1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế

87 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÊ VĂN LƯƠNG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH CÚM GIA CẦM VÀ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA GÀ, VỊT ĐỐI VỚI VACCINE H5N1 TẠI 03 HUYỆN TĨNH GIA

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ VĂN LƯƠNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH CÚM GIA CẦM VÀ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA GÀ, VỊT ĐỐI VỚI VACCINE H5N1 TẠI 03 HUYỆN TĨNH GIA, QUẢNG XƯƠNG, NHƯ THANH TỈNH THANH HÓA, BIỆN PHÁP KHỐNG CHẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ VĂN LƯƠNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH CÚM GIA CẦM VÀ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA GÀ, VỊT ĐỐI VỚI VACCINE H5N1 TẠI 03 HUYỆN TĨNH GIA, QUẢNG XƯƠNG, NHƯ THANH TỈNH THANH HÓA, BIỆN PHÁP KHỐNG CHẾ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, quý

báu của nhiều cá nhân và tập thể tạo điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Trước hết tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giảng viên hướng dẫn

khoa học PGS TS Đặng Xuân Bình người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi

trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý của các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi

Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi

thực hiện đề tài

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Chẩn đoán Thú y

Vùng 3 (Vinh), Cục thú y Trung ương, Ban lãnh đạo Chi cục Thú y tỉnh Thanh Hóa,

Ban lãnh đạo Trạm thú y huyện Tỉnh Gia, Quảng Xương và Như Thanh đã tạo điều

kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn gia đình và những người thân, các cán bộ, đồng nghiệp luôn

luôn động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Văn Lương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung

thực, lần đầu tiên được triển khai trên địa bàn 3 huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương,

Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ

nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Văn Lương

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

Chương 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Giới thiệu chung về cúm gia cầm 4

1.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới và trong nước 5

1.2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới 5

1.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam 6

1.2.3 Tình hình dịch cúm gia cầm tại Thanh Hóa 8

1.3 Đặc điểm sinh học của virus cúm type A 9

1.3.1 Đặc điểm cấu trúc chung của virus thuộc họ Orthomyxoviridae 9

1.3.2 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của virus cúm type A 10

1.3.3 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm type A 11

1.3.4 Thành phần hóa học của virus 13

1.3.5 Quá trình nhân lên và tác động gây bệnh của virus 13

1.3.6 Độc lực của virus 14

1.3.7 Danh pháp 15

1.3.8 Phân loại virus 15

1.3.9 Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm gà 16

1.3.10 Miễn dịch chống bệnh cúm gia cầm 16

1.4 Dịch tễ học bệnh cúm gia cầm 20

1.4.1 Phân bố dịch 20

1.4.2 Động vật cảm nhiễm 20

1.4.3 Động vật mang virus 21

1.4.4 Sự truyền lây 22

1.4.5 Sức đề kháng của virus cúm 23

1.5 Triệu chứng, bệnh tích của bệnh cúm gia cầm 23

1.5.1 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm 23

Trang 6

1.5.2 Bệnh tích của bệnh cúm gia cầm 24

1.6 Chẩn đoán bệnh 25

1.7 Kiểm soát bệnh 26

1.8 Vaccine phòng bệnh cúm gia cầm 27

1.8.1 Các loại vaccine phòng bệnh cúm gia cầm hiện nay 28

1.8.2 Một số loại vaccine phòng bệnh cúm gia cầm và cách sử dụng 29

1.9 Nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh cúm gia cầm 30

Chương 2 : NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Nội dung nghiên cứu 32

2.1.1 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm trên phạm vi cả nước và ở tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2012-2014 32

2.1.2 Nghiên cứu sự đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn gà, vịt được tiêm phòng vaccine H5N1 năm 2014 tại 3 huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương và Như Thanh tỉnh Thanh Hóa 32

2.1.3 Giám sát sự lưu hành virus cúm trên đàn gia cầm đã được tiêm phòng vaccine type A H5N1 32

2.1.4 Đề xuất biện pháp khống chế dịch cúm gia cầm tại 3 huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương, Như Thanh nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung 33

2.2 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 33

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 33

2.3 Vật liệu nghiên cứu 33

2.4 Phương pháp nghiên cứu 33

2.4.1 Phương pháp điều tra dịch tễ học 33

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn gia cầm sau tiêm vaccine H5N1 34

Chương 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

3.1 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm trên phạm vi cả nước và ở tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2012-2014 44

3.1.1 Diễn biến bệnh cúm gia cầm giai đoạn từ 2012 đến 2014 trên phạm vi cả nước 44

Trang 7

3.1.2 Tổng hợp tình hình bệnh cúm gia cầm H5N1 tại các địa phương trên phạm vi

cả nước trong năm 2014 45

3.1.3 Tình hình bệnh cúm type A H5N1 ở gà tại 3 huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương và Như Thanh năm 2014 49

3.1.4 Tình hình bệnh cúm type A H5N6 ở gà tại 3 huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương và Như Thanh năm 2015 49

3.1.5 Tình hình bệnh cúm gia cầm type A theo phương thức chăn nuôi tại 3 huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương và Như Thanh 51

3.1.6 Tình hình gà mắc bệnh cúm gia cầm H5N1 theo quy mô đàn gia cầm trong năm 2014 53

3.2 Nghiên cứu sự đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn gà, vịt được tiêm phòng vaccine H5N1 năm 2014 tại 3 huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương và Như Thanh tỉnh Thanh Hóa 56

3.2.1 Kết quả tiêm phòng vaccine cúm cho đàn gia cầm tại 3 huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương, Như Thanh 56

3.2.2 Giám sát lâm sàng trên đàn gia cầm sau khi tiêm phòng vaccine cúm H5N1 57 3.2.3 Giám sát huyết thanh học của đàn gà sau khi được tiêm phòng vaccine cúm H5N1 59

3.2.4 Khảo sát đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của vịt được tiêm vaccine cúm A H5N1 63

3.3 Giám sát sự lưu hành virus cúm trên đàn gia cầm đã được tiêm phòng vaccine type A H5N1 65

3.4 Đề xuất biện pháp khống chế dịch cúm gia cầm tại 3 huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương, Như Thanh nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung 66

3.4.1 Nguyên nhân dịch cúm gia cầm tiếp tục xảy ra tại các địa phương 66

3.4.2 Đề xuất biện pháp khống chế dịch cúm gia cầm 67

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69

5.1 Kết luận 69

5.2 Đề nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ARN Acid ribonucleic

NNo & PTNN Nông nghiệp và phát triển nông thôn

OIE Office International Epizooties

PBS Phosphate Buffered Saline

RT - PCR Reverse Transcription - Polymerase Chain Reaction RTRT - PCR Real time Reverse Transcription - Polymerase Chain Reaction WHO World Health Organization

XN Xét nghiệm

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Trình tự chuỗi của mẫu dò và Primer cho RTRT - PCR phát hiện cúm gia

cầm 38Bảng 2.2 Chu kỳ nhiệt của bước phiên mã ngược (RT) dùng cho Quiagen one step

RT - PCR kit 41Bảng 2.3 Chu kỳ nhiệt cho tổng hợp gen và các cặp mồi 41Bảng 3.1: Kết quả điều tra tình hình bệnh cúm gia cầm giai đoạn 2012 – 2014 trên

phạm vi cả nước 44Bảng 3.2: Kết quả điều tra tình hình bệnh cúm gia cầm H5N1 tại các địa phương

trong năm 2014 46Bảng 3.3: Kết quả điều tra bệnh cúm gia cầm type A H5N1 năm 2014 ở gà tại 3

huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương và Như Thanh 49Bảng 3.4: Kết quả điều tra bệnh cúm gia cầm type A H5N6 năm 2015 ở gà tại 3

huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương và Như Thanh 50Bảng 3.5: Kết quả điều tra gia cầm mắc bệnh cúm gia cầm type A H5N1 trong năm

2014 theo phương thức chăn nuôi 51Bảng 3.6: Kết quả điều tra gia cầm mắc bệnh cúm gia cầm type A H5N6 trong năm

2015 theo phương thức chăn nuôi 52Bảng 3.7: Kết quả điều tra tình hình gà nuôi tại Tĩnh Gia, Quảng Xương, Như

Thanh năm 2014 mắc cúm gia cầm type A H5N1 theo quy mô đàn 54Bảng 3.8: Kết quả điều tra tình hình gà, vịt nuôi tại Tĩnh Gia, Quảng Xương, Như

Thanh năm 2015 mắc cúm gia cầm type A H5N6 theo quy mô đàn 55Bảng 3.9: Kết quả tiêm phòng vaccine cúm H5N1 tại 3 huyện Tĩnh Gia, Quảng

Xương và Như Thanh tỉnh Thanh Hóa năm 2014 56Bảng 3.10: Kết quả theo dõi độ an toàn của vaccine cúm H5N1 (Vaccine cúm A

H5N1 vô hoạt nhũ dầu NAVET-Vifluvac) trên đàn gia cầm được tiêm phòng 58Bảng 3.11: Kết quả giám sát đàn gia cầm trước khi tiêm vaccine H5N1 59Bảng 3.12: Hiệu giá kháng thể của gà được tiêm vaccine H5N1 (Vaccine cúm A

H5N1 vô hoạt nhũ dầu NAVET-Vifluvac) 60

Trang 10

Bảng 3.13: Tần số phân bố các mức kháng thể của gà được tiêm vaccine H5N1 63Bảng 3.14: Hiệu giá kháng thể trung bình của vịt được tiêm vaccine cúm A H5N164Bảng 3.15: Phân bố hiệu giá kháng thể của đàn vịt trong tỉnh được tiêm vaccine

cúm A H5N1 (Vaccine cúm A H5N1 vô hoạt nhũ dầu Vifluvac) qua các thời điểm 65Bảng 3.16: Kết quả giám sát lưu hành virus cúm type A H5N1 trên đàn gà đã được

NAVET-tiêm phòng vaccine 66

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 1.1 Virus cúm H5N1 10Hình 3.1: Biểu đồ so sánh tình dịch cúm gia cầm H5N1 trong 3 năm 45Hình 3.2: Bản đồ dịch tễ dịch cúm gia cầm H5N1 năm 2014 trên phạm vi cả nước47

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thanh Hóa là tỉnh nằm ở cực bắc của Trung Bộ Việt Nam, có đường biên giới với Lào và có bờ biển thuộc vịnh Bắc Bộ Với diện tích lớn so với các tỉnh thành của Việt Nam, địa lý Thanh Hóa khá đa dạng, mang nhiều đặc điểm của Bắc

Bộ và Bắc Trung Bộ, đồng thời cũng có những nét đặc trưng riêng

Ngày nay, theo số liệu đo đạc hiện đại của cục bản đồ thì Thanh Hóa nằm ở

vĩ tuyến 19°18' Bắc đến 20°40' Bắc, kinh tuyến 104°22' Đông đến 106°05' Đông Phía bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía nam và tây nam giáp tỉnh Nghệ An; phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn nước Lào với đường biên giới 192 km; phía đông Thanh Hóa mở ra phần giữa của Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với bờ biển dài hơn 102 km Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là.106 km², đứng thứ 6 trong cả nước, chia làm 3 vùng: đồng bằng ven biển, trung du, miền núi Thanh Hóa

có thềm lục địa rộng 18.000 km²

Bệnh cúm gia cầm do virus cúm type A thuộc họ Orthomyxoviridae với

nhiều phân type khác nhau gây nên (Ito và cs, 1998) [43] Virus cúm gia cầm chủng độc lực cao (HPAI) gây bệnh cúm nguy hiểm, có tốc độ lây lan rất nhanh với tỷ lệ gây chết cao trong đàn gia cầm nhiễm bệnh (Cục Thú y, 2004) [5] Virus cúm gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, các loài chim và còn gây bệnh cho người Với những tính chất nguy hiểm của bệnh, Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) xếp bệnh cúm gia cầm vào Bảng A, danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất (Cục Thú y, 2004) [5]

Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới, gây thiệt hại nặng nề về mặt kinh tế, chính trị và xã hội Virus cúm gia cầm là virus ARN phân mảnh có 2 kháng nguyên

bề mặt H (từ H1 đến H16) và N (từ N1 đến N9) có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học và miễn dịch học (Tô Long Thành và cs, 2009) [31] Dịch cúm gia cầm đang là mối quan tâm và đáng lo ngại của toàn cầu, đến nay đã có hơn 50 nước trên thế giới xuất hiện dịch và có chiều hướng diễn biến phức tạp

Trang 13

Tại Việt Nam, dịch cúm gia cầm xuất hiện vào cuối năm 2003, trong khi chăn nuôi gia cầm chủ yếu rải rác ở các nông hộ rất khó kiểm soát bệnh, việc kiểm soát bệnh ngày càng trở nên khó khăn vì đây là một loại dịch bệnh mới, lây lan rất nhanh Ở nước ta khi dịch cúm gia cầm xảy ra, Ban chỉ đạo phòng chống dịch quốc gia đã nghiên cứu, áp dụng biện pháp tiêm phòng vaccine cho đàn gia cầm trong cả nước Việc áp dụng tiêm phòng vaccine cho đàn gia cầm như một giải pháp, một công cụ hỗ trợ tích cực để ngăn chặn, khống chế và thanh toán bệnh cúm gia cầm ở những vùng bị nhiễm bệnh Theo quan điểm của OIE, FAO, WHO [6,7,8] nên sử dụng vaccine như một biện pháp chiến lược toàn diện phòng chống bệnh cúm gia cầm Trong năm 2013, Thanh Hóa cũng được tiêm phòng vaccine H5N1 của Trung Quốc cho đàn gia cầm trong toàn tỉnh

Trong năm 2014, các ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đã xuất hiện tại 158 xã, phường của 93 huyện, thị xã thuộc 33 tỉnh, thành phố Số gia cầm mắc bệnh là

212.600 con (gà hơn 76.000 con, chiếm 36% tổng số mắc bệnh và vịt hơn 136.000

con, chiếm 64%); trong đó số chết là hơn 101.900 con (gà chiếm 31,6% trong tổng

số chết, vịt chiếm 68,4%) Ngoài ra, một số địa phương khác có xuất hiện các điểm

dịch trên đàn gia cầm dưới dạng nhỏ lẻ (một vài hộ chăn nuôi) nhưng đã được phát hiện và xử lý kịp thời, không để dịch lây lan Từ cuối tháng 3 đến tháng 11/2014, cả nước đã kiểm soát được dịch cúm gia cầm H5N1 Tuy nhiên, cuối tháng 11/2014 đã xuất hiện 03 ổ dịch cúm gia cầm H5N1 ở 03 hộ chăn nuôi tại 03 xã của 03 huyện thuộc 02 tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long làm 1.027 con gia cầm mắc bệnh và phải tiêu hủy

Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy, với cùng một loại vaccine nhưng khi tiêm phòng đại trà tại các địa phương khác nhau thì cho đáp ứng miễn dịch với đàn gia cầm cũng khác nhau Vì vậy, nghiên cứu khả năng đáp ứng miễn dịch của gia cầm với vaccine H5N1 ngoài thực địa tại Thanh Hóa để biết hiệu quả phòng bệnh của vaccine, tỷ lệ bảo hộ và độ dài miễn dịch của gia cầm, từ đó xác định thời gian tiêm nhắc lại phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của vaccine là hết sức cần thiết Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn sản xuất, chúng tôi đã tiến hành

đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine H5N1 tại 03 huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương, Như Thanh tỉnh Thanh Hóa, biện pháp khống chế”

Trang 14

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm type A tại 3 huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương và Như Thanh tỉnh Thanh Hóa

- Nghiên cứu sự lưu hành của virus cúm type A H5N1 trong đàn gà, vịt tại huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương, Như Thanh tỉnh Thanh Hóa

- Đánh giá đáp ứng ứng miễn dịch của gà và vịt sau khi tiêm vaccine H5N1 tại tỉnh Thanh Hóa

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp, bổ sung và hoàn thiện các thông tin khoa học về bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam

- Là cơ sở xây dựng kế hoạch tiêm phòng vaccine cúm gia cầm hợp lý trên địa bàn của 3 huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương, Như Thanh nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung trong thời gian tiếp theo

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giới thiệu chung về cúm gia cầm

Bệnh cúm ở gia cầm bệnh cúm gà (Avian influenza) là một bệnh truyền nhiễm

gây ra bởi virus cúm type A thuộc họ Orthomyxoviridae với nhiều subtype khác nhau

vì thế bệnh cúm gia cầm đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn bao giờ hết (Lê Văn Năm, 2004) [21], (Cục Thú y, 2005) [6]

Năm 412 trước công nguyên, Hippocrate đã mô tả về bệnh cúm Năm 1680 một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và từ đó đến nay đã xảy ra 31 vụ đại dịch Trong hơn 100 năm qua đã xảy ra 4 vụ đại dịch cúm vào các năm 1889, 1918,

Đến nay, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở khắp các châu lục với mức độ ngày càng nguy hiểm hơn đối với các loài gia cầm và sức khoẻ của cộng đồng, đã thôi thúc hiệp hội các nhà chăn nuôi gia cầm trên thế giới tổ chức nhiều hội thảo chuyên đề về bệnh cúm gà Hội thảo lần đầu tiên tổ chức vào năm 1981, lần

Trang 16

thứ 2 tại Ailen năm 1987, lần thứ 3 cũng tại Ailen năm 1992 Từ đó đến nay trong các hội nghị về dịch tễ n ó i c h u n g trên thế giới, cúm gia cầm luôn được quan tâm, thảo luận

1.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới và trong nước

1.2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới

Virus cúm gia cầm phân bố khắp toàn cầu, vì vậy dịch bệnh đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới

Năm 1983 - 1984 ở Mỹ, dịch cúm gà xảy ra do chủng virus H5N2 ở 3 bang Pensylvania, Virginia và Newtersey làm chết và tiêu huỷ hơn 19 triệu gà (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [18] Cũng trong thời gian này tại Ireland người ta đã phải tiêu huỷ

270 nghìn con vịt tuy không có triệu chứng lâm sàng nhưng đã phân lập được virus cúm chủng độc lực cao (HPAI) để loại trừ bệnh một cách hiệu quả, nhanh chóng

Năm 1977, ở Minesota đã phát hiện dịch trên gà tây do chủng H7N7

Năm 1986, ở Australia dịch cúm gà xảy ra tại bang Victoria do chủng H5N2 Năm 1997, ở Hồng Kông dịch cúm gà xảy ra do virus cúm typ Asubtyp H5N1 Toàn bộ đàn gia cầm của lãnh thổ này đã bị tiêu diệt vì đã gây tử vong cho con người (Cục Thú y, 2004) [5] Như vậy đây là lần đầu tiên virus cúm gia cầm đã vượt “rào cản về loài” để lây cho người ở Hồng Kông làm cho 18 người nhiễm bệnh, trong đó có 6 người chết

Năm 2003, ở Hà Lan dịch cúm gia cầm xảy ra với quy mô lớn do chủng H7N7 làm 30 triệu gia cầm bị tiêu huỷ, 83 người lây nhiễm và 1 người chết, gây thiệt hại về kinh tế hết sức nghiêm trọng (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [19]

Từ cuối năm 2003 - 2005 đã có nước và vùng lãnh thổ xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1 gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông và Việt Nam Ngoài ra có 7 nước

và vùng lãnh thổ khác có dịch cúm gia cầm các chủng khác là Pakistan, Hoa

Kỳ, Canada, Nam Phi, Ai Cập, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Đài Loan Vào cuối tháng 3/2005 tại Myanmar đã phát hiện hàng ngàn gà chết nghi bệnh cúm gia cầm Tính đến nay, đã có tổng cộng 55 nước và vùng lãnh thổ bùng phát dịch cúm làm 250 triệu con gia cầm bị chết hoặc tiêu hủy bắt buộc

Trang 17

Bệnh cúm cũng lây sang người với 258 trường hợp nhiễm bệnh và 154 người đã chết (Lê Văn Năm, 2004) [20]

1.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam

Cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm phát ra tại trại gà giống của Công ty CP (Thái Lan) ở xã Thuỷ Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, gây ốm và chết 8.000 gà trong 4 ngày Ngày 02/01/2004, Công ty đã tiến hành tiêu huỷ 100.000

gà Dịch đã nhanh chóng lây lan ra hầu hết các tỉnh trong cả nước

Để thuận lợi cho việc đánh giá về dịch tễ học có thể chia quá trình dịch từ khi xuất hiện vào cuối năm 2003 đến nay thành 6 đợt dịch như sau:

* Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 3/2004: Cuối năm 2003, dịch cúm

gia cầm thể độc lực cao với tác nhân gây bệnh là virus cúm H5N1 xảy ra ở Việt Nam Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta dịch cúm gia cầm xuất hiện ở Hà Tây, Long An và Tiền Giang, vì thế nó có thể được coi là một bệnh mới ở gia cầm Dịch lây lan một cách nhanh chóng cùng một lúc ở nhiều địa phương khác nhau,

đã gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi gia cầm Chỉ trong vòng 2 tháng, đến ngày 27/02/2004 dịch đã xuất hiện ở 2.574 xã, phường (chiếm 24,6%) thuộc 381 huyện, quận, thị xã (chiếm 60%) của 57 tỉnh, thành phố trong cả nước Tổng số gia cầm bị mắc bệnh, chết và tiêu hủy hơn 43,9 triệu con, chiếm 16,8% tổng đàn, trong đó gà là 30,4 triệu con; thủy cầm là 13,5 triệu con Ngoài ra còn có 14,76 triệu con chim cút và các loại chim khác bị chết và bị tiêu huỷ

cao đã tái xuất hiện vào giữa tháng 4 năm 2004 ở một số tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Bệnh chủ yếu xuất hiện ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và hầu như không có trại chăn nuôi qui mô lớn nào bị nhiễm bệnh Dịch có khuynh hướng xuất hiện ở những vùng có chăn nuôi nhiều thủy cầm Dịch đã xảy ra ở 46 xã, phường của 32 quận, huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh Thời gian cao điểm nhất là tháng 7 sau đó giảm dần, đến tháng 11 cả nước chỉ có 1 điểm phát dịch Tổng số gia cầm bị tiêu huỷ trong thời gian này là 84.078 con, trong đó có 55.999 gà, 8.132 vịt và 19.947 chim cút

Trang 18

* Đợt dịch thứ 3 từ tháng 12/2004 đến 5/2005: Trong thời gian này dịch đã

xuất hiện ở 670 xã của 182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố (15 tỉnh phía Bắc, 21 tỉnh phía Nam) Dịch xuất hiện nhiều nhất vào tháng 1/2005 với 143 ổ dịch xảy ra trên 31 tỉnh thành phố, số gia cầm tiêu hủy là 470.495 gà, 825.689 vịt, ngan và 551.029 chim cút Bệnh xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch cúm, 2004-2005) [2]

* Đợt dịch thứ 4 từ tháng 10/2005 đến 12/2005: Từ đầu tháng 10/2005 đến

15/12/2005 dịch đã tái phát ở 285 xã, phường, thị trấn thuộc 100 quận, huyện của 24 tỉnh, thành phố Số gia cầm ốm, chết và tiêu hủy là 3.735.620 con, trong đó có 1.245.282 gà; 2.005.557 vịt; 484.781 chim cút, bồ câu, chim cảnh

* Trong 10 tháng đầu năm 2006 ở Việt Nam không xảy ra dịch, do sự chỉ đạo phòng dịch quyết liệt của Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia về hiệu quả của chiến dịch tiêm phòng Đến cuối năm lại xuất hiện các ổ dịch trên đàn vịt chăn nuôi nhỏ lẻ, chưa tiêm phòng vaccine

* Đợt dịch thứ 5 bắt đầu và kéo dài trong suốt năm 2007: Dịch không tập

trung mà rải rác, lẻ tẻ ở khắp nơi và có thể chia nhiều đợt Từ ngày 6/12/2006 đến 7/3/2007 dịch xảy ra trên 83 xã, phường của 33 quận, huyện thuộc tỉnh, thành gồm

Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh Long, Kiên Giang, Sóc Trăng, Hà Nội, Hải Dương và Hà Tây Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy

là 103.094 con, trong đó có 13.622 gà; 89.472 ngan, vịt Từ 1/5/2007 đến 23/8/2007, dịch xảy ra ở 167 xã, phường của 10 huyện, thị thuộc 23 tỉnh, thành là Nghệ An, Thanh Hóa , Cần Thơ, Sơn La, Nam Định, Đồng Tháp, Bắc Giang, Hải Phòng, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Quảng Nam, Thái Bình, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Cao Bằng, Cà Mau, Điện Biên, Quảng Bình, Thái Nguyên

và Trà Vinh Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 294.894 con (21.525 gà; 264.549 vịt và 8.775 ngan) Sau khi bị khống chế trong vòng 1 tháng, đến tháng 10/2007, dịch lại tái phát trên địa bàn các tỉnh Trà Vinh, Quảng Trị, Nam Định, Cao Bằng, Hà Nam và Bến Tre

* Đợt dịch thứ 6 từ đầu năm 2008 đến nay, xảy ra lẻ tẻ, rải rác với 74 đàn

gia cầm tại 57 xã, phường của 40 huyện thị thuộc 21 tỉnh phát dịch Tổng số gia cầm tiêu hủy là 60.090 con, trong đó có 23.498 gà, 36.592 thủy cầm (Văn Đăng Kỳ, 2008) [25]

Trang 19

Về phân bố địa lý: Các đợt dịch phát ra tập trung ở khu vực Đồng bằng Sông

Cửu Long và Đồng bằng Sông Hồng Những vùng này có nhiều hệ thống sông ngòi, kênh rạch, mật độ chăn nuôi cao, tổng đàn gia cầm lớn và việc buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ gia cầm cao hơn các vùng khác

Về thời gian xảy ra dịch: Dịch phát ra nặng vào vụ Đông Xuân, cao

điểm vào cuối tháng 1 đầu tháng 2 Trong thời gian này thời tiết thay đổi, độ ẩm cao, nhiệt độ thường xuống thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho virus cúm tồn tại, phát triển và lây lan Đồng thời giai đoạn này là lúc mật độ chăn nuôi gia cầm và hoạt động vận chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm diễn ra sôi động nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi cho sự bùng phát và lây lan dịch

Về loài mắc bệnh: Đợt dịch thứ nhất và thứ hai tỷ lệ gà mắc bệnh cao hơn

vịt, ngan Nhưng đợt dịch thứ 3 đã có sự thay đổi lớn khi các thống kê cho thấy

tỷ lệ mắc bệnh, chết và tiêu huỷ ở vịt cao gần gấp 2 lần gà Điều này cho thấy mầm bệnh đã lây lan, tồn tại trong đàn thuỷ cầm, có thể tăng độc lực và bột phát thành đợt dịch thứ 3 Tỷ lệ dương tính huyết thanh ở đàn thuỷ cầm tăng từ 15% trong đợt

2 lên 39,6% trong đợt 3

Về loại hình, quy mô và mức độ dịch: Dịch phát ra ở tất cả các loại hình chăn

nuôi, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở loại hình chăn nuôi hỗn hợp các loài gia cầm (đặc biệt chăn nuôi gà lẫn với vịt) và giảm dần ở những trại chăn nuôi gà có số lượng lớn Qui mô của dịch đợt 1 là lớn nhất, trong đợt 2, 3 và 4 mặc dù dịch vẫn xảy ra ở nhiều tỉnh, thành phố nhưng quy mô giảm đi nhiều (Dự án sử dụng vaccine ) [7]

1.2.3 Tình hình dịch cúm gia cầm tại Thanh Hóa

- Tổng đàn gia cầm của tỉnh Thanh Hóa theo thống kê mới nhất là 18,07 triệu con

- Từ đầu năm 2011 đến tháng 6 năm 2013 tỉnh Thanh Hóa đã xảy ra các đợt dịch cúm gia cầm, cụ thể là:

- Đợt 1: Từ ngày 21/1 đến 20/2/2011 dịch cúm gia cầm đã xảy ra tại 4 huyện: Hậu Lộc, Hà Trung, Nông Cống, Như Thanh làm chết và tiêu hủy 3.257 con gia cầm

- Đợt 2: Từ ngày 15/2 đến 25/2/2012 đã có năm ổ dịch cúm gia cầm xảy ra tại 5 xã của huyện Tỉnh Gia, cuối năm từ 19/11- 6/12 dịch xảy ra tại hai huyện thị

là Hà Trung và Bỉm Sơn làm chết và buộc tiêu huỷ 278.553 con gia cầm

Trang 20

- Đợt 3: Từ ngày 18/5 đến 30/5/2012 dịch cúm gia cầm xảy ra tại 2 huyện N ô n g C ố n g , N h ư T h a n h làm chết và tiêu huỷ 6.793 con gia cầm

- Đợt 4: Từ 12/2 đến 27/3/2013 dịch xảy ra tại 4 huyện: Như Xuân, Ngọc Lặc, Bá Thước, Nông Cống

- Đợt 5: Từ ngày 24/02/2014 đến 25/04/2014 dịch xảy ra tại huyện Tĩnh Gia

- Đợt 6: Xảy ra vào ngày 12/3/2015 tại 2 thôn thuộc xã Hải Lĩnh, huyện Tĩnh Gia Hiện đã tiêu hủy 1.023 con gia cầm (gà, vịt) của 15 hộ xung quanh nơi phát hiện ổ dịch Chi cục Thú y Thanh Hóa đã lấy mẫu đi xét nghiệm tại Cơ quan Thú y vùng 3 Theo đó, mẫu bệnh phẩm trên dương tính với virus cúm A/H5N6

1.3 Đặc điểm sinh học của virus cúm type A

1.3.1 Đặc điểm cấu trúc chung của virus thuộc họ Orthomyxoviridae

Họ Orthomyxoviridae gồm có 4 nhóm virus là:

- Nhóm virus cúm A: Gây bệnh cho mọi loài chim, một số động vật có vú và người

- Nhóm virus cúm B: Chỉ gây bệnh cho người

- Nhóm virus cúm C: Gây bệnh cho người, lợn

Virus thuộc họ Orthomyxoviridae có đặc tính cấu trúc chung là hệ gen chứa

axit ribonucleic (ARN) một sợi, có cấu trúc là sợi âm được ký hiệu là ss (-)ARN (Negative Single Stranded RNA) Sợi âm ARN của hệ gen có độ dài từ 10.000 - 15.000 nucleotit (phụ thuộc loại virus), mặc dù nối với nhau thành 1 sợi ARN liên tục, nhưng hệ gen lại chia thành 6 - 8 phân đoạn (segment), mỗi phân đoạn là một gen chịu trách nhiệm mã hóa cho mỗi loại protein của virus Hạt virus (virion) có cấu trúc hình khối, đôi khi có dạng hình khối kéo dài, đường kính khoảng 80 - 120 nm

Vỏ virus có bản chất protein có nguồn gốc từ nguồn tế bào mà virus đã gây nhiễm, bao gồm một số protein được glycosyl hóa (glycoprotein) và một số protein dạng trần không được glycosyl hóa (non glycosylated protein) Protein bề mặt có cấu trúc từ các loại glycoprotein, đó là những gai, mấu có độ dài 10 - 14 nm, đường kính 4 - 6 nm Nucleocapsid bao bọc lấy nhân virus là tập hợp của nhiều protein phân đoạn, cấu trúc đối xứng xoắn, kích thước 130 - 150 nm, tạo vòm (loop) ở giới hạn cuối của mỗi phân đoạn và liên kết với nhau qua cầu nối các peptit Phân tử lượng của hạt virus vào khoảng 250 triệu dalton (Muphy, 1996 [52];

Lê Thanh Hòa, 2004 [13])

Trang 21

1.3.2 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của virus cúm type A

Phân bố trên bề mặt của virus là loại protein gây ngưng kết hồng cầu có tên gọi là Hemagglutinin (HA) và một loại protein có chức năng là một loại enzym phá hủy thụ thể của virus có tên gọi Neuraminidae (NA), chúng là các glycoptein riêng biệt (Kawoaka, 1988) [46]

Hạt virion có cấu trúc là axit ribonucleic sợi âm ở dạng đơn, độ dài 13.500 nucleotit chứa 8 phân đoạn kế tiếp nhau mã hóa cho 10 loại protein khác nhau của virus là HA, NA, NP, M1, M2, BP1, BP2, PA, NS1, NS2

Tám phân đoạn của sợi RNA có thể tách và phân biệt rõ ràng nhờ phương pháp điện di (Muphy, 1996) [52]

Hình 1.1 Virus cúm H5N1

- Phân đoạn 1 - 3: Mã hóa cho protein PB1, PB2 và PA là các protein có chức năng là enzim polymerase tổng hợp axit Ribonucleic nguyên liệu cho hệ gen

và các ARN thông tin tổng hợp protein của virus (Biswas, 1996) [35]

- Phân đoạn 4: Mã hóa cho protein Hemagglutinin (HA) là một protein bề mặt cắm gốc vào bên trong, có chức năng bám dính vào thụ thể của tế bào, có khả năng gây ngưng kết hồng cầu, có khả năng hợp nhất vỏ virus với màng tế bào nhiễm và tham gia vào phản ứng trung hòa virus HA là polypeptit gồm 2 chuỗi HA1 và HA2 nối với nhau bằng đoạn oligopeptit ngắn, thuộc loại hình mô typ riêng đặc trưng cho các subtyp H (H1 - H16) trong tái tổ hợp tạo nên biến chủng (Bosch.F.X, 1979 [36]; Vey.M và cs, 1992,[56] Mô typ của chuỗi oligopeptit này chứa một số axit amin cơ bản làm khung, thay đổi đặc hiệu theo từng loại hình subtype

Trang 22

H Sự thay đổi thành phần của chuỗi nối quyết định độc lực của virus thuộc biến chủng mới (Bosch.F.X, 1979 [36]; Kingrbuy M và cs, 1985 [47]; Holsinger, 1994 [41]; Lê Thanh Hòa, 2004 [13])

- Phân đoạn 5: Mã hóa cho protein Nucleoprotein (NP) một loại protein được phosphoryl hóa, có biểu hiện tính kháng nguyên đặc hiệu theo nhóm (Group - Specific), tồn tại trong hạt virion trong dạng liên kết với mỗi phân đoạn ARN nên loại NP còn được gọi là Ribonucleo protein (Buckler White, 1998 [37];

Lê Thanh Hòa, 2004 [13])

- Phân đoạn 6: Mã hóa cho protein enzim Neuraminidae (NA), có chức năng

là một enzim phân cắt HA sau khi virus vào bên trong tế bào nhiễm Phân đoạn 6 là gen chịu trách nhiệm tổng hợp protein, giúp giải phóng ARN virus từ endosome và tạo hạt virus mới (Castrucci MR Và GS, 1993.) [39]

- Phân đoạn 7: Mã hóa cho 2 tiểu phần protein đệm (Matrix protein) M1 và M2 là protein màng không được glycosyl hóa, có vai trò làm đệm bao bọc lấy ARN

hệ gen M2 là một tetramer có chức năng tạo khe H+ giúp cởi bỏ virus sau khi xâmnhập vào tế bào cảm nhiễm M1 có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp và nẩy mầm của virus (Horimoto và cs, 1995) [42]

- Phân đoạn 8: Có độ dài ổn định (890 nucleotit) mã hóa cho 2 tiểu phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 có chức năng chuyển ARN từ nhân ra kết hợp với M1, kích thích phiên mã, chống interfron (Luong G và cs, 1992) [49]

1.3.3 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm type A

Các loại kháng nguyên được nghiên cứu nhiều nhất là protein nhân (Nucleoprotein-NP), protein đệm (matrix protein-M1), protein gây ngưng kết hồng cầu (Hemagglutinin-HA) và protein enzim cắt thụ thể (Neuraminidase- NA) NP và M1 là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu nhóm (genus specific antigen),

ký hiệu là gs kháng nguyên; HA và NA là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu type và dưới type (type specific antigen), ký hiệu là ts kháng nguyên

Một đặc tính quan trọng là virus cúm có khả năng gây ngưng kết hồng cầu của nhiều loài động vật Đó là sự kết hợp giữa mấu lồi kháng nguyên HA trên bề mặt của virus cúm với thụ thể có trên bề mặt hồng cầu, làm cho hồng cầu ngưng kết với nhau tạo thành mạng ngưng kết thông qua cầu nối virus, gọi là phản ứng

ngưng kết hồng cầu HA (Hemagglutination test)

Trang 23

Kháng thể đặc hiệu của kháng nguyên HA có khả năng trung hòa các loại virus tương ứng, chúng là kháng thể trung hòa có khả năng triệt tiêu virus gây bệnh

Nó có thể phong toả sự ngưng kết bằng cách kết hợp với kháng nguyên HA Do vậy thụ thể của hồng cầu không bám vào được để liên kết tạo thành mạng ngưng kết Người ta gọi phản ứng đặc hiệu kháng nguyên - kháng thể có hồng cầu tham gia là phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu HI (Hemagglutination inhibition test)

Phản ứng ngưng kết hồng cầu (HA) và phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu (HI) được sử dụng trong chẩn đoán cúm gia cầm

Theo Ito và Kawaoka (1998) [43] sự phức tạp trong diễn biến kháng nguyên của virus cúm là sự biến đổi và trao đổi trong nội bộ gen dẫn đến sự biến đổi liên tục về tính kháng nguyên Có 2 cách biến đổi kháng nguyên của virus cúm:

- Đột biến điểm (đột biến ngẫu nhiên hay hiện tượng trôi trượt, lệch lạc về kháng nguyên-Antigenic drift) Đây là kiểu đột biến xảy ra liên tục thường xuyên trong quá trình tồn tại của virus mà bản chất là do có sự thay đổi nhỏ về trình tự nucleotit của gen mã hóa, đặc biệt đối với kháng nguyên H và kháng nguyên N Kết quả là tạo ra các phân type cúm hoàn toàn mới có tính thích ứng với loài vật chủ khác nhau và có mức độ độc lực gây bệnh khác nhau Chính nhờ sự biến đổi này mà virus cúm A tạo nên 16 biến thể gen HA (H1- H16) và 9 kháng nguyên N (N1 - N9) (Cục Thú y, 2005)[6]

- Đột biến tái tổ hợp di truyền (hiện tượng thay ca - Antigenic Shift) Hiện tượng tái tổ hợp gen ít xảy ra hơn so với hiện tượng đột biến điểm Hiện tượng này chỉ xảy ra khi 2 hoặc nhiều loại virus cúm khác nhau cùng nhiễm vào một tế bào chủ do sự trộn lẫn 2 bộ gen của virus Điều này tạo nên sự sai khác cơ bản về bộ gen của virus cúm đời con so với virus bố mẹ Khi hiện tượng tái tổ hợp gen xuất hiện có thể sẽ gây ra các vụ dịch lớn cho người và động vật với mức độ nguy hiểm không thể lường trước được Vụ dịch năm 1918 - 1819 làm chết 40 - 50 triệu người

mà tác nhân gây bệnh là virus H1N1 từ lợn lây sang người kết hợp với virus cúm người tạo ra chủng virus mới có độc lực rất mạnh (Phạm Sỹ Lăng, 2004)[19]

Do hạt virus cúm A có cấu trúc là 8 đoạn gen nên về lý thuyết từ 2 virus có thể xuất hiện 256 kiểu tổ hợp của virus thế hệ sau (Cục Thú y, 2005) [5]

Trang 24

Khi nghiên cứu về đặc tính kháng nguyên của virus cúm thấy giữa các biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtype về huyết thanh học không hoặc rất ít có phản ứng chéo Đây là điểm trở ngại lớn cho việc nghiên cứu nhằm tạo ra vaccine cúm

để phòng bệnh cho người và động vật (Ito và cs, 1998 [44]; Kawoaka I., 1991 [45])

Khi xâm nhập nhiễm vào cơ thể động vật, virus cúm A kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể đặc hiệu, trong đó quan trọng hơn cả là kháng thể kháng HA, chỉ có kháng thể này mới có vai trò trung hòa virus và cho bảo hộ miễn dịch Một

số kháng thể khác có tác dụng kìm hãm sự nhân lên của virus, kháng thể kháng M2 ngăn cản chức năng M2, không cho quá trình bao gói virus xảy ra (Lu X và cs, 1999) [48]; (Seo S và cs, 2001) [53]

1.3.4 Thành phần hóa học của virus

ARN của virus cúm type A chiếm từ 0,8 - 1,1%; protein chiếm 70 - 75%; lipit chiếm 20 - 24%; hydratcacbon chiếm 5 - 8% khối lượng hạt virus

Lipit tập trung ở màng virus và chủ yếu là lipit có gốc phospho, số còn lại là cholesterol, glucolipit và một ít hydrocacbon gồm các loại mengalactose, ribose, fructose, glucosamin Thành phần chính protein của virus chủ yếu là glycoprotein (Lê Văn Năm, 2004) [20]

1.3.5 Quá trình nhân lên và tác động gây bệnh của virus

Virus được hấp phụ vào bề mặt tế bào nhờ có receptor mà bản chất là glycoprotein chứa axit Sialic, từ đấy virus chui qua màng tế bào nhờ một loại men đặc biệt để vào trong nguyên sinh chất và nhân tế bào Tại đó virus sinh trưởng và phát triển nhanh chóng

Theo nhiều tác giả sau khi vào cơ thể động vật, virus cúm tiếp cận với các tế bào đích xâm nhập và giải phóng vật chất di truyền Virus sử dụng các cơ quan trong tế bào và nguồn nguyên liệu của tế bào để tổng hợp nên protein và RNA đặc trưng

Các protein kết hợp với RNA virus tạo thành hạt virus và được giải phóng

ra ngoài tế bào chủ không bị dung giải nhưng sẽ chết đi do mất trạng thái cân bằng vốn có, đồng thời bị đầu độc bởi các sản phẩm sinh ra Số lượng virus tăng lên ngày càng nhanh theo cấp số nhân Tế bào đích bị phá huỷ hàng loạt Sự suy giảm

hô hấp khiến sức đề kháng của cơ thể giảm sút rõ rệt, làm kế phát các bệnh vi khuẩn, virus khác (Alexander, 1993) [33]

Trang 25

1.3.6 Độc lực của virus

Độc lực của virus cúm gia cầm có sự dao động lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là protein HA Các nghiên cứu ở mức độ phân tử cho thấy khả năng lây nhiễm của virus phụ thuộc vào tác động của men protease vật chủ đến sự phá vỡ của liên kết hóa học sau khi dịch mã của phân tử ngưng kết, thực chất là sự cắt rời protein HA thành 2 tiểu phần HA1 và HA2 Tính thụ cảm của ngưng kết tố và sự phá

vỡ liên kết của men protease lại phụ thuộc vào số lượng các amino axit cơ bản tại điểm bắt đầu phá vỡ các liên kết Các enzim giống trypsin có khả năng phá vỡ liên kết khi chỉ có một phân tử Arginin, trong khi đó các enzim protease khác lại cần nhiều amino axit cơ bản Với triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết gà không quá 15% số gà bị nhiễm bệnh tự nhiên hoặc không gây quá 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm

Virus có độc lực thấp (nhược độc): Là những virus phát triển tốt trong cơ thể

gà, có thể gây ra dịch nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt, không tạo ra bệnh tích đại thể và không làm chết gà

Trong thực tế người ta chia virus cúm gà ra làm 2 loại: Loại virus có độc lực thấp - LPAI (Low Pathogenic Avian Influenza) Loại virus có độc lực cao - HPAI (Hight Pathogennic Avian Influenza)

Cho đến nay người ta thừa nhận chỉ có 2 biến chủng virus có cấu trúc kháng nguyên H5 và H7 được coi là loại có độc lực cao gây bệnh ở gia cầm, nhưng không phải tất cả các chủng mang gen H5, H7 đều gây bệnh (Horimoto T và cs, 1995) [42]

Thực tế chứng minh rằng các chủng có độc lực thấp trong quá trình lưu hành trong thiên nhiên và trong đàn thủy cầm có thể đột biến nội gen hoặc đột biến tái tổ hợp để trở thành các chủng có độc lực cao - HPAI (Mo I P và cs,1997 [50]; Collins R A và cs, 2002 [40])

Theo Mary J P và cs (2008)[24] tất cả các virus cúm phân lập được ở Việt Nam trong năm 2005 - 2007 không chỉ có độc lực cao với gà, mà còn gia tăng đáng kể độc lực đối với vịt so với các virus phân lập trước đó Sự tăng độc tính này là hệ quả của sự gia tăng virus nhân lên trong các cơ quan nội tạng và sự tăng thích nghi ở diện rộng hơn của virus đối với các cơ quan nội tạng Sự thay đổi độc tính của các virus đang lưu hành có ảnh hưởng lớn tới dịch tễ học của virus vỡ công tác khống chế

Trang 26

1.3.7 Danh pháp

Để ký hiệu và lưu trữ một cách khoa học và đầy đủ các chủng virus cúm phân lập được, từ năm 1980 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra một hệ thống phân loại mới, được quy định ký hiệu theo trình tự: Serotype/ loài nhiễm/ nơi phân lập/ số liệu chủng/ thời gian phân lập/ loại hình Subtype HA (H) và NA (N) Ví dụ: Virus cúm có ký hiệu A/GS/HK/437/4/99/H5N1, có nguồn thông tin là: Cúm nhóm A; loại nhiễm là ngỗng (GS = goose); nơi phân lập là Hồng Kông ( HK); số hiệu 437; thời gian phân lập tháng 04/1999; Subtype H5N1 (Đào Yến Khanh, 2005) [17])

1.3.8 Phân loại virus

Theo Nguyễn Tiến Dũng (2008) [12], virus cúm gia cầm được phân loại như sau:

* Phân loại theo kháng nguyên

Khi dùng phản ứng kết tủa trên thạch hoặc kết hợp bổ thể, người ta thấy có 3 nhóm virus khác nhau và đặt tên cho 3 nhóm virus là A, B và C Vào năm 1941, Hirst đã phát hiện thấy virus cúm có khả năng ngưng kết hồng cầu, khi quan sát việc thu hoạch virus sau khi cấy trên trứng gà có phôi và khả năng này bị kháng thể, kháng virus cúm ngăn trở hay ức chế Dùng phản ứng này người ta thấy virus cúm type A lại có nhiều loại khác nhau Trên cơ sở kết quả của phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu, khi phát hiện ra rằng kháng thể kháng ngưng kết hồng cầu là kháng thể được tạo ra để chống tại protein HA nhưng không ức chế toàn bộ các virus type

A Từ đó virus type A được chia thành các type phụ (subtype) trên cơ sở có phản ứng HI đặc hiệu

Cho đến năm 2004, tổng số xúc subtype chia theo khả năng ngưng kết hồng cầu là 16 Với protein NA, người ta phát hiện ra 9 loại NA có tính kháng nguyên khác nhau và được đặt tên là từ N1 cho đến N9 Virus cúm type A là kết quả của sự tổng hợp 2 loại protein này, vì vậy có virus cúm sẽ được đặt tên là HxNy (x có giá trị từ 1 - 16 và y có giá trị từ 1 - 9) Việc phân loại virus như trên do Ủy ban định danh quốc tế về virus tiến hành

Các loại virus cúm có cùng danh hiệu nhưng không chắc có cùng nguồn gốc

và về gen di truyền chúng có sự khác nhau, nói cách khác là rất đa dạng Với virus cúm H5N1 đang gây bệnh đại dịch cho gia cầm, có nguồn gốc từ Châu Á và được

Trang 27

gọi tên đầy đủ là “virus H5N1 dòng Châu Á” nhằm phân biệt với các loại H5N1 khác Virus H5N1 dòng Châu Á lại được phân loại chi tiết hơn nữa Có 2 kiểu phân loại virus H5N1 dòng Châu Á, theo quy định của WHO đó là:

- Phân loại theo kiểu gen: Virus cúm dòng Châu Á phải có 2 đoạn RNA chịu trách nhiệm tổng hợp Protein HA và NA có nguồn gốc từ virus cúm H5N1 phân lập từ ngỗng ở Quảng Đông (Trung Quốc) vào năm 1996 Tùy theo nguồn gốc của 6 đoạn gen còn lại mà người ta đặt tên kiểu gen cho loại virus đó

- Phân loại theo nhóm kháng nguyên (clade): Do sự biến đổi di truyền liên tục nên protein HA của virus cúm H5N1 dòng Châu Á có tính kháng nguyên thay đổi Ví dụ: làm phản ứng HI (ức chế ngưng kết hồng cầu) giữa virus chủng A/Goose/Guang dong/1/96 với kháng thể kháng chính nó, có hiệu giá kháng thể

HI là 8 log2 chẳng hạn Lấy một virus khác (H5N1 dòng Châu Á) làm phản ứng với kháng thể này, hiệu giá kháng thể là 7 log2 người ta vẫn cho virus đó là cùng nhóm kháng nguyên Tuy nhiên, nếu hiệu giá kháng thể lệch 2log trở lên thì virus sẽ thuộc nhóm kháng nguyên khác

1.3.9 Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm gà

Theo Lê Văn Năm (2004)[20]: Virus cúm gà phát triển tốt trên phôi gà 9 - 11ngày tuổi, trong nước phôi gà tập trung khá nhiều virus và có thể lưu giữ virus được vài tuần ở điều kiện 40

C Khả năng tồn tại và gây bệnh của virus rất cao nếu bảo quản nước phôi đó ở - 700C hoặc cho đông khô

Virus cúm gà cũng phát triển tốt trong tế bào xơ phôi gà (CEF) và tế bào thận chó MDCK (Madin- Darby Canine Kidney cell) với điều kiện môi trường nuôi cấy tế bào không chứa trypsin

1.3.10 Miễn dịch chống bệnh cúm gia cầm

Theo Nguyễn Như Thanh (1997)[22]: M iễn dịch là trạng thái đặc biệt của cơ thể không mắc phải tác động có hại của yếu tố gây bệnh, trong khi đó các cơ thể cùng loài hoặc khác loài lại bị tác động trong điều kiện sống như nhau Cũng như các động vật khác, miễn dịch chống virus cúm của gia cầm có 2 loại là miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu

Trang 28

* Miễn dịch không đặc hiệu:

Khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, động vật bảo vệ trước hết bằng miễn dịch không đặc hiệu nhằm ngăn cản hoặc giảm số lượng và khả năng gây bệnh của chúng Miễn dịch không đặc hiệu có vai trò quan trọng khi miễn dịch đặc hiệu chưa phát huy tác dụng Hệ thống miễn dịch không đặc hiệu của gia cầm rất phát triển bao gồm:

- Hàng rào vật lý như da, niêm mạc và các dịch tiết có tác dụng bảo vệ cơ thể ngăn cản tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể

- Khi mầm bệnh qua hàng rào da và niêm mạc nó gặp phải hàng rào sinh học là kháng thể tự nhiên không đặc hiệu

+ Bổ thể: Bổ thể có tác dụng làm tan màng vi khuẩn, làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào (opsonin hóa), ngoài ra bổ thể cũng có vai trò nhất định trong cơ chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu, nhiều trường hợp sự tương tác giữa kháng nguyên và kháng thể cần sự có mặt của bổ thể

+ Interferol (IFN): Do nhiều loại tế bào tiết ra nhưng nhiều nhất là tế bào diệt tự nhiên (NK) Khi Interferol được sản sinh ra, nó gắn vào tế bào bên cạnh và cảm ứng tế bào đó sản sinh ra protein AVP (anti virus protein), do đó khi virus xâm nhập vào tế bào nhưng không nhân lên được

- Hàng rào tế bào gồm:

+ Tiểu thực bào, quan trọng nhất là bạch cầu đa nhân trung tính chiếm 60 - 70% tổng số bạch cầu ở máu ngoại vi, nó thực bào những phân tử nhỏ và vi khuẩn ngoài tế bào

+ Đại thực bào là các tế bào lớn có khả năng thực bào, khi được hoạt hóa nó

sẽ nhận biết và loại bỏ các vật lạ, ngoài ra nó còn giữ vai trò quan trọng trong sự trình diện kháng nguyên tới tế bào T và kích thích tế bào T sản sinh ra IL - 1 Đại thực bào còn tiết ra interferol có hoạt tính kháng virus, lysozyme và các yếu tố khác

có tác dụng kích thích phản ứng viêm

+ Các tế bào diệt tự nhiên (NK) là một quần thể tế bào lâm ba cầu có nhiều hạt với kích thước lớn Các tế bào này có khả năng tiêu diệt các tế bào đã bị nhiễm virus và các tế bào đích đã biến đổi, nó còn tiết ra interferol làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào

Trang 29

B đã có thể sản sinh IgM trên bề mặt thì nó cũng có thể có khả năng sản sinh một kháng thể khác lớp khác, nhưng dù là lớp nào thì tất cả kháng thể do tế bào đó sản sinh ra đều có khả năng nhận biết cùng loại kháng nguyên ấy mà thôi Tức là vùng Fab của phân tử kháng thể không thay đổi mà chỉ có vùng Fc là khác nhau tùy vào lớp kháng thể

Trong hạch lâm ba các lympho B có thể gặp một kháng nguyên và được nhận biết bởi các kháng thể có trên bề mặt của chúng Sau khi đã nhận biết kháng nguyên và được kích thích bởi các cytokilles do tế bào T tiết ra, chúng được biệt hóa thành tương bào (plasma) để sản sinh kháng thể

Đáp ứng của kháng thể khi gặp kháng nguyên lần đầu tiên được gọi là đáp ứng tiên phát (sơ cấp) Sau khi xuất hiện vài ngày, hàm lượng kháng thể trong máu mới tăng và các kháng thể đầu tiên chủ yếu là IgM Đáp ứng tiên phát cũng có thể

có IgG nhưng với hàm lượng thấp

Kháng thể dịch thể chỉ có tác dụng với virus khi nó còn ở ngoài tế bào, lớp IgM và IgG kết hợp với virus với sự tham gia của bổ thể làm tiêu diệt virus, 2 lớp kháng thể này còn ngăn virus không cho kết hợp với Receptor của tế bào tương ứng, ngăn cản sự hòa màng giữa vỏ virus và màng tế bào

Trang 30

Lớp IgA có trong niêm mạc, nó diệt virus ngay trong hàng rào niêm mạc, không cho virus xâm nhập vào trong Khi virus sinh ra kháng thể thì kháng thể có tính đặc hiệu cao giúp ta định typ virus gây bệnh bằng các phản ứng huyết thanh học

Một số lympho B sau khi nhận biết kháng nguyên sẽ thành thục thành lympho B nhớ, hiệu quả làm cho đáp ứng miễn dịch lần 2 đối với kháng nguyên nhanh hơn, mạnh hơn lần 1 và lớp kháng thể thường là IgG

- Miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào: Quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào do tế bào lympho T đảm nhiệm Các lympho bào bắt nguồn

từ tủy xương di chuyển đến tuyến ức, tại đó chúng được huấn luyện, biệt hóa thành tiền lympho T, rồi thành lympho T chưa chín, rồi thành lympho T chín Từ tuyến ức chúng

di tản đến các cơ quan lympho ngoại vi như các hạch lâm ba, các mảng Payer ở ruột hoặc tới lách Khi đại thực bào đưa thông tin đến các lympho T, chúng tiếp nhận, biệt hóa trở thành nguyên bào lympho T rồi thành tế bào mẫn cảm với kháng nguyên có chức năng như một kháng thể đặc hiệu và gọi là kháng thể tế bào

Các tế bào lympho T thực hiện 2 chức năng quan trọng:

- Chức năng hỗ trợ: Do các lympho T có dấu ấn CD4 đảm nhiệm (TH)

+ Giúp đỡ các tế bào lympho B phát triển thành tương bào để sản xuất kháng thể + Giúp các tế bào TCD8 trở thành tế bào TC gây độc Tế bào TC được hoạt hóa và tiêu diệt tế bào đích

+ Thực hiện phản ứng quá mẫn muộn

+ Sản xuất ra các cytokilles có tác dụng điều khiển sự phát triển của các dòng

tế bào bạch cầu và các tế bào mầm của hệ thống tạo máu

+ Sản xuất các cytokilles có tác dụng hoạt hóa các tế bào đại thực

+ Thúc đẩy quá trình sản xuất các phân tử glycoprotein MHC trên các tế bào trình diện kháng nguyên

Đa số các tế bào T hỗ trợ thể hiện dấu ấn CD4 nhận biết kháng nguyên được trình diện trên bề mặt của các tế bào trình diện kháng nguyên với cácphân

tử MHC lớp II chức năng này do 2 tiểu quần thể TH đảm trách: TH1 thamgia phản ứng quá mẫn muộn, sản xuất IL - 2 và interferol , TH2 hỗ trợ tế bào B và sản xuất chủ yếu IL - 4, IL-5

Trang 31

- Chức năng thực hiện: Do các lympho T mang dấu ấn CD8 đảm nhiệm

có 2 loại:

+ Lympho T gây độc (TC): Chúng gây độc đối với tế bào bị nhiễm virus, tế bào ung thư và mảnh ghép dị loài Chúng có khả năng nhận biết các mảnh peptit của kháng nguyên tế bào đích gắn với các phân tử MHC lớp I

+ Lympho T ức chế (TS): Chúng triệt thoái quá trình sản xuất imunoglobulin của

tế bào B và triệt thoái hoặc ức chế các phản ứng quá mẫn muộn và miễn dịch tế bào

* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể

Sự hình thành kháng thể và quá trình đáp ứng miễn dịch phụ thuộc rất nhiều yếu tố như trạng thái sức khoẻ của cơ thể, điều kiện ngoại cảnh, sự chăm sóc nuôi dưỡng Nhưng quan trọng hơn cả là phụ thuộc vào bản chất kháng nguyên Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể như Kháng nguyên có bản chất là protein và có tính kháng nguyên cao sẽ kích thích sinh kháng thể tốt, đường xâm nhập tốt nhất là dưới da và trong bắp thịt, lượng kháng nguyên đưa vào vừa đủ sẽ kích thích cơ thể sản sinh miễn dịch ở mức tối đa mà không gây ức chế

và tê liệt miễn dịch, tiêm nhắc lại vaccine có tác dụng tốt, kháng thể sinh ra nhiều hơn và được duy trì trong thời gian lâu hơn, chất bổ trợ cho vào khi chế vaccine với mục đích giữ và duy trì lượng kháng nguyên lâu trong cơ thể nhờ đó tạo kích thích liên tục, đều đặn các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch tạo ra kháng thể ở mức cao

và duy trì được lâu hơn Những chất bổ trợ thường dùng là keo phèn, nhũ tương, dầu khoáng, dầu thực vật, saponin

1.4.2 Động vật cảm nhiễm

Tất cả các loài gia cầm (gà, vịt, ngan, chim cút, vẹt, bồ câu), chim hoang dã (đặc biệt thủy cầm di trú) đều mẫn cảm với virus

Trang 32

Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫn cảm với virus cúm type A Ngoài

ra virus cúm type A còn gây bệnh cho nhiều loài động vật có vú như lợn, ngựa, chồn, hải cẩu, thú hoang dã và cả con người Lợn mắc bệnh cúm thường do phân type H1N1 và H3N2

Vịt nuôi bị nhiễm virus nhưng ít phát thành bệnh do vịt có sức đề kháng với virus gây bệnh Tuy nhiên, năm 1961 ở Nam Phi đã phân lập được virus cúm type A (H5N1) gây bệnh cho cả gà và vịt (Bùi Quang Anh và cs, 2004 [1]; Cục Thú y, 2004 [5])

1.4.3 Động vật mang virus

Virus cúm đã phân lập được ở hầu hết các loài chim hoang dã như vịt trời, thiên nga, hải âu, mòng biển, vẹt, vẹt đuôi dài, vẹt mào, chim thuộc họ sẻ, diều hâu Tần suất và số lượng virus phân lập được ở thủy cầm, đặc biệt vịt trời đều cao hơn các loài khác (Bùi Quang Anh và cs, 2004) [1]

Kết quả điều tra thủy cầm ở Bắc Mỹ cho thấy trên 60% chim non bị nhiễm virus do tập hợp đàn trước khi di trú Sự kết hợp các kháng nguyên bề mặt H và N của các phân type virus cúm A diễn ra ở chim hoang dã, virus không gây độc đối với vật chủ, được nhân lên ở đường ruột của chim khiến cho các loài này mang virus và là nguồn gieo rắc virus cho các loài khác, đặc biệt là gia cầm (Alexander

D J, 2000) [34]

Đã có nghiên cứu phát hiện nhiều virus cúm từ những loài vịt đi đầu trong mùa di trú, sau khi xuất hiện đã gây ra dịch ở gà tây Vịt từ khi bị nhiễm đến khi bắt đầu thải virus trong vòng 30 ngày Dường như virus được duy trì trong số đông vịt trời cho tới mùa sinh sản tiếp theo lại truyền cho các con non theo đường tiêu hóa do virus bài thải theo phân, gây ô nhiễm ao, hồ (Bùi Quang Anh và

cs, 2004 [1]; Cục Thú y, 2004 [5])

Đối với các ký chủ khác, mỗi virus cúm cụ thể có thời gian lưu giữ trong cơ thể khác nhau và có khả năng gây bệnh khác nhau, không theo quy luật Theo Nguyễn Tiến Dũng (2008)[12] virus cúm gia cầm có 3 loại ký chủ:

Ký chủ lưu giữ (Reservoir host): Là loại ký chủ chỉ cho phép virus nhân lên với lượng thấp và virus gây ra bệnh rất nhẹ Ví dụ như vịt và một số thủy cầm vẫn được coi là ký chủ lưu giữ H5N1, nhờ đó virus có khả năng tồn tại

Trang 33

Ký chủ hứng chịu (Spillover host): Là loại ký chủ cho phép virus nhân lên với lượng lớn và bệnh mà nó gây ra cũng rất nặng, thường là bệnh toàn thân

và thường gây tử vong (ví dụ gà, gà tây và chim cút đối với H5N1)

Ký chủ lệch (Aberrant host): Là loại ký chủ mà virus chỉ nhân lên với số lượng nhỏ nhưng bệnh do chúng gây ra lại rất nghiêm trọng và thường gây tử vong Ví dụ: người, hổ, chó mèo hiện đang là ký chủ lệch của virus H5N1

- Lây gián tiếp: Qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gần hoặc những dụng cụ chăn nuôi, phân, thức ăn, nước uống, quần áo, giầy dép, phương tiện vận chuyển, lồng nhốt, chim, thú, côn trùng có mang mầm bệnh

- Như vậy, virus cúm dễ dàng truyền tới vùng khác do con người, phương tiện vận chuyển, dụng cụ và thức ăn chăn nuôi Bệnh chủ yếu truyền ngang (do tiếp xúc), chưa có bằng chứng cho thấy bệnh có thể truyền dọc (qua phôi thai) vì những phôi bị nhiễm virus thường chết mà không phát triển được (Lê Văn Năm, 2004) [20] Đối với gia cầm nuôi, nguồn dịch đầu tiên thường thấy là từ các loài gia cầm nuôi khác nhau trong cùng một trang trại hoặc các trang trại khác liền kề như vịt lây sang gà; từ gia cầm nhập khẩu; từ chim di trú đặc biệt thuỷ cầm được coi là đối tượng chính dẫn nhập virus vào quần thể đàn gia cầm nuôi

Tỷ lệ lưu hành bệnh cao hơn đối với các đàn gia cầm nằm trên đường di trú của các loài thủy cầm, các đàn gia cầm nuôi nhốt trong các trang trại, vịt được nuôi

vỗ béo tại các cánh đồng gần trang trại Các ổ dịch cúm thường có nguy cơ xuất hiện cao ở các mùa có hoạt động của thủy cầm di trú Phần lớn các ổ dịch đều ghi nhận có

sự tiếp xúc với thủy cầm tại thời điểm phát dịch đầu tiên Từ người và các động vật

có vú khác, phần lớn các ổ dịch cúm gia cầm gần đây đã có sự lây lan thứ cấp thông qua con người (Bùi Quang Anh và cs, 2004) [1]; Cục Thú y, 2004 [5])

Trang 34

Do cấu trúc vỏ ngoài của virus là lipit nên chúng mẫn cảm với các chất dung môi và chất tẩy rửa như formalin, axit, ete,β - propiolacton Sau khi tẩy vỏ, các hóa chất như phenolic, NH4+, axit loãng, natrihypochlorit và hydroxylanine có thể phá hủy virus cúm gia cầm Người ta thường dùng các hóa chất này như các chất sát trùng hữu hiệu để tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và các thiết bị chăn nuôi (Ilaria Capua và cs, 2004) [14]

Theo Đỗ Ngọc Thúy (2008) [32] ở nhiệt độ mùa đông, lớp vỏ của virus trở nên cứng thành một dạng gel có khả năng co dãn như cao su có thể bảo vệ virus Tuy nhiên, ở nhiệt độ ấm hơn thì lớp gel bảo hộ này bị tan chảy ra thành pha lỏng Nhưng pha lỏng này là không đủ độ cứng để bảo vệ virus chống lại các yếu tố khác Như vậy, thường về mùa hè sức đề kháng của virus kém nên tỷ lệ gia cầm mắc bệnh vào mùa hè và mùa thu thường ít hơn vào mùa đông và mùa xuân Dịch cúm gia cầm thường hay xảy ra vào tháng 3, tháng 4 và tháng 10, tháng 11

Bệnh cúm gia cầm xảy ra quanh năm, nhưng thường tập trung vào vụ đông xuân từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau Khi có những biến đổi bất lợi về điều kiện thời tiết như nhiệt độ lạnh, độ ẩm cao, thời tiết có những thay đổi đột ngột, làm giảm sức đề kháng tự nhiên của con vật Mặt khác thời điểm này có mật

độ chăn nuôi cao nhất trong năm, các hoạt động vận chuyển, giết mổ gia cầm diễn

ra cao nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi để dịch bệnh phát sinh lây lan

1.5 Triệu chứng, bệnh tích của bệnh cúm gia cầm

1.5.1 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm

Các biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh diễn biến rất đa dạng và phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độc lực, số lượng virus, loài nhiễm bệnh, mật

độ chăn nuôi, tiểu khí hậu chuồng nuôi

Trang 35

Thời gian ủ bệnh ngắn thường chỉ vài giờ đến 21 ngày, có thể tới 28 ngày Các triệu chứng về hô hấp thường xuất hiện đầu tiên và khá điển hình như khẹc, lắc đầu, vẩy mỏ, khó thở, chảy nước mũi, nước mắt Tiếp theo là mí mắt viêm, sưng mọng, phù mặt, phù đầu Mào và tích dầy lên do phù thũng, tím tái, xuất huyết, thịt gà bị bệnh thâm tím Xuất huyết dưới da chân là đặc điểm đặc trưng của bệnh cúm gia cầm

Ngoài các triệu chứng trên còn thấy các triệu chứng về thần kinh như đi lại không bình thường, siêu vẹo, run rẩy, mệt mỏi, nằm li bì tụm đống Gia cầm tiêu chảy mạnh, phân loãng trắng, trắng xanh Gia cầm đang đẻ thì Tỷ lệ đẻ giảm rất nhanh Bệnh lây lan nhanh, gia cầm chết đột ngột Với chủng virus độc lực cao (HPAI) tỷ lệ chết từ 15 - 100%, với chủng virus độc lực thấp (LPHI) tỷ lệ chết thấp hơn và mức độ biểu hiện triệu chứng cũng nhẹ hơn Tuy nhiên, khi có sự bội nhiễm hoặc điều kiện chăn nuôi bất lợi, tỷ lệ tử vong có thể tới 60 - 70% với các biểu hiện triệu chứng nặng hơn (Nguyễn Tiến Dũng, 2004 [9]; Lê Văn Năm, 2004 [20])

1.5.2 Bệnh tích của bệnh cúm gia cầm

Theo Lê Văn Năm (2004) [20] mức độ biến đổi bệnh tích đại thể bệnh cúm gia cầm cũng đa dạng và rất khác nhau trong cùng một đàn, phụ thuộc rất nhiều vào độc lực virus, quá trình diễn biến của bệnh Những biến đổi mang tính tổng quan như mào và tích thâm tím, phù nề, xuất huyết dưới da và rìa tích Xuất huyết dưới

da ống chân thành vệt, nốt Khí quản viêm xuất huyết, chứa nhiều đờm Túi khí phù nề, thành túi khí dầy và có nhiều fibrin bám dính Phổi viêm cata, xuất huyết đến viêm fibrin làm phổi dính vào lồng ngực Viêm xuất huyết đường ruột, đặc biệt vùng hậu môn, van hồi manh tràng, dạ dày tuyến và niêm mạc tá tràng Bao tim tích nước vàng, xuất huyết màng bao tim, mỡ vành tim, cơ tim.Lách biến màu lốm đốm vàng, rắn chắc hơn bình thường.Tụy khô giòn, xuất huyết

Viêm xuất huyết buồng trứng, ống dẫn trứng, nhiều trường hợp trứng non dập vỡ, xoang bụng tích nước vàng lợn cợn Xuất huyết màng treo ruột, màng bao dạ dày tuyến, dạ dày cơ, màng xương lồng ngực có thể coi là đặc điểm riêng của bệnh cúm gia cầm

Trang 36

Các biến đổi đặc trung về tổ chức học bao gồm phù nề, xung huyết, xuất huyết và thâm nhập bạch cầu đơn nhân ở cơ vân, cơ tim, lách, phổi, mào, tích gan, thận, mắt và thần kinh Ngoài tế bào bạch cầu đơn nhân còn có tế bào đặc trưng cho phản ứng viêm hoại tử

1.6 Chẩn đoán bệnh

Để chẩn đoán bệnh do nhiễm virus cúm gia cầm type A phải phân lập, định danh được virus thông qua các xét nghiệm phi lâm sàng kết hợp chẩn đoán lâm sàng (triệu chứng, bệnh tích, dịch tễ)

* Phân lập virus

Bệnh phẩm có thể là dịch ngoáy hầu họng, dịch ổ nhớp hoặc các tổ chức phổi, khí quản, não, gan, lách, tim Mẫu sau khi lấy được bảo quản trong dung dịch PBS ở 40C và phải phân lập trong vòng 48 giờ, nếu muốn bảo quản dài hơn phải giữ ở - 700C Theo Bùi Quang Anh và cs (2004) [1] phương pháp phân lập virus thường sử dụng là tiêm truyền qua phôi trứng 9 - 11 ngày hoặc môi trường tế bào dòng thận chó MDCK

Tiêm 0,1- 0,2 ml mẫu vào túi niệu của phôi gà 9 – 11 ngày tuổi Phôi được ấp ở nhiệt độ 370C trong 2-3 ngày Một số ít chủng virus có độc lực cao có thể gây chết phôi khoảng 18- 24 giờ, nước trứng thu hoạch được để ở nhiệt độ 40C qua một đêm Virus nhân lên trong nước trứng có hiện tượng gây ngưng kết hồng cầu gà Nếu không có hiện tượng gây ngưng kết hồng cầu gà thì có thể lấy nước trứng thu được tiêm lần sau cho phôi gà Mẫu nước trứng lấy ra từ phôi gà được kiểm tra bằng phản ứng HA để xác định virus

Để giám định virus phân lập được, dùng phản ứng HI với kháng huyết thanh chuẩn của các phân type virus cúm gia cầm

Để phát hiện virus cúm type A, có thể dùng phản ứng miễn dịch khuếch tán với các kháng huyết thanh dương tính đặc hiệu với virus cô đặc để phát hiện một hoặc nhiều type kháng nguyên có các protein vỏ hoặc nhân

Cô đặc virus được tiến hành bằng ly tâm với tốc độ cao, cho thêm dung dịch axit hydrochloric 1M vào dung dịch niệu mô đến khi pH xấp xỉ 4 để kết tủa virus Làm lạnh dung dịch ở 00C trong 1 giờ, tiếp đó ly tâm nhẹ để dung dịch được làm

Trang 37

trong và loại bỏ phần dịch váng ở trên bề mặt Virus đã cô đặc được làm treo trong dung dịch đệm bằng muối Sodium lauryl sarcosinate với pH = 9 và glyxerin 0,5M

* Định danh virus

Định danh virus phân lập được có thể dùng phản ứng HI, NI hoặc dùng phản ứng RT - PCR với các cặp mồi chuẩn để xác định kháng nguyên H và N Xác định kháng thể kháng virus cúm trong huyết thanh có thể dùng phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu HI, ELISA hoặc phản ứng khuếch tán trong thạch (AGP)

Đối với nguồn bệnh: Tiêu hủy triệt để gia cầm nhiễm bệnh, thực hiện tốt

công tác vệ sinh khử trùng để tiêu diệt mầm bệnh Tăng cường công tác giám sát phát hiện bệnh Khi phát hiện thấy gia cầm mang virus phải tiêu hủy ngay

Đối với yếu tố truyền lây: Thực hiện tốt kiểm dịch vận chuyển, kiểm dịch

gia cầm nhập khẩu, không vận chuyển gia cầm từ các nước hoặc các khu vực có dịch vào địa phương Thực hiện nuôi nhốt, nuôi cách ly, hạn chế người và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi Không nuôi chung các loại gia cầm (gà, vịt, ngan) trong cùng chuồng nuôi Ngăn chặn sự xâm nhập và tiếp xúc của dã cầm với gia cầm Quản lý chặt chẽ việc buôn bán, giết mổ gia cầm, quy hoạch khu vực buôn bán, giết

mổ gia cầm riêng Thực hiện tốt công tác vệ sinh, khử trùng, tiêu độc Tuyên truyền hướng dẫn các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, các biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm để người chăn nuôi và nhân dân tự giác, chủ động thực hiện

Đối với động vật cảm thụ: Tích cực tuyên truyền để thay đổi dần tập quán

chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại, chăn nuôi công nghiệp Quy hoạch khu vực chăn nuôi gia cầm ra xa khu dân cư Xây dựng chuồng trại đúng tiêu chuẩn

Trang 38

kỹ thuật, không gây ô nhiễm môi trường Thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y Chăm sóc nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho gia cầm

Trong điều kiện chăn nuôi gia cầm của Việt Nam hiện nay, để kiểm soát dịch cúm gia cầm, một biện pháp rất quan trọng là tạo miễn dịch chủ động bằng cách tiêm vaccine cho đàn gia cầm

Như vậy, để kiểm soát dịch cúm gia cầm có hiệu quả, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp để tác động vào cả ba khâu của quá trình sinh dịch, trong đó

có biện pháp tiêm vaccine cho đàn gia cầm

1.8 Vaccine phòng bệnh cúm gia cầm

Để khống chế dịch cúm gia cầm, ở nước ta đã áp dụng nhiều các biện pháp như giết hủy đàn gia cầm nhiễm bệnh, thực hiện kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ và vệ sinh, khử trùng tiêu độc Tuy nhiên, dịch cúm gia cầm vẫn liên tiếp xảy ra, trước tình hình đó, ngày 14/7/2005 Bộ Nông nghiệp & PTNT đã có Quyết định số 1715/QĐ/BNN-TY ban hành Quy định tạm thời về sử dụng vaccine phòng bệnh cúm gia cầm

Phòng hộ chống lại bệnh cúm gia cầm là kết quả của đáp ứng miễn dịch chống lại protein Haemaglutinin (HA) Hiện nay đã xác định được 16 subtype khác nhau từ H - H16 Ở mức độ nào đó chống lại protein Neuraminidae (NA) đã xác định được 9 subtype từ N1 - N9 Các đáp ứng miễn dịch kháng lại protein bên trong như Nucleoprotein (NP) và protein Matrix (M) của virus đã được chứng minh là không đủ để tạo phòng hộ trên thực địa Vì vậy, không có loại vaccine nào chung cho tất cả các virus cúm gia cầm Trong thực tế, sự phòng hộ được tạo ra nhờ các subtype Haemagglutinin có trong vaccine (Tô Long Thành, 2006) [27]

Theo Nguyễn Tiến Dũng (2008) [12] khi virus nhân lên trong tế bào ký chủ

sẽ có sự sai lệch trong sao chép, dẫn đến thay đổi một hay nhiều nucleotit, làm thay đổi cấu trúc của mã di truyền và protein HA Sự biến đổi (đột biến) ở gen HA quan trọng nhất Để phòng bệnh, người ta phải chế tạo vaccine

Vaccine chống cúm dựa chủ yếu vào kháng nguyên HA Do vậy hàng năm, nhóm chuyên gia về cúm của WHO thường xuyên phải xem xét và chọn ra loại virus mới để sản xuất vaccine thay thế cho chủng virus năm trước

Trang 39

Theo Bùi Quang Anh và cs, (2004)[1], Ilaria Capua và cs, (2004) [14],

Tô Long Thành (2006) [27]), vaccine được sử dụng đúng sẽ đạt được một số mục tiêu như bảo hộ cho con vật không xuất hiện các triệu chứng lâm sàng và chết; giảm bài thải virus cường độc nếu gia cầm bị nhiễm virus đó > 1000 lần so với gia cầm không được tiêm, ngừng hẳn sự bài thải virus vào ngày 13 -18 sau tiêm; phòng được sự lây lan virus cường độc do tiếp xúc, chống lại virus luôn thay đổi và tăng sức đề kháng của gia cầm chống lại sự nhiễm virus cúm

1.8.1 Các loại vaccine phòng bệnh cúm gia cầm hiện nay

Vaccine vô hoạt đồng chủng: Ban đầu được sản xuất như các vaccine tự phát

(autogenous), nghĩa là vaccine chứa cùng những virus cúm giống như chủng gây bệnh trên thực địa Loại vaccine này được sử dụng rộng rãi ở Mehico và Pakistan (Swayne D E và cs, 2000 [54], Ilaria Capua và cs, 2004 [14]) Nhược điểm của vaccine này là không phân biệt gia cầm được tiêm chủng với gia cầm nhiễm virus thực địa qua kiểm tra kháng thể

Vaccine vô hoạt dị chủng: Vaccine này được sản xuất tương tự như vaccine

vô hoạt đồng chủng Điểm khác biệt là chủng virus sử dụng trong vaccine có kháng nguyên H giống chủng virus trên thực địa, còn kháng nguyên N dị chủng Khi nhiễm virus trên thực địa, bảo hộ lâm sàng và giảm thải trừ virus ra ngoài môi trường được đảm bảo bằng phản ứng miễn dịch sản sinh bởi kháng nguyên nhóm H đồng chủng, trong khi kháng thể chống N sản sinh bởi virus thực địa có thể sử dụng như chất đánh dấu sự lây nhiễm trên thực địa (Capua I và cs, 2000 [38], Ilaria Capua và cs, 2004 [14])

Đối với vaccine vô hoạt dị chủng, mức độ bảo hộ không tỷ lệ chặt chẽ với mức độ đồng chủng giữa vaccine và chủng trên thực địa (Swayne D E và cs, 2000) [55] Đây là một ưu điểm lớn cho phép thành lập ngân hàng vaccine, bởi vì giống gốc không chứa virus có mặt trên thực địa

Vaccine tái tổ hợp: Một vài loại vaccine tái tổ hợp virus đậu gà chứa kháng

nguyên H5, H7 đã được sử dụng, trong đó virus đậu gà được sử dụng như một vector dẫn truyền Ngoài ra người ta cũng đã sử dụng virus viêm thanh khí quản truyền nhiễm làm vector dẫn truyền (Luschow D, 2001) [50]

Trang 40

Các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Cáp Nhĩ Tân đã sản xuất thành công vaccine tái tổ hợp phòng chống bệnh cúm gia cầm và Niucatxơn, vaccine có thể dùng theo đường tiêm, đường miệng, đường mũi hoặc theo phương pháp khí dung Đến cuối tháng 12/2005 Trung Quốc đã sản xuất được một tỉ liều (Tô Long Thành, 2006) [27] Sử dụng vaccine tái tổ hợp có vector dẫn truyền cho phép phân biệt được con vật nhiễm bệnh tự nhiên và con vật được tiêm chủng

Trước khi sử dụng một loại vaccine mới trên diện rộng, cần đánh giá tính

an toàn ở con vật được dùng vaccine, vấn đề an toàn của môi trường, độ tinh khiết

và hiệu lực của vaccine (Tô Long Thành, 2006) [27]

1.8.2 Một số loại vaccine phòng bệnh cúm gia cầm và cách sử dụng

Theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007) các loài gia cầm trong diện tiêm bao gồm các loại gà giống thương phẩm, gà thịt, gà chọi Các loại vịt như vịt giống, vịt đẻ trứng thương phẩm, vịt thịt Các loại ngan như ngan giống, ngan đẻ trứng thương phẩm và ngan thịt, kể cả ngỗng

Một số loại vaccine đang sử dụng hiện nay là vaccine Trovac-AIVH5, vaccine chết chủng H5 (Trung Quốc), vaccine H5N1 (Trung Quốc), vaccine H5N9 (Trung Quốc)

Đối với gà, vịt: Gà 1 ngày tuổi sử dụng vaccine Trovac-AIVH5 nhỏ mắt, mũi Vaccine chết chủng H5N1 tiêm cho gà và vịt từ 15 ngày tuổi trở lên Gà tiêm 1 mũi và sau 4 tháng tiêm nhắc lại, gà từ 15 đến 34 ngày tuổi tiêm 0,3 ml vào da cổ,

gà từ 35 ngày tuổi trở lên tiêm 0,5 ml vào cơ ngực Vịt tiêm 2 mũi cách nhau 4 tuần

và 4 tháng sau tiêm nhắc lại, vịt 15-34 ngày tuổi tiêm 0,5 ml vào da cổ, vịt 35 ngày tuổi trở lên tiêm 1ml vào cơ ngực Riêng ngỗng tiêm mũi hai 1,5ml

Đối với ngan từ 2005 đến tháng 6 năm 2009 : Sử dụng vaccine H5N9 tiêm cho ngan từ 21 ngày tuổi trở lên, mũi 2 cách mũi 1 sau 4 tuần và 4 tháng sau tiêm nhắc lại Từ tháng 6 năm 2009 đến 2010 sử dụng vaccine vô hoạt phân túp H5N1 chủng Re-1 (H5N1 Suptype, Re-1 strain) do Trung Quốc sản xuất để tiêm phòng bệnh cúm gia cầm cho ngan và (vịt xiêm) Ngan từ 14 ngày tuổi: tiêm mũi thứ nhất vào dưới da cổ phía trên, phần gần với cơ thể, tiêm liều 0.3ml/con, sau 28 ngày tiêm nhắc lại mũi thứ 2 với liều 0,5ml/con Ngan trên 5 tuần tuổi: tiêm 1 mũi vào dưới da

cổ với liều 0,5ml/con, sau 28 ngày tiêm nhắc lại mũi 2 với liều 1ml/con Mũi tiếp theo cách mũi kế tiếp 4 tháng với liều 1ml/con

Ngày đăng: 18/10/2016, 16:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ (2004), “Bệnh cúm gia cầm: lưu hành bệnh, chẩn đoán và kiểm soát dịch bệnh”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, (3), tr.69 - 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cúm gia cầm: lưu hành bệnh, chẩn đoán và kiểm soát dịch bệnh
Tác giả: Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ
Năm: 2004
2. Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm (2005), Báo cáo tổng kết công tác 2 năm (2004-2005) phòng chống dịch cúm gia cầm, Hội nghị Tổng kết 2 năm phòng chống dịch cúm gà, ngày 18 tháng 4 năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác 2 năm (2004-2005) phòng chống dịch cúm gia cầm
Tác giả: Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm
Năm: 2005
3. Bộ NN và PTNT (2005), Tiêu chuẩn ngành - Quy trình chẩn đoán bệnh cúm gia cầm, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn ngành - Quy trình chẩn đoán bệnh cúm gia cầm
Tác giả: Bộ NN và PTNT
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
4. Caroline Yuen (2004), “Đánh giá tiêm chủng vaccine cúm gà H5 năm 2003 tại Hồng Kông”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, (2), tr. 79 - 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiêm chủng vaccine cúm gà H5 năm 2003 tại Hồng Kông
Tác giả: Caroline Yuen
Năm: 2004
5. Cục thú y ( 2004), Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng chống, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng chống
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
6. Cục Thú y (2005), Sổ tay hướng dẫn phòng chống bệnh cúm gia cầm và bệnh cúm trên người, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn phòng chống bệnh cúm gia cầm và bệnh cúm trên người
Tác giả: Cục Thú y
Năm: 2005
8. Trương Văn Dung, Nguyễn Viết Không (2004), “Một số hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện Thú y quốc gia về bệnh cúm gia cầm và giải pháp khoa học công nghệ trong thời gian tới”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, (3), tr. 62 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện Thú y quốc gia về bệnh cúm gia cầm và giải pháp khoa học công nghệ trong thời gian tới
Tác giả: Trương Văn Dung, Nguyễn Viết Không
Năm: 2004
9. Nguyễn Tiến Dũng (2004), Bệnh cúm gà, Hội thảo một số biện pháp khôi phục đàn gia cầm sau dập dịch, Hà Nội, tr. 5 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cúm gà
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2004
10. Nguyễn Tiến Dũng, Malik Peiris, Robert Webster, Đào Thanh Vân, Bùi Ngọc Anh, Nguy ễn Thế Vinh, Ken't Inui, Bùi Nghĩa Vượng, Nguyễn Viết Không và Ngô Thành Long (2004), “Nguồn gốc virus cúm gia cầm H5N1 tạ i Việt Nam nă m 2003 - 2004”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, (3), tr. 6 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc virus cúm gia cầm H5N1 tại Việt Nam năm 2003 - 2004
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng, Malik Peiris, Robert Webster, Đào Thanh Vân, Bùi Ngọc Anh, Nguy ễn Thế Vinh, Ken't Inui, Bùi Nghĩa Vượng, Nguyễn Viết Không và Ngô Thành Long
Năm: 2004
11. Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Qúi Phương, Đào Thanh Vân, Bùi Ngọc Anh, Bùi Nghĩa Vượng, Nguyễn Thế Vinh, Nguyễn Thuý Duyên (2005), “Giám sát bệnh cúm gia cầm tại Thái Bình”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 12(2), tr. 6 -12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát bệnh cúm gia cầm tại Thái Bình
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Qúi Phương, Đào Thanh Vân, Bùi Ngọc Anh, Bùi Nghĩa Vượng, Nguyễn Thế Vinh, Nguyễn Thuý Duyên
Năm: 2005
12. Nguyễn Tiến Dũng (2008), “Vài nét về cúm gia cầm H5N1”, T ạ p c h í Khoa học kỹ thuật Thú y, (4), tr. 80 - 86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về cúm gia cầm H5N1
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2008
13. Lê Thanh Hoà (2004), Họ Orthomyxoviridae và nhóm vi rus cúm A gây bệnh cúm trên gà và người, Viện khoa học công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Họ Orthomyxoviridae và nhóm vi rus cúm A gây bệnh cúm trên gà và người
Tác giả: Lê Thanh Hoà
Năm: 2004
14. Ilaria Capua, Stefano Marangon (2004), “Sử dụng tiêm chủng vaccine như một biện pháp khống chế bệnh cúm gà”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, (2), tr. 59 - 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng tiêm chủng vaccine như một biện pháp khống chế bệnh cúm gà
Tác giả: Ilaria Capua, Stefano Marangon
Năm: 2004
15. Ilaria. Capua, Stefano Marangon (2005), DIVA “Một chiến lược ngăn trừ bệnh cúm gia cầm thành công ở Italia”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tr. 80 - 82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chiến lược ngăn trừ bệnh cúm gia cầm thành công ở Italia
Tác giả: Ilaria. Capua, Stefano Marangon
Năm: 2005
16. Maria Serina Beat Robenta De Nardi (2005), Vaccine nhũ dầu vô hoạt thông thường triệt tiêu sự bài thải và ngăn ngừa sự khu trú của v i r u s trong vịt thịt của Bắc Kinh được công cường độc với virus H5N1. Báo cáo khoa học thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vaccine nhũ dầu vô hoạt thông thường triệt tiêu sự bài thải và ngăn ngừa sự khu trú của v i r u s trong vịt thịt của Bắc Kinh được công cường độc với virus H5N1
Tác giả: Maria Serina Beat Robenta De Nardi
Năm: 2005
17. Đào Yến Khanh (2005), Kiểm nghiệm và khảo nghiệm vaccine cúm gia cầm ngoại nhập, Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm nghiệm và khảo nghiệm vaccine cúm gia cầm ngoại nhập
Tác giả: Đào Yến Khanh
Năm: 2005
18. Phạm Sỹ Lăng (2004), “Diễn biến bệnh cúm gia cầm ở Châu Á và các hoạt động phòng chống bệnh”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, (3), tr. 91- 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến bệnh cúm gia cầm ở Châu Á và các hoạt động phòng chống bệnh
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Năm: 2004
19. Phạm Sỹ Lăng (2004), Diễn biến của bệnh cúm gà trên thế giới, Hội thảo một số biện pháp khôi phục đàn gia cầm sau dập dịch, Hà Nội, tr. 33 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến của bệnh cúm gà trên thế giớ
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Năm: 2004
20. Lê Văn Năm (2004), “Bệnh cúm gà”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, (1), tr. 81- 86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cúm gà
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2004
21. Lê Văn Năm (2004), “Kết quả khảo sát các biểu hiện lâm sàng và bệnh tích đại thể bệnh cúm gia cầm ở một số cơ sở chăn nuôi các tỉnh phía Bắc”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, (3), tr. 86 - 90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát các biểu hiện lâm sàng và bệnh tích đại thể bệnh cúm gia cầm ở một số cơ sở chăn nuôi các tỉnh phía Bắc
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Trình tự chuỗi của mẫu dò và Primer cho RTRT - PCR - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Bảng 2.1. Trình tự chuỗi của mẫu dò và Primer cho RTRT - PCR (Trang 49)
Hình 3.1: Biểu đồ so sánh tình hình dịch cúm gia cầm H5N1 trong 3 năm - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Hình 3.1 Biểu đồ so sánh tình hình dịch cúm gia cầm H5N1 trong 3 năm (Trang 56)
Bảng 3.2: Kết quả điều tra tình hình bệnh cúm gia cầm H5N1 tại các địa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Bảng 3.2 Kết quả điều tra tình hình bệnh cúm gia cầm H5N1 tại các địa (Trang 57)
Hình 3.2: Bản đồ dịch tễ dịch cúm gia cầm H5N1 - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Hình 3.2 Bản đồ dịch tễ dịch cúm gia cầm H5N1 (Trang 58)
Bảng 3.3: Kết quả điều tra bệnh cúm gia cầm type A H5N1 năm 2014 ở gà tại 3 - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Bảng 3.3 Kết quả điều tra bệnh cúm gia cầm type A H5N1 năm 2014 ở gà tại 3 (Trang 60)
Bảng 3.4: Kết quả điều tra bệnh cúm gia cầm type A H5N6 năm 2015 ở gà tại 3 - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Bảng 3.4 Kết quả điều tra bệnh cúm gia cầm type A H5N6 năm 2015 ở gà tại 3 (Trang 61)
Bảng 3.5: Kết quả điều tra gia cầm mắc bệnh cúm gia cầm type A  H5N1 trong - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Bảng 3.5 Kết quả điều tra gia cầm mắc bệnh cúm gia cầm type A H5N1 trong (Trang 62)
Bảng 3.6: Kết quả điều tra gia cầm mắc bệnh cúm gia cầm type A  H5N6 trong - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Bảng 3.6 Kết quả điều tra gia cầm mắc bệnh cúm gia cầm type A H5N6 trong (Trang 63)
Bảng 3.7: Kết quả điều tra tình hình gà nuôi tại Tĩnh Gia, Quảng Xương, Như - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Bảng 3.7 Kết quả điều tra tình hình gà nuôi tại Tĩnh Gia, Quảng Xương, Như (Trang 65)
Bảng 3.8: Kết quả điều tra tình hình gà, vịt nuôi tại Tĩnh Gia, Quảng Xương,  Như Thanh năm 2015 mắc cúm gia cầm type A H5N6 theo quy mô đàn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Bảng 3.8 Kết quả điều tra tình hình gà, vịt nuôi tại Tĩnh Gia, Quảng Xương, Như Thanh năm 2015 mắc cúm gia cầm type A H5N6 theo quy mô đàn (Trang 66)
Bảng 3.11: Kết quả giám sát đàn gia cầm trước khi tiêm vaccine H5N1 - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Bảng 3.11 Kết quả giám sát đàn gia cầm trước khi tiêm vaccine H5N1 (Trang 70)
Bảng 3.13: Tần số phân bố các mức kháng thể của gà được tiêm vaccine H5N1 - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Bảng 3.13 Tần số phân bố các mức kháng thể của gà được tiêm vaccine H5N1 (Trang 74)
Bảng 3.15: Phân bố hiệu giá kháng thể của đàn vịt trong tỉnh được tiêm  vaccine cúm A H5N1  (Vaccine cúm A H5N1 vô hoạt nhũ dầu - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Bảng 3.15 Phân bố hiệu giá kháng thể của đàn vịt trong tỉnh được tiêm vaccine cúm A H5N1 (Vaccine cúm A H5N1 vô hoạt nhũ dầu (Trang 76)
Hình 4: Vaccine Navet-Vifluvac   nhũ dầu phòng bệnh cúm gia cầm - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Hình 4 Vaccine Navet-Vifluvac nhũ dầu phòng bệnh cúm gia cầm (Trang 87)
Hình 3: Chăn nuôi gà bán - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine h5n1 tại 03 huyện tĩnh gia, quảng xương, như thanh tỉnh thanh hóa, biện pháp khống chế
Hình 3 Chăn nuôi gà bán (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm