1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Co so li luan khang dinh su ra doi của triet hoc mac

19 331 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 455,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong suốt cả lịch sử hiện đại của Châu Âu v à nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Pháp nơi diển ra một cuộc quyết chiến chống tất c ả những rác rưởi của thời trung cổ, chống chế độ ph

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

CƠ SỞ LÝ LUẬN KHẲNG ĐỊNH SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÀ MỘT CUỘC CÁCH MẠNG TRONG LỊCH

SỬ VÀ VAI TRÒ CỦA HỌC THUYẾT ĐỐI VỚI CÁCH

MẠNG VIỆT NAM

HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN : CHU THỊ HỒNG HẠNH

Lớp: QLKT 2016 Lớp 3 ; Mã học viên: 1073

Khoa: Quản lí kinh tế - Viện đào tạo sau đại học

Khoá năm: 2016-2018

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ĐẶNG NGỌC LỰU

Hải Phòng - 2016

Trang 2

Trang 3

MỤC LỤC

Lời mở đầu

Ch ươ ng I S Ự RA Đ Ờ I VÀ PHÁT TRI Ể N C Ủ A TRI Ế T H Ọ C MAC - LÊNIN

I Những điều kiện lịch sử của sự ra đời triết học Mác

I.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

I.1.1 Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp

I.1.2 Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử

I.2 Nguồn gốc lí luận và tiền đề khoa học tự nhiên

I.2.1 Nguồn gốc lí luận

I.2.2 Tiền đề khoa học tự nhiên

Chương II Sự ra đời của Triết học Mác là cuộc cách mạng trong lịch sử Chương III Vai trò của học thuyết đối với cách mạng Việt Nam KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU Nhà triết học vĩ đại Canto (thế kỷ XVIII) xem triết học không chỉ l à trình độ tư duy lý luận cao nhất, mà đồng thời là “thiên hướng tự nhiên của tâm hồn” vốn có trong tất cả mọi người, từng người với những trình độ khác nhau

Do con người không chỉ cần một thứ “duy nhất l à bánh mì” để sống Nó muốn vươn lên cái thường nhật, quan sát thế giới v à chính mình từ phía khác, nó suy ngẫm về cuộc sống, về mục đích cuối c ùng của cái xuất phát Mỗi con ng ười có

sự phát triển về mặt tinh thần ở mức độ nào đó đều là nhà triết học một ít, ngay cả khi nó ch ưa bao giờ nghe đến từ triết học

Trong suốt cả lịch sử hiện đại của Châu Âu v à nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Pháp nơi diển ra một cuộc quyết chiến chống tất c ả những rác rưởi của thời trung cổ, chống chế độ phong kiến trong các thiết chế v à tư tưởng, chỉ có chủ nghĩa duy vật là triết học duy nhất triệt để, trung th ành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự nhiên, thù địch với mê tín, với thói đạo đức giả…

Cho nên kẻ thù của phái dân chủ hết sức tìm cách “bác bỏ”, phá hoại, vu cáo chủ nghĩa duy vật, chúng b ênh vực các loại chủ nghĩa duy tâm triết học l à chủ nghĩa, bằng cách này hay cách khác, tựu trung bao giờ cũng vẫn b ênh vực hay ủng hộ tôn giáo

Triết học M ác là chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, nó cung cấp cho loài người

và nhất là giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại Bước vào thế kỷ mới, trong lúc chúng ta đang băn khoăn giữa truyền thống và hiện đại, phương Đông và phương Tây, khoa h ọc công nghệ và nhân văn, chính trị và kinh tế, thì nhận ra rằng, Mác với tư cách là nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại ở thế kỷ XX, tư tưởng triết học sâu xa của Ng ười vẫn tỏa sáng khác thường ở thế kỷ XXI, để lại cho xã hội loài người thời đại ngày nay một di sản tư tưởng vô cùng quý báu Trong tiểu luận này, chúng ta sẽ chứng minh sự ra đời của triết học Mác đã tạo ra bước ngoặc cách mạng trong lịch sử triết học

Trang 5

Chương 1

SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC MAC - LÊNIN

Triết học Mác - Lênin ra đời từ nửa cuối thế kỷ XIX và phát triển cho đến ngày nay Từ khi ra đời, triết học Mác - Lênin đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học và trở thành thế giới quan, phương pháp luận của hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người

I. Những điều kiện lịch sử của sự ra đời triết học Mác

I.1. Điều kiện kinh tế - xã hội

I.1.1.Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp

Vào những năm 40 của thế kỷ XIX do tác động của cuộc cách mạng trong công nghiệp làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ Ph ương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được củng cố vững chắc và trở thành xu thế phát triển của nền sản xuất xã hội Nước Anh đã hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp và trở thành cường quốc công nghiệp Ở Pháp, cuộc cách mạng công nghiệp đang đi v ào giai đoạn hoàn thành

Sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho quan hệ sản xuất tư bản được củng cố tạo ra cơ sở kinh tế để cho xã hội tư bản phát triển kèm theo đó mâu thuẫn xã hội càng thêm gay gắt và bộc lộ ngày càng rõ rệt; sự phân hóa giàu nghèo tăng lên, bất công xã hội tăng Những xung đột giữa giai cấp vô sản với t ư sản đã phát triển thành những cuộc đấu tranh giai cấp

I.1.1. Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử

Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ra đời và lớn lên cùng với sự hình thành và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Khi chế độ tư bản chủ nghĩa được xác lập, giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị xã hội, giai cấp vô sản trở thành bị trị thì mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản vốn mang tính đối kháng phát triển trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp Cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở th ành phố Liông (Pháp) năm 1831 tuy bị đàn áp nhưng lại bùng nổ tiếp vào năm 1834 Ở Anh có phong trào Hiến chương vào cuối những năm 30 của thế kỷ XIX, l à phong trào cách mạng to lớn có tính chất quần chúng v à có hình thức chính trị Nước Đức nổi lên phong trào đấu tranh của thợ dệt ở Xilêdi đã mang tính giai cấp

Trong hoàn cảnh lịch sử đó, giai cấp tư sản không còn đóng vai trò là giai cấp cách mạng Ở Anh, Pháp giai cấp t ư sản tuy nắm quyền thống trị, lại hoảng sợ trước cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản n ên không còn là vị trí tiên phong trong quá trình cải tạo dân chủ như trước Còn giai cấp tư sản Đức đang lớn lên trong lòng xã hội phong kiến, vốn đã khiếp sợ bạo lực cách mạng khi

nh ìn vào tấm gương Cách mạng tư sản Pháp 1789, nay lại thêm sợ hãi trước

sự phát triển của phong tr ào công nhân Đức Vì vậy, giai cấp vô sản xuất hiện

tr ên vũ đài lịch sử với sứ mệnh xoá bỏ xã hội tư bản và trở thành lực lượng

Trang 6

tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ và tiến bộ xã hội.

Như vậy, thực tiễn xã hội, nhất là thực tiễn của phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản đòi hỏi phải được soi sáng bởi một hệ thống lý luận, một học thuyết triết học mới Học thuyết đó phải xuất hiện để định h ướng phong trào đấu tranh nhanh chóng đạt được thắng lợi

Sự xuất hiện của giai cấp vô sản tr ên vũ đài lịch sử và phong trào đấu tranh của họ đã tạo ra nguồn tư liệu quý báu về thực tiễn xã hội để Các Mác và

Ph Ăngghen khái quát xây dựng những quan điểm triết học

I.2. Nguồn gốc lí luận và tiền đề khoa học tự nhiên

I.2.1. Nguồn gốc lí luận

Để xây dựng học thuyết của mình ngang tầm với trí tuệ nhân loại, Các Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa những thành tựu trong lịch sử tư tưởng nhân loại Triết học Đức với hai nhà triết học tiêu biểu Hêghen và Phoiơbắc là nguồn gốc trực tiếp của triết học Mác

Các Mác và Ph.Ăngghen đã từng là những người theo học triết học Hêghen và nghiên cứu triết học Phoiơbắc Qua đó, hai ông đã nhận thấy: Tuy học thuyết triết học của Hêghen mang quan điểm của chủ nghĩa duy tâm nhưng chứa đựng cái “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng C òn học thuyết triết học Phoiơbắc tuy còn mang nặng quan niệm siêu hình nhưng nội dung lại thấm nhuần quan điểm duy vật Các Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa “hạt nhân hợp lý” của H êghen và cải tạo, lột bỏ cái vỏ thần bí để xây dựng nên lí luận mới của phép biện chứng Hai ông đ ã kế thừa chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, khắc phục tính siêu hình và những hạn chế lịch sử khác của nó để xây dựng nên lí luận mới của chủ nghĩa duy vật Từ đó tạo ra c ơ sở để hai ông xây dựng nên học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật v à phép biện chứng thống nhất một cách hữu c ơ

Việc kế thừa và cải tạo kinh tế chính trị học với những đại biểu xuất sắc

l à A.Smít và Đ.Ricácđô không nh ững là nguồn gốc để xây dựng học thuyết kinh tế m à còn là tiền đề lý luận để hình thành quan điểm triết học

Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp với những đại biểu nổi tiếng nh ư Xanh Ximông và S.Phuriê là một trong ba nguồn gốc lí luận của triết học Mác Các Mác và Ph.Ăng ghen đã kế thừa những quan điểm tiến bộ của chủ nghĩa x

ã hội không tưởng Pháp (quan điểm về vai tr ò của nền sản xuất trong xã hội, quan điểm về sở hữu v.v ) và khắc phục tính không tưởng thiếu điều kiện lịch

sử cụ thể của nó để xây dựng những quan điểm duy vật lịch sử

Vì vậy, khi tìm hiểu nguồn gốc lí luận của triết học Mác cần t ìm hiểu không chỉ trong triết học Đức mà trong cả chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp

và kinh tế chính trị học Anh

I.2.2. Tiền đề khoa học tự nhiên

Giữa triết học với khoa học nói chung v à khoa học tự nhiên nói riêng có

Trang 7

mối quan hệ khăng khít Sự phát triển của t ư duy triết học phải dựa trên cơ sở tri thức do các khoa học cụ thể đem lại Vì thế, mỗi khi trong khoa học có những phát minh mang tính chất vạch thời đại thì tạo ra sự thay sđổi của triết học

Trong những năm đầu của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên phát triển mạnh với nhiều phát minh quan trọng: Định luật bảo to àn biến hóa năng lượng, Thuyết tế bào, thuyết tiến hóa Những phát minh khoa học đó đ ã vạch

ra mối liên hệ thống nhất giữa những sự vật, giữa các h ình thức vận động khác nhau trong tính thống nhất vật chất của thế giới, vạch ra tính biện chứng của sự vận động v à phát triển Đồng thời đã làm bộc lộ rõ tính hạn chế và sự bất lực của phương pháp tư duy siêu hình và của tư tưởng biện chứng cổ đại cũng nh ư phép biện chứng của Hêghen Từ đó đặt ra một yêu cầu trong tư duy nhân loại cần phải xây dựng một phương pháp tư duy mới thật sự khoa học Với những phát minh của m ình, khoa học đã cung cấp những tri thức để Các Mác và Ph.Ăng ghen khái quát xây d ựng phép biện chứng duy vật

Như vậy, triết học Mác ra đời như một tất yếu lịch sử không những v ì đời sống thực tiễn mà còn vì những tiền đề lý luận, xã hội và khoa học mà nhân loại đã tạo ra

Trang 8

CHƯƠNG II BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC CỦA MÁC

Triết học Mác ra đời là một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử

triết học nhân loại Toàn bộ hệ thống triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện

đã chứng minh một cách bản chất sinh động giá trị lý luận và thực tiễn lớn lao của

học thuyết Mác Lênin nói chủ nghĩa Mác là sự phát triển cao nhất của toàn bộ khoa học lịch sử, khoa học kinh tế và triết học ở Châu Âu

1 Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng

Mác và Ăngghen đã tạo ra hình thức cao nhất của chủ nghĩa duy vật là chủ

nghĩa duy vật biện chứng và hình thức cao nhất của phép biện chứng là phép biện

chứng duy vật Trong triết học Mác xít, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng có

mối quan hệ hữu cơ với nhau.

Chủ nghĩa duy vật trước Mác đã đóng vai trò hết sức to lớn trong sự phát

triển của khoa học trong cuộc đấu tranh chống tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm, những trong thời kỳ cổ đại thì chỉ là chủ nghĩa duy vật chất phát ngây thơ, tự phát, còn ở

thời cận đại thì chủ nghĩa duy vật siêu hình máy móc Nó không thể khắc phục triệt

để chủ nghĩa duy tâm và vạch ra được những nguyên nhân phát triển của tự nhiên và

xã hội, không vạch ra được phép biện chứng của quá trình nhận thức và những con đường cải tạo thế giới Tuy nhiên, trong học thuyết duy vật trước Mác cũng chứa

đựng một số tư tưởng biện chứng nhất định nhưng do hạn chế về trình độ phát triển khoa học và về lịch sử, nên triết học trước Mác mới có những thiếu sót nói trên.

Chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng tính tất yếu kém của chủ nghĩa duy vật tự

phát, siêu hình và đã tiến hành đấu tranh quyết liệt chống lại nó Phép biện chứng lại được quan tâm nghiên cứu và được phát triển trong một hệ thống triết học duy tâm, nhất

là triết học Hêghen Hêghen là người có công lao to lớn trong việc khôi phục và phát triển phép biện chứng nhưng dưới cái vỏ duy tâm thần bí đó không thể tạo ra

được phép biện chứng khoa học Triết học của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa duy vật Nhưng Mác không dừng lại ở chủ nghĩa duy vật của thế kỉ 18 mà đưa nó lên một

trình độ cao hơn bằng cách tiếp thu có phê phán những thành quả của triết học cổ

điển Đức, nhất là của hệ thống triết học Hêghen, với thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển Tuy nhiên, phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm, vì vậy để sử dụng phép biện

chứng đó Mác, Enghen đã cải tạo nó, đặt nó trên cơ sở duy vật Trong khi thực hiện phê phán ông nồng nhiệt tiếp nhận quan điểm duy vật của triết học Phoiơbắc Song với tinh thần phê phán ông đã thấy những mặt hạn chế, nhất là việc xa rời những vấn

đề chính trị nóng hổi của Phoiơbắc Sự phê phán sâu rộng triết học Hêghen, việc

khái quát kinh nghiệm lịch sử cùng với ảnh hưởng quan điểm duy vật và nhân văn

của triết học Phoiơbắc đã tăng cường mạnh mẽ xu hướng duy vật trong quan điểm

triết học của Mác.

Chính trong quá trình cải tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen, cải tạo

chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc và phát triển tiếp chủ nghĩa duy vật, trên cơ sở khái quát

Trang 9

những thành tựu khoa học tự nhiên và thực tiễn xã hội giữa thế kỉ 19, Mác-Enghen

đã sáng tạo phép biện chứng duy vật hay chủ nghĩa duy vật biện chứng Vì vậy để

xây dựng triết học duy vật biện chứng Mác đã phải cải tạo cả chủ nghĩa duy vật cũ, siêu hình và cả phép biện chứng duy tâm Giải thoát chủ nghĩa duy vật khỏi hạn chế siêu hình và phép biện chứng ra khỏi chủ nghĩa duy tâm Mác đã tạo ra được sự

thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng Mac xít là phép biện chứng duy vật

2 Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử

Một đặc điểm có ý nghĩa to lớn của cuộc cách mạng trong triết học là mở

rộng chủ nghĩa duy vật sang lĩnh vực lịch sử xã hội loài người, hình thành nên chủ nghĩa duy vật lịch sử V.I.Lênin đánh giá rằng: ”Trong khi nghiên cứu sâu và phát

triển chủ nghĩa duy vật triết học, Mác đã đưa học thuyết đó tới chỗ hoàn bị và mở

rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến nhận thức xã hội loài người.

Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học.

Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự

tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị.” 2

Chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác đã chỉ ra quy luật vận động của

lịch sử xã hội loài người, sự thay thế của các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên Trong các quy luật của lịch sử xã hội, quy luật biện chứng giữa

lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có vai trò quyết định Các quan hệ về kinh tế quyết định các quan hệ về kiến trúc thượng tầng Triết học lịch sử cũng phát hiện ra vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người “đào huyệt chôn chủ nghĩa

tư bản”, thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, hướng đến mục tiêu giải phóng con người Với bản chất duy vật triệt để trong lĩnh vực xã hội, triết học Mác trở thành

công cụ vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế giới, tạo ra bước phát triển mới về chất,

một sự nhảy vọt so với các hệ thống triết học khác trong lịch sử.

Chủ nghĩa duy vật lịch sử không phải đơn thuần là sự vận dụng chủ nghĩa

duy vật biện chứng vào lĩnh vực xã hội Để có chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác đã

phải tiến hành tổng kết lịch sử, kế thừa có phê phán toàn bộ tư tưởng xã hội trên cơ

sở khái quát thực tiễn mới Lênin viết “tất cả những cái mà tư tưởng loài người đã

sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại, đã phê phán và đã thông qua phong trào công nhân mà kiểm tra lại” Với quan niệm duy vật về lịch sử của Mác, loài người tiến bộ đã

có một công cụ vĩ đại trong việc nhận thức và cải tạo thế giới.

3 Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học từ quan điểm thực tiễn

Triết học Mác không chỉ là lý luận khoa học phản ánh bản chất, quy luật của

sự vận động và phát triển của thế giới, mà quan trọng hơn, đó là học thuyết nhằm

mục đích cải tạo thế giới Vì vậy, sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

là một nguyên tắc căn bản của triết học Mác.

Trước Mác, chủ nghĩa duy vật đã trải qua quá trình phát triển lịch sử lâu dài,

nó đã đạt được những thành tựu quan trọng góp phần vào việc xác lập quan niệm

duy vật về thế giới, vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo vào quá

Trang 10

trình biến đổi thế giới Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đó triết học trước Mác

không thể không tránh khỏi những thiếu sót, những hạn chế mang tính lịch sử của

mình đó là:

- Duy vật trong xem xét giới tự nhiên nhưng vẫn duy tâm trong việc xem xét đời

sống xã hội Do hạn chế lịch sử và hạn chế giai cấp nên chủ nghĩa duy vật trước

vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm về lịch sử, nghĩa là chủ nghĩa duy vật

Mác là chủ nghĩa duy vật không triệt để.

- Tính chất siêu hình máy móc và trực quan khiến cho nó không thấy được tính

năng động, sáng tạo của ý thức.

Chủ nghĩa duy vật trước Mác đã hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò của ý thức,

không thấy sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ý thức đối với vật chất trong

hoạt động thực tiễn của con người Mác nhận xét rằng khuyết điểm chủ yếu của chủ nghĩa duy vật cũ đã thiếu quan điểm thực tiễn, do đó lý luận của nó mang tính trực

quan và không thể giải quyết một cách khoa học, duy vật triệt để vấn đề cơ bản của

triết học

4 Thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng

Bản chất khoa học của triết học Mác đã bao hàm tính cách mạng Tính khoa

học càng sâu sắc, càng phản ánh đúng quy luật của sự phát triển thế giới thì tính

cách mạng càng cao, càng triệt để Thể hiện thế giới quan của giai cấp tư sản cách

mạng, tạo nên sự thống nhất tính cách mạng với tính khoa học, thống nhất hệ tư

tưởng với lý luận khoa học trong triết học Mác.

Triết học Mác biểu hiện tính cách mạng ở trong bản chất khoa học của học

thuyết, trong mục đích cải tạo thế giới, trong vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp

vô sản Triết học Mác đã chứng minh, bằng sức mạnh của phương pháp biện chứng,

sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chế độ xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử.

“Chỉ có chủ nghĩa duy vật triết học của Mác là đã chỉ cho giai cấp vô sản con đường phải theo để thoát khỏi chế độ nô lệ về tinh thần, trong đó tất cả các giai cấp bị áp

bức đã sống lay lắt từ trước tới nay” Triệt học Mác là vũ khí tinh thần của giai cấp

vô sản, còn giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của triết học Mác trong cuộc đấu tranh

vì xã hội tương lai.

5 Xác định đúng mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể

Quan niệm truyền thống trong lịch sử triết học trước Mác coi “triết học là

khoa học của mọi khoa học” Triết học Mác ra đời đã chấm dứt quan niệm đó, đồng thời, xác định đúng đối tượng của triết học là nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Vì vậy, không những không tách rời, mà trái lại, triết học Mác ngày càng có mối liên hệ thống nhất và độc lập với các khoa học chuyên nghành Sự phát triển của các lĩnh vực khoa học khác nhau trong việc nghiên cứu

thế giới tự nhiên và xã hội đặt cơ sở cho những khái quát mang tính phổ biến của

triết học Mặt khác, những kết luận của triết học trở thành thế giới quan khoa học và phương pháp luận chung nhất cho sự phát triển của các lĩnh vực khoa học Thực tiễn khoa học đã chứng minh rằng, những thành tựu nghiên cứu của các khoa học về tự

nhiên và xã hội là tiền đề cho hệ thống phạm trù, quy luật triết học ngày càng vận

Ngày đăng: 19/10/2016, 09:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w