1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến lược lịch sự của hành động từ chối trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

48 737 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 75,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Chiến lược lịch sự của hành động từ chối trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” để thấy được cách giao tiếp, ứng xử và cách sử dụng ngôn ngữ, cách đối nhân xử thế giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, giữa người với người, cũng như bộ mặt xã hội phong kiến nửa thuộc địa Việt Nam hồi đầu thế kỉ được phản ánh chân thực qua truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan qua ba tác phẩm tiêu biểu là Đồng hào có ma, Mất cái ví, Người ngựa và ngựa người.

Trang 1

A. MỞ ĐẦU

1.1 Từ xa xưa đến nay, nghiên cứu ngôn ngữ văn chương truyền thống mới chỉ đi dựa trên ngữ pháp và ngữ nghĩa, tức là đi sâu vào bình diện kết học, nghĩa học của câu chữ trong văn bản văn học mà bỏ qua mặt dụng học Đây là hướng đi của ngôn ngữ học cổ điển (ngôn ngữ học tiền ngữ dụng) Hạn chế của các phương pháp nghiên cứu truyền thống này là mới chỉ thấy được mô hình mã mà chưa thấy được mô hình suy ý, tách rời ngôn ngữ nhân vật khỏi ngữ cảnh rộng và hẹp nên không thấy được nhiều hơn những nghĩa nằm trên câu chữ trực tiếp Điều này cũng có nghĩa là chúng ta đã bỏ qua một mảng lớn nội dung tác phẩm, bao gồm các hành động ngôn ngữ (trực tiếp/gián tiếp), nghĩa hàm ẩn, hợp phần ngữ cảnh…

là những nhân tố quan trọng kiến tạo nên cuộc giao tiếp hoàn chỉnh giữa các nhân vật trong tác phẩm và giữa nhà văn với bạn đọc Nói một cách đơn giản, trong ngôn ngữ của nhân vật văn học và nhà văn khi tạo nên tác phẩm văn học còn rất nhiều điều nằm ngoài câu chữ mà ngôn ngữ học truyền thống đã bỏ qua hoặc chưa phát hiện ra Những nội dung ngoài câu chữ này đóng vai trò không nhỏ giúp người đọc hiểu sâu hơn nội dung tác phẩm cũng như những điều nhà văn gửi gắm.

1.2 Nghiên cứu ngôn ngữ văn học ngày nay áp dụng những thành tựu của ngữ dụng học để phát hiện thêm nhiều góc khuất đằng sau câu chữ Chúng ta coi tác phẩm văn học là một diễn ngôn, tức là sản phẩm giao tiếp giữa nhà văn và bạn đọc Trong đó bao gồm nhiều hành động ngôn ngữ giữa các nhân vật, thông qua nhiều cuộc thoại, đoạn thoại khác nhau Bởi vậy, cần thiết phải dùng lí thuyết hội thoại trong ngữ dụng học nghiên cứu các cuộc thoại, đoạn thoại đó để thấy được vị thế, tính cách, dấu ấn thời đại, xã hội cũng như nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn và tư tưởng anh ta gửi gắm vào chúng Một trong những lí thuyết quan trọng

Trang 2

cần sử dụng khi nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật văn học là “chiến lược lịch

sự trong hành động ngôn ngữ”.

1.3 Nguyễn Công Hoan là nhà văn hiện thực phê phán nổi tiếng trước 1945 Các tác phẩm truyện ngắn của ông đóng vai trò quan trọng trong tiến trình văn học Việt Nam, từ nghệ thuật xây dựng nhân vật, cốt truyện, chủ nghĩa hiện thực đến cách sử dụng ngôn từ, câu chữ, giúp làm giàu tiếng Việt thưở đầu thế kỉ Về ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, ngôn ngữ học truyền thống đã nghiên cứu khá kĩ trên các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, nhưng lại bỏ ngỏ mặt dụng học Bởi vậy, chúng tôi bước đầu tìm hiểu về “Chiến lược lịch sự của hành động từ chối trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” để thấy được cách giao tiếp, ứng xử và cách sử dụng ngôn ngữ, cách đối nhân xử thế giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, giữa người với người, cũng như bộ mặt xã hội phong kiến nửa thuộc địa Việt Nam hồi đầu thế kỉ được phản ánh chân thực qua truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Do điều kiện nghiên cứu có hạn nên chúng tôi chỉ chọn ba truyện ngắn tiêu biểu là Đồng hào có ma, Mất cái ví, Người ngựa và ngựa người.

Trang 3

B. NỘI DUNGChương 1 Cơ sở lí thuyết

1.1.Hành động ngôn ngữ

Hành động ngôn ngữ là hành động thực hiện khi tạo ra một phát ngôn (diễn ngôn) trong một cuộc giao tiếp Hành động ngôn ngữ đòi hỏi phải có điều kiện, thao tác, cách thức tổ chức thao tác và quan trọng nhất là phải có đích như mọi hành động khác của con người có ý thức Trong một cuộc giao tiếp, phát ngôn thường được tạo ra do ba loại hành động khác nhau.

- Hành động tạo lời: Là hành động vận động các cơ quan phát âm, vận dụng các từ và kết hợp các từ theo các quan hệ cú pháp thích hợp thành câu, rồi tổ chức các câu thành diễn ngôn Sản phẩm của hành động tạo lời là đối tượng nghiên cứu của cú pháp tiền ngữ dụng.

- Hành động mượn lời: Là hành động nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, tâm lí, trong hành động vật lí, có thể quan sát được, gây ra một tác động nào đấy với ngữ cảnh.

- Hành động ở lời: Là hành động mà đích của nó nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nói ra (viết ra) Chính cái đích này phân biệt các hành động ở lời với nhau.

Có vô số hành động ở lời khác nhau như xin, cho, thông báo, hỏi han, hứa hẹn, trách mắng, sai bảo, nhờ vả… và từ chối cũng là một hành động ở lời thường được sử dụng khi tạo ra phát ngôn.

1.2 Phép lịch sự

1.2.1.Khái niệm

Lịch sự là nguyên tắc cần thiết để một cuộc hội thoại diễn ra suôn

sẻ, gắn liền với các hành động ngôn ngữ Theo định nghĩa của C.K.Orecchioni: “Khái niệm lịch sự bao gồm tất cả các phương diện của diễn ngôn bị chi phối bởi các quy tắc có chức năng giữ gìn tính chất hài hòa của quan hệ liên cá nhân” [8, 95].

Trong đó, quan hệ liên cá nhân gồm hai lĩnh vực Thứ nhất là lĩnh vực của quan hệ dọc và quan hệ ngang Thứ hai là lĩnh vực của quan hệ

Trang 4

liên cá nhân hình thành ngay trong cuộc hội thoại Ứng với hai lĩnh vực trên là lịch sự quy ước và lịch sự chiến lược.

1.2.2 Các phương diện của lịch sự

1.2.2.1 Lịch sự quy ước

Đặc tính của lịch sự quy ước là “có những phương tiện ít nhiều quy ước, bắt buộc khiến cho bất kì ai rơi vào một vị trí ở trục quan hệ dọc hay trục quan hệ ngang nào đó cũng phải sử dụng” [8, 96].

Lịch sự quy ước chia làm 2 nhóm theo quan hệ dọc và quan hệ ngang:

Quan hệ dọc là quan hệ vị thế, tương ứng với nó là lịch sự vị thế Các phương tiện ngôn ngữ của phép lịch sự này là cách xưng hô, cách tổ chức lượt lời, sự ngắt lời hay xen lời… và việc ưu tiên sử dụng một số hành động ở lời.

Quan hệ ngang là quan hệ thân cận, thân – sơ cũng được chia thành những cấp bậc khác nhau Các phương tiện ngôn ngữ của phép lịch sự này cũng là các từ xưng hô như mình - ấy, cậu – tớ, mày – tao… anh –

em, bố - con…, các tên riêng để tự xưng và hô thứ hai.

Hai trục quan hệ này có sự tác động lẫn nhau Quan hệ thân – sơ có thể biến đổi trong quá trình hội thoại, do đó phép lịch sự vị thế cũng có thể thay đổi theo sự biến đổi của quan hệ thân – sơ Tuy nhiên, ở xã hội Việt Nam, lịch sự vị thế là lịch sự chi phối mạnh.

1.2.2.2 Lịch sự chiến lược

Lịch sự chiến lược là lịch sự liên quan tới việc sử dụng các hành đông ở lời và với những đề tài được đưa vào hội thoại Lịch sự chiến lược như vậy có thể hiểu là lịch sự bao trùm tất cả các phương diện của việc sử dụng các hành động ở lời và việc đề cập đến các đề tài sao cho có thể giữ gìn được tính chất hài hòa của quan hệ liên cá nhân trong hội thoại.

1.2.3 Thể diện

1.2.3.1 Khái niệm

Muốn thực hiện chiến lược lịch sự thì cần phải tôn trọng thể diện của đối ngôn.

Trang 5

Theo J.Thomas: “thể diện nên hiểu là cảm giác về giá trị cá nhân của mỗi người, nó là hình ảnh về ta, về chính mình Cái hình ảnh này có thể

bị tổn hại, được giữ gìn hay được đề cao trong tương tác” [8, 98].

Thể diện của một con người được chia thành thể diện âm tính và thể diện dương tính.

Thể diện âm tính là “nhu cầu được tự do hành động, không bị can thiệp của mọi người Với thể diện âm tính, con người có nhu cầu được

độ lập” [8, 98].

Thể diện dương tính là “tổng thể những hình ảnh tự đánh giá cao

về mình mà mỗi cá nhân trong xã hội tự xây dựng nên và cố gắng áp đặt cho người xung quanh, buộc họ phải chấp nhận, tôn trọng” [8, 98].

Brown và Levinson xây dựng lí thuyết về lịch sự chiến lược trên cơ

sở khái niệm thể diện Chiến lược ở đây có nghĩa là chiến lược giữ gìn thể diện của mình và của người sao cho nó không bị tổn hại trong giao tiếp bởi các hành động ở lời.

1.2.3.2 Hành động ở lời đe dọa và tôn vinh thể diện

Các hành động ở lời khi thực hiện đều tác động đến thể diện của người giao tiếp Xét theo tác động đối với thể diện, các hành động ở lời chia thành hai nhóm là hành động đe dọa thể diện và hành động tôn vinh thể diện

Hành động đe dọa thể diện gồm 4 loại:

- Hành động đe dọa thể diện âm tính của người thực hiện: tặng, hứa, cho…

- Hành động đe dọa thể diện dương tính của người thực hiện: thú nhận, xin xỏ, xin lỗi, tự trách…

- Hành động đe dọa thể diện âm tính của người nhận: sai khiến, ngăn cấm, khuyên bảo…

- Hành động đe dọa thể diện dương tính của người nhận: phê phán,

từ chối, chửi mắng, trách móc, chế giễu…

Như vậy, lịch sự chiến lược là phép lịch sự gồm những cách thức tác động vào hiệu quả đe dọa hoặc tôn vinh thể diện bằng các hành động ở

Trang 6

lời để duy trì sự hài hòa trong quan hệ liên cá nhân giữa những người hội thoại

Ứng với hai loại thể diện trên là phép lịch sự âm tính và lịch sự dương tính.

1.2.3.3 Lịch sự âm tính

Phép lịch sự âm tính hướng vào thể diện âm tính của người tiếp nhận Nó có tính lảng tránh, có nghĩa là tránh không dùng hành động đe dọa thể diện, hoặc có tính bù đắp, nghĩa là bù đắp lại những tổn hại về thể diện khi không thể tránh mà bắt buộc phải thực hiện một hành động

đe dọa thể diện nào đấy.

Để tránh một hành vi đe dọa thể diện, chúng ta có thể thay thế nó bằng một hành động trực tiếp khác, có nghĩa là gián tiếp hóa hành động

đe dọa thể diện đó.

Đề bù đắp, chúng ta có thể dùng các biện pháp nói giảm, dùng các phương tiện dẫn nhập.

Trong các biện pháp dịu hóa hành động đe dọa thể diện còn có các biểu thức xin lỗi, thanh minh, giảm thiểu, vuốt ve người nhận…

1.2.3.4 Lịch sự dương tính

Đây là phép lịch sự nhằm vào thể diện dương tính của người nhận

Nó thực hiện những hành vi tôn vinh thể diện người nhận, tỏ ra quan tâm đến người nhận Đó là cách nói quá, cách dùng từ xưng hô thân tình, hoặc từ xưng hô của những người cùng nhóm xã hội.

Lịch sự dương tính chẳng những tôn vinh thể diện dương tính của người nhận mà còn tôn vinh thể diện dương tính của chính người nói, bởi vì tôn trọng người cũng là buộc người phải tôn trọng mình

1.2.3.5 Các biểu thức rào đón

Trong hội thoại, có khi ta phải tỏ cho người nghe biết mức độ mà lời nói của mình bị ràng buộc vào các phương châm cộng tác, vào phép lịch sự đến đâu, độ tin cậy của các hành động ở lời mà mình thực hiện như thế nào Các biểu thức thực hiện chức năng này gọi là biểu thức rào đón.

Trang 7

Rào đón và nhấn mạnh là những biểu thức không thêm một cái gì vào giá trị đúng sai của nội dung phát ngôn, chúng chỉ có chức năng vạch ra phạm vi và hướng dẫn cách hiểu, cách lí giải phát ngôn theo quy tắc hội thoại; theo các điều kiện sử dụng của các hành động ở lời tạo ra phát ngôn đó Qua các biểu thức rào đón, người giao tiếp tỏ ra cộng tác với nhau trong việc tuân thủ các quy tắc hội thoại, các điều kiện sử dụng hành động ở lời.

Các biểu thức rào đón thường là những quán ngữ, liên quan đến phương châm cộng tác hội thoại của Grace như:

- Các biểu thức rào đón liên quan đến phương châm về lượng: như chúng ta đã nói, như chúng ta đã biết, tóm lại là, tất cả những gì tôi muốn nói là…

- Các biểu thức rào đón liên quan đến phương châm về chất: nghe đâu, nghe đồn, hình như là, có thể là, có lẽ là, có lẽ nào, tôi nghĩ rằng, tôi cho rằng…

- Các biểu thức rào đón liên quan đến phương châm quan yếu: à này, tiện đâ, có lẽ đã đến lúc phải nói…

- Các biểu thức rào đón liên quan đến phương châm cách thức: nói hơi lộn xộn, nói khí dài dòng, nói tóm lại, nói gọn lại, cụ thể là…

Lại có những biểu thức rào đón liên quan đến điều kiện sử dụng hay đến hiệu quả của hành động ở lời Đó là các biểu thức như:

- Biểu thức rào đón liên quan đến điều kiện sử dụng hành động ở lời: chân thành, thực tình, tôi bảo thật, không phải nịnh chứ…

- Biểu thức rào đón giảm thiểu tác động xấu của hành động ở lời: phủi phui, nói trộm vía…

Bên cạnh phần rất lớn các biểu thức rào đón đã cố định, ít nhiều có tính chất quy ước, nghi thức thì có rất nhiều kiểu biểu thức rào đón mà người giao tiếp sáng tạo ra trong ngữ huống giao tiếp cụ thể.

1.3 Nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice

Nguyên tắc cộng tác hội thoại do Grice đề xuất có vai trò quan trọng

để thiết lập các chiến lược lịch sự trong giao tiếp.

Trang 8

Nguyên tắc này được phát biểu một cách tổng quát như sau: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh (vào cuộc hội thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn nào đó (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh chấp nhận tham gia vào” [8, 91].

Nguyên tắc này được tóm lược thành 4 phương châm nhỏ:

-Phương châm về lượng:

+ Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi đích của cuộc hội thoại.

+ Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nó được đòi hỏi.

-Phương châm về chất: Hãy làm cho phần đóng góp của anh là đúng, đặc biệt là:

+ Đừng nói điều gì anh tin là không đúng.

+ Đừng nói điều gì anh không đủ bằng chứng.

- Phương châm quan hệ: Hãy làm cho phần đóng góp của anh quan yếu, tức là dính líu đến câu chuyện đang diễn ra.

- Phương châm cách thức: Hãy nói cho rõ ràng, đặc biệt là:

+ Tránh lối nói tối nghĩa.

+ Tránh lối nói mập mờ, mơ hồ về nghĩa.

+ Hãy nói rõ ràng.

+ Hãy nói có trật tự.

Trang 9

Chương 2 Chiến lược lịch sự của hành động từ chối trong một số

truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Hành động từ chối ở đây nhấn mạnh là hành động ngôn ngữ, được tạo thành bởi các biểu thức ngữ vi Như đã nói ở phần trên, hành động

từ chối là hành động đe dọa thể diện dương tính (đôi khi cả thể diện âm tính) của đối ngôn nên cần thiết phải có chiến lược lịch sự để xoa dịu Chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu chiến lược lịch sự của hành động từ chối trong ba truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là Đồng hào có ma, Mất cái ví, Người ngựa và ngựa người.

Sau khi đọc xong lá đơn của con mẹ Nuôi, cậu lính lệ từ chối: “Đơn này không được” [9, 148] Nhưng để giữ phép lịch sự, cậu thêm vào hành động sai khiến trước hành động từ chối để xoa dịu con mẹ Nuôi:

“Vào kia, nhờ bác nho Quý bác ấy làm cho” [9, 148] Đây là biện pháp lảng tránh để dịu hóa các hành động đe dọa thể diện.

Trang 10

Sau khi từ chối lần một, con mẹ Nuôi vẫn nài nỉ cho vào gặp quan luôn, cậu lính lệ phải tiếp tục thực hiện hành động từ chối tiếp theo Đầu tiên, cậu lính lệ thực hiện hành động thông báo: “Tôi bảo mà chị không nghe thì tôi mặc kệ” [9, 148]

Nhưng nhận thấy phát ngôn này hơi nặng nề, có thể đe dọa thể diện dương tính của con mẹ Nuôi, cậu lính lệ phải thêm vào sau đó một phát ngôn thực hiện hành động trực tiếp là hỏi nhưng gián tiếp là thanh minh: “Tôi thấy nhà chị ăn mặc thế này, lại bị lúc vận hạn đen đủi, tôi lại chẳng động lòng hay sao?” [9, 148] Ý của phát ngôn này là cậu lính lệ muốn bày tỏ rằng mình cũng thông cảm cho hoàn cảnh khó khăn của con mẹ Nuôi chứ không phải muốn chèn ép gì, nhưng vẫn buộc phải theo luật lệ Biểu thức thanh minh có tác dụng dịu hóa hành động vi phạm thể diện dương tính của người nói đối với người nhận Ngay trong phát phôn này, cậu lính lệ cũng thực hiện biện pháp nói giảm nói tránh Thay

vì nói “tôi thấy nhà chị ăn mặc rách rưới, bẩn thỉu”, cậu lính lệ sử dụng biểu thức chiếu vật chỉ xuất nói tránh thành “tôi thấy nhà chị ăn mặc thế này” Người đọc nếu không bám vào ngữ cảnh sẽ không thể hiểu “ăn mặc thế này” là thế nào Nhưng nếu bám vào ngữ cảnh của toàn tác phẩm thì sẽ hình dung ra bộ dạng của con mẹ Nuôi lúc đó ra sao dựa vào cách thức chiếu vật, chỉ xuất của cậu lính lệ.

Sau khi đã thanh minh hết lời, cậu lính lệ mới khẳng định: “Nhưng cái lệ ở đây nó thế” [9, 148] Thực chất của việc khẳng định này hành động mượn cớ, tự hạ mình xuống để lảng tránh trách nhiệm Tức là cậu lính lệ không muốn từ chối mà do lệ ở cửa quan là như thế, cậu chỉ là hạng tay chân, buộc phải làm theo Hành động lảng tránh này cũng nhằm xoa dịu thể diện của con mẹ Nuôi.

2.2 Mất cái ví

Trước hết, cần xác định ngữ cảnh rộng, hẹp và các đối ngôn trong cuộc giao tiếp này.

Trang 11

Ngữ cảnh rộng vào đầu thế kỉ XX, tầng lớp quan lại ngày càng tham

ô, chạy theo tiền bạc Những kẻ quan lại này đa phần chạy theo đồng tiền nên nhuốm mùi tiền bạc trong cách đối nhân xử thế, với người hầu

kẻ hạ, kể cả với người trong nhà.

Ngữ cảnh hẹp diễn ra trong nhà ông Tham, một kẻ tư sản giàu có Ông Tham có một ông cậu ruột ở quê lên chơi Vì muốn đuổi khéo cậu về

mà ông Tham đã nhẫn tâm bày ra trò mất ví tiền để ông cậu tự ái.

Trong truyện này có thể chia làm hai nhóm đối ngôn thực hiện hành động từ chối Nhóm thứ nhất là nhóm người giúp việc trong nhà, từ chối nhận tội đã lấy chiếc ví của ông Tham Nhóm thứ hai chính là vợ chồng ông Tham, từ chối việc cố ý đổ thừa chuyện mất ví cho ông cậu để đuổi khéo ông về quê.

2.2.1.Nhóm người giúp việc

Vị thế xã hội giữa ông Tham và đám giúp việc là chủ - tớ, nên theo phép lịch sự quy ước, họ phải xưng hô lễ phép, kính trọng với ông Tham,

để tôn thể diện dương tính của ông ta lên Cặp xưng hô được đám giúp việc sử dụng là “con – ông” Đây là những từ xưng hô thân tình, thường được sử dụng để tăng tính thân tình, tình cảm giữa các đối ngôn vốn có

ít quan hệ thân – sơ với nhau Cách xưng hô này chỉ tồn tại trong ngữ cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỉ, khi nhân quyền chưa có, phân biệt giai cấp khắc nghiệt và người hầu kẻ hạ bị chủ đối xử hà khắc, nên phải cung phụng Xã hội ngày nay ít thấy cách xưng hô này xuất hiện giữa chủ và tớ.

Khi bị ông Tham đổ thừa việc lấy cắp chiếc ví, hành động đầu tiên đám giúp việc làm là từ chối thừa nhận để tránh đe dọa vào thể diện dương tính của chính mình.

Đám giúp việc biết rõ mình không lấy cắp chiếc ví, nhưng cũng không dám hỏi lại ông Tham xem đã để ở đâu vì như thế là đe dọa thể diện âm tính của ông Thay vào đó, họ bày tỏ nỗi tức giận để gián tiếp thực hiện hành động đồng tình với việc truy tìm thủ phạm của ông

Trang 12

Tham: “Vâng, nếu việc này không ra, thì chúng con tức lắm!” [9, 63] Trong phát ngôn này, thán từ “vâng” được dùng như một biện pháp lịch

sự nhằm tôn thể diện dương tính của người nhận theo phép lịch sự quy ước Vì người nhận ở đây là ông Tham có vị thế xã hội cao hơn người nói là đám giúp việc nên cần được tôn lên.

Thằng xe (cách gọi của tác giả) muốn đổ riệt cho con vú, nhưng lại không thể nói trực tiếp vì sẽ đe dọa đến thể diện dương tính của con vú, bèn thực hiện hàng loạt các hành động ngôn ngữ gián tiếp khác.

Đầu tiên, thằng xe thực hiện hành động thanh minh với ông Tham:

“Thật chúng con ngủ từ sáng đến giờ chưa đứa nào bước chân ra khỏi cửa” [9, 63] Trong phát ngôn này, tính từ “thật” được đặt ở đầu với vai trò như một biểu thức rào đón liên quan đến phương châm về chất trong nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice để khẳng định điều người nói là đúng và anh ta tin rằng nó đúng

Đến phát ngôn tiếp theo: “Một mất mười ngờ, chúng con lấy làm bực lắm” [9, 63], ở đầu câu vẫn là một biểu thức rào đón liên quan đến điều kiện sử dụng hành động ở lời Toàn câu là một lập luận, trong đó biểu thức rào đón “một mất mười ngờ” cũng đồng thời là một lẽ thường

để người nói dựa vào đó đi đến kết luận “chúng con lấy làm bực lắm” Cách rào đón sử dụng lẽ thường để lập luận như vậy nhằm tránh đe dọa tới thể diện dương tính của người nhận và chính mình.

Từ phát ngôn trên, thằng xe lại lấy nó làm luận cứ để dẫn đến kết luận là hành động đề nghị: “Xin ông bà cho phép chúng con được khám lẫn nhau” [9, 64] Vì đề nghị là hành động đe dọa thể diện âm tính của người nhận nên thằng xe đã phải thêm tính từ “xin” vào đầu phát ngôn như một biểu thức giảm xóc để xoa dịu ông bà Tham Không những thế,

từ “được” trong câu cũng có chức năng xoa dịu và tôn vinh thể diện của người nhận lên., tức là ngầm muốn tôn quyền lực của ông bà Tham, phải được ông bà cho phép thì đám giúp việc mới dám khám xét lẫn nhau.

Trang 13

Phát ngôn cuối: “Chắc của vẫn còn ở trong nhà thì vẫn còn tìm thấy được” [9, 64] là hành động mang tính xoa dịu thể diện âm tính của người nhận, ý muốn nói chiếc ví của ông Tham chưa hẳn đã bị mất và vẫn có cơ may tìm lại được Toàn bộ phát ngôn này là một lẽ thường mà người nói dựa vào đó để xoa dịu người nghe Từ “chắc” được đặt ở đầu câu đóng vai trò là một biểu thức rào đón liên quan đến phương châm

về chất trong nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice Thằng xe không hoàn toàn tin tưởng vào điều nó nói nên phải thêm biểu thức rào đón này để giảm thiểu tác động phát ngôn của mình tới đối phương.

Ở lượt lời tiếp theo, ông Tham thực hiện chiến lược lịch sự để tôn vinh thể diện dương tính của con vú, qua đó ngầm từ chối việc khám xét Trong chiến lược này gồm hai hành động khẳng định và trình bày Một mặt, ông Tham đưa ra kết luận là “Tao thì tao không ngờ cho con vú em đâu” [9, 64] để khẳng định Mặt khác, ông đưa ra các luận cứ: “Nếu nó

có tính tắt mắt, thì tao mất nhiều lần rồi Mọi khi tao ngủ, để bừa bãi cả tiền nong ra bàn, nhưng sáng dậy, vẫn còn nguyên, một trinh cũng không suy suyển” [9, 64] Trong phát ngôn này, ông Tham kết luận trước rồi mới đưa ra các luận cứ sau để nhấn mạnh vào khẳng định của mình Trước hành động từ chối của ông Tham, thằng xe vẫn tiếp tục thanh minh: “Bẩm lạy ông bà, hai an hem con ngủ dưới nhà mà trên nhà trên thì khóa cửa Sáng ngày, chúng con mới dậy Cửa trên này chưa

mở, con đã thấy ông bà kêu mất tiền Lúc ấy, ông mới gọi chúng con lên Xin ông bà xét cho chúng con chỗ ấy Hay ông đi chơi tối qua, mà đánh rơi đâu chăng?” [9, 65] Trong hành động này, nó dùng “bẩm lạy ông bà”

ở đầu phát ngôn như một biểu thức rào đón liên quan đến điều kiện sử dụng hành động ở lời, biến hành động thanh minh thành hành động tấu lạy, nhằm tôn vinh thể diện dương tính của ông bà Tham lên, coi họ như những viên quan tòa đang xét xử Từ “lạy” cũng cho thấy sự tôn vinh vị thế xã hội của ông bà Tham và tự hạ thấp mình của thằng xe Trong câu

Trang 14

“Xin ông bà xét cho chúng con chỗ ấy”, từ “xin” được dùng để biến hành động đề nghị thành cầu khiến, xin xỏ, cũng để tôn quyền lực của ông bà Tham lên.

Trong các phát ngôn tiếp theo, để thực hiện hành động từ chối nhận tội, thằng xe vẫn luôn dùng biểu thức rào đón “lạy ông bà” ở đầu để tôn vinh thể hiện dương tính của ông bà Tham thông qua phép lịch sự quy ước theo quan hệ vị thế xã hội, từ đó mà xoa dịu đối ngôn để tránh bị trách móc, xử phạt.

“Lạy ông bà, chúng con có biết cái ví tiền của ông bà mặt ngang mũi dọc thế nào, thì chúng con cứ chết một đời cha, ba đời con!” [9, 65] Trong phát ngôn này, thằng xe còn sử dụng hành động thề độc để tăng hiệu lực từ chối mà tránh đe dọa tới thể diện của ông Tham “chết một đời cha, bà đời con”.

“Lạy ông bà xét lại, chỉ có người trên nhà, chứ thực chúng con không biết đấy là đâu” [9, 66].

“Lạy ông bà, chúng con đâu dám nghĩ thế!” [9, 66] Trong phát ngôn này, từ “dám” được sử dụng để tự hạ thấp mình xuống, qua đó nâng thể diện của đối ngôn lên thông qua quan hệ vị thế xã hội, ngầm nói rằng bà Tham đức cao vọng trọng, đến nghĩ cũng không dám nghĩ rằng bà là người lấy chiếc ví.

2.2.2 Nhóm ông bà Tham

Nhóm hành động từ chối này nằm trong các lượt lời của ông bà Tham khi giao tiếp với ông cậu ruột Trong đó, ông bà Tham muốn từ chối thừa nhận việc mình cố ý đổ thừa cho ông cậu lấy cắp ví.

Ở quan hệ vị thế xã hội, ông bà Tham có vị thế cao hơn ông cậu, nhưng ở quan hệ thân – sơ lại thấp hơn, chỉ thuộc hàng con cháu, còn ông cậu thuộc hàng bề trên, ngang với cha mẹ: “Cậu cũng như cha như mẹ” [9, 69] Bởi thế, trong khi giao tiếp, nếu đám giúp việc phải xưng

“ông – con” với ông bà Tham thì bản thân ông bà phải xưng lại “ông – cháu” với ông cậu để đảm bảo đúng phép lịch sự quy ước Sở dĩ không phải “cậu – cháu” mà là “ông – cháu” là muốn mượn việc nhấn mạnh

Trang 15

vào tuổi tác của ông cậu để thực hiện lịch sự quy ước, lấy quan hệ xã hội

áp vào quan hệ gia đình, từ đó tôn vinh thể diện dương tính của ông cậu lên Ở ngoài xã hội, ông Tham được mọi người gọi là “ông” thì ở nhà, vị thế xã hội đó lại thuộc về ông cậu.

Ngay khi ông cậu nhảy ra hỏi về việc mất cắp chiếc ví, ông Tham đã thực hiện các hành động từ chối nhắc đến việc đó Trong câu đáp

“Không ạ!” đầu tiên thì trợ từ “ạ” được dùng để bày tỏ sự lễ phép, tôn trọng trong phép lịch sự quy ước theo chuẩn mực quan hệ bề trên, bề dưới, đồng thời cũng nhằm tôn vinh thể diện dương tính của ông cậu để xoa dịu cơn giận của ông.

Trợ từ “ạ” liên tục được sử dụng trong các phát ngôn từ chối tiếp theo để bày tỏ lòng kính trọng, lễ phép nhằm xoa dịu ông cậu Cứ mỗi khi ông cậu hỏi về chuyện mất cắp, ông bà Tham lại chối đi theo những cách rất lịch sự, nhã nhặn Trên thực tế, khi giao tiếp với người lớn tuổi hoặc bề trên của mình thì dùng từ “ạ” sẽ khiến phát ngôn trở nên dễ chịu và tác động tích cực tới người nghe hơn, kể cả trong tình huống từ chối một điều gì đó.

“Không ạ Cháu mất đồng xu, nhưng đã tìm thấy rồi ạ” [9, 67].

“Thế thì ông chiêm bao đấy ạ” [9, 67].

“Không ạ Đó là cháu mắng chúng nó từ nay thấy tiền nong, không

cứ là của ai, cũng không được tơ hào” [9, 67].

“Những đứa kia đấy ạ” [9, 67].

Khi ông cậu tỏ ý hoài nghi về việc ông Tham đá xéo mình, ông Tham vẫn chối: “Lạy ông, chúng cháu có dám nói gì đâu!” [9, 67].

Có thể thấy, cách dùng từ và thiết lập phát ngôn của ông Tham lúc này giống hệt với đám người giúp việc lúc trước Ở đầu phát ngôn, ông Tham cũng dùng “lạy ông” như một biểu thức rào đón liên quan đến điều kiện sử dụng hành động ở lời, biến hành động thanh minh thành hành động tấu lạy, nhằm tôn vinh thể diện dương tính của ông cậu lên, coi ông như đấng bề trên của mình Từ “lạy” cũng cho thấy ông Tham đang tự hạ thấp mình để tôn vị thế xã hội của ông cậu lên Trong phát

Trang 16

ngôn này, từ “dám” cũng được sử dụng để tự hạ thấp mình xuống, qua

đó nâng thể diện của đối ngôn lên thông qua quan hệ thân – sơ, ngầm nói rằng ông cậu là bậc cha chú thì cỡ như ông Tham không bao giờ dám nói những điều trái tai.

Trong những phát ngôn tiếp theo, ông Tham liên tục sử dụng từ

“lạy ông” ở đầu câu để tôn ông cậu lên nhằm xoa dịu, vuốt ve ông Ông cậu càng làm dữ thì ông Tham lại càng tìm mọi cách nâng ông ta lên:

“Cháu lạy ông, vợ chồng cháu có thất thố điều gì, xin ông bỏ quá đi, ông đừng để bụng” [9, 67] Phát ngôn này thực chất là hành động đề nghị, nhưng từ “xin” được thêm vào một cách khéo léo chuyển nó thành hành động van nài, xin xỏ, qua đó ông Tham tự hạ thấp mình xuống để nâng ông cậu lên, rằng ông cậu là người có quyền cao nhất ở đây, chỉ được xin mà không ai được đề nghị hay ra lệnh.

Ngay sau phát ngôn đó, ông Tham thực hiện hành động mời mọc là một hành động trực tiếp khác để lảng tránh hành vi đe dọa thể diện ông cậu: “Thôi, không nói đến chuyện đấy nữa Hôm nay phiên chợ Đồng Xuân, mời ông lên chơi chợ” [9, 67] Hành động mời mọc này vừa làm xao nhãng tâm trí ông cậu vào chuyện mất ví, lại vừa tôn vinh thể diện của ông ta lên vì được mời đi chơi.

Ngoài “dạ”, “lạy ông” thì “thưa ông” cũng là một động từ được ông Tham sử dụng như một biểu thức rào đón liên quan đến điều kiện sử dụng các hành động ở lời nhằm xoa dịu đối ngôn là ông cậu: “Kìa, tiền nong gì, thưa ông?” Giống như “lạy ông”, “thưa ông” giúp tăng tính kính trọng, lễ phép trong phát ngôn để biến cuộc giao tiếp trở nên lịch sự, mô thức hơn, có trên có dưới hơn, từ đó mà đối ngôn được xoa dịu, cảm thấy dễ chịu hơn.

Trong khi trình bày câu chuyện mất ví, ông Tham khéo léo thêm từ

“bẩm ông” vào đầu phát ngôn với cùng mục đích để tôn thể diện dương tính của ông chú lên qua sự lễ phép, kính trọng của mình: “Bẩm ông, nguyên thế này: Cháu có bốn mươi đồng bạc để vào trong cái ví Mọi khi

Trang 17

bao giờ trước khi đi ngủ, cháu cũng bỏ ví vào tủ có khóa Vì hôm qua đi xem hát với ông về khuya, nên cháu không muốn vào buồn lấy thìa khóa

tủ, cháu cứ để ví trong túi Nhưng sau, thấy nằm cứ cộm lên, cháu mới lấy ví ra, kiểm lại số tiền, rồi để gối đầu giường Lúc ấy ông cũng biết” [9, 68].

“Bẩm, có thế thôi” [9, 68].

Khi ông cậu nói: “Anh nghĩ thế là vô lí lắm Tôi hiểu rồi, chính anh nghi cho tôi!” [9, 68], ông Tham đã vội vàng từ chối: “Chết! Lạy ông, con cháu nào dám thế? Sao ông nghĩ vẩn vơ làm vậy?” [9, 68].

Trong phát ngôn trên, ông Tham đã khéo léo sử dụng thán từ “Chết”

ở đầu để thực hiện hành động kêu than Qua hành động này, ông Tham muốn bày tỏ sự bất ngờ, kinh ngạc của mình khi nghe ông cậu nói như vậy, rằng ông không bao giờ dám nghĩ thế Thán từ được sử dụng để tăng tính nghiêm trọng của câu và nhấn mạnh vào hành động bất ngờ, qua đó tránh đe dọa tới thể diện dương tính của người nói là ông Tham

Để tiếp tục từ chối, ông Tham còn sử dụng lẽ thường làm điểm tựa cho phát ngôn của mình là “con cháu nào dám thế” Ở phát ngôn cuối, ông Tham dùng một câu nghi vấn để giảm thiểu tác động tới thể diện của ông cậu, mặc dù hành động gián tiếp của câu đó là ngầm đổ cho ông cậu

đã tự nhận việc lấy cắp chiếc ví

Thán từ “chết” vẫn tiếp tục được sử dụng trong phát ngôn sau đó để thực hiện hành động từ chối một cách lịch sự: “Chết! sao ông lại làm thế?” [9, 69] Rõ ràng, hành động của phát ngôn này là muốn đổ thừa cho ông cậu đã tự thừa nhận việc lấy cắp ví, nhưng cách kết hợp giữa thán từ và câu nghi vấn đã giảm đi toàn bộ sắc thái đe dọa thể diện của ông cậu.

Ngoài thán từ “chết”, thán từ “khổ lắm” cũng được ông Tham sử dụng ở đầu các phát ngôn thực hiện hành động từ chối, để nhấn mạnh

sự bất ngờ, hoang mang của mình khi ông cậu nghĩ như vậy, qua đó tránh đe dọa vào thể diện của ông cậu Ý đồ của ông Tham khi sử dụng

Trang 18

các thán từ này là để gián tiếp đổ việc thừa nhận đã lấy cắp ví cho ông cậu, rằng ông cậu đã tự đe dọa thể diện của bản thân khi cứ tự nhận vơ việc lấy cắp ví vào mình, còn ông Tham không biết gì hết Không những vậy, ông Tham còn qua đó gián tiếp buộc ông cậu vào hành động đe dọa thể diện dương tính của mình khi cứ một mực đổ tội cho mình đã đổ thừa việc lấy cắp ví cho ông ta Đây là chiến lược giao tiếp tinh vi được thiết lập để ông Tham thực hiện ý đồ của mình Rõ ràng ông Tham đang muốn đổ cho ông cậu mà lại lật ngược được tình thế, buộc ông cậu vào hành động đổ thừa cho mình.

“Khổ quá! Cháu không biết nói thế nào bây giờ được Tự ông đổ cho ông đấy!” [9, 69] Trong phát ngôn này, ông Tham đã thực hiện hành động đe dọa thể diện dương tính của ông cậu ở câu cuối khi khẳng định ông ta đang tự đổ cho chính mình Nhưng để giảm thiểu tác động của hành động đe dọa này, ông Tham đã sử dụng thán từ “khổ quá” và hành động thanh minh “cháu không biết nói thế nào bây giờ được” để bày tỏ rằng mình cũng đang bối rối trước hành động của ông cậu.

“Khổ lắm! Vợ chồng cháu có điều gì không phải, thì ông là người trên, ông cứ mắng chửi, sao ông lại để tâm làm vậy?” [9, 70] Trong phát ngôn cuối cùng với ông cậu này, ông Tham lại tiếp tục thực hiện một hành động gián tiếp có tính đe dọa thể diện của ông cậu là buộc ông ta vào việc đã để bụng khi cố ý nghi ngờ cho vợ chồng ông Nhưng để giảm thiếu tác động đe dọa của hành động đó, ông Tham đã chuyển từ câu khẳng định sang câu nghi vấn Câu nghi vấn là dạng câu mở, giúp người nói gợi nhắc hàm ẩn đến một việc khác mà không phải thực hiện các hành động trực tiếp Như vậy, dù người nghe có nhận ra được ý nghĩa hàm ẩn trong câu nói đó cũng không thể bắt bẻ Hơn nữa, ông Tham còn mượn lẽ thường “ông là người trên, ông cứ mắng chửi” để tự hạ thấp thể diện của mình, qua đó tôn vinh thể diện dương tính của ông cậu lên, cho ông ta quyền mắng chửi vì có vị thế cao hơn Bằng những hành

Trang 19

động này, ông Tham đã khiến ông cậu khó mà bắt bẻ được gì Nếu có làm tới cũng là do bản thân ông ta muốn thế chứ ông Tham trong suốt cuộc giao tiếp vẫn lịch sự nhún nhường từ chối, không hề có một hành động thất lễ hay đe dọa thể diện của ông cậu Đây là một chiến lược giao tiếp khôn ngoan, tinh vi với rất nhiều sự rào đón, cẩn trọng.

2.3 Người ngựa và ngựa người

Trước hết, cần xác định ngữ cảnh rộng, hẹp và các đối ngôn trong cuộc giao tiếp ở truyện này.

Ngữ cảnh rộng vào đầu thế kỉ XX ở Việt Nam, khi vẫn còn tầng lớp culi, là những người kéo xe xích lô khắp phố thường Họ là tầng lớp bần cùng trong xã hội, có vị thế xã hội thấp kém.

Ngữ cảnh hẹp của cuộc giao tiếp diễn ra khi một cô gái điếm đi xe của một anh xe nhưng lại không có tiền trả và tìm cách từ chối trả tiền khi bị đòi tiền.

Về cách xưng hô, dù nhìn bề ngoài thì cô gái điếm có vị thế xã hội cao hơn anh xe do ăn mặc sang trọng và lịch sự hơn, nhưng vẫn xưng hô lịch sự là “tôi – anh” với anh ta để không đe dọa thể diện dương tính của anh ta Sở dĩ phải xưng hô như vậy vì cô biết trong người không có tiền

và có thể phải đi quỵt của anh xe Ở trường hợp khác có thể xưng là

“mày – tao” Còn anh xe ban đầu vì vị thế xã hội thấp hơn và đang phải phục vụ khách nên phải xưng là “cháu – bà” để tôn vinh thể diện dương tính của cô gái điếm lên theo phép lịch sự uy ước Đến tận lúc đòi tiền, anh vẫn xưng hô như vậy.

“Bây giờ có lẽ mười hai giờ, xin bà cho cháu tiền” [9, 30].

“Thôi khuya rồi, cháu phải về nhà” [9, 30].

Chỉ đến khi cô gái điếm lộ ra là không có tiền trả tiền xe, anh xe mới thay đổi cách xưng hô thành “tôi – cô” Như vậy, có thể thấy, cách xưng

hô theo phép lịch sự quy ước có thể thay đổi theo diễn biến cuộc giao tiếp dưới sự tác động của ngữ cảnh chứ không hoàn toàn bị chi phối bởi

vị thế xã hội.

Trang 20

Ở phát ngôn đầu tiên, cô gái điếm sử dụng thán từ “Chết!” và một câu nghi vấn “anh hỏi tiền tôi bây giờ à?” để bày tỏ sự bối rối của mình, ngầm nói ý rằng cô không chủ định quỵt tiền xe của anh Ý nghĩa hàm ẩn của phát ngôn này giúp cô gái điếm tránh đe dọa tới thể diện âm tính của anh xe Tiếp đó, cô còn thực hiện một hành động sai khiến: “Anh chịu khó kéo tôi thêm một giờ nữa đi” để khiến anh xe tin rằng cô ta có ý muốn trả tiền nhưng chỉ là hiện tại chưa có tiền Để tránh đe dọa vào thể diện dương tính của anh xe, cô đã dùng đến biểu thức giảm thiểu

“anh chịu khó” để vuốt ve anh ta khi phải nghe lời sai khiến.

Để tiếp tục từ chối anh xe, cô gái điếm thực hiện hành động thanh minh, trình bày hoàn cảnh éo le của mình khiến anh xe động lòng mà không cảm thấy bị đe dọa thể diện âm tính: “Này, chả nói giấu gì anh, tôi cũng đi kiếm khách từ tối đến giờ Tôi định nếu có khách thì hỏi vay tiền trước để trả anh Nhưng chẳng may gặp phải cái tối xúi quẩy thế này, thì tôi biết làm sao bây giờ?” [9, 30].

Trong phát ngôn trên, thán từ “này” được dùng đầu câu như một phương tiện kéo gần khoảng cách quan hệ, giúp cuộc giao tiếp diễn ra thân mật, gần gũi hơn Ngay sau từ “này” là biểu thức rào đón liên quan đến phương châm về chất trong nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice

“chả nói giấu gì anh” để khiến hiệu lực ở lời được nhấn mạnh hơn, giúp

cô gái điếm chứng tỏ rằng cô đang muốn cộng tác hội thoại với anh xe một cách thực tâm, chân tình Từ “cũng” trong câu “tôi cũng đi kiếm khách từ tối đến giờ” ý hàm ẩn là muốn neo công việc của mình với công việc của anh xe theo kiểu “tôi cũng như anh, anh cũng như tôi”, lợi dụng

sự tương đồng về tính chất giữa hai công việc là đều phải đi kiếm khách

để gợi cho anh xe đồng cảm, thấu hiểu với hoàn cảnh của mình Câu nói

“tôi định nếu có khách thì hỏi vay tiền trả trước cho anh” là phát ngôn mang tính xoa dịu thể diện âm tính của anh xe, đồng thời cũng ngầm thể hiện sự thành thật của cô gái điếm, rằng nếu có khách thì cô sẵn sàng

Trang 21

vay tiền trả cho anh xe chứ không định quỵt Câu nói “thì tôi biết phải làm sao?” là câu nghi vấn nhưng lại thực hiện hành động than vãn, để kêu gọi sự đồng cảm ở anh xe.

Liên tiếp những hành động than vãn thông qua hàng loạt câu hỏi vô định như trên được đưa ra để khéo léo từ chối trả tiền:

“Bây giờ thì tôi biết làm thế nào?” [9, 30].

“Lên cẩm thì tôi đành lên với anh, chứ tôi biết làm thế nào?” [9, 30]

Ở phát ngôn này, cô gái điếm còn chấp nhận vô điều kiện lời đe dọa của anh xe, dù biết nó phạm vào cả thể diện âm tính lẫn thể diện dương tính của mình Cách vi phạm thể diện chính mình như một biện pháp tôn thể diện của đối ngôn lên trong ngữ huống này, rằng anh xe có quyền làm mọi thứ anh muốn, chứng minh rằng cô hoàn toàn muốn cộng tác hội thoại.

Nhưng ngay sau đó, cô lại tự nâng thể diện dương tính của mình lên

ở phát ngôn: “Nhà tôi ở ngay đầu ngõ Hàng Bún, khi nào anh đi qua, thì tôi trả tiền anh chứ gì!” [9, 30] Phát ngôn này ngầm thực hiện hành động khẳng định rằng cô gái điếm cũng có thân phận, nơi ở rõ ràng, có thể tin cậy được, chứ không phải hạng người chuyên đi quỵt xe Đây cũng là cách để tránh đe dọa tới thể diện âm tính của anh xe.

Sau một hồi trình bày, thanh minh không được, cô gái điếm đành nói thằng, chấp nhận hành động này sẽ đe dọa, hạ thấp thể diện dương tính của mình: “Tôi không có tiền đâu” [9, 30] Nhưng như thế sẽ đe dọa thể diện âm tính của anh xe nên cô phải thưc hiện một hành động đề nghị ngay sau đó để chứng minh lời mình nói là đúng: “chả tin anh khám mà xem!” [9, 30].

Ngay sau khi thẳng thừng, cô gái điếm lại thực hiện các hành động cho, tặng, chấp nhận vi phạm thể diện âm tính của mình để tôn thể diện

âm tính của anh xe lên: “Đây, hay là phu la, áo, đồng hồ đây, anh muốn lấy gì thì lấy” [9, 30]

Thấy anh xe vẫn cáu, cô gái điếm tiếp tục dùng các biểu thức rào đón “Thôi này”, “Tôi bảo” kèm theo ngữ điệu để xoa dịu, vuốt ve cho anh

Trang 22

nguôi giận, tôn thể diện dương tính của anh lên: “Thôi này, đừng cáu làm gì Tôi bảo, cảnh tôi cũng như cảnh anh, cũng là đi kiếm khách cả Nhỡ phải một tối này, thì đành chịu vậy, chứ biết làm thế nào?” [9, 30] Đến đây, cô gái điếm đã không còn úp mở mà trực tiếp buộc anh xe vào hoàn cảnh của mình để gợi lòng cảm thông của anh Cô vẫn sử dụng câu nghi vấn để tăng hiệu lực cho việc nhấn mạnh vào hoàn cảnh éo le của mình.

Ở phát ngôn tiếp theo, cô gái điếm dùng hành động cầu khiến và trình bày để tạo thêm niềm tin cho anh xe rằng cô sẽ không đe dọa tới thể diện âm tính của anh, vẫn trả tiền đầy đủ: “Nào ai biết cơ sự nó ra thế này Thôi, này, tôi nói thế này thì anh nghe Nếu bây giờ anh bỏ tôi ở đây, thì tôi không có tiền trả anh, sự ấy đã đành rồi, nhưng mà anh thiệt Vậy anh cố kéo tôi nữa, may tôi có khách thì tôi có tiền, mà anh cũng không phải phàn nàn nữa” [9, 31] Biểu thức rào đòn “thôi, này” vẫn được sử dụng để xoa dịu, vuốt ve, nhưng có thêm ngắt nhịp (trên văn bản là dấu phẩy, ở lời nói là ngữ điệu) để nhấn mạnh vào từ “thôi”, ý muốn xoa dịu anh xe hãy nguôi cơn giận Cô gái điếm còn sử dụng lập luận “nếu anh bỏ tôi ở đây, thì tôi không có tiền trả anh, sự ấy đã đành rồi, nhưng mà anh thiệt” để đổ lỗi cho hoàn cảnh khó khăn và khéo léo đẩy trách nhiệm sang anh xe mà không khiến anh xe mích lòng Câu chốt

“nhưng mà anh thiệt” còn ngầm giãi bày sự quan tâm, lo lắng của cô tới anh xe, qua đó nâng thể diện của anh lên.

Từ “thôi” vẫn được cô gái điếm sử dụng như một từ cảm thán để vừa xoa dịu anh xe, vừa năn nỉ anh ta nghe theo lời sai khiến của mình

mà không đe dọa tới thể diện âm tính của anh ta trong những phát ngôn tiếp theo:

“Thôi anh bằng lòng vậy!” [9, 32].

“Này, anh đỗ xuống tôi bảo Tôi nói thực với anh nhé Bây giờ đã về sáng rồi, chắc anh kéo tôi mãi cũng đến thế thôi Tôi thì thực không có tiền trả anh Tôi gán cho anh khăn, áo, đồng hồ mà anh không lấy, thì tôi

Trang 23

chả biết nghĩ thế nào cho phải cả Thôi thì anh kéo tôi ra chỗ kín, vắng, anh muốn bắt tôi gì, tôi xin chịu!” [9, 32] Toàn bộ phát ngôn này thực hiện hành động thanh minh của cô gái điếm và đền bù thể diện âm tính cho anh xe Trong câu đầu tiên, từ “này” được đặt ở đầu như một biểu thức rào đón để nối gần quan hệ hơn, giúp cuộc giao tiếp gần gũi, thân mật hơn, qua đó giảm nhẹ khả năng đe dọa thể diện âm tính của anh xe khi thực hiện hành động sai khiến “anh đỗ xuống tôi bảo” Tiếp theo là một biểu thức rào đón liên quan đến phương châm về chất trong nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice “tôi nói thực với anh nhé” để cho thấy cô gái điếm hoàn toàn tôn trọng cuộc giao tiếp và đối ngôn của mình Sau

đó, cô gái điếm bắt đầu thực hiện hành động thanh minh qua các luận

cứ, rằng cô không có tiền và đã muốn trả anh xe bằng những thứ có trên người Qua đó cô khéo léo đổ trách nhiệm cho anh xe là do anh không chịu lấy đồ chứ không phải cô muốn quỵt công của anh, mà không đe dọa tới thể diện dương tính của anh Từ “xin” trong câu cuối cùng được

sử dụng để nhấn mạnh vào sự thành tâm của cô gái điếm.

Ở phát ngôn “Anh này thực thà quá, nghĩa là chỉ có anh và tôi thôi, thì người tôi đây, anh muốn làm gì, tôi cũng bằng lòng” [9, 32], cô gái điếm đã sử dụng biện pháp nói giảm để tránh đe dọa tới thể diện dương tính của anh xe Trong câu “anh này thực thà quá” vốn là hành động gián tiếp mang tính chê bai, nhưng cô nói giảm thành “thực thà” để biến

nó thành hành động khen ngợi (vì “thực thà” là tính từ chỉ phẩm chất tốt của con người) chứ không dùng “ngu dại quá”, “ngây ngô quá”, “ngố quá”…

Khi anh xe từ chối việc mời gọi của cô gái điếm, cô khẳng định

“không sợ, tôi mới khám bệnh hôm qua” [9, 32] để tạo niềm tin ở anh xe, qua đó cho thấy ý muốn cộng tác tích cực của mình.

Biết rằng phát ngôn “thế thì anh cứ kéo tôi về nhà tôi” [9, 32] là một hành động đề nghị có khả năng đe dọa thể diện âm tính của anh xe, cô

Trang 24

gái điếm liền thêm vào ngay sau đó một hành động mời gọi có tính cho tặng để tôn thể diện âm tính của anh đi, chấp nhận hành động đó đe dọa tới thể diện âm tính của mình: “xem có đồ đạc gì đáng giá, anh cứ việc lấy” [9, 32].

Đến trước cửa một nhà săm, cô gái điếm tính kế bỏ trốn để không phải trả tiền, nhưng nếu cứ thế bỏ trốn sẽ vi phạm tới thể diện của anh

xe nên cô dùng biện pháp nói ngon nói ngọt mà bịa ra một chuyện khác:

“Anh hãy ghé vào đây một tí cho tôi hỏi vay tiền người này xem có được không” [9, 33] Danh từ “một tí” được chêm xen vào giữa câu, ngay sau hành động đề nghị cũng có tính chất gợi sự thân mật, năn nỉ để tránh đe dọa tới thể diện âm tính của anh xe Có thể thấy, cô gái điếm sử dụng rất nhiều các từ ngữ thân mật dùng trong giao tiếp thường ngày để níu gần khoảng cách giao tiếp giữa mình với anh xe.

Ngày đăng: 17/10/2016, 21:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w