1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

47 476 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp này được xác định như là một phương thức “Tìm kiếm những cách thức tốt nhất trong thực tiễn giúp cho doanh nghiệp hoạt động tốt hơn”; Hoặc “Đối sánh là một quy trình mang tín

Trang 1

BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC

ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

cơ sở vật chất, chất lượng học tập của HS… và bước đầu vận dụng lí thuyết Đối sánh để so sánh và đánh giá một số trường THPT của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT) Bài viết này giới thiệu về đối sánh trong giáo dục cũng như kết quả vận dụng nó để so sánh và đánh giá đối với 7 trường THPT hàng đầu của 7 huyện, thành phố thuộc tỉnh BR–VT

Từ khóa: đối sánh, đánh giá, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Keywords: benchmarking, evaluation, Ba Ria – Vung Tau province

* ThS, Viện Nghiên cứu Giáo dục Trường Đại học Sư phạm TPHCM; Email: hosyanh@ier.edu.vn

1 Đặt vấn đề

Đối sánh là một kĩ thuật nhằm cải

tiến quá trình sản xuất, kinh doanh của

các công ti, đã được nhiều nước trên thế

giới vận dụng vào lĩnh vực giáo dục Đối

sánh đã được ứng dụng thành công không

chỉ đối với giáo dục đại học mà cả giáo

dục phổ thông tại một số nước như Hoa

Kì, các nước châu Âu, Australia, Trung

Quốc… Ở Việt Nam, đối sánh trong giáo

dục chưa được nghiên cứu và áp dụng

trong thực tiễn mà chỉ được giới thiệu

trong một số hội thảo Bên cạnh đó, một

số nhà nghiên cứu đã đề cập lĩnh vực này trong các bài báo khoa học Nghiên cứu

về đối sánh và vận dụng nó đối với giáo dục Việt Nam có một ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay

(Benchmarking)

1.1.1 Khái niệm đối sánh

Đối sánh ra đời là để phục vụ sản xuất, kinh doanh của các công ti, đầu tiên

Trang 2

là Công ti Xerox – Hoa Kì (1982), sau đó

được nhiều công ti khác sử dụng để cải

tiến sản xuất, kinh doanh Đối sánh là

một kĩ thuật nhằm cải tiến quá trình sản

xuất, kinh doanh của công ti, kĩ thuật này

được sử dụng để so sánh tình hình hoạt

động giữa các tổ chức khác nhau nhưng

hoạt động ở lĩnh vực tương tự nhau hoặc

giữa các bộ phận trong cùng một tổ chức

Đối sánh là một phương pháp mang tính

liên tục dùng để đánh giá, cải tiến sản

phẩm, dịch vụ và thói quen để đạt được

vị trí dẫn đầu trong kinh doanh Phương

pháp này được xác định như là một

phương thức “Tìm kiếm những cách thức

tốt nhất trong thực tiễn giúp cho doanh

nghiệp hoạt động tốt hơn”; Hoặc “Đối

sánh là một quy trình mang tính hệ thống

nhằm đo lường và so sánh các quy trình

của một đơn vị/tổ chức với các đơn vị/tổ

chức khác, bằng cách sử dụng đánh giá

bên ngoài đối với các hoạt động, chức

năng hay các điều hành trong đơn vị/tổ

chức đó” (Kempner,1993) [10]

1.1.2 Những lợi ích của đối sánh

Đối sánh mang lại nhiều lợi ích, đó

là: (i) Hiểu và thỏa mãn được khách

hàng, nhanh chóng nhận biết và đáp ứng

các nhu cầu thực tại của thị trường; (ii)

Cải thiện hiệu suất bằng cách thiết lập

các mục tiêu hiệu quả và đáng tin cậy

(tránh lối lãnh đạo theo kiểu suy diễn từ

kinh nghiệm hoặc từ những xu hướng

trong quá khứ); (iii) Luôn giữ vững được

tính cạnh tranh bởi luôn thấu hiểu các đối

thủ và các biểu hiện của họ như chất

lượng, chi phí, thời gian sản xuất; (iv)

1.1.3 Đối sánh trong giáo dục

Một số nước đã vận dụng đối sánh vào giáo dục Một số công trình nghiên cứu và phát biểu của các nhà khoa học giáo dục về đối sánh trong giáo dục, tiêu biểu là các định nghĩa sau: (i) “Đối sánh giúp cho việc vượt qua các lực cản đối với những thay đổi cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá ngoài, tạo mạng lưới giao tiếp giữa các trường

và trao đổi kinh nghiệm.” (AACSB, 1994)1; (ii) “Đối sánh là quy trình mang tính tích cực, cung cấp các đo lường khách quan nhằm phục vụ cho việc đưa

ra các giá trị mang tính sáng tạo, đặt ra mục đích và phương hướng cải tiến dẫn đến việc đổi mới trong giáo dục.” (Shafer

&Coate 1992) [13] Một số trường đại học trên thế giới, hay một số tổ chức đã xây dựng các hệ thống đối sánh điện tử trong giáo dục, họ đã phát triển phần mềm thực hiện đối sánh, để thực hiện so sánh giữa các trường đại học hay các trường phổ thông với nhau Điển hình là

hệ thống đối sánh của Cơ quan Chương trình, Đánh giá và Báo cáo Úc (Australian Curriculum, Assessment and Reporting Authority - ACARA) đã công

bố thông tin đối sánh của gần 10.000 trường phổ thông trên toàn nước Úc tại website Myschool.edu.au [15] hay hệ thống Đối sánh điện tử trong giáo dục (Electronic Benchmarking In Education -EBIE) của công ti Phililips KPA,

Trang 3

Australia [12] Phần mềm này đã được

giới thiệu ở Việt Nam vào tháng 02/2011,

tại Thành phố Hồ Chí Minh Ở Việt Nam,

cho đến nay, chưa có một công trình nào

nghiên cứu và xây dựng phần mềm ứng

dụng đối sánh trong giáo dục

1.1.4 Về phân loại đối sánh

Cùng với việc tồn tại nhiều định

nghĩa khác nhau của đối sánh, việc phân

loại đối sánh cũng rất đa dạng Theo

Appleyby (1999:59)[3], số lượng đối

sánh mà các nhà nghiên cứu đưa ra có khi

lên đến 20 loại khác nhau Điều này đã

tạo ra sự phức tạp không cần thiết Theo

các nhà khoa học, 2 hệ thống phân loại

tiêu biểu, một xuất phát từ lĩnh vực công

nghiệp – kinh doanh (Camp, 1989)[4], và

một đại diện cho quan điểm của giới

quản trị đại học (Appleby, 1999)[3]

Chính nhờ sự phân loại này, cùng với

phân tích những ưu điểm, hạn chế của

từng loại đối sánh đã làm cho các doanh

nghiệp và sau đó là các trường học vận

dụng một cách thuận lợi và hiệu quả Các

loại đối sánh trong hệ thống Camp gồm

có:

Đối sánh nội bộ (Internal

Benchmarking) là phương pháp đối sánh

đơn giản và dễ thực hiện nhất (Love

&Dale 2007:481) Việc đối sánh trong

nội bộ một tổ chức, ví dụ giữa các đơn vị

khoa, phòng thuộc một trường đại học

Đối sánh cạnh tranh (Competitive

Benchmarking) là so sánh một đơn vị với

một đối thủ mạnh nhất trên thị trường,

hay đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nó

Đối tượng của sự so sánh hay đối tượng

đối sánh (benchmark object) có thể là bất

kì cái gì, từ sản phẩm, dịch vụ đến quy

trình hoạt động và cách thức cạnh tranh

trên thị trường mà mình nhắm tới (target market) Đa số các dự án đối sánh mà các công ti thực hiện đều nhắm đến đối thủ cạnh tranh nên cần đối sánh loại này Tuy nhiên, đối sánh cạnh tranh không dễ thực hiện, do khó thu thập thông tin từ đối thủ

Đối sánh chức năng/đối sánh tổng

quát (Funtional/generic Benchmarking):

đối sánh chức năng/ đối sánh tổng quát ra đời nhằm khắc phục nhược điểm của đối sánh cạnh tranh do thiếu thông tin chính xác của đối tác, do bản chất cạnh tranh của việc đối sánh (Love & Dale 2007:481 – 482)2 Đối sánh chức năng là đối sánh giữa các đơn vị được so sánh có tương tự

về mặt tổ chức, còn đối sánh tổng quát là đối sánh được thực hiện khi các đơn vị so sánh không giống nhau về tổ chức nhưng vẫn có những quy trình hoạt động tương

tự, và vì thế có thể học hỏi được của nhau

Hệ thống phân loại theo Camp (1989)[4], trên cơ sở áp dụng đối sánh cho doanh nghiệp, còn đối với các cơ sở giáo dục thì sao? Trong một nỗ lực để có thể áp dụng đối sánh đối với giáo dục, Appleby (1999)[3] đã đưa ra hệ thống phân loại phù hợp với giáo dục với các lí giải sau: Hệ thống phân loại này không đặt nặng việc đối sánh với ai, mà quan trọng hơn là giúp các trường học trả lời những câu hỏi đối sánh để làm gì và đối sánh như thế nào? Theo Appleby, một đơn vị thực hiện đối sánh nhằm vào một trong các mục tiêu sau: (i) Đối sánh để hiểu rõ hiện trạng của chính mình; (ii) Đối sánh để xác định khoảng cách giữa mình và các chuẩn mực khách quan bên ngoài mà mình muốn đạt; Và (iii) Đối

2 Dẫn theo Vũ Thị Phương Anh, Lê Quốc Thắng [1]

Trang 4

sánh nhằm học hỏi những phương pháp

thực hành tốt nhất từ bên ngoài để triển

khai tại đơn vị Ba mục tiêu này không

tồn tại độc lập, mà kết hợp với nhau

thành một hệ thống thứ bậc, các mục tiêu

đi từ thấp đến cao trên con đường tự cải

tiến của một cơ sở giáo dục, Yarrow gọi

khác hoặc trong cùng một hệ thống hoặc

bên ngoài hệ thống (Appleby

1999:61)[3] Đây thường là bước đầu tiên

trong việc áp dụng đối sánh trong quản trị

cơ sở giáo dục Phương pháp này giúp

các nhà quản lí nắm được những thông

tin nhanh về hoạt động của đơn vị, chẳng

hạn, tỉ lệ GV/ HS hay tỉ lệ cán bộ quản lí

trên số lớp, hoặc tỉ lệ chi phí bình quân

trên đầu HS, số HS trên một máy

tính.v.v Những kết quả trắc lượng như

vậy vừa dễ hiểu, vừa tạo điều kiện cho

việc so sánh chính xác giữa đơn vị này

với đơn vị khác hoặc so sánh trong cùng

một đơn vị nhưng ở các thời điểm khác

nhau Chẳng hạn, đánh giá chu kì 3 năm

giai đoạn 1995-1997, theo điều lệ trường

học của trường tiểu học Monash (một

trường tiểu học thuộc vùng ngoại ô Đông

Nam Melbourne - Australia)[8] là một

báo cáo đối sánh trắc lượng của một đơn

vị trong các thời điểm khác nhau Hiện

nay việc áp dụng đối sánh trắc lượng rất

phổ biến trong quản lí giáo dục ở các

nước trên thế giới

Đối sánh chẩn đoán (Diagnostic

Benchmarking): Đối sánh chẩn đoán là

xác định những chỗ còn yếu hay khoảng cách của đơn vị mình với mục tiêu đặt ra,

và cụ thể hóa qua các chuẩn đối sánh do chính đơn vị mình lựa chọn Đối sánh chẩn đoán bổ sung rất tốt cho phương pháp đối sánh trắc lượng, vì nó không chỉ thu thập số liệu và thực hiện so sánh rời rạc giữa 2 bên (tỉ lệ máy tính trên HS, tỉ

lệ GV/ HS…) Ngược lại, nó đòi hỏi người tham gia phải có cái nhìn tổng hợp

về toàn bộ quá trình hoạt động từ đầu vào đến kết quả đầu ra, để vừa đo lường khoảng cách với thực tế và mong đợi của một đơn vị, vừa xác định nguyên nhân gây ra khoảng cách đó, để có biện pháp cải thiện thích hợp Trong đối sánh chẩn đoán, chuẩn mực hay còn gọi là chuẩn đối sánh, là một thành tựu mà đơn vị khác đạt được, tức là so sánh đơn vị mình với một đơn vị khác tốt hơn, còn trong tự đánh giá của kiểm định chất lượng thì chuẩn mực chính là bộ tiêu chuẩn chất lượng do cơ quan kiểm định đặt ra

Đối sánh quy trình (Process

Benchmarking): Đối sánh quy trình là

nghiên cứu, học hỏi từ đối tác để tìm ra giải pháp và vạch lộ trình đưa một đơn vị đến đích Như vậy, trong hệ thống phân loại của Appleby (1999)[3], chỉ có đối sánh quy trình mới thực sự giúp ích cho một đơn vị nhiều hơn Trong hệ thống của Appleby, các loại đối sánh của Camp (1989) được đưa vào thành một hệ thống đối sánh con của đối sánh quy trình, đồng thời bổ sung thêm một loại đối sánh nữa

- Đối sánh nội bộ: So sánh các quy

trình giống nhau giữa các bộ phận có hoạt động tương tự trong một đơn vị để chia sẻ thực tiễn tốt nhất trong nội bộ đơn

Trang 5

vị

- Đối sánh cạnh tranh: Xác định

khoảng cách trong hoạt động và thành

quả của đơn vị mình với đối thủ trực tiếp

và nguyên nhân của khoảng cách đó để

tìm cách rút ngắn

- Đối sánh chức năng: So sánh cách

triển khai những quy trình hoạt động

tương tự giữa các đơn vị khác nhau trong

cùng một lĩnh vực (không phải là đối thủ

cạnh tranh) để học hỏi từ thực tiễn tốt

nhất

- Đối sánh tổng quát: Xác định

nguyên nhân của sự thành công trong các

quy trình cốt lõi của những đơn vị khác

nhau và tìm cách học hỏi về đơn vị mình

- Đối sánh theo nhóm (Group

Benchmarking): Được thực hiện bởi một

nhóm các đơn vị trong cùng một lĩnh vực

hoặc thuộc nhiều lĩnh vực khác nhưng có

cùng một mối quan tâm chung Chẳng

hạn đối sánh giữa một số trường đại học

khối EU là đối sánh theo nhóm

Như vậy, các nhà khoa học, nhà

giáo dục đã có sự nghiên cứu và mở rộng

để vận dụng đối sánh trong sản xuất, kinh

doanh cho lĩnh vực giáo dục So sánh hệ

thống phân loại của Camp (1989)[4] và

của Appleby (1999)[3], ta thấy rõ sự phát

triển khái niệm đối sánh khi chuyển sang

áp dụng cho quản lí giáo dục Rõ ràng,

Appleby không loại trừ mà bổ sung cho

Camp, hoặc nói đúng hơn là bao trùm lên

Camp, các loại đối sánh của Camp là hệ

thống con của hệ thống Appleby Một

vấn đề được đề cập khá sâu sắc, cũng

chính là điểm khác nhau giữa hệ thống

của Appleby và Camp, là: Ở hệ thống

Camp chỉ phân biệt các loại đối sánh

khác nhau một cách ngang hàng, còn ở hệ

thống Appleby là hệ thống đối sánh có cấp bậc, gồm 3 bậc từ thấp đến cao, đó là: (i) Đối sánh trắc lượng để tự hiểu mình; (ii) Đối sánh chẩn đoán để xác định khoảng cách của mình với mục tiêu cần đạt; và (iii) Đối sánh quy trình để học hỏi từ người làm tốt hơn mình nhằm mục đích cải tiến Ở đây, câu hỏi đối sánh để làm gì thể hiện rất rõ

2 Vận dụng đối sánh vào trường hợp các trường THPT ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Nghiên cứu đối sánh, chúng tôi áp dụng thử nghiệm đối với các trường THPT của tỉnh BR-VT từ nguồn dữ liệu

có được của hệ thống EMIS.FSR, các bước tiến hành như sau:

2.1 Định nghĩa phạm vi

Phạm vi áp dụng so sánh là các trường THPT ngang hàng (Peer High Schools), là những trường THPT có chất lượng tốt nhất của mỗi huyện, thành phố trong tỉnh BR-VT

2.2 Lựa chọn mẫu triển khai

Với yêu cầu là so sánh các trường ngang hàng (Peer Schools), chúng tôi đã chọn các trường THPT có chất lượng tốt nhất của các đơn vị huyện, thành phố Mỗi đơn vị chọn một trường (trừ huyện Côn Đảo) Tỉnh BR-VT có 8 huyện, thành phố, chúng tôi đã phối hợp Sở GD&ĐT chọn 7 trường, đó là các trường

THPT: Vũng Tàu (TP Vũng Tàu), Trần Văn Quan (H Long Điền), Xuyên Mộc (H Xuyên Mộc), Nguyễn Du (H Châu Đức), Võ Thị Sáu (H Đất Đỏ), Châu Thành (TP Bà Rịa) và Phú Mỹ (H Tân Thành) Chúng tôi đã mã hóa thành

trường A, trường B, trường C, trường D, trường E, trường F và trường G

Trang 6

2.3 Phương pháp đo lường các chỉ số

và thu thập dữ liệu

2.3.1 Phương pháp đo lường: theo

phương pháp toán học để tính tỉ lệ phần

trăm hay bình quân (BQ) số lượng của

một đại lượng nào đó Ví dụ: Tỉ lệ phần

trăm học lực giỏi trên toàn bộ HS của

trường hoặc số HS trên mỗi lớp…

2.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu

thập dữ liệu từ các tập tin Excel hồ sơ

trường, thu thập dữ liệu về thi tốt nghiệp

THPT và điểm thi tuyển sinh đại học năm

học 2011 – 2012 do Cục Công nghệ

thông tin – Bộ Giáo dục và Đào tạo

(GD&ĐT) công bố trên Website của Bộ

Tập tin Excel hồ sơ trường là tập tin do

Bộ GD&ĐT tạo lập mẫu cho từng lọai

hình trường để thu thập thông tin đầy đủ

về một trường vào đầu năm và cuối năm,

tổng cộng có 1.080 thông tin của một

trường trong 2 tập tin hồ sơ trường đầu

năm và cuối năm

2.4 Kết quả thực hiện đối sánh

Với các bước tiến hành như trên,

chúng tôi đã xây dựng báo cáo đối sánh

cho 7 trường THPT, với các kết quả sau:

- Thực hiện kết nối dữ liệu và kết

xuất ra tập tin Excel với 27 chỉ số của 4 lĩnh vực nêu trên Dựa trên tập tin này, chúng tôi đã lập 27 bảng và 27 biểu đồ, trong khuôn khổ bài báo này chỉ đưa ra 4 biểu đồ của 4 lĩnh vực, mỗi lĩnh vực một biểu đồ để minh họa

- Xây dựng các bảng và biểu đồ để

so sánh tất cả các chỉ số của một trường với giá trị bình quân của 7 trường (giá trị này, được coi là “điểm chuẩn” để so sánh)

- Lập bảng tổng hợp của 27 chỉ số, cung cấp cho một số hiệu trưởng trường THPT, với các câu hỏi: Nếu ông là hiệu trưởng trường A, ông sẽ cải tiến những chỉ số nào? Hay nói cách khác ông đã học hỏi được gì từ những trường còn lại? Sau đó, lấy ý kiến phản hồi từ các hiệu trưởng để minh chứng cho lợi ích của đối sánh

2.5 Bảng tổng hợp 27 chỉ số của 4 lĩnh vực

Để có một cái nhìn tổng quan về đầy đủ các chỉ số, giúp hiệu trưởng các trường so sánh, đánh giá và rút ra những vấn đề cần cải tiến của trường mình Phần mềm EMIS.FSR đã xuất ra bảng tổng hợp sau (bảng 1)

Trang 7

Bảng 1 Tổng hợp 27 chỉ số (thông tin được lấy từ hồ sơ trường

của các trường THPT tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu năm học 2011-2012)

I Học sinh và công tác tuyển sinh

Trang 8

sự so sánh “Điểm chuẩn” mà chúng tôi chọn so sánh chính là giá trị bình quân chỉ số nào đó của 7 trường Ví dụ: bình quân số HS trên lớp, bình quân số HS trên một máy tính…

Trang 9

Biểu đồ 1 Biểu diễn bình quân số HS/ lớp của 7 trường

Số HS/lớp

37.5 36.6 35.7 34.0

Trường B

Trường C

Trường D

Trường E

Trường F

Trường G

BQ 7 trường Trường THPT

BQ 7 trường

Bảng 3 cho thấy 4 trường có số GV trên lớp thấp hơn và 2 trường có số GV mỗi lớp cao hơn bình quân của 7 trường và Trường B có số GV trên lớp tốt nhất, đủ GV cho việc dạy 2 buổi/ngày (2,5 GV/lớp) và Trường F là kém nhất chỉ 2,1 GV/lớp, chưa đạt quy định của Bộ GD&ĐT (với THPT là 2,15 GV/lớp)

2.6.3 Lĩnh vực cơ sở vật chất

Trang 10

Trường B

Trường C

Trường D

Trường E

Trường F

Trường G

BQ 7 trường

BQ 7 trường

Bảng 5 cho thấy có 2 trường bình quân tổng điểm 3 môn thi đại học năm 2012 cao hơn mức bình quân của 7 trường và 5 trường có bình quân tổng điểm 3 môn thi thấp hơn bình quân 7 trường Trường tốt nhất là Trường A và trường kém nhất là Trường F

Trang 11

2.6.5 So sánh các chỉ số của một trường với bình quân 7 trường

Ngoài việc so sánh từng chỉ số một đối với “điểm chuẩn” là bình quân chỉ số đó của 7 trường Benchmarking trong giáo dục còn có đưa ra cách so sánh khác, đó là so sánh tất cả các số chỉ số của một trường với bình quân từng chỉ số của 7 trường (xem bảng 6, bảng 7)

Bảng 6 So sánh các chỉ số cơ sở vật chất Trường C với bình quân 7 trường

Số lớp/1 phòng bộ môn

Bảng 6 cho thấy trong 5 chỉ số đưa ra so sánh, Trường C có 4 chỉ số kém hơn mức bình quân của 7 trường Đó là các chỉ số: bình quân diện tích trên mỗi HS, số HS trên mỗi máy tính, số phòng học trên số lớp, số lớp trên một phòng bộ môn Có duy nhất 01 chỉ số là số lớp trên một projector là tốt hơn bình quân 7 trường

BQ điểm

3 môn ĐH

Tỉ lệ % HS giỏi Toán

Tỉ lệ % HS giỏi Văn

Tỉ lệ % HS giỏi N.ngữ

quân của 7 trường và 2 chỉ số tốt hơn

bình quân của 7 trường Như vậy, trong

11 chỉ số chúng tôi đưa ra trong hai bảng

6 và 7, Trường C có 8 chỉ số kém hơn

mức bình quân của 7 trường và chỉ có 3

chỉ số tốt hơn mức bình quân của 7

trường Do đó, Trường C cần phải cải

quân diện tích (mét vuông) trên một HS,

bình quân số HS trên một máy tính…

Chúng tôi đã chọn một số chỉ số gián tiếp

nhằm đánh giá điều kiện HS cũng như

chất lượng đội ngũ Chẳng hạn, tỉ lệ phần trăm số HS diện chính sách (có cả HS con hộ nghèo), tỉ lệ này càng cao, có nghĩa điều kiện học tập của HS trường đó khó khăn hoặc tỉ lệ HS ban cơ bản, trường có 100% ban cơ bản, sẽ không tốt bằng trường được phân chia HS theo nhiều ban, phù hợp với nguyện vọng và khả năng của các em Hoặc tỉ lệ số HS trên một cán bộ quản lí, nếu số này càng cao thì khả năng quản lí của lãnh đạo trường đó tốt hơn Tỉ lệ GV đạt trình độ đào tạo trên chuẩn thì rất rõ, nhưng chúng tôi đã đưa thêm 2 chỉ số là tỉ lệ phần trăm GV dạy giỏi được Sở GD&ĐT công nhận và tỉ lệ phần trăm GV xếp loại xuất sắc cuối năm do trường tự xếp loại,

để xem việc đánh giá của Sở có đồng điệu với đánh giá của trường không Dựa

Trang 12

vào các lập luận trên, từ bảng 1, chúng

tôi đã đưa ra bảng 8 thể hiện trong từng

lĩnh vực, một trường có bao nhiêu chỉ số

tốt hơn so với “điểm chuẩn”, là giá trị

bình quân của 7 trường

Bảng 8 cho thấy Trường A là

trường có chất lượng học tập và rèn luyện

của HS tốt nhất, Trường B đứng thứ hai

và Trường E có chất lượng thấp nhất Về

tổng quan ta thấy, lĩnh vực HS và nguồn

nhân lực Trường A và B tốt hơn các

trường khác Như vậy, 2 lĩnh vực HS và

GV là những lĩnh vực có ảnh hưởng

nhiều nhất đến chất lượng giáo dục

Ở đây, chúng tôi nhận thấy một

điều khá thú vị là những trường có chất

lượng cao thường có xu hướng tự đánh

giá, xếp loại của GV chặt chẽ và nghiêm

túc hơn trường chất lượng thấp (xem chỉ

số thứ 14 trong bảng 1) Như vậy, việc

đánh giá GV nghiêm túc có tác dụng tốt

đến nâng cao chất lượng của nhà trường Mặt khác, về lĩnh vực cơ sở vật chất có ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục nhưng không phải là yếu tố quyết định (bảng 8 thể hiện rõ)

2.8 Kết quả ứng dụng trong thực tế

Sau khi các hiệu trưởng thảo luận và đưa ra một số nhận định như trường nào là trường tốt nhất, yếu tố nào đóng vai trò tích cực trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Đồng thời các hiệu trưởng trả lời câu hỏi: Nếu ông là hiệu trưởng Trường A, Trường B, Trường C… thì ông cải tiến những chỉ số nào? Cuối cùng, chúng tôi

đã thông báo tên trường cụ thể của các trường đã được mã hóa

Bảng 9 Tên trường THPT đầy đủ sau khi giải mã

Trần Văn Quan

Võ Thị Sáu Huyện TP

Vũng tàu

TP

Bà Rịa Châu Đức

Xuyên Mộc Phú Mỹ

Tân Thành Đất Đỏ

Nhiều hiệu trưởng rất đồng tình với

đánh giá chất lượng theo kết quả mà hệ

thống chúng tôi đã đưa ra Vấn đề mà các

hiệu trưởng tâm đắc là chỉ ra cho họ

những chỉ số nào họ đã tốt, chỉ số nào là

chưa tốt, chỉ số nào ảnh hưởng nhiều nhất

đến thành tích học tập của HS Một số hiệu trưởng đã đề nghị chúng tôi so sánh, đánh giá theo phương pháp trên đối với năm học 2012 – 2013, để có sự đánh giá,

so sánh theo quá trình

Trang 13

3 Kết luận

Việc xây dựng hệ thống EMIS.FSR

là từng bước ứng dụng công nghệ thông

tin nghiên cứu khoa học theo định hướng

của Viện Nghiên cứu Giáo dục Với việc

vận dụng đối sánh trong trường hợp trên

là bước đầu tiếp cận đối sánh giáo dục

Tuy nhiên, có 3 vấn đề đặt ra, đó là:

- Cần phải đầu tư về nguồn lực để

xây dựng một hệ thống đối sánh với cơ

sở dữ liệu SQL Server tương tự hệ thống EBIE của Australia, hệ thống này mang tên Đối sánh các trường học Việt Nam (Benchmaking In Vietnammese Schools - BIVS) Làm được điều này sẽ phát huy hiệu quả của đối sánh trong giáo dục, góp phần đổi mới công tác đánh giá chất lượng giáo dục hiện nay

_

1

Nguồn: bariavungtau.edu.vn

2 Điểm bình quân 3 môn thi tuyển sinh đại học năm 2012 được tham khảo tại website bariavungtau.edu.vn và

số liệu tỉ lệ học sinh giỏi các môn văn hóa thu thập từ báo cáo hồ sơ trường EMIS cuối năm học 2011-2012

của các trường THPT được khảo sát

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Vũ Thị Phương Anh, Lê Quốc Thắng (2011), Đối sánh trong quản trị đại học – Kinh nghiệm thế giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục và Phát triển,

số 9, tháng 01/2011, TP.HCM

2 Hồ Sỹ Anh (2012), Bước đầu xây dựng hệ thống thông tin quản lí giáo dục phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, Niên giám khoa học 2011-2012 của Viện Nghiên cứu

Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TPHCM

3 Appleby (1999) Benchmarking Theory - A framwork for the Business word at content for its applycation in hight Education In Smith at al 1999, Charter 3, pp 53-

69

4 Camp, R.C (1989), Benchmarking: The Search for Industry Best Practices That Lead to Superior Performance Milwaukee, WI: ASQC Quality Press

5 Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh (2003), “Một số khái niệm thường dùng

trong đảm bảo chất lượng đại học”, Tạp chí Giáo dục, số 66, tháng 9/2003, Hà Nội

6 Nguyễn Kim Dung (2011), Sử dụng chuẩn đối sánh trong đánh giá: xu thế trong giáo dục hiện nay, Tài liệu tập huấn về đối sánh trong giáo dục do Viện Nghiên cứu

Trang 14

Identifying that get more for their money in non-instructional spending Copy Right

2011 by Knowledge Word Foundation, Ohio, 6-2011

10 Kempner, D.E (1993) The Pilot Years: The Growth of the NACUBO Benchmarking Project NACUBO Business Officer, 27(6), 21-31

11 K R McKinnon, S H Walker & D Davis (2000) Benchmarking - A manual for Australian Universities © Commonwealth of Australia 1999; ISBN 0 642 23971 1; (http://science.uniserve.edu.au/courses/benchmarking/benchmarking_manual.pdf)

12 PhilipsKPA (2011) Electronic Benchmarking In Education PhillipsKPA Pty Ltd

ABN 71 347 991 372 Tài liệu tập huấn về đối sánh trong giáo dục do Viện Nghiên cứu Giáo dục tổ chức tháng 02/2011

13 Shafer, B.S., & Coate, L.E (1992) Benchmarking in Higher Education: A Tool for Improving Quality and Reducing Cost Business Officer, 26(5), 28-35

14 UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2012), Đề án Quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2012-2015 tầm nhìn đến năm 2020

15 Website: http://Myschool.edu.au

(Ngày Tòa soạn nhận được bài: 05-5-2015; ngày phản biện đánh giá: 25-6-2015;

ngày chấp nhận đăng:10 -11-2015)

Trang 15

ĐỐI SÁNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG - KINH NGHIỆM THẾ

GIỚI VÀ VẬN DỤNG CHO VIỆT NAM

ThS Hồ Sỹ Anh, ThS Huỳnh Xuân Nhựt, Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường ĐHSP TP.HCM

TÓM TẮT

Đối sánh trong giáo dục phổ thông (GDPT) đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn Đối sánh đã giúp các trường học không ngừng cải tiến quá trình hoạt động của mình, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa Bài viết tìm hiểu về đối sánh, đối sánh trong giáo dục, giới thiệu mô hình đối sánh GDPT một số nước trên thế giới và đề xuất giải pháp vận dụng đối sánh đối với GDPT Việt Nam

ABSTRACT

Benchmarking in general education has been studied and applied in practice

by countries of the world Benchmarking helped schools improve their operational processes, in order to improve the quality of education, contribute to human resources to meet requirements of the knowledge economy and globalization The paper explores the benchmarking, benchmark, benchmarking in education, and introduces some models of benchmarking in general education of some countries in the world and propose solutions to apply benchmarking for general education in Vietnam

1 Đặt vấn đề

Đối sánh đã được áp dụng thành công không chỉ đối với giáo dục đại học mà

cả GDPT tại một số nước như Hoa Kỳ, các nước Châu Âu, Australia, Ở Việt Nam, đối sánh trong giáo dục chưa được nghiên cứu nhiều mà chỉ được giới thiệu thông qua các bài viết đăng ở một số tạp chí và hội thảo Nghiên cứu và vận dụng đối sánh cho GDPT Việt Nam sẽ có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế của giáo dục nước ta hiện nay

2 Tìm hiểu đối sánh và chuẩn đối sánh

2.1 Đối sánh (benchmarking)

2.1.1 Định nghĩa đối sánh

Trong quá trình nghiên cứu, triển khai đối sánh vào thực tiễn đã xuất hiện khá nhiều định nghĩa khác nhau Điều này đã phản ánh một thực tế là, đối sánh rất đa dạng và phong phú về phương pháp, cách thức tiến hành và mục tiêu mà nó hướng tới Tuy nhiên, qua xem xét các định nghĩa, chúng ta nhận thấy có 2 hướng tiếp cận

chính, đó là: thứ nhất, đối sánh dưới góc nhìn về phương pháp (đối sánh là gì, được thực hiện ra sao, ai thực hiện); thứ hai, đối sánh dưới góc nhìn về mục tiêu (tại sao

cần phải đối sánh, đối sánh để làm gì, mang lại lợi ích gì) (Vũ & Lê, 2011)

Theo hướng đối sánh là gì và được thực hiện như thế nào, có một số định

nghĩa tiêu biểu sau: (1) "Đối sánh là một quy trình mang tính hệ thống nhằm đo lường và so sánh các quy trình của một đơn vị/tổ chức với các đơn vị/tổ chức khác,

Trang 16

bằng cách sử dụng đánh giá bên ngoài đối với các hoạt động, chức năng hay các điều hành trong đơn vị/tổ chức đó" (Kempner,1993); (2) "Đối sánh là đi tìm kiếm những thực tiễn tốt nhất dẫn đến sự thể hiện vượt trội, thông qua việc triển khai thực hiện những thực tiễn tốt nhất" (Anand & Kokali, 2008); (3) "Đối sánh là tiến trình xác định, hiểu, và phỏng theo những thực tiễn nổi bật từ các tổ chức ở bất kỳ đâu trên thế giới, để giúp một tổ chức cải tiến năng lực hoạt động của mình Đó chính là hoạt động mà nhìn ra bên ngoài để tìm kiếm những kinh nghiệm tốt nhất và năng lực thể hiện cao, và sau đó, đo lường những hoạt động của đơn vị mình so với mục tiêu đề ra (Kumar & Dhakar, 2006),

Theo hướng đối sánh để làm gì, có một số định nghĩa sau: (1) Đối sánh là,

trước hết và trên hết, một quá trình học hỏi được kiến tạo để tạo điều kiện cho những người tham gia quá trình này có thể so sánh những hoạt động, hay dịch vụ sản phẩm của họ với người khác hay tổ chức khác, nhằm tìm hiểu chỗ mạnh, chỗ yếu trong tương quan so sánh với nhau, để tự cải thiện hoặc điều chỉnh hoạt động của mình" (Jackson & Lund (2000:6); (2) "Đối sánh nhằm đề ra các mục tiêu cho một đơn vị bằng cách sử dụng các vật chuẩn từ bên ngoài (tức chuẩn đối sánh), và học hỏi để triển khai những phương pháp thực hành tốt nhất tại đơn vị của mình nhằm mục tiêu cải thiện tổ chức" (Vũ & Lê, 2011)

2.1.2 Những lợi ích của đối sánh

Đối sánh mang lại nhiều lợi ích, đó là: (1) Hiểu và thỏa mãn được khách hàng, nhanh chóng nhận biết và đáp ứng các nhu cầu thực tại của thị trường; (2) Cải thiện hiệu suất hoạt động của tổ chức bằng cách thiết lập các mục tiêu hiệu quả và tin cậy (tránh lối lãnh đạo theo kiểu suy diễn từ kinh nghiệm hoặc từ những xu hướng trong quá khứ); (3) Luôn giữ vững được tính cạnh tranh, bởi luôn thấu hiểu các đối thủ và các biểu hiện của họ như chất lượng, chi phí, thời gian sản xuất;(4) Khám phá những phương pháp tốt nhất mà thực tiễn đã chứng minh chúng thành công ở nơi khác; (5) Xác định những điểm mạnh của mình (để phát triển chúng hơn nữa) cũng như những điểm yếu của người khác để biến chúng thành cơ hội của mình;

2.1.3 Đối sánh trong giáo dục

Khi vận dụng đối sánh vào giáo dục, các nhà nghiên cứu đã phát triển thêm các định nghĩa mới về đối sánh theo hướng phù hợp với giáo dục, có thể nêu một vài định nghĩa sau: (1) “Đối sánh giúp cho việc vượt qua các lực cản đối với những thay đổi cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá ngoài, tạo mạng lưới giao tiếp giữa các trường và trao đổi kinh nghiệm.” (AACSB, 1994); (2) “Đối sánh

là quy trình mang tính tích cực, cung cấp các đo lường khách quan nhằm phục vụ cho việc đưa ra các giá trị mang tính sáng tạo, đặt ra mục đích và phương hướng cải tiến dẫn đến việc đổi mới trong giáo dục.” (Shafer &Coate 1992)…

2.2 Khái niệm chuẩn đối sánh (benchmark)

2.2.1 Benchmark

Trong từ điển Anh - Việt, benchmark là một danh từ, được giải thích với 3 nghĩa: 1 Dấu chuẩn để đo lường; 2 Điểm chuẩn; 3 Các chương trình chuẩn đo lường khả năng của máy tính Trong khảo sát trắc địa, benchmark là một điểm mốc,

mà dựa vào đó người ta có thể đo đạc vị trí của những vật thể khác Theo từ điển

Trang 17

Webster, benchmark được định nghĩa: "là một điểm tham chiếu từ đó các phép đo lường có thể thực hiện" (a piont of reference from which measurement may be made) (PhilipsKPA, 2011)

2.2.2 Chuẩn đối sánh

Trong nhiều trường hợp, benchmark trở thành cái mốc để so sánh một sự vật ở

3 trạng thái: hơn, bằng, kém hay là cái mốc để xác định vị trí của một sự vật khác trong không gian và trong quan niệm của cộng đồng, xã hội (Nguyễn & Phạm, 2003) Ví dụ, kết quả bài kiểm tra dưới 5 điểm là chưa đạt yêu cầu Như vậy, điểm chuẩn theo nghĩa thứ hai của benchmark, được dùng trong đánh giá môn học hay trong thi tuyển

Trong kiểm định và đánh giá chất lượng, nhiều tổ chức, đơn vị, hay cơ sở giáo dục thiết lập một hệ thống các benchmark (benchmark set), như những cái mốc chung để cá nhân hay đơn vị chưa đạt sẽ phải phấn đấu để đạt được sau một thời gian nhất định Lúc này, benchmark được hiểu theo nghĩa tổng quát hơn, được dùng trong so sánh, đánh giá chất lượng sản phẩm, dịch vụ hay quy trình, đó chính là chuẩn đối sánh

Như vậy, chuẩn đối sánh là một mốc xác định về một khoản mục nào đó, để các cá nhân, đơn vị phấn đấu vượt qua, mốc này có thể do chính đơn vị đặt ra hoặc

là được chọn từ bên ngoài

3 Phân loại đối sánh

Việc phân loại đối sánh cũng rất đa dạng Theo Appleby (1999:59), số lượng đối sánh mà các nhà nghiên cứu đưa ra có khi lên đến hàng chục loại khác nhau, đã tạo ra sự phức tạp không cần thiết Theo các nghiên cứu, có 2 hệ thống phân loại đối sánh tiêu biểu, một xuất phát từ lĩnh vực công nghiệp – kinh doanh (Camp, 1989),

và một đại diện cho giới quản lý giáo dục (Appleby, 1999) Nhờ sự phân loại này

mà các doanh nghiệp cũng như trường học áp dụng đối sánh một cách thuận lợi và hiệu quả

3.1 Hệ thống đối sánh theo Camp

Hệ thống phân loại Camp (1989) có các loại đối sánh sau:

3.1.1 Đối sánh nội bộ (Internal Benchmarking)

Đối sánh nội bộ là phương pháp đối sánh đơn giản và dễ thực hiện nhất (Love

&Dale 2007:481, dẫn theo Vũ & Lê, 2011), đó là việc đối sánh trong nội bộ một tổ chức, đơn vị

3.1.2 Đối sánh cạnh tranh (Competitive Benchmarking)

Đối sánh cạnh tranh là so sánh sản phẩm, dịch vụ một đơn vị với một đối thủ mạnh nhất trên thị trường, hay đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nó (Love & Dale 2007:481) Đối tượng của đối sánh (benchmark object) có thể là bất kỳ cái gì, từ sản phẩm, dịch vụ đến quy trình hoạt động Đa số các dự án đối sánh mà các công ty thực hiện đều nhắm đến đối thủ cạnh tranh, nên cần đối sánh loại này Tuy nhiên, đối sánh cạnh tranh không dễ thực hiện, do khó thu thập thông tin chính xác từ đối thủ

Trang 18

3.1.3.Đối sánh chức năng/đối sánh tổng quát (Funtional/generic

Benchmarking)

Đối sánh chức năng là đối sánh giữa các đơn vị có tương tự về mặt tổ chức, còn đối sánh tổng quát là đối sánh được thực hiện khi các đơn vị so sánh không giống nhau về tổ chức nhưng vẫn có những quy trình hoạt động tương tự, và vì thế

có thể học hỏi lẫn nhau Đối sánh chức năng/đối sánh tổng quát ra đời nhằm khắc phục nhược điểm của đối sánh cạnh tranh do thiếu thông tin của đối tác, do bản chất cạnh tranh của việc đối sánh

3.2 Hệ thống phân loại theo Appleby

Theo Appleby, một đơn vị thực hiện đối sánh nhằm đạt được ba mục tiêu: (1) Đối sánh để hiểu rõ hiện trạng của chính mình; (2) Đối sánh để xác định khoảng cách giữa mình và các chuẩn mực khách quan bên ngoài mà mình muốn đạt; Và (3) Đối sánh nhằm học hỏi những phương pháp thực hành tốt nhất từ bên ngoài để triển khai tại đơn vị Ba mục tiêu này không tồn tại độc lập, mà kết hợp với nhau thành một hệ thống thứ bậc, từ th ấp đến cao để tự cải tiến của một cơ sở giáo dục Ba mục tiêu trên tương ứng với 3 phương thức đối sánh (Benchmarking Models), đó là:

3.2.1 Đối sánh trắc lượng (Metric Benchmarking)

Đối sánh trắc lượng là một phương pháp thường áp dụng để so sánh sản phẩm, dịch vụ một đơn vị/bộ phận với những đơn vị/bộ phận khác trong cùng một hệ thống hoặc bên ngoài hệ thống (Appleby 1999:61) Đây thường là bước đầu tiên trong việc áp dụng đối sánh trong quản trị cơ sở giáo dục Phương pháp này giúp các nhà quản lý nắm được những thông tin nhanh về hoạt động của đơn vị, chẳng hạn, tỷ lệ học sinh (HS)/giáo viên, tỷ lệ HS/lớp hay tỷ lệ chi phí bình quân trên đầu

HS trong một năm học Đối sánh trắc lượng rất phổ biến trong quản lý giáo dục ở các nước

3.2.2 Đối sánh chẩn đoán (Diagnostic Benchmarking)

Đối sánh chẩn đoán là xác định những chỗ còn yếu hay khoảng cách của đơn

vị mình với mục tiêu đặt ra Đối sánh chẩn đoán bổ sung rất tốt cho phương pháp đối sánh trắc lượng, vì nó không chỉ thu thập số liệu và thực hiện so sánh rời rạc giữa 2 bên (tỷ lệ HS/máy tính, tỷ lệ giáo viên / HS…) Ngược lại, nó đòi hỏi người tham gia phải có cái nhìn tổng hợp về toàn bộ quá trình hoạt động từ đầu vào đến kết quả đầu ra, để vừa đo lường khoảng cách với thực tế và mong đợi của đơn vị, vừa xác định nguyên nhân gây ra khoảng cách đó, để có biện pháp cải thiện thích hợp Trong đối sánh chẩn đoán, chuẩn mực hay còn gọi là chuẩn đối sánh, là một thành tựu mà đơn vị khác đạt được, tức là so sánh đơn vị mình với một đơn vị khác tốt hơn, còn trong tự đánh giá của kiểm định, chuẩn mực chính là bộ tiêu chuẩn chất lượng do cơ quan kiểm định đặt ra

3.2.3 Đối sánh quy trình (Process Benchmarking)

Đối sánh quy trình là nghiên cứu, học hỏi từ đối tác để tìm ra giải pháp và vạch lộ trình đưa một đơn vị đến đích Như vậy, trong hệ thống phân loại của Appleby (1999), đối sánh quy trình mới thực sự giúp ích cho một đơn vị nhiều hơn

Trang 19

Trong hệ thống của Appleby, các loại đối sánh của Camp được đưa vào thành một

hệ thống con của đối sánh quy trình, đồng thời bổ sung thêm một loại đối sánh nữa

- Đối sánh nội bộ: so sánh các quy trình giống nhau giữa các bộ phận có hoạt

động tương tự trong một đơn vị để chia sẻ thực tiễn tốt nhất trong nội bộ đơn vị

- Đối sánh cạnh tranh: xác định khoảng c ách trong hoạt động và thành quả

của đơn vị mình với đối thủ và nguyên nhân của khoảng cách đó để tìm cách rút ngắn

- Đối sánh chức năng: so sánh cách triển khai những quy trình hoạt động

tương tự giữa các đơn vị khác nhau trong cùng một lĩnh vực để học hỏi từ thực tiễn tốt nhất

- Đối sánh tổng quát: xác định nguyên nhân của sự thành công trong các quy

trình cốt lõi của những đơn vị khác nhau và tìm cách học hỏi cho đơn vị mình

- Đối sánh theo nhóm (Group Benchmarking): được thực hiện bởi một nhóm

các đơn vị trong cùng một lĩnh vực hoặc nhiều lĩnh vực khác nhưng có cùng mối quan tâm

So sánh hệ thống phân loại của Camp và của Appleby cho thấy, có sự phát triển khái niệm đối sánh ở mức độ cao hơn ở Appleby Appleby không loại trừ mà

bổ sung cho Camp, hoặc nói đúng hơn là bao trùm lên Camp Hệ thống phân loại Camp chỉ phân biệt các loại đối sánh ở mức ngang hàng, còn hệ thống phân loại

Appleby là hệ thống có thứ bậc, nó gồm 3 bậc từ thấp đến cao: (1) Đối sánh trắc

lượng để tự hiểu mình; (2) Đối sánh chẩn đoán để xác định khoảng cách của mình

với mục tiêu cần đạt; Và (3) Đối sánh quy trình để học hỏi từ người làm tốt hơn

mình nhằm mục đích cải tiến

4 Triển khai đối sánh đối với giáo dục phổ thông trên thế giới

Qua khảo cứu cho thấy, các nước đã nghiên cứu, vận dụng đối sánh đối với GDPT ở các cấp độ khác nhau: đối sánh quốc tế (internationnal benchmarking), đối sánh quốc gia (national benchmarking), đối sánh trong một nhóm trường (group benchmarking) hay đối sánh trong một trường theo quan điểm chiều dọc

4.1 Đối sánh quốc tế

Một minh chứng rõ nhất cho đối sánh quốc tế, đó là Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) Trong báo cáo đánh giá của OECD, không chỉ so sánh điểm số các lĩnh vực Toán, Khoa học và Đọc hiểu mà HS lứa tuổi 15 của các nước và vùng lãnh thổ tham gia đạt được, mà còn so sánh, đánh giá một số tiêu chí, chỉ số khác liên quan đến giáo dục như: Kết quả đầu ra của tổ chức giáo dục và sự tác động của việc học tập; Nguồn lực tài chính và con người đầu tư cho giáo dục; Khả năng tiếp cận giáo dục, tham gia và sự tiến bộ; Môi trường học tập và tổ chức quản trị trường học Đánh giá của PISA sẽ giúp cho chính phủ các nước điều chỉnh chính sách phát triển nền giáo dục của quốc gia mình

4.2 Đối sánh ở Hoa Kỳ và bang Ohio

4.2.1 Đối sánh giáo dục phổ thông Hoa Kỳ

Trang 20

Qua nghiên cứu đối sánh trong GDPT của Hoa Kỳ cho thấy, xu hướng đối sánh thường tập trung vào đánh giá nhu cầu cải tiến học tập của HS Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, đối sánh được dùng để đo lường các thành tựu của HS như tỉ lệ tốt nghiệp, kết quả kiểm tra, đánh giá hoặc đối sánh các vấn đề về

sử dụng năng lượng, tiết kiệm tài chính,…

4.2.2 Đối sánh giáo dục bang Ohio Hoa Kỳ

Theo Báo cáo PISA năm 2006, Hoa Kỳ xếp lĩnh vực Toán ở thứ hạng 25 và Khoa học ở thứ hạng 21 trong 30 nước khối OECD Báo cáo trên cũng chỉ ra Hoa

Kỳ đang tụt sau những quốc gia khác về vốn con người, và điều này đòi hỏi phải có

sự đánh giá tiến trình giảng dạy và đánh giá môn học ở các trường công lập tại Hoa

Kỳ (NGA, 2008) Đây là vấn đề đặt ra cho tất cả các bang của Hoa Kỳ

Để có một nền giáo dục "đẳng cấp quốc tế", bang Ohio tiến hành cải cách mục tiêu giáo dục, từ bậc mầm non đến trung học, để đảm bảo những sinh viên tốt nghiệp có đủ khả năng cạnh tranh hiệu quả trong môi trường của nền kinh tế tri thức

và toàn cầu hóa Theo Caldwell (2000): “Chuẩn đẳng cấp thế giới trong thế kỷ 21 yêu cầu mọi người có học thức cao, tính toán giỏi, thông thạo kiến thức, có khả năng học tập liên tục, tự tin và có thể đóng góp vai trò của mình trong xã hội dân chủ”

Vấn đề đặt ra là, làm thế nào Ohio sử dụng đối sánh quốc tế để thay đổi chuẩn

đánh giá và xây dựng chương trình giáo dục Chiến lược đầu tiên trong tuyên bố

tầm nhìn của Hội đồng Giáo dục Bang năm 2009 là “xây dựng và thực thi chuẩn giáo dục thế giới” Hội đồng Giáo dục Bang Ohio đã tiến hành “đánh giá và chỉnh sửa lại các tiêu chuẩn học thuật của GDPT” và so sánh Chuẩn đánh giá của Ohio với chuẩn đánh giá của 8 quốc gia (là những quốc gia có thứ hạng cao theo đánh giá của PISA) và một tỉnh thuộc Canada, đó là: Úc, Anh, Phần Lan, Hồng Kông, Nhật,

Hà Lan, New Zealand, Ontario và Singapore

Quá trình đối sánh này đã phát hiện ra 3 vấn đề: (1) Ohio có bộ chuẩn riêng dành cho những kỹ năng xử lý, trong khi các quốc gia có thứ hạng cao tích hợp những kỹ năng này vào các bộ chuẩn nội dung; (2) Những quốc gia có thứ hạng cao

có sự chuyển tiếp, liên hệ và tích hợp giữa bộ tiêu chuẩn và chương trình giáo dục; (3) Các bộ tiêu chuẩn của Ohio không cụ thể những gì được mong đợi ở HS tương ứng với mỗi cấp lớp, hoặc những gì HS nên học và nên làm trong những năm tiếp theo

Woolard (2009), phát hiện rằng, bộ tiêu chuẩn của Ohio không gắn kết tốt với

vốn dạy ít chủ đề hơn nhưng chú trọng học tập sâu hơn ở mỗi cấp lớp và bộ tiêu chuẩn ở Hoa Kỳ nói chung và bang Ohio nói riêng vốn bao quát nhiều chủ đề ở mỗi

cấp lớp, và dẫn đến kết quả Hoa Kỳ có được là: "rộng một dặm và sâu chỉ có một

inch"

Hội đồng Giáo dục của Bang sử dụng các nội dung và kỹ năng này vào Chuẩn cốt lõi chung của Bang Chuẩn này được xác định là “kiến thức và kỹ năng HS phổ

Trang 21

thông cần có để các em có thể tốt nghiệp THPT và có khả năng thành công ở bậc học cao hơn hay ở các chương trình đào tạo lao động” Tự đó, hệ thống giáo dục

của Ohio đã chuyển từ kiểm tra kết quả học tập của HS sang đánh giá những gì HS

thể hiện

Như vậy, nhờ quá trình đối sánh bộ tiêu chuẩn đánh giá, bang Ohio đã xây dựng chuẩn riêng của mình Số lượng của các chuẩn đánh giá đã giảm đáng kể Ở môn Khoa học, số chuẩn giảm từ 6 còn 3, ở môn Toán, từ 6 còn 4, ở Ngữ Văn Anh

từ 10 còn 3, và ở môn Khoa học xã hội từ 7 còn 4

4.3 Đối sánh giáo dục phổ thông Châu Âu

Ở châu Âu, đối sánh bắt đầu được sử dụng phổ biến từ sau những năm 1990, đánh dấu bởi sự ra đời của các tổ chức và hiệp hội đối sánh lớn như: Trung tâm châu Âu dành cho các Trường Đại học quản lý chiến lược (European Center for Strategic of Universities) ở Bỉ, Trung tâm phát triển Giáo dục đại học ở Đức, trung tâm châu Âu về giáo dục đại học Đối với GDPT, ở châu Âu đối sánh cũng được chú ý, điều này đã thúc đẩy sự ra đời của Hiệp hội châu Âu về tự đánh giá các trường học hiệu quả để nhằm xác định nhân tố cải thiện chất lượng các trường học (Sarrico & Rosa, 2009)

Ở Anh, việc sử dụng nền tảng đối sánh dựa trên phần mềm online, tích hợp ở website để đánh giá các trường học đã được sử dụng bởi nhiều tổ chức như Sở phụ trách Trường học Trẻ em và Gia đình (The Department for Children School and Familis - DCSF) Na Uy cũng là quốc gia sử dụng hệ thống đánh giá các trường học

để thu thập dữ liệu các trường phân theo các chỉ số về kết quả học tập, nguồn lực và môi trường học tập Đối sánh này nhằm cung cấp thông tin hiệu quả hoạt động các trường học cho nhà quản lý, chính phủ, phụ huynh, HS

và công chúng Đặc biệt là Bồ Đào Nha đã xây dựng hệ thống đối sánh với 4 tiêu chuẩn: bối cảnh, nguồn lực, quá trình và kết quả đầu ra

4.4 Đối sánh giáo dục phổ thông Australia

Cũng như ở châu Âu, đối sánh đã được vận dụng ở Australia vào những năm

chuẩn bị, cải tiến chất lượng từ giai đoạn phổ thông, bằng việc công bố thông tin trường học trên Website My School My School được công bố bởi ACARA (Australian Curriculum Assessment and Repoting Authority) ACARA là một cơ quan độc lập chịu trách nhiệm cho sự phát triển chương trình giảng dạy quốc gia ACARA chịu trách nhiệm xuất bản dữ liệu so sánh của gần 10.000 trường học tại Australia trên My School, bao gồm: kết quả đánh giá môn học, đặc điểm nền tảng của HS, thông tin về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và thu nhập của họ, thông tin tài chính, giáo dục nghề nghiệp của trường,…

Bên cạnh đó, một số công ty tư vấn giáo dục độc lập cũng đã xây dựng các hệ thống đối sánh như Đối sánh điện tử trong giáo dục (Electronic Benchmarking in

Trang 22

Education - EBIE) của Công ty PhillipsKPA (Australia) Hệ thống này thực hiện đối sánh nhóm các trường phổ thông quốc tế tại Australia, là các trường thành viên trong Hội đồng châu Âu các trường quốc tế (European Council of International Schools - ECIS) Đây là một phần mềm đối sánh trực tuyến, cho phép thu thập và xuất ra số liệu, biểu đồ với 196 chỉ số của 11 lĩnh vực, bao gồm: tài chính, nguồn nhân lực, cơ cấu phí, HS và nhân chủng học, kết quả học tập, quản trị, truyền thông, tình trạng môi trường, cung cấp CNTT và chi phí sinh hoạt

5 Đề xuất giải pháp vận dụng đối sánh cho GDPT Việt Nam

(1) Việt Nam đã tham gia 2 kỳ đánh giá của PISA (năm 2012 và 2015), qua kết quả PISA năm 2012 cho thấy, HS Việt Nam có thứ hạng khá cao ở lĩnh vực Toán và Khoa học Ở tầm quốc gia cần có sự đối sánh giữa Việt Nam với các nước đạt thành tích xuất sắc như Phần Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Singapore về

cả 3 phương diện: bộ chuẩn đánh giá HS, chương trình giáo dục và phân loại giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế của UNESCO (ISCED, 2011) Từ đó, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt, những mặt còn hạn chế để cải tiến về bộ chỉ số đánh giá giáo dục, cũng như cách phân loại giáo dục

(2) Cần đầu tư nghiên cứu và triển khai đối sánh cho các trường, nhất là xây dựng bộ chỉ số đối sánh Giai đoạn đầu áp dụng cho các trường THPT, sau đó từng bước mở rộng nghiên cứu để áp dụng cho các trường THCS, tiểu học và mầm non (3) Nghiên cứu, biên soạn tài liệu về đối sánh để tập huấn cho cán bộ quản lý các trường phổ thông

6 Kết luận

Đối sánh là một cách tiếp cận mới và rất đa dạng khi áp dụng vào lĩnh vực giáo dục Điểm cốt lõi và cái lợi ích thiết thực của đối sánh thể hiện ở 2 yếu tố, đó là: xác định những yếu tố thành công của người khác; và hiểu biết rõ ràng, đầy đủ

về những hạn chế của chính mình để không ngừng cải tiến Đối sánh được các nước phương Tây vận dụng rất thành công Tuy nhiên, nó lại xuất phát từ 2 triết lý lâu đời của người phương Đông: Thứ nhất, Tôn Tử - bậc thầy quân sự của Trung Hoa

đã nói: "Biết mình, biết người, trăm trận trăm thắng"; Thứ hai, xuất phát từ triết lý thể hiện ở một từ của tiếng Nhật "dantotsu" có nghĩa là "phương pháp trở thành người giỏi nhất của những người giỏi nhất"

Theo Splendolini, quy trình đối sánh gồm 5 bước: Xác định đối tượng của đối sánh (đối sánh cái gì); Thành lập nhóm làm việc để triển khai đối sánh (ai thực hiện hoạt động đối sánh); Xác định đối tác đối sánh (đối sánh với ai); Thu thập và phân tích thông tin đối sánh; và Hành động cải thiện sau đối sánh Mỗi bước triển khai có những khó khăn nhất định, đòi hỏi hai yếu tố quan trọng là: (1) Một sự cam kết mạnh mẽ, một quyết tâm của lãnh đạo các trường (bao gồm cả cam kết về nguồn lực) và thực hiện những cải thiện sau đối sánh; (2) Một quá trình hợp tác và cam kết của các nhóm liên quan, bao gồm cả cơ quan quản lý giáo dục cấp trên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 23

1 Vũ Thị Phương Anh, Lê Quốc Thắng (2011) Đối sánh trong quản trị đại học –

Kinh nghiệm thế giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam Tạp chí Giáo dục và Phát

triển số 9, tháng 1/2011 TP.HCM, 2011

2 Appleby (1999) Benchmarking Theory - A framwork for the Business word at

content for its applycation in hight Education In Smith at al 1999, Charter 3, pp

53-69

3 Camp, R.C (1989), Benchmarking: The Search for Industry Best Practices

That Lead to Superior Performance Milwaukee, WI: ASQC Quality Press

4 Kempner, D.E (1993) The Pilot Years: The Growth of the NACUBO

Benchmarking Project NACUBO Business Officer, 27(6), 21-31

5 Shafer, B.S., & Coate, L.E (1992).Benchmarking in Higher Education: A Tool

for Improving Quality and Reducing Cost Business Officer, 26(5), 28-35

6 Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh (2003) Một số khái niệm thường dùng

trong đảm bảo chất lượng đại học TC Giáo dục số 66, 9/2003 Hà Nội, 2003

7 OECD (2014) Education at a Glance 2014: OECD Indicators, OECD

Pupblishing

8 Ohio Smart School (2011) Benchmarking Ohio's Schools Districts: Identifying

districts that get more for their money in non-instructional spending Copyright

2011 by Knowledge Works Foundation All right reserved

9 PhilipsKPA (2011) Electronic Benchmarking In Education PhillipsKPA Pty

Ltd ABN 71 347 991 372 Tài liệu tập huấn về đối sánh trong giáo dục do Viện Nghiên cứu Giáo dục tổ chức tháng 2/2011

10 Website http://myschool.edu.au

Ngày đăng: 18/10/2016, 08:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tổng hợp 27 chỉ số (thông tin được lấy từ hồ sơ trường   của các trường THPT tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu năm học 2011-2012) - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 1. Tổng hợp 27 chỉ số (thông tin được lấy từ hồ sơ trường của các trường THPT tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu năm học 2011-2012) (Trang 7)
Bảng 2. Chỉ số bình quân số HS/lớp - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 2. Chỉ số bình quân số HS/lớp (Trang 8)
Bảng 2 cho thấy, 3 trường có số HS/lớp cao hơn mức bình quân 7 trường và 4  trường dưới mức bình quân 7 trường - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 2 cho thấy, 3 trường có số HS/lớp cao hơn mức bình quân 7 trường và 4 trường dưới mức bình quân 7 trường (Trang 9)
Bảng 3. Chỉ số Bình quân số GV /lớp - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 3. Chỉ số Bình quân số GV /lớp (Trang 9)
Bảng 4. Chỉ số số HS/01 máy tính - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 4. Chỉ số số HS/01 máy tính (Trang 10)
Bảng  6  cho  thấy  trong  5  chỉ  số  đưa  ra  so  sánh,  Trường  C  có  4  chỉ  số  kém  hơn  mức bình quân của 7 trường - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
ng 6 cho thấy trong 5 chỉ số đưa ra so sánh, Trường C có 4 chỉ số kém hơn mức bình quân của 7 trường (Trang 11)
Bảng 8. Bảng so sánh 7 chỉ số của lĩnh vực chất lượng HS - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 8. Bảng so sánh 7 chỉ số của lĩnh vực chất lượng HS (Trang 12)
Bảng 6: Tỷ lệ phần trăm GV trên chuẩn đào tạo năm học 2014-2015 và 2015- - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 6 Tỷ lệ phần trăm GV trên chuẩn đào tạo năm học 2014-2015 và 2015- (Trang 30)
Bảng 7: Tỷ lệ phần trăm GV xếp loại xuất sắc năm học 2014-2015 và 2015- - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 7 Tỷ lệ phần trăm GV xếp loại xuất sắc năm học 2014-2015 và 2015- (Trang 31)
Bảng 8: Bình quân diện tích (m 2 ) trên đầu HS năm học 2014-2015 và 2015- - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 8 Bình quân diện tích (m 2 ) trên đầu HS năm học 2014-2015 và 2015- (Trang 31)
Bảng 10: Tỷ lệ phòng học văn hóa trên số lớp năm học 2014-2015 và 2015-2016 - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 10 Tỷ lệ phòng học văn hóa trên số lớp năm học 2014-2015 và 2015-2016 (Trang 32)
Bảng 9: Tỷ lệ HS/ máy tính (dành cho học tập) năm học 2014-2015 và 2015- - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 9 Tỷ lệ HS/ máy tính (dành cho học tập) năm học 2014-2015 và 2015- (Trang 32)
Bảng 12: Tỷ lệ phần trăm GV tham gia “Trường học kết nối” năm học 2014- - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 12 Tỷ lệ phần trăm GV tham gia “Trường học kết nối” năm học 2014- (Trang 33)
Bảng 11: Tỷ lệ phần trăm GV đạt “Lao động tiên tiến trở lên” năm học 2014- - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 11 Tỷ lệ phần trăm GV đạt “Lao động tiên tiến trở lên” năm học 2014- (Trang 33)
Bảng 14: Tỷ lệ phần trăm xếp loại học lực cuối năm học 2014-2015 - BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG ĐỐI SÁNH TRONG GIÁO DỤC ĐỂ SO SÁNH BẢY TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bảng 14 Tỷ lệ phần trăm xếp loại học lực cuối năm học 2014-2015 (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w