1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thông qua lý thuyết về hàng hóa chỉ ra thực trạng hàng hóa của Việt Nam

17 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 151,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, không một ai phủ nhận vị trí vai trò đặc biệt quan trọng của hàng hóa trong quá trình phát triển kinh tế và phát triển lực lượng sản xuất xã hội.. ** Trong mỗi hình thái kinh t

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ HÀNG HÓA 2

1.1 Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa 2

1.1.1 Hàng hóa 2

1.1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa 2

1.2 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá 4

1.2.1 Lao động cụ thể và lao động trừu tượng 4

1.2.2 Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa giản đơn (mâu thuẫn giữa chất tư nhân và tính chất xã hội của lao động hàng hóa) 6

1.3 Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa 7

1.3.1 Giá trị của hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng 7

1.3.2 Thước đo lượng giá trị của hàng hóa 7

1.3.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa 8

1.3.4 Cơ cấu lượng giá trị của hàng hóa 9

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM 11

2.1 Thực trạng hàng hóa của Việt Nam 11

2.1.1 Hàng hóa của Việt Nam qua các giai đoạn 11

2.1.2 Đặc điểm của nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam 12

2.1.3 Sự tăng trưởng của các loại hàng hóa ở Việt Nam hiện nay 14

2.2 Phương hướng phát triển cho sản xuất hàng hóa nước ta 14

PHẦN KẾT LUẬN 16

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, đường lối để phát triển nền kinh tế quốc dân Trong đó việc phát triển nền kinh tế hàng hoá là nhiệm vụ cơ bản nhất Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, kinh tế đi lên chủ yếu là sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp, ở một số vùng núi còn mang đậm dấu ấn của kinh tế tự nhiên Lại trải qua nhiều năm chiến tranh, nền kinh tế nước ta không thể vươn dậy nổi một cách vững chắc, hàng hoá sản xuất ra không đủ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân Hơn thế nữa kinh tế hàng hoá ở nước ta lại có một thời gian dài hoạt động theo cơ chế của nền kinh tế tập trung chỉ huy Do vậy việc xây dựng một quan hệ sản xuất mới tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển nhằm thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển là một việc làm tối quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Ngày nay, không một ai phủ nhận vị trí vai trò đặc biệt quan trọng của hàng hóa trong quá trình phát triển kinh tế và phát triển lực lượng sản xuất xã hội Đặc biệt, trong giai đoạn kinh tế thế giới đang ngày càng trở thành một thị trường thông nhất lôi cuốn tất cả các nước chuyển sang kinh tế thị trường và gia nhập vào thị trường quốc tế Do đó, hòa với sự phát triển của kinh tế thị trường trên thế giới thì kinh tế thị trường ở Việt Nam cũng phát triển với tốc độ không kém cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa ngày càng phức tạp

Nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội đã cho ta kết luận rằng: Nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế hàng hoá, thị trường

Nước ta từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, mà xây dựng chủ nghĩa xã hội xét

về mặt kinh tế cũng phải xây dựng nền sản xuất lớn của xã hội chủ nghĩa Mà xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa thì không thể không phát triển nền kinh tế hàng hoá

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta thể hiện quyết tâm phải chuyển nền kinh tế còn nhiều tính chất tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, sản xuất phải gắn liền với thị trường Tuy nhiên, hiện nay hàng hóa Việt Nam đi vào thế giới còn kém về năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh… Vì

sao vậy? Để trả lời cho câu hỏi này, Nhóm 8 đã chọn đề tài: “Thông qua lý thuyết

về hàng hóa chỉ ra thực trạng hàng hóa của Việt Nam”.

Trang 3

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ HÀNG HÓA

1.1 Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa.

1.1.1 Hàng hóa.

- Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán

- Phân loại: Hàng hóa hữu hình – Hàng hóa vô hình ( dịch vụ )

Hàng hóa thông thường – Hàng hóa đặc biệt Hàng hóa tư nhân - Hàng hóa công cộng

1.1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa.

** Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau sản xuất hàng hóa có bản chất khác nhau, nhưng một vật phẩm sản xuất ra khi đã mang hình thái là hàng hóa thì

đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng và giá trị.

+ Giá trị sử dụng: là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của

con người

- Ngay mỗi một vật cũng có thể có nhiều thuộc tính tự nhiên khác nhau, vì vậy nó

có nhiều giá trị sử dụng hay công dụng khác nhau…

Ví dụ: gạo có thể dùng để nấu cơm nhưng cũng có thể dùng làm nguyên liệu trong ngành rượu, bia hay chế biến cồn y tế,

- Số lượng giá trị sử dụng của một vật không phải một lúc đã phát hiện ra được hết,

mà nó được phát hiện dần qua quá trình phát triển của khoa học-kĩ thuật Con người

ở bất kì thời đại nào cũng đều cần đến các giá trị sử dụng khác nhau của vật phẩm

để thỏa mãn những nhu cầu muôn vẻ của mình

- Giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể

hàng hóa quyết định Với ý nghĩa như vậy, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn

C.Mác chỉ rõ: “Trong sử dụng hay tiêu dùng, thì giá trị sử dụng mới được thể hiện”.

Trang 4

- Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hóa

Thí dụ: không khí rất cần cho cuộc sống con người, nhưng không phải là hàng hóa

>> Như vậy, một vật muốn trở thành hàng hóa thì giá trị sử dụng của nó phải là vật được sản xuất để bán, trao đổi, cũng có nghĩa là vật đó phải có giá trị trao đổi… trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi

+ Giá trị: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa.

- Muốn hiểu được giá trị hàng hóa thì phải đi từ giá trị trao đổi Theo C.Mác: “Giá trị trao đổi trước hết biểu hiện ra như là 1 mối quan hệ về số lượng, là 1 tỷ lệ theo

đó những giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác”.

Ví dụ: 1mét vải = 10kg thóc

- Sở dĩ hai hàng hóa khác nhau là vải và thóc lại có thể trao đổi được với nhau, bởi

vì giữa chúng có một điểm chung, điểm chung đó không phải là vải, là thóc…, chúng đều là các sản phẩm của lao động

C.Mác viết: “Nét đặc trưng của quan hệ trao đổi hàng hóa chính lại là việc phải tạm gạt giá trị sử dụng của hàng hóa sang một bên”

- Để sản xuất ra vải và thóc, người lao động phải hao phí lao động để sản xuất ra chúng Hao phí lao động là cơ sở chung để so sánh vải với thóc, để trao đổi giữa chúng với nhau

>> Đến đây ta nhận thức được, thuộc tính tự nhiên của hàng hóa là giá trị sử dụng, thuộc tính xã hội của hàng hóa là giá trị Bất kì một vật nào muốn trở thành hàng hóa đều phải có đủ hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị Nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó sản phẩm không phải hàng hóa

** Giữa hai thuộc tính của hàng hóa luôn có một mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau Trong đó, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình

Trang 5

thức biểu hiện của giá trị bên ngoài Khi trao đổi sản phẩm cho nhau, những người sản xuất ngầm so sánh lao động ẩn giấu trong hàng hóa với nhau

** Thực chất của quan hệ trao đổi là người trao đổi lượng lao động hao phí của mình chứa đựng trong hàng hóa Vì vậy, giá trị là biểu hiện giữa những người sản xuất hàng hóa Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hóa

** Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng là

sự thống nhất của hai mặt đối lập.

* Sự đối lập và mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị thể hiện ở chỗ: người làm

ra hàng hóa đem bán chỉ quan tâm đến giá trị hàng hóa do mình làm ra, nếu họ có chú ý đến giá trị sử dụng cũng chính là để có được giá trị Ngược lại, người mua hàng hóa lại chú ý đến giá trị sử dụng, nhưng muốn tiêu dùng giá trị sử dụng đó người mua phải trá giá trị của nó cho người bán Nghĩa là quá trình thực hiện giá trị thực hiện trước, giá trị sử dụng thực hiện sau

1.2 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá

1.2.1 Lao động cụ thể và lao động trừu tượng.

** Lao động cụ thể và lao động trừu tượng là các thuật ngữ trong kinh tế chính trị

Mac-Lenin dùng để chỉ về tính chất hai mặt của lao động sản xuất, đó là vừa mang

tính chất cụ thể (lao động cụ thể), lại vừa mang tính chất trừu tượng (lao động trừu tượng) Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt đó

+ Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị, là do lao động của

người sản xuất ra hàng hóa có tính hai mặt C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt đó Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng:

Lao động cụ thể Lao động trừu tượng

Khái niệm Lao động cụ thể là lao động

có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có một mục đích riêng, đối tượng riêng,

Lao động trừu tượng là lao

động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của

nó, hay nói cách khác, đó chính là sự tiêu hao sức lao

Trang 6

phương pháp riêng, phương tiện riêng và kết quả riêng

Chẳng hạn, lao động của người thợ may và lao động của người thợ mộc là hai loại lao động cụ thể khác nhau

Lao động của người thợ may

có mục đích là làm ra quần áo chứ không phải bàn ghế; còn phương pháp là may chứ không phải bào, cưa; công cụ lao động là kim, chỉ, máy may chứ không phải là cái cưa, cái bào ; và lao động của người thợ may thì tạo ra quần áo để mặc còn lao động của người thợ mộc tạo ra bàn,

ghế để ngồi

động( tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh) của người sản xuất hàng hóa nói chung Lao động của người thợ mộc

và lao động của người thợ may, nếu xét về mặt cụ thể thì hoàn toàn khác nhau, nhưng nếu gạt tất cả sự khác nhau ấy sang một bên thì chúng có một cái chung là đều phải hao phí sức óc, sức bắp thịt và sức thần kinh của

con người

Đặc trưng

+ Mỗi lao động cụ thể tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất

định:

- Lao động cụ thể càng nhiều loại càng tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau Các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã

hội

- Lao động cụ thể phản ánh trình độ phát triển của phân công lao động xã hội

- Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, hình thức của lao động cụ thể có thể

thay đổi

- Tạo giá trị hàng hóa, làm

cơ sở cho sự ngang bằng trong trao đổi

- Lao động mang phạm trù

lịch sử

- Là lao động đồng nhất và giống nhau về chất

Trang 7

1.2.2 Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa giản đơn (mâu thuẫn giữa chất tư nhân và tính chất xã hội của lao động hàng hóa).

+ Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa vừa là lao động cụ thể vừa là lao động trừu tượng có quan hệ với tính chất tư nhân và tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hóa

+ Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, người sản xuất sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu là việc của mỗi người, không ai có quyền can thiệp vào Họ là người sản xuất độc lập Lao động sản xuất là của họ, do đó có tính chất tư nhân và lao động

cụ thể của họ là biểu hiện của lao động tư nhân của những người sản xuất ấy Đồng thời lao động của người sản xuất hàng hóa lại là lao động xã hội Sự phân công lao động tạo ra mối liên hệ gắn bó những người sản xuất hàng hóa với nhau Người này sản xuất ra để cho người khác dùng, và ngược lại họ cần sản phẩm của người khác Những người sản xuất hàng hóa làm việc cho nhau, thông qua việc trao đổi hàng hóa nên phải quy lại các loại lao động cụ thể thành lao động trừu tượng Do đó lao động trừu tượng là biểu hiện của lao động xã hội

+ Trong nền sản xuất dựa trên chế độ tư hữu, tính chất xã hội của người lao động, của người sản xuất hàng hóa có thể được xã hội chấp nhận và cũng có thể không được xã hội thừa nhận, không bán được hàng hóa thì có nghĩa là không được xã hội thừa nhận

>> Tóm lại, một mặt do cá phân công lao động xã hội nên có trao đổi và có lao động xã hội; lao động xã hội biểu hiện thành lao động trừu tượng và lao động trừu tượng tạo ra giá trị Mặt khác, do có chế độ tư hữu nên có lao động tư nhân; lao động tư nhân biểu hiện thành lao động cụ thể và lao động cụ thể ạo ra giá trị sử dụng

* Trong nền sản xuất hàng hóa, lao động tư nhân và lao động xã hội có mâu thuẫn với nhau Mâu thuẫn đó là mâu thuẫn cơ bản của nền sản xuất hàng hóa giản đơn Mâu thuẫn này biểu hiện ra khi:

+ Sản xuất của người sản xuất hàng hóa nhỏ và nhu cầu của xã hội không ăn khớp với nhau Hoặc sản xuất không đủ cung cấp cho xã hội, sản xuất vượt quá khả năng tiêu thụ của xã hội Trong trường hợp vượt quá khả năng tiêu thụ của xã hội thì sẽ có một số hàng hóa không bán được, tức là không thực hiện được giá trị Sở

dĩ có tình hình đó là do sản xuất dựa trên chế độ tư hữu làm cho người sản xuất không biết được xã hội cần những gì và cần bao nhiêu

Trang 8

+ Mức tiêu hao lao động cá biệt của người sản xuất hàng hóa không phù hợp với mức tiêu hao lao động mà xã hội có thể chấp nhận được Nếu tiêu hao quá mức, xã hội không có khả năng thanh toán, tất nhiên hàng hóa sẽ không bán được

Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội chứa đựng khả năng sẳn xuất “ thừa” và là mầm mống của mọi mâu thuẫn của kinh tế hàng hóa trong tiến trình phát triển của lịch sử

1.3 Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa.

1.3.1 Giá trị của hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng.

- Chất giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa

- Lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định

1.3.2 Thước đo lượng giá trị của hàng hóa.

- Trong thực tế, một một loại hàng hóa đưa ra thị trường là do rất nhiều người sản xuất ra, nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề là không giống nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa của họ là khác nhau Thời gian lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cá biệt của hàng hóa mà từng người sản xuất ra

- Câu hỏi đặt ra là liệu giá trị của hàng hóa càng cao khi lao động cá biệt càng lười biếng vụng về, phải dùng nhều thời gian không?

- Theo C.Mac viết: “Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định đại lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy”.

>> Như vậy, thước đo lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết

- Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng

hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kĩ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định

- Trong một xã hội mà ở đó có hàng triệu người sản xuất hàng hóa, với thời gian lao động cá biệt hết sức khác biệt nhau, thì thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết trùng hợp với thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất và cung cấp đại bộ phận một loại hàng hóa nào đó trên thị trường

Trang 9

1.3.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa.

Có hai nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa là năng suất lao động

và cường độ lao động

Năng suất lao động Cường độ lao động

Khái niệm

+ Năng suất lao động là năng

lực sản xuất của lao động, nó được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn

vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

+ Phân loại: năng suất lao động

cá biệt và năng suất lao động xã hội

Năng suất lao động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa chính là năng suất lao động xã hội

+ Cường độ lao động là đại

lượng chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động

+ Đơn vị: sản phẩm / thời gian

hoặc thời gian / sản phẩm

Ảnh hưởng

đến lượng

giá trị hàng

hóa

+ Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ thuận với số lượng lao động kết tinh

+ Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội

Như vậy, muốn giảm giá trị của

mỗi đơn vị hàng hóa xuống, thì

ta phải tăng năng suất lao động

xã hội

+ Khi cường độ lao động tăng lên, số lượng hay khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên; hao phí sức lao động cũng tăng lên tương ứng, nên tổng giá trị của hàng hóa tăng lên, còn giá trị một đơn vị hàng hóa không đổi

+ Tăng cường độ lao động thực chất cũng như kéo dài thời gian lao động

+ Cường độ lao động phụ

thuộc vào: trình độ tổ chức

quản lý; quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất; thể chất, tinh thần của người lao động

Trang 10

Vấn đề đặt ra ở đây là: có phải lượng giá trị tạo ra của bất cứ ai làm việc gì, nghề gì trong cùng một đơn vị thời gian lao động đều như nhau?

* Xem xét giữa hai trường hợp của một người thợ kĩ sư với một người rửa bát:

- Bất cứ người lao động bình thường nào, không trải qua đào tạo, không cần sự phát triển hay sáng tạo đặc biệt đều có thể làm được công việc rửa bát là biểu hiện cho lao động giản đơn

- Còn đối với công việc của người thợ kĩ sư lại khác, để có thể làm được những sản phẩm đòi hỏi sự hiểu biết, tay nghề và óc sáng tạo đặc biệt người thợ này nhất định phải trải qua quá trình đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề, đây là biểu hiện cho lao động phức tạp

Để cho các hàng hóa do lao động giản đơn tạo ra có quan hệ bình đẳng với các hàng hóa do lao động phức tạp tạo ra, trong quá trình trao đổi người ta quy mọi lao

động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình.

Vì vậy, trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo

ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn Theo C.Mác viết: “lao động phức tạp… chỉ là lao động giản đơn được nhân lên lũy thừa, hay nói cho đúng hơn,

là lao động giản đơn được nhân lên…” Lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng

thời gian lao động xã hội cần thiết, giản đơn trung bình

1.3.4 Cơ cấu lượng giá trị của hàng hóa.

* Xét đến công thức sau:

W = c + v + m

Trong đó: - w là giá trị của hàng hóa

- c là giá trị cũ tái hiện, là phương tiện tất yếu để tạo ra

hàng hóa có giá trị mới theo mong muốn

- v là chi phí phải thanh toán trong quá trình tạo ra hàng

hóa có giá trị mới theo mong muốn

- m là biểu hiện cho giá trị thặng dư (hay lợi nhuận) mà

người sản xuất thu về

+ Trong quá trình sản xuất, để có thể sản xuất ra một lượng hàng hóa nhất định phải cần đến chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ tồn tại trong các yếu tố tư liệu sản xuất như: máy móc, công cụ, nguyên vật liệu và lao động sống hao phí trong quá trình chế biến tư liệu sản xuất thành sản phẩm mới Sau đó, hàng hóa mới

được tạo ra mang lượng giá trị nhất định bao gồm: giá trị cũ có trong sản phẩm (c), giá trị mới có trong sản phẩm (k+m).

>> Theo đó, sự hình thành từng bộ phận giá trị được phản ánh như sau:

Ngày đăng: 18/10/2016, 22:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w