Mặt khác, nước ta nằm trong vùng có thời tiết, khí hậu nóng ẩm, đây là điều kiện rất thuận lợi cho nhiều loại vật chủ trung gian của các loài giun, sán phát triển mạnh, dẫn tới khu hệ ký
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa công
bố dưới bất kỳ hình thức nào
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả
Lê Đắc Lợi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sỹ thú y, em xin trân trọng cảm ơn:
- Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
- Lãnh đạo, cán bộ Viện Sinh Thái và Tài Nguyên sinh vật, Chi cục Thú y Thanh Hóa và cán bộ Trạm thú y các huyện Yên Định, Thiệu Hóa, Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
- Với lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
TS Ngô Nhật Thắng, đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Đắc Lợi
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1.1 Sán lá ký sinh ở ruột gà 4
1.1.2 Bệnh sán lá ruột ở gà 14
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 21
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 24
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 24
2.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 24
2.2.1 Mẫu nghiên cứu 24
2.2.2 Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm 24
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25
Trang 62.3.1 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá ruột ở gà 25
2.3.2 Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán lá ruột ở gà 25
2.3.3 Biện pháp phòng và trị bệnh sán lá ruột cho gà 25
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 25
2.4.2 Phương pháp lấy mẫu 26
2.4.3 Phương pháp xét nghiệm mẫu 26
2.4.4 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của gà bị nhiễm sán lá ruột 27
2.4.5 Phương pháp mổ khám và thu thập mẫu 27
2.4.6 Phương pháp làm tiêu bản để xác định tên loài sán 28
2.4.7 Phương pháp định danh các loài sán lá ruột 29
2.4.8 Phương pháp xác định bệnh tích đại thể và những biến đổi vi thể ở cơ quan tiêu hoá (ruột, manh tràng) do sán lá ruột gây ra 29
2.4.9 Phương pháp theo dõi hiệu lực của thuốc tẩy sán lá ruột ở gà 30
2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 32
2.5.1 Một số tham số thống kê 32
2.5.2 Một số công thức tính tỷ lệ (%) 33
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH SÁN LÁ RUỘT Ở GÀ TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG THUỘC TỈNH THANH HÓA 34
3.1.1 Thành phần loài sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Thanh Hóa34 3.1.2 Phân bố các loài sán lá ruột ở gà tại các địa phương thuộc tỉnh Thanh Hoá 37
3.1.3 Đặc điểm phân loại các loài sán lá ruột ở gà tại Thanh Hóa 39
3.1.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Thanh Hóa 41
3.1.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà theo tuổi 46
3.1.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà theo mùa vụ 52
Trang 73.2 NGHIÊN CỨU BỆNH LÝ VÀ LÂM SÀNG CỦA BỆNH SÁN LÁ RUỘT Ở GÀ 57
3.2.1 Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của gà bị bệnh sán lá ruột 58
3.2.2 Bệnh tích đại thể và vi thể ở ruột của gà do sán lá ruột gây ra 59
3.3 BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH SÁN LÁ RUỘT CHO GÀ 63
3.3.1 Hiệu lực và độ an toàn của một số loại thuốc tẩy sán lá ruột ở gà 63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Đề nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thành phần loài sán lá ruột ký sinh ở gà (Qua mổ khám) 34
Bảng 3.2 Phân bố các loài sán lá ruột ở gà tại các địa phương 38
Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà tại các địa phương 42
Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà tại các địa phương (Qua mổ khám) 43
Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo tuổi (Qua xét nghiệm phân) 47
Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo tuổi (Qua mổ khám) 47
Bảng 3.7 Biến động nhiễm các loài sán lá ruột ở gà theo tuổi 50
Bảng 3.8 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo mùa vụ 52
Bảng 3.9 Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo mùa vụ (Qua mổ khám) 53
Bảng 3.10 Biến động nhiễm từng loài sán lá ruột ở gà theo mùa vụ 56
Bảng 3.11 Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng chủ yếu của gà bị bệnh sán lá ruột 58
Bảng 3.12 Bệnh tích đại thể ở ruột của gà do sán lá ruột gây ra 60
Bảng 3.13 Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể trong số tiêu bản nghiên cứu 62
Bảng 3.14 Hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy sán lá ruột ở gà 63
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm từng loài sán lá ruột ở gà tại tỉnh Thanh Hóa 37
Hình 3.2: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà tại một số địa phương 45
Hình 3.3: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá ruột gà theo lứa tuổi 49
Hình 3.4 Biểu đồ biến động nhiễm từng loại sán lá ruột theo tuổi gà 51
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo mùa vụ 55
Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo mùa vụ 55
Hình 3.7 Biểu đồ biến động nhiễm từng loài sán lá ruột ở gà theo mùa vụ 57
Trang 11MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ở nước ta chăn nuôi là một nghề sản xuất truyền thống, luôn giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh
tế nói chung, trong đó, chăn nuôi gia cầm luôn giữ vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi Với nhiều phương thức chăn nuôi phong phú, đa dạng, nghề chăn nuôi gia cầm đã góp phần giải quyết công ăn việc làm và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi
Những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm nước ta nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng đã và đang phát triển rất mạnh, tốc độ tăng hàng năm tương đối cao
Chăn nuôi gà đáp ứng nhanh nhu cầu về thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, chất lượng tốt cho đời sống xã hội và cung cấp một nguồn nguyên liệu dồi dào cho nhiều ngành công nghiệp chế biến thực phẩm
Gà là loài vật dễ nuôi, dễ thích nghi với điều kiện khí hậu khác nhau, đặc biệt chúng thích nghi cao với đời sống ở các vùng có nhiều diện tích Mặt khác gà là loài ham kiếm mồi, nên chăn nuôi gà có thể tận dụng được nguồn thức ăn từ động vật thủy địa sinh (giun, cá ) và lương thực rơi vãi sau thu hoạch lúa, ngô Chính vì những lý do trên mà nghề nuôi gà phát triển rộng rãi ở nhiều nơi, được coi là một nghề xoá đói giảm nghèo bền vững
Hiện nay, ở nước ta nghề chăn nuôi gà đã và đang tồn tại 2 phương thức chăn nuôi chính, đó là chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi công nghiệp Tuy nhiên, chăn nuôi bán công nghiệp vẫn là phương thức chăn nuôi phổ biến Hình thức chăn nuôi này thường mang tính tự phát, nhỏ lẻ và lạc hậu, nên vấn đề phòng chống dịch bệnh nói chung và bệnh do ký sinh trùng nói riêng thường ít được quan tâm, do vậy tỷ lệ nhiễm giun sán ở gà khá cao
Trang 12Mặt khác, nước ta nằm trong vùng có thời tiết, khí hậu nóng ẩm, đây là điều kiện rất thuận lợi cho nhiều loại vật chủ trung gian của các loài giun, sán phát triển mạnh, dẫn tới khu hệ ký sinh trùng phong phú và đa dạng, do vậy bệnh ký sinh trùng ở gà thường xuyên xảy ra, gây nhiều thiệt hại cho nghề nuôi gà
Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [46] cho biết: Bệnh ký sinh trùng làm giảm khả năng sinh trưởng của gà tới 30% so với bình thường và làm giảm sản lượng trứng từ 25 - 40% Khi nhiễm giun sán, gà thường dễ bị
kế phát các bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại lớn về kinh tế
Trong những bệnh ký sinh trùng ở gà, bệnh sán lá ruột là bệnh tương đối phổ biến và gây nhiều thiệt hại cho chăn nuôi gà Theo Phạm Sỹ Lăng và
cs (2004) [14], bệnh sán lá ruột thường diễn ra quanh năm, ở mọi lứa tuổi gà; bệnh xảy ra ở khắp các vùng miền trong cả nước, làm giảm khả năng sinh trưởng, phát triển và giảm sức đề kháng với các tác nhân gây bệnh
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất trong việc khống chế dịch bệnh nói chung và bệnh ký sinh trùng nói riêng, nhằm bảo vệ sức khoẻ của đàn gia cầm nói chung, đàn gà nói riêng và nâng cao khả năng cho sản phẩm của chúng, đồng thời có cơ sở đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh sán lá ruột một cách có hiệu quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi hiện nay, tôi thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương tỉnh Thanh Hóa và biện pháp phòng trị”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh lý lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán lá ruột ở gà
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về bệnh sán lá ruột ở gà tại tỉnh Thanh Hóa, từ đó có cơ sở
để xây dựng quy trình phòng, trị bệnh sán lá ruột cho gà
Trang 134 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin
khoa học về đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh lý lâm sàng và biện pháp phòng
trị bệnh sán lá ruột cho gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Thanh Hóa
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề ra những biện pháp phòng trị bệnh sán lá ruột ở
gà có hiệu quả, nhằm hạn chế sự nhiễm sán lá ruột cho gà, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Sán lá ký sinh ở ruột gà
1.1.1.1 Thành phần loài sán lá ruột ký sinh ở gà
Sán lá ký sinh ruột gia cầm nói chung và ở gà nói riêng gồm nhiều loài
thuộc lớp Trematoda Rudolphi 1808
Ở Việt Nam, thành phần loài sán lá ruột của rất phong phú, phân bố rộng ở khắp các vùng miền trong cả nước và gây tác hại lớn đối với ngành chăn nuôi Số lượng, thành phần các loài sán lá ruột ký sinh ở gà đã được một
số tác giả nghiên cứu và tổng hợp
NGÀNH PLATHELMINTHES SCHNERDER, 1873
LỚP SÁN LÁ RUDOLPHI, 1808
Phân lớp Prosostomata Skrjabin et Gusechanskaja, 1962
Bộ Brachylaemida Odening, 1960
Họ Brachylaemidae Stiles et Hassai, 1898
Giống Prostharmostomum Witenberg, 1923
Loài Prostharmostomum annamense Railliet, 194
Loài P commutatum Diesing,1858
Bộ Faciolida Skrjabin et Shutz, 1935
Phân bộ Echinostomata Szidat, 1936
Họ Echinostomatidea Dietz, 1909
Giống Echinostoma Rudolphi, 1809
Loài Echinostoma revolutum Fruhlich, 1802
Loài E aegyptica Khalid Abaza, 1924 Loài E miyagawai Ishii, 1932
Giống Echinoparyphium Dietz, 1909
Loài E recurvatum Linstow, 1873
Loài E paracinctum Richowskaja, 1953
Giống Hypoderacum Dietz, 1909
Loài Hypoderacum conoideum Bloch, 1972
Trang 15Giống Paryphostomum Dietz, 1909
Loài Paryphostomum norvum Verma, 1936
Giống Petasige Dietz, 1909
Loài Petasige bresicauda Ishii, 1935
Họ Echinochasmidae Odhner, 1910
Giống Echinochasmus Linstow, 1873
Loài Echinochasmus japonicus Tanabe, 1926
Họ Philophthalmidae Travassos, 1918
Giống Philophthalmus Travassos, 1918
Loài Philophthalmus gralli Mathis et Lerger, 1910
Bộ Notocotylida Skrjabin et Shutz, 1937
Họ Notocotylidae Luhe, 1909
Giống Notocotylus Diesing, 1839
Loài Notocotylus eagypticus Odhner, 1905
Loài N intestinalis Tabangui, 1932
Giống Catatropis Odhner, 1905
Loài Catatropis verrucosa Frohlich, 1789
Bộ Opisthorchida La Rue, 1957
Phân bộ Opisthorchiata La Rue, 1957
Họ Opisthorchidae Braun, 1901
Giống Opisthorchis Blanchard, 1895
Loài Opisthorchis paragenminus Oschmarin, 1970
Phân bộ Heterophyata Morosov, 1955
Họ Heterophyidae Odhner, 1914
Giống Opisthorchis Onjiet Nishio, 1919
Loài Opisthorchis gallinae Oschmarin, 1970
Họ Haplorchidae Looss, 1899
Giống Procerovum Onji et Nishio, 1916
Loài Procerovum cheni Hsu, 1950
Bộ Plagiorchiida La Rue, 1957
Phân bộ Plagiorchiata La Rue, 1957
Họ Microphallidae Travassos, 1920
Giống Martrema Nicoli,1970
Loài Martrema subdolum Jagerakiold, 1909
Trang 16Họ Prosthogonimidae Nicoli, 1924
Giống Prosthogonimus Luhe, 1899
Loài Prosthogonimus ovatus (Rud., 1803)
Loài P cuneatus (Rud., 1809) Loài P fucifer Railliet, 1925 Loài P sinensis Ku, 1906 Loài P ventroporus Oschmarin, 1970
Bộ Strigeidida La Rue, 1926
Phân bộ Cyathocotylata Sudarikov, 1959
Họ Cyathocotylidea Poch, 1925
Giống Cyathocotyle Muhling, 1896
Loài Cyathocotyle orientalis Franst, 1923
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10]; Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch
Lân (2001) [13], những loài sán lá phổ biến ở gà Việt Nam là: Echinostoma
revolutum, E miyagawai, E recurvatum, E paracinctum, Prosthogonimus ovatus, P cuneatus
1.1.1.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo của một số loài sán lá ruột ký sinh phổ biến ở gà
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [30], hình thái chung của sán lá ruột
là cơ thể dẹt, có dạng hình lá, có 2 giác bám (giác miệng và giác bụng) Kích thước có thể rất biến đổi, bé nhất khoảng vài mm và lớn nhất không vượt quá 2
cm Cơ thể phủ lớp tiểu bì (gai cutin), xung quanh giác miệng có móc kitin lớn Các giác bám, móc bám, gai, vẩy giúp sán bán chắc vào ruột của vật chủ Sán
lá không có hệ tuần hoàn và hô hấp Nội quan gồm có hệ tiêu hoá, bài tiết, thần kinh và sinh dục
* Đặc điểm loài sán lá ruột Echinostoma revolutum, (Frohlich,
1802) Dietz, 1908
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1993) [25], Nguyễn Thị Lê (2000) [32],
loài Echinostoma revolutum được mô tả như sau:
Chiều dài trung bình cơ thể dao động từ 5,72 - 6,98 mm, chiều rộng từ 1,12 - 1,42 mm Tuy nhiên, có nhiều cá thể đạt kích thước 10,32 - 13,32 x
Trang 172,40 - 2,50mm Viền cổ rộng 0,73 - 1,03 mm Có 37 móc gồm 15 móc lưng xếp thành 2 hàng, kích thước 0,101- 0,109 x 0,025 mm Mỗi thùy bên có 6 móc (0,093 - 0,126 x 0,029 mm) và 5 móc thùy bụng (0,093 – 0,122 x 0,025 mm) Kích thước giác miệng 0,23 - 0,44 x 0,27 - 0,45 mm Trước hầu dài 0,13- 0,16 mm Hầu 0,15-0,37 x 0,15 – 0,27mm Thực quản dài 0,86 - 1,14
mm Giác bụng phát triển, kích thước 0,69 - 1,22 x 0,69 - 1,18 mm Hai nhánh ruột kéo dài về mút sau cơ thể
Tinh hoàn hình ovan hoặc hơi phân thùy theo chiều dọc Kích thước tinh hoàn trước 0,34 - 1,41 x 0,43 - 1,06 mm, tinh hoàn sau 0,36 - 1,41 x 0,34 - 1,04
mm Túi sinh dục nằm ở mặt lưng ở nửa trước giác bụng, bên trong chứa túi chứa tinh hình ống Kích thước túi sinh dục 0,234 - 0,453 x 0,069 - 0,314 mm
Buồng trứng tròn hoặc ô van, nằm trước tinh hoàn, kích thước 0,18 - 0,43 x 0,25 - 0,645 mm Thể mêlit nằm ngay sau buồng trứng và có kích thước lớn hơn buồng trứng
Tuyến noãn hoàng nằm 2 bên cơ thể, bắt đầu từ phía sau giác bụng kéo dài đến mút sau cơ thể, không che lấp hai mút nhánh ruột và khoảng trống phía sau tinh hoàn
Tử cung tương đối dài, chứa nhiều trứng Trứng hình ôvan, màu vàng sáng, kích thước 0,076 - 0,105 x 0,051 - 0,084 mm Ống bài tiết chính ở phần sau cơ thể, gấp khúc 1- 2 vòng trước lỗ thoát Ở những sán già, tử cung không còn trứng, các cơ quan sinh dục như buồng trứng, tinh hoàn, tuyến noãn hoàng có xu hướng teo đi
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2004) [14], Chu Thị Thơm và cs (2006)
[48] loài Echinostoma revolutum dài 3-13mm, rộng 0,88 - 2mm, vành khăn có
35-37 móc nhỏ; tử cung xếp có thứ tự, ngay sau giác bụng và chứa nhiều trứng; trứng hình bầu dục, dài 0,009 - 0,132mm, rộng 0,05 - 0,073mm, màu vàng, một đầu trứng có nắp
Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [46] cho biết: sán dài 10 - 22 mm, rộng 2 - 2,5 mm; thân có màu hồng hay đỏ nhạt, dẹt, đoạn trước có chỗ thu hẹp lại thành cái cổ
Trang 18* Đặc điểm loài Echinostoma miyagawai Ishii, 1932
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1993) [25], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [30], Nguyễn Thị Lê (2000) [32], loài này có hình thái cấu tạo như sau:
Cơ thể sán dài 6,9 - 12,0 mm, rộng nhất ở vùng tử cung và tinh hoàn 0,77 - 2,32 mm Bề mặt phía trước cơ thể đến ngang buồng trứng phủ gai bé Viền cổ rộng 0,54 - 0,67 mm, có 37 móc gồm 13 móc lưng xếp thành 2 hàng,
7 móc bên và 5 móc thùy bụng mỗi bên Kích thước móc bên 0,89 - 0,093 x 0,23 mm, móc thùy bụng 0,089 - 0,096 x 0,023 mm
Giác miệng 0,19 - 0,23 x 0,21 - 0,29 mm Giác bụng 0,57 - 0,91 x 0,57 - 0,63 mm, nằm gần ở 1/4 chiều dài cơ thể Trước hầu dài 0,075 - 0,084 mm Hầu 0,230 - 0,320 x 0,251 - 0,258 mm Thực quản dài 0,77 - 0,93 mm Hai nhánh ruột kéo dài về mút sau cơ thể, thường bị tuyến noãn hoàng che lấp
Túi sinh dục nằm chính giữa nhánh ruột chẻ đôi và giác bụng, đáy túi kéo dài đến giữa giác bụng, kích thước 0,32 - 0,49 x 0,21 - 0,32 mm
Tinh hoàn phân thùy, hình dạng rất biến đổi, thường từ 3 đến 7 thùy sâu Kích thước tinh hoàn trước 0,39 - 0,62 x 0,36 - 0,49 mm
Buồng trứng hình ôvan, kích thước 0,27 - 0,36 x 0,27 - 0,38 mm Thể mêlit nằm ngay sau buồng trứng, kích thước 0,19 - 0,39 x 0,23 - 0,25 mm
Tuyến noãn hoàng nằm hai bên cơ thể, bắt đầu từ phía sau giác bụng kéo dài đến mút sau cơ thể và lấp đầy khoảng trống phía sau tinh hoàn, che lấp cả 2 mút ruột Ống bài tiết thẳng, không gấp khúc ở phần cuối cơ thể Tử cung phát triển, chứa nhiều trứng, kích thước 0,089 - 0,093 x 0,053 - 0,056 mm
* Đặc điểm loài sán lá ruột Echinostoma paraulum Dietz, 1909
Kích thước từ 6 - 10 mm x 0,8 - 1,4 mm, vòng gai miệng gồm 37 gai,
27 gai nằm ở vòng phía lưng và hai cạnh bên mỗi bên 5 gai Giác miệng đường kính 0,25 - 0,3 mm, giác bụng 0,72 - 0,88 mm ở khoảng cuối 1/4 thân trước Thực quản dài 0,4 - 0,6 mm
Hai tinh hoàn xếp trên dưới nhau, cái trên thường có 3 thuỳ, cái dưới bốn thuỳ Buồng trứng ở ngay sát trước tinh hoàn Kích thước trứng 0,100 x 0,070 mm (Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [46])
Trang 19* Đặc điểm loài sán lá ruột Echinoparyphium recurvatum Linstow, 1873
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [30], Nguyễn Thị Lê (2000) [32], loài này có đặc điểm:
Kích thước cơ thể bé, dài 2,48 mm, rộng 0,45 mm (ở vùng giác bụng)
Bề mặt cơ thể ở phía trước đến ngang giác bụng phủ gai cutin lớn Viền cổ có
45 móc, mỗi thùy bụng có 4 móc, kích thước 0,044 - 0,065 x 0,009 - 0,012
mm Còn lại 37 móc xếp thành 2 hàng, kích thước 0,042 - 0,049 x 0,009 mm
Giác miệng 0,008 x 0,105 mm Hầu 0,088 x 0,084 mm Giác bụng tròn hoặc kéo dọc, nằm ở 1/3 chiều dài của cơ thể, kích thước 0,297 x 0,258 mm Thực quản dài 0,28 m, hai nhánh ruột kéo dài đến mút sau cơ thể
Túi sinh dục hình bầu dục, nằm giữa nhánh ruột chẻ đôi và giác bụng, kích thước 0,252 x 0,105 mm
Tinh hoàn hình ôvan, cái này nằm sau cái kia ở nửa sau cơ thể Tinh hoàn trước 0,297 x 0,193 mm, tinh hoàn sau 0,320 x 0,172 mm
Buồng trứng tròn hoặc hình ôvan, nằm trước tinh hoàn, đường kính 0,127mm Thể mêlit lớn, nằm giữa buồng trứng và tinh hoàn trước Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn lớn kéo dài từ sau giác bụng đến gần mút cơ thể Tử cung ngắn, chứa ít trứng, kích thước trứng 0,077 - 0,084 x 0,051 mm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2004) [14], Chu Thị Thơm và cs (2006) [48],
loài Echinoparyphium recurvatum: Dài 2 - 5 mm, rộng 0,4 - 0,85 mm Phần
trước thân có những gai cuticun nằm thứ tự xen kẽ nhau Đầu sán có cấu tạo vành khăn hình quả thận, đường kính 0,220 - 0,385 mm Trứng có màu vàng nâu, hình bầu dục, vỏ nhẵn, một đầu trứng có nắp, đầu còn lại có chồi nhỏ Kích thước trứng từ 0,082 - 0,098 mm x 0,053 - 0,061mm
Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [46] đã mô tả:
Sán dài 4,5 mm, rộng 0,5 - 0,8 mm Vòng gai đầu có 45 móc, trong đó
ở hai góc mỗi bên có bốn cái, hai cạnh bên có ba cái Tinh hoàn không chia thuỳ, hình bầu dục và xếp sát nhau
Trang 20* Đặc điểm loài Echinoparyphium paracinctum Bychowskaja-
Pawlowskaja, 1953
Nguyễn Thị Lê (2000) [32] đã mô tả:
Cơ thể sán dài 6,0 mm, rộng 1,0 mm Bề mặt cơ thể ở phía trước đến mép sau giác bụng phủ gai bé Viền cổ rộng 0,37 - 0,48 mm, có 43 móc xếp thành 2 hàng, kích thước 0,064 x 0,012 mm Mỗi thùy bụng có 5 móc Giác miệng nhỏ hơn giác bụng 5 - 5,5 lần Giác bụng 0,26 - 0,39 x 0,26 - 0,36 mm
Túi sinh dục kéo dài đến giữa giác bụng, kích thước 0,213 - 0,267 x 0,100 - 0,120 mm
Tinh hoàn hình bầu dục, kích thước 0,26 - 0,406 x 0,13 - 0,21 mm Buồng trứng hình ôvan, kích thước 0,23 x 0,13 mm Tử cung chứa 7 - 19 trứng, kích thước trứng 0,096 - 0,106 x 0,053 mm
* Đặc điểm loài sán Hypoderaeum conoideum (Bloch, 1782) Dietz, 1909
Nguyễn Thị Lê (2000) [32] đã mô tả như sau:
Cơ thể sán dài 8,02 - 13,26 mm, rộng 1,39 - 2,02 mm, phần trước cơ thể phủ gai Đầu ngắn, đĩa bám kém phát triển, rộng 0,414 - 0,621 mm Có 47
- 53 móc, xếp thành 2 hàng, móc lưng 0,015 - 0,027 x 0,007 - 0,013 mm, móc bên 0,027 - 0,030 x 0,010 mm, móc bụng 0,033 x 0,013 - 0,015 mm Giác miệng 0,165 - 0,276 x 0,193 - 0,331 mm Trước hầu dài 0,027 mm Hầu 0,151
- 0,234 x 0,138 - 0,234mm Thực quản dài 0,096 - 0,207 mm Giác bụng lớn nằm gần giác miệng, kích thước 0,828 - 1,131 x 0,876 - 1,150 mm Hai nhánh ruột chẻ đôi trước giác bụng kéo dài đến mút sau cơ thể
Tinh hoàn hình ôvan, cái này nằm sau cái kia, ở chính giữa nửa sau cơ thể, kích thước tinh hoàn trước 0,690 - 1,352 x 0,345 - 0,579 mm và tinh hoàn sau 0,828 - 1,352 x 0,303 - 0,552 mm
Túi sinh dục hình ôvan hoặc hình quả lê, đáy túi kéo dài đến giữa giác bụng chứa túi chứa tinh và gai sinh dục dài, kích thước 0,690 - 0,828 x 0,276
mm Lỗ sinh dục nằm ngay sau nhánh ruột chẻ đôi
Trang 21Buồng trứng hình ôvan, nằm ngang phía trước tinh hoàn, kích thước 0,248 - 0,414 x 0,372 - 0,455 mm Thể mêlit nằm ngay sau buồng trứng tuyến noãn hoàng bắt đầu ở phía sau giác bụng, kéo dài đến mút sau cơ thể nhưng không che lấp hai mút ruột Tử cung dài chứa nhiều trứng, kích thước trứng 0,082 - 0,090 x 0,055 - 0,060 mm
* Đặc điểm loài sán Notocotylus aegyptiacus Odhner, 1905
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [30] đã mô tả như sau: Cơ thể dài 3,31mm, rộng 0,96 mm Giác miệng 0,16 x 0,18 mm; thực quản dài 0,21 mm; tinh hoàn phân thùy, kích thước 0,66 x 0,3 mm; túi sinh dục 0,8 x 0,06 mm; buồng trứng phân thùy 0,275 x 0,225 mm, trứng 0,02 x 0,013 mm
* Đặc điểm loài sán Notocotylus intestinalis, Tubangui, 1932
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [30], đã mô tả như sau:
Cơ thể dài 3,2 mm, rộng 0,77 mm; ở mặt bụng có 3 tuyến, mỗi hàng bên 16 tuyến, hang giữa 15 tuyến; giác miệng 0,11 mm đường kính; thực quản dài 0.113 mm; tinh hoàn 0,610 x 0,260 mm; túi sinh dục dài 0,76 mm; trứng 0,015 x 0,012 mm
1.1.1.3 Vòng đời của sán lá ruột gà
Vòng đời của sán lá ruột gà tương đối phức tạp và đa dạng, có sự tham gia của vật chủ trung gian (phát triển gián tiếp) Chỉ có các loài sán lá thuộc
bộ Aspidogastredida phát triển không qua vật chủ trung gian (phát triển trực tiếp) (Nguyễn Thị Lê (2000) [32])
Ấu trùng của sán lá phát triển với sự xen kẽ thế hệ và thay đổi vật chủ; thế hệ lưỡng tính xen kẽ với thế hệ đơn tính một hoặc hai vật chủ trung gian Vật chủ trung gian thứ nhất là nhuyễn thể Vật chủ trung gian thứ hai cũng có thể là nhuyễn thể và một số nhóm động vật khác: giun tơ, giáp xác, côn trùng,
cá (các động vật này rất khác nhau trong cây chủng loại phát sinh) Nhiều loài sán lá trong quá trình phát triển có thể có thêm vật chủ chứa (cá, lưỡng cư
và các động vật khác)
Trang 22Vòng đời phát triển chung của sán lá:
+ Sán trưởng thành sống ký sinh trong cơ thể vật chủ cuối cùng, thải trứng ra môi trường ngoài cùng với phân vật chủ Phần lớn trứng sán lá có tế bào phôi (họ Fasciolidae, Echinostomatidae, Paramphistomatidae ), ở một
số loài trứng thải ra ngoài đã chứa ấu trùng miracidium (họ Dicrocoeliidae) + Trứng gặp điều kiện thích hợp (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng ) tế bào phôi phân chia, phát triển và hình thành ấu trùng miracidium Miracidium ra khỏi trứng, bơi trong nước để tìm và xâm nhập vào vật chủ trung gian thích hợp là nhuyễn thể Ở một số khác (họ Opithorchidae, Dicrocoeliidae .) miracidium không chui ra khỏi trứng mà chu trình được tiếp tục là do nhuyễn thể nuốt phải trứng có chứa miracidium Trong cơ thể vật chủ trung gian, miracidium phát triển thành sporocyst không hoạt động, bên trong chứa các tế bào mầm, các tế bào này phát triển thành redia Từ các tế bào mầm trong redia sẽ hình thành ấu trùng cercaria
+ Miracidium dài 0,020 - 0,340mm, có mắt, cơ thể phủ tiêm mao, giúp
ấu trùng bơi trong nước Ở đỉnh đầu cơ thể có cơ quan đặc biệt (tuyến xâm nhập, stiles - gai xâm nhập) giúp ấu trùng xâm nhập vào vật chủ trung gian Phần sau cơ thể chứa các tế bào mầm Hệ bài tiết cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận Hệ thần kinh gồm có hạch thần kinh và hai dây thần kinh
+ Sporocyst dài 1 - 6mm, dạng túi hoặc hình tròn có chứa các tế bào mầm Sporocyst con phát triển trong Sporocyst mẹ, có kích thước bé hơn + Redia phát triển trong Sporocyst, có hình dạng túi dài, đỉnh đầu cơ thể
có hầu cơ phát triển, có ruột hình túi Từ các tế bào mầm hình cầu trong redia phát triển thành redia con, hoặc cercaria
+ Cấu tạo của cercaria đặc trưng cho mỗi loài; thường có giác miệng và giác bụng; cơ quan tiêu hoá, thần kinh, bài tiết giống sán lá trưởng thành Ở đỉnh đầu cơ thể có tuyến xâm nhập hoặc gai (stiles) giúp ấu trùng xâm nhập vào vật chủ trung gian thứ hai Phần sau cơ thể chứa các mầm tuyến sinh dục
Đa số ceracria có đuôi để bơi trong nước Đôi khi đuôi chẻ đôi (họ
Trang 23Schistosomatidae) Ở nhiều loài, cercaria có tuyến tạo nang Phần lớn các loài sán lá, cercaria tự chui ra khỏi cơ thể vật chủ trung gian thứ nhất bơi tự do trong nước tìm vật chủ trung gian thứ hai, xâm nhập và hoá nang thành dạng
ấu trùng metacercaria (Echinostomatidae, Opisthorchidae ) Ở một số loài sán lá, cercaria bám vào giá thể hoặc cây cỏ thuỷ sinh hoặc trên váng nước, rụng đuôi hoá thành adolescaria
+ Vật chủ cuối cùng nhiễm bệnh sán lá do ăn phải ấu trùng cảm nhiễm adolescaria hoặc vật chủ chứa có chứa metacercaria Trong cơ thể của gà, ấu trùng sẽ di chuyển đến các nội quan và phát triển thành sán lá trưởng thành Chỗ ở của sán lá ký sinh ở gà rất khác nhau, thường là hệ tiêu hoá, cơ quan sinh dục (Nguyễn Thị Lê (2000) [32])
1.1.1.4 Ký chủ trung gian của sán lá ruột gà
Ký chủ trung gian đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bệnh sán lá ruột ở gà và các loài vật nuôi khác
Ký chủ trung gian thứ nhất của sán lá ruột ký sinh ở gà là những loài ốc nước ngọt: Radix ovata, Radix cularia, Galba palustris, Planorbis limnaea Ký chủ trung gian bổ sung cũng là những ốc nước ngọt thuộc các giống Radix, Planorbis
và nòng nọc (Rana temporaria) (Phan Thế Việt và cs (1977) [50])
Soulsby E.J.L (1982) [70] cho biết: Loài Echinostoma revolutum có ký
chủ trung gian thứ nhất là các loài ốc nước ngọt: Lymneae stagnalis, L.attenuate, (Radix) pereger hay L.swnhoei Ký chủ trung gian thứ 2 là các loài ốc trên hoặc nòng nọc Rana temporaria
Echinoparyphium recuvatum: Ký chủ trung gian thứ nhất là các loài ốc nước
ngọt: Lymnaea ovata, L.auricularia, L.palustris, L.stagnalis, Planorbis P.corneus ,
Ký chủ trung gian thứ 2 là ếch, nòng nọc và một số ốc nước ngọt khác
Ở nước ta chưa có công trình nghiên cứu về ký chủ trung gian của các loài sán lá ruột ký sinh ở gà
Theo Bùi Thị Dung và cs (2007) [3], nghiên cứu về tình hình nhiễm ấu trùng sán lá ở ốc nước ngọt và vai trò của ốc trong sự truyền bệnh sán lá cho
Trang 24người và vật nuôi tại huyện Nghĩa Hưng (Nam Định), các tác giả cho biết: qua thu thập 10879 mẫu ốc nước ngọt thuộc 16 loài, có 639 ốc bị nhiễm ấu trùng sán lá, chiếm tỷ lệ 5,78% Trong 16 loài ốc, có 8 loài ốc nhiễm ấu trùng sán lá, đây là những loài đóng vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá cho người và vật nuôi Tác giả tìm thấy ấu trùng của 10 loài sán lá ký sinh ở các loài ốc thu được, thuộc 6 nhóm cercaria, trong đó có nhóm cercaria của
các loài thuộc giống Echinostoma, nhóm này chiếm tỷ lệ 24,56% và là 1 trong
3 nhóm gây bệnh sán lá cho người và vật nuôi
1.1.2 Bệnh sán lá ruột ở gà
Bệnh sán lá ruột ở gà do nhiều loài sán gây ra, sán lá ruột không những gây bệnh cho gà, vịt, ngỗng, bồ câu, một số loài chim hoang mà còn gây bệnh cho một số động vật có vú khác và kể cả con người Các loài sán lá ruột gây
bệnh phổ biến là các loài thuộc họ Echinostomatidae
1.1.2.1 Dịch tễ học bệnh sán lá ruột gà
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2004) [14], Chu Thị Thơm và cs (2006) [48] cho biết: bệnh sán lá ruột gia cầm gặp phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, ở nước ta bệnh thấy ở khắp các vùng Bệnh phân bố ở hầu hết các tỉnh miền Bắc nước ta, loài phổ biến và gây nhiều thiệt hại cho gia cầm là
Echinostoma revolutum Gia cầm bị nhiễm nhiều, bệnh phát nặng ở vùng
đồng bằng, nhất là những nơi gần ao, hồ, ruộng, vũng nước có nhiều ký chủ
bổ sung
Bệnh phát quanh năm, nhưng gia cầm mắc bệnh tăng vào mùa hè, khi nhuyễn thể và nòng nọc phát triển nhiều Cuối thu và đông, nhiệt độ giảm xuống, số lượng nhuyễn thể, nòng nọc giảm đi; gia cầm ít tiếp xúc với ký chủ trung gian thì mức độ nhiễm cũng giảm
Những gia cầm thường xuyên tiếp xúc với nước như vịt, ngỗng mức
độ nhiễm sán nặng hơn những gia cầm ở cạn như gà, gà tây
Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1976) [8] cũng cho rằng: bệnh phổ biến ở khắp các vùng trong cả nước, vùng đồng bằng nhiễm nhiều hơn so với vùng núi
và trung du; gà nuôi nhốt chung với vịt, ngan ngỗng là những loài thường xuyên tiếp xúc với nước nên mức độ nhiễm cao
Trang 25Nguồn gieo rắc mầm bệnh ra ngoài môi trường, không những là gà, vịt, ngan, ngỗng, bồ câu mà còn gặp ở các động vật khác như chuột, các loài chim hoang
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [11] cho biết: yếu tố đầu tiên và quan trọng chi phối thành phần loài của khu hệ ký sinh trùng ở động vật là tuổi của vật chủ
Nghiên cứu khu hệ sán lá ở chim và thú vùng Hà Bắc nước ta Nguyễn Thị Lê (1980) [20] cho rằng: gà, vịt, ngan nhiễm giun sán quanh năm, nhưng cao nhất vào tháng 4, tháng 9; thấp nhất vào tháng 2, tháng 3, tháng 10 và tháng 11
1.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh của bệnh sán lá ruột gà
Sán lá ruột gây bệnh thông qua những tác động gây hại như: chiếm đoạt chất dinh dưỡng, đầu độc và tác động cơ giới nhưng chủ yếu gây bệnh bằng tác động cơ giới, sán trưởng thành dùng giác bám bám chặt vào niêm mạc ruột non làm tổn thương niêm mạc ruột gây viêm ruột
Theo Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Dương Thái (1978) [46], Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2001) [13], sán ký sinh trong đường tiêu hoá gây viêm niêm mạc đường tiêu hoá và các tuyến tiêu hoá Sán ký sinh ở các vị trí khác nhau nhưng tác động gây bệnh cho ký chủ tập trung vào các tác động cơ giới, chiếm đoạt chất dinh dưỡng và đầu độc
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [9] cho biết: các móc bám, giác bám của sán ký sinh bám vào các cơ quan gây ra những tổn thương cơ học dẫn tới viêm loét, xuất huyết và hoại tử các nội quan, đặc biệt là cơ quan tiêu hoá
Nguyễn Thị Lê (1998) [31] cho rằng: đôi khi vật ký sinh không sử dụng trực tiếp thức ăn của vật chủ mà lấy các vitamin của vật chủ làm thức
ăn, hoặc tiết ra các chất ức chế các men làm giảm khả năng trao đổi chất bình thường của cơ thể vật chủ
Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Dương Thái (1978) [46] cho biết: tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng diễn ra liên tục trong thời gian dài với số lượng lớn các loài giun sán ký sinh sẽ làm cho con vật còi cọc, thiếu máu, gầy còm và có thể
Trang 26gây chết Những tác động bắt buộc để giun sán tự nuôi sống đó là ăn các mô, cướp một phần thức ăn của ký chủ, hút máu của ký chủ
Trong quá trình sống ký sinh, một số giun sán phân tiết, bài xuất những chất độc, ký chủ hấp thu và bị trúng độc với những biểu hiện rối loạn thần kinh (co giật, run rẩy, đi đứng siêu vẹo ), gây dung huyết, thiếu máu (Theo Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Dương Th (1978) [46]) Trong trường hợp độc tố làm biến đổi thành phần máu thường làm tăng số lượng bạch cầu ái toan và dẫn tới những biến đổi bệnh lý của vỏ não (Nguyễn Thị Lê (1998) [31])
1.1.2.3 Triệu trứng và bệnh tích bệnh sán lá ruột gà
Gà mắc bệnh nặng hay nhẹ tuỳ thuộc vào số lượng sán nhiều hay ít, triệu chứng chủ yếu thường gặp là: gà còi cọc, chậm lớn, ít vận động, kém ăn, ỉa chảy, phân lẫn máu, giảm đẻ, giảm sản lượng trứng, trứng vỏ mỏng dễ vỡ, một số trường hợp có hội chứng thần kinh
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [10], độc tố của sán dây gây tác động đến hệ thần kinh, làm cho gà mệt mỏi, ít vận động, đứng ủ rũ trong bóng tối Gà con bị bệnh thể cấp tính có thể bỏ ăn, hôn mê, lên cơn động kinh và chết Đồng thời, sán dây lấy chất dinh dưỡng của vật chủ làm gà gầy yếu, thiếu máu, thể hiện rõ nhất là niêm mạc vàng, nhợt nhạt, mào và dái tai gà xanh tái Phân lỏng, có nhiều đốt sán Gà bị nhiễm nặng giảm tăng trọng rõ rệt đối với gà nuôi thịt và giảm sản lượng trứng đối với gà đẻ
Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [9], Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [44], khi gia cầm nhiễm sán với cường độ cao có biểu hiện: yếu toàn thân, ỉa chảy, kiệt sức nhanh, ngừng sinh trưởng phát triển, thường
bị chết do kiệt sức
Nghiên cứu về triệu chứng của gà bị nhiễm sán lá ruột Phạm Sỹ Lăng
và cs (2001) [13], (2004) [14] cho biết: khi nhiễm sán ở cường độ cao gia cầm
có biểu hiện yếu toàn thân, ỉa chảy đôi khi có lẫn máu, kiệt sức nhanh, suy nhược, lông xơ xác, mất khả năng sinh sản, ngừng sinh trưởng, phát triển, thường bị chết do kiệt sức Mổ khám gà mắc bệnh thấy bệnh tích chủ yếu: niêm mạc ruột viêm, chảy máu, viêm cata ở từng vùng
Trang 27Nguyễn Thát (1975) [43] cho rằng: triệu chứng bệnh sán lá ruột phụ thuộc vào cường độ nhiễm sán lá Ở gà non thường thấy bỏ ăn, ỉa chảy và gầy yếu; ở gà trưởng thành thường gầy yếu, chậm lớn, giảm đẻ, giảm tăng trọng Khi mổ khám thường thấy ruột non viêm chảy máu, quá trình viêm lây lan đến manh tràng, trong manh tràng có chất vữa hoá, thành ruột mỏng
1.1.2.4 Chẩn đoán bệnh sán lá ruột ở gà
Căn cứ vào kết quả chẩn đoán lâm sàng chúng ta thu được những thông tin về tình trạng sức khoẻ của từng cá thể cũng như tổng thể của đàn Vì vậy việc chẩn đoán lâm sàng có ý nghĩa rất lớn trong công tác phòng bệnh Chẩn đoán bệnh sán lá ruột ở gà có thể tiến hành trên cả gà sống hay gà đã chết
- Đối với gà còn sống: Để chẩn đoán gà bị bệnh sán lá ruột cần quan sát những biểu hiện lâm sàng như: thể trạng gà gầy yếu, ỉa chảy, lông xù đồng thời phải căn cứ vào những đặc điểm dịch tễ như tuổi mắc bệnh, mùa vụ và phương thức chăn nuôi Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những biểu hiện lâm sàng và các đặc điểm dịch tễ để chẩn đoán gà mắc bệnh sán lá ruột sẽ khó chính xác, vì bệnh ký sinh trùng thường có những biểu hiện lâm sàng tương
tự nhau Để chẩn đoán chính xác gà bị bệnh sán lá ruột phải tiến hành xét nghiệm phân tìm trứng sán bằng phương pháp gạn rửa sa lắng (Benedek)
- Đối với gà đã chết hoặc nghi mắc bệnh: dùng phương pháp mổ khám kiểm tra bệnh tích và tìm sán ký sinh
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [11], chẩn đoán bệnh ở gia cầm nói chung có thể dựa trên nguyên tắc chẩn đoán lâm sàng sau: sử dụng tổng hợp các phương pháp chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh một cách hệ thống nhằm phát hiện kịp thời một số triệu chứng lâm sàng của bệnh
Theo Hồ Văn Nam (1982) [40], phương pháp chẩn đoán trên động vật sống qua theo dõi triệu chứng lâm sàng và kiểm tra bệnh tích thường được dùng phổ biến
Cao Xuân Ngọc (1997) [42] đã giới thiệu phương pháp giải phẫu bệnh
để xác định bệnh tích đại thể của bệnh
Trang 28Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [44] chẩn đoán bệnh giun sán không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng như các bệnh khác, triệu chứng của bệnh giun sán không điển hình, nên cần phải tìm thấy căn bệnh bằng cách phát hiện trứng, ấu trùng hoặc giun sán trưởng thành
Hà Duy Ngọ (1990) [51] nhận xét: phương pháp kiểm tra tìm trứng, ấu trùng là phương pháp kinh điển chủ yếu để xác định giun sán ký sinh ở vật chủ
Theo Bowman D.D (1995) [55], Bowman D.D và Lynn R.C (1999) [56] có thể sử dụng các phương pháp miễn dịch để chẩn đoán bệnh ký sinh trùng như phương pháp ngưng kết (SAT), phương pháp ELISA và phương pháp huỳnh quang gián tiếp IFAT
Những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước cho thấy: Để chẩn đoán bệnh giun sán nói chung, bệnh sán lá ruột ở gà nói riêng có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng đơn giản và được sử dụng nhiều nhất là các phương pháp: quan sát những biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh, xét nghiệm mẫu phân tìm trứng, phương pháp mổ khám; nhưng phương pháp chẩn đoán chính xác nhất là mổ khám
1.1.2.5 Phòng trị bệnh sán lá ruột ở gà
* Phòng bệnh:
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2004) [14], sán lá ruột gây tác hại rất lớn đối với chăn nuôi gia cầm, cho nên việc phòng bệnh sán lá ruột là rất cần thiết, người chăn nuôi cần phải thực hiện nghiêm túc các biện pháp tổng hợp sau:
- Vệ sinh sạch sẽ chuồng nuôi, khu vực chăn nuôi
- Định kỳ diệt sạch sán trong cơ thể gia cầm bằng các thuốc tẩy trừ
- Thu gom phân hàng ngày và tiêu diệt trứng sán thải ra ngoài bằng cách ủ phân
- Diệt ký chủ trung gian (ốc, nòng nọc ), ký chủ bổ sung ở khu vực chăn thả bằng vôi bột
Trang 29- Không nuôi nhốt chung gà với vịt
- Ở những nơi ao hồ có nhiều mầm bệnh, gia cầm non phải được nuôi đến 2 - 3 tháng tuổi trên những sân khô ráo
- Không làm chuồng ở gần ao hồ, ruộng nước
- Đảm bảo nguồn thức ăn đủ về số lượng và chất lượng Bổ sung thêm các loại thức ăn giàu vitamin, nguyên tố vi lượng
- Không làm ô nhiễm nguồn nước sử dụng trong chăn nuôi gà
- Thực hiện vệ sinh thú y chuồng trại và môi trường chăn nuôi gà Chuồng nuôi gà giữ sạch sẽ, khô ráo
Theo quan điểm của Skrjabin K.I (1963) [53] muốn thanh toán bệnh giun sán phải dự phòng có tính chủ động: Dùng tất cả các phương pháp vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), hoá học (thuốc), cơ giới, sinh học để tiêu diệt giun sán trên cơ thể ký chủ, ở ngoại cảnh và ở tất cả giai đoạn phát dục (trứng, ấu trùng, giun sán trưởng thành)
* Điều trị:
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [48] cho biết, một số thuốc và liều lượng thuốc dùng để tẩy sán lá ruột cho gia cầm như sau: Arecolin: liều 0,002 g/kg thể trọng, pha dưới dạng dung dịch, nồng độ 1:1000 Devermin: 60mg/1gia cầm Fenbendazol: 40mg/kg TT Praziquantel: 20 - 25 mg/kgTT Theo Phan Địch Lân và cs (1996) [18], sử dụng Mebendazole liều 30 - 60mg/kg thể trọng có hiệu lực tẩy hầu hết các loại giun sán ký sinh ở gia cầm
Mebendazol là thuốc trị giun sán thuộc nhóm Benzimidazol Đây là loại thuốc sử dụng trong nhân y và thú y Thuốc có phổ chống giun sán rộng, liều cao có tác dụng trên cả nang sán lá, sán dây ký sinh ở gia súc, gia cầm
Trang 30Mebendazol có công thức phân tử là C16 H13N3O3 Tính chất: thuốc dạng bột màu trắng hoặc vàng nhạt Có tên thương mại như Menben, Vermox, Mebenvet
Cơ chế tác dụng: Mebendazol và các thuốc thuộc nhóm Benzimidazol tác dụng chủ yếu bằng cách gắn vào các ống dẫn, ngăn cản sự trùng ngưng các ống dẫn trong quá trình lắp ráp các vi ống và gây ra các thay đổi thoái hoá cấu trúc ở ruột Tác động trước hết là ức chế hoạt tính của men fumarate reductase, sau đó làm rối loạn các vi ống thiết yếu đối với việc tiết nhiều enzyme của giun sán (Phạm Đức Chương và cs (2003) [2])
Fenbendazol: Là thuốc được sử dụng rộng rãi cho nhiều loài động vật
để tẩy giun sán đường ruột, là dẫn xuất của imidazol, thuộc nhóm benzimidazol Tên thương mại: Bio-Fenbendazol
Tính chất của Fenbendazol: là thuốc dạng bột màu trắng, không mùi, ít hoà tan trong nước
Cơ chế tác động của Fenbendazol cũng như các benzimidazol khác, là sự liên kết với tubulin trong tế bào ruột của giun sán, ngăn trở sự kết nối các microtubulin để hình thành chuỗi tubulin cần thiết cho sự hấp thu glucose và bài tiết nhiều loại enzzyme, trong đó hiệu quả được biết đến nhiều nhất là ức chế men fumarate reductase
Phổ tác dụng: Fenbendazol có phổ tác dụng rộng với nhiều loài giun sán
ký sinh ở động vật nuôi và con người
Theo Phan Lục và cs (2006) [38], có thể dùng các loại thuốc sau để tẩy sán lá ruột: Devermin cho ăn liều 60 mg/kg thể trọng; Fenbendazol liều 40
Trang 31mg/kg thể trọng, cho ăn; Praziquantel liều 20-25 mg/kg thể trọng; Fubendazole cho ăn liều 10-50mg/kg thể trọng và Arecolin liều 0,002 g/kg thể trọng Tất cả các loại thuốc này đều có hiệu quả tẩy sán lá ruột cho gà
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là điều kiện rất thuận lợi cho bệnh giun sán ở gia cầm nói chung, ở gà nói riêng phát triển Mặt khác,
do tập quán chăn nuôi gà ở nhiều vùng còn nhỏ lẻ, phân tán nên đàn gà nuôi
luôn tồn tại nhiều loài giun sán ký sinh, trong đó có loài sán lá ruột
Ở nước ta, từ những năm 60 của thế kỷ thứ 20 đã bắt đầu giai đoạn phát triển nghiên cứu về lĩnh vực ký sinh trùng học, đặc biệt là lĩnh vực giun sán học, nhằm xác định thành phần loài và xây dựng quy trình phòng chống các bệnh giun sán nguy hiểm đối với con người và vật nuôi Trong giai đoạn này, nghiên cứu về sán lá ruột ở gia cầm đã được một số nhà khoa học trong nước nghiên cứu và đã đưa ra kết quả về thành phần loài, tỷ lệ nhiễm một số loài sán
lá ruột tại một số địa phương trong cả nước
Echinostoma revolutum là loài phân bố rộng với tỷ lệ nhiễm biến động từ
16,70% đến 27,19% Đây là loài sán lá ruột ký sinh trên nhiều loài vật chủ như mòng két, gà, gà tây, bồ câu, cu gáy, chim, chuột rừng, chuột đồng, lợn, chó và người (Nguyễn Thị Lê và cs (1993) [26]; Nguyễn Thị Lê (2000) [32]) Điều tra tỷ lệ nhiễm ở đàn gà tại tỉnh Nghĩa Lộ đã phát hiện 6,2% gà mắc bệnh (Phan Lục (1971) [34]), tại Nam Hà là 17,5% (Phan Lục (1971) [34]), tại Hà Bắc là 10,3% (Bùi Lập và cs (1969) [19], tỷ lệ gà mắc bệnh là 23,4% (Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [8])
Echinostoma miyagawai có tỷ lệ nhiễm chung là 22,75%, đây là kết quả
khảo sát thành phần loài sán lá ở chim và thú thuộc các vùng phía Nam Việt Nam (Nguyễn Thị Lê (1991) [24]) Điều tra trên đàn gà tại tỉnh Nghĩa Lộ đã
Trang 32phát hiện 8,7% gà mắc bệnh (Phan Lục (1971) [34]), tại Nam Hà là 24,9% (Phan Lục (1971) [34]), tại Hà Bắc là 23,0% (Bùi Lập và cs (1969) [19])
Echinoparyphium recurvatum có tỷ lệ nhiễm chung là 16,53% và là loài
phát hiện ở nhiều vùng trong nước Tỷ lệ nhiễm biến thiên từ 13,40% đến 20,74% (Nguyễn Hữu Hưng (2006) [7])
Hypoderaeum conoideum có tỷ lệ nhiễm chung là 23,4% Loài này ký
sinh trên các vật chủ như mòng két, ngan, ngỗng, gà và người Kết quả khảo sát của một số tác giả cho thấy, đây là loài ký sinh phổ biến trên gia cầm ở Việt Nam (Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [30]) Bệnh do sán lá thuộc họ Brachylaemidea, loài B vietnamensis ký sinh ở ruột gà đã được phát hiện ở Huế (Trịnh Văn Thịnh (1963) [45]; Nguyễn Thị Lê (1995) [28]) Loài B Commutatus đã được phát hiện ở Bắc Bộ (Trịnh Văn Thịnh (1963) [45]; Nguyễn Thị Lê (1995) [28])
Sán lá thuộc họ Notocotylidae, loài N aegyciacus ký sinh ở manh tràng
gà, vịt, ngan đã được phát hiện ở Hải Phòng, tỷ lệ nhiễm chung 11,63%
(Nguyễn Thị Lê (1983) [21]) Loài N intestinalis đã được phát hiện trên toàn quốc (Nguyễn Thị Lê (1983) [21]) Loài N attenuatus đã được phát hiện ở gà
của Nam Hà (Phan Lục (1971) [34]), Hà Bắc (Bùi Lập và cs (1969) [19])
Loài Cattaropis verrueosa đã được phát hiện ở Bắc Bộ với tỷ lệ nhiễm thấp
(5,87%) Tỷ lệ nhiễm biến động từ 1,98% đến 9,95% (theo Trịnh Văn Thịnh
và cs (1978) [46]) Sán lá ký sinh ở ruột già, ở manh tràng và trực tràng (Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [30])
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Các nghiên cứu đầu tiên về giun sán ký sinh ở động vật nói chung và ở
gà Việt Nam nói riêng được một số nhà khoa học người Pháp thực hiện vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 Năm 1910-1911, Mathis C và Leger M đã
Trang 33công bố một số loài giun sán ký sinh trên người và động vật ở các tỉnh phía bắc Việt Nam
Vào thế kỷ 19, các nhà khoa học trên thế giới như Van Beneden (1858), Carus (1863), Moticelli F.S (1888)… đã có nhiều công trình nghiên cứu về
hệ thống phân loại sán lá, trong đó có sán lá ở gà Yagumuti (1938), Mc Donal, Schell (1934) cho biết, có 24 loài sán lá ký sinh ở gà (Dẫn theo Nguyễn Thị Lê (2000) [32])
Theo Canek (2000) [54], Kaufmann (1996) [59], gà bị bệnh giun sán thường có triệu chứng gầy yếu, còi cọc, chậm lớn và rối loạn tiêu hóa
Wannapinyosheep và cs (2002) [68] qua điều tra tình hình nhiễm giun sán ở gà tại Thái Lan thấy vị trí giun sán ký sinh ở ruột như sau: ở tá tràng 0%, không tràng 66,67%, hồi tràng 33,37%, ruột già 0%, ruột thừa 0% Tỷ lệ
nhiễm sán lá Hypoderaeum conoideum là 1,38%
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Gà ở các lứa tuổi nuôi tại 3 huyện Yên Định, Thiệu Hóa, Vĩnh Lộc thuộc tỉnh Thanh Hóa
- Bệnh sán lá ruột ở gà
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm triển khai: Huyện Yên Định, Thiệu Hóa, Vĩnh Lộc thuộc tỉnh Thanh Hóa
- Địa điểm xét nghiệm mẫu: Phòng dịch tễ Chi cục Thú y tỉnh Thanh Hóa
- Địa điểm xác định loài: Phòng Ký sinh trùng - Viện Sinh thái và Tài Nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 8 năm 2015
2.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
2.2.1 Mẫu nghiên cứu
- Gà và mẫu phân gà ở các lứa tuổi (dưới 3 tháng tuổi, 3 - 6 tháng và
trên 6 tháng) nuôi tại một số địa phương của 3 huyện: Yên Định, Thiệu Hóa, Vĩnh Lộc tỉnh thuộc Thanh Hoá
- Mẫu sán lá ruột thu thập được qua mổ khám (để xác định thành phần loài)
- Mẫu ruột của gà bị nhiễm sán lá ruột thu thập qua mổ khám (để làm tiêu bản vi thể)
Trang 35- Dụng cụ mổ khám: Kéo, dao, khay mổ khám và một số vật dụng khác
- Thuốc tẩy sán lá ruột cho gà: Bio - Fenbendazole và Menben
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.3.1 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá ruột ở gà
- Thành phần loài sán lá ruột ký sinh ở gà (qua mổ khám)
- Phân bố các loài sán lá ruột ký sinh ở gà tại các địa phương (qua mổ khám)
- Đặc điểm phân loại các loài sán lá ruột phát hiện (qua mổ khám)
- Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà tại các địa phương
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà theo tuổi
- Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo mùa vụ
2.3.2 Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán lá ruột ở gà
2.3.2.1 Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh sán lá ruột
2.3.2.2 Bệnh tí
h của bệnh sán lá ruột ở gà
- Bệnh tích đại thể ở đường tiêu hoá gà bị bệnh sán lá ruột
- Bệnh tích vi thể ở đường tiêu hoá gà bị bệnh sán lá ruột
2.3.3 Biện pháp phòng và trị bệnh sán lá ruột cho gà
2.3.3.1 Hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy sán lá ruột cho gà
2.3.3.2 Đề xuất biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh sán lá ruột cho gà
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Bố trí điều tra tình hình nhiễm sán lá ruột ở gà:
- Mổ khám 280 con gà nuôi tại 3 huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa; mẫu được chọn ngẫu nhiên
- Thu thập và xét nghiệm 1228 mẫu phân gà tại các địa phương, ở các lứa tuổi khác nhau (từ dưới 3 tháng, 3 - 6 tháng, trên 6 tháng tuổi), thời gian khác nhau
Với mỗi chỉ tiêu, lấy tiêu chí của chỉ tiêu làm tiêu chí để xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột, các yếu tố khác thì đảm bảo tương đối đồng đều
Trang 362.4.2 Phương pháp lấy mẫu
- Phương pháp lấy mẫu phân:
Mẫu phân được thu thập theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc tại các hộ nuôi, các trại chăn nuôi gà
Lấy mẫu phân mới thải của gà ở các lứa tuổi tại 3 huyện Yên Định, Thiệu Hóa, Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa Mỗi huyện lấy ở 3 xã, mẫu phân là lượng phân thải ra trong một lần thải của gà
Để riêng từng mẫu phân vào một túi nilon nhỏ, trên mỗi túi đều ghi nhãn: địa điểm lấy mẫu, tuổi gà, mùa vụ lấy mẫu (những thông tin này cũng được ghi vào nhật ký đề tài) Mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày hoặc xét nghiệm sau khi bảo quản theo quy trình bảo quản mẫu trong nghiên cứu ký sinh trùng
2.4.3 Phương pháp xét nghiệm mẫu
- Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm sán lá ruột qua xét nghiệm phân:
Tất cả mẫu phân được xét nghiệm bằng phương pháp gạn rửa sa lắng (Benedek) Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là dùng nước lã có tỷ trọng nhẹ hơn tỷ trọng của trứng sán lá, do tỷ trọng của trứng sán lá lớn hơn
tỷ trọng của nước lã nên trứng sẽ lắng xuống dưới (Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [9]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10])
Phương pháp gạn rửa sa lắng tiến hành như sau: Lấy mẫu phân cho vào cốc thuỷ tinh có nước lã, khuấy mạnh cho tan, lọc qua lưới lọc vào một bình tam giác, để yên cho lắng cặn xuống, gạn nước ở trên đi; lại cho nước vào, để yên 15 phút cho lắng xuống và gạn nước ở trên đi Làm liên tục nhiều lần cho đến khi nước trong suốt, gạn nước đi và cho cặn vào hộp lồng soi kính hiển vi tìm trứng sán lá ruột, soi kính hiển vi có độ phóng đại 100 lần, đếm số trứng sán lá ruột/vi trường Những mẫu xét nghiệm thấy có trứng sán lá ruột được đánh giá là có nhiễm và ngược lại là không nhiễm
Trang 37- Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán qua mổ khám:
Căn cứ vào các chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài (tuổi, mùa vụ, địa phương), trong quá trình mổ khám ghi lại số gà nhiễm sán vào nhật ký để xác định tỷ lệ nhiễm Cường độ nhiễm sán qua mổ khám được xác định bằng cách đếm số lượng sán ký sinh ở mỗi gà trong quá trình mổ khám và định loại
2.4.4 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của gà bị nhiễm sán
lá ruột
Sử dụng phương pháp chẩn đoán cơ bản là quan sát những biểu hiện của gà: thể trạng, ăn uống, vận động và trạng thái phân
2.4.5 Phương pháp mổ khám và thu thập mẫu
Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp mổ khám không toàn diện của Skrjabin K.I (1963) [53], với mục đích xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá ruột và quan sát những biến đổi đại thể của cơ quan tiêu hoá do sán lá ruột gây ra
Căn cứ vào nội dung nghiên cứu, sau khi điều tra thu thập thông tin về nguồn gốc, lứa tuổi của gà tại các địa điểm điều tra, gà được chọn ngẫu nhiên
để tiến hành mổ khám
Trước khi mổ khám làm chết gà, sau đó mổ từ hậu môn đến xương ức
để bộc lộ các nội quan, tách riêng từng bộ phận, lấy cơ quan tiêu hoá để kiểm tra (lấy từ ruột non đến hậu môn)
Ruột non, ruột già, manh tràng được tách riêng và kiểm tra từng phần Dùng kéo mũi nhọn cắt dọc theo thành ruột, quan sát bằng mắt thường và kính lúp để phát hiện sán lá ruột và thu mẫu sán trong chất chứa (sau khi gạn rửa sa lắng chất chứa) và những sán còn bám trên niêm mạc cho vào đĩa Petri Sau khi định loại sơ bộ, mỗi loài sán lá ruột được bảo quản ở lọ riêng (sơ bộ định danh) Mẫu vật sán của mỗi gà cũng được để riêng
Mẫu sán lá ruột thu thập đều được bảo quản trong cồn 700
Cách làm như sau: để sán chết tự nhiên trong nước, sau khi rửa sạch, ép mỏng giữa 2 phiến kính rồi đặt vào bình thuỷ tinh có chứa cồn 700
Trang 38Sau thời gian ép mẫu, chuyển sang các ống nghiệm chứa cồn 700 và ghi nhãn, nhãn ghi rõ: vị trí ký sinh, lớp, số lượng sán, số lượng gà mổ khám, tuổi
gà, địa điểm và thời gian mổ khám Những thông tin ghi trên nhãn cũng được ghi đầy đủ vào sổ mổ khám
Cách ghi nhãn:
2.4.6 Phương pháp làm tiêu bản để xác định tên loài sán
Làm tiêu bản để xác định loài sán lá ruột bằng phương pháp nhuộm
Carmin (Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [30]) cụ thể như sau:
- Phương pháp làm tiêu bản tạm thời:
Đặt mẫu sán lên lam kính, nhỏ một giọt dung dịch hỗn hợp gồm glyxerin + axít lactic + nước cất theo tỷ lệ 1:1:1 hoặc có thể làm trong mẫu bằng glyxerin mà không cần axít lactic Thời gian làm trong mẫu tuỳ thuộc vào kích thước và độ dày mỏng của mẫu
- Làm tiêu bản cố định theo phương pháp nhuộm Carmin và gắn Baume canada:
Pha dung dịch nhuộm Carmin: lấy 5g Carmin nghiền nhỏ cho vào bình tam giác chứa 5ml HCl và 5ml nước cất, để yên sau 1 giờ, sau đó cho thêm 200ml cồn 900, lắc đều, đậy nút bông, đun cách thuỷ cho đến khi Carmin tan hết, để 1 ngày rồi lọc Dung dịch để sau 1 tuần đến 10 ngày mới dùng
Các bước tiến hành làm tiêu bản nhuộm carmin:
- Nhuộm: cho mẫu vào dung dịch nhuộm từ 5 phút đến 1 giờ tuỳ độ lớn của mẫu, đến khi mẫu bắt màu đẹp là được Trường hợp bắt màu quá đậm, có thể làm nhạt màu bằng cách cho mẫu sán vào dung dịch cồn - axít HCl 1% (100ml cồn 700 pha với 1ml HCl)
Gà số Giống Ngày tuổi
Địa điểm mổ khám
Sơ bộ định danh
Số lượng
Vị trí ký sinh Ngày lấy mẫu
Trang 39- Rút nước: vớt mẫu sán ra, cho lần lượt vào dung dịch cồn ở các nồng độ: 700
, 900, 950 để rút nước, mỗi nồng độ ngâm trong 5 đến 7 phút
- Làm trong mẫu bằng dung dịch xylen + cồn 960 theo tỷ lệ 1:1 trong thời gian 1 - 2 phút
- Cố định tiêu bản: nhỏ lên lam kính 1 - 2 giọt baume canada, đặt mẫu vào, nhỏ tiếp 1 giọt baume canada lên trên rồi đậy lamen lại Để tiêu bản cho đến khô là được
2.4.7 Phương pháp định danh các loài sán lá ruột
Việc định danh phân loại các loài sán lá ruột ký sinh ở gà dựa vào những đặc điểm hình thái, kích thước, cấu tạo theo hệ thống định loại sán lá (Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [30])
Quan sát hình thái, giác bám, ruột, tinh hoàn, buồng trứng, tử cung, tuyến noãn hoàng trên tiêu bản nhuộm Carmin
Sau khi phân loại xong, thay nhãn cho các lọ mẫu Nhãn ghi rõ số gà
mổ khám, nơi ký sinh, tên loài sán lá ruột, số lượng, địa điểm, ngày tháng mổ khám, người mổ khám
Kết quả định danh được ghi vào sổ mổ khám
2.4.8 Phương pháp xác định bệnh tích đại thể và những biến đổi vi thể ở
cơ quan tiêu hoá (ruột, manh tràng) do sán lá ruột gây ra
- Bệnh tích đại thể được xác định bằng cách quan sát kỹ những tổn thương ở niêm mạc ruột của những gà bị nhiễm sán lá ruột Quan sát bằng mắt thường qua kính lúp các phần ruột gà để tìm bệnh tích của bệnh
- Nghiên cứu biến đổi bệnh lý vi thể bằng phương pháp làm tiêu bản tổ chức học theo quy trình tẩm đúc Parafin, nhuộm Hematoxilin - Eosin, đọc kết quả dưới kính hiển vi quang học Labophot - 2 và chụp ảnh bằng máy ảnh gắn trên kính hiển vi
Phương pháp làm tiêu bản vi thể theo thứ tự các bước sau:
Trang 40+ Lấy bệnh phẩm: cắt phần bệnh phẩm có nhiều sán lá ruột ký sinh (ruột non, ruột già và manh tràng)
+ Cố định bằng dung dịch Formol 10% với tỷ lệ 1 phần bệnh phẩm với
9 phần Formol 10%
+ Sau khi cố định, rửa tổ chức dưới vòi nước chảy nhẹ từ 12 - 24 giờ để loại bỏ Formol có trong tổ chức
+ Khử nước: dùng cồn tuyệt đối để rút nước trong bệnh phẩm ra
+ Làm trong tiêu bản: ngâm bệnh phẩm qua hệ thống Xylen để làm trong bệnh phẩm
+ Tẩm parafin: ngâm bệnh phẩm đã làm trong vào các cốc đã đựng Parafin nóng chảy, để ở tủ ấm nhiệt độ 560C
+ Đổ Block: rót Parafin nóng chảy vào khuôn giấy rồi đặt miếng tổ chức (bệnh phẩm) đã tẩm Parafin vào, khi Parafin đông đặc hoàn toàn thì bóc khuôn; sửa lại Block cho vuông vắn
+ Cắt và dán mảnh: cắt bệnh phẩm trên máy cắt microtom, độ dày mảnh cắt
3 - 4 µm Dán mảnh cắt lên phiến kính bằng dung dịch Mayer (lòng trắng trứng gà
1 phần, glyxerin 1 phần; 1 ml hỗn hợp trên pha trong 19 ml nước cất)
+ Nhuộm tiêu bản bằng phương pháp Hematoxilin - Eosin Phương pháp tiến hành như sau:
Trước tiên tẩy nến bằng Xylen, sau đó ngâm tiêu bản tổ chức vào cồn Ethanol 96% trong 5 phút Tiêu bản tổ chức được rửa dưới dòng nước chảy nhẹ trong 5 phút và nhuộm Hematoxilin trong 5 phút, sau đó lại rửa nước trong 15 phút và nhuộm Eosin trong 1 - 2 phút Rửa nước (dưới dòng nước chảy nhẹ) và làm khô tiêu bản trong dung dịch cồn có nồng độ tăng dần 96% đến 100% với thời gian giảm dần từ 5 phút đến 2 phút
2.4.9 Phương pháp theo dõi hiệu lực của thuốc tẩy sán lá ruột ở gà
Chúng tôi sử dụng 2 loại thuốc Menben và Bio-Fenbendazol để tẩy cho những gà bị nhiễm sán lá ruột