1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế

77 998 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 777,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đề Bệnh lở mồm long móng LMLM là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan rất nhanh, rất mạnh gây thiệt hại nặng nề đối với động vật dễ nhiễm thuộc loài móng guốc chẵn như: Trâu,

Trang 1

LÊ NGỌC BẢO

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, XÁC ĐỊNH TYPE VI RÚT GÂY BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG Ở TRÂU, BÒ TẠI 3 HUYỆN THỌ XUÂN, THƯỜNG XUÂN, LANG CHÁNH TỈNH THANH HÓA VÀ BIỆN PHÁP KHỐNG CHẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN – 2015

Trang 2

LÊ NGỌC BẢO

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, XÁC ĐỊNH TYPE VI RÚT GÂY BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG Ở TRÂU, BÒ TẠI 3 HUYỆN THỌ XUÂN, THƯỜNG XUÂN, LANG CHÁNH TỈNH THANH HÓA VÀ BIỆN PHÁP KHỐNG CHẾ

Ngành: Thú y

Mã số: 60 64 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐẶNG XUÂN BÌNH

THÁI NGUYÊN – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung

thực, lần đầu tiên được triển khai nghiên cứu đồng thời tại 3 huyện Thọ Xuân,

Thường Xuân, Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa và chưa hề được sử dụng để bảo vệ

một học vị nào

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ

nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Ngọc Bảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, quý

báu của nhiều cá nhân và tập thể tạo điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Trước hết tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giảng viên hướng dẫn

khoa học PGS TS Đặng Xuân Bình người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi

trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý của các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi

Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi

thực hiện đề tài

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Chẩn đoán Thú y

Vùng 3 (Vinh), Cục thú y Trung ương, Ban lãnh đạo Chi cục Thú y tỉnh Thanh Hóa,

Ban lãnh đạo Trạm thú y huyện Thọ Xuân, Thường Xuân và Lang Chánh đã tạo

điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn gia đình và những người thân, các cán bộ, đồng nghiệp luôn

luôn động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Ngọc Bảo

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

Chương 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Lịch sử bệnh 4

1.1.1 Bệnh LMLM trên thế giới 6

1.1.2 Bệnh LMLM ở Việt Nam 11

1.2 Vi rút LMLM 17

1.2.1 Hình thái và cấu trúc 18

1.2.2 Đặc tính di truyền, cấu trúc gen, kháng nguyên 18

1.2.3 Đặc tính kháng nguyên 20

1.3 Đặc điểm dịch tễ học vủa vi rút LMLM 21

1.3.1 Nguồn dịch 21

1.3.2 Động vật cảm thụ 22

1.3.3 Đường xâm nhập 22

1.3.4 Cơ chế sinh bệnh 23

1.3.5 Chất chứa vi rút 24

1.3.6 Con đường và phương thức truyền lây 25

1.3.7 Lứa tuổi mắc bệnh 26

1.3.8 Tỷ lệ ốm và chết 26

1.4 Đáp ứng miễn dịch trong bệnh LMLM 26

1.5 Triệu chứng và bệnh tích ở trâu, bò mắc bệnh 28

1.5.1 Triệu chứng 28

1.5.2 Bệnh tích 29

1.6 Chẩn đoán 30

1.6.1 Chẩn đoán lâm sàng 30

1.6.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm 31

Trang 6

1.7 Phòng bệnh LMLM 34

1.7.1 Vệ sinh phòng dịch 34

1.7.2 Vắc xin phòng bệnh 35

Chương 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 38

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 38

2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 38

2.2 Nội dung nghiên cứu 38

2.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh LMLM tại huyên Thọ Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2012 – 2014 38

2.2.2 Xác định sự lưu hành type vi rút LMLM gây bệnh tại huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa năm 2014 38

2.2.3 Xác định hiệu giá kháng thể ở trâu, bò và tình hình tiêm phòng LMLM tại 3 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân và Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa 38

2.2.4 Nguyên nhân và đề xuất biện pháp khống chế bệnh LMLM ở gia súc (trâu, bò, lợn) 38

2.3 Vật liệu nghiên cứu 38

2.3.1 Mẫu bệnh phẩm 38

2.3.2 Tài liệu, số liệu 39

2.3.3 Sinh phẩm và Kit xét nghiệm 39

2.3.4 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 39

2.4 Phương pháp nghiên cứu 40

2.4.1 Phương pháp lấy mẫu máu 40

2.4.2 Phương pháp lấy mẫu biểu mô 40

2.4.3 Phương pháp 3ABC - ELISA phát hiện kháng thể nhiễm tự nhiên 40

2.4.4 Thiết kế thí nghiệm xác định tình hình nhiễm vi rút tự nhiên 41

2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 42

Chương 3 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh LMLM tại huyên Thọ Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2012 – 2014 43

Trang 7

3.1.1 Tình hình dịch LMLM xảy ra tại 3 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, Lang

Chánh tỉnh Thanh Hóa năm 2014 43

Đã tiến hành điều tra tình hình bệnh LMLM xảy ra ở trâu, bò tại 3 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh trong năm 2014 Kết quả thu được trình bày tại bảng 3.1 43

3.1.2 Tình hình bệnh LMLM xảy ra ở bò phân bố theo địa điểm tại huyện Lang Chánh năm 2014 44

3.1.3 Tình hình bệnh LMLM xảy ra ở bò phân bố theo thời gian tại huyện Lang Chánh năm 2014 45

3.1.4 Tình hình bệnh LMLM xảy ra ở bò huyện Lang Chánh theo tính biệt 47

3.1.5 Đặc điểm bệnh LMLM theo tuổi ở bò nuôi tại huyện Lang Chánh năm 2014 48

3.1.6 Triệu chứng lâm sàng, bệnh tích bệnh LMLM năm 2014 ở bò nuôi tại huyện Lang Chánh 49

3.2 Xác định sự lưu hành type vi rút LMLM gây bệnh tại huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa năm 2014 50

3.2.1 Xác định sự lưu hành của vi rút LMLM tại 3 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa bằng phản ứng 3ABC-ELISA 51

3.2.2 Tình hình tiêm phòng vắc xin LMLM cho đàn gia súc trên địa bàn 3 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân và Lang Chánh năm 2015 52

3.3 Xác định hiệu giá kháng thể ở trâu, bò tại 3 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân và Lang Chánh tỷ lệ tiêm phòng vắc xin LMLM 54

3.4 Nguyên nhân và đề xuất biện pháp khống chế bệnh LMLM ở gia súc (trâu, bò, lợn) 57

3.4.1 Nguyên nhân 57

3.4.2 Đề xuất biện pháp khống chế dịch LMLM 58

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60

1 Kết luận 60

2 Đề nghị 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 1.1: Tình hình bệnh LMLM ở gia súc Việt Nam từ năm 2012 – 2014 trên

phạm vi cả nước 16 Bảng 1.2: Tổng hợp tình hình bệnh LMLM tại các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả

nước trong năm 2014 17 Bảng 3.1: Kết quả điều tra tình hình bệnh LMLM ở các xã của 3 huyện Thọ Xuân,

Thường Xuân, Lang Chánh năm 2014 43 Bảng 3.2: Kết quả điều tra tình hình bệnh LMLM xảy ra ở bò theo địa điểm tại

huyện Lang Chánh năm 2014 45 Bảng 3.3: Kết quả điều tra tình hình bệnh LMLM xảy ra ở bò phân bố theo thời

gian tại huyện Lang Chánh năm 2014 46 Bảng 3.4: Kết quả điều tra tình hình bệnh LMLM theo tính biệt ở bò tại huyện Lang

Chánh, tỉnh Thanh Hóa 47 Bảng 3.5: Kết quả điều tra bệnh LMLM theo tuổi ở bò mắc bệnh tại huyện Lang

Chánh năm 2014 48 Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra triệu chứng lâm sàng, bệnh tích LMLM xảy ra ở bò nuôi

tại huyện Lang Chánh 49 Bảng 3.7: Kết quả xác định type vi rút LMLM gây bệnh ở bò nuôi tại huyện Lang

Chánh năm 2014 50 Bảng 3.8: Tỷ lệ dương tính huyết thanh học 3ABC ở trâu, bò tại 3 huyện Thọ Xuân,

Thường Xuân, Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa năm 2014 51 Bảng 3.9: Tổng hợp kết quả tiêm phòng vắc xin LMLM cho đàn trâu, bò, lợn trên

địa bàn tỉnh Thanh Hóa năm 2015 52 Bảng 3.10: Kết quả tiêm phòng vắc xin LMLM cho đàn trâu, bò, lợn trên địa bàn 3

huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh năm 2015 53 Bảng 3.11: Kết quả khảo sát hiệu giá kháng thể ở trâu, bò tại 3 huyện Thọ Xuân,

Thường Xuân và Lang Chánh sau tiêm phòng vắc xin LMLM lần 1 55 Bảng 3.12: Kết quả khảo sát hiệu giá kháng thể ở trâu, bò tại 3 huyện Thọ Xuân,

Thường Xuân và Lang Chánh sau tiêm phòng vắc xin LMLM lần 2 56

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AND: Acid Deoxyribonucleic

ARN: Acid ribonucleic

ELISA: Enzyme Linked Immunosorbent Assay FMD: Foot and Mouth Disease

LMLM: Lở mồm long móng

LPB: Liquid Phase Blocking

OIE: Tổ chức Thú y Thế giới

PBS: phosphate Buffered Saline

PCR: Polymerase Chain Reaction

RT: Reverse Transciption

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1.1 Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009 (Nguồn: Báo cáo tổng

kết năm - Cục Thú y giai đoạn 2010 – 2014) [3] 10 Hình 1.2 Cấu trúc virion vi rút LMLM (Grubman, M J & Baxt, B, 2004) [38] 17 Hình 1.3 Sơ đồ hệ gen của vi rút LMLM (Grubman, M J & Baxt, B, 2004) [38] 19

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Bệnh lở mồm long móng (LMLM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan rất nhanh, rất mạnh gây thiệt hại nặng nề đối với động vật dễ nhiễm thuộc loài móng guốc chẵn như: Trâu, bò, dê, lợn… Bệnh đã được tổ chức Dịch tễ thế giới (OIE) xếp đầu bảng A (bảng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của động vật) và bắt buộc các nước thành viên phải khai báo

Bệnh do vi rút LMLM thuộc họ Picornaviridae, giống Aphthovirus gây ra,

có 2 đặc tính đặc biệt liên quan đến dịch tễ học, đó là tính đa type và tính dễ biến đổi kháng nguyên Các type vi rút tuy gây ra các triệu chứng giống nhau, nhưng lại không gây miễn dịch chéo với nhau Bệnh LMLM là một bệnh của xã hội, bởi vì nó ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng nhiều hơn là riêng lẻ từng hộ chăn nuôi Bệnh có thể lây lan trong phạm vi một nước hoặc nhiều nước và trở thành đại dịch

Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế thị trường đã thúc đẩy quá trình giao lưu, buôn bán động vật và sản phẩm động vật giữa các tỉnh trong nước và với nước ngoài như Trung Quốc, Lào, Campuchia… từ đó bệnh LMLM ở trâu, bò càng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội ở nước ta

Trên thực tế, việc khống chế và thanh toán bệnh LMLM đã gặp không ít khó khăn, từ việc kiểm dịch vận chuyển cho đến chăn nuôi thiếu quy hoạch, trâu bò thả rông… Tiêm phòng vắc xin được xác định là giải pháp quan trọng, tuy nhiên việc chọn vắc xin phù hợp cho từng vùng, từng tỉnh đòi hỏi cần phải nghiên cứu kỹ type

vi rút gây bệnh trên thực địa để tránh trường hợp tiêm phòng loại vắc xin không phù hợp, gây lãng phí và thiệt hại cho người chăn nuôi

Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 11.106,09 km2, nằm ở phía Bắc Trung Bộ Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km

Phía Bắc Thanh Hoá giáp với ba tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào); phía Đông là vịnh Bắc Bộ với chiều dài bờ biển 102 km

Trang 12

Thanh Hoá nằm ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam Bộ, một vị trí rất thuận lợi Đường sắt và quốc lộ 1A, quốc lộ 10 chạy qua vùng đồng bằng và ven biển, đường chiến lược 15A, đường Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng trung du và miền núi Thanh Hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho Thanh Hoá trong việc giao lưu với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước Đường 217 nối liền Thanh Hoá với tỉnh Hủa Phăn của nước Lào Hệ thống sông ngòi của Thanh Hoá phân bố khá đều với 4 hệ thống sông đổ ra biển với 5 cửa lạch chính Hiện nay, cảng biển Nghi Sơn cho phép tàu trọng tải trên 10 nghìn tấn ra vào dễ dàng (trong tương lai gần cho phép tàu 3 vạn tấn ra vào), là cửa ngõ của Thanh Hoá trong giao lưu quốc tế., đây cũng chính là điều kiện thuận lợi cho bệnh LMLM bùng phát và lây lan nhanh

Hàng năm dịch LMLM gia súc vẫn tái phát triển trên địa bàn tỉnh làm hàng ngàn con gia súc mắc bệnh, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành chăn nuôi của tỉnh, đặc biệt là chăn nuôi trâu, bò

Từ đầu năm 2013 đến nay, dịch lở mồm long móng đã xảy ra ở 45 xã thuộc

18 huyện của 9 tỉnh thành trong nước, làm nhiều gia súc mắc bệnh và tiêu hủy

Hiện nay, dịch lở mồm long móng đã tái phát trở lại tại một số xã, huyện thuộc địa bàn các tỉnh Thanh Hóa, Hà Tỉnh, Quảng Trị và đang có chiều hướng lây lan ra diện rộng Trước tình hình trên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có Công điện số 15/CĐ-BNN-TY ngày 24 tháng 10 năm 2013 về tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh LMLM gia súc

Trong đợt dịch 2013, đã phát hiện gia súc bị bệnh lở mồm long móng typ A tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Trị và Quảng Nam Trước đó, năm 2007 đã phát hiện vi rút lở mồm long móng type Asia1 tại tỉnh Quảng Trị Như vậy, hiện nay đã tìm thấy

có 3 type vi rút lở mồm long móng đang lưu hành tại Việt Nam đó là: typ O, A, Asia1 trong đó type O là typ gây bệnh chủ yếu, bao gồm typ O Panasia gây bệnh ở các tỉnh Nam bộ, type O Myanmar 98 đang lưu hành ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung, Tây Nguyên

Xuất phát từ tính cấp thiết của thực tiễn, chúng tôi đã triển khai đề tài:

“Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa và biện pháp khống chế”

Trang 13

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh LMLM ở 3 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân và Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa

- Nghiên cứu sự lưu hành của type vi rút LMLM tại 3 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh và khảo sát đáp ứng miễn dịch ở trâu, bò sau khi tiêm vắc xin LMLM làm cơ sở đề xuất sử dụng vắc xin phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống bệnh LMLM cho gia súc tại địa phương

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Cung cấp tư liệu về đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh LMLM trên đàn trâu, bò tại 3 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa

- Các kết quả điều tra, nghiên cứu tại 3 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh góp phần bổ sung thông tin về dịch tễ học bệnh LMLM ở trâu, bò tại Việt Nam

- Kết quả xác định sự phân bố của các type vi rút LMLM gây bệnh trên trâu,

bò tại 3 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh là cơ sở khoa học, giúp các

cơ quan chức năng lựa chọn loại vắc xin LMLM phù hợp Từ đó có biện pháp quản

lý, chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh hiệu quả

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lịch sử bệnh

Bệnh LMLM được gọi bằng những tên tiếng Anh: Foot and mouth disease (FMD), La fièvre aphteuse (FA, Pháp), Afta epizootic (Ý), Maul und Klauenseuche (MKS, Đức), Fiebre aphtosa, glosso peda (Tây Ban Nha), Khẩu đề dịch (Trung Quốc), Lở mồm long móng (Việt Nam)

Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) do vi rút thuộc họ Piconarviridae gây nên là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm Bệnh có đặc điểm sốt, nổi mụn nước

ở niêm mạc miệng, da, gờ móng, kẽ móng và trên đầu vú, bầu vú của con cái của tất

cả các loài thú guốc chẵn (cả gia súc và động vật hoang dã) [13], [23]

Bệnh có tính chất dịch lớn, lây lan rất nhanh và rất mạnh, có thể xảy ra trên dịch rộng ở nhiều vùng trong một nước hay nhiều nước Tỷ lệ gia súc mắc bệnh rất cao, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế mặc dù tỷ lệ chết ở gia súc trưởng thành thấp Bệnh LMLM được Tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) xếp vào danh mục bệnh của nhiều loài, nằm trong danh mục những bệnh phải công bố dịch đối với tất cả các quốc gia

Mô tả đầu tiên về bệnh LMLM và tài liệu còn lưu lại đến nay là công trình của tác giả người Ý tên là Francastorius vào năm 1514 Bệnh đã gây ra những tổn thất lớn về kinh tế trên thế giới, nhưng đến giữa thế kỷ 19 người ta mới xác định được tính chất truyền nhiễm của bệnh

Từ lúc xuất hiện bệnh đến năm 1897, các tài liệu ghi chép lại chủ yếu quan tâm đến mô tả triệu chứng (Merial Ltd Pibright, 2003) [20] Những nghiên cứu về

vi rút học và dịch tễ học khởi đầu từ năm 1897, được quan tâm và phát triển trong giai đoạn tiếp theo; năm 1897, Loeffler và Frosch đã phân lập được vi rút gây bệnh ; năm 1920 Waldmann và Pape đã chứng minh được tính cảm thụ của chuột lang đối với vi rút ; năm 1922, Valleé và Carré tìm thấy tính đa dạng của huyết thanh miễn dịch chống vi rút (type O và type A) ; năm 1926, Waldmann và Trauwein tìm ra vi rút type C (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [22]

Trang 15

Sau đó Lawrence khám phá ra các type SAT1, SAT2 và SAT3 từ những bệnh phẩm ở Châu Phi gửi đến viện Pirbright và type Asia1 từ những bệnh phẩm ở Đông Nam Á, Hồng Kông, Ấn Độ, Miến Điện (Merial Ltd Pibright, 2003) [20]

Từ đầu thế kỷ 20 trở đi, bệnh phát ra ở nhiều nơi trên Thế giới Ở Châu Mỹ, dịch LMLM xuất hiện ở Mỹ vào các năm 1902, 1908, 1914, 1924, 1929, 1932; ở Mexico năm 1946, Canada 1952 và nhiều nước ở Nam Mỹ như Argentina năm

1953 Bệnh cũng xuất hiện ở Venezuela năm 1950, Colombia năm 1950-1951 rồi sang Ecuador năm 1956 Ở Châu Phi, bệnh thường xẩy ra ở Bắc Phi, Nam Phi C (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [22] Ở Châu Âu, có luồng dịch phát sinh từ Tây Đức lan sang Hà lan, Bỉ, Lucxemburg, Pháp, Anh, Ý, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy

và Ba Lan vào năm 1951; Bệnh kéo dài đến năm 1953, 1954 C (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [22]

Ở Châu Á, bệnh phát ra ở Ấn Độ năm 1929, 1952…, Myanmar năm 1948, Thái Lan năm 1952, Trung Quốc năm 1951, Campuchia năm (1931, 1946, 1952) Bệnh LMLM ở Châu Á không dữ dội như ở Tây Âu nhưng ảnh hưởng đến kinh tế các nước Cận Đông, Trung Đông, Nam Á và Viễn Đông (Trịnh Văn Thịnh & Phan Đình Đỗ, 1958) [25]

Từ năm 1926 đến năm 1936, giai đoạn tập trung nghiên cứu về vắc xin và chương trình quốc tế về phòng chống dịch được hình thành Trong 3 năm (1937 - 1939) người ta thống kê được có 2 triệu ổ dịch trên khắp các châu lục và cũng chính trong hoàn cảnh này, Waldmann và Kobe đã nghiên cứu chế tạo Vắc xin vô hoạt bằng Formol hấp phụ bởi AL2(OH)3 để tiêm phòng cho gia súc Có thể coi đây là một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc khống chế bệnh LMLM trên phạm vi toàn cầu Năm 1947, Frenkel đã cho ra đời loại vắc xin cải tiến, nuôi cấy trên tế bào thượng bì của lưỡi bò, gọi là vắc xin Frenkel Loại vắc xin này nhanh chóng được

sử dụng tại Hà Lan, Pháp và Đức Sau đó nhiều phương pháp nghiên cứu nuôi cấy

vi rút đã được tìm ra giúp cho việc cải tiến kỹ thuật chế vắc xin (Đào Trọng Đạt, 2000) [14]

Các viện nghiên cứu lần lượt ra đời trên khắp các lục địa như Alfort (Pháp, 1901), Ile de Riems (Đức, 1909), Pirbright (Anh, 1924), Viện nghiên cứu về bệnh

Trang 16

LMLM ở Lyon (Pháp, 1947), Laboratoire de Plum (Hoa Kỳ), Sao Paolo (Brazin), Nong Sarai (Thái Lan) Vào năm 1958, Pirbright trở thành phòng thí nghiệm tham chiếu thế giới về bệnh LMLM (OIE, 2005) [43]

Trong những năm gần đây, kỹ thuật chẩn đoán được cải tiến đã giúp cho việc xác định bệnh được nhanh chóng Vắc xin được sản xuất với chất lượng cao và cùng với chiến lược khống chế bệnh hiệu quả, nhiều nước đã khống chế hoặc thanh toán bệnh thành công Hiện có 59 nước trên thế giới được tổ chức Thú y thế giới (OIE: Office International Epizooties) công nhận là nước an toàn dịch bệnh LMLM (OIE, 2005) [43]

1.1.1 Bệnh LMLM trên thế giới

Theo Cục thú y (Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp nhà nước về bệnh LMLM, 2004) [4]: Tình hình LMLM trong những năm 60 của Thế kỷ 20 rất trầm trọng, trung bình mỗi năm có 4.000 ổ dịch Đến những năm 70, bệnh có xu thế giảm ở Châu Âu, Châu Mỹ nhưng vẫn phổ biến ở Châu Phi (Mauritania, Senegal, Liberia, Tanzannia, Nigeria…) và Châu Á (Indonesia, Malaisia, Thái Lan…)

Vào những năm 80, dịch LMLM có mặt ở nhiều châu lục Trong 5 năm (1981 - 1985), dịch đã xuất hiện ở khắp 80 nước Ở Châu Âu có 804 ổ dịch tại 12 quốc gia do vi rút thuộc các type O, A và C gây ra Năm 1985, dịch LMLM do vi rút thuộc type Asia 1 xảy ra ở Hy Lạp (Donaldson, A I Global, 2000)[36] Cùng thời gian này, ở Châu Á dịch đã có mặt tại 11 nước và hầu hết các ổ dịch cũng do vi rút type Asia 1 Ở Châu Phi, dịch LMLM gây thiệt hại ở nhiều nước, đặc biệt là Kenia và Ethiopia (1984 - 1985) Vi rút type C là căn bệnh chính của những ổ dịch

ở 2 nước này Tại các nước còn lại của châu lục này, bệnh LMLM đều do vi rút thuộc 3 type SAT gây ra (Lê Minh Chí, 1996)[6]

Năm 1989, theo thông báo của OIE, dịch LMLM đã xảy ra ở 53 nước ở khắp các châu lục: Á, Âu, Phi và Nam Mỹ Cho đến nay, một số quốc gia đã đạt được thành quả tốt trong việc khống chế và thanh toán bệnh, như các nước thuộc khối cộng đồng Châu Âu, Bắc Mỹ, Argentina, Indonesia và gần đây là Cộng hòa Séc Tuy nhiên dịch LMLM vẫn là nguy cơ của nhiều Quốc gia, uy hiếp nghiêm trọng nền chăn nuôi và thương mại quốc tế (Lê Minh Chí, 1996)[6]

Trang 17

Những năm 1990, ở Châu Âu, các nước báo dịch gồm Italia, Bulgari, Nga và

Hy Lạp Năm 1993 có 55 ổ dịch xảy ra ở Italia, ổ dịch đơn lẻ xảy ra ở Bulgari, Nga Giữa năm 1994, một ổ dịch xảy ra ở Hy Lạp trên đảo Lesbos và Thrace gần biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ Năm 1996 có 2 ổ dịch ở Thổ nhĩ Kỳ và 1 ở Hy Lạp Năm

1997, chỉ có Georgia và Armenia là có bệnh Trong năm 1998 (Công ty Merial Ltd , 2003) [7], một chủng type A mới được phát hiện tại Iran năm 1996 đã lan đến Thổ Nhĩ Kỳ sát Istanbul, dịch kéo dài đến cuối năm 1998

Ở Châu Phi, vào thập niên 90, vi rút LMLM type O lưu hành rộng rãi ở Tây Phi, Gambia, Senegal, Uganda, Tanzania Malawi và Kenia Năm 1999 ổ dịch LMLM type O bắt nguồn từ Mali (Tây Phi) theo đường vận chuyển bò xuyên qua Sahara lan đến Algeria, Marocco và Tunisia Vi rút LMLM type SAT 2 lưu hành ở Uganda, Zambia và Kenia; SAT 1 được xác định ở Kenia (Kitching, R P & Alexandersen, S, 2002) [40]

Ở Châu Á, dịch LMLM do vi rút type O và Asia 1 xảy ra ở Pakistan và Myanmar; type O và A tại Nepal, Buhtan; type A ở Thái Lan Tại Malaysia không công bố dịch từ năm 1998 nhưng trong thực tế 2 type vi rút O và Asia 1 vẫn lưu hành tại bán đảo Malay này (không gửi bệnh phẩm đến WRL) Hai ổ dịch địa phương tại Đài loan và Philippines (đảo Luzon) đều do vi rút type O gây ra Tại Trung Quốc dịch xảy ra ở Vân Nam nhưng không có thông tin về type vi rút (Bùi Quang Anh & Hoàng Văn Năm, 2001) [1]

Ở Tây Á, chủng Iran 98 type A gây bệnh tại Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và lan đến Akmenia Vi rút type O đã gây dịch tại Lebanon, Kuwait, Iran, Iraq, Israel, Qatar, Bahrain, Yemen và Saudi Arabia; Karakstan và Kyrgyzstan (riêng Kazakhstan có

vi rút type A) Ở Nam Mỹ, tình hình khống chế dịch LMLM có nhiều thuận lợi, Paraguay được công nhận là nước an toàn dịch (có tiêm phòng) Argentina cũng được OIE công nhận là nước có vùng không bệnh LMLM không tiêm phòng (Reid,

S M, Forsyth et al, 1996) [46]

Trong năm 2009, 59 nước đã báo cáo có dịch LMLM Ở Châu Âu, dịch xảy

ra tại Hy Lạp; ở Châu Á dịch xảy ra ở Nga, Mongolia, Bangladesh, Campuchia, Trung Quốc, Nhật, Lào, Nepal, Pakistan, Philippin, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan,

Trang 18

Việt Nam, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Capscazơ vùng Georgia, Azerbaijan, Armenia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Turkmenistan và Tajikistan; ở Châu Phi, dịch xảy ra tại Ai Cập, Kenya, Mauritania, nam Phi, Tanzania, Uganda, Malawi, Namibia, Zambia và Zimbabwe và các nước Nam Mỹ gồm Brazil, Colombia, Uruguay, Bolivia, Peru, Ecuador và Venezuela Đại dịch 2000 do vi rút type O Vi rút serotype O/TAW/99 gây bệnh ở Đài Loan (18/02/2000 trên dê); Nhật Bản (8/03/2000 trên bò); Hàn Quốc (20/03/2000 trên bò); Liên Bang Nga (10/04/2000 trên lợn); ở Mông Cổ (14/04/2000 bò, dê, cừu, lạc đà); ở Hy Lạp và ở Zambia (02/03/2000)

Năm 2001, dịch LMLM do type O tái bùng phát khắp Châu Âu (Anh, Hà Lan, Pháp và Ireland), Nam Mỹ (Uruguay, Brazil và Colombia); ở Châu Á (Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Afghanistan, Georgia, Azerbaijan, Mông Cổ, Kuwait, Bahrain, Yemen, Qatar, Ả Rập, Oman, Iran, Butan, Nepal, Malaysia, Philippin, Thái Lan và Đài Loan)

Tính đến cuối tháng 4/2001 Chính Phủ Anh đã phải chi phí cho việc tiêu hủy gia súc bệnh, dập dịch tổng thiệt hại do dịch gây ra lên đến trên 14 tỷ đô la

Mỹ Sau đó, dịch xảy ra ở một loạt các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á Tính đến tháng 7/2001 có trên 20 nước xảy ra dịch LMLM Nguyễn Quang Hưng, 2011) [15]

Năm 2004, không có ổ dịch LMLM nào được báo cáo chính thức trong các nước được OIE công nhận là không có bệnh (không tiêm phòng) Tuy nhiên dịch lẻ

tẻ tại vùng giám sát quanh vùng an toàn dịch (Nam Phi) và những vùng gần đây không xảy ra bệnh (Nga, Mông Cổ, Peru, Brazil và Colombia) Dịch bệnh cũng xảy

ra tại các nước Trung Đông, châu Á, châu Phi và Nam Mỹ, nơi bệnh LMLM đã từng xảy ra Có 48 nước báo cáo dịch LMLM trong năm 2004 với các type vi rút gây bệnh khác nhau theo vùng địa lý

Từ năm 2000 - 2004 có 23 nước ở châu Á và châu Phi gửi mẫu đến WRL Kết quả type O vẫn là type phổ biến nhất; các type A, SAT 1 và SAT 2 có trình tự nucleotide (di truyền) biến đổi nhiều so với các chủng trước đây cùng serotype

Tại Đông Nam Á và vùng Viễn Đông, dịch bệnh do vi rút type O được ghi nhận ở Hồng Kông và tất cả các quốc gia thành viên SEAFMD, ngoại trừ Indonesia

Trang 19

là nước không có bệnh LMLM Type A được tìm thấy ở Malaysia, Thái Lan, Lào

và Việt Nam (2004) Các chủng vi rút type O phân lập được đều thuộc topotype ME

- SA và Cathay Các vi rút phân lập từ Hồng Kông và Philippines nằm trong topotype Cathay nhưng lại thuộc dòng phụ khác Vi rút nhận được từ Việt Nam thuộc topotype Cathay hoặc ME - SA (chủng Pan- Asia) Vi rút type A ở Việt Nam thuộc topotype Asia, có quan hệ rất gần với các chủng gây dịch bệnh ở Thái Lan năm 2003, 2004 (OIE Manual, 2000) [42]

Trong năm 2005 bệnh LMLM đã xảy ra ở Brazil (serotype O), Colombia (serotype A), ở Nga (serotype Asia 1); ở Trung Quốc (serotype Asia 1), Hồng Kông (serotype Asia 1), Mông Cổ (serotype Asia 1), ở Botswana (seroytpe SAT 2), Congo (SAT 1,2,3 và A) Sự xuất hiện gần đây của serotype Asia 1 ở Trung quốc, Hồng Kông, Mông Cổ, Myanmar, Nga, Tajikastan cùng với sự có mặt của serotype này ở Ấn Độ, Iran và Pakistan cho thấy rằng một chủng của Asia 1 có thể đang lây lan khắp châu Á Trong báo cáo của OIE năm 2005, không có dịch LMLM ở các nước trong vùng được coi là an toàn và không tiêm phòng vắc xin LMLM Cũng trong năm này FAO/WRLFMD đã nhận 266 mẫu bệnh phẩm LMLM từ 21 nước châu Âu, châu Á, châu Phi và kết quả phân lập và định type O vẫn chiếm tỷ lệ lưu hành cao nhất (OIE, 2005) [43]

Theo kết quả xét nghiệm của Phòng thí nghiệm giám định vi rút LMLM (Pirbright, UK) những năm gần đây, sự phân bố của các type và subtype vi rút LMLM trên thế giới vẫn như phân bố năm 2002 (hình 1.1)

- Châu Âu: Những ổ dịch do vi rút type O và A có subtype A Iran/96 ở Iran

Trang 20

Hình 1.1 Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009

(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm - Cục Thú y giai đoạn 2010 – 2014) [3]

- Nam Mỹ: phổ biến là type O,A và C Những ổ dịch do vi rút type O gây ra ở Bolivia, Brazil, Colombia và Ecuado, type A xảy ra ở Venezuela, Colombia và Peru

- Trung Đông: type O phổ biến nhất, tiếp theo là type A, Asia 1 và thỉnh thoảng có type C

- Châu Á: Các nước có dịch do type O gây ra là Bahrain, Bangladesh, Campuchia, Hồng Kông, Ấn Độ, Iran Bangladesh, Iraq, Israel, Jordan, Malaysia, Nepal, Philippines, Qatar, Syria, Saudi Arabia, Đài Loan, Arab, các tiểu vương quốc Ả rập, Lào, Việt Nam và Yemen Type A ở Bangladesh và Iran, type Asia 1 ở Iran và Malaysia, type C giới hạn ở tiểu lục địa Ấn Độ và Philippines

Theo kết quả phân tích gen vi rút gây bệnh ở phòng thí nghiệm giám định vi rút LMLM (IAH, Pirbright, UK), type O gây bệnh năm 2000 có cấu trúc gen khác với type

O gây bệnh ở Đài Loan năm 1997 và khác với một số ổ dịch xảy ra gần đây trên thế giới, được đặt tên là South Asia topotype, chúng gây bệnh cho trâu, bò và lợn, phân bố rất rộng từ Đài Loan ở phía Đông tới Hy Lạp ở phía Tây Năm 1999 có 14 tỉnh ở Trung Quốc bị dịch nặng đã ảnh hưởng lớn đến các nước láng giềng (Grubman, M J & Baxt, B, 2004) [38]

Trang 21

1.1.2 Bệnh LMLM ở Việt Nam

Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện đầu tiên vào năm 1898 tại Nha Trang và sau đó dịch đã xảy ra ở các tỉnh Trung và Nam Bộ (trong thời gian này bệnh cũng được phát hiện ở cả Lào, Campuchia và Thái Lan (Cục Thú y, 2011) [9]

Trong 2 năm 1921 - 1922, ở các tỉnh phía bắc có 690 ổ dịch xảy ra làm 13.018 con trâu, bò và lợn bị bệnh, trong đó có 446 con chết Ở Miền Đông Nam

Bộ, thể bệnh rất nhẹ và bệnh tích chủ yếu ở miệng Trịnh Văn Thịnh & Phan Đình

Năm 1948 - 1949, dịch xảy ra ở Lai Hòa - Thủ Đức - Thành Phố Hồ Chí Minh làm chết 3 trâu; ở Nam Bộ, Tây Nguyên có một ổ dịch Theo tổ chức Quốc tế

về bệnh truyền nhiễm họp tại Sài Gòn tháng 3 năm 1953, bệnh có xu hướng định vị tại Việt Nam và Campuchia

Năm 1952 - 1953, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bệnh liên tiếp nổ ra

ở Trung Bộ và lan ra Bắc Bộ Đến năm 1954, bệnh đã có mặt ở hầu khắp Bắc Bộ với tổng 179 ổ dịch Đến tháng 4 năm 1955 bệnh xảy ra ở Liên khu III rồi lan sang khu tả ngạn, Liên khu Việt Bắc, Liên khu IV, Thành phố Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng Trong khoảng háng 5 đến tháng 7 năm 1955 bệnh lan ra 11 tỉnh, 3 thành phố

và tạm ngưng vào cuối năm 1955

Năm 1960 dịch phát ra ở 9 xã thuộc huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An, sau đó không thấy xuất hiện lại qua nhiều năm ở các tỉnh phía Bắc (Đào Trọng Đạt, 2000) [14] Từ năm 1961 - 1991 không có dịch LMLM ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam

Trước năm 1969, cứ khoảng 2 đến 3 năm dịch LMLM tái phát 1 lần ở các tỉnh phía Nam Năm 1969 dịch phát nặng cho cả trâu, bò và lợn Dịch xuất phát từ Sài Gòn, Chợ Lớn rồi lan ra các tỉnh và 5 trại lợn công nghiệp ở Nam Bộ (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [22]

Trang 22

Từ năm 1975, tình hình dịch LMLM được ghi nhận đầy đủ hơn Năm 1975, dịch LMLM xảy ra liên tiếp ở 17 tỉnh phía Nam từ Quảng nam - Đà Nẵng trở vào các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Từ năm 1976 - 1983, theo số liệu của Cục Thú y, đã có 98 ổ dịch ở các tỉnh phía Nam làm 26.648 trâu, bò và 2.919 lợn bị bệnh Riêng trong năm 1983, các ổ dịch từ trâu, bò đã lan sang một trại lợn công nghiệp ở huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai làm hơn 2.200 con lợn bị mắc bệnh [9]

Trong những năm cuối thập kỷ 80, một số tỉnh phía Nam như An Giang, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Tháp thường xuyên bị dịch LMLM do lây lan từ Campuchia sang Năm 1989 riêng tỉnh Đồng Nai có 3 huyện là Long An, Long Thành và Mộc Xuyên bị dịch kéo dài từ tháng 5 đến giữa tháng 10 làm 3.514 trâu, bò bị bệnh [9]

Năm 1990, dịch cũng xuất hiện ở 4 huyện thuộc tỉnh Thuận Hải làm hơn 7.500 trâu, bò bị bệnh Dịch cũng xảy ra ở huyện Lộc Ninh tỉnh Sông Bé làm 100 trâu, bò bị ốm không cày kéo được (Cục Thú y, 2011) [9]

Năm 1992, dịch phát tại Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh và những năm sau

đó, bệnh có mặt ở cả 3 miền của đất nước

Năm 1993, dịch đã lan rộng ra trên địa bàn 122 xã của 18 huyện thuộc 8 tỉnh bao gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu với tổng 32.260 trâu, bò và 1.612 lợn bị bệnh

Năm 1995 là năm dịch phát ra nhiều tỉnh trong cả nước (107 huyện của 26 tỉnh thành với tổng 236.000 trâu, bò và 11.021 lợn bị bệnh, tác động đến hầu hết các tỉnh Nam Bộ đặc biệt là Đồng Bằng Sông Cửu Long Dịch phát ra đầu tiên tại thị xã

Sa Đéc của tỉnh Đồng Tháp (20/4/1995), chỉ trong một thời gian rất ngắn, bệnh dịch

đã lan rộng ra 10 huyện trong tổng số 11 huyện của tỉnh, làm cho 5.135 trâu, bò và lợn bị bệnh Theo đường buôn bán, vận chuyển lợn bệnh của các tư thương, dịch đã lan sang các huyện, thị trong tỉnh và sau đó lan sang các tỉnh lân cận như Vĩnh Long (24/4/1995), An Giang (28/4/1995), Cần Thơ (20/11/1994) rồi lan ra khắp các tỉnh Đồng bằng Sông Cứu Long đến Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng tàu

Trang 23

Ngay từ ổ dịch đầu tiên trên lợn tại Đồng Tháp, phòng thí nghiệm của Trung tâm Thú y vùng Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định được bệnh do vi rút type O gây ra Theo điều tra, nguyên nhân là do mua lợn giống từ Miền Bắc vào

Dịch LMLM đã xảy ra trên trâu, bò liên tục suốt thời gian từ 1975 – 2005 (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) [13]; trên lợn từ 1992 -2005 và gây thiệt hại nặng nề nhất vào các năm 1993, 1995, 1999, 2000 Ngoài type O lưu hành trong nhiều năm qua, type A cũng đã được phát hiện năm 2004 trên trâu, bò (Cục thú y, 2005) [8] và type Asia 1 trên trâu, bò và lợn năm 2005 ở Việt Nam (Nguyễn Viết Không và cs, 2006) [16]

Theo Cục Thú y (2005 [8], năm 1999 trong khi vẫn chưa chấm dứt các đợt dịch từ các tỉnh miền Trung và miền Nam thì ở Miền Bắc, đợt dịch mới từ Trung Quốc tràn sang tấn công hàng loạt các tỉnh giáp biên Cao Bằng là điểm dịch đầu tiên, từ đó dịch lan sang các tỉnh khác Tính đến ngày 10/3/2000 cả nước có 58/61 tỉnh, thành phố bị dịch với 297.808 trâu, bò và 36.530 lợn mắc bệnh (Cục thú y, 2011) [9]

Năm 2001, bệnh xảy ra ở 16 tỉnh thành với 3.976 trâu, bò mắc bệnh

Năm 2002 bệnh xảy ra ở 26 tỉnh thành với 10.287 trâu, bò mắc bệnh

Năm 2003, 38 tỉnh thành có dịch, trong đó có 28 tỉnh thành có dịch ở trâu, bò và

28 tỉnh thành có dịch ở lợn, với tổng số 20.303 trâu, bò; 1.178 dê và 3.533 lợn mắc bệnh, chủ yếu ở các tỉnh: Quảng Trị, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Hà Giang (Hồ Đình Chúc

và cs, 2003) [5]

Năm 2004, số tỉnh có dịch là 45 tỉnh với 577 xã thuộc 169 huyện có dịch Tổng số gia súc mắc bệnh là: 25.658 trâu, bò, 127 dê và 1.555 lợn, trong đó có 9 tỉnh do vi rút LMLM serotype A (phát hiện lần đầu tiên tại Ninh Thuận và Bình Định vào tháng 8/2004), 3 tỉnh do cả 2 virus LMLM serotype O và A Nguyên nhân của việc xuất hiện vi rút LMLM type A có thể là do việc nhập lậu bò từ Campuchia

Năm 2005, số tỉnh có dịch LMLM là 37 tỉnh, với 408 xã của 160 huyện Số gia súc mắc bệnh là: 28.241 trâu, bò, 3.976 lợn và 81 dê, trong đó có 3 tỉnh do vi rút LMLM serotype A, 13 tỉnh do vi rút LMLM serotype O, 3 tỉnh do cả 2 vi rút

Trang 24

LMLM serotype O và A, 2 tỉnh do vi rút LMLM serotype Asia 1 (Lào Cai và Khánh Hòa vào tháng 10/2005) (Báo cáo tổng kết – Cục thú y, 2014) [3]

Năm 2006, dịch LMLM trên trâu bò đã xảy ra tại 1410 xã của 283 huyện thuộc 47 tỉnh, số gia súc mắc bệnh là 114.015 con Dịch LMLM trên lợn cũng xảy

ra ở 516 xã của 191 huyện thuộc 54 tỉnh làm 44.450 lợn mắc bệnh Trong đó type Asia 1 có ở Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Cao Bằng và Thái Bình (phát hiện bằng kít 3 ABC và giám định bằng phương pháp RT -PCR) với tổng số 9.271 trâu

bò và 12.461 lợn bị bệnh Trong năm 2006 cả nước đã xử lý tiêu hủy 4.906 trâu, bò, 31.087 lợn

Năm 2007 có 37 tỉnh có dịch, trong đó có 294 xã, 225 huyện thuộc 25 tỉnh dịch xảy ra trên trâu bò và 172 xã, 71 huyện thuộc 26 tỉnh có dịch LMLM trên lợn với tổng số 11.355 trâu, bò và 12.386 lợn mắc bệnh Số phải xử lý tiêu hủy và chết

là 3.765 trâu, bò và 11.122 lợn Type vi rút lưu hành chủ yếu type O, type A chỉ có

ở Phú Yên và type Asia 1 có ở Quảng Trị và Thanh Hóa

Năm 2011, dịch có giảm so với các năm trước, có 122 xã của 43 huyện thuộc

14 tỉnh có dịch làm 2.408 trâu, bò và 67 lợn mắc bệnh Số chết, tiêu hủy là 218 trâu,

bò và 39 lợn type O vẫn là type vi rút xuất hiện nhiều nhất trong các ổ dịch Tháng 12/2008 phát hiện type A tại Nghệ An

Năm 2008, dịch đã xảy ra ở 229 xã thuộc 87 huyện của 27 tỉnh, thành phố với tổng số 7.861 con trâu, bò mắc bệnh, 432 con phải tiêu hủy Trên lợn dịch xảy

ra ở 35 xã thuộc 23 huyện của 16 tỉnh, thành phố với tổng số 499 lợn mắc bệnh, 429 con phải tiêu hủy

Dịch LMLM xảy ra trên địa bàn các tỉnh bắc Trung Bộ, Duyên Hải miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc Dịch xảy ra trên quy mô rộng vào tháng 9/2009, cao điểm nhất có tới trên 90 ổ dịch xuất hiện trong tháng, các tháng khác dịch xảy ra ít hơn và rải rác tại nhiều địa phương

Dịch LMLM týp A xuất hiện tại vùng núi phía Bắc (Sơn La, Bắc Giang và

Hà Giang); Tây Nguyên (Kon Tum), đồng bằng sông Cửu Long (Long An) là những vùng đã lâu không có týp vi rút này (Cục thú y – web site, 2015) [10]

Trang 25

Năm 2010 dịch đã xảy ra ở 297 xã thuộc 103 huyện của 28 tỉnh, thành phố là Bắc Ninh, hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Phước, Bà Rịa -Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Phú Thọ và Thái Nguyên với tổng số 16.333 con trâu, bò mắc bệnh, 419 con trâu bò phải tiêu hủy Có 16 tỉnh, thành phố có lợn bị mắc bệnh LMLM với tổng số 1.675 con lợn mắc bệnh, 848 con phải tiêu hủy

Dịch xảy ra trên quy mô rộng vào tháng 12/2010 với trên 98 ổ dịch Tháng 11/2010 có 56 ổ dịch xuất hiện Các tháng khác dịch xảy ra ít hơn và rải rác tại nhiều địa phương

Các ổ dịch LMLM từ đầu năm 2010 đến nay đều do vi rút LMLM type O gây ra

Bệnh lở mồm long móng gia súc là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan nhanh, mạnh, gây ra bởi 7 týp vi rút: A, O, C, Asia1, SAT1, SAT2, SAT3với hơn 60 phân týp Ở Việt Nam đã phát hiện bệnh gây ra bởi 3 type A, O và Asia1 (Báo cáo tổng kết Chi cục thú y Thanh Hóa, 2014) [2]

Theo báo cáo của Cục thú y Trung ương, trong năm 2014 dịch LMLM đã bùng phát trên địa bàn của 13 tỉnh của cả nước (Báo cáo tổng kết Cục thú y, 2014) [3] Thu thập mẫu trên địa bản 12 tỉnh xảy ra dịch LMLM, kết quả xác định có 2 type vi rút gây bệnh là type O và type A, cụ thể như sau:

Tại tỉnh Lạng Sơn, bệnh LMLM xảy ra tại 3 huyện, vi rút LMLM thuộc 2 type O và type A

Tỉnh Cao Bằng bệnh LMLM xảy ra tại 2 huyện, kết quả xác định vi rút LMLM là type A

Bắc Kạn xảy ra bệnh LMLM tại 1 huyện, vi rút LMLM type A

Sơn La xảy ra bệnh LMLM tại 4 huyện, thuộc vi rút LMLM type O

Tỉnh Yên Bái xảy ra bệnh LMLM tại 1 huyện, thuộc vi rút LMLM type O Nghệ An xảy ra bệnh LMLM tại 5 huyện, kết quả xác định vi rút LMLM thuộc 2 type O và type A

Trang 26

Hà Tĩnh xảy ra bệnh LMLM tại 3 huyện, thuộc vi rút LMLM type O

Quảng Trị xảy ra bệnh LMLM tại 3 huyện, thuộc vi rút LMLM type O

Kon Tum xảy ra bệnh LMLM tại 3 huyện, kết quả xác định vi rút LMLM thuốc 2 type O và type A

Lào Cai xảy ra bệnh LMLM tại 1 huyện, thuộc vi rút LMLM type O

Đắk Nông xảy ra bệnh LMLM tại 1 huyện, thuộc vi rút LMLM type A

Từ kết quả điều tra dịch tễ cho thấy:

- Về địa bàn (không gian): Dịch LMLM xuất hiện rải rác trên địa bàn một số

xã của các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Tây Nguyên

- Về thời gian: Dịch LMLM bắt đầu xuất hiện rải rác dịp trước Tết Nguyên đán năm 2014 nhưng dây dưa, kéo dài tại một số địa phương (Hà Tĩnh, Cao Bằng, Thanh Hóa ) Riêng đợt dịch hiện nay do các dự án cung cấp bò giống không rõ nguồn gốc (của Công ty Viettel và Vincom) để phát triển chăn nuôi nhưng không tuân thủ quy định về kiểm dịch vận chuyển động vật

- Về loài mắc bệnh: Dịch LMLM xuất hiện chủ yếu trên trâu, bò (chiếm gần 95%); lợn và dê cũng bị mắc nhưng với số lượng ít, tỷ lệ thấp

Bảng 1.1: Tình hình bệnh LMLM ở gia súc Việt Nam

từ năm 2012 – 2014 trên phạm vi cả nước

Năm Số

tỉnh

Số huyện

Số xã Trâu

bệnh (con)

Bò bệnh (con)

Lợn bệnh (con)

Dê bệnh (con)

Tổng số gia súc (con)

Trang 27

ốm (con)

Lợn

ốm (con)

ốm (con)

Trâu hủy (con)

Bò hủy (con)

Lợn hủy (con)

Dê hủy (con)

Vi rút LMLM thuộc họ Piconarviridae, chi Aphthovirrus

Hình 1.2 Cấu trúc virion vi rút LMLM (Grubman, M J & Baxt, B, 2004) [38]

Trang 28

Chú thích: (a) Một đơn vị cấu trúc (protomer) của vi rút LMLM với cấu trúc “Mạch lá β - vòng uốn - mạch lá β” có nối tiếp nhau từ các protein VP1 - VP2-VP3 (b) Một pentamer nằm trên virion, tạo nên hình đối xứng 5 cạnh do 5 protomer hợp thành (c) Cấu trúc của một virion hoàn chỉnh gồm có vòm G - H (màu vàng) cấu tạo bởi 2 chuỗi βG và βH (βG - βH), trong đó

định vị chuỗi tripeptide RGD (Arg - Gly - Asp) (màu trắng) là vị trí đặc hiệu nhận biết và tiếp

xúc với thụ thể bào cảm nhiễm (d) Cấu trúc không gian của protomer (sử dụng phần mềm mô phỏng RasMole): màu tím chỉ các phần gồ lên trên bề mặt (G - H); Màu vàng chỉ vị trí chuỗi tripeptide với 3 amino acid RGD Mỗi virion đều: VP1 (màu xanh da trời), VP2 (Xanh lá cây) và VP3 (đỏ) VP4 là polypeptide nằm sâu trong hạt vi rút (bị che khuất)

1.2.1 Hình thái và cấu trúc

Hình thái: Vi rút LMLM là loại vi rút nhỏ nhất trong các vi rút qua lọc Dạng vi rút thành thục có đường kính là 23nm Dưới kính hiển vi điện tử, vi rút thường có hình cầu, đường kính 20-28nm, gồm 20 mặt đối xứng, 30 cạnh và 12 đỉnh

Cấu trúc: Cấu trúc vi rút gồm phần trung tâm là axit nucleic chiếm 31%, được bao bọc bởi một capsid là protein, gồm 60 capsome, không vỏ bọc Hạt vi rút

là phân tử ARN là đơn vị gây nhiễm, đóng vai trò như một ARN thông tin

Dưới ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, hạt vi rút có thể phân ly thành những phần tử nhỏ ARN và những tiểu phần protein của capsome (thường gọi là tiểu phần 12S) dài 7 - 8nm (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [21]

Sức đề kháng của vi rút đối với ngoại cảnh tương đối mạnh, tùy thuộc vào chất chứa của nó, đặc biệt khi nó dính vào những chất khô hay những chất protein (Trịnh văn Thịnh và cs, 1958) [25]

1.2.2 Đặc tính di truyền, cấu trúc gen, kháng nguyên

Hệ gen của vi rút LMLM bao gồm phần không mã hóa cho protein đầu 5’ (5’UTR) và đầu 3’ (3’UTR), phần mã hóa cho protein cấu trúc (1 ABCD) và phần

mã hóa protein không cấu trúc (2 ABCD và 3 ABCD) Chỉ thị phân tử sử dụng nhiều nhất trong định type và nghiên cứu phả hệ vi rút LMLM là 5’ UTR và VP1 Cấu trúc của gen mã hóa cho các protein được trình bày ở hình 1.3

Hệ gen của vi rút LMLM với chiều dài 8.000 - 8.500 base (Forss, S, Strebel,

K, Beck, E, & Schaller H, 1984) [37] Do đặc điểm của các vi rút ARN sợi đơn dương, có tính biến dị rất mạnh

Trang 29

Hình 1.3 Sơ đồ hệ gen của vi rút LMLM (Grubman, M J & Baxt, B, 2004) [38]

Bộ gen chứa một khung đọc mở duy nhất ORF, với 2 vị trí khởi đầu giải mã cho một protein chung (polyprotein) Polyprotein được chia thành hơn 12 polypetide chức năng và trung gian của các phần sẽ bị cắt (Nguyễn Quang Hưng, 2011) [15] Hầu hết các quá trình phân cắt tạo các protein trưởng thành được xúc tác bởi 3 proteinase của vi rút là Lpro, 2A và 3 Cpro Hai đầu của bộ gen có thể được thay đổi, đầu 5’ tận cùng bởi VPg (khoảng 23 axit amin), đầu 3’ bởi chuỗi Adenyl Lpro là nhân tố quan trọng quyết định độc tính của vi rút

Những protein tạo nên capsid có tính chất kháng nguyên và khả năng sinh kháng thể, gồm 4 loại: VP1, VP2, VP3, VP4 (VP: viral protein) VP1 ở ngoài cùng tham gia vào việc cố định vi rút trên những tế bào và là một trong những loại kháng nguyên chính kích thích tạo ra kháng thể chống lại bệnh LMLM Do đó, có thể nói VP1 đóng vai trò quan trọng nhất trong sinh bệnh học vì nó là yếu tố sinh miễn dịch căn bản Protein VP1 kích thích tạo ra các kháng thể trung hòa ở trâu, bò và lợn, ba vùng kháng nguyên tương ứng đã được mô tả trên bề mặt của suptype A12 Hai trong những kháng nguyên đó đã được phát hiện trên chuỗi polypeptide của VP1 và trong các tiểu phần có hằng số sa lắng 12 S Các vùng kháng nguyên này tham gia trong phản ứng trung hòa vi rút thông qua (Reid, S M et al, 2003) [48]

Ngoài đặc tính kháng nguyên gây miễn dịch dịch thể đặc hiệu, hạt vi rút hoàn chỉnh còn có khả năng gây dị ứng là do các kháng nguyên vỏ Phân tử ARN của vi rút LMLM không quan trọng về mặt kháng nguyên

Trang 30

Sự sai khác về bộ gen là nguyên nhân tạo ra các biến chủng, đặc biệt thông qua sự đa dạng của phân tử VP1 Những khác biệt này dẫn đến tính kháng nguyên

và hệ quả là đặc tính huyết thanh học khán nhau giữa các serotype các phân type và các biến chủng

Cấu trúc VP1 cũng là điểm xuất phát của những công nghệ di truyền và công nghệ hóa hiện nay (Donalsson A.I, 2000) [12], (Merial Ltd Pibright, 2003) [20] Mặc dù những protein khác như L, 2AC và 3AD không phải là phần cấu trúc capsid, nhưng chúng cũng tạo ra những đáp ứng kháng thể ở động vật nhiễm bệnh (Brocchi, E et al, 1998) [33], (Sorensen, K J et al (1998) [50]

Các phương pháp huyết thanh học dùng để xác định subtype đã mang lại nhiều kết quả quan trọng trong quá trình nghiên cứu vi rút LMLM

Tuy nhiên các phản ứng huyết thanh học được sử dụng đều phát hiện kháng thể kháng protein cấu trúc, protein vỏ của vi rút nhưng không phân biệt được đó là kháng thể của động vật đã được tiêm vắc xin phòng bệnh hay do nhiễm vi rút Tô Long Thành và cs, 2008) [28], (Reid, S M et al, 2003) [48]

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các kỹ thuật chẩn đoán cũng

có nhiều phát triển vượt bậc Ngày nay, công nghệ phân tích gen đã được áp dụng nhiều trong công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong sản xuất vắc xin phòng bệnh Phương pháp PCR do Millis và cộng sự phát minh vào năm 1985 được sử dụng rộng rãi đã đem lại cuộc cách mạng di truyền học phân tử Đây là kỹ thuật hoàn toàn mới trong việc nghiên cứu và phân tích gen và hệ gen, có thể tạo ra số lượng lớn các bản sao của đoạn AND mong muốn Phương pháp phân tích gen đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu về vắc xin AND phòng bệnh LMLM

Trang 31

Người ta đã xác định được các đoạn axit amin có khả năng kích thích đáp ứng miễn dịch nhanh, mạnh, tái tổ hợp vào ARN của vi rút dùng trong sản xuất vắc xin Khi các loại vắc xin AND này được tiêm cho gia súc thì các đáp ứng miễn dịch đặc hiệu sẽ hình thành không chỉ chống lại các protein cấu trúc mà còn cả protein phi cấu trúc của vi rút (Reid, S M et al, 1998) [46]

Một số protein phi cấu trúc của vi rút LMLM gây đáp ứng miễn dịch là 3D, 3A, 3AB, 3ABC, 2C, 2B, 3C và Lpro Trong thời gian gần đây, một số protein phi cấu trúc 2C, 3C, 3AB và 3ABC đã được nghiên cứu và nhiều phương pháp có độ nhạy cao đã được phát triển Tuy nhiên có lẽ phương pháp căn bản ELISA vẫn là sự lựa chọn tốt hơn do có nhiều thuận lợi về tính khách quan, độ nhạy cao, an toàn, rẻ,

dễ giải thích và sử dụng phù hợp cho số lượng mẫu lớn ở thực địa (Forss, S, 1984) [37] Brocchi và cộng sự (1998) [33] đã tiến hành thí nghiệm dùng kháng thể đơn dòng kháng protein phi cấu trúc 3ABC với kỹ thuật ELISA ngăn trở Mackay và cộng sự (1998) [41] cũng đã tìm kiếm kháng thể kháng nguyên 3D, 3AB và 3ABC bằng phương pháp AND tái tổ hợp Kết quả là ở những gia súc được bảo vệ bằng vắc xin đã không tạo kháng thể kháng protein phi cấu trúc đặc biệt là 3ABC

1.3 Đặc điểm dịch tễ học vủa vi rút LMLM

1.3.1 Nguồn dịch

1.3.1.1 Nguồn dịch thiên nhiên

Trong tự nhiên, nhiều loài động vật hoang dã cảm thụ bệnh và có thể trở thành nguồn bệnh cho vật nuôi Các loài nhai lại hoang dã như bò rừng

(Bisonbonasus), trâu rừng (yak), lạc đà, nhiều loài sơn dương, hoẵng, những loài

hươu khác nhau (như hươu Dama, hươu đỏ), nai đều nhiễm vi rút LMLM Hoãng nhiễm vi rút LMLM có biểu hiện triệu chứng điển hình, hươu Sira biểu hiện ít trầm

trọng hơn, hươu hoang dã (Fallowdeer) và hươu ved chỉ biểu hiện dưới dạng ẩn

tính Các loài nhai lại cảm thụ này đóng vai trò quan trọng trong dịch tễ học của bệnh (Nguyễn Lương, 1997) [19]

1.3.1.2 Nguồn dịch gia súc mang trùng

Thú mang trùng được coi là vẫn đề quan trọng nhất trong dịch tễ học của bệnh LMLM hiện tại “Thú mang trùng” được định nghĩa là thú mà ở đó vi rút sống

Trang 32

có thể phân lập được 28 ngày sau khi nhiễm bệnh “Thú mang trùng” không chỉ có nghĩa là hoang thú mà cả động vật nuôi; trong thực tế có khoảng trên 50% bò, dê, cưu phơi nhiễm với vi rút LMLM trở thành “thú mang trùng”, bất luận chúng đã hoặc chưa được “bảo vệ” bằng vắc xin Sự hình thành trạng thái mang trùng phụ thuộc vào chủng và type huyết thanh của vi rút LMLM Thời gian mang trùng phụ thuộc vào loài nhiễm bệnh và có tính cá thể

Vấn đề về động vật mang trùng đặc biệt quan trọng khi cân nhắc sử dụng văc xin để khống chế một ổ dịch, bởi vỉ vắc xin không ngăn chặn được sự nhiễm vi rút (bò đã được tiêm vắc xin vẫn nhiễm bệnh và mang trùng) và các phương tiện chẩn đoán hiện tại chưa đảm bảo chắc chắn 100% phát hiện hết các trường hợp động vật mang trùng

bò lai được nuôi dưỡng tốt, khỏe mạnh thường dễ nhiễm bệnh hơn

Lê Minh Chí (1996) [6] cho biết: Bệnh thường xảy ra ở trâu bò rồi lây lan sang lợn (trừ chủng vi rút chỉ nhiễm cho lợn), vi rút LMLM chủng Cathay chỉ gây bệnh cho lợn

Động vật nhỏ (tiểu gia súc) như cừu có tỷ lệ cảm nhiễm thấp và giữ vai trò quan trọng trong việc mang trùng Cừu có thể mang trùng tới năm tháng và duy trì

sự nhân lên với mức độ thấp của vi rút Vi rút thường cư trú ở vùng hầu của gia súc

1.3.3 Đường xâm nhập

Đường hô hấp: Đường xâm nhập chính của vi rút là đường hô hấp, vi rút

vào vùng hầu ở trong các tế bào của màng nhầy họng rồi lan sang các tế bào lân cận, các hệ thống lưu thông và hệ lâm ba dẫn tới các tế bào, cơ quan khắp cơ thể

Đường tiêu hóa: Khi mầm bệnh theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào cơ

thể qua đường tiêu hóa, chúng nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa làm thành mụn nước sơ phát, sau đó theo hệ thống máu và lâm ba đến khắp cơ thể

Trang 33

Da: Da nguyên lành không để vi rút đi qua, khi có vết xây sát gia súc có thể

nhiễm vi rút Tại những xây sát hoặc vết thương ở da, nhất là các vùng vú thường xuất hiện mụn nước sơ phát; vùng da tổn thương cũng là nơi vi rút xâm nhập vào cơ thể

1.3.4 Cơ chế sinh bệnh

Vi rút LMLM phổ biến lây lan theo đường hô hấp, vi rút sinh sôi qua vùng hầu Ngoài đường hô hấp ra, bệnh có thể nhiễm qua da, vết thương da và niêm mạc Khi vi rút theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào cơ thể hoặc qua các tổn thương ở

da, trước tiên nó nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa hoặc của da, gây thủy thũng một số tế bào thượng bì, làm thành mụn nước sơ phát nhưng khó nhận biết vì con vật vẫn khỏe mạnh

Tổn thương do vi rút gây ra tại cửa vào không gây triệu chứng bệnh (thời kỳ nung bệnh); thời gian nung bệnh rất khác nhau phụ thuộc vào độc lực của vi rút, số lượng vi rút và đường xâm nhập, thời gian nung bệnh ngắn 2 - 3 ngày, có khi lên tới

10 - 14 ngày, những trường hợp liều gây nhiễm thấp thời gian nung bệnh đối với chu kỳ đầu tiên có thể dài hơn (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [22]

Sau khi nhân lên ở vùng cửa vào và những hạch lâm ba lân cận, vi rút vào máu và được đưa đến các vị trí thứ cấp Do tính hướng thượng bì, vi rút hầu như rất

ít nhân lên ở các phủ tạng; vi rút phát triển chủ yếu trong những tế bào thượng bì của niêm mạc và da, chủ yếu là những tế bào thượng bì non, gây sưng hạch, tổn thương (mụn nước) các biểu mô quang miệng (mõm lợn), chân, vú và gốc sừng

Ngoài ra mụn nước cũng phát triển ở những nơi ít nhìn thấy như: trên trụ dạ

cỏ, âm hộ, vùng bẹn… vi rút có thể qua đường tuần hoàn của con mẹ xâm nhập vào phôi thai và có thể gây sảy thai Vào giai đoạn cuối bệnh (cuối giai đoạn sốt), vi rút

có thể tiếp tục nhân lên ở những tế bào đang phân chia vùng mô lận cận và gây nên các mụn nước thứ phát

Mụn nước xuất hiện ở cả chiều sâu của thượng bì Do áp lực của nước ở trong mụn, mụn nước phát triển to ra, nhô lên Cùng với phản ứng viêm, bạch cầu di động đến làm cho dịch lâm ba của mụn nước màu trong trở nên đục và không bao giờ sinh mủ khi không có vi khuẩn kế phát Khi mụn vỡ, những vết tích ở thượng bì được lấp đầy nhanh chóng Mụn nước chỉ lở loét khi mồm, chân bị nhiễm vi khuẩn sinh mủ, gây hoại tử, xây x át gây nên bệnh lý cục bộ, ăn sâu vào trong, có khi gây bại huyết làm con vật suy yếu hoặc chết

Trang 34

1.3.5 Chất chứa vi rút

Nước bọt: Độc lực của vi rút xuất hiện rất sớm trong nước bọt (10 giờ sau

khi nhiễm vi rút) Sự xuất hiện vi rút trước khi sốt trong nước bọt có thể do sự nhân lên của vi rút ở cửa vào Số lượng vi rút cường độc trong nước bọt đạt cao nhất khi các mụn nước ở miệng vỡ, kéo dài đến ngày thứ 10 - 14 ngày sau khi có triệu chứng

và biến mất sau 5 tuần Vi rút được thải ra ngoài qua nước bọt lẫn nước mụn và mảnh thượng bì của mụn bị vỡ ra trên niêm mạc lưỡi và miệng Vi rút trong nước bọt tồn tại đến 2 ngày ở 370C, 3 tuần ở 200C, 5 tuần ở 40C

Mụn nước: Vi rút có nhiều nhất trong nước của mụn tiên phát dưới 5 ngày,

mụn khong còn vi rút sau khi hình thành mụn thứ phát Hàm lượng vi rút cao nhất

là trong nước mụn và thành mụn, 1ml dịch mụn nước có chứa 108 TCID50 ở ngày thứ 2 - 3 sau khi có triệu chứng và giảm rõ rệt sau 4 - 5 ngày (Tr Doel, 2003) [17]

Máu: Vi rút LMLM xuất hiện trong máu của động vật cảm thụ vào thời kỳ

sốt, thường từ giờ thứ 18 sau nhiễm vi rút và có thể kéo dài 3 - 5 ngày Máu chứa ít

vi rút hơn ở mụn nước, khoảng 105TCID50/ml máu tại thời điểm cao nhất

Các chất thải tiết khác: Vi rút LMLM cũng được thải ra môi trường ngoài trong các chất dịch bài tiết như nước tiểu, phân, sữa, nước mũi, nước mắt và tinh dịch Số lượng vi rút cường độc trong các chất bài tiết này thấp hơn ở nước dãi

Độc lực của vi rút có trong chúng cùng một lúc với độc lực của vi rút có trong máu, cao nhất vào ngày thứ 2 và thứ 3 sau khi thú nhiễm vi rút và mất đi vào ngày thứ 4 hoặc thứ 5, ngoại trừ ở nước tiểu

Mô, tổ chức khác như: tim, da, tuyến tụy, tuyến giáp, trong mật và các hạch lâm ba cũng chứa một lượng lớn vi rút trong suốt giai đoạn bệnh cấp tính Sản phẩm động vật và phụ phẩm, chất thải: Các thú sản, sản phẩm sữa, thịt, máu, xương, da, lông, móng, sừng đều chứa vi rút độc, rác thải của nhà bếp, nước rửa đun đun không

kỹ cũng làm phát tán vi rút (Nguyễn Viết Không và cs, 2006) [16] Vi rút có thể giữ nguyên hoạt tính trên lông gia súc đến 4 tuần

Chất thải, vật dụng chăn nuôi: tường, nền, máng ăn, chất lót chuồng, rơm cỏ, nước rửa chuồng, các đồ vật và dụng cụ đều có thể chứa vi rút và trở thành nguồn

cơ giới truyền lây vi rút

Trang 35

1.3.6 Con đường và phương thức truyền lây

Phương thức truyền lây bệnh LMLM rất đa dạng Vi rút gây bệnh LMLM có thể lây truyền trực tiếp giữa con mắc bệnh và con khỏe khi nhốt chung hoặc chăn thả chung trên đồng cỏ Vi rút từ nước bọt, dịch mụn nước, các chất bài xuất, bài tiết của con vật mắc bệnh xâm nhập vào con khỏe Bệnh cũng có thể truyền lây gián tiếp thông qua thức ăn, nước uống, máng ăn, máng uống, nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi, thú y, sản phẩm chăn nuôi; phương tiện vận chuyển, tay chân, quần áo người chăn nuôi bị nhiễm vi rút

Bệnh lây truyền trực tiếp từ đàn này sang đàn khác, từ địa phương này sang địa phương khác do sự di chuyển của con vật nhiễm bệnh đến đàn chưa có bệnh là hình thức lây truyền chủ yếu Do nhu cầu giao lưu, buôn bán động vật, sản phẩm động vật của các tỉnh, các vùng và các nước ngày càng phát triển, cùng với sự chênh lệch về giá cả đã thúc đẩy sự vận chuyển bất hợp pháp, tư thương đã tìm mọi cách để vận chuyển gia súc ra khỏi vùng dịch để kiếm lời Người chăn nuôi vì không rõ nguồn gốc hoặc tham giá rẻ đã mua về nuôi, từ đó mầm bệnh phát tán khắp nơi Chó, mèo, gà, chim muông, hoang thú, côn trùng không mắc bệnh nhưng

có thể truyền bệnh theo con đừng cơ học từ nơi này đến nơi khác Những con vật đó khỏi bệnh nhưng vẫn mang vi rút trong móng chân, máu, nước tiểu là nguồn gốc gây ra các ổ dịch mới Gió cũng là một yếu tố quan trọng trong việc làm lây lan bệnh qua không khí

Ngoài ra, vi rút có thể truyền từ mẹ sang bào thai Bê sinh ra mắc bệnh thường chết nhanh (Tr Doel, 2003) [18]

Thời điểm lây lan: Vi rút xuất hiện trong nước bọt trước khi xuất hiện các

triệu chứng và tăng cao khi vỡ các mụn nước ở miệng; vi rút có mặt trong các chất thải tiết khác nhau như nước tiểu, phân cũng đồng thời với sự xuất hiện mụn nước Mọi chất thải tiết và không khí đều mang vi rút Như vậy, vi rút được lan truyền ngay khi động vật chưa có triệu chứng và khả năng lây truyền tăng cao khi mụn nước vỡ Sau 4 ngày kể từ lúc mụn nước vỡ ra, khả năng lây nhiễm giảm hoặc không còn, trừ khi vi rút còn tồn tại trên da, lông, một vài con vật giữ được mầm bệnh như một vật mang trùng trong thời gian dài (Nguyễn Lương, 1997) [19]

Trang 36

Phạm vi lây lan: Tốc độ gió, hướng gió là những yếu tố quan trọng trong

việc lây lan qua không khí Trong hoàn cảnh thuận lợi, vi rút có thể lan xa 100km nhờ gió Truyền lây vi rút trong không khí là kiểu truyền lây “không kiểm soát được”, đáng sợ hơn nhiều lần so với các phương thức truyền lây “kiểm soát được” như sự tiếp xúc trực tiếp với gia súc mắc bệnh hoặc gián tiếp qua con người hay các vật dụng khác

Mùa truyền lây: Ở vùng nhiệt đới, bệnh LMLM thường ở thể nhẹ, ít chết

Đặc điểm bệnh này có thể do ảnh hưởng của khí hậu Trong sức nóng nhiệt đới, những chất, những bộ phận chứa vi rút bị tiêu diệt nhanh, làm giảm mức độ truyền lây Cũng có thể chính vì lý do nhiệt độ này, bệnh LMLM ở Việt Nam và các nước nhiệt đới khác bệnh lây lan quanh năm, nhưng thường phổ biến hơn vào mùa xuân, mùa mưa phùn, đất ẩm ướt, ánh nắng dịu của mùa đông

1.4 Đáp ứng miễn dịch trong bệnh LMLM

Sau khi vi rút LMLM xâm nhập vào cơ thể động vật, chúng nhân lên, phá hủy tế bào vật chủ gây sốt và tạo miễn dịch Cả miễn dịch dịch thể và miễn dịch trung gian tế bào đều xuất hiện trong bệnh lở mồm long móng, trong đó vai trò của miễn dịch trung gian tế bào đặc biệt quan trọng

Ở những con vật tiếp xúc với kháng nguyên lần đầu, đáp ứng miễn dịch thường chậm và ở mức thấp Khi tiếp xúc kháng nguyên lần thứ hai và những lần sau đó, đáp ứng miễn dịch xảy ra sớm hơn và ở mức cao hơn (miễn dịch thứ phát) Đặc điểm về thời gian và mức độ đáp ứng miễn dịch chính là cơ sở khoa học của việc tiêm phòng nhắc lại nhằm tạo miễn dịch chắc chắn cao và kéo dài

Trang 37

Trong tiêm phòng, kháng thể đặc hiệu tồn tại ở mức cao, kéo dài 4-6 tháng ở

bò (đối với lợn, thời độ dài miễn dịch ngắn hơn), sau đó giảm dần, con vật lại mẫn cảm với căn bệnh Tác dụng bảo hộ kháng vi rút LMLM chủ yếu dựa vào kháng thể trung hòa Tuy nhiên kháng thể trung hòa đơn độc không phải lúc nào cũng có khả năng khống chế sự lây nhiễm bệnh LMLM; một số con vật đã được tiêm vắc xin có rất ít hoặc không có kháng thể trung hòa nhưng vẫn có sức đề kháng chống lại căn bệnh (Reid, S M et al, 2003) [48]

Gia súc nhiễm bệnh thường có đáp ứng miễn dịch cao hơn và kéo dài hơn so với đáp ứng miễn dịch do vắc xin Sau khi lành bệnh, con vật có miễn dịch kéo dài

từ 6 tháng đến 1 năm hay vài năm Miễn dịch có thể truyền cho con qua sữa đầu và kéo dài 3 tháng

* Miễn dịch chéo: Hiện tại, có 7 type vi rút LMLM (O, A, C, Asia 1, SAT1,

SAT2 và SAT3) Các vi rút này khác nhau về kiểu gene (dựa trên so sánh trình tự VP1) và đặc tính huyết thanh học serotype Những type này lại phân chia thành nhiều type phụ (subtype) khác nhau bởi những đặc tính miễn dịch học (cấu trúc kháng nguyên, độc lực…) Các type/subtype vi rút này đều gây bệnh LMLM với những triệu chứng lâm sàng giống nhau (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [21]

Giữa các type, do không có sự đồng nhất về đặc tính kháng nguyên chúng không có miễn dịch chéo Gia súc đã mắc bệnh do 1 serotype không có miễn dịch bảo hộ với type khác Miễn dịch bảo hộ chéo chỉ tồn tại giữa một số subtype của cùng 1 type (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1958) [25], (Sugimura, T & Eissnes, G, 1976) [51]

Trong thực tế có những trường hợp con vật đã bị bệnh lại có thể “tái phát”, hiện tượng này do vi rút các type khác nhau có mặt ở cùng một ổ dịch Con vật lành bệnh với 1 type nhưng mắc bệnh lại do type khác Đối với 3 typ O, A, C trong một

ổ dịch có thể có sự kết hợp của các type này, nhưng thông thường chỉ một type chiếm ưu thế Đây chính là cơ sở khoa học cho việc lựa chọn vắc xin phù hợp chủng nhằm tránh trường hợp gia súc đã được tiêm phòng nhưng vẫn mắc bệnh do không

có miễn dịch đặc hiệu với chủng lưu hành, đồng thời hạn chế kinh phí dành cho việc sử dụng vắc xin không phù hợp chủng Để có thể sử dụng vắc xin một cách có hiệu quả, cần phải thường xuyên giám sát dịch tễ, tăng cường khả năng chẩn đoán

và định type vi rút LMLM

Trang 38

1.5 Triệu chứng và bệnh tích ở trâu, bò mắc bệnh

1.5.1 Triệu chứng

Thời gian nung bệnh từ 2 - 5 ngày, trung bình 3 - 5 ngày có khi chỉ 16 giờ Khi bệnh bắt đầu xuất hiện thì con vật sốt 40 - 41 0C liên tục 2 - 3 ngày, ủ rũ, lông dựng, đầu mũi khô, sản lượng sữa giảm, dáng điệu mệt mỏi, lừ đừ, kém ăn, thỉnh thoảng nằm gục đầu xuống, tai và đuôi không phe phẩy, nằm xuống đứng lên

có vẻ khó khăn, nặng nề, chậm chạp (Cục thú y, 2003) [11], (Tô Long Thành

và cs, 2008) [28]

- Ở miệng: Lúc sốt thì miệng nóng, niêm mạc miệng, môi, lợi, chân răng nóng, khô, đỏ ửng lưỡi dày lên và khó cử động, có con không liếm mũi được Mụn nước bắt đầu mọc ở mép, ở môi, lợi, lưỡi, phía trong má và chân răng Những mụn nước này có thể nhỏ bằng hạt kê, hạt ngô hoặc to hơn Ở những nơi có mụn nước xuất hiện, tổ chức liên kết phồng lên, có màng bọc mỏng, bên trong có nước, lúc đầu nước trong vàng, về sau nước vẫn đục dần, sờ vào mụn có cảm giác mềm Mụn

có màu trắng hoặc hơi hồng Sau một hai ngày thì mụn vỡ, lớp bọc mụn rách ra xơ xác, để lộ mặt dưới có màu đỏ hoặc mụn thủng một lỗ nhỏ có viền bị rách Nước đục chảy ra hòa lẫn với nước bọt thành chất bọt đặc dính có từng mảng vàng Mụn nước vỡ, các màng niêm mạc mất đi để lại vết loét sâu, rộng, màu hồng trắng, có phủ một lớp chất màu vàng, sau vài ngày thì bắt đầu hình thành sẹo Mụn ở lưỡi không rõ như ở hàm, đến khi loét mới thấy rõ Nếu mụn nước mọc nhiều làm mặt lưỡi rộp lên, chỗ lồi, chỗ lõm, có khi liền nhau tạo thành mảng to, màu trắng nhạt Mụn nước vỡ thì lưỡi bị loét đỏ, màng lưỡi tróc theo mụn nước, lớp niêm mạc có gai tróc ra Thường thấy loét ở đầu hoặc giữa lưỡi, ít thấy ở gốc lưỡi Những con bị nặng, khi dùng tay kéo lưỡi ra kiểm tra thì lớp niêm mạc lưỡi bong ra từng mảng, tạo thành những mảng loét lớn màu đỏ trên mặt lưỡi

Nước bọt lúc đầu chảy ra ít và trong, khi mụn vỡ thì nước bọt chảy ra nhiều, mùi hôi, trong nước bọt đôi khi có máu hoặc dịch lâm ba màu vàng, tiếng chép miệng đặc trưng

Ngoài các mụn nước mọc ở miệng một số khu vực xung quanh như mũi, mắt cũng sinh mụn Mụn mọc trong niêm mạc mũi, có con loét ra cả ngoài vành mũi Nếu có mụn mọc ở niêm mạc mắt thì gây chảy nước mắt, đặc như mủ thường ít thấy triệu chứng ở mắt

Ngày đăng: 18/10/2016, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Anh & Hoàng Văn Năm (2001), “Tình hình bệnh lở mồm long móng tại Đông Nam Á và thế giới năm 2000”, Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú Y. Số 8, 90 - 93 (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh lở mồm long móng tại Đông Nam Á và thế giới năm 2000
Tác giả: Bùi Quang Anh & Hoàng Văn Năm
Năm: 2001
4. Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp nhà nước, “Nghiên cứu giải pháp dịch tễ học phát hiện và khống chế bệnh LMLM”, Cục Thú y, (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp dịch tễ học phát hiện và khống chế bệnh LMLM
5. Hồ Đình Chúc & Ngô Thành Long (2003), “Phát hiện trâu, bò nhiễm vi rút lở mồm long móng bằng kít ELISA CHEKIT - FMD - 3ABC”, Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú Y. Số 10,14 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện trâu, bò nhiễm vi rút lở mồm long móng bằng kít ELISA CHEKIT - FMD - 3ABC
Tác giả: Hồ Đình Chúc & Ngô Thành Long
Năm: 2003
6. Lê Minh Chí (1996), “Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch lở mồm long móng năm 1995”, Cục thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch lở mồm long móng năm 1995
Tác giả: Lê Minh Chí
Năm: 1996
8. Cục Thú y (2005), “Chương trình Quốc Gia khống chế và thanh toán bệnh lở mồm long móng giai đoạn 2006-2010”, Tạp chí KHKT Thú Y số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Quốc Gia khống chế và thanh toán bệnh lở mồm long móng giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Cục Thú y
Năm: 2005
9. Cục Thú y (2011), “Chương trình Quốc Gia khống chế và thanh toán bệnh lở mồm long móng giai đoạn 2011-2015”, Tạp chí KHKT Thú Y số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Quốc Gia khống chế và thanh toán bệnh lở mồm long móng giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Cục Thú y
Năm: 2011
11. Cục Thú y (2003), Sổ tay phòng chống bệnh lở mồm long móng gia súc, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phòng chống bệnh lở mồm long móng gia súc
Tác giả: Cục Thú y
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
12. Donalsson A.I (2000), “Bệnh lý học và dịch tễ học của bệnh lở mồm long móng” (tài liệu do Lê Minh Hà dịch), Tạp chí KHKT Thú y, số 7, 43 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lý học và dịch tễ học của bệnh lở mồm long móng
Tác giả: Donalsson A.I
Năm: 2000
10. Cục Thú y, Trang Web của Cục Thú y - Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, http://www.cucthuy.gov.vn Link
2. Báo cáo tổng kết công tác thú y giai đoạn 2010 – 2014, Chi cục Thú y Thanh Hóa 3. Báo cáo tổng kết công tác thú y giai đoạn 2010 – 2014, Cục Thú y TW Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009 - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Hình 1.1. Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009 (Trang 20)
Bảng 1.1: Tình hình bệnh LMLM ở gia súc Việt Nam - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Bảng 1.1 Tình hình bệnh LMLM ở gia súc Việt Nam (Trang 26)
Hình 1.2. Cấu trúc virion vi rút LMLM (Grubman, M. J. & Baxt, B, 2004) [38] - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Hình 1.2. Cấu trúc virion vi rút LMLM (Grubman, M. J. & Baxt, B, 2004) [38] (Trang 27)
Hình 1.3. Sơ đồ hệ gen của vi rút LMLM (Grubman, M. J. & Baxt, B, 2004) [38]. - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Hình 1.3. Sơ đồ hệ gen của vi rút LMLM (Grubman, M. J. & Baxt, B, 2004) [38] (Trang 29)
Bảng 3.1: Kết quả điều tra tình hình bệnh LMLM ở các xã của 3 huyện Thọ - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Bảng 3.1 Kết quả điều tra tình hình bệnh LMLM ở các xã của 3 huyện Thọ (Trang 53)
Bảng 3.2: Kết quả điều tra tình hình bệnh LMLM xảy ra ở bò theo địa điểm tại - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Bảng 3.2 Kết quả điều tra tình hình bệnh LMLM xảy ra ở bò theo địa điểm tại (Trang 55)
Bảng 3.3: Kết quả điều tra tình hình bệnh LMLM xảy ra ở bò phân bố theo - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Bảng 3.3 Kết quả điều tra tình hình bệnh LMLM xảy ra ở bò phân bố theo (Trang 56)
Bảng 3.4: Kết quả điều tra tình hình bệnh LMLM theo tính biệt ở bò - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Bảng 3.4 Kết quả điều tra tình hình bệnh LMLM theo tính biệt ở bò (Trang 57)
Bảng 3.5: Kết quả điều tra bệnh LMLM theo tuổi ở bò mắc bệnh - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Bảng 3.5 Kết quả điều tra bệnh LMLM theo tuổi ở bò mắc bệnh (Trang 58)
Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra triệu chứng lâm sàng, bệnh tích LMLM - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra triệu chứng lâm sàng, bệnh tích LMLM (Trang 59)
Bảng 3.8: Tỷ lệ dương tính huyết thanh học 3ABC ở trâu, bò tại 3 huyện Thọ - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Bảng 3.8 Tỷ lệ dương tính huyết thanh học 3ABC ở trâu, bò tại 3 huyện Thọ (Trang 61)
Bảng 3.10: Kết quả tiêm phòng vắc xin LMLM cho đàn trâu,  bò, lợn trên địa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Bảng 3.10 Kết quả tiêm phòng vắc xin LMLM cho đàn trâu, bò, lợn trên địa (Trang 63)
Hình 3: Bò bị LMLM quanh miệng - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Hình 3 Bò bị LMLM quanh miệng (Trang 77)
Hình 1: Bò bị LMLM không đứng được  Hình 2: Bệnh tích LMLM ở lưỡi - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Hình 1 Bò bị LMLM không đứng được Hình 2: Bệnh tích LMLM ở lưỡi (Trang 77)
Hình 4: Bệnh tích LMLM ở kẽ móng - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại 3 huyện thọ xuân, thường xuân, lang chánh tỉnh thanh hóa và biện pháp khống chế
Hình 4 Bệnh tích LMLM ở kẽ móng (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm