1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh ninh bình

89 539 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 650,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Nhóm thứ ba Sách chuyên khảo, tài liệu tham khảo bao gồm: 1 TS Trần Minh Hưởng, Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, Nxb Văn hóa Dân tộc,

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ BÍCH HỒNG

TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO

THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công

bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Hà Nội,ngày 26 tháng 7 năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Thị Bích Hồng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 7

1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 7

1.2 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lí của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 11

1.3 Phân biệt tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với một số tội danh khác 15

1.4 So sánh quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong Bộ luật hình sự năm 1999 với Bộ luật hình sự năm 2015 19

Chương 2: ĐỊNH TỘI DANH TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH 24

2.1 Khái quát lí luận định tội danh tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 24

2.2 Thực tiễn định tội danh tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Ninh Bình 28

2.3 Các giải pháp đảm bảo định tội danh tội đúng 43

Chương 3: QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH NINH BÌNH 55

3.1 Khái quát lí luận về quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 55

3.2 Thực tiễn quyết định hình phạt tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của các Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 60

3.3 Các giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt đúng 69

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sự ATGT An toàn giao thông CTTP Cấu thành tội phạm HĐXX Hội đồng xét xử HĐTP Hội đồng thẩm phán HĐTP TANDTC Tòa án nhân dân Tối cao HSST Hình sự sơ thẩm

TAND Tòa án nhân dân TANDTC Tòa án nhân dân Tối cao

TNHS Trách nhiệm hình sự TNHH Trách nhiệm hữu hạn TNGT Tai nạn giao thông QĐHP Quyết định hình phạt VKS Viện kiểm sát

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao

thông đường bộ với tội giết người 15

Bảng 1.2: Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác 17 Bảng 1.3: Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với tội đua xe trái phép 18 Bảng 2.1: Số liệu, tỷ lệ tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với tội phạm nói chung từ năm 2011 – 2015 27 Bảng 2.2: Tổng số vụ án, bị cáo phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đã xét xử có kháng cáo, kháng nghị từ năm 2011-2015 28 Bảng 2.3: Tổng số vụ án bị xét xử phúc thẩm và số vụ án bị xét xử phúc thẩm về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 28 Bảng 3.1: Cơ cấu loại hình phạt số bị cáo bị xét xử về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ từ năm 2011-2015 59

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giao thông đường bộ có vị trí và vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội của các nước trên thế giới Trong những năm qua ở nước ta nền kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa có những khởi sắc đáng kể và đem lại nhiều sự chuyển biến trên các lính vực đem lại đới sống vật chất và tinh thần ngày càng tốt đẹp cho nhân dân Trong những sự chuyển biến trên thì giao thông vận tải thể hiện rõ

Tuy nhiên cùng với sự phát triển, chuyển biến của hoạt động giao thông vận tại thì tình hình tai nạn giao thông đường bộ nói chung và tình hình tội phạm vi phạm quy định về phương tiện giao thông đường bộ nói riêng trong những năm gần đây tăng rất nhanh về số vụ việc và cả về mức độ nghiêm trọng đã gây ra và để lại những hậu quả rất lớn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của Nhà nước và nhân dân, làm ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh trật tự, an toàn xã hội Đảng, Nhà nước và hệ thống chính quyền các cấp từ Trung ương đến các địa phương đã nỗ lực đề ra nhiều nhóm giải pháp kiềm chế sự gia tăng, tiến tới đẩy lùi tai nạn giao thông

Trong xu hướng đổi mới hội nhập sâu rộng nền kinh tế, số lượng phương tiện tham gia giao thông đường bộ ngày càng gia tăng, số người tham gia giao thông cũng ngày càng nhiều hơn, ý thức tham gia giao thông của người dân chưa được cải thiện nhiều, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được, dẫn tới việc vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ngày cang nhiều về số vụ và hậu quả xảy ra đặc biệt nghiêm trọng, đây là vấn đề đặt ra trách nhiệm nặng nề của cả hệ thống chính trị

Việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định của BLHS là nhiệm

vụ quan trọng đối với các cơ quan THTT góp phần ngăn chặn và kiềm chế tai nạn giao thông Thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS năm 1999 về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong những năm qua cho thấy dù được sửa đổi, bổ sung ban hành nhiều văn bản hướng dẫn của các cơ quan

Trang 7

2

Nhà nước có thẩm quyền nhưng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án này, các cơ quan THTT còn gặp những khó khăn, vướng mắc Nguyên nhân của tình trạng này là một phần do bất cập của pháp luật về áp dụng các quy định của BLHS do nhận thức thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật

Vì vậy, nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận tội "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ", tìm ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng tội phạm này và nguyên nhân của chúng, để đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng

cả về lý luận và thực tiễn Đây chính là lý do học viên lựa chọn nghiên cứu Đề tài

"Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình" làm luận văn Thạc sĩ luật học

chính là xuất phát từ sự cần thiết đó

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thời gian qua, việc nghiên cứu tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và cán bộ làm công tác thực tiễn xét xử Đã có nhiều công trình nghiên cứu trên các lĩnh vực

đó là các giáo trình của các Trường Đại học, các luận án, luận văn, các sách, tài liệu tham khảo, bài viết liên quan đến tội phạm này đó là:

* Nhóm thứ nhất (Sách giáo trình, bài viết, tài liệu tham khảo) bao gồm: 1) GS.TS Võ Khánh Vinh, Chương X – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam(Phần các tội phạm), do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; 2) GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, Chương XXV – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình luật hình sự Việt Nam(Tập II) do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010; 3) GS.TS Đỗ Ngọc Quang, Chương XIX – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình luật hình sự Việt Nam(Phần các tội phạm) Do GS.TS

Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001(tái bản năm 2003 và 2007) 4) Bình luận khoa học BLHS năm 1999, Chương XIX các tội xâm phạm an toàn

Trang 8

ở thủ đô Hà Nội”, của tác giả Bùi Kiến Quốc năm 2011

* Nhóm thứ ba (Sách chuyên khảo, tài liệu tham khảo) bao gồm: 1) TS Trần Minh Hưởng, Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, trật tự quản

lý hành chính, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002; 2)Tạp chí Tòa án nhân dân số

01, tháng 1 năm 2012 “Xác định lỗi khi định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng” của tác giả Lê Văn Luật, Tạp chí Tòa án nhân dân số 16, tháng 8 năm 2011; “Một số vấn đề về định tội và định khung tăng nặng trong các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” của tác giả Huỳnh Quốc Hùng, Tạp chí Tòa án số 9, tháng 5 năm 2007; “Một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết các vụ án về trật tự an toàn giao thông đường bộ” của tác giả Tiến Sỹ Nguyễn Đức Mai, Tạp chí Tòa án số 22, tháng 11 năm 2009; Cần hình sự hóa hành vi đã uống rượu, bia hoặc các chất kích thích khác mà vẫn điều khiển phương tiện giao thông để phòng ngừa tai nạn” của PGS.TS Trần Hữu Tráng, Tạp chí Tòa án số 16, tháng 8 năm 2012…

Nghiên cứu các tài liệu trên viết về tội phạm này đã đề cập nhiều vấn đề còn vướng mắc về lý luận và thực tiễn áp dụng Các luận án, luận văn và bài viết liên quan đến vấn đề này chủ yếu từ góc độ tội phạm học Tuy nhiên, trong phạm vi hệ thống hai cấp Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình chưa có công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện cả về mặt lý luận và thực tiễn xét xử đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ dưới góc độ thực

Trang 9

4

tiễn xét xử Vì vậy, việc nghiên cứu “Thực tiễn xét xử tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” là nhu cầu cấp

thiết hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Học viên nghiên cứu tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ từ lý luận đến thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình hiện nay Nghiên cứu các vụ án, bản án đã xét xử, tìm hiểu sâu sắc, toàn diện về vấn

đề định tội danh và quyết định hình phạt tội này qua các dấu hiệu pháp lý để thấy được những điểm khác nhau giữa lý luận và thực tiễn Quá trình nghiên cứu đề tài còn dựa và các văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, cũng như các Nghị quyết, Công văn hướng dẫn trong thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân Tối cao Số liệu từ các báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, kết hợp với các kiến thức lý luận qua công tác thực tiễn xét xử

* Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình dưới góc độ pháp lý hình sự trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong BLHS; thực tiễn xét xử loại tội phạm này và những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS hiện hành trong quá trình xử lý các hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về loại tội phạm này cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội danh này

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

- Tổng kết, đánh giá thực tiễn xét xử tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở tỉnh Ninh Bình trong những năm gần đây; đi sâu phân tích đánh giá một số vụ án điển hình trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ đó rút

ra những ưu điểm, tồn tại trong hoạt động xét xử loại tội này, tìm ra nguyên nhân và các giải pháp góp phần vào công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân và hiệu lực quản lý của Nhà nước

- Đề xuất giải pháp để hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ qua thực tiễn công tác xét xử trong công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

Mác-Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, khảo sát thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

* Về mặt lý luận

Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ từ thực tiễn xét xử của hai cấp Tòa án Tỉnh Ninh Bình ở cấp độ luận văn thạc sĩ Học viên đưa ra những vướng mắc bất cập trong các quy định của pháp luật, những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện Điều 202 của

Trang 11

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ cũng như pháp luật hình sự Việt Nam

Luận văn khi hoàn thiện cũng sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ quan bảo vệ pháp luật, cho những người nghiên cứu và sinh viên, học viên trong các cơ

sở đào tạo luật

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, phục lục và tài liệu tham khảo, đề tài được cấu trúc gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát lý luận về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Viêt Nam

Chương 2: Định tội danh tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình

Chương 3: Quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình

Trang 12

7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy định về tội

vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1.1.1 Giai đoạn từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến Bộ luật hình sự năm 1985

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành đã công đập tan chế độ phong kiến, đồng thời thiết lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên với hệ thống pháp luật, trong đó có các Sắc lệnh, Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành thuộc lĩnh vực hình sự

Ngay sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự quy định các tội gián điệp, tội âm mưu lật đổ chính quyền, tội hoạt động phỉ…tại Sắc lệnh số 21 ngày 14 tháng 2 năm 1946 Tuy nhiên, lúc này tội vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ chưa được quy định Như vậy các tội chống chính quyền nhân dân được quy định ngay từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, còn tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chỉ ra đời khi có các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ, tức là khi có Luật giao thông đường bộ Trong suốt 10 năm từ năm 1945 đến năm 1954 thời kỳ thực dân Pháp tái chiếm Hà Nội thì Nhà nước ta chưa có hệ thống luật bảo đảm an toàn giao thông vận tải Vì vậy, không có cơ sở để hình thành quy phạm pháp luật về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Trong thời kỳ này cả nước vẫn áp dụng luật của chế độ cũ để xét xử tội về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng Ngày 03/10/1955, Luật đi đường bộ mới được ra đời kèm theo Nghị định số 348/NĐ của Bộ giao thông Bưu

Trang 13

8

điện Đây là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về

an toàn giao thông, tạo cơ sở pháp lý hình thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Sau đó hàng loạt các văn bản pháp lý khác về an toàn giao thông vận tải ra đời như: Nghị định số 139/NĐ ngày 19/12/1956; Nghị định 44/NĐ ngày 27/5/1958 của Bộ giao thông Bưu điện; Nghị định liên bộ giữa Bộ giao thông Bưu điện - Công an số 09/NĐLB ngày 07/3/1956 ban hành thể lệ tạm thời về vận tải đường bộ; Nghị định số 10/NĐ của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về kỷ luật an toàn giao thông vận tải trong thời chiến; Nghị định 36/CP ngày 29/5/1995 về tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ

và trật tự đô thị và đến nay là Nghị định số 36/CP ngày 10/7/2001 về bảo đảm trật

tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị Điểm nổi bật và đáng chú ý nhất là Quốc Hội đã thông qua Luật giao thông đường bộ đầu tiên vào ngày 29/6/2001 và Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2002

Ngày 19/01/1955 Thủ tướng Chính phủ ra Thông tư số 442/TTg là văn bản đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Tại Điểm 4 của Thông tư này

quy định: “Không cẩn thận khi không theo luật đi đường mà làm người khác bị thương sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm Nếu gây tai nạn làm chết người thì có thể bị phạt tù đến 10 năm” [6,tr 135]

Sau hơn một năm thực hiện Thông tư này, ngày 29/6/1956, Thủ tướng Chính phủ đã ra Thông tư 556/TTg bổ sung điểm 4 Thông tư 442/TTg Điểm 4 của Thông

tư 556/TTg quy định: “Không cẩn thận hay không theo luật đi đường mà làm người khác bị thương thì sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm Nếu gây tai nạn chết người thì có thể bị phạt tù đến 10 năm Trong trường hợp gây tai nạn lớn làm chết nhiều người và gây thiệt hại lớn đến tài sản của nhân dân thì có thể bị phạt đến tù chung thân hay tử hình” [7,Tr 135]

Trước ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, các tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đều được điều tra, truy tố và xét xử theo Thông tư 442/TTg và Thông tư 556/TTg của Thủ tướng Chính phủ

Trang 14

9

Đối với tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn thì đường lối xử lý người

phạm tội là “Trừng trị thích đáng đối với những vi phạm nghiêm trọng, nghiêm trị đúng mức đối với những vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời kết hợp với thận trọng để xem xét đầy đủ mọi tình tiết một cách toàn diện”

Khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Chính phủ mới ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi xâm phạm trật tự công công, an toàn công cộng và sức khỏe của nhân dân Tại Điều 9 Sắc luật

03 quy đinh về tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe

của nhân dân như sau: “Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng với các khung hình phạt từ 3 tháng đến 5 năm, trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 15 năm Trong mọi trường hợp có thể bị phạt tiền đến 1000 đồng ngân hàng”

Như vậy có thể thấy, trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985, các hành

vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chưa được quy định là một tội độc lập Đường lối xử lý vi phạm tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn được thực hiện theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại Bản sơ kết kinh nghiệm về đường lối xét xử tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn Đến năm 1976, Chính phủ mới ban hành một văn bản dưới dạng Sắc luật quy định tội phạm và hình phạt đối với tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng

1.1.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến Bộ luật hình sự năm 1999

Tháng 9 năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời và có hiệu lực hành thống nhất trong toàn quốc kể từ ngày 01/01/1986 Trong bộ luật này, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ cũng chưa có tên riêng, mà được quy định chung với các hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải (Điều 186, Chương VIII – Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính - BLHS 1985) Điều

luật quy định hành vi phạm tội của người “điều khiển phương tiện giao thông vận tải mà vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản …,” [19]

Trang 15

10

So với Sắc luật số 03-SL/76 thì quy định tại Điều 186 Bộ luật hình sự 1985

đã có bước tiến bộ rất lớn về cả kỹ thuật lập pháp và nội dung Cụ thể như sau:

- Tên của tội đã được xác định rõ là “Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng”

- Sắc luật số 03-SL/76 chỉ nêu tội danh và hình phạt mà không mô tả dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm cũng như quy định các khung hình phạt tương ứng với các loại trường hợp phạm tội khác nhau như quy định tại Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985

- Đường lối xử lý tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng của Bộ luật hình sự năm 1985 có thay đổi mức hình phạt tù theo hướng tăng nặng hơn tối đa từ 15 năm lên 20 năm cho phù hợp với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng của tội này

- Các tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 cụ thể, đầy đủ và rõ ràng hơn Nhiều tình tiết định khung tăng nặng khác trong Bộ luật hình sự năm 1985 đã được bổ sung (4 khung hình phạt khác nhau)

Tuy nhiên quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 về tội vi phạm quy định

về an toàn giao thông vận tải cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế Đó là quy định cả 4 loại hành vi vi phạm trong bốn lĩnh vực an toàn giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không) có đặc điểm kỹ thuật và yêu cầu bảo đảm an toàn rất khác nhau vào cùng một điều luật Điều này đã hạn chế nhiều đến việc quy định

cụ thể hành vi phạm tội cũng như việc phân hóa trách nhiệm hình sự của hành vi phạm tội

Bộ luật hình sự năm 1985 được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991,

1992, 1997 nhưng nội dung của Điều 186 về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ về cơ bản không thay đồi, mà chỉ có sự thay đổi

về tên tội (được sửa đổi bổ sung vào năm 1991), từ tội vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng thành tội vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải Bỏ cụm từ “gây hậu quả nghiêm trọng” nhằm cho tên tội phù hợp với tất cả các trường hợp bị coi là phạm tội này theo nội dung điều luật

Trang 16

Tại Điều 8 BLHS năm 1999 hiện hành thì khái niệm tội phạm được định

nghĩa: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình

sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn

xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khá của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [20] Khái niệm

tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là sự cụ thể hóa khái niệm tội phạm, hiện nay vẫn còn một số quan điểm khác nhau

Có tác giả cho rằng: “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi xâm phạm những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ” [13,tr.434] Tác giả cho rằng khái niệm này còn khá chung

chung và chưa nêu cụ thể hành vi phạm tội và dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Tác giả Đinh Văn Quế trong cuốn bình luận khoa học BLHS đã định nghĩa:

“Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông trong khi điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác” [18, tr 6]

Giáo trình luật hình sự Việt Nam của trường Đại học luật Hà Nội thì định

nghĩa: “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là

Trang 17

12

hành vi của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác” [28, tr 196]

Cả hai định nghĩa trên đều chưa đề cập đến vấn đề năng lực TNHS của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ khi tham gia giao thông

Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lí trong các định nghĩa trên, tác giả xin đưa ra định nghĩa về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như sau:

"Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực TNHS thực hiện khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ hoặc tài sản của người khác"

1.2.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng (các yếu tố cấu thành tội phạm) là cơ sở pháp

lý của việc định tội danh Cũng như các tội phạm khác, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại Điều 202 của BLHS 1999

có 4 yếu tố cấu thành là khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể

* Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ được xác định là trật tự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người tham gia giao thông [41, tr 417]

* Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ bao gồm: hành vi khách quan; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, thời gian, địa điểm, phương tiện phạm tội

Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại Luật giao thông đường bộ như: hành

Trang 18

13

vi vi phạm quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe, sử dụng làn đường, vượt

xe, chuyển hướng xe…[41,418]

Hậu quả do hành vi vi phạm tội này gây ra là thiệt hại về tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng sức khoẻ, tài sản của Nhà nước và công dân Thiệt hại được coi là nghiêm trọng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

“ a Làm chết một người;

b Gây thương tích hoặc gây tổn hại nặng cho sức khỏe của một người đến 4 người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%;

c Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với

tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên;

d Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31% nhưng tổng tỷ lệ thương tật của những người này từ 41% trở lên;

e Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

f Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21% nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả các nạn nhân từ 31% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị ba mươi triệu đến dưới năm mươi triệu;

g Gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đến dưới năm trăm triệu động”[34]

Giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra phải có mối quan hệ nhân quả Hành

vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ phải là nguyên nhân phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội Tội phạm hoàn thành từ thời điểm xảy ra thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác

Khoản 4 Điều 202 BLHS được coi là cấu thành giảm nhẹ đặc biệt đối với tội

vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Trên thực tế rất ít xảy ra trường hợp này Đây là trường hợp vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà nếu không được ngăn chặn kịp thời thì hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Trang 19

14

nhất định xảy ra Có quan điểm cho rằng, khoản 4 Điều 202 BLHS là cấu thành hình thức, vì theo quy định của điều luật, không cần có hậu quả xảy ra tội phạm đã hoàn thành Nếu chỉ căn cứ vào quy định tại khoản 4 của điều luật này thì dường như đây là tội có cấu thành hình thức Tuy nhiên, ở đây cần lưu ý hậu quả chưa xảy

ra là do “được ngăn chặn kịp thời” chứ không phải do “hành vi phạm tội mới đe dọa xâm phạm đến các quan hệ xã hội” như đối với các tội phạm có cấu thành hình thức Vì vậy, về bản chất, cấu thành tội phạm của khoản này vẫn là cấu thành tội phạm vật chất Hậu quả của hành vi mặc dầu chưa xảy ra nhưng hoàn toàn có thể suy đoán được dựa trên diễn tiến của hành vi nếu không được ngăn chặn kịp thời

* Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của người phạm tội trong tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả

thông đường bộ quy định tại Điều 202 của BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên có

đủ năng lực TNHS

BLHS 2015 đã sửa đổi quy định về độ tuổi chịu TNHS, theo đó nhà làm luật quy định cụ thể những trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS tại khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 Tuy nhiên, theo quy định này thì người từ

đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi cũng vẫn không phải chịu TNHS đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260 BLHS 2015)

* Hình phạt đối với tội phạm

Điều 202 BLHS 1999 quy định bốn khung hình phạt với người phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ: Khoản 1 Điều 202 của

Trang 20

15

BLHS quy định phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm, hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm, khoản 2 Điều của 202 BLHS quy định phạt tù từ ba năm đến mười năm, khoản 3 Điều 202 của BLHS quy định phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm Vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù

từ ba tháng đến hai năm phải chịu TNHS theo khoản 4 Điều 202 của BLHS

1.3 Phân biệt tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với một số tội danh khác

* Phân biệt tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với tội giết người

Giữa hai tội phạm này có một số điểm khác nhau như sau:

Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với tội giết người

Tiêu chí

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Tội giết người

- Xâm phạm đến quyền được sống của con người

Hành vi

khác quan

- Hành vi vi phạm các quy định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đã gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội (thiệt hại về tính mạng, tài sản tính thành tiền và làm mất trật tự an

- Là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác,

là khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ Hành vi khách quan của tội giết người có thể là hành động hoặc là không hành động

Trang 21

16

toàn giao thông đường bộ) Hành vi khách quan của tội này thực hiện bằng hành động

vô ý vì quá tự tin hoặc lỗi vô ý vì cẩu thả Trong cả hai trường hợp lỗi trên người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra

- Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý Lỗi cố ý ở đây có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp

- Gây hậu quả chết người

Địa điểm

phạm tội

- Trên đường trong khi tham gia

* Phân biệt tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Theo quy định tại Điều 108 của Bộ luật hình sự năm 1999 thì tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác là hành vi vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình

sự thực hiện bởi hình thực lỗi vô ý, do tự tin hoặc cẩu thả mà gây thương tích cho nạn nhân Khách thể của tội này là quyền được bảo vệ sức khỏe của con người

Như vậy, so sánh với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ cho thấy những điểm giống nhau như sau:

Trang 22

17

Tội phạm được thực hiện bởi hình thức lỗi vô ý, bao gồm cả lỗi vô ý do cẩu thả và lỗi vô ý vì quá tự tin

- Chủ thể của tội phạm là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và

đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Giữa hai tội phạm này có một số điểm khác nhau như sau:

Bảng 1.2 Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác

Tiêu chí Tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ

Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác

Về khách thể

trực tiếp

- Xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác

- Xâm phạm đến quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người

khách quan

- Hành vi vi phạm các quy định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đã gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội (thiệt hại về tính mạng, tài sản tính thành tiền và làm mất trật tự an toàn giao thông đường bộ)

- Hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy tắc an toàn gây nên thương tích cho nạn nhân

- Gây thương tích với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên cho nạn nhân mới cấu thành

phạm tội

- Trên đường trong khi tham gia giao

Trang 23

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với tội đua xe trái phép đều xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng và đều đe dọa, xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác

Giữa hai tội phạm này có một số điểm khác nhau như sau:

Bảng 1.3 Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và tội đua xe trái phép:

Tiêu chí Tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ Tội đua xe trái phép

Về khách thể

trực tiếp

- Xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác

- Xâm phạm đến an toàn công công, đồng thời tội này còn đe đọa xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác cũng như gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng

khách quan

- Hành vi vi phạm các quy định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đã gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội(thiệt hại về

- Hành vi đua xe trái phép

ô tô, xe máy hoặc các loại

xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại cho sức khỏe, tài sản của người khác,

Trang 24

19

tính mạng, tài sản tính thành tiền và làm mất trật tự an toàn giao thông đường bộ)

gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn công cộng

tự tin hoặc lỗi vô ý vì cẩu thả Trong cả hai trường hợp lỗi trên người phạm tội không mong muốn cho hậu quả xảy ra

- Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Mục đích phạm tội và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội này

- Gây thiệt hại cho sức khỏe, tài sản của người khác, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Địa điểm - Trên đường trong khi tham gia giao

thông đường bộ

- Nơi công cộng nhưng chủ yếu trên các tuyến đường giao thông, tuyến phố lớn, đường quốc lộ, tỉnh lộ nhân những ngày

lễ lớn hoặc khi có các sự kiện văn hóa, thể thao…

1.4 So sánh quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong Bộ luật hình sự năm 1999 với Bộ luật hình

sự năm 2015

Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW "Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị, nhằm khắc phục kịp thời những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử nói chung và

Trang 25

20

các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ nói riêng, BLHS 2015 đã có những sửa đổi bổ sung một số nội dung cụ thể, khắc phục cơ bản được những hạn chế bất cập trong quy định của Điều 202 BLHS 1999, làm cho nó phù hợp hơn với thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống vi phạm và tội phạm về trật tự an toàn giao thông đường bộ Những thiếu sót tại Điều 202 của BLHS hiện hành, đã được

bổ sung, sửa đổi trong Bộ luật hình sự 2015 (tại Điều 260 BLHS 2015), cụ thể là:

Một là: Sửa tên gọi của Điều luật Tên của điều luật được đổi thành: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260 BLHS 2015)

Hai là: Bổ sung nội dung quy định tại khoản 1 của Điều 260 BLHS năm

2015, bằng cách thay cụm từ "điều khiển phương tiện" bằng từ "tham gia" để bao quát đầy đủ các chủ thể tham gia giao thông đường bộ cũng như phù hợp với quy

định tại điểm 21 Điều 3 Luật giao thông đường bộ năm 2008: "người tham gia giao thông gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật và người đi bộ trên đường bộ"[23]

Ba là: Các quy định có tính định tính trong Điều 202 BLHS 1999 được hướng dẫn cụ thể để thực hiện tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,đã được tiếp thu, bổ sung cho hoàn chỉnh và pháp điển hóa vào trong các quy định của Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015

Bốn là: Điều 260 của BLHS sửa đổi năm 2015 về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, đã sửa đổi, bổ sung và xây dựng thành 6 khoản, tăng

01 khoản so với Điều 202 của BLHS 1999 Mức án tại các khoản tương ứng cũng như hình phạt bổ sung quy định ở hai điều luật mới và cũ không có sự khác biệt lớn Nhưng tại Điều 260 của BLHS năm 2015 đã bổ sung thêm 01 cấu thành giảm nhẹ ở khoản 04 của điều luật để xử lý một số hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, nhưng ở mức độ nhẹ hơn so với quy định tại khoản 01 điều này (Khoản 1 Điều 202 và văn bản hướng dẫn của nghị quyết HĐTP quy định là làm chết 01 người hoặc gây thương tích cho 01 người từ 31% trở lên…Còn ở Điều 260 của BLHS năm 2015 đã tách khoản 1 của Điều 202 cũ ra để quy định thành 2 khoản, là khoản 1 và khoản 4 Theo đó: Nếu gây thương tích hoặc gây tổn hại cho

Trang 26

21

sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên thì xử lý theo khoản

1 Điều 260, còn nếu gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% thì được tách ra quy định ở khoản 4 của Điều 260 với mức án nhẹ hơn rất nhiều (chỉ phạt tiền và cải tạo không giam giữ, không có hình phạt tù)

Những bổ sung, sửa đổi của Điều 260 BLHS năm 2015 là phù hợp và đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, do đó sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan pháp luật xử

lý có hiệu quả đối với các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này, góp phần bảo đảm giữ gìn trật tự an toàn giao thông đường bộ Tuy nhiên, những sửa đổi về kết cấu của điều luật cần có hướng dẫn để áp dụng cho thống nhất trong thực tiễn Cụ thể như sau:

Nghiên cứu quy định tại Điều 260 của BLHS năm 2015 cho thấy kết cấu điều luật là chưa thực sự phù hợp Điều luật có tới hai cấu thành cơ bản là cấu thành

ở khoản 1 và khoản 4 Kết cấu này sẽ gây ra những cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau, khó xác định đâu là cấu thành cơ bản Bởi vì thông thường, một người khi phạm tội ở khoản 1(là cấu thành cơ bản) và có một trong những tình tiết định khung ở khoản 2 sẽ phạm tội ở khoản 2 của điều luật

Trường hợp người tham gia giao thông vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của 01 người, với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% và không phạm vào một trong những tình tiết định khung tăng nặng của khoản 2 Khi đó người đó sẽ bị xem xét xử lý theo khoản

4 của điều luật và được hiểu là, đã có sửa đổi bổ sung thêm một cấu thành giảm nhẹ trong điều luật để xử lý cho trường hợp này với mức án nhẹ hơn khoản 01 của Điều

202 BLHS năm 1999

Tuy nhiên, giả sử trường hợp người tham gia giao thông vi phạm quy định về

an toàn giao thông đường bộ, nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định thì giải quyết thế nào cho đúng? Khi đó chuyển khung sang khoản 01 hay khoản 02 của điều luật? Nếu theo tuần tự thì phải chuyển khung sang khoản 01, vì quy định nặng hơn liền kề so với khoản 04 của điều luật Nhưng khoản 01 thì không có các cấu thành tăng nặng ở đó Như vậy, sẽ phải bỏ qua khoản 01 chuyển tăng nặng sang

Trang 27

22

khoản 02 của điều luật luôn chăng? Hay điều luật này có hai khung cơ bản là khoản

01 và khoản 04? khi đó một người phạm vào một trong hai khoản này (khoản 01 và khoản 04), mà có tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 02 là đều chuyển khung sang khoản 2 Về vấn đề này, hiện có một số quan điểm áp dụng pháp luật như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Theo quy định của điều luật thì khoản 4 là cấu thành cơ bản của điều luật, vì nó quy định các yếu tố cấu thành cơ bản như tại khoản 1 của điều luật nhưng có hình phạt nhẹ hơn quy định của khoản 1 mà thôi

Quan điểm thứ hai cho rằng: Khoản 1 của điều luật là cấu thành cơ bản, chỉ khi một hành vi thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm cơ bản được quy định tại khoản 1 của điều luật mà lại có thêm những tình tiết định khung tăng nặng quy định ở khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật thì sẽ áp dụng khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật Còn khoản 4 là cấu thành giảm nhẹ, vì không thể từ khoản 4 chuyển thẳng vào khoản 2,3 mà bỏ qua khoản 1 của điều luật được

Quan điểm thứ ba cho rằng: Với kết cấu và cách hành văn của điều luật, thì một hành vi khi có đủ các yếu tố định khung cơ bản quy định tại khoản 1 hoặc khoản 4 của điều luật, mà lại có những tình tiết định khung tăng nặng quy định ở khoản 2 hoặc khoản 3 thì sẽ phải áp dụng khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật (Như vậy theo quan điểm này thì ở điều luật này có tới hai khung cơ bản, hai cấu thành cơ bản)

So sánh hình phạt giữa Điều 202 của BLHS 1999 và Điều 260 của BLHS

2015 thì Điều 260 có quy định nhẹ hơn Do đó, khi Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực thi hành thì những quy định có lợi, tình tiết có lợi của luật mới sẽ được áp dụng

Kết luận chương 1

Chương 1 của luận văn đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam như: Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; khái niệm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình

sự Việt Nam, dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; phân biệt tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với một số tội danh khác Đặc biệt, luận văn cũng đã nghiên

Trang 28

23

cứu so sánh tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 Qua đó cho thấy việc sửa đổi và hoàn thiện các quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là cần thiết để đáp ứng kịp thời với yêu cầu thực tiễn nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân, duy trì trật tự xã hội

Những lý luận cơ bản được trình bày trên đây có ý nghĩa quan trọng cho việc định tội danh cũng như quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Việt nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nói riêng

Trang 29

24

Chương 2 ĐỊNH TỘI DANH TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH NINH BÌNH 2.1 Khái quát lí luận định tội danh tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

2.1.1 Khái niệm định tội danh tội vi phạm quy định về điều khiển phương

tiện giao thông đường bộ

Trong lý luận luật hình sự, việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự là một quá trình phức tạp được tiến hành qua các giai đoạn nhất định như: Giải thích pháp luật hình sự, xác định hiệu lực pháp luật về không gian và thời gian, định tội danh, quyết định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt, quyết định án treo, xóa án tích… Trong các giai đoạn đó thì định tội danh là một trong những giai đoạn cơ bản, một trong những nội dung của quá trình áp dụng pháp luật, một trong những biện pháp, cách thức đưa các quy phạm pháp luật vào cuộc sống Định tội danh là một vấn đề rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, chính xác, đồng thời làm cơ sở cho việc áp đúng các biện pháp ngăn chặn, xác định thẩm quyền điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng; Góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ pháp luật, pháp chế XHCN, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mọi công dân Việc định tội danh không chính xác sẽ dẫn đến hậu quả rất lớn và đặc biệt sẽ không bảo đảm được tính có căn cứ của hình phạt

đã tuyên và việc xét xử không đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Theo quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh thì: "Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lí khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu

Trang 30

Quan điểm của TS Dương Tuyết Miên thì: Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác đinh một người có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì tội đó là tội gì, theo điều luật nào của BLHS hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện [16]

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định về tội vi phạm quy đinh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, kết hợp nghiên cứu các định nghĩa của các tác giả

kể trên, có thể đưa ra định nghĩa định tội danh về tội vi phạm quy định về điều

khiển phương tiện giao thông đường bộ như sau: Đinh tội danh tội vi phạm quy định

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là một phạm trù chủ quan trong nhận thức lý luận có tính lôgic, là một dạng hoạt động thực tiễn của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với điều, khoản nào của Điều 202 BLHS 1999

2.1.2 Đặc điểm của định tội danh tội vi phạm quy định về điêu khiển phương tiện giao thông đường bộ

- Định tội danh là một quá trình nhận thức có tính lôgic giữa lý luận và thực tiễn Quá trình này được thể hiện dưới 2 khía cạnh đó là: Xác định xem hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện (hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương

Trang 31

26

tiện giao thông đường bộ) có phù hợp với các dấu hiệu mô tả trong CTTP của Điều

202 BLHS 1999 cũng như các điều luật có liên quan và đưa ra sự đánh giá nhất định

về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi đã thực hiện trong thực tế

- Việc định tội danh phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy phạm pháp luật của BLHS với tư cách là luật nội dung (những quy định liên quan đến các yếu tố CTTP

và Điều 202 BLHS) cũng như các quy phạm pháp luật của Bộ luật TTHS (BL TTHS) tư cách là luật hình thức

- Định tội danh là một dạng hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, của những người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán) để cụ thể hóa các quy phạm pháp luật hình sự vào đời sống thực tế Trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết của hành vi phạm tội đã thực hiện và sự nhận thức đầy đủ nội dung của các quy phạm pháp luật hình sự

- Định tội danh thực chất là sự xác định về mặt pháp lý đối với hành vi phạm tội đã xảy ra trong thực tế và đây là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự

2.1.3 Ý nghĩa của định tội danh

- Định tội danh là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể

hóa hình phạt một cách chính xác và có căn cứ pháp luật

- Định tội danh chính xác sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện hàng loạt các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận trong Nhà nước pháp quyền đó là các nguyên tắc: nguyên tắc pháp chế, trách nhiệm do lỗi, trách nhiệm cá nhân, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc công minh, nhân đạo và nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm

- Định tội danh đúng là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật TTHS về tạm giữ, tạm giam, về thẩm quyền điều tra, truy tố và xét

xử và sẽ loại trừ việc kết án oan, sai đối với những người có hành vi không nguy hiểm cho xã hội, không trái pháp luật hình sự và tạo tiền đề pháp lý cho việc quyết định hình phạt công minh đối với người phạm tội

Trang 32

27

Ngược lại, định tội danh sai không chỉ làm cho việc quyết định hình phạt không đúng, không công bằng, mà còn áp dụng không có căn cứ hoặc không áp dụng một loạt các biện pháp pháp lý khác như: quyết định hình phạt bổ sung, quyết định trách nhiệm dân sự… Mặt khác định tội danh sai còn làm giảm uy tín của các

cơ quan tiến hành tố tụng, vi phạm pháp chế XHCN, ảnh hưởng đến hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm Đồng thời định tội danh sai còn gây tốn kém cho việc bồi thường oan sai, về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt tố tụng hình sự gây ra

2.1.4 Cơ sở pháp lý của định tội danh

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự thì BLHS được coi là cơ sở pháp lý duy nhất của hoạt động định tội danh Bản chất của hoạt động định tội danh là xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định (trường hợp cụ thể này là Điều 202 BLHS) Bên cạnh đó, đến thời điểm này, BLHS là nguồn duy nhất của luật hình sự Nó chứa đựng toàn

bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự hiện hành và chứa đựng tất cả các dấu hiệu cấu thành tội phạm - cái được coi là mô hình pháp lý của tội phạm để dựa vào

đó các chủ thể định tội danh tiến hành so sánh, đối chiếu với các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trên thực tế, phục vụ cho quá trình định tội danh

Hệ thống các nhóm quy phạm được sắp xếp trong BLHS thành hai phần: phần chung và phần các tội phạm Trong đó, phần chung quy định những vấn đề cơ bản nhất làm cơ sở, nguyên tắc cho việc giải quyết các vụ án hình sự, phần các tội phạm quy định mô hình pháp lý của các tội phạm cụ thể và các chế tài tương ứng, trong đó có quy định của Điều 202 BLHS Hai phần của BLHS này có mối liên quan chặt chẽ, thống nhất và lôgic với nhau, vì vậy trong quá trình định tội danh cần phải áp dụng cả các quy định trong phần chung và các quy định trong phần các tội phạm Điều đó có nghĩa là, để xác định một hành vi có phạm tội theo Điều 202 BLHS không thì không chỉ căn cứ quy định của Điều 202 BLHS mà còn phải căn

Trang 33

28

cứ vào những quy định ở phần chung để xác định yếu tố năng lực chủ thể, độ tuổi, trường hợp miễn TNHS, lỗi…

Bên cạnh đó, còn có quan điểm cho rằng BLHS là cơ sở pháp lý chủ yếu thì

Bộ luật TTHS được coi là cơ sở pháp lý gián tiếp, bổ trợ cho hoạt động định tội danh, bởi lẽ Bộ luật TTHS chứa đựng các quy phạm pháp luật quy định về các trình

tự, thủ tục, thời hạn, chứng cứ… đảm bảo cho quá trình định tội danh diễn ra đúng đắn, chính xác và hợp pháp

2.2 Thực tiễn định tội danh tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Ninh Bình

2.2.1 Tình hình xét xử tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Ninh Bình

Theo số liệu thống kê, trong 5 năm từ năm 2011 đến 2015, tổng số tội phạm xảy ra trên địa bàn tỉnh Ninh Bình là 3.041 vụ, trong đó tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là 213 vụ, với 221 bị cáo chiếm tỷ lệ

không lớn trên tổng so các tội phạm khác, (chiếm tỷ lệ 7 %) Cụ thể như sau: Năm

2011, Toàn ngành Tòa án tỉnh Ninh Bình xét xử 571vụ/ 999 bị cáo; trong đó tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đã xét xử 63 vụ/65

bị cáo (chiếm 11% số vụ, 6,5% số bị cáo) Năm 2012 xét xử 673 vụ/1366 bị cáo; trong đó tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đã xét xử 46 vụ/47 bị cáo (chiếm 6,6% số vụ; 3,4 % số bị cáo) Năm 2013 xét xử 579vụ/1243 bị cáo; trong đó tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đã xét xử 37 vụ/ 39 bị cáo (chiếm 6,3% số vụ, 3,1% số bị cáo) Năm 2014 xét xử 617 vụ/1444 bị cáo; trong đó tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đã xét xử 27/28 bị cáo (chiếm 4,3% số vụ, 1,9%

số bị cáo) Năm 2015 xét xử 601 vụ/1423 bị cáo; trong đó tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đã xét xử 40 vụ/42 bị cáo (chiếm 6,6%

số vụ, 3% số bị cáo)

Trang 34

Tỷ lệ % số vụ (2) so với (1) Ghi chú

Trang 35

30

Bảng 2.3: Tổng số vụ án bị xét xử phúc thẩm và số vụ án bị xét xử phúc thẩm về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Năm Tổng số vụ án (Số vụ)

Số vụ án phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường

( Nguồn: Số liệu thống kê tội phạm của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình)

Từ kết quả trên cho thấy tình hình tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số các tội phạm khác và có diễn biến tăng, giảm không ổn định Tuy nhiên theo nhận định của các cơ quan chức năng trực tiếp tham gia công tác phòng chống tội vi phạm an toàn giao thông thì tình hình tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không có chiều hướng giảm, tính chất, mức độ hành vi của tội phạm ngày càng phức tạp và nghiêm trọng Cùng với sự phát triển của đất nước nói chung và địa bàn tỉnh Ninh Bình nói riêng thì số lượng người và phương tiện giao thông ngày càng gia tăng và phức tạp Do vậy, trong những năm qua nhìn vào kết quả về số vụ tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có thể nhận thấy, trật tự ATGT vẫn diễn biến hết sức phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ TNGT và

ùn tắc giao thông Nguyên nhân xuất phát từ sự mất cân đối giữa phát triển của các phương tiện và hạ tầng giao thông ngày càng thêm gay gắt, cơ sở hạ tầng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông do sự gia tăng nhanh của các phương tiện tham gia giao thông Thêm vào đó, việc tổ chức giao thông ở một số nơi còn chưa hợp lý và chậm khắc phục trong khi ý thức chấp hành pháp luật kém khi tham gia giao thông của một bộ phận nhân dân nhưng lại là tác nhân lớn ảnh hưởng đến trật tự an oàn giao thông Người không đội mũ bảo

Trang 36

31

hiểm khi đi mô tô, xe máy, nhất là lứa tuổi thanh, thiếu niên có xu hướng gia tăng, người dân còn tùy tiện trong hoạt động sản xuất, sinh hoạt gần đường sắt, đường bộ, chiếm dụng lòng, lề đường để buôn bán kinh doanh, làm sân phơi, họp chợ…Các điểm đen đã được xác định vẫn chậm được khắc phục Tình trạng xe quá tải trọng cầu đường vẫn tiếp diễn Công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông của các địa phương tuy đã được tăng cường nhưng còn thiếu đồng bộ Qua một năm thực hiện Nghị quyết 32 và các chỉ thị, nghị quyết của Chính phủ, cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành thì tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình bước đầu đã được kiềm chế, tuy nhiên vẫn diễn biến phức tạp, khó lường Thời gian tới, nhiệm vụ đặt ra với các cơ quan tiến hành tố tụng Công an, Viện kiểm sát và Tòa án còn nhiều khó khăn, đòi hỏi sự đồng thuận cao của toàn bộ hệ thống chính trị, hơn hết vẫn là ý thức chấp hành pháp luật của người dân khi tham gia giao thông

2.2.2 Định tội danh theo cấu thành tội phạm cơ bản

Cơ quan tiến hành tố tụng cần phải dựa vào mô hình pháp lý của việc định tội danh được mô tả tại Điều 202 của BLHS 1999, đây cũng là mô hình pháp lý chung nhất cho các hành vi nguy hiểm cho xã hội trong nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng Dựa vào quy định của điều luật mà hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được phân chia thành 4 dạng tương ứng với 4 mức hình phạt quy định tại Điều luật này Theo đó, các cơ quan tiến hành tố tụng kiểm tra, đối chiếu, so sánh xem các dấu hiệu của hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tương ứng với mô hình nào? Tức là thỏa mãn cấu thành cơ bản, tăng nặng hay giảm nhẹ và thuộc khoản nào trong điều luật

- Đối với dạng hành vi thuộc khung cơ bản (khoản 1 Điều 202 của BLHS): thực tế cho thấy việc xác định phạm tội ở khung cơ bản chiếm đa số trong quá trình giải quyết vụ án Trong tổng số 213 vụ án phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ giai đoạn 2011-2015 ở Ninh Bình thì có đến 145 vụ/165 bị cáo (chiếm tỷ lệ 68,1% số vụ và 74,7% số bị cáo) được xét xử theo khoản

1 Điều 202 BLHS

Trang 37

32

Định tội trong trường hợp này là trên cơ sở nhận thức các tình tiết thực tế của hành vi nguy hiểm để so sánh, đối chiếu với các tình tiết được mô tả trong cấu thành tội phạm cơ bản được quy định trong khoản 1 Điều 202 BLHS Khoản 1 Điều 202

của Bộ luật hình sự quy định “Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường

bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến

ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”[20] Khoản 1 Điều 3 của Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định: “Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ Khoản 17 Điều 3 của Luật Giao thông đường bộ quy định: “Phương tiện giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ”[23] Khoản 23 Điều 3 của Luật Giao thông đường bộ: “Người điều khiển phương tiện gồm người điều khiển xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ Tình tiết “gây thiệt hại cho tính mạng là làm người khác chết Tình tiết “gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác”[23]: Tiểu mục 4.1 Mục 4 Nghị quyết

02/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình sự của

Tòa án nhân dân Tối cao quy định: “Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự:

Trang 38

33

d Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

đ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

e Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”.[34]

Lưu ý: Khi xác định thiệt hại về tài sản cho người khác thì chú ý đây chỉ những tài sản do hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trực tiếp gây ra, còn những thiệt hại gián tiếp không được tính là thiệt hại để xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Ví dụ: trường hợp

do bị thương nên phải chi phí cho việc điều trị và các khoản chi phí khác (mất thu nhập, làm chân giả, tay giả, mắt giả ) Mặc dù các thiệt hại này người phạm tội vẫn phải bồi thường theo luật Dân sự nhưng không được tính để xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội Người phạm tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thực hiện hành vi là do vô ý (vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả)

Qua nghiên cứu số liệu thống kê cho thấy từ năm 2011 đến năm 2015 thí các

vụ án mà Tòa án hai cấp tỉnh Ninh Bình đã xét xử chủ yếu được điều tra truy tố và xét xử ở khung cấu thành cơ bản là 145 vụ/165 bị cáo Đa số các vụ án đều áp dụng đúng các quy định của pháp luật để xét xử các bị cáo Tuy nhiên cũng có vụ án mà thực tiễn xét xử cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn khi vận dụng

tình tiết “Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác”

(Điểm b khoản 1 Điều 202 BLHS) Đó là vì trong thực tiễn, có người uống nhiều rượu cũng chưa say, tuy nhiên có người uống một chén cũng say Do chưa có cách

hiểu thống nhất về “tình trạng say” là như thế nào, cũng như chỉ có thể dựa trên kết

luận giám định về nồng độ cồn trong máu, trong hơi thở mới được dùng làm chứng

cứ kết tội bị cáo theo điểm b, khoản 2 Điều 202 của BLHS khi bị cáo có hành vi vi

Trang 39

34

phạm quy định tại khoản 1 Điều 202 của BLHS Tòa án không được dùng những chứng cứ khác như lời khai của người làm chứng, người bị hại để thay thế cho kết luận giám định Điều này dễ dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc định tội danh không đúng khung hình phạt hoặc quyết định mức phạt không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội

Ví dụ: Khoảng 21 giờ ngày 28 tháng 4 năm 2012, Vũ Văn Tài uống rượu tại nhà bạn đã điều khiển xe môtô theo hướng Kim Sơn đi thành phố Ninh Bình chở theo Nguyễn Thị Phương khi đi đến ngã ba Thông tuy không đủ điều kiện sang đường nhưng Tài vẫn điều khiển xe chuyển hướng sang đường thì đâm vào xe ô tô

do anh Nguyễn Văn Chất điều khiển Hậu quả Nguyễn Thị Phương chết tại chỗ còn

Vũ Văn Tài bị thương nhẹ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 43/2012/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2012 Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh đã xét xử bị cáo Vũ Văn Tài theo khoản 1 Điều 202 của BLHS bởi trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án thì lời khai của những người làm chứng đều khai bị cáo Vũ Văn Tài đã uống rượu trước khi tham gia giao thông nhưng quá trình giải quyết ban đầu, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Yên Khánh đã không lấy mẫu máu giám định và không xác định được nồng độ cồn nên không có cơ sở để kết luận Vũ Văn Tài có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hay không để truy tố theo điểm b, khoản 2 Điều 202 của BLHS

mà chỉ có thể tuyên bị cáo Vũ Văn Tài phạm tội theo khoản 1 Điều 202 của BLHS Điều này là không đúng với sự thật khách quan của vụ án và từ đó dẫn đến việc quyết định hình phạt đối với bị cáo là không chính xác, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội [trích Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2012/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2012 của TAND huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình]

2.2.3 Định tội danh theo cấu thành tội phạm tăng nặng khoản 2 Điều 202 BLHS

- Đối với dạng hành vi thuộc khoản 2 Điều 202 của BLHS, người phạm tội

sẽ bị phạt tù từ ba năm đến mười năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

Trang 40

35

+ Điểm a, khoản 2, Điều 202 của BLHS: “Không có giấy phép lái xe hoặc bằng lái xe theo quy định

Điều 59 của Luật giao thông đường bộ 2008 quy định về giấy phép lái xe:

“1 Căn cứ vào kiểu loại, công suất động cơ, tải trọng và công dụng của xe

cơ giới, giấy phép lái xe được phân thành giấy phép lái xe không thời hạn và giấy phép lái xe có thời hạn

2 Giấy phép lái xe không thời hạn bao gồm các hạng sau đây: a) Hạng A1 cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 đến dưới 175 cm3; b) Hạng A2 cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh

từ 175 cm3 trở lên và các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1;

c) Hạng A3 cấp cho người lái xe mô tô ba bánh, các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1 và các xe tương tự

3 Người khuyết tật điều khiển xe mô tô ba bánh dùng cho người khuyết tật được cấp giấy phép lái xe hạng A1

4 Giấy phép lái xe có thời hạn gồm các hạng sau đây:

a) Hạng A4 cấp cho người lái máy kéo có trọng tải đến 1.000 kg;

b) Hạng B1 cấp cho người không hành nghề lái xe điều khiển xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg;

c) Hạng B2 cấp cho người hành nghề lái xe điều khiển xe ô tô chở người đến

9 chỗ ngồi; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg;

d) Hạng C cấp cho người lái xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải từ 3.500 kg trở lên và các loại xe quy định cho các giấy phép lái xe hạng B1, B2;

đ) Hạng D cấp cho người lái xe ô tô chở người từ 10 đến 30 chỗ ngồi và các loại xe quy định cho các giấy phép lái xe hạng B1, B2, C;

e) Hạng E cấp cho người lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi và các loại

xe quy định cho các giấy phép lái xe hạng B1, B2, C, D;

g) Giấy phép lái xe hạng FB2, FD, FE cấp cho người lái xe đã có giấy phép lái xe hạng B2, D, E để lái các loại xe quy định cho các giấy phép lái xe hạng này khi kéo rơ moóc hoặc xe ô tô chở khách nối toa; hạng FC cấp cho người lái xe đã

Ngày đăng: 18/10/2016, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Lê Cảm, Định tội danh một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Tạp chí Tòa án nhân dân số 4 năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh một số vấn đề lý luận và thực tiễn
9. Nguyễn Đắc Dũng (2011), Luận văn thạc sỹ luật học “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đắc Dũng
Năm: 2011
11. Nguyễn Ngọc Hòa (2015), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Tƣ pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và cấu thành tội phạm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2015
12. Huỳnh Quốc Hùng, Một số vấn đề về định tội và khung tăng nặng trong các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thong đường bộ. Tạp chí Toà án nhân dân số 16, tháng 8 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về định tội và khung tăng nặng trong các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thong đường bộ
13. Trần Minh Hưởng (2002), Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính
Tác giả: Trần Minh Hưởng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2002
14. Lê Văn Luật, Xác định lỗi khi định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng. Tạp chí Tòa án nhân dân số 01, tháng 1(2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định lỗi khi định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng
15. Nguyễn Đức Mai (2009), Một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết các vụ án về trật tự an toàn giao thông đường bộ, Tạp chí Tòa án nhân dân số 22, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết các vụ án về trật tự an toàn giao thông đường bộ
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Năm: 2009
16. Dương Tuyết Miên (2003),luận văn tiến sỹ “Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: 16. Dương Tuyết Miên (2003),luận văn tiến sỹ “Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Dương Tuyết Miên
Năm: 2003
17. Đỗ Ngọc Quang (2001- tái bản năm 2003 và 2007), Giáo trình luật hình sự Việt Nam. Do GS.TS Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
18. Đinh Văn Quế (1999), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Các tội xâm phạm các quy định về an toàn giao thông, Tập VII, Nxb thành phố Hà Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Các tội xâm phạm các quy định về an toàn giao thông
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb thành phố Hà Chí Minh
Năm: 1999
26. Trần Hữu Tráng, Tạp chí Tòa án số 16, tháng 8 năm 2012 “Cần hình sự hóa hành vi đã uống rượu, bia hoặc các chất kích thích khác mà vẫn điều khiển phương tiện giao thông để phòng ngừa tai nạn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần hình sự hóa hành vi đã uống rượu, bia hoặc các chất kích thích khác mà vẫn điều khiển phương tiện giao thông để phòng ngừa tai nạn
1. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tƣ pháp trong thời gian tới, Hà Nội Khác
2. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020, Hà Nội Khác
3. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam(2011), Văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2011, Hà Nội Khác
4. Bộ giao thông vận tải (2009), Thông tƣ số 13 ngày 17/7/2009 quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, Hà Nội Khác
5. Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – Bộ Tƣ pháp – Tòa án nhân dân Tối cao – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (2013), Thông tƣ liên tịch số 09 ngày 28/8/2013 hướng dẫn áp dụng một số quy định về Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông, Hà Nội Khác
6. Chính phủ (1955) Thông tư số 442/TTG ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc trừng trị một số tội phạm: Tập hệ thống hóa Luật lệ về Hình sự 1975, Hà Nội Khác
7. Chính phủ (1955) Thông tƣ 556/TTG ngày 29/6 bổ khuyết Thông tƣ số 442/TTG ngày 19/01/1955 về trừng trị một số tội phạm: Tập hệ thống hóa Luật lệ về Hình sự 1975, Hà Nội Khác
10. Nguyễn Ngọc Hòa (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam(Tập II), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010 Khác
19. Quốc hội (1985), Bộ luật Hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương  tiện giao thông đường bộ với tội giết người - Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh ninh bình
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với tội giết người (Trang 20)
Hình sự - Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh ninh bình
Hình s ự (Trang 21)
Hình sự - Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh ninh bình
Hình s ự (Trang 22)
Hình sự - Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh ninh bình
Hình s ự (Trang 24)
Bảng 2.1: Số liệu, tỷ lệ tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện  giao thông đường bộ với tội phạm nói chung từ năm 2011-2015 - Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh ninh bình
Bảng 2.1 Số liệu, tỷ lệ tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với tội phạm nói chung từ năm 2011-2015 (Trang 34)
Bảng 2.2: Tổng số vụ án, bị cáo phạm tội vi phạm quy định về điều khiển  phương  tiện  giao  thông  đường  bộ  đã  xét  xử  có  kháng  cáo,  kháng  nghị  từ  năm - Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh ninh bình
Bảng 2.2 Tổng số vụ án, bị cáo phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đã xét xử có kháng cáo, kháng nghị từ năm (Trang 34)
Bảng 2.3: Tổng số vụ án bị xét xử phúc thẩm và số vụ án bị xét xử phúc  thẩm về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh ninh bình
Bảng 2.3 Tổng số vụ án bị xét xử phúc thẩm và số vụ án bị xét xử phúc thẩm về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Trang 35)
Bảng 3.1: Cơ cấu loại hình phạt số bị cáo bị xét xử về tội vi phạm quy  định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh ninh bình
Bảng 3.1 Cơ cấu loại hình phạt số bị cáo bị xét xử về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w