CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM KHI THAMGIA CÁC TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ CƠ BẢNCƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM KHI THAMGIA CÁC TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ CƠ BẢNMỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiTrong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay, vấn đề bảo đảm quyền lợi của người lao động ngày càng được coi trọng, trên cơ sở cách tiếp cận người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong thương mại quốc tế nên trước hết họ phải là người được hưởng lợi, được chia sẻ thành quả của quá trình này, cụ thể là họ phải được bảo đảm các quyền, lợi ích và các điều kiện lao động cơ bản. Để ngày càng nâng cao được vị thế cạnh tranh cho người lao động trên thị trường quốc tế trong năm 2016 Việt Nam đã đàm phát và ký kết hiệp định TPP điều này đã đặt ra không ít cơ hội và thách thức cho công đoàn Việt Nam trong hoạt động tổ chức. Do vậy nghiên cứu rõ đề tài “Cơ hội và thách thức của công đoàn Việt Nam khi tham gia các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản” là vô cùng cần thiết để công đoàn Việt Nam có hướng tổ chức, phát triển tốt hơn trong bối cảnh hội nhập.2.Đối tượng nghiên cứuCơ hội và thách thức của công đoàn Việt Nam khi tham gia các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản3.Mục đích nghiên cứuNhằm thấy được cơ hội, thách thức của công đoàn Việt Nam khi tham gia các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản nhằm đề ra được cái giải pháp, kiến nghị.4.Phạm vi nghiên cứuNghiên cứu cơ hội phân tích cơ hội và thách thức của công đoàn Việt Nam khi tham gia các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản.5.Phương pháp nghiên cứuPhân tích, đánh giá và tổng hợp các kiến thức từ các nguồn như: giáo trình, sách báo, Internet
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM KHI THAM
GIA CÁC TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ CƠ BẢN
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay, vấn đề bảo đảm quyềnlợi của người lao động ngày càng được coi trọng, trên cơ sở cáchtiếp cận người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm hànghóa, dịch vụ trong thương mại quốc tế nên trước hết họ phải làngười được hưởng lợi, được chia sẻ thành quả của quá trình này, cụthể là họ phải được bảo đảm các quyền, lợi ích và các điều kiện laođộng cơ bản Để ngày càng nâng cao được vị thế cạnh tranh chongười lao động trên thị trường quốc tế trong năm 2016 Việt Nam đãđàm phát và ký kết hiệp định TPP điều này đã đặt ra không ít cơ hội
và thách thức cho công đoàn Việt Nam trong hoạt động tổ chức Dovậy nghiên cứu rõ đề tài “Cơ hội và thách thức của công đoàn ViệtNam khi tham gia các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản” là vôcùng cần thiết để công đoàn Việt Nam có hướng tổ chức, phát triểntốt hơn trong bối cảnh hội nhập
2. Đối tượng nghiên cứu
Cơ hội và thách thức của công đoàn Việt Nam khi tham gia các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản
3. Mục đích nghiên cứu
Nhằm thấy được cơ hội, thách thức của công đoàn Việt Nam khitham gia các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản nhằm đề ra đượccái giải pháp, kiến nghị
4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu cơ hội phân tích cơ hội và thách thức của công đoàn Việt Nam khi tham gia các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản
5. Phương pháp nghiên cứu
Phân tích, đánh giá và tổng hợp các kiến thức từ các nguồnnhư: giáo trình, sách báo, Internet
Trang 3NỘI DUNG
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm, chức năng của công đoàn Việt Nam
1.1.1 Khái niệm công đoàn Việt Nam
Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân vàcủa người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổchức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viênchức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và
xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước,
tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và nhữngngười lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 10 Hiến pháp1992)
Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp côngnhân và của người lao động Việt Nam (gọi chung là người lao động)
tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; làthành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam; là trườnghọc chủ nghĩa xã hội của người lao động (Điều 1 Luật Công đoàn1990)
Nghiệp đoàn là tổ chức cơ sở của Công đoàn tập hợp nhữngngười lao động tự do hợp pháp cùng ngành nghề Nghiệp đoàn docác công đoàn cấp trên là Liên đoàn lao động cấp huyện hoặc côngđoàn ngành địa phương trực tiếp quyết định thành lập, giải thể vàchỉ đạo hoạt động
Nghiệp đoàn tập hợp những người lao động tự do hợp pháp cùngngành, nghề, được thành lập theo địa bàn hoặc theo đơn vị lao động
có 10 đoàn viên trở lên và được công đoàn cấp trên quyết định côngnhận
Như vậy, công đoàn (hay nghiệp đoàn) là tổ chức chính trị xã hộinghề nghiệp, là một tổ chức quần chúng rộng lớn nhất của giai cấpcông nhân và nhân dân lao động Công đoàn xuất hiện khi giới côngnhân biết ý thức về sức mạnh tập thể và biết chăm lo bảo vệ quyềnlợi cho chính mình Tổ chức công đoàn ban đầu chỉ là một tổ chứcđược lập ra nhằm đấu tranh và hạn chế sự bóc lột của giới chủ chứchưa phải là một tổ chức có nhiều quyền năng như ngày nay Sự phát
Trang 4triển của công đoàn gắn liền với sự lớn mạnh của giai cấp công nhân,với sự phát triển của công nghiệp, kỹ nghệ và sự liên kết của giớinhững người chủ Chính trong sự phát triển đó, sinh hoạt công đoàncũng được thúc đẩy và dần chiếm được vị trí quan trọng trong hệthống các tổ chức xã hội, cũng như trong đời sống của người laođộng Từ chỗ chỉ được thừa nhận trong phạm vi hẹp, ngày nay côngđoàn đã được thừa nhận trong phạm vi toàn xã hội.
1.1.2 Chức năng của công đoàn Việt Nam
Chức năng của công đoàn biểu hiện một cách khái quát về phạm
vi hoạt động, mục đích hoạt động và sự định hướng trong hoạt độngcủa các cấp trong tổ chức công đoàn Các chức năng của công đoànbao gồm :
Chức năng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của côngnhân và người lao động
Chức năng tổ chức giáo dục, vận động công nhân và ngườilao động;
Chức năng đại diện cho người lao động tham gia quản lýkinh tế xã hội, quản lý Nhà nước
Chức năng này có thể thay đổi tùy thuộc và điều kiện kinh tế xãhội có liên quan ở từng giai đoạn Từ các chức năng đóï có thể xácđịnh được các nhiệm vụ chung và những nhiệm vụ cụ thể cho từngcấp công đoàn ở từng lĩnh vực phù hợp
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (LĐLĐVN) được giao nhiệm
vụ đại diện cho các lợi lợi ích của người lao động là một tổ chức côngđoàn duy nhất và thống nhất tại Việt Nam được tạo thành từ 18 Côngđoàn Quốc gia và Liên đoàn Lao động tại 63 tỉnh, thành phố trên cảnước Số thành viên của Tổng LĐLĐVN đến nay là hơn 6 triệu người.Ông Đặng Ngọc Tùng hiện đang là Chủ tịch Tổng LĐLĐVN
1.2 Tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản
Pháp luật lao động quốc tế bao gồm một hệ thống tiêu chuẩn laođộng được thông qua ở cấp độ quốc tế Theo thống kê của Tổ chứcLao động quốc tế (International Labour Organisation – ILO), các tiêuchuẩn lao động quốc tế cơ bản được chia thành 22 nhóm khác nhau Trong 22 nhóm tiêu chuẩn đó, có những tiêu chuẩn được công nhậnrộng rãi như:
Gắn chặt với quyền của người lao động;
Làm nền tảng cho việc bảo đảm, thực thi các tiêu chuẩnlao động quốc tế khác;
Trang 5 Mọi quốc gia thành viên của ILO phải tôn trọng và thúc đẩythực hiện…
Những tiêu chuẩn lao động quốc tế đó được gọi là những tiêuchuẩn lao động quốc tế cơ bản (TCLĐQTCB)
1.2.1 Các Tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản – TCLĐQTCB là gì?
Đã có nhiều công trình nghiên nhằm xác định thế nào là cácTCLĐQTCB trước khi WTO khẳng định về sự cần thiết của chúng.Năm 1989, thống kê từ 8 nghiên cứu trước đó về TCLĐQTCB cho thấycác tiêu chuẩn sau được nhắc đến nhiều nhất : Tự do hiệp hội vàthương lượng tập thể (8 lần); Tuổi tối thiểu và lao động trẻ em (8lần); Xóa bỏ lao động cưỡng bức (6 lần); Xóa bỏ phân biệt đối xửtrong công việc (6 lần); An toàn vệ sinh lao động (6 lần) Một nghiêncứu khác vào năm 1995 đề xuất các TCLĐQTCB bao gồm: xóa bỏ laođộng nô lệ, cưỡng bức; xóa bỏ lao động mất an toàn và nguy hiểm;giới hạn thời giờ làm việc của trẻ em; quyền lập hội và quyền thươnglượng tập thể Hội nghị thượng định thế giới về xã hội (The WorldSocial Summit) tổ chức tại Copenhagen vào tháng 3 năm 1995 vàsau đó là Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
(- OECD) năm 1996 , đều thừa nhận rằng, các tiêu chuẩn laođộng về các vấn đề sau là các TCLĐQTCB: xóa bỏ lao động cưỡngbức; tự do hiệp hội; quyền tổ chức và thương lượng tập thể; xóa bỏlao động trẻ em; chống phân biệt đối xử trong lao động
Sau nhiều năm nghiên cứu và thảo luận căng thẳng , ngày18/6/1998, ILO thông qua Tuyên bố về các Nguyên tắc cơ bản và cácQuyền tại nơi làm việc (Declaration on Fundamental Principles andRights at Work)(21) Tuyên bố của ILO khẳng định 4 nhóm tiêu chuẩnlao động quốc tế cơ bản gồm:
– Tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể;
– Xóa bỏ mọi hình thức lao động cưỡng bức và lao động bắtbuộc;
– Xóa bỏ có hiệu quả lao động trẻ em;
– Xóa bỏ phân biệt đối xử trong công việc (22)
Những TCLĐQTCB nêu trên được quy định trong 8 Công ước củaILO, gồm:
• Công ước số 87 về quyền tự do hiệp hội và việc bảo vệquyền được liên kết (Freedom of Association and Protection
of the Right to Organise Convention, 1948, No 87);
Trang 6• Công ước số 98 về quyền được tổ chức và thương lượng tậpthể (Right to Organise and Collective BargainingConvention, 1949, No.98);
• Công ước số 29 về lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc(Forced Labour Convention, 1930, No.29);
• Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức (Abolition
of Forced Labour Convention, 1957,No.105);
• Công ước số 138 về tuổi lao động tối thiểu (Minimum AgeConvention, 1973, No 138);
• Công ước số 182 về loại bỏ những hình thức sử dụng laođộng trẻ em tồi tệ nhất (Worst Forms of Child LabourConvention, 1999, No.182);
• Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam
và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau(Equal Remuneration Convention, 1951, No.100);
• Công ước số 111 về phân biệt đối xử trong việc làm vànghề nghiệp (Discrimination (Employment and Occupation)Convention, 1958, No 111)
Quan điểm của ILO về TCLĐQTCB nhanh chóng được thừa nhận
và khẳng định bởi Liên hiệp quốc các tổ chức quốc tế như: Ngânhàng phát triển châu á (ADB), Ngân hàng Thế giới (the World Bank),Quỹ tiền tệ Quốc tế (the IMF), OECD, cũng như nhiều học giả trêntoàn thế giới
1.2.2 Tại sao những tiêu chuẩn lao động quốc tế nêu trên lại là tiêu chuẩn lao động “cơ bản”?
Thứ nhất, các TCLĐQTCB gắn chặt với những quyền cơ bản củacon người, của người lao động Những quyền này được quy địnhtrong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 , Công ướcquốc tế về các quyền chính trị và dân sự năm 1966
Thứ hai, các TCLĐQTCB đóng vai trò quan trọng cho sự hoạtđộng có hiệu quả của nền kinh tế thị trường Các tiêu chuẩn nàychứa đựng các nguyên tắc điều chỉnh sự vận hành của thị trường laođộng, chúng tương thích với nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu tài sản
và nguyên tắc tự do giao dịch trong nền kinh tế thị trường Ngoài ra,các tiêu chuẩn lao động nêu trên, đặc biệt là tiêu chuẩn về tự dohiệp hội và quyền thương lượng tập thể, khi được thi hành sẽ tạo ra
cơ sở pháp lý cho người lao động và người sử dụng lao động thiết lậpcác tiêu chuẩn lao động khác trong quan hệ lao động Ví dụ, đại diệncủa người lao động và người sử dụng lao động có thể thương lượng
về tiền lương, thời gian làm thêm, thời gian nghỉ phép năm… Đâychính là nền tảng cho sự vận hành của thị trường lao động
Trang 7Thứ ba, việc thi hành các TCLĐQTCB không làm tăng chi phí xãhội Trong hệ thống các tiêu chuẩn lao động quốc tế, có nhưng tiêuchuẩn được gọi là tiêu chuẩn “cash standards” (phân biệt với “corestandards”), ví dụ như tiêu chuẩn về tiền lương tối thiểu, về thời giờlàm việc, thời giờ nghỉ ngơi, về bảo hiểm xã hội… Việc thi hànhnhững tiêu chuẩn này sẽ phát sinh chi phí cho người sử dụng laođộng, do vậy việc thi hành chúng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiệnkinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia khác nhau Ngược lại, việc thi hànhcác TCLĐQTCB không làm phát sinh chi phí, không làm tăng giáthành lao động và không làm ảnh hưởng đến người sử dụng lao động.
Thứ tư, các TCLĐQTCB có tính bắt buộc chung Đối với các tiêuchuẩn lao động quốc tế khác được quy định trong các Công ước vàkhuyến nghị của ILO, một quốc gia chỉ có nghĩa vụ bắt buộc thi hànhsau khi đã phê chuẩn Công ước, đối với khuyến nghị, quốc gia không
có nghĩa vụ bắt buộc thi hành Trong trường hợp của các TCLĐQTCB,mọi quốc gia thành viên của ILO có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy vàghi nhận ngay cả khi thành viên đó chưa phê chuẩn các Công ướctương ứng của ILO Cơ sở cho việc áp dụng nghĩa vụ này là bởi vì,theo quan điểm của ILO, các TCLĐQTCB là các tiêu chuẩn tối thiểu và
có thể áp dụng cho mọi quốc gia, không phụ thuộc vào điều kiệnkinh tế – xã hội, trình độ phát triển của quốc gia Các TCLĐQTCBkhông tạo ra một mức độ mới của tiền lương, điều kiện an toàn vệsinh lao động, chế độ bảo hiểm xã hội …
Thứ năm, các TCLĐQTCB được theo dõi, giám sát thực hiện theomột cơ chế đặc biệt Cơ chế này yêu cầu mọi quốc gia thành viêncủa ILO, ngay cả khi quốc gia thành viên đó chưa phê chuẩn cácCông ước tương ứng, có nghĩa vụ nộp Báo cáo quốc gia hàng nămcho ILO Báo cáo quốc gia này phải nêu rõ các biện pháp mà quốcgia thành viên đó đã thực hiện để thúc đẩy việc thực hiện cácTCLĐQTCB tại quốc gia mình Báo cáo này được Hội đồng điều hành(Governing Body) của ILO xem xét Văn phòng Lao động quốc tế(International Labour Office) có thể thành lập một nhóm chuyên gia
để nghiên cứu Báo cáo hàng năm của các quốc gia, từ đó nhómchuyên gia này sẽ đưa ra các nhận xét và đánh giá của mình bằngvăn bản Bên cạnh đó, Tổng giám đốc của ILO (General Director) cónhiệm vụ làm Báo cáo toàn cầu hàng năm về việc thực hiện cácTCLĐQTCB để trình cho Hội nghị Lao động quốc tế (InternationalLabour Conference) Từ năm 2000, sau khi Tuyên bố về Các nguyêntắc và Quyền cơ bản tại nơi làm việc được ILO thông qua năm 1998,mỗi năm Tổng giám đốc ILO có một Báo cáo toàn cầu đánh giá việcthực hiện một nhóm TCLĐQTCB Cụ thể: năm 2000 – Báo cáo toàncầu về quyền hiệp hội và thương lượng tập thể; năm 2001 – Báo cáotoàn cầu về lao động cưỡng bức; năm 2002 – Báo cáo toàn cầu về
Trang 8lao động trẻ em; năm 2003 – Báo cáo toàn cầu về phân biệt đối xửtrong lao động; năm 2004 – Báo cáo toàn cầu về quyền hiệp hội vàthương lượng tập thể; năm 2005 – Báo cáo toàn cầu về lao độngcưỡng bức; năm 2006 – Báo cáo toàn cầu về lao động trẻ em; năm
2007 – Báo cáo toàn cầu về phân biệt đối xử trong lao động; năm
2008 – Báo cáo toàn cầu về quyền hiệp hội và thương lượng tập thể
1.2.3 Tóm tắt
Có thể khẳng định rằng, các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơbản là các quyền cơ bản của người lao động tại nơi làm việc, nhữngquyền này gắn chặt với quyền con người được thừa nhận rộng rãitrên phạm vi toàn cầu Tính đến thời điểm này, các nghiên cứu vềTCLĐQTCB không những không tìm thấy tác động tiêu cực của việcthực hiện các TCLĐQTCB đến khả năng cạnh tranh của quốc gia màngược lại, những nghiên cứu này chứng minh rằng việc áp dụng, thựchiện và thi hành tốt các TCLĐQTCB góp phần ổn định kinh tế, xã hội,thúc đẩy khả năng cạnh tranh của quốc gia Do vậy, việc áp dụngcác TCLĐQTCB cần phải được xem xét là một trong các mục tiêu pháttriển (về mặt xã hội) của quốc gia
Xuất phát từ những phân tích nêu trên Việt Nam cần phải:
– Thứ nhất, đánh giá toàn diện tác động của việc thực hiện cácCông ước cơ bản của ILO mà Việt Nam đã ký kết Việt Nam đã phêchuẩn 5/8 Công ước cơ bản của ILO, gồm: Công ước số 29 (1930);Công ước số 138 (1973); Công ước số 182 (1999); Công ước số 100(1951); Công ước số 111 (1958)
– Thứ hai, áp dụng các quy định của 5 Công ước cơ bản nêu trênvới tư cách là nguồn trực tiếp của pháp luật lao động Việt Nam ViệtNam là thành viên của Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ướcquốc tế (Vien Convention on Law of Treaties), việc này có nghĩa rằngViệt Nam theo trường phái nhất nguyên (Monism) Điều này cũngđược khẳng định tại Điều 3 và Điều 6 Luật Ký kết, Gia nhập và Thựchiện Điều ước quốc tế năm 2005 Do đó, các TCLĐQTCB được quyđịnh trong 5 Công ước nêu trên sẽ phải được áp dụng thay thế chocác quy định của pháp luật Việt Nam khi cùng điều chỉnh một vấnđề
– Thứ ba, nghiên cứu khả năng phê chuẩn các Công ước cơ bảncòn lại mà Việt Nam chưa phê chuẩn, gồm: Công ước số 87 (1948);Công ước số 98 (1949); Công ước số 105 (1957)
– Thứ tư, chuyển hóa các quy định của 3 Công ước cơ bản nêutrên vào trong Bộ luật Lao động (sửa đổi) sắp tới Mặc dù có thể vìnhiều lý do khác nhau mà Việt Nam chưa phê chuẩn 3 Công ước này,nhưng với những phân tích về vai trò và ảnh hưởng của việc thực
Trang 9hiện các TCLĐQTCB, thì việc chuyển hóa những nguyên tắc cơ bảncủa 3 Công ước đó vào Bộ luật Lao động (sửa đổi) là hết sức cầnthiết.
Tóm lại, việc thi hành các TCLĐQTCB là cơ sở để bảo vệ quyền vàlợi ích của người lao động cũng như của người sử dụng lao động, từ
đó xây dựng hệ thống quan hệ lao động hài hòa, ổn định từ cấp cánhân đến cấp doanh nghiệp và cấp quốc gia Thực hiện cácTCLĐQTCB làm tăng cường khả năng cạnh tranh của quốc gia trên cảphương diện thu hút FDI và xuất khẩu Đồng thời, thực hiện cácTCLĐQTCB, về lâu về dài, góp phần xây dựng lực lượng lao động chấtlượng cao Lực lượng lao động có chất lượng là tài sản, là nguồn vốnquý giá nhất của mỗi quốc gia trong quá trình toàn cầu hóa
Việt Nam đã phê chuẩn 21 công ước của ILO, bao gồm năm côngước chính:
• C029 – Công ước về lao động cưỡng bức, 1930 (Số 29)
• C100 – Công ước về trả công bình đẳng, 1951 (Số 100)
• C111 – Công ước về chống phân biệt đối xử (trong việc làm và nghề nghiệp), 1958 (Số 111)
• C138 – Công ước về tuổi lao động tối thiểu, 1973 (Số 138)
• C182 – Công ước về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi
tệ nhất, 1999 (Số 182)
Bên cạnh việc xem xét tổng quát các công ước liên quan của ILO, Việt Nam đã tham vấn hướng dẫn kỹ thuật của ILO về cách nhìn nhận tốt nhất mà Việt Nam nên có đối với những công ước và khuyến nghị này và gợi ý những hướng đi nhằm cải cách luật pháp quốc gia
Việt Nam hiện đang phải đối mặt với những thách thức về việc làm thế nào có thể thực hiện các công ước đã thông qua Chìa khóa để giải quyết những vấn đề này là sự đóng góp và tham gia tíchcực từ cả ba bên (Chính phủ, tổ chức của người sử dụng lao động và người lao động) và các bên liên quan khác
Trang 10Hội nghị lao động quốc tế lần thứ 86 họp tại Geneve tháng 6năm 1998 đã thông qua Tuyên bố về các nguyên tắc và quyền cơbản trong lao động, xác định bốn nguyên tắc và quyền cơ bản củangười lao động, bao gồm: quyền tự do liên kết và thỏa ước lao độngtập thể; quyền tự do không bị cưỡng bức hay bắt buộc lao động; xóa
bỏ một cách có hiệu quả lao động trẻ em; quyền được đối xử bìnhđẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp
Bốn quyền và nguyên tắc cơ bản trên được thể hiện trong bốncặp công ước của ILO, gồm: công ước 87 và 98 về tự do liên kết vàthỏa ước lao động tập thể; công ước 29 và 105 về xóa bỏ lao độngcưỡng bức và bắt buộc; công ước 138 và 182 về xóa bỏ lao động trẻem; công ước 100 và 111 về xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm
và nghề nghiệp Ngày nay, bốn cặp công ước này được gọi với cáctên khác nhau như: các tiêu chuẩn lao động cốt lõi (core labourstandards), các nguyên tắc và quyền lao động nền tảng(fundamental rights and principles), các tiêu chuẩn lao động đượcquốc tế thừa nhận (internationally recognized labour standards), cáccông ước nhân quyền trong lao động (human rights labourconventions)
Tính đến năm 2016, Việt Nam đã phê chuẩn 5 trong 8 công ước
cơ bản nói trên, đó là Công ước số 100 về Trả công bình đẳng giữalao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngangnhau (phê chuẩn năm 1997); Công ước số 111về Phân biệt đối xửtrong làm việc và nghề nghiệp (phê chuẩn năm 1997); Công ước số
138 về Tuổi tối thiểu được đi làm việc (phê chuẩn năm 2003) vàCông ước số 182 về Nghiêm cấm và những hành động khẩn cấp xóa
bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (phê chuẩn năm 2000);Công ước số 29 về Lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc (phê chuẩnnăm 2007) Việt Nam đang trong quá trình nghiên cứu 3 công ước cơbản còn lại
Việc phê chuẩn hay gia nhập các công ước quốc tế là công việc
hệ trọng, cần có sự cân nhắc thấu đáo, sao cho phù hợp với điềukiện, đặc điểm và vì lợi ích quốc gia Tuy nhiên, Điều 2 của Tuyên bố
1998 ILO đã khẳng định là các quốc gia thành viên ILO, dù đã phêchuẩn hay chưa phê chuẩn 8 công ước này đều có nghĩa vụ phải tôntrọng, thúc đẩy và hiện thực hóa một cách có thành ý 8 công ước cơbản này Đây là sự khác biệt cơ bản về mặt nghĩa vụ tuân thủ giữatám công ước cơ bản với các công ước ILO khác
Như vậy, theo Điều 2 của Tuyên bố thì ngoài việc phải thực hiệnđầy đủ nội dung của 5 công ước cơ bản của ILO mà Việt Nam đã phêchuẩn gia nhập, thì Việt Nam với tư cách là Thành viên của ILO cónghĩa vụ phải “tôn trọng, thúc đẩy và hiện thực hóa một cách cóthành ý” đối với 3 công ước cơ bản của ILO mà Việt Nam chưa phê
Trang 11chuẩn (tính đến 2016) là Công ước số 87 về quyền tự do liên kết,Công ước số 98 về quyền thương lượng thỏa ước lao động tập thể vàCông ước 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức.
Từ khi được ILO thông qua năm 1998 đến nay, Tuyên bố vềNhững nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động đã được áp dụngrộng rãi trong quan hệ quốc tế, bao gồm cả quan hệ thương mạiquốc tế
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã và đangtiếp cận với bốn tiêu chuẩn lao động cơ bản được nêu trong Tuyên bốILO 1998 theo hai kênh chính:
Thứ nhất là ở cấp doanh nghiệp: phần lớn các doanh nghiệp ViệtNam làm hàng xuất khẩu vào thị trường Bắc Mỹ và Châu Âu đều phảichứng minh việc doanh nghiệp tuân thủ và tôn trọng bốn tiêu chuẩnlao động cơ bản này tại doanh nghiệp của mình Việc chứng minh sựtuân thủ theo các tiêu chuẩn lao động cơ bản này là một trongnhững yếu tố làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp tại nhữngthị trường này
Thứ hai là thông qua các hiệp định thương mại tự do FTA: việcđưa bốn tiêu chuẩn lao động cơ bản vào các hiệp định thương mại tự
do đang trở thành một xu hướng trên thế giới Hiệp định Đối tácxuyên Thái Bình Dương và Hiệp định FTA Việt Nam – EU mà Việt Namvừa kết thúc đàm phán đều bao gồm những cam kết chặt chẽ vềviệc thực hiện bốn tiêu chuẩn lao động cơ bản này
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG
2.1 Thực trạng thi hành các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản ở Việt Nam
2.1.1 Thi hành 5 công ước cơ bản của ilo: còn nhiều bất cập
Tính đến tháng 5.2014, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã thôngqua 189 công ước và 200 khuyến nghị Hiện Việt Nam đã phê chuẩn
5 công ước trong số 8 công ước cơ bản tập trung vào 4 lĩnh vực: tự
do lập hội và thương lượng tập thể, chống lao động cưỡng bức, xóa
bỏ lao động trẻ em, chống phân biệt đối xử Việc thi hành các côngước này đang được các cơ quan liên quan nỗ lực thi hành, nhưng lạiđối mặt với nhiều khó khăn, bất cập
Nỗ lực vận dụng các công ước của ILO vào VN còn nhiều khókhăn do độ “vênh” chính sách, pháp luật
Những thành tựu bước đầu
Trang 12Theo ông Hà Đình Bốn, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Lao độngThương binh Xã hội), so với một số quốc gia trong khu vực, số lượngcông ước đã gia nhập của Việt Nam ở mức trung bình; Nhật Bản phêchuẩn 41 công ước, Hàn Quốc phê chuẩn 24 công ước, Thái Lan phêchuẩn 14 công ước, “Việc phê chuẩn các công ước đã góp phầnhoàn thiện hệ thống pháp luật để thực hiện các công ước đã phêchuẩn, việc triển khai các quy định này cũng được quan tâm, đẩymạnh Nhiều chương trình quốc gia đã được ban hành và triển khaithực hiện Trong đó, trọng điểm là các chương trình: chương trìnhhành động quốc gia về phòng chống buôn bán người; chương trìnhquốc gia về an toàn vệ sinh lao động, chương trình hành động quốcgia vì trẻ em,
Ngoài các công ước đã phê chuẩn, giai đoạn 2012 – 2015, ViệtNam dự định sẽ gia nhập các công ước: Công ước số 15 về xóa bỏ laođộng cưỡng bức; công ước 88 về dịch vụ việc làm, công ước số 159
về tái thích ứng nghề nghiệp về việc làm của người tàn tật; côn ước
số 186 về lao động hàng hải; công ước số 95 về bảo vệ tiền lương.Giai đoạn 2016 – 2020, dự định gia nhập: Công ước số 131 về ấnđịnh tiền lương tối thiểu; công ước số 181 về tổ chức dịch vụ việclàm tư nhân; công ước số 129 về thanh tra lao động trong nôngnghiệp; công ước số 189 về việc làm nhân văn cho lao động giúpviệc gia đình
Theo ông Bốn, việc chuyển hóa và thực thi công ước của ILO màViệt Nam đã phê chuẩn dù được triển khai tích cực nhưng khôngtránh khỏi khó khăn, hạn chế do độ “vênh” giữa pháp luật Việt Namquy định về mối liên hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế
đã có sự thay đổi theo trường phái áp dụng trực tiếp Ngoài ra, nhiềukhái niệm, điều luật, cũng chưa đạt đến sự đồng nhất “Riêng việcchuyển hóa và thi hành các quy định của Công ước số 138 và 182 vềxóa bỏ lao động trẻ em, Chính phủ Việt Nam ngoài nỗ lực chuyểnhóa các quy định một cách hiệu quả vào pháp luật trong nước cònxây dựng rất nhiều kế hoạch hành động nhằm góp phần vào côngcuộc xóa bỏ lao động trẻ em của ILO Tuy nhiên, nỗ lực là một phần,trong những trường hợp đặc biệt như ở các cơ sở may mặc, chế biếnthực phẩm, trẻ em còn phải làm việc 8-9 giờ/ngày, thậm chí 10-12giờ/ngày Ngoài ra, lao động trẻ em còn bị áp lực tâm lý như trảlương thấp, chậm trả lương, bị lăng mạ, lạm dụng, ”, ông Bốn chobiết
Ngoài việc chính sách “đuổi” theo công ước, còn một khó khănlớn trong việc thực thi các công ước của ILO tại Việt Nam là cộngđồng còn nhận thức hạn chế về các vấn đề lao động trẻ em, phânbiệt đối xử, buôn bán người, Nhiều năm qua, bên cạnh các thànhtựu kinh tế xã hội, việc cải cách bình đẳng giới, môi trường lao động