1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu xác định giá trị bảo tồn khu vực thành cổ quảng trị, quảng trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên

68 310 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 693,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu - Ước lượng mức sẵn lòng chi trả WTP của người dân để bảo vệ khu vựcThành Cổ Quảng Trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên CVM; - Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

BƯỚC ĐẦU XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ BẢO TỒN KHU VỰC THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ, QUẢNG TRỊ

BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ NGẪU NHIÊN

NGUYỄN VŨ BẢO CHI

Khóa học 2010 – 2014

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌCKINH TẾ HUẾ KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

BƯỚC ĐẦU XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ BẢO TỒN

KHU VỰC THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ, QUẢNG TRỊ BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ NGẪU NHIÊN

Nguyễn Vũ Bảo Chi Th.S Lê Thanh An

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em chân thành cám ơn sự dạy dỗ tận tình và chu đáo của các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế Huế trong suốt 4 năm qua đã truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích và cần thiết.

Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo Thạc sĩ Lê Thanh An đã giúp đỡ và hướng dẫn em tận tình trong quá trình hoàn thành khóa luận này.

Em cũng xin trân trọng cám ơn Ban quản lý di tích Thành Cổ Quảng Trị đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình nghiên cứu, điều tra, phỏng vấn và thu thập số liệu để hoàn thành khóa luận.

Và cuối cùng em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã đóng góp ý kiến cũng như sự động viên, khích lệ trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện khóa luận.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót khi thực hiện khóa luận này Kính mong các thầy giáo, cô giáo và bạn bè đóng góp

ý kiến để khóa luận ngày càng hoàn thiện hơn.

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Huế, ngày 14 tháng 5 năm 2014

Sinh viên Nguyễn Vũ Bảo Chi

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

Thành Cổ Quảng Trị là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt đồng thời là một địa

điểm du lịch thu hút lượng khách lớn hằng năm Tuy nhieen, Thành Cổ đang dần

xuống Do đó việc trùng tu, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích Thành Cổ Quảng Trịhiện nay là hoàn toàn cần thiết Mặt khác, thông qua việc xác định giá trị bảo tồn gópphần quản lý và hoạch định chính sách tốt hơn

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Ước lượng mức sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân để bảo vệ khu vựcThành Cổ Quảng Trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM);

- Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố liên quan tới đặc điểm kinh tế - xã hội của

người dân đến mức WTP;

- Đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo tồn Thành CổQuảng Trị, tỉnh Quảng Trị

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu

- Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM)

5 Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu bước đầu xác định mức sẵn lòng chi trả WTP cho bảo tồn di tíchThành Cổ Quảng Trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên và phân tích một số yếu

tố ảnh hưởng tới mức WTP Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, mức WTP trung bìnhcủa người dân là 66,087 đồng Hơn nữa, các yếu tố có ảnh hưởng đến mức WTP gồmtuổi tác, trình độ học vấn và thu nhập Qua đó, nghiên cứu đưa ra các kiến nghị nhằmnâng cao hiệu quả quản lý và bảo tồn di tích Thành Cổ Quảng Trị, tập trung vào tăng

cường công tác giáo dục; tăng thu nhập, nâng cao mức sống của người dân,

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu Tiếng Anh Tiếng Việt

CBA Cost benefit analysis Phân tích lợi ích-chi phí

CVM Contingent Valuation Method Phương pháp định giá ngẫu

nhiên

nhiên

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

Quảng Trị 37

Bảng 3.4 Lý do đồng ý sẵn lòng chi trả 38 Bảng 3.5 Hình thức chi trả 39 Bảng 3.6 Lý do người dân không đồng ý sẵn lòng chi trả cho việc bảo tồn di tích

Thành Cổ Quảng Trị 40

Bảng 3.7 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy WTP theo bốn biến: a, e, w, p 44

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các thành phần giá trị của nguồn tài nguyên 10

Hình 1.2 Mức sẵn lòng chi trả và thặng dư tiêu dùng 11

Hình 3.1 Tuổi của người dân 34

Hình 3.2 Trình độ học vấn của người dân 35

Hình 3.3 Thu nhập 36

Hình 3.4 Đồ thị P-P về tính phân phối chuẩn của biến phụ thuộc WTP 43

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT LUẬN VĂN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC BẢNG, BIỂU iii

DANH MỤC HÌNH iv

MỤC LỤC v

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 2

6 Hạn chế của nghiên cứu 3

7 Cấu trúc của đề tài 4

PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Di tích lịch sử - văn hóa 5

1.1.1.Khái niệm 5

1.1.2 Phân loại di tích 5

1.1.3 Di tích lịch sử cách mạng 6

1.2 Những phạm trù cơ bản trong định giá tài nguyên 8

1.2.1 Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên thiên nhiên 9

1.2.2 Thặng dư tiêu dùng 11

1.2.3 Mức sẵn lòng chi trả 12

1.3 Các phương pháp định giá tài nguyên 13

1.3.1 Các phương pháp không dùng đường cầu 13

1.3.2 Các phương pháp định giá sử dụng đường cầu 14

1.4 Phương pháp định giá ngẫu nhiên 15

1.4.1 Cơ sở lý thuyết 15

1.4.2 Trình tự phương pháp định giá ngẫu nhiên 17

1.4.3 Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp định giá ngẫu nhiên 18

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

1.4.4 Thực tiễn áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên tại Việt Nam 19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ, QUẢNG TRỊ 21

2.1 Giới thiệu chung về Thành Cổ Quảng Trị 21

2.1.1 Vị trí địa lý 21

2.1.2 Lịch sử xây dựng 21

2.2 Các giá trị của Thành Cổ Quảng Trị 24

2.3 Thực trạng quản lý và bảo tồn Thành Cổ Quảng Trị 26

2.4 Những vấn đề nổi bật ảnh hưởng đến Thành Cổ Quảng Trị 29

CHƯƠNG 3 ƯỚC LƯỢNG MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ ĐỂ BẢO TỒN DI TÍCH THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ 30

3.1 Quá trình điều tra thu thập số liệu 30

3.1.1 Mục đích điều tra 30

3.1.2 Nội dung điều tra 30

3.1.3 Đối tượng và phạm vi điều tra 30

3.1.4 Phương pháp thu thập thông tin và các bước tiến hành điều tra 31

3.2 Phân tích kết quả điều tra 32

3.2.1 Thông tin về số lần đến thăm quan Thành Cổ Quảng Trị của người dân trong mỗi năm 32

3.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của người được phỏng vấn 33

3.3 Mô hình hồi quy mức sẵn lòng chi trả theo các yếu tố 41

3.3.1 Các biến trong mô hình 41

3.3.2 Mô hình hồi quy 42

3.3.3 Ước lượng mô hình hồi quy 42

3.4 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tới mức sẵn lòng chi trả để bảo tồn di tích Thành Cổ Quảng Trị 45

3.5 Một số khuyến nghị nhằm nâng cao công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích Thành Cổ Quảng Trị 47

PHẦN III KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

PHỤ LỤC 53

PHỤC LỤC 1 53

PHỤ LỤC 2 57

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Di tích lịch sử văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá lâu đờicủa dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá,

về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại củacộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản

văn hoá nhân loại Thành Cổ Quảng Trị được Bộ Văn hoá Thể Thao và Du lịch xếp

hạng di tích Quốc gia theo quyết định số 235/VH - QĐ ngày 12/12/1986, là một địa

điểm du lịch mang ý nghĩa lịch sử to lớn đánh dấu cho sự hi sinh cao cả của quân và

dân cả nước nói chung và Quảng Trị nói riêng

Thành Cổ Quảng Trị tọa lạc tại thị xã Quảng Trị, nơi từng là trung tâm kinh tế

xã hội của tỉnh, được Triều Nguyễn xây dựng từ những năm của thế kỷ XIX, trở thànhmột di tích lịch sử đặc biệt Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đặtchính quyền bảo hộ thì Thành Cổ lại có thêm nhà lao, toà mật thám, trại lính khố Và

sau đó nhà lao Quảng Trị là nơi giam cầm các chiến sĩ cộng sản và những người yêunước Thành Cổ Quảng Trị được biết đến qua cuộc chiến 81 ngày đêm giữ thành đầy

khốc liệt trong lịch sử dân tộc giữa lực lượng của Quân đội Nhân dân Việt Nam vớiQuân lực Việt Nam Cộng hòa có sự yểm trợ tối đa của hỏa lực quân đội Mỹ

Do phải gánh chịu một khối lượng bom đạn khổng lồ trong chiến tranh nên từsau hoà bình lập lại, Thành Cổ chỉ còn dấu vết của một số đoạn thành, lao xá, cổngtiền, hậu Gần đây, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị và Nhà nước đã

có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn, tôn tạo lại di tích để giữ lại những giá trị quý giá vềvật chất lẫn tinh thần của di tích, đồng thời góp phần thu hút du khách, thúc đẩy ngànhdịch vụ du lịch nơi đây phát triển Tuy nhiên, để di tích thực sự trở thành một trungtâm du lịch có ý nghĩa kinh tế trong khu vực, những hoạt động bảo tồn và phát triểncần dựa vào giá trị thực tế của di tích và ý muốn của người dân Từ thực trạng trên,chúng tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Bước đầu xác định giá trị bảo

t ồn khu vực Thành Cổ Quảng Trị, Quảng Trị bằng phương pháp định giá ngẫu

nhiên”.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Mục tiêu chính của đề tài nhằm tìm hiểu giá trị bảo tồn của khu vực Thành CổQuảng Trị Qua đó, nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị cho công tác quản lý và bảo vệcác giá trị của nguồn tài nguyên có hiệu quả

Mục tiêu cụ thể

- Ước lượng mức sẵn lòng chi trả (Willingness to Pay – WTP) của người dân đểbảo vệ khu vực Thành Cổ Quảng Trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên(Contingent Valuation Method – CVM);

- Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố liên quan tới đặc điểm kinh tế - xã hội của

người dân đến mức WTP;

- Đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo tồn Thành CổQuảng Trị, tỉnh Quảng Trị

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Người dân sống ở khu vực xung quanh Thành Cổ Quảng Trị

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian lãnh thổ: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn thị xã Quảng

Trị

Về thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ 2/2014 – 5/2014

4 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

- Số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu đã được công bố về các hoạt động bảo tồnThành Cổ Quảng Trị Các số liệu này được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau

- Số liệu sơ cấp: Tiến hành phỏng vấn người dân thông qua phiếu điều tra nhằmthu thập các thông tin liên quan đến vấn đề quản lý và bảo tồn Thành Cổ Quảng Trị,tỉnh Quảng Trị

5 Phương pháp phân tích

- Phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

- Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM).

6 Hạn chế của nghiên cứu

Hạn chế của bước điều tra thu thập thông tin

Do hạn chế về thời gian thu thập thông tin nên cỡ mẫu điều tra là 92 người, vẫn

chưa đủ lớn vì vậy sai số trong các nghiên cứu là không tránh khỏi Nếu cỡ mẫu lớnhơn thì sai số của các kết quả ước lượng sẽ giảm

Đối tượng trong cuộc điều tra là người dân sống ở khu vực xung quanh Thành

Cổ Quảng Trị, chưa bao gồm khách du lịch đến thăm di tích

Điều tra được tiến hành đối với người dân sống ở khu vực xung quanh Thành

Cổ nhưng những người không quan tâm đến vấn đề bảo tồn di tích hoặc tâm lý khôngmuốn trả lời về những thông tin liên quan đến bản thân nên từ chối phỏng vấn Đâycũng là điều khiến mẫu điều tra thiên lệch về phía những người có ý thức về việc bảotồn di tích hơn

Trong mẫu điều tra, tỷ lệ nam và nữ không cân xứng Chênh lệch giữa hai tỷ lệnày có thể sẽ làm cho kết quả nghiên cứu không tránh được sai số Phân bố về nhómtuổi trong mẫu điều tra không tương tự như phân bố nhóm tuổi ở Việt Nam trong giai

đoạn này

Hạn chế của mô hình

Mô hình đã đưa vào một số yếu tố liên quan đến đặc điểm kinh tế - xã hội của

người dân và hình thức chi trả, giúp giải thích rõ hơn sự thay đổi của WTP

Tuy nhiên, mô hình vẫn còn một số hạn chế, đó là số biến đưa vào mô hình mớichỉ là một phần đặc điểm kinh tế - xã hội của người được phỏng vấn và một số hìnhthức chi trả Nếu có thể đưa thêm các biến khác về các đặc điểm khác của người đượcphỏng vấn, các hình thức chi trả khác, kỹ thuật để thu được mức WTP và các yếu tố

chưa được đề cập đến trong nghiên cứu này thì mô hình sẽ giải thích được nhiều hơntác động của các yếu tố tới mức WTP

Mô hình đưa ra trong nghiên cứu mới chỉ là mô hình tuyến tính (linear) Trongkhi sự phụ thuộc của WTP vào các yếu tố có thể theo mô hình phi tuyến tính (non-

linear) Đây cũng là một hạn chế của mô hình trong nghiên cứu này

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

Tuy cuộc điều tra còn một số hạn chế, nhưng các kết quả cũng phản ánh mộtphần về mức WTP của người dân đối với vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tíchThành Cổ Quảng Trị.

7 Cấu trúc của đề tài

Chương 1 Tổng quan về định giá tài nguyên

Nội dung Chương 1 bao gồm các vấn đề: những phạm trù cơ bản trong định giá

tài nguyên; các phương pháp định giá tài nguyên và phần cuối của chương phân tích

cụ thể phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM)

Chương 2 Thực trạng quản lý và bảo tồn Thành Cổ Quảng Trị, Quảng Trị

Nội dung Chương 2 đi sâu vào các khía cạnh: khái niệm di tích, di tích lịch sửcách mạng, giới thiệu chung về Thành Cổ Quảng Trị; các giá trị của Thành Cổ QuảngTrị; hiện trạng tổ chức quản lý, khai thác và phát triển các tiềm năng của Thành CổQuảng Trị; những vấn đề nổi bật ảnh hưởng đến khu vực Thành Cổ Quảng Trị

Chương 3 Ước lượng mức sẵn lòng chi trả để bảo tồn di tích Thành Cổ Quảng Trị

Nội dung Chương 3 tập trung vào phân tích kết quả điều tra và ước lượng tác

động của các yếu tố ảnh hưởng tới mức WTP qua mô hình hồi quy Phần cuối chươngđưa ra một số kiến nghị về chính sách để tăng cưởng quản lý và bảo tồn di tích Thành

Cổ Quảng Trị

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

- Các công trình kiến trúc, địa điểm có liên quan tới các sự kiện lịch sử hoặcnhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa

- Những đồ vật trong nội thất các công trình kiến trúc (vật dụng cá nhân, đồ tế

tự trong các thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng v.v.)

- Môi trường cảnh quan thiên nhiên xen kẽ hoặc bao quanh di tích

- Những giá trị văn hóa phi vật thể gắn với các công trình, địa điểm đó

1.1.2 Phân loại di tích

Căn cứ vào đặc điểm nội dung và hình thức thì di tích lịch sử văn hóa và danh

lam thắng cảnh được phân ra thành 4 loại:

Một là, di tích lịch sử, bao gồm những công trình, địa điểm gắn với sự kiện lịch

sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; gắn với thân thế và sự nghiệp củaanh hùng dân tộc, danh nhân đất nước, gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời

kỳ cách mạng, kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủtịch Hồ Chí Minh vĩ đại

Hai là, di tích kiến trúc nghệ thuật, bao gồm quần thể các công trình kiến trúchoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của mộthoặc nhiều giai đoạn lịch sử

Ba là, di tích khảo cổ, gồm những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật, đánh dấu

các giai đoạn phát triển của các văn hóa khảo cổ

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

Bốn là, danh lam thắng cảnh, là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kếthợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ cao, hoặc

địa điểm ghi dấu hoạt động của con người trong lịch sử để lại có giá trị về lịch sử, văn

hóa, khoa học

Căn cứ vào giá trị về các mặt lịch sử, văn hóa và khoa học và cấp độ Quản lý,

các di tích lại được chia thành ba loại:

Một, di tích quốc gia đặc biệt, là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốcgia, do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định xếp hạng

Hai, di tích quốc gia, là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, do Bộ trưởng

Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định xếp hạng

Ba, di tích cấp tỉnh thành phố, là di tích có giá trị tiêu biểu trong phạm vi một

địa phương, do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định

sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, cụm từ khái niệm di tích lịch sử cách mạng hoặc

di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến lại được sử dụng khá nhiều - Thí dụ:

- Luật Di sản văn hóa (Điều 59): "Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách cho cáchoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt, bảo tàng quốc gia, bảovật quốc gia, di tích lịch sử cách mạng và di sản văn hóa phi vật thể có giá trị tiêubiểu"

- Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11-11-2002 của Chính phủ quy định chitiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa (Điều 40, khoản 2): "Tổng hợp và

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

cân đối vốn đầu tư hàng năm cho các dự án bảo vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia

đặc biệt, bảo tàng quốc gia, di tích lịch sử cách mạng và di sản văn hóa phi vật thể có

giá trị tiêu biểu"

- Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24-7-2001 của Bộ trưởng Bộ Vănhóa - Thông tin phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch

sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020:

+ Tại phần "Mục tiêu cụ thể": "Đến năm 2010, 50% di tích quốc gia đặc biệt

được Nhà nước đầu tư tu bổ và tôn tạo trong đó ưu tiên các di tích về lịch sử cách

mạng và kháng chiến "

+ Tại mục 2, phần Các giải pháp chủ yếu: "Nguồn vốn thực hiện: Ngân sách

nhà nước tập trung đầu tư cho các di tích lịch sử, di tích cách mạng và kháng chiến "

Từ thực tiễn đó, để thực hiện khóa luận này, tôi xin tạm sử dụng khái niệm "Ditích lịch sử cách mạng" với cách hiểu, đó là những di tích lịch sử - văn hóa mà tiêu chí

để xác định chúng là di tích được quy định tại Điều 28, mục 1, khoản b và khoản c của

Luật Di sản văn hóa Cụ thể:

- Theo Điều 28, mục 1, khoản b, thì những di tích đó là các "Công trình xâydựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất

nước"

- Theo Điều 28, mục 1, khoản c, thì những di tích đó cũng là các "Công trìnhxây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, khángchiến"

Nhìn chung, di tích lịch sử cách mạng không phải là một loại hình di tích riêng,

mà đó chỉ là những di tích thuộc loại hình di tích lịch sử hoặc di tích lịch sử - kiến trúc

nghệ thuật, nhưng giá trị nổi bật của chúng được xác định bởi (các di tích đó) hoặc là

"Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc,danh nhân của đất nước", hoặc là "Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch

sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến"

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

1.2 Những phạm trù cơ bản trong định giá tài nguyên

Định giá tài nguyên và môi trường hay còn gọi là đánh giá giá trị kinh tế của tàinguyên và môi trường là một lĩnh vực ứng dụng của kinh tế môi trường, được phát

triển từ những năm 1980 để phục vụ cho quá trình ra quyết định quản lý tài nguyên và

Định giá tài nguyên và môi trường có nguồn gốc lý thuyết từ kinh tế học phúc

lợi Trên cơ sở đó các nhà kinh tế tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các phương pháp kỹthuật định giá thực nghiệm nhằm áp đặt giá trị tiền tệ lên các dạng hàng hóa, dịch vụnguồn tài nguyên và môi trường

Việc định giá tài nguyên thiên nhiên có vai trò hết sức quan trọng trong việc đo

lường và sử dụng tài nguyên thiên nhiên Qua đó, các cơ quan quản lý tài nguyên vàmôi trường đánh giá được giá trị tài nguyên mang lại và thực hiện chính sách khai thác

một cách có hiệu quả Tầm quan trọng của việc định giá tài nguyên thể hiện bởi những

nguyên nhân sau đây:

- Định giá tài nguyên và môi trường là một cách nhắc nhở chúng ta răng tài

nguyên và môi trường không phải là của cho không

- Cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách giúp họ có được cácquyết định tốt và công bằng hơn; giảm bớt những rủi ro trong quyết định do bỏ quahoặc chỉ đánh giá định tính các tác động môi trường

- Biểu thị đúng đắn hơn các hoạt động kinh tế

- Khôi phục sự cân bằng giữa các tác động có thể lượng hóa và không thể lượnghóa trong phân tích chi phí – lợi ích (CBA)

- Là cơ sở để ban hành và thực hiện chính sách một cách an toàn nhằm có

phương cách sử dụng tài nguyên và môi trường hợp lý, có hiệu quả hơn; ví dụ hỗ trợ

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và người được hưởng lợi phải trả(thuế/ phí môi trường, trợ cấp, ưu đãi, …)

1.2.1 Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên thiên nhiên

Trong lý thuyết kinh tế, tổng giá trị kinh tế của một nguồn tài nguyên (TEV) làtổng của các giá trị sử dụng (Use Values – UV) và các giá trị phi sử dụng (Non-UseValues – NUV) của nguồn tài nguyên Cụ thể:

- Giá trị sử dụng là những lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn tài nguyêntrên thực tế Hoặc cũng có thể hiểu giá trị sử dụng là giá trị mà các cá nhân gắn vớiviệc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ do nguồn tài nguyên cungcấp [9] Ví dụ, con người có thể thu được lợi ích từ gỗ làm củi đốt, dùng cỏ làm thuốc,

đi dạo trong rừng, chiêm ngưỡng cảnh đẹp Giá trị sử dụng bao gồm:

+ Giá trị sử dụng trực tiếp (Direct use value - DUV): là những giá trị mà trongthực tế nó liên quan đến số lượng đầu ra của những hàng hóa chất lượng môi trường

mà người ta có thể xác lập được trên thị trường, có giá trên thị trường Đối với quần xã

thực vật đó là giá trị của gỗ củi thông qua việc thu gom các cành cây gãy, cưa cây sâubệnh, các loại quả, …

+ Giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect use value - IUV): là giá trị kinh tế của dịch

vụ môi trường và chức năng sinh thái mà hệ thống thực vật tạo ra như: duy trì chất

lượng không khí, nước ngầm, hấp thụ cacbon

+ Giá trị lựa chọn (Option value - OV): Là giá trị hiện tại có thể chưa được biết

đến của các loài cây quý hiếm, chức năng sinh thái của quần xã thực vật nhưng trongtương lại chúng có thể ứng dụng trong lĩnh vực giải trí, dược phẩm, nông nghiệp

- Giá trị phi sử dụng là thành phần giá trị của một nguồn tài nguyên thu đượckhông phải do việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ do nguồn tàinguyên cung cấp [9] Hoặc cũng có thể hiểu thành phần giá trị thu được từ những

người không sử dụng nguồn tài nguyên là giá trị phi sử dụng [6] Ví dụ, một cá nhân

có thể hoàn toàn cảm thấy hài lòng khi biết quần thể di tích Đại Nội Huế tồn tại, mặc

dù chưa đến đó bao giờ và có thể chắc chắn người đó sẽ không đến Huế trong tương

lai Giá trị phi sử dụng bao gồm:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

+ Giá trị để lại (Bequest value - BV): Là những giá trị trực tiếp hoặc gián tiếp

để lại cho thế hệ mai sau Ví dụ như: việc đảm bảo chất lượng không khí tốt cho thế hệmai sau, đảm bảo thế hệ mai sau được chiêm ngưỡng các loài cây quý

+ Giá trị tồn tại (Existence value - EV): Là giá trị nội tại đi kèm với sự tồn tạicủa các loài cây mà không kể đến việc sử dụng trực tiếp như ý nghĩa về văn hóa, tâmlinh, thẩm mỹ…

Hình 1.1 Các thành phần giá trị của nguồn tài nguyên

(Nguồn: Munasinghe, 1992)

Tính hữu hình giảm dần

Tổng giá trị kinh tế (TEV)

Giá trị sử dụng (UV)

Giá trị lựachọn(OV)

Giá trị đểlại(BV)

Giá trị tồntại(EV)

năng sinh

thái

Giá trị sửdụng trựctiếp và giántiếp tươnglai

Giá trị sửdụng vàkhông sửdụng cho

tương lai

Giá trị từnhận thức

sự tồn tạicủa tàinguyên

Hệ sinhthái, cácloài bị đedọa

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

P

Theo nguyên tắc, để đo lường TEV các nhà kinh tế học bắt đầu bằng việc phânbiệt giữa giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng, và TEV được khái quát bằng công thứcsau:

TEV = UV + NUV = (DUV + IUV + OV) + (BV + EV)

Mức WTP của các cá nhân biểu hiện một phần giá trị trong tổng giá trị kinh tế

mà họ định giá cho nguồn tài nguyên Phần giá trị đó là thành phần nào còn tùy thuộcvào câu hỏi để tìm hiểu mức WTP Nghiên cứu này đề cập đến một phần giá trị trongcác giá trị không sử dụng của nguồn tài nguyên

1.2.2 Thặng dư tiêu dùng

Một trong những nguyên nhân của thất bại thị trường là giá trị bằng tiền củamột hàng hóa nhiều khi không thế hiện hết tổng giá trị của hàng hóa đó Mọi ngườikhông phải trả tiền cho không khí hít thở hằng ngày Điều đó không có nghĩa giá trịcủa không khí bằng không Trên thực tế, giá trị kinh tế của không khí lớn hơn nhiều sovới con số không này

Hình 1.2 Mức sẵn lòng chi trả và thặng dư tiêu dùng

Chênh lệch giữa tổng thỏa dụng (Utility – U) của một hàng hóa và tổng giá trịthị trường của hàng hóa đó gọi là thặng dư tiêu dùng (Consumer Surplus - CS) Trên

(b)(a)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

Hình 1.2, thặng dư tiêu dùng đối với hàng hóa G ở mức giá cân bằng P*, sản lượngcân bằng Q* được biểu diễn bằng diện tích (a) Thặng dư này phát sinh là vì “ngườitiêu dùng nhận được nhiều hơn cái mà họ trả” do quy luật độ thỏa dụng biên giảm dần.

Người tiêu dùng được hưởng thặng dư tiêu dùng chủ yếu là vì họ chỉ phải trả

một lượng tiền như nhau cho mỗi đơn vị hàng hóa mà họ mua, từ đơn vị đầu tiên cho

đến đơn vị cuối cùng Giá của một đơn vị hàng hóa ở đây đúng bằng giá trị của đơn vị

cuối cùng Nhưng theo quy luật cơ bản về độ thỏa dụng biên giảm dần thì độ thỏa

dụng của người tiêu dùng đối với các đơn vị hàng hóa là giảm dần từ đơn vị đầu tiên

cho đến đơn vị cuối cùng Vì thế, người tiêu dùng được hưởng độ thỏa dụng thặng dưđối với mỗi đơn vị hàng hóa đứng trước đơn vị cuối cùng mà người đó mua [3]

1.2.3 Mức sẵn lòng chi trả

Mức WTP thực chất phản ánh sở thích tiêu dùng của khách hàng Thông

thường khách hàng thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ mà họ tiêu dùng thông qua

giá thị trường (Market Price – MP) Nhưng cũng có trường hợp khách hàng tự nguyệnhay chấp nhận trả giá cao hơn giá thị trường và mức họ sẵn lòng chi trả cũng khácnhau Có nghĩa là lợi ích mà họ nhận được cao hơn cả mức chỉ số thị trường WTP là

thước đo của sự thỏa mãn hay độ thỏa dụng, và WTP cho đơn vị cận biên giảm xuống

khi khối lượng tiêu dùng tăng Đây chính là quy luật độ thỏa dụng biên giảm dần Vìvậy, đường cầu thường được mô tả như là đường “sẵn lòng chi trả” Những điểm mấuchốt ở đây là: WTP cũng là thước đo lợi ích và do vậy, đường cầu tạo ra cơ sở choviệc xác định lợi ích cho xã hội từ tiêu dùng hay mua sắm một hàng hóa nhất định.Vùng nằm dưới đường cầu đo lường giá trị tổng của WTP Mối quan hệ giữa WTP,

MP và CS được thể hiện trong biểu thức:

Trang 22

Trong Hình 1.2, giá thị trường ở mức cân bằng đối với một hàng hóa G được

xác định bởi quan hệ cung cầu là P* và được áp dụng cho tất cả mọi người Tuy nhiên,

một cá nhân A có thể sẵn lòng chi trả ở mức giá Pacao hơn so với P* Tổng lợi ích mà

cá nhân A nhận được ở đây thực tế là toàn bộ phần diện tích (a) và (b) nằm dưới

đường cầu D Diện tích (a) là thặng dư tiêu dùng của cá nhân A, diện tích (b) là tổng

chi phí mà cá nhân A trả cho hàng hóa G

Giá trị tiền tệ của một nguồn tài nguyên thiên nhiên được xác định dựa trên giátrị thể hiện bằng tiền tệ mà các cá nhân đưa ra Mức cao nhất mà một cá nhân sẵn lòngchi trả để thu được một lợi ích hoặc tránh một thiệt hại của môi trường trong hầu hếtcác tình huống phản ánh mức độ ưa thích đối với lợi ích hoặc thiệt hại đó Sự ưa thíchnày lại dựa trên giá trị mà cá nhân đó gắn với các hàng hóa có liên quan Mức mà họsẵn lòng chi trả cao nhất có thể được xem như sự thể hiện mức định giá của cá nhân

đó Trong một thị trường giả định, các cá nhân được hỏi về mức tiền cho các loại hàng

hóa và dịch vụ môi trường khác nhau dựa trên những thông tin mà họ được cung cấp.Mức tiền cao nhất mà họ sẵn lòng chi trả cho hàng hóa và dịch vụ này chính là WTPcủa cá nhân đó đối với hàng hóa dịch vụ đưa ra

Nhiều hàng hóa môi trường là những hàng hóa công cộng hoặc nửa công cộng,

do vậy mà không có thị trường Khi đó, hiển nhiên là không cso giá thị trường liên

quan đến WTP cao nhất của một cá nhân Trong trường hợp này, không có thước đo

giá trị mà các cá nhân gắn với hàng hóa nói trên Để đánh giá WTP của các cá nhân,nghĩa là để tìm hiểu thước đo bằng tiền tệ của giá trị mà các cá nhân gắn với một hànghóa không có thị trường, cần phải sử dụng nhiều phương tiện khác nhau Đó là những

phương tiện và kỹ thuật của các phương pháp định giá tài nguyên

1.3 Các phương pháp định giá tài nguyên

1.3.1 Các phương pháp không dùng đường cầu

Phương pháp này không thể cung cấp những thông tin đánh giá và các đo lường

phúc lợi “thực” Tuy nhiên, phương pháp này là công cụ hữu ích để thẩm định chi phí,lợi ích của các dự án, chính sách

- Phương pháp thay đổi năng suất (Changes in Productivity)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

Phương pháp này được sử dụng khi có những thay đổi sản lượng do tác động

của môi trường để xác định giá trị kinh tế của sự thay đổi Nếu tác động môi trường có

ảnh hưởng bất lợi tới sản lượng, giá trị sản lượng giảm là chi phí đối với xã hội.Ngược lại, nếu tác động môi trường ảnh hưởng tích cực tới sản lượng thì giá trị sảnlượng tăng là lợi ích cho xã hội

- Phương pháp chi phí thay thế (Substitue Cost Method)

Khi con người chịu tác động bất lợi trực tiếp từ việc chất lượng môi trường bị

suy giảm, con người sử dụng một số biện pháp nhằm loại bỏ những tác động bất lợi

đó

- Phương pháp chi phí phòng ngừa (Preventive Cost Method)

Trong nhiều trường hợp, người ta phải bỏ nhiều tiền để tránh các thiệt hại cóthể nhìn thấy được Các chi phí phòng ngừa thường là chỉ số nhỏ hơn chi phí thực (nếuxảy ra), vì các chi phí phòng ngừa bao giờ cũng bị hạn chế bởi mức thu nhập

- Phương pháp chi phí y tế (Cost of illness)

Trong nhiều trường hợp, thay đổi về chất lượng môi trường có ảnh hưởng tớisức khỏe của con người, ảnh hưởng này có thể dẫn tới những hậu quả làm phát sinhchi phí Các chi phí mà cá nhân bị ảnh hưởng phải chịu như chi phí y tế, chi phí chămsóc sức khỏe, chi phí do nghỉ việc, năng suất lao động giảm trong những ngày ốm Khicác cá nhân phải trả tiền viện phí, tiền thuốc và các khoản chi phí khác để chữa bệnh,các khoản chi phí này có thể được sử dụng làm cơ sở ước tính ảnh hưởng bất lợi vềtình trạng sức khỏe do sự suy giảm chất lượng môi trường gây ra

1.3.2 Các phương pháp định giá sử dụng đường cầu

- Phương pháp đo lường mức thỏa dụng (Hedonic Pricing Method)

Phương pháp này cho biết, giá của một số mặt hàng có thể bị ảnh hưởng bởi

chất lượng môi trường

- Phương pháp chi phí du lịch (Travel Cost Method)

Phương pháp này được sử dụng thường xuyên nhất khi tiến hành đánh giá kinh

tế các địa điểm thường được du khách tới thăm Trong những trường hợp như vậy, giá

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

vé vào cửa các địa điểm du lịch không thể là cơ sở đúng để đánh giá việc du khách cósẵn lòng chi trả đến thăm hay không vì giá vé thường rất rẻ Tuy nhiên có thể áp dụngtổng số chi phí mà khách du lịch sẵn sàng trả cho cả chuyến du lịch để được tới địa

điểm đó

- Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Value Method)

Ngoài các phương pháp được liệt kê ở trên còn một số các phương pháp khác

cũng được sử dụng để đánh giá kinh tế các tác động môi trường như: phương pháp vốnnhân lực, phương pháp chi phí cơ hội, phương pháp tính thiệt hại về thu nhập, mô hìnhlựa chọn, …

1.4 Phương pháp định giá ngẫu nhiên

1.4.1 Cơ sở lý thuyết

Trong phần trước, WTP hay nhu cầu về một loại hàng hóa nhất định phản ánhlợi ích của người tiêu dùng khi mua sản phẩm Diện tích này nằm dưới đường cầu củamột loại hàng hóa là thước đo các lợi ích do hàng hóa đó mang lại Nếu bằng cách nào

đó có thể xác định được đường cầu thì sẽ có thể định lượng được lợi ích của hàng hóa.Tuy nhiên, khó khăn ở chỗ đường cầu của các hàng hóa môi trường không thể dễ dàngxác định trực tiếp như với các hàng hóa khác nhờ sử dụng các thông tin thị trường

CVM là một phương pháp cho phép ước lượng giá trị của một hàng hóa và dịch

vụ môi trường Tên của phương pháp này bắt nguồn từ câu trả lời ngẫu nhiên đối vớimột câu hỏi định giá dựa trên việc mô tả thị trường giả định cho người được hỏi [8].CVM lần đầu tiên được Davis (1963) đưa ra để ước lượng lợi ích của giải trí ngoài trời[5]

Phương pháp này được tiến hành bằng cách hỏi các cá nhân có liên quan trực

tiếp hoặc gián tiếp tới hàng hóa hoặc dịch vụ môi trường Những cá nhân này sẽ đượchỏi về mức WTP của họ cho một sự thay đổi trong cung cấp một hàng hóa và dịch vụ

môi trường, thông thường bằng cách sử dụng phiếu điều tra, hoặc qua các kỹ thuật thí

nghiệm WTP lớn nhất của cá nhân để bù đắp cho một sự thay đổi môi trường như đã

nói trên được coi là một phần giá trị mà cá nhân đó định giá về sự thay đổi này Về

thực chất, CVM tạo ra một thị trường giả định trong đó các cá nhân trong mẫu điều tra

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

được coi như là các tác nhân tham gia vào thị trường đó Các tác nhân thị trường này

có thể là người sử dụng hay người không sử dụng nguồn tài nguyên

Thông thường có hai giả định về thay đổi trong hàng hóa môi trường Nếu môitrường được cải thiện, các cá nhân sẽ được hỏi họ có sẵn lòng chi trả để có được sự cải

thiện đó hay không, và nếu có thì WTP đối với giả định là bao nhiêu Nếu môi trường

bị thiệt hại, ngược lại với trường hợp trên, các cá nhân sẽ được hỏi họ có sẵn lòng chitrả để tránh khỏi thiệt hại về môi trường đó hay không, và nếu có mức WTP tương ứng

là bao nhiêu

Cơ sở hành vi của CVM (chính xác hơn, của dạng chọn lựa rời rạc) chính là

thuyết độ thỏa dụng ngẫu nhiên (Random Utility Theory – RUT) Thuyết này cho rằngxác suất của việc một cá nhân lựa chọn một hàng hóa trong một nhóm các hàng hóaphụ thuộc vào độ thỏa dụng U của hàng hóa đó so với độ thỏa dụng của hàng hóa khác(Morrison và cộng sự, 1996) Nói cách khác, cá nhân q sẽ chọn phương án i thay vì jkhi và chỉ khi Uiq>Uịj(i ≠ j A), trong đó A là tập hợp các lựa chọn.

Trong RUT, độ thỏa dụng của một hàng hóa được cho là phụ thuộc vào các

thành tốt quan sát được như véc tơ của các thuộc tính của hàng hóa (x) và đặc điểm cánhân (s), cũng như các thành tố không quan sát được (e) Các thành tố (e) được xử lý

như là các đại lượng ngẫu nhiên, và được giả định là tuân theo quy luật phân bố nào

đó Độ thỏa dụng của một hàng hóa i có thể được thể hiện như sau:

Trang 26

Trong đó

xác suấtxác suất lựa chọn phương án i thay vì j trong tập hợpTheo cách thể hiện này, xác suất mà một cá nhân chọn i thay vì j tương đương

với xác suất của độ thỏa dụng đã định ( ) cộng với độ thỏa dụng ngẫu nhiên (e) đối

với i lớn hơn đối với j.

Bằng cách biến đổi biểu thức (1.2), xác suất mà một cá nhân ngẫu nhiên từ mẫunghiên cứu sẽ chọn phương án i tương đương với xác suất mà hiệu số giữa độ thỏa

dụng ngẫu nhiên của i và j nhỏ hơn hiệu số giữa độ thỏa dụng đã định của i và j:

(1.3)WTP của người được điều tra có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hoặc biếnkhác nhau Chúng bao gồm các đặc điểm về kinh tế xã hội của người được hỏi như thunhập (w), tuổi (a), trình độ học vấn (e) và một số biến đo lường “số lượng” của chất

lượng môi trường (q) [7]

1.4.2 Trình tự phương pháp định giá ngẫu nhiên

Để tìm hiểu WTP của các cá nhân đối với một thay đổi trong hàng hóa và dịch

vụ môi trường, cần triển khai các bước sau:

(1) Mô tả viễn cảnh và giải thích những ảnh hưởng do những thay đổi trongviệc cung cấp hàng hóa và dịch vụ môi trường;

(2) Người được hỏi sẽ được yêu cầu xem xét những hoàn cảnh đưa ra trong đó

có các lựa chọn liên quan đến hàng hóa và dịch vụ môi trường;

(3) Dựa vào những thông tin được cung cấp ở trên, người được hỏi được yêucầu để cung cấp ý kiến có liên quan đến WTP của họ, từ đó có thể suy ra phần giá trịgắn với sự thay đổi cung cấp hàng hóa dịch vụ đã đưa ra trong câu hỏi

Một số kỹ thuật để tìm hiểu mức WTP từ người được phỏng vấn dùng trongphiếu điều tra là:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

- Open question (Câu hỏi mở): cho phép mỗi người tự do trả lời mức sẵn lòngtrả Điều này gây khó khăn cho người được hỏi về WTP và cho phép tự do trả lời nên

người ta tạo sự sai lệch cố ý

- Bidding game (Trò đấu thầu): phỏng vấn viên đưa ra mức giá ngày càng cao

cho người trả lời cho đến khi người trả lời đạt mức sẵn lòng trả tối đa của chính họ

- Payment card (Thẻ thanh toán): đưa một loạt các mức giá được viết lên thẻ và

người trả lời được yêu cầu chọn một mức giá

- Close-ended referendum (lựa chọn lưỡng phân): Câu trả lời là Có hoặc KhôngTrong nghiên cứu này về mức WTP cho bảo tồn và phát triển di tích Thành CổQuảng Trị có sử dụng câu hỏi mở cho lần điều tra thử để xác định giới hạn WTP củacác cá nhân Khi tiến hành điều tra để lấy số liệu dùng cho phân tích, kỹ thuật được sửdụng là trò đấu thầu và thẻ thanh toán

1.4.3 Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp định giá ngẫu nhiên

Ưu điểm

Ưu điểm lớn nhất của CVM so với một số phương pháp định giá tài nguyên

khác là về mặt lý thuyết, phương pháp này có thể áp dụng để định giá tất cả các loạihàng hóa và dịch vụ Đối với những hàng hóa và dịch vụ có thị trường, có thể định giámột cách dễ dàng qua giá trên thị trường Song đa số hàng hóa và dịch vụ môi trườnglại là hàng hóa công cộng hoặc nửa công cộng, vì vậy để định giá cần phải có các

phương pháp riêng CVM là một phương pháp được sử dụng khi định giá hàng hóa và

dịch vụ môi trường, vì phương pháp này được tiến hành bằng cách tạo ra một thị

trường giả định Từ đó, các nhà phân tích có thể xác định giá trị của hàng hóa và dịch

vụ môi trường qua việc xem xét thái độ và hành vi của các cá nhân trong thị trườnggiả định này

Tuy có nhiều phương pháp khác như phương pháp chi phí du lịch (TCM) cũng

được sử dụng trong định giá tài nguyên, nhưng CVM là phương pháp duy nhất có thểđịnh giá các giá trị không sử dụng của hàng hóa và dịch vụ môi trường Các giá trị

không sử dụng này có thể chiếm tới 35 đến 70% tổng giá trị của một tài nguyên [14],[15], [16]

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

Một ưu điểm nữa của phương pháp này nằm ở chỗ trong các trường hợp đơngiản, không cần thiết phải có một khối lượng dữ liệu lớn như các phương pháp khác.

Số liệu này có thể được thu thập dưới nhiều mức độ phức tạp khác nhau tùy thuộc vàothời gian và nguồn tài chính cho phép để nghiên cứu, và các kỹ thuật sử dụng để thu

được các phần giá trị

Như vậy CVM là một phương pháp thích hợp cho những nghiên cứu liên quanđến hàng hóa và dịch vụ môi trường

Hạn chế

Bên cạnh những điểm mạnh của CVM so với các phương pháp định giá khác,

phương pháp này cũng còn một số hạn chế Những hạn chế này liên quan đến tínhchính xác và độ tin cậy trong kết quả về sự ưa thích của người tiêu dùng

Bởi vì CVM không phân tích những hành động thực tế, câu hỏi quan trọng nhấtlại liên quan đến độ chính xác trong việc tái tạo các điều kiện của thế giới thực, điềutra dựa trên thị trường giả định, vì thế người được hỏi sẽ có ít kinh nghiệm khi quyết

định một cách rõ ràng về giá trị của hàng hóa môi trường Khả năng ứng dụng của nó

phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức, hành vi, thái độ, quan điểm về tài nguyên được

định giá và mức sống của người được phỏng vấn.Khi người được hỏi không sử dụnghay không được lợi từ một tài nguyên, họ có thể không đưa ra WTP cho tài nguyên đó

Một số hạn chế khác của CVM liên quan đến những thiên lệch vốn có trong các

kỹ thuật, chủ yếu là thiên lệch chiến lược, do điểm xuất phát, do cơ chế thanh toán, dothông tin và thiên lệch tính chất lý thuyết Tuy nhiên những thiên lệch này có thể đượckhắc phục bằng cách kết hợp các kỹ thuật đã nêu trong khi điều tra [10]

CVM tuy còn một số hạn chế, song có thể khắc phục bằng nhiều cách khácnhau Nghiên cứu này đã kết hợp các kỹ thuật khác nhau để tìm hiểu mức WTP từ

người dân để khắc phục phần nào nhược điểm từ các kỹ thuật để tìm hiểu mức WTP

1.4.4 Thực tiễn áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên tại Việt Nam

Nguyễn Thị Hải và Trần Đức Thành (1999) đã sử dụng CVM để tìm hiểu mứcWTP của khách du lịch cho những cải thiện các con đường và khu bảo vệ dành cho

động vật hoang dã của Vườn quốc gia Cúc Phương Điều tra được tiến hành từ tháng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

10 năm 1996 đến tháng 1 năm 1997, và đã thu được 253 phiếu dùng cho phân tích về

mức WTP Kết quả cho thấy mức WTP của một khách quốc tế là 119.167 đồng, củamột khách nội địa là 13.270 đồng, và các yếu tố ảnh hưởng tới mức WTP ở đây là thunhập và trình độ học vấn [12]

Hai tác giả Phạm Khánh Nam và Trần Võ Hùng Sơn (2001) đã tìm hiểu WTPcho việc thành lập vùng biển được bảo vệ ở vịnh Nha Trang đảo Hòn Mun[13]

Việc áp dụng CVM ở Việt Nam còn gặp một số khó khăn Đó là phương phápnày còn chưa được sử dụng phổ biến, việc tiến hành điều tra xã hội đối với người dâncòn gặp nhiều trở ngại do người được phỏng vấn không quen với các loại điều tra xãhội học WTP đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, còn thấp do phụ thuộc vàomột sô yếu tố như nhận thức của người dân về các hàng hóa môi trường, thu nhập,giáo dục

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN THÀNH CỔ QUẢNG

và đường thủy đi nội tỉnh qua các huyện từ biển Cửa Việt

Thành Cổ được đặt trên vùng đất tương đối cao ráo và bằng phẳng, tiếp giápcác dãy đồi thấp ở phía Nam và Tây Nam (thuộc các xã Hải Phú, Hải Lệ), gần với

vùng đồng bằng (thuộc các xã Triệu Thành, Hải Quy, Hải Thượng) Khu vực nàytrước đây là địa phận thuộc các làng Thạch Hãn, Cổ Vưu (Trí Bưu) và Cổ Thành (nay

thuộc Phường 2, thị xã Quảng Trị)

Nằm trong khu vực gió mùa nóng và ẩm, đặc biệt nơi đây về mùa hè có gió lào,

vì vậy hệ thực vật của Thành Cổ chịu chung ảnh hưởng này Về mùa mưa có gió mùa

Đông Bắc thổi từ phía Bắc vào Nhiệt độ trung bình hằng năm vào khoảng 250c

Lượng mưa trung bình khoảng 2000mm/Hg

2.1.2 Lịch sử xây dựng

Năm 1809, một năm sau khi dinh Quảng Trị trở thành dinh trực lệ Kinh sư

(cùng với Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Đức), nhận thấy vị trí đóng lỵ sở của dinhQuảng Trị tại Ái Tử - Trà Liên không được đắc địa, khó có thể hội đủ các điều kiện đểtrở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội cho một vùng trực lệ Kinh sư nên vuaGia Long cho chuyển lỵ sở dinh Quảng Trị về xã Thạch Hãn, huyện Hải Lăng

Quyết định chuyển lỵ sở dinh Quảng Trị từ Ái Tử - Trà Liên về Thạch Hãn củaGia Long là một sách lược đúng đắn, kịp thời và hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh lịch

sử lúc bấy giờ Tuy nhiên, công việc quy hoạch, xây đắp thành lũy để biến nơi đâythành một trung tâm hành chính, chính trị và quân sự lại là một quá trình kéo dài gần

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

28 năm (1809 – 1837) Bắt đầu từ thời Gia Long đến thời Minh Mạng, lịch sử xây

dựng thành Quảng Trị trải qua 3 giai đoạn

Giai đoạn thứ nhất (1809 – 1832) bao gồm công việc di chuyển lỵ sở, quy

hoạch và xây dựng Việc đầu tiên Gia Long cho tiến hành là chọn địa điểm, mở đườngcái quan và thực hiện đền bù, di dời dân để giải phóng mặt bằng xây dựng

Địa điểm được chọn để đặt lỵ sở mới của dinh Quảng Trị nằm giữa hai làng CổVưu và Thạch Hãn Khu vực này vốn là đất canh tác nông nghiệp, đất thổ cư được một

nhóm dân Việt khai thác từ nửa cuối thế kỷ XV trên nền tảng của một làng Chăm Khixây dựng lỵ sở, đất đai mở vào làng Thạch Hãn chiếm hết 2/3 trong tổng số diện tích

được sử dụng Mặt khác, Thạch Hãn cũng là nơi đường quan báo (đường Thiên lý) đi

ngang qua nên công việc quy hoạch xây dựng lỵ sở về cơ bản nằm trên khu vực đất

đai của làng này

Thời điểm cụ thể của việc xây dựng dinh lũy có lẽ được bắt đầu từ trước tháng

3 (Âm lịch) năm 1809 với lực lượng nhân công tại chỗ và được đặt dưới sự điều hànhcủa quan Lưu thủ dinh Quảng Trị là Nguyễn Cửu An Ngày Ất hợi, tháng 3 năm ấy,

Gia Long thân hành đến thành Quảng Trị, xem quân dân xây đắp lỵ sở, bàn bạc tình

thế với các quan sở tại rồi lưu lại 6 ngày mới hồi loan

Giai đoạn thứ hai (1832 – 1837): có thể được coi là thời kỳ củng cố, nâng cấp

và mở rộng quy mô dinh lũy Năm Quý Tỵ - Minh Mạng thứ 14 (1833), vua lệnh chonâng cấp và mở rộng quy mô của thành Quảng Trị Lần này, không rõ thời gian tiến

hành trong bao lâu, nhưng quy mô của thành theo Đại Nam thực lục thì được mở rộng

thêm cả về ba phía “Mặt trước đắp rộng thêm 33 trượng, mặt tả và mặt hữu đều rộng

thêm 16 trượng 5 thước, mặt sau để như cũ”

Trên cơ sở của 4 mặt thành đã được Gia Long cho đắp năm 1809, vua Minh

Mạng cho tiến hành mở rộng mặt trước thêm 33 trượng và hai mặt tả, hữu thêm 16

trượng 5 thước, còn giữ nguyên chiều dài của mặt sau Căn cứ vào nội dung chỉ dụ của

Minh Mạng để thực hiện việc mở rộng kiến trúc tòa thành thì có thể nhận thấy diệnmạo cấu trúc của công trình thành Quảng Trị về cơ bản đã được xác lập kể từ sau lần

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

đắp thứ hai Đồng thời, với kích thước được mở rộng của mặt trước thành kích thướcđược mở rộng về cả hai bên đã làm cho tòa thành được tạo thành hình vuông.

Mặt khác, có thể thấy ngay là phải đến lần đắp thành thứ hai dưới thời MinhMạng thì hệ thống hào thành xung quanh mới được đào hoàn chỉnh Bởi vì nếu khôngphải vậy thì việc mở rộng quy mô thành về ba phía tiền, tả, hữu vào năm 1883 khó cóthể thực hiện khi hệ thống hào thành đã được định hình từ lần đắp năm 1809 Vì thế,

sau khi xây đắp thành xong, cũng trong năm 1883, chuẩn y lời tâu của quan Tuần phủ

Quảng Trị, Minh Mạng cho khai đào một đường hầm dài 48 trượng nối từ góc ĐôngBắc của thành thông với sông Thạch Hãn để thoát nước từ phía hệ thống hào thànhvào sông Thạch Hãn

Giai đoạn thứ ba (1837 về sau) là thời kỳ hoàn thiện và kiên cố hóa kiến trúc

thành lũy Từ cấu trúc của hình dạng tòa thành đất đã được hoàn chỉnh trong lần đắp

năm 1883 theo lối kiến trúc Vauban, mùa xuân năm 1837, vua Minh Mạng chủ trương

cho xây thành Quảng Trị bằng gạch

Việc xây đắp thành Quảng Trị lần này được huy động với số nhân công tương

đối lớn (4.000 người) Lực lượng này phần lớn là dân binh trong địa hạt nhưng chắc

chắn có sự bổ sung của các tỉnh lân cận Các loại nguyên vật liệu phục vụ cho việc xây

thành như gạch, mật mía, vô hàu đều được sử dụng chính từ nguồn của địa phương;

một số loại khác như đá xây cổng thành thì được triều đình cho vận chuyển từ nơi

khác đến Và mặc dù quy mô không lớn so với nhiều tỉnh thành khác nhưng do đượcđặt dưới sự chỉ đạo và giám sát của triều đinh nên chỉ trong vòng hai tháng thì công

việc hoàn tất

Khối lượng công việc được Minh Mạng cho thực hiện trong lần xây đắp vào

năm 1837 có thể nhận thấy về cơ bản là toàn bộ những gì vốn có như diện mạo kiến

trúc của thành Quảng Trị trước khi bị bom đạn chiến tranh tàn phá năm 1972 Vì rằng

từ đó về sau hình dạng tòa thành không có gì thay đổi Tức là bao gồm một tòa thành

được xây bằng gạch có kiến trúc theo lối Vauban, với hình dạng vuông, thân thành 4

mặt, bốn góc có 4 pháo đài; có 4 cửa ra vào; bao xung quanh là hệ thống hào thành và

trước mỗi cổng thành đều có xây ra một chiếc cầu bắc qua

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

Từ khi thành được xây xong, các công trình kiến trúc bên trong như: hànhcung, cột cờ, các cơ quan thuộc công đường Quảng Trị như ty phiên, ty niết, nhà kiểmhọc, trại lính… đã được lần lượt xây dựng trên cơ sở mở rộng, nâng cấp và kiên cốhóa vào những năm sau đó Bên ngoài thành, mạng lưới đường quan cũng được chínhquyền sở tại cho mở mang Chợ Sãi và chợ Thạch Hãn được nâng cấp cùng với nhiềucửa hiệu buôn bán của các thương nhân người Hoa và người Việt được thiết lập đãlàm cho bộ mặt trung tâm tỉnh lỵ bắt đầu khởi sắc, hội đủ các điều kiện để hình thànhmột thị tứ Đây là nền tảng thuận lợi để người Pháp tiếp tục chọn khu vực này làmtrung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị và quyết định thành lập thị xã đầu tiên của tỉnhvào ngày 17-2-1906.

Như vậy, việc chuyển trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của tỉnh Quảng Trị từ

làng Ái Tử - Trà Liên về Thạch Hãn và xây dựng lại bằng gạch kiên cố đã chứng tỏngoài những lý do về chiến lược quân sự, nhà Nguyễn đã rất chú ý đến vị trí của lỵ sởQuảng Trị mà thành Quảng Trị là hạt nhân trong việc xây dựng, phát triển về mặt kinh

tế, văn hóa đối với vùng đất nằm cạnh kinh đô trong mối tương quan với kinh thànhHuế và các tỉnh thành khác Với thời gian tồn tại của mình cho đến hiện nay, thànhQuảng Trị có 27 năm được đắp tạm thời bằng đất, 135 năm được tạo dựng kiên cốbằng gạch (kể từ năm 1837 đến trước khi bị tàn phá vào năm 1972) và còn lại là quãngthời gian có cả sự hoang phế lẫn công việc phục hồi, tái thiết mới

Quá trình xây dựng của thành Quảng Trị từ khi khởi công dưới thời Gia Long

đến khi hoàn thiện dưới thời Minh Mạng kéo dài trong gần 28 năm (1809 – 1837) với

3 giai đoạn; nhưng lịch sử hình thành và phát triển của trung tâm chính trị, hành chính,

quân sự này là cả một chặng đường đầy biến động thăng trầm

2.2 Các giá trị của Thành Cổ Quảng Trị

Văn hóa

Ở đây lưu giữ những nét văn hóa, kiến trúc cổ của nhà Nguyễn, lưu lại những

công lao to lớn của ông cha ta khi xây dựng nên nơi này Tuy đã bị tàn phá bởi chiếntranh và thời gian, nhưng hiện nay nhà nước đang tập trung đầu tư tôn tạo và tái hiệnlại những đặc trưng vốn có của nó Hàng chục năm qua, sự nghiệp bảo tồn, phát huy

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

giá trị di sản văn hoá luôn song hành với việc xây dựng và phát triển thị xã Nếu nhưcác hoạt động quy hoạch, đầu tư, tôn tạo, phát huy giá trị di tích đã dần dần biếnThành Cổ thành một địa điểm để tri ân, tưởng niệm và tôn vinh về chủ nghĩa yêu

nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng thì việc quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ

tầng kinh tế, xã hội, công trình văn hoá mang dấu ấn tưởng niệm và các hoạt động lễhội đã làm cho thị xã Quảng Trị trở thành nơi để ngưỡng vọng và tri ân của bạn bè vànhân dân cả nước; đáp ứng được nhu cầu của “Du lịch Về nguồn”, “Du lịch Hoàiniệm” và “Du lịch Tâm linh”

Lịch sử

Cuộc chiến đấu chống phản kích tái chiến, bảo vệ Thành Cổ và thị xã QuảngTrị là một bản anh hùng ca bất tử ghi vào lịch sử dân tộc một trang sử vàng chói lọitrong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước Thành Cổ QuảngTrị là địa điểm ghi dấu chiến công hiển hách của cán bộ chiến sĩ và đồng bào QuảngTrị trong những trận chiến đấu đẫm máu năm 1972; đồng thời, đây cũng là nơi để

tưởng niệm tri ân những mất mát, hi sinh của quân và dân Quảng Trị nói riêng, củađồng bào cả nước nói chung

Du lịch

Ngày nay, Thành Cổ Quảng Trị là địa điểm thu hút lượng khách du lịch rất lớncủa tỉnh Quảng Trị Năm 2013, lượng khách du lịch thăm quan Thành Cổ Quảng Trị là160.460 khách với tháng 7/2013 có lượng khách là 29.708 khách Lượng khách tậptrung chủ yếu vào khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 8

Trường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 19/10/2016, 10:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[5]. Davis, R. (1963), Recreation planning as an economic problem, Natural Resources Journal 3(2): 239-249 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recreation planning as an economic problem
Tác giả: Davis, R
Năm: 1963
[6]. Freeman III, A. Myrick (1993), Nonuse Values in Natural Resource Damage Assesment, Resources for the Nature, Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nonuse Values in Natural ResourceDamage Assesment
Tác giả: Freeman III, A. Myrick
Năm: 1993
[1]. Nguyễn Thế Chinh (Chủ biên) (2003), Giáo trình kinh tế và quản lý môi trường, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
[2]. Nguyễn Quang Dong (2001), Bài giảng Kinh tế lượng, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
[3]. Samuelson, Paul A. Và William D. Norhaus (2002), Kinh tế học, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
[4]. Trung tâm bảo tồn di tích và danh thắng tỉnh Quảng Trị (2013), Thành Cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972, Quảng Trị.B. Tài liệu tiếng Anh Khác
[7]. Hanley, Nick và Clive L. Spash (1993), Cost-Benefit Analysis and the Enviroment, Edward Elgar Khác
[8]. Johansson, Per-Olov (1993), Cost-benefit analysis of enviromental change, Cambridge Univesity Press Khác
[9]. Kopp, Raymond J. và V. Kerry Smith (1993), Valuing Natural Assets – The Economics of Natural Resource Damage Assesment, Resources for the Future, Washington, D.C Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Các thành phần giá trị của nguồn tài nguyên - Bước đầu xác định giá trị bảo tồn khu vực thành cổ quảng trị, quảng trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên
Hình 1.1. Các thành phần giá trị của nguồn tài nguyên (Trang 19)
Hình 1.2. Mức sẵn lòng chi trả và thặng dư tiêu dùng - Bước đầu xác định giá trị bảo tồn khu vực thành cổ quảng trị, quảng trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên
Hình 1.2. Mức sẵn lòng chi trả và thặng dư tiêu dùng (Trang 20)
Bảng 3.1. Số lần tới Thành Cổ Quảng Trị trong một năm của người dân sống ở - Bước đầu xác định giá trị bảo tồn khu vực thành cổ quảng trị, quảng trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên
Bảng 3.1. Số lần tới Thành Cổ Quảng Trị trong một năm của người dân sống ở (Trang 42)
Hình 3.1. Tuổi của người dân - Bước đầu xác định giá trị bảo tồn khu vực thành cổ quảng trị, quảng trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên
Hình 3.1. Tuổi của người dân (Trang 43)
Hình 3.2. Trình độ học vấn của người dân - Bước đầu xác định giá trị bảo tồn khu vực thành cổ quảng trị, quảng trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên
Hình 3.2. Trình độ học vấn của người dân (Trang 44)
Bảng 3.2 cho thấy, phần lớn người dân được phỏng vấn làm nghề kinh doanh, chiếm 22,83% trên tổng số 92 người được phỏng vấn - Bước đầu xác định giá trị bảo tồn khu vực thành cổ quảng trị, quảng trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên
Bảng 3.2 cho thấy, phần lớn người dân được phỏng vấn làm nghề kinh doanh, chiếm 22,83% trên tổng số 92 người được phỏng vấn (Trang 45)
Bảng 3.3. Mức sẵn lòng chi trả của người dân sống ở khu vực xung quanh Thành - Bước đầu xác định giá trị bảo tồn khu vực thành cổ quảng trị, quảng trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên
Bảng 3.3. Mức sẵn lòng chi trả của người dân sống ở khu vực xung quanh Thành (Trang 46)
Bảng 3.4. Lý do đồng ý sẵn lòng chi trả - Bước đầu xác định giá trị bảo tồn khu vực thành cổ quảng trị, quảng trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên
Bảng 3.4. Lý do đồng ý sẵn lòng chi trả (Trang 48)
Hình thức chi trả được chọn nhiều nhất là đóng góp thông qua Quỹ bảo tồn của Thành Cổ Quảng Trị - Bước đầu xác định giá trị bảo tồn khu vực thành cổ quảng trị, quảng trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên
Hình th ức chi trả được chọn nhiều nhất là đóng góp thông qua Quỹ bảo tồn của Thành Cổ Quảng Trị (Trang 49)
Hình 3.4. Đồ thị P-P về tính phân phối chuẩn của biến phụ thuộc WTP - Bước đầu xác định giá trị bảo tồn khu vực thành cổ quảng trị, quảng trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên
Hình 3.4. Đồ thị P-P về tính phân phối chuẩn của biến phụ thuộc WTP (Trang 52)
Bảng 3.7. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy WTP theo bốn biến: a, e, w, p - Bước đầu xác định giá trị bảo tồn khu vực thành cổ quảng trị, quảng trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên
Bảng 3.7. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy WTP theo bốn biến: a, e, w, p (Trang 53)
Câu 11: Hình thức đóng góp của Ông (Bà) - Bước đầu xác định giá trị bảo tồn khu vực thành cổ quảng trị, quảng trị bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên
u 11: Hình thức đóng góp của Ông (Bà) (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w