1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH DẠY HỌC GIẢI PHẪU SINH LÝ NGƯỜI Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ

17 428 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 331,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu vận dụng lý thuyết grap vào dạy học ở nước ngoài Năm 1965, tại Liên Xô cũ, A.M.Xokhor là người đầu tiên đã vận dụng một số quan điểm của lý thuyết grap chủ yếu là n

Trang 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH DẠY HỌC GIẢI

PHẪU SINH LÝ NGƯỜI Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ

Theo từ điển Anh - Việt, grap (graph) có nghĩa là đồ thị - biểu đồ gồm

có một đường hoặc nhiều đường biểu thị sự biến thiên của các đại lượng

Nhưng, từ grap trong lý thuyết grap lại bắt nguồn từ từ “graphic” có nghĩa là

tạo ra một hình ảnh rõ ràng, chi tiết, sinh động trong tư duy [72, tr.731]

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ VẬN DỤNG LÝ

THUYẾT GRAP

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về lý thuyết grap trên thế giới

Lý thuyết grap là một chuyên ngành của toán học được khai sinh kể từ

công trình về bài toán “Bảy cây cầu ở Konigsburg” (công bố vào năm 1736)

của nhà toán học Thụy sĩ - Leonhard Euler (1707 - 1783) [78] Lúc đầu, lý

thuyết grap là một bộ phận nhỏ của toán học, chủ yếu nghiên cứu giải quyết

những bài toán có tính chất giải trí Trong những năm cuối thế kỷ XX, cùng

với sự phát triển của toán học và nhất là toán học ứng dụng, những nghiên

cứu về vận dụng lý thuyết grap đã có những bước tiến nhảy vọt

Lý thuyết grap hiện đại bắt đầu được công bố trong cuốn sách “Lý

thuyết grap định hướng và vô hướng” của Conig, xuất bản ở Lepzic vào năm

1936 [19, tr.26] Từ đó đến nay, nhiều nhà toán học trên thế giới đã nghiên

cứu làm cho môn học này ngày càng phong phú và được ứng dụng trong

nhiều lĩnh vực của các ngành khoa học như điều khiển học, mạng điện tử, lý

thuyết thông tin, vận trù học, kinh tế học v.v [12],[84]

Năm 1958, tại Pháp, Claude Berge đã viết cuốn “Lý thuyết grap và

những ứng dụng của nó”[90] Trong cuốn sách này tác giả đã trình bày những

khái niệm và định lý toán học cơ bản của lý thuyết grap, đặc biệt là ứng dụng

của lý thuyết grap trong nhiều lĩnh vực khác nhau

Trang 2

Trong những năm gần đây, lý thuyết grap được nghiên cứu ở nhiều

nước trên thế giới Trên mạng Internet, tính đến tháng 8 năm 2004 có 2058

bài báo nghiên cứu về lý thuyết grap và những ứng dụng của nó [78], được

đăng tải trên các tạp chí như: Tạp chí Lý thuyết Graph (Journal of Graph

Theory); Tạp chí Lý thuyết tổ hợp (Journal of Combinatorial Theory, Series

B); Tạp chí Grap angorit và ứng dụng (Journal of Graph Algorithm and

Applications) và nhiều tạp chí nổi tiếng khác [78]

Hiện nay, nhiều trường đại học trên thế giới có những nhóm tác giả đã

và đang nghiên cứu về lý thuyết grap, về sự chuyển hoá của lý thuyết grap

vào những lĩnh vực khoa học khác nhau Ví dụ, trường Đại học tổng hợp

Antrep – Bỉ (University of Antwerp) có nhóm nghiên cứu của giáo sư Dirk

Janssens; trường Đại học kỹ thuật Beclin - Đức (Technische Univesitaet

Berlin) có nhóm nghiên cứu của giáo sư Hartmut Ehrig; trường Đại học tổng

hợp Layden - Hà lan (University of Leiden) có giáo sư Grzegorz Rozenberg;

trường Đại học Roma (Italia) có giáo sư Francesco Parisi Presicce …[83]

Đặc biệt, ở Hoa Kỳ có nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu về lý thuyết grap

làm cơ sở khoa học cho lý thuyết mạng máy tính và chuyển hoá vào các

ngành khoa học khác [80], [82], [84], [85], [86], [88] Trong đó nổi bật nhất là

những công trình nghiên cứu của Jonathan L Gross (trường Đại học

Columbia, Niu Yoc) và Jay Yellen (trường Rolin, Florida) Hai tác giả này đã

công bố nhiều công trình về grap [84], [85], [86]…

Cuốn sách “Sổ tay lý thuyết grap” (Handbook of Graph Theory) của

Jonathan L Gross và Jay Yellen là một trong những cuốn sách hướng dẫn tra

cứu một cách đầy đủ nhất về lý thuyết grap đã được xuất bản từ trước đến nay

[86] Thành công nhất của các tác giả là đã tập hợp được những chuyên gia

nổi tiếng trên thế giới đóng góp ý kiến cho hơn 50 chủ đề quan trọng của lý

thuyết grap, bao gồm lý thuyết grap “thuần tuý”, quan hệ của lý thuyết grap

Trang 3

với algorit và với tối ưu hoá Ngôn ngữ trình bày trong cuốn sách này hết

sức trong sáng vì vậy nó đã đem đến cho độc giả những thông tin dễ kiếm và

dễ hiểu Sự bàn luận của mỗi chủ đề trong lý thuyết graph bao gồm những

định nghĩa bản chất, những cơ sở kèm theo ví dụ, những bảng với những lời

bình Trong một vài lĩnh vực các tác giả còn nêu lên sự phỏng đoán và những

vấn đề “mở” yêu cầu độc giả suy nghĩ sâu hơn Tạp chí “Tâm lý toán học”

(Hoa kỳ) đã nhận xét : “ grap là một phương tiện tư duy thông minh tuyệt

vời dùng cho quá trình nhận thức Các tác giả đã làm rõ nội dung và ý nghĩa

của grap không những trong khoa học mà còn trong đời sống thực tiễn”[86]

Trong cuốn “Lý thuyết graph và những ứng dụng của nó” (Graph

Theory and It’s Applications), Jonathan L Gross và Jay Yellen đã trình bày

bài toán về “cây” và ứng dụng lý thuyết grap trong các lĩnh vực tin học, thiết

kế mạng Internet, mạng điện với hơn 700 hình vẽ và hơn 1600 ví dụ hướng

dẫn cụ thể [84]

Tóm lại, lý thuyết graph và những ứng dụng của nó đã và đang được

nghiên cứu một cách hết sức cẩn thận ở nhiều nước trên thế giới

1.1.2 Tình hình nghiên cứu vận dụng lý thuyết grap vào dạy học ở nước ngoài

Năm 1965, tại Liên Xô (cũ), A.M.Xokhor là người đầu tiên đã vận

dụng một số quan điểm của lý thuyết grap (chủ yếu là những nguyên lý về

việc xây dựng một grap có hướng) để mô hình hoá nội dung tài liệu giáo khoa

(một khái niệm, một định luật ) A.M.Xokhor đã xây dựng được grap của

một kết luận hay lời giải thích cho một đề tài dạy học mà ông gọi là cấu trúc

logic của kết luận hay của lời giải thích [49],[50],[62],[63] A.M Xokhor đã

đưa ra những quan điểm cơ bản sau :

• Trong dạy học, khái niệm là phần tử cơ bản hợp thành tài liệu giáo khoa

Trang 4

• Cấu trúc của một đoạn tài liệu giáo khoa là tổ hợp những mối liên hệ

bên trong các khái niệm và mối liên hệ qua lại của các phần tử chứa đựng

trong đoạn tài liệu đó

• Cấu trúc của tài liệu giáo khoa có thể diễn tả một cách trực quan bằng

một grap và gọi là “cấu trúc logíc của tài liệu”

A.M.Xokhor đã diễn tả những khái niệm bằng những grap, trong đó các

nội dung cơ bản của khái niệm được bố trí trong các ô và các mũi tên chỉ sự

liên hệ giữa các nội dung A.M Xokhor cũng giải thích rằng: grap nội dung

của một tài liệu giáo khoa cho phép người giáo viên có những đánh giá sơ bộ

về một số đặc điểm dạy học của tài liệu đó [62, tr.10] Chẳng hạn, theo thực

nghiệm của A.M.Xokhor, đặc điểm khách quan đặc trưng nhất cho tính vừa

sức của một tài liệu giáo khoa (được xây dựng theo một lô gíc nào đó) là số

lượng các cạnh (diện) của grap Vì số lượng các cạnh grap của tài liệu giáo

khoa đặc trưng cho hệ thống các mối liên hệ bên trong của tài liệu Còn số

lượng các khái niệm gắn bó kết luận cuối cùng với khái niệm xuất phát xa

nhất của nó cho phép ta suy ra được tính chất phức tạp của câu giải thích hay

logic nội tại của tài liệu giáo khoa A.M.Xokhor đã vận dụng phép duyệt

“cây” trong việc nghiên cứu hệ thống khái niệm (xem ý c trong 2.1.1.1)

Ưu điểm nổi bật của cách mô hình hoá nội dung một tài liệu giáo khoa

bằng một grap là đã trực quan hoá được những mối liên hệ, quan hệ bản chất

trong các khái niệm tạo nên tài liệu giáo khoa đó Grap giúp HS cấu trúc hoá

một cách dễ dàng nội dung tài liệu giáo khoa và hiểu bản chất, nhớ lâu hơn,

vận dụng hiệu quả hơn [62, tr.11] Như vậy, A.M.Xokhor đã sử dụng grap để

mô hình hoá tài liệu giáo khoa môn hoá học

Năm 1965, V.X.Poloxin dựa theo cách làm của A.M.Xokhor đã dùng

phương pháp grap để diễn tả trực quan những diễn biến của một tình huống

Trang 5

dạy học, tức là đã diễn tả bằng một sơ đồ trực quan trình tự những hoạt

động của thầy và trò trong việc thực hiện một thí nghiệm hoá học Đây là một

bước tiến mới trong việc vận dụng lý thuyết grap vào dạy học Theo

V.X.Poloxin, tình huống dạy học là đơn vị cấu trúc - nguyên tố, là “tế bào”

của bài lên lớp Nó là bộ phận đã phân hoá của bài lên lớp, bao gồm tổ hợp

những điều kiện cần thiết (mục đích, nội dung, phương pháp) để thu được

những kết quả hạn chế riêng biệt [62], [96]

V.X.Poloxin cũng mô tả trình tự các thao tác dạy học trong một tình

huống dạy học bằng grap [96] Qua đó có thể so sánh các PPDH được áp

dụng cho cùng một nội dung, vì cùng một nội dung có thể dạy bằng những

phương pháp khác nhau và trình tự logic của một tình huống dạy học có thể

khác nhau Từ đó có thể giải thích được hiệu quả của mỗi PPDH Tuy nhiên,

phương pháp grap mà V.X.Poloxin đưa ra chưa được dùng như một phương

pháp dạy học [62, tr.16]

Năm 1972, V.P.Garkumôp đã sử dụng phương pháp grap để mô hình

hoá các tình huống của dạy học nêu vấn đề, trên cơ sở đó mà phân loại các

tình huống có vấn đề của bài học Theo V.P.Garkumop, trong việc tạo ra các

mẫu của tình huống nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, thì việc vận dụng lý

thuyết grap có thể giúp ích rất nhiều cho các nhà lý luận dạy học Lý thuyết

grap cho phép xác định trình tự hành động trong tiến trình giải quyết tình

huống có vấn đề đặt ra và chọn những kiểu nhất định của nó [62]

V.P.Garkumôp đã đưa ra các kiểu vận dụng lý thuyết grap trong dạy học nêu

vấn đề, có thể tóm tắt như sau:

• Tình huống có vấn đề xuất hiện khi HS bị thôi thúc tìm tòi các kiến thức mới

• Tình huống có vấn đề xuất hiện khi giải quyết các nhiệm vụ sáng tạo, có

mâu thuẫn trong nhận thức Ở đây việc giải quyết vấn đề mang tính chất

Trang 6

nghiên cứu Đó là trình độ cao của việc giải quyết các nhiệm vụ nhận

thức trong tiến trình bài giảng

• Có thể mô tả những tình huống có vấn đề bằng grap

Theo tác giả, ở trình độ lúc bấy giờ của việc nghiên cứu sáng tạo chưa

chắc đã có thể đề ra được bao nhiêu mô hình chung của việc giải quyết vấn

đề, do đó chỉ có thể áp dụng trong các giờ học không bắt buộc và trong ngoại

khoá [62] Như vậy, V.P.Garkumôp đã sử dụng phương pháp grap để mô hình

hoá các tình huống dạy học nêu vấn đề - một việc làm cần thiết để phát huy

tính tích cực của HS

Năm 1973, tại Liên Xô (cũ) tác giả Nguyễn Như Ất trong công trình

luận án Phó tiến sĩ khoa học sư phạm đã vận dụng lý thuyết grap kết hợp với

phương pháp ma trận (matrix) như một phương pháp hỗ trợ để xây dựng

logic cấu trúc các khái niệm “tế bào học” trong nội dung giáo trình môn Sinh

học đại cương trường phổ thông của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do

tác giả kiến nghị [2]

1.1.3 Tình hình nghiên cứu vận dụng lý thuyết grap trong DH ở Việt

Nam

Ở Việt Nam, từ năm 1971 Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang là người đầu

tiên đã nghiên cứu chuyển hoá grap toán học thành grap dạy học và đã công

bố nhiều công trình trong lĩnh vực này [45], [46], [47], [48], [49], [50], [51]

Trong các công trình đó, Giáo sư đã nghiên cứu những ứng dụng cơ bản của

lý thuyết grap trong khoa học giáo dục, đặc biệt trong lĩnh vực giảng dạy Hoá

học Giáo sư đã hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh và học viên cao học vận

dụng lý thuyết grap để dạy một số chương, một số bài cụ thể của chương trình

hoá học ở trường phổ thông

Trang 7

Năm 1980, Trần Trọng Dương đã nghiên cứu đề tài : “Áp dụng

phương pháp grap và algorit hoá để nghiên cứu cấu trúc và phương pháp giải,

xây dựng hệ thống bài toán về lập công thức hoá học ở trường phổ thông”

[19] Tác giả đã áp dụng phương pháp grap và algorit hoá vào việc phân loại

các kiểu bài toán về lập công thức hoá học và đưa ra kết luận :

• Phương pháp grap và algorit cho phép chúng ta nhìn thấy rõ cấu trúc của

một đầu bài toán hoá học, cấu trúc và các bước giải bài toán

• Bằng grap có thể phân loại, sắp xếp các bài toán về hoá học thành hệ

thống bài toán có logic giúp cho việc dạy và học có kết quả hơn

Năm 1983, Nguyễn Đình Bào nghiên cứu sử dụng grap để hướng dẫn

ôn tập môn Toán Cùng thời gian đó Nguyễn Anh Châu đã nghiên cứu sử

dụng grap hướng dẫn ôn tập môn Văn [59] Các tác giả này đã sử dụng sơ đồ

grap để hệ thống hoá kiến thức mà HS đã học trong một chương hoặc trong

một chương trình nhằm thiết lập mối liên hệ các phần kiến thức đã học giúp

cho HS ghi nhớ lâu hơn

Năm 1984, Phạm Tư với đề tài “Dùng grap nội dung của bài lên lớp để

dạy và học chương Nitơ - Photpho ở lớp 11 trường PTTH”[62], tác giả đã

nghiên cứu việc dùng phương pháp grap với tư cách là PPDH (biến phương

pháp grap trong toán học thành phương pháp dạy học hoá học ổn định) đối

với bài lên lớp nghiên cứu tài liệu mới về hoá học ở chương “Nitơ - phốt pho”

lớp 11 trường trung học phổ thông Đồng thời, tác giả cũng đã xây dựng quy

trình áp dụng phương pháp này cho GV và HS qua tất cả các khâu (chuẩn bị

bài, lên lớp, tự học ở nhà, kiểm tra đánh giá) và đưa ra một số hình thức áp

dụng trong dạy và học hoá học[62] Với thành công của Phạm Tư, lý thuyết

grap đã được vận dụng như một PPDH hoá học thực sự có hiệu quả

Năm 1987, Nguyễn Chính Trung đã nghiên cứu “Dùng phương pháp

grap lập chương trình tối ưu và dạy môn sử dụng thông tin trong chiến

Trang 8

dịch”[58] Trong công trình này tác giả đã nghiên cứu chuyển hoá grap toán

học vào lĩnh vực giảng dạy khoa học quân sự

Năm 1993, Hoàng Việt Anh đã nghiên cứu “Vận dụng phương pháp sơ

đồ - grap vào giảng dạy địa lý các lớp 6 và 8 ở trường THCS” [1] Tác giả đã

tìm hiểu và vận dụng phương pháp grap trong quy trình dạy học môn địa lý ở

trường THCS và đã bổ sung một PPDH cho những bài thích hợp, trong tất cả

các khâu lên lớp (chuẩn bị bài, nghe giảng, ôn tập, kiểm tra) nhằm nâng cao

năng lực lĩnh hội tri thức, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn địa lý Tác giả

đã sử dụng phương pháp grap để phát triển tư duy của HS trong việc học tập

địa lý và rèn luyện kỹ năng khai thác SGK cũng như các tài liệu tham khảo

khác Công trình khoa học vận dụng lý thuyết grap vào dạy học môn địa lý ở

trường phổ thông chứng minh rằng PPDH bằng grap có thể sử dụng đối với

các môn khoa học xã hội

Năm 2000, Phạm Thị My đã nghiên cứu “Ứng dụng lý thuyết grap xây

dựng và sử dụng sơ đồ để tổ chức hoạt động nhận thức của HS trong dạy học

SH ở trung học phổ thông” (luận văn thạc sỹ) Trong đó tác giả chú ý đến việc

xây dựng các sơ đồ về các nội dung kiến thức trong chương trình SH phổ

thông và đưa ra một số phương pháp và biện pháp sử dụng sơ đồ mà sự phân

loại sơ đồ dựa vào tiêu chí nội dung kiến thức

Ngoài ra, grap cũng đã được tìm tòi ứng dụng vào giảng dạy ở các môn

học khác như: Vật lý, Ngữ văn [6]

1.1.4 Nhận xét chung

Lý thuyết grap đã được nghiên cứu và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực

khác nhau Tổng quan các tài liệu về vận dụng lý thuyết graph trong dạy học,

chúng tôi nhận thấy grap có một số ứng dụng cơ bản sau:

• Dùng grap để hệ thống hoá khái niệm

Trang 9

Theo lý thuyết hệ thống, các cấu trúc vật chất tồn tại trong những hệ

thống có tính chất tầng bậc, các khái niệm của các cấu trúc đó cũng mang tính

hệ thống Vì vậy, có thể dùng grap để hệ thống hoá các khái niệm trong một

tổng thể, qua đó mở rộng hiểu biết về đối tượng cần nghiên cứu một cách khái

quát

• Dùng grap cấu trúc hoá nội dung của tài liệu giáo khoa

Cấu trúc hoá tài liệu giáo khoa là tạo nên mối liên hệ giữa các đơn vị

kiến thức trong một hệ thống nhất định (trong một chương trình, một chương

hay một bài) Tổ chức tài liệu học tập thành một hệ thống kiến thức phải dựa

trên những nguyên tắc nhất định, cho phép sắp xếp các hoạt động dạy – học

vào một trật tự và tạo nên hệ thống kiến thức cho HS Đồng thời, qua sự

chiếm lĩnh hệ thống kiến thức ấy mà HS tự bồi dưỡng được phương pháp tự

học, tự nghiên cứu Cấu trúc hoá tài liệu học tập có những ưu điểm sau :

a Hoạt động dạy học có hiệu quả hơn, vì nó cho biết mối quan hệ hữu cơ giữa

những bộ phận kiến thức trong mối liên hệ lôgic với nhau Điều này giúp

HS tập trung chú ý, định hướng các hoạt động trí tuệ vào việc tìm tòi phát

hiện ra ý nghĩa cơ bản của tài liệu nghiên cứu để tự chiếm lĩnh hệ thống tri

thức mới

b Những kiến thức mang tính hệ thống mà HS tự chiếm lĩnh được sẽ nhớ lâu

hơn, tái hiện chính xác hơn, vì sự chiếm lĩnh những kiến thức đó gắn liền

với sự nhận thức có ý nghĩa

c Vốn kiến thức của HS cũng sẽ được huy động dễ dàng hơn, tốt hơn để giải

quyết những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình tìm tòi những mối liên hệ

giữa các yếu tố của của kiến thức cần chiếm lĩnh

• Dùng grap hướng dẫn học sinh tự học

Tự học là một hoạt động tâm lý đặc trưng của con người, hoạt động tự học là

hoạt động tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của cá

Trang 10

nhân hướng tới những mục tiêu nhất định Tự học không chỉ có ý nghĩa trong

thời gian học tập ở nhà trường, mà còn có ý nghĩa lớn trong cuộc đời của mỗi

người Tự học bằng grap có thể được thực hiện dưới các hình thức sau :

a Tự học trên lớp

Đây là hình thức tự học theo hướng phát huy tính độc lập và tính sáng

tạo của HS để thu nhận kiến thức mới trong các bài học hoặc hệ thống hoá

kiến thức GV hướng dẫn HS nghiên cứu nội dung bài khoá trong SGK hoặc

quan sát các mẫu vật, các mô hình cụ thể để xác định các yếu tố cấu trúc của

đối tượng nghiên cứu rồi lập grap để thể hiện các mối quan hệ của các yếu tố

cấu trúc đó Hình thức này giúp cho HS có một phong cách tự học theo SGK

một cách chủ động

b Tự học ở nhà

Tự học ở nhà với mục đích thu nhận kiến thức mới hoặc ôn tập, ghi nhớ

và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt Bằng grap, HS có thể lập được dàn

ý cơ bản của các nội dung học tập Từ đó có điểm tựa để HS ghi nhớ kiến

thức theo một hệ thống logic khoa học Những hình ảnh của grap sẽ giúp cho

HS vận dụng kiến thức một cách nhanh chóng

Thông qua hoạt động học tập bằng grap HS sẽ hình thành tư duy hệ

thống Qua những bài tập, những câu hỏi mang tính khái quát, GV sẽ hình

thành cho HS một phong cách tự học khoa học Nhờ những grap thể hiện mối

quan hệ của các kiến thức, HS sẽ có một phương pháp ghi nhớ bằng “ngôn

ngữ” grap, vừa ngắn gọn, lâu bền và dễ tái hiện, dễ vận dụng trong những

hoàn cảnh cụ thể

Thường xuyên hướng dẫn HS tự học bằng grap sẽ giúp cho HS có thói

quen để tự học suốt đời một cách khoa học

Tóm lại : Những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài và

Việt Nam trong lĩnh vực lý thuyết grap và vận dụng lý thuyết grap vào quá

Ngày đăng: 19/10/2016, 01:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Tình hình sử dụng tranh, bảng số liệu, sơ đồ, đồ thị trong dạy - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH DẠY HỌC GIẢI PHẪU SINH LÝ NGƯỜI Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ
Bảng 1.2. Tình hình sử dụng tranh, bảng số liệu, sơ đồ, đồ thị trong dạy (Trang 14)
2  Đồ thị 31  21%  0  0% - TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH DẠY HỌC GIẢI PHẪU SINH LÝ NGƯỜI Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ
2 Đồ thị 31 21% 0 0% (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w