợp nói lên chất lượng quản lý, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và triển vọng bền vững của một NH Phần lớn rủi ro trong hoạt động NH đều tập trung ở tài sản, nên cùng với việc đảm bảo có đủ vốn thì vấn đề nâng cao chất lượng tài sản Có là yếu tố quan trọng đảm bảo cho NH hoạt động
an toàn
Tài sản Có của NH bao gồm các tài sản sinh lời và tài sản không sinh lời, trong
đó tài sản sinh lời luôn chiếm phần chủ yếu Tài sản Có sinh lời là những tài sản đem lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng đồng thời cũng là những tài sản chứa đựng nhiều rủi ro Những tài sản này bao gồm các khoản cho vay, cho thuê tài chính, các khoản đầu tư vào chứng khoán, góp vốn liên doanh, liên kết Trong đó chiếm tỷ trọng cao nhất là các khoản cho vay Nói đến chất lượng tài sản là nói đến chất lượng tài sản
Có sinh lời, mà trước hết được phản ánh ở chất lượng của hoạt động tín dụng Nếu một ngân hàng có chất lượng hoạt động tín dụng cao, thể hiện qua việc thu nợ gốc và lãi đúng hạn, bảo toàn được vốn cho vay, tỷ lệ nợ quá hạn thấp, vòng quay vốn tín dụng nhanh, thì ngân hàng đó được đánh giá về cơ bản là hoạt động an toàn và hiệu quả Thông thường, chất lượng tín dụng của ngân hàng được đánh giá qua các chỉ số: Tỷ lệ
Đại học Kinh tế Huế
Trang 21giữa nợ quá hạn so với tổng dư nợ; tỷ lệ giữa tổn thất nợ ròng so với tổng dư nợ; tỷ lệ giữa dự phòng rủi ro tín dụng so với tổng số nợ tổn thất ròng và so với tổng dư nợ Tỷ
lệ và tính chất nợ quá hạn, nợ khê đọng, mức độ tổn thất trong cho vay cũng như mức trích lập dự phòng về tổn thất cho vay là chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng Một ngân hàng có mức độ tín dụng xấu, tỷ lệ nợ khê đọng cao sẽ gây ra những tổn thất về tài sản, giảm khả năng sinh lời, trong khi mức dự phòng trích lập không đủ
sẽ dẫn đến giảm sút vốn tự có và cuối cùng sẽ mất khả năng thanh toán
Bên cạnh chất lượng hoạt động tín dụng, chất lượng tài sản của ngân hàng còn thể hiện ở các tài sản Có khác như danh mục đầu tư chứng khoán, tài sản bằng ngoại
tệ, vàng bạc, đá quý Chất lượng những tài sản này thường thể hiện ở cơ cấu và trạng thái ngoại hối, chất lượng và trạng thái của danh mục đầu tư Những khoản mục này cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lời và tính thanh khoản của một ngân hàng Do đó, để đánh giá chất lượng tài sản và mức độ hoạt động của ngân hàng một cách đầy đủ và chính xác, một mặt phải xem xét toàn diện cơ cấu, tính chất tài sản mà ngân hàng đang nắm giữ, mặt khác phải nghiên cứu mối tương quan giữa cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ Mối tương quan này giúp đánh giá tính tối ưu trong cơ cấu tài sản, khả năng phản ứng của ngân hàng trước những biến động của thị trường, khả năng đứng vững trước những hiện tượng bất thường của môi trường kinh doanh và đáp ứng yêu cầu rút tiền của công chúng
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chất lượng tài sản của ngân hàng còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố bên ngoài như biến động chính trị, sự thay đổi các chính sách và luật pháp của nước ngoài, sự biến động của các đồng tiền quốc gia Khi đánh giá chất lượng tài sản của ngân hàng trong trường hợp này, cần tính đến tình hình sử dụng tài sản ở nước ngoài, mối tương quan giữa tài sản của nước ngoài và tài sản bằng ngoại tệ trong tổng tài sản NH
1.4.2.3 M- Management (Năng lực quản trị)
Một yếu tố quyết định hiệu quả kinh doanh và sự an toàn của ngân hàng là năng lực và chất lượng quản lý Quản lý ngân hàng là tạo ra hệ thống các hoạt động thống nhất, phối hợp và liên kết các quá trình lao động của các cán bộ nhân viên từ các
Đại học Kinh tế Huế
Trang 22phòng ban đến Hội đồng quản trị trong NH, nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh ở mỗi thời kỳ đã xác định, trên cơ sở giảm thiểu các chi phí về nguồn lực Nói đến chất lượng
và năng lực quản lý là nói đến yếu tố con người trong bộ máy quản lý và hoạt động, thể hiện ở các nội dung:
(i) Đề ra được các chính sách kinh doanh đúng đắn và có hiệu quả;
(ii) Xây dựng các thủ tục quản lý, điều hành các quy trình nghiệp vụ hợp lý, sát thực và đúng pháp luật;
(iii) Tạo lập được cơ cấu tổ chức hợp lý, vận hành hiệu quả;
(iv) Giảm thiểu rủi ro về đạo đức trong hệ thống quản lý
Ngoài ra, chất lượng và năng lực quản lý còn thể hiện ở khả năng nắm bắt kịp thời những tình huống bất lợi, nhận biết sớm các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn đe doạ sự an toàn của ngân hàng để đưa ra những biện pháp đối phó kịp thời Chất lượng quản lý cuối cùng được phản ánh ở tình hình tuân thủ đầy đủ luật pháp cũng như các quy chế hoạt động, hiệu quả kinh doanh và mức lợi nhuận thu được tăng lên, duy trì được khả năng thanh toán, sức cạnh tranh và vị thế của ngân hàng trên thị trường ngày một nâng cao, đưa ngân hàng phát triển bền vững trước những biến động trong và ngoài nước 1.4.2.4 E- Earning (Khả năng sinh lời)
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như để đánh giá sự phát triển bền vững của một ngân hàng Hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với khả năng thanh toán và chỉ ra triển vọng phát triển trong tương lai của ngân hàng đó Những ngân hàng hoạt động không hiệu quả sẽ gây ra những thua lỗ và nắm giữ những tài sản không thanh khoản, cuối cùng sẽ trở nên mất khả năng thanh toán Trong môi trường cạnh tranh quốc tế, tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng sinh lời của mỗi ngân hàng là cách tốt nhất để giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển một cách bền vững Tuy nhiên, với mục tiêu đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng thì khi đánh giá kết quả kinh doanh hay lợi nhuận của ngân hàng cần có một quan điểm toàn diện Một ngân hàng
có mức lợi nhuận cao chưa hẳn là tốt, để có mức lợi nhuận như vậy có thể ngân hàng này đã chấp nhận một cơ cấu tài sản có độ rủi ro cao Khi xét đến chỉ tiêu lợi nhuận,
Đại học Kinh tế Huế
Trang 23cần phân tích lợi nhuận trong mối quan hệ với các chỉ tiêu quản lý khác, chẳng hạn như mức độ thanh khoản, mức chấp nhận rủi ro, cơ cấu tài sản cũng như triển vọng phát triển lâu dài của ngân hàng Trong phân tích đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng, có thể đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau, như: Hệ số lợi nhuận trên tài sản (ROA), hệ số lợi nhuận trên vốn CSH (ROE), lợi nhuận trên tổng doanh thu, lợi nhuận trên mỗi cổ phần… Dù đo lường cách nào thì vẫn chủ yếu là xem xét mức lợi nhuận của ngân hàng sau một thời kỳ hoạt động trong các mối tương quan với nguồn vốn, tài sản, khả năng bù đắp chi phí và những thất thoát xảy ra cũng như khả năng bảo toàn và phát triển vốn Để có lãi, các ngân hàng phải tạo ra nguồn thu nhập ngày càng tăng cho mình, phải tiết kiệm chi phí hoạt động tới mức hợp lý, đồng thời phải hạn chế được những rủi ro, thất thoát thông qua các chính sách, biện pháp quản lý và phải tạo ra cơ cấu nguồn vốn và tài sản hợp lý
1.4.2.5 L- Liquidity (Khả năng thanh khoản)
Khả năng thanh toán là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng và sự an toàn trong quá trình hoạt động của một ngân hàng Để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng phải duy trì được một tỷ lệ tài sản có nhất định dưới dạng tài sản có tính lỏng, đặc biệt là các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi ở NHNN và các công cụ dự trữ thanh khoản khác Ngoài ra, các ngân hàng còn phải chú trọng nâng cao chất lượng các tài sản có, xây dựng danh mục tài sản hợp lý, có khả năng chuyển hoá thành tiền nhanh chóng và thu hồi nợ đúng hạn để đáp ứng yêu cầu chi trả cho khách hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết
Thực tế chỉ ra rằng, những ngân hàng thiếu hụt khả năng thanh toán là biểu hiện của tình trạng không lành mạnh, ngân hàng đang gặp khó khăn, rất dễ rơi vào nguy cơ
bị ồ ạt rút tiền của công chúng, nghiêm trọng hơn có thể làm sụp đổ ngân hàng và tác động xấu đến cả hệ thống Chính vì vậy, khả năng thanh toán trở thành thước đo quan trọng về tính hiệu quả, uy tín và mức độ an toàn của mỗi ngân hàng cũng như toàn hệ thống ngân hàng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 241.5 Giới thiệu một số mô hình khác được sử dụng để đánh giá hoạt động NHTM trên thế giới
1.5.1 Mô hình FIRST
Mô hình xếp hạng ngân hàng FIRST của Nhật Bản đưa ra năm 2007 bởi Cơ quan giám sát tài chính Nhật bản (FSA) FIRST được xét ở 10 yếu tố: Quản lý kinh doanh, tuân thủ pháp luật, quản lý bảo vệ khách hàng, quản lý rủi ro toàn diện, quản lý vốn,… Với mô hình FIRST, vấn đề quản lý (phi tài chính) được chú ý hơn Các xếp hạng của FSA tập trung vào khả năng thất bại, phá sản của ngân hàng trong tương lai
Mô hình FIRST theo trọng tâm quản lý, định hạng xếp hạng xem ngân hàng quản lý có tốt hay không và mục đích là đưa ra các cơ chế để ngân hàng phấn đấu, làm tốt hơn, quản lý hiệu quả hơn
Tóm lại, mô hình CAMELS tập trung vào phân tích, thanh tra để đưa ra dự báo
rõ ràng cho ngân hàng và biện pháp phòng ngừa Còn hệ thống FIRST là khích lệ những nỗ lực của ngân hàng để cải thiện công tác quản trị điều hành [22]
1.5.2 Mô hình PEARLS
PEARLS là tên viết tắt của các cụm từ tiếng Anh gồm:
* P - Protection (chỉ tiêu đảm bảo an toàn)
* E - Effective Financial Structure (Chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính hiệu quả)
* A - Asset Quality (Chất lượng tài sản có)
* R - Rates of Return and Costs (Thu nhập và chi phí)
* L- Liquidity ( Khả năng thanh khoản)
* S - Signs of Growth (Dấu hiệu của sự tăng trưởng)
Mô hình PEARLS là hệ thống được thiết kế để giám sát hiệu quả hoạt động tài chính cho riêng đối với các tổ chức nhận tiền gửi, đặc biệt là các tổ chức tài chính có quy mô nhỏ Nó được coi là công cụ cần thiết cho các cơ quan quản lý trong hoạt động giám sát nhằm đánh giá, cảnh báo và xếp hạng các tổ chức tài chính thành viên PEARLS sử dụng một bộ các chỉ tiêu tài chính và các tiêu chuẩn đánh giá có mối liên quan chặt chẽ với nhau Để đánh giá chỉ tiêu này, phải xem xét mức độ ảnh hưởng của chỉ tiêu khác và ngược lại Chỉ tiêu giám sát theo mô hình PEARLS chủ yếu dựa trên
Đại học Kinh tế Huế
Trang 25cơ sở số liệu từ bảng cân đối tài khoản kế toán, vì vậy, PEARLS rất thuận lợi cho việc khai thác số liệu đầu vào và phù hợp với tình hình khai thác thông tin báo cáo từ các tổ chức tài chính của Việt Nam hiện nay Mô hình này đã được Hiệp hội tín dụng quốc tế (WOCCU) nghiên cứu làm mô hình giám sát từ cuối những năm 1980
Ba sự khác nhau cơ bản giữa hệ thống PEARLS và CAMEL là:
- PEARLS chủ yếu sử dụng các chỉ số định lượng trong khi CAMEL sử dụng cả chỉ số định lượng và định tính, ví dụ như Năng lực quản lý PEARLS cung cấp một cách đánh giá khách quan về kết quả hoạt động tài chính bằng cách rà soát các kết quả của các dấu hiệu định lượng
- PEARLS đánh giá cơ cấu tài chính của bảng cân đối tài sản Cơ cấu tài chính
có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và khả năng sinh lời của tổ chức tài chính bởi vì một tổ chức càng tối đa hoá các các tài sản có khả năng sinh lời, tổ chức đó càng có khả năng tạo ra nhiều thu nhập
- PEARLS đánh giá tỉ lệ tăng trưởng Giám sát sự tăng trưởng trong các lĩnh vực khác nhau không chỉ cho phép các tổ chức đánh giá mức độ hài lòng của các khách hàng, mà còn trợ giúp các nhà quản lý duy trì cơ cấu tài chính hiệu quả hiện tại
vì độ tăng trưởng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tài chính [19]
1.5.3 Mô hình Giám sát dựa trên rủi ro
Phương pháp Giám sát dựa trên rủi ro (Risk-based Supervision) là phương pháp giám sát hiện đại mà nhiều quốc gia đang áp dụng Đây là phương pháp được xây dựng dựa trên việc giám sát hoạt động chung của NHTM thông qua việc đánh giá các loại hình rủi ro mà ngân hàng đang gặp phải Thông thường các loại rủi ro mà một NHTM thường gặp phải bao gồm:
- Rủi ro tín dụng (Credit risk): Rủi ro xảy ra khi các khoản nợ và vay của NHTM không thu hồi được hoặc chậm thanh toán
- Rủi ro thanh khoản (Liquidity risk): Rủi ro tập trung vào khả năng NH thực hiện các nghĩa vụ khi đến hạn của mình
Đại học Kinh tế Huế
Trang 26- Rủi ro hoạt động (Operational risk): Rủi ro xảy ra trong quá trình NHTM vận hành các quy trình nghiệp vụ của mình
- Rủi ro thị trường (Market risk): Rủi ro của ngân hàng đối với các biến động về lãi suất, ngoại tệ, hay các sản phẩm phái sinh
- Rủi ro pháp lý (Legal risk): Rủi ro xảy ra đối với NHTM do có những biến động về các quy định pháp luật, chính trị xã hội
Trên cơ sở xác định các loại rủi ro mà NHTM có thể gặp phải, NHTW đưa ra những đánh giá và mức xếp hạng về khả năng quản trị từng loại rủi ro của NHTM Từ
đó có những nhận xét và thiết lập những yêu cầu cần thiết đối với NHTM nhằm giúp cho NHTM có thể có đủ khả năng quản trị rủi ro cho mình Phương pháp giám sát dựa trên rủi ro là sự đánh giá dựa trên các rủi ro xuất phát từ hệ thống chỉ tiêu đánh giá CAMEL:
- Cấu phần A- Chất lượng tài sản được phát triển để phân tích Rủi ro tín dụng
và rủi ro cho các tài sản khác
- Cấu phần L- Thanh khoản được xem xét trong mối liên hệ với rủi ro nguồn lực tài chính
- Cấu phần M- Quản lý được xem như Rủi ro hoạt động
So với CAMEL, phương pháp giám sát dựa trên rủi ro thường được áp dụng tại các quốc gia mà hoạt động NH đã tương đối phát triển, không chỉ bao gồm các hoạt động truyền thống mà còn mở rộng các loại hoạt động dịch vụ ngân hàng hiện đại khác Do đó, sự an toàn trong hoạt động NH không chỉ thể hiện ở sự an toàn của từng hoạt động riêng lẻ mà phải là sự kết hợp tổng thể của các loại hoạt động và dịch vụ mà ngân hàng đang thực hiện, bằng cách đánh giá khả năng quản trị rủi ro của NH [15]
1.6 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Hoạt động phân tích, đánh giá tình hình kinh doanh của các NHTM rất quan trọng Chính vì vậy, nó được quan tâm bởi nhiều đối tượng khác nhau, từ NHNN đến ban quản lý NHTM và công chúng Trong đó, việc sử dụng hệ thống chỉ tiêu CAMEL nhằm phân tích, đánh giá hoạt động kinh doanh của các NHTM trong nước đã được đề cập đến trong nhiều đề tài nghiên cứu khoa học các cấp Tuy nhiên, trong khả năng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 27còn hạn chế của mình, tôi mới chỉ tiếp cận được 03 đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường liên quan đến vấn đề này
Tác giả Phạm Văn Nhân (2010) với đề tài: “Vận dụng mô hình CAMEL vào
phân tích tình hình tài chính tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu – Chi nhánh Huế” [17] đã trình bày khá đầy đủ các nhóm chỉ tiêu CAMEL để áp dụng vào phân
tích tài chính tại Ngân hàng TMCP Á Châu- Chi nhánh Huế Từ đó hình thành ma trận SWOT và đưa ra một số khuyến cáo nhằm cải thiện tình hình tài chính của chi nhánh Tác giả đã so sánh các chỉ tiêu của Chi nhánh với các NHTM khác trên địa bàn và các tiêu chuẩn về hạn mức Tuy nhiên việc so sánh còn hạn chế, các tiêu chuẩn cũng chưa thật sự tin cậy Bên cạnh đó, tác giả chỉ phân tích hoạt động kinh doanh một chi nhánh
NH mà không phải trên toàn hệ thống NH Á Châu Đó là một thiếu sót vì nó chưa phù hợp với việc ứng dụng mô hình CAMEL và chưa mang tính tổng quan
Phan Bình Sơn (2011) trong khóa luận: “Vận dụng mô hình CAMEL vào phân
tích tài chính tại Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Á Châu” [18] đã kế thừa những kết
quả mà tác giả Phạm Văn Nhân đã đạt được, nhưng tiến hành nghiên cứu trong phạm
vi toàn hệ thống NH Á Châu Đây là một điểm tiến bộ của đề tài
Nghiên cứu liên quan việc sử dụng mô hình CAMEL được chuyển qua một
hướng khá mới mẻ trong đề tài: “Ứng dụng mô hình CAMEL trong đánh giá hoạt
động của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín- Sacombank” của tác giả Sử Ngọc
Minh (2011) [23] khi tác giả tiến hành chấm điểm, xếp loại Ngân hàng TMCP theo Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN Tác giả cũng đã đưa vào các chỉ tiêu kế hoạch để đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch của NH Tuy nhiên, việc chấm điểm còn khá sơ sài và chưa chi tiết Tác giả cũng đã vấp phải một số hạn chế khi thiếu sót việc so sánh với các NH khác để biết được vị thế của NH mà tác giả nghiên cứu
Trên cơ sở những đóng góp và hạn chế của các đề tài nêu trên, tôi đã nỗ lực kế thừa những điểm tích cực, cải thiện những điểm còn hạn chế, thiếu sót nhằm hoàn
thiện hơn đề tài khóa luận: “Đánh giá hoạt động kinh doanh Ngân hàng TMCP Xuất
Nhập Khẩu Việt nam sử dụng hệ thống chỉ tiêu CAMEL” của mình
Đại học Kinh tế Huế
Trang 28CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM SỬ
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Vào những năm cuối của thập niên 80 vừa qua, ở nước ta khuôn khổ pháp lý về
mô hình công ty cổ phần nói chung và mô hình ngân hàng cổ phần nói riêng chưa tồn tại Tuy nhiên, Nhà nước đã có ý định thành lập một ngân hàng cổ phần thí điểm của Việt Nam Trong hoàn cảnh đó, Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Việt Nam Export Import) được ra đời theo Quyết định 140/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 24/05/1989 với nhiệm vụ: kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng
và trở thành NHTM cổ phần đầu tiên của nước ta
Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ ngày 17/01/1990 và nhận được giấy phép hoạt động số 11/NH-GP ký ngày 06/04/1992 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép Ngân hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷ VNĐ tương đương 12,5 triệu USD và
có tên mới là Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Commercial Joint Stock Bank), gọi tắt là Eximbank
Kể từ 1990 đến 1996, Eximbank luôn đạt được những thành công rực rỡ với tỷ suất ROE hàng năm từ 40-50% Tuy nhiên, đến năm 1997 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, hoạt động của Eximbank bị sa sút nghiêm trọng và phải đối mặt với nguy cơ bị phá sản Đứng trước tình hình đó, Thành Ủy TPHCM, Ủy Ban Nhân Dân TPHCM, NHNN Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã đồng loạt hỗ trợ
và ra quyết định số 575/QĐ-TTG ngày 26/06/2000 khẩn trương thực hiện phương án chấn chỉnh, củng cố Eximbank trong thời gian 3 năm với một số giải pháp cấp bách Nhưng thực tế, thời gian này đã kéo dài lên đến 5 năm Trong suốt thời gian đó, Eximbank đã nỗ lực từng bước một khắc phục những khó khăn, củng cố và phát triển nghiệp vụ để mở rộng nhiều dịch vụ tài chính và dần lấy lại uy tín trên thị trường Đến
Đại học Kinh tế Huế
Trang 29đầu năm 2005, nhận thấy những bước tiến khả quan của Eximbank, NHNN đã tổng kết hoạt động của Eximbank và kiến nghị Chính phủ để chính thức chấm dứt kế hoạch chấn chỉnh Eximbank [11]
Hồi sinh bằng những cố gắng trong mọi mặt hoạt động, Eximbank đã có những bước phát triển vững mạnh và đang là một trong những NHTM cổ phần có quy mô lớn
và hoạt động có hiệu quả nhất tại Việt Nam:
- Năm 2005: Là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam phát hành thẻ ghi nợ quốc tế Visa Debit
- Năm 2007: Chính thức ký kết hợp tác chiến lược với 17 đối tác trong nước và các đối tác đầu tư nước ngoài, trong đó đặc biệt là ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược với tập đoàn ngân hàng Sumitomo Mitsui Banking Corporation của Nhật
- Năm 2008: Eximbank chính thức trao chứng nhận 15% cổ phần trị giá 225 triệu USD cho tập đoàn kinh tế SMBC Theo đó, Ngân hàng và SMBC sẽ hỗ trợ, hợp tác trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam, hợp tác về tài trợ thương mại, chia sẻ kinh nghiệm về quản trị doanh nghiệp, bao gồm quản trị rủi ro theo các chuẩn mực quốc tế Bên cạnh đó, Eximbank tăng vốn điều lệ lên 7.220 tỷ đồng
- Năm 2009: Eximbank chính thức tăng vốn điều lệ lên 8.800.080.000.000 đồng, chính thức niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán TP.HCM
- Năm 2010: Eximbank nâng vốn điều lệ lên 10.560 tỷ đồng
- Năm 2011: Eximbank tăng vốn điều lệ lên 12.355 tỷ đồng; được tạp chí The Banker chọn vào Top 1000 ngân hàng hàng đầu thế giới và Top 25 ngân hàng có tốc
độ tăng trưởng tài sản nhanh nhất 2010 [10]
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Ngân hàng bao
gồm tất cả các cổ đông có tên trong danh sách đăng ký cổ đông
Đại học Kinh tế Huế
Trang 30Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản trị Ngân hàng, có toàn quyền nhân danh
Ngân hàng để quyết định các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Ngân hàng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng Cổ đông
Ban kiểm soát: Ban Kiểm soát do Đại hội đồng Cổ đông bầu ra, là tổ chức thay
mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh, quản trị và điều hành của Ngân hàng
Tổng Giám đốc: Tổng Giám đốc là người chịu trách nhiệm trước Hội đồng
quản trị, trước pháp luật về việc điều hành hoạt động hàng ngày của Ngân hàng Nhiệm kỳ của Tổng Giám đốc là 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại
Các bộ phận nghiệp vụ: Eximbank có 08 khối và 28 phòng ban nghiệp vụ/trung
tâm chịu sự quản lý trực tiếp của Phó Tổng giám đốc Mỗi khối và phòng nghiệp vụ được ủy quyền một số công việc chức năng cụ thể, tạo nên một bộ máy hoạt động thông suốt trong toàn hệ thống ngân hàng [10]
Đại học Kinh tế Huế
Trang 31Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức của Eximbank
Đại học Kinh tế Huế
Trang 322.2 Đánh giá hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Xuất Nhập
Khẩu Việt Nam sử dụng hệ thống chỉ tiêu CAMEL
2.2.1 C- Capital adequacy (Mức độ an toàn vốn)
* Quy mô Vốn điều lệ:
Bảng 2.1 Vốn điều lệ của Eximbank
Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng trưởng vốn điều lệ Eximbank
Nguồn: Tính toán theo số liệu báo cáo tài chính
Có thể thấy rằng, vốn điều lệ của Eximbank tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 2007-2011, sau khi Nghị định 141/2006/NĐ-CP về danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng có hiệu lực Theo đó, mức vốn pháp định cho ngân hàng TMCP phải đạt được cho tới hết năm 2008 là 1000 tỷ đồng, cho tới hết năm 2010 là 3000 tỷ đồng Sau đó, để giảm bớt áp lực về thời gian tăng vốn cho các TCTD chưa thể tăng
đủ mức vốn pháp định, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 10/2011/NĐ-CP với nội dung chấp nhận giãn tiến độ áp dụng vốn pháp định chậm nhất vào 31/12/2011 thay vì 31/12/2010 như quy định trước đây Tuy vậy, Eximbank đã hoàn thành rất tốt định hướng tăng vốn pháp định của Chính phủ cả về thời gian và mức độ Đến hết năm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 332008, vốn điều lệ của Eximbank đã gần 7.220 tỷ đồng và đến hết năm 2010 là 10.560
tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng vốn điều lệ cao nhất vào năm 2008 với 157,86% và về sau vẫn giữ mức tăng trưởng đều đặn vào khoảng 20% mỗi năm
* Quy mô vốn CSH:
Vietcombank và Vietinbank là hai NHTM quốc doanh với ưu thế nổi bật về quy
mô vốn chủ sở hữu, vượt xa các NHTM khác Tuy nhiên, nếu so sánh Eximbank với ACB và Sacombank có thể thấy quy mô vốn của Eximbank nhỉnh hơn và mức tăng vốn đều hơn qua các năm Đây là một lợi thế của Eximbank so với các NH khác
Nguồn: Báo cáo tài chính
Vốn lớn là điều kiện tốt giúp Eximbank mở rộng hoạt động, đầu tư mạnh vào hạ tầng để có bước phát triển nhanh trong các năm sắp tới Quy mô vốn lớn cũng giúp Eximbank giảm bớt biến động trong điều kiện ngành ngân hàng gặp những thay đổi bất lợi
Đại học Kinh tế Huế
Trang 34Bảng 2.3 Tổng hợp Hệ số tự tài trợ của các ngân hàng
Nguồn: Tính toán theo số liệu báo cáo tài chính
Từ năm 2007-2009, hệ số tự tài trợ của Eximbank rất cao, có lúc tăng đến 0,27 (năm 2008), do Eximbank đặt ra mục tiêu tăng trưởng nhanh vốn điều lệ Sau đó, hệ số giảm dần ở mức 0,09 (năm 2011) những vẫn khá cao so với các NH khác
* Tỷ lệ an toàn vốn (CAR)
Tỷ lệ an toàn vốn =
Vốn tự có Tổng tài sản Có rủi ro CAR là thước đo độ an toàn vốn của NH Qua hệ số này có thể xác định được khả năng thanh toán các khoản nợ có thời hạn của NH và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành Hay nói cách khác, khi NH đảm bảo được hệ
số này, tức là nó đã tạo ra được một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa
tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi tiền Trong công thức trên, vốn tự có bao gồm vốn cấp 1 (vốn tự có cơ bản) và vốn cấp 2 (vốn tự có bổ sung), trừ cho các khoản phải trừ theo luật định [8]
Nguồn: Tính toán theo số liệu báo cáo tài chính
Đại học Kinh tế Huế
Trang 35Theo nghiên cứu của NH Thế Giới (World Bank), một ngân hàng sẽ đạt mức an toàn khi hệ số CAR > 8% Hệ số này càng cao thì sức chịu đựng rủi ro của NH càng lớn Các NH hoạt động quốc tế có hệ số an toàn vốn tới 12-14% Các NH khu vực Đông Nam Á có hệ số an toàn vốn 10-12% [13]
Ở Việt Nam, 8% là tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cũ được quy định trong Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, và được sửa đổi thành 9% bởi Thông tư 13/2010/TT-NHNN Trong bối cảnh số lượng NH nhiều và môi trường kinh doanh ngày càng gay gắt, những chỉ tiêu kiểm soát phải chặt chẽ hơn để đảm bảo an toàn cho khách hàng và toàn hệ thống NH
Nguồn: Báo cáo thường niên
Nhờ quy mô vốn CSH lớn, CAR của Eximbank luôn trên mức quy định tối thiểu của NHNN (9%) So sánh với hai NHTM khác là Vietcombank và Vietinbank,
có thể thấy CAR của Eximbank cao hơn rất nhiều trong giai đoạn 2007-2011
* Tỷ lệ vốn CSH trên tổng dư nợ:
Tỷ lệ này cho biết một đồng dư nợ cho vay được bảo đảm bởi bao nhiêu đồng vốn CSH Tỷ lệ càng cao càng chứng tỏ sự vững mạnh của NH trong việc đối phó với các khoản nợ xấu, thậm chí là bù đắp cho các khoản nợ có khả năng mất vốn dựa vào nguồn vốn CSH của NH Như vậy, tỷ lệ này càng cao càng an toàn, và ngược lại Tỷ lệ vốn CSH trên tổng dư nợ có xu hướng giảm dần trong giai đoạn 2009-2011, do tốc độ tăng tổng dư nợ nhanh hơn tốc độ tăng của vốn CSH, ngoại trừ năm 2008 tăng đột biến: 60,49% do dư nợ cho vay KH bị giảm sút Ngoài ra, ta có thể thấy tỷ lệ vốn CSH trên tổng dư nợ của Eximbank cao hơn rất nhiều so với các NH khác, khẳng định mức
độ an toàn vượt trội của NH trong việc đảm bảo các khoản cho vay
Đại học Kinh tế Huế
Trang 362.2.2 A- Asset quality (Chất lượng tài sản)
Biểu đồ 2.2 Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của Eximbank
Nguồn: Tính toán theo số liệu báo cáo tài chính
Tổng TS của Eximbank tăng nhanh qua các năm, tốc độ tăng trưởng luôn ở mức trên 35% và hơn 100% vào năm 2010 Tuy nhiên, tăng trưởng tài sản cao không đồng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 37nghĩa với NH đang hoạt động tốt Khi phân tích tỷ lệ tăng trưởng tài sản còn phải chú
ý đến mục đích tăng trưởng, loại tài sản nào tăng trưởng, vốn tài trợ lấy từ nguồn nào… mới đánh giá được một cách khách quan và chính xác Trong trường hợp này, tổng tài sản trong năm 2010 tăng gấp đôi so với 2009 nhưng kết cấu tài sản cần được củng cố vững chắc hơn
So sánh với các ngân hàng TMCP khác, quy mô tài sản của Eximbank còn khá khiêm tốn Trong năm 2011, quy mô tài sản của Eximbank kém Vietcombank gần 2 lần, kém Vietinbank hơn 2,5 lần, kém ACB hơn 1,5 lần… Với lợi thế về quy mô vốn CSH, Eximbank cần nỗ lực hơn nữa nhằm nâng cao tổng tài sản thông qua các hoạt động huy động nợ, tạo ra cơ cấu vốn tối ưu cho hoạt động của mình, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường kinh doanh tiền tệ
Nguồn: Báo cáo tài chính
* Cơ cấu tài sản Có:
Cơ cấu tài sản Có = Tài sản Có sinh lời
Tổng tài sản Có Trong tài sản Có có thể chia thành 2 nhóm: Tài sản Có sinh lời và tài sản Có không sinh lời Tài sản Có sinh lời bao gồm: tiền, vàng gửi các TCTD khác và cho vay các TCTD khác, chứng khoán kinh doanh, cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư, góp vốn và đầu tư dài hạn Đây là nhóm tài sản có vai trò quyết định hiệu quả kinh doanh của một NH Các tài sản như: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi dự trữ bắt buộc tại NHNN, tài sản cố định của NH là tài sản không sinh lời nhưng cũng không thể thiếu
Đại học Kinh tế Huế
Trang 38được nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, phòng tránh rủi ro và đảm bảo hoạt động cho NHTM [13]
Bảng 2.9 Cơ cấu tài sản Có của Eximbank
Nguồn: Tính toán theo số liệu báo cáo tài chính
Hệ số cơ cấu này cho phép nhận định mức độ tận dụng các nguồn vốn của NH
để tối đa hóa lợi nhuận Với số liệu trên, ta thấy Eximbank có cơ cấu tài sản sinh lời cao và khá ổn định, luôn ở mức trên 80% qua các năm
* Hoạt động cho vay khách hàng
- Tăng trưởng hoạt động cho vay KH:
Biểu đồ 2.3 Tốc độ tăng trưởng hoạt động cho vay KH của Eximbank
Nguồn: Tính toán theo số liệu báo cáo tài chính
Tốc độ tăng trưởng cho vay của Eximbank không ổn định, quá cao trong năm
2007 và 2009 (gần 81%), giảm dần trong những năm gần đây và xuống mức thấp nhất 19,76% trong năm 2011 Theo NQ 11/NQ-CP ngày 24/02/2011, ngành ngân hàng phải giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng xuống dưới mức 20%, giảm tốc độ tăng trưởng phương tiện thanh toán cả năm xuống 15-16% (thay vì 21-24% như NHNN công bố cuối năm 2010) để thực hiện mục tiêu giảm lạm phát Thực tế ở Việt Nam, do hiệu quả
sử dụng vốn không cao nên tăng trưởng tín dụng NH cũng đã có những tác động đến lạm phát trong thời gian qua Đồng thời tăng trưởng tín dụng quá mức còn là nguyên nhân tiềm ẩn của rủi ro trong hoạt động tín dụng Vì vậy, để kiềm chế lạm phát, hạn
Đại học Kinh tế Huế
Trang 39chế rủi ro hệ thống thì kiểm soát tăng trưởng tín dụng là một biện pháp cần thiết
Từ năm 2012, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng sẽ được giao theo các nhóm trên cơ
sở xếp loại các tổ chức tín dụng của cơ quan giám sát NHNN, theo nguyên tắc tổ chức nào hoạt động tốt thì được mức tăng trưởng tín dụng cao hơn, và ngược lại Tuy nhiên, các tiêu chí xếp lại cụ thể lại không được công bố [3] Eximbank đã được NHNN phân hạng vào Nhóm 1 và được hưởng mức tăng trưởng tín dụng cao nhất là 17% trong năm
2012 [4] Ngoài lợi thế cho hoạt động kinh doanh, điều này cũng giúp nâng cao uy tín của Ngân hàng trên thị trường
- Dư nợ cho vay trên tổng tài sản:
Dư nợ cho vay trên tổng tài sản = Dư nợ cho vay
tư của mình, tập trung vào các hoạt động sinh lợi khác
Bảng 2.10 Dư nợ cho vay trên tổng tài sản của Eximbank
Dư nợ cho vay trên tổng tài sản 54,74% 44,01% 58,64% 47,55% 40,67%
Nguồn: Tính toán theo số liệu báo cáo tài chính
Cũng như đặc trưng của hầu hết các ngân hàng TMCP khác, phần lớn tài sản của Eximbank dành cho hoạt động cho vay Trong 5 năm qua, mức độ tập trung cho vay vào khoảng 40-60% so với tổng tài sản Tỷ lệ này bất ngờ sụt giảm vào năm 2008 chỉ còn 44,01% Trong năm này, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước suy giảm, hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ, thị trường bất động sản đóng băng, thị trường chứng khoán tụt dốc… đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động cho vay của các
NH Trong bối cảnh đó, NH một mặt hạn chế cho vay các lĩnh vực có nhiều rủi ro như bất động sản, chứng khoán… để đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh, mặt khác tích cực hỗ trợ DN vượt qua khó khăn thông qua các chương trình cho vay với lãi suất ưu
Đại học Kinh tế Huế
Trang 40đãi, tập trung đẩy mạnh cho vay vào những ngành nghề hoạt động có hiệu quả Thêm vào đó, nhờ những nỗ lực kích cầu, giảm lãi suất cơ bản của NHNN, tỷ lệ này đã tăng lên 58,64% vào năm 2009 Tuy nhiên, năm 2011 lại xuống mức thấp nhất trong vòng 5 năm, ở mức 40,67% Điều này cho thấy Eximbank đang có sự đa dạng hóa danh mục đầu tư tài sản, nhưng vẫn còn phụ thuộc nhiều vào hoạt động cho vay truyền thống
* Nợ xấu:
- Tỷ lệ nợ xấu:
Tỷ lệ nợ xấu =
Nợ xấu Tổng dư nợ cho vay KH Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN và 18/2007/QĐ-NHNN về phân loại
nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH, các khoản cho vay KH được phân loại theo mức độ rủi ro như sau: Nợ đủ tiêu chuẩn, Nợ cần chú ý, Nợ dưới tiêu chuẩn, Nợ nghi ngờ và Nợ có khả năng mất vốn dựa vào tình trạng quá hạn và các yếu tố định tính khác Các khoản nợ được phân loại là Nợ dưới tiêu chuẩn, Nợ nghi ngờ và Nợ có khả năng mất vốn được coi là nợ xấu
Bảng 2.11 Tỷ lệ nợ xấu của Eximbank
Nguồn: Tính toán theo số liệu báo cáo tài chính
Do tập trung nhiều vào đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp xuất nhập khẩu nên nói chung tỷ lệ nợ xấu của Eximbank cao hơn so với trung bình ngành Eximbank có tỷ lệ nợ xấu cao kỷ lục 4,71% trong năm 2008, giảm xuống còn 1,83%, 1,42% lần lượt trong 2009, 2010 và tăng nhẹ trở lại vào năm 2011 Năm 2008 chứng kiến cuộc khủng hoảng của nền kinh tế thế giới, sản xuất gặp nhiều khó khăn, nợ xấu cao là tình hình chung của các NHTM trong nước Tuy nhiên, mức
nợ xấu trung bình ngành trong năm 2008 là 3,5%, vẫn thấp hơn 1,2% so với Eximbank [20] Sang năm 2009, Eximbank tập trung xử lý các khoản nợ xấu bằng nhiều giải pháp quyết liệt để giảm thiểu nợ xấu từ năm 2008, giảm thiểu rủi ro tín dụng Eximbank cũng triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, đánh giá lại
Đại học Kinh tế Huế