Vai trò của lớp từ gọi tên các loài thực vật trong tục ngữ, phản ánh sự nhận thức thế giới nhận thức bên ngoài ngôn ngữ theo phương thức ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, người Việt tạo ra đơn vị
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH THỊ HẬU
KHẢO SÁT NHÓM TỪ GỌI TÊN CÁC LOÀI THỰC VẬT
TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH THỊ HẬU
KHẢO SÁT NHÓM TỪ GỌI TÊN CÁC LOÀI THỰC VẬT
TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tiếng Việt KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Trung Kiên
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm
ơn Thạc sĩ Nguyễn Trung Kiên – người thầy đã quan tâm, hướng dẫn, động viên
và giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, Thư
viện, cô chủ nhiệm, các bạn sinh viên lớp K52 ĐHSP Văn – GDCD, những
người thân, bạn bè đã giúp đỡ em trong quá trình triển khai và hoàn thành khoá
luận
Sơn La, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Đinh Thị Hậu
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Những đóng góp của khoá luận 6
6 Cấu trúc của khóa luận 7
PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 8
1.1 Từ vựng tiếng Việt 8
1.1.1 Các quan niệm về “từ” 8
1.1.2 Đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt 9
1.1.2.1 Yếu tố, đơn vị cấu tạo từ, phương thức tạo từ 9
1.1.2.2 Các kiểu từ xét về mặt cấu tạo 10
1.1.3 Nghĩa của từ tiếng Việt 16
1.1.3.1 Nghĩa biểu vật 16
1.1.3.2 Nghĩa biểu niệm 17
1.1.3.3 Nghĩa biểu thái 18
1.1.4 Từ ngữ gọi tên thực vật 18
1.2 Tục ngữ 19
1.2.1 Khái niệm tục ngữ 19
1.2.2 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 21
1.2.3 Ý nghĩa biểu trưng 23
1.2.3.1 Định nghĩa biểu trưng 23
1.2.3.2 Ý nghĩa biểu trưng của tục ngữ 24
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27
Chương 2: TÌM HIỂU TỪ GỌI TÊN CÁC LOÀI THỰC VẬT TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM 28
Trang 52.1 Khảo sát về số lượng từ gọi tên các loài thực vật trong tục ngữ 28
2.1.1 Tục ngữ có chứa một từ gọi tên thực vật 32
2.1.2 Tục ngữ chứa hai từ gọi tên các loài thực vật trở lên 32
2.2 Từ gọi tên các loài thực vật xét trên bình diện cấu tạo 33
2.2.1 Từ gọi tên các loài thực vật trong tục ngữ là từ đơn 33
2.2.2 Từ chỉ thực vật trong tục ngữ là từ ghép 34
2.2.2.1 Từ ghép đẳng lập 34
2.2.2.2 Từ ghép chính phụ 34
2.3 Từ ngữ gọi tên các loài thực vật trong tục ngữ xét trên bình diện ngữ nghĩa 35
2.3.1 Từ có ý nghĩa chỉ tổng thể thực vật 35
2.3.2 Từ có ý nghĩa chỉ một loài cây 35
2.3.3 Từ có ý nghĩa chỉ một loại cây cụ thể 36
2.4 Một số ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ thực vật trong tục ngữ 37
2.4.1 Nhóm ý nghĩa biểu trưng tích cực 37
2.4.2 Nhóm ý nghĩa biểu trưng tiêu cực 38
2.5 Đặc trưng văn hoá của người Việt thông qua nhóm từ chỉ thực vật trong tục ngữ 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 42
PHẦN KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tục ngữ là một loại hình văn học dân gian ra đời từ xa xưa, tục ngữ được sáng tạo ra nhằm mục đích tổng kết và phổ biến kinh nghiệm của đời sống, kinh nghiệm lịch sử - xã hội của quần chúng lao động Những kinh nghiệm như thế ngày càng được bổ sung, bồi đắp, thêm đa dạng, phong phú theo thời gian, không gian Do đó, việc bảo tồn và phát huy luôn là sự quan tâm của giới nghiên cứu
1.2 Tục ngữ tiếng Việt là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ Việt Tục ngữ phong phú về số lượng, đa dạng về kiểu loại kết cấu và nội dung ý nghĩa Trong các chất liệu cấu tạo nên tục ngữ tiếng Việt có lớp từ gọi tên thực vật Khảo sát nhóm tục ngữ này chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu từ và ý nghĩa biểu trưng của tục ngữ, để tìm hiểu mối quan hệ giữa nhóm từ có trong vốn từ cơ bản của tiếng Việt với tục ngữ
1.3 Việt Nam là đất nước có nền văn minh nông nghiệp, có thế giới thực vật hết sức đa dạng, phong phú Đời sống người Việt xưa nay có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với cỏ cây hoa lá Điều này cắt nghĩa tại sao, trong tục ngữ Việt, bộ phận tục ngữ có chứa từ chỉ thực vật lại chiếm số lượng lớn như thế Việc nghiên cứu, tìm hiểu nhóm tục ngữ có từ gọi tên các loài thực vật nhằm góp phần tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, ngôn ngữ và thực tế bên ngoài ngôn ngữ trong đó có thế giới thực vật Vai trò của lớp từ gọi tên các loài thực vật trong tục ngữ, phản ánh sự nhận thức thế giới nhận thức bên ngoài ngôn ngữ theo phương thức ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, người Việt tạo ra đơn vị tục ngữ với lớp nghĩa bóng bẩy (dùng tương đương như lớp từ cơ bản)
Từ các hình ảnh về thực vật bên ngoài khi đi sâu vào ngôn ngữ chỉ là hình ảnh biểu trưng Chính vì thế, khảo sát nhóm từ gọi tên các loài thực vật góp phần nghiên cứu sâu hơn về ý nghĩa biểu trưng của tục ngữ tiếng Việt nói chung
và của nhóm tục ngữ gọi tên các loài thực vật nói riêng
1.4 Trong chương trình Ngữ văn ở phổ thông hiện nay, tục ngữ được đưa vào giảng dạy ở các cấp học Trong số các câu tục ngữ được chọn đưa vào
Trang 7chương trình, có không ít câu có từ chỉ thực vật Vì thế, việc nghiên cứu khảo sát những câu tục ngữ có từ gọi tên các loài thực vật, của bộ phận tục ngữ này sẽ
ít nhiều góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường
Đó là lí do thúc đẩy chúng tôi chọn vấn đề: Khảo sát nhóm từ gọi tên các loài
thực vật trong tục ngữ Việt Nam làm đề tài nghiên cứu trong khoá luận
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu tục ngữ trong Văn học
Từ trước đến nay, việc tìm hiểu, nghiên cứu tục ngữ đã được nhiều người quan tâm Chính với những bài viết của mình, được viết một cách công phu, ở nhiều khía cạnh, có giá trị trong việc góp phần tìm hiểu tục ngữ Những vấn đề của tục ngữ, có liên quan đến vấn đề người viết đang nghiên cứu, tìm hiểu, có các loại sách, bài viết sau:
Những công trình nghiên cứu sớm nhất về tục ngữ có thể kể đến Về tục ngữ
và ca dao của tác giả Phạm Quỳnh, được công bố vào năm 1921
Về Phong dao, ca dao phương ngôn, tục ngữ của Nguyễn Văn Chiểu (1936); Ngạn ngữ ca dao của Nguyễn Can Mộng (1941)…
Các công trình sưu tập trên đây ít nhiều đã có đóng góp vào việc bảo tồn và giới thiệu một phần quan trọng vốn tục ngữ cổ truyền của dân tộc ta Tuy nhiên
về nội dung và phương pháp biên soạn chưa đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu tục ngữ và thường sưu tập một cách bao hàm cả thành ngữ, tục ngữ và ca dao
Tiếp đến, bộ sách có ý nghĩa hơn cả trong việc đi tìm sự phân biệt giữa tục
ngữ và thành ngữ là tác giả Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam Văn học sử
yếu (1943)
Năm 1975, nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang và Phương Tú
cho ra đời tập sách Tục ngữ Việt Nam với số lượng 4151 câu tục ngữ
Năm 1996 với Tục ngữ Việt Nam chọn lọc của tác giả Vương Trung Hiếu
gồm 9000 câu tục ngữ và được sắp xếp theo chủ đề
Đặc biệt, công trình sưu tập tục ngữ với số lượng lớn nhất phải kể đến Kho
tàng tục ngữ người Việt (2002) của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn
Thuý Loan, Phan Lan Hương, Nguyễn Luân với số lượng 16.098 câu tục ngữ
Trang 8Tiếp đến có thể kể thêm một số công trình như của Hoàng Tiến Tựu với
giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (1990) Với Tuyển tập Văn học dân gian
Việt Nam tập IV (Quyển 1) Tục ngữ - Ca dao của nhóm tác giả Trần Thị An –
Nguyễn Thị Huế in năm 2001 Nhóm tác giả đã biên soạn tuyển chọn, tập hợp tục ngữ ca dao của người Việt (Kinh) Với số lượng lớn những câu tục ngữ được xếp theo vần A, B, C, D… tiện lợi cho việc nghiên cứu, khảo sát và tìm đọc Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã thể hiện tính công phu trong việc sưu tập và sắp xếp tục ngữ theo một nội dung chủ đề
2.2 Lịch sử nghiên cứu tục ngữ trên phương diện ngôn ngữ học
Ở góc độ ngôn ngữ học đã có nhiều công trình nghiên cứu về tục ngữ và
có sự phân biệt thành ngữ với tục ngữ như: Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại
(1968) của Nguyễn Văn Tu Hơn nữa, còn có các bài viết có liên quan trực tiếp
hoặc gián tiếp đến tục ngữ đăng trên các tạp chí như: Về ranh giới giữa thành
ngữ và tục ngữ (1972) của Nguyễn Văn Mệnh, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 Tác giả
bài viết đã đi tìm sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ xét ở hai phương diện nội dung và hình thức “Có thể nói, nội dung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ nói chung là mang tính chất quy luật… về hình thức ngữ pháp, nói chung mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ chưa phải là một câu hoàn chỉnh” Tục ngữ thì khác hẳn “Mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu.” [11;13] Bài viết của tác giả đã có những đóng góp nhất định, làm cơ sở cho những bước nghiên cứu thành ngữ và tục ngữ sau này
Tiếp sau bài viết của Nguyễn Văn Mệnh là bài góp ý kiến về Phân biệt
thành ngữ với tục ngữ (1973) của Cù Đình Tú , Tạp chí Ngôn ngữ, số 1 Theo
tác giả, bài viết của Nguyễn Văn Mệnh có đôi chỗ chưa thật chính xác Ông cho rằng: “Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh… tục ngữ đứng về mặt ngôn ngữ học, có chức năng khác hẳn so với thành ngữ Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích, đều là các thông báo.” [17;40-41] Ý kiến của Cù Đình Tú đã bổ sung thêm cách tiếp cận
để nhận diện tục ngữ
Trang 9Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam đã phân biệt
tục ngữ với thành ngữ dựa trên hai tiêu chí nội dung và hình thức ngữ pháp:
“Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn.” [14;31]
Tiếp đến, năm 1975 nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang,
Nguyễn Phương Tri với công trình Tục ngữ Việt Nam ở phần thứ nhất: Tiểu luận
về tục ngữ Việt Nam, được chia thành 6 chương Chương 1, các tác giả đã điểm qua lại việc sưu tầm và nghiên cứu tục ngữ ở Việt Nam trước 1975 một cách tương đối đầy đủ Các chương tiếp theo lần lượt trình bày: tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội; tục ngữ và lối sống của thời đại; tục ngữ và lối nghĩ của nhân dân; tục ngữ và lối nói của dân tộc; di sản tục ngữ và thời đại mới Phần thứ hai tục ngữ được tập hợp, giới thiệu và phân theo từng nội dung cụ thể Đây là cuốn sách có nhiều đóng góp đáng kể trong việc sưu tầm và nghiên cứu tục ngữ
Về sau, với Lịch sử văn học Việt Nam (tập 1) Văn học dân gian (phần I)
của nhóm tác giả Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc Côn, Nguyễn Nghĩa Dân, Lý Hữu Tấn, Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị, Lê Trí Viễn (1978) nhận đinh “Tục ngữ là câu nói thường ngắn gọn có vần hoặc không có vần, có nhịp hoặc không
có nhịp điệu đúc rút kinh nghiệm sản xuất hay đấu tranh xã hội, rút ra một phần chân lí phổ biến, ghi lại một nhận xét về tâm lí, phong tục tập quán của nhân dân Tục ngữ do nhân dân sáng tác và được toàn thể xã hội công nhận.” [12;227]
Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam của nhóm tác giả Đinh Gia Khánh
– Chu Xuân Diên – Võ Quang Nhơn năm 2009, cho rằng “Tục ngữ gần với lời
ăn tiếng nói về mặt chức năng Tục ngữ từ xưa tới nay vẫn được nhân dân dùng xen vào tiếng nói hàng ngày.” [10;243] Nhằm khẳng định tục ngữ gần gũi và
tồn tại chính trong cuộc sống hàng ngày
Ngoài ra còn có rất nhiều luận án thạc sĩ, đề tài nghiên cứu về tục ngữ như tác giả Nguyễn Như Sanh với Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ Việt Nam Cấu
Trang 10trúc và ngữ nghĩa của bộ phận tục ngữ có chứa từ chỉ thực vật của tác giả Phạm Thị Liên
Như vậy vấn đề tục ngữ đã có rất nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau đề cập đến những vấn đề có liên quan đến đề tài về tục ngữ
Đó chính là những tài liệu tham khảo rất cần thiết giúp chúng tôi có hướng triển khai khoá luận Tuy nhiên, tục ngữ có chứa từ gọi tên các loài thực vật còn là một đề tài có nhiều điều thú vị, cần nhiều khám phá Mặc dù, việc nghiên cứu tục ngữ dưới góc độ ngôn ngữ - văn hoá không phải là một hướng tiếp cận mới
mẻ, tuy nhiên vẫn còn rất ít công trình đi sâu vào tìm hiểu một nhóm tục ngữ cụ thể
3 Đối tƣợng, phạm vi, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Tiếp thu những lí thuyết về ngữ nghĩa học và Văn học dân gian, với kho tàng phong phú của thể loại tục ngữ Chúng tôi tiến hành thực hiện khoá luận
này gắn với đối tượng cụ thể đó là Nhóm từ gọi tên các loài thực vật trong tục
ngữ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ ngữ sử dụng trong tục ngữ rất phong phú, đa dạng Song trong khoá
luận này, chúng tôi chỉ tập trung vào Nhóm từ gọi tên các loài thực vật
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chọn Tuyển chọn Tục ngữ Việt Nam hay
nhất của tác giả Phúc Hải, Nxb Thời đại, in năm 2014 Đây là tập tuyển chọn
những câu tục ngữ hay nhất bao gồm những câu tục ngữ nêu lên được các vấn
đề của đời sống con người, thể hiện tâm tư, nguyện vọng, lao động, sinh hoạt, các lĩnh vực của đời sống, trải nghiệm của con người, đúc rút kinh nghiệm từ thiên nhiên, từ trải nghiệm cuộc sống… chúng tôi chỉ chọn lựa những câu tục ngữ có từ gọi tên thực vật, bao gồm 338 câu
3.3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lí thuyết ngữ nghĩa học, thực hiện nghiên cứu khoá luận nhằm
mục đích “Khảo sát nhóm từ gọi tên các loài thực vật trong tục ngữ Việt Nam”
Qua đó, rút ra những kết luận về việc sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong
Trang 11tục ngữ, đồng thời thấy được ý nghĩa biểu trưng của từ gọi tên các loài thực vật trong tục ngữ Việt
3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những lí thuyết liên quan đến khoá luận: lí thuyết về từ (khái niệm, đặc điểm, cấu tạo, nghĩa của từ tiếng Việt), lí thuyết về tục ngữ (khái
niệm, phân loại)
Thống kê, phân loại, miêu tả cấu tạo từ gọi tên các loài thực vật và ý nghĩa biểu trưng của nhóm từ gọi tên các loài thực vật trong tục ngữ Để nhằm làm rõ
sự phong phú và đa dạng của tục ngữ Việt Nam, mối quan hệ đặc biệt với thế giới bên ngoài ngôn ngữ, thấy rõ tầm quan trọng trong sự tác động qua lại giữa chúng
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thống kê phân loại dựa vào cơ sở biểu thị nội dung và ý nghĩa của nhóm tục ngữ chúng tôi tập hợp thống kê các tục ngữ có chứa từ gọi tên các loài thực vật rồi đưa chúng về một nhóm cụ thể trên cơ sở đó tiến hành lập bảng phân loại
4.2 Phương pháp so sánh từ kết quả thống kê phân nhóm, chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu các đơn vị ngôn ngữ có chứa từ gọi tên các loài thực vật nhằm làm rõ cấu tạo và ý nghĩa biểu trưng của nhóm từ gọi tên các loài thực vật khi tham gia cấu thành nên tục ngữ
4.3 Phương pháp phân tích tổng hợp Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp nhằm làm rõ mục đích, yêu cầu của khoá luận
5 Những đóng góp của khoá luận
Có cái nhìn tổng quát, hệ thống toàn diện về tục ngữ qua từ vựng, cấu tạo
và ý nghĩa của từ gọi tên các loài thực vật trong tục ngữ
Làm phong phú thêm con đường tìm hiểu, khám phá tục ngữ Nghĩa là hiểu được nội dung của từ gọi tên các loài thực vật trong tục ngữ, ngoài ý nghĩa đương đại, ý nghĩa chung, còn hiểu được ý nghĩa biểu trưng của từ gọi tên các loài thực vật đó trong tục ngữ
Trang 12Giúp cho việc giảng dạy, học tập tục ngữ trong nhà trường đạt hiệu quả hơn
và việc vận dụng tục ngữ trong cuộc sống hàng ngày linh hoạt và có ý thức
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, phần phụ
lục, nội dung của khoá luận gồm 2 chương:
Chương 1 Cơ sở lí thuyết
Chương 2 Tìm hiểu từ gọi tên các loài thực vật trong tục ngữ Việt Nam
Trang 13PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Từ vựng tiếng Việt
1.1.1 Các quan niệm về “từ”
Trong số các các đơn vị từ vựng, “từ” là một đơn vị cơ bản nhất, tập hợp các từ là việc làm đầu tiên của những người làm từ điển và các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Cái khó là ở chỗ phải nêu ra một định nghĩa có tính lí thuyết về
từ Cho đến nay, trong ngôn ngữ học các định nghĩa về từ đã được đưa ra không
ít Các định nghĩa đó, ở mặt này hay mặt kia đều đúng, nhưng đều không đủ và không bao gồm hết được tất cả các sự kiện được coi là từ trong ngôn ngữ hay trong một ngôn ngữ cụ thể Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi, trích dẫn hai khái niệm về “từ” của các tác giả Đỗ Hữu Châu, và Nguyễn Thiện Giáp làm định nghĩa về từ
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Việt nhận định: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những
đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để cấu tạo câu.” [3;16] Đây là một khái niệm khi nhận diện về từ tiếng Việt, tác giả đã chú ý
đến cả tính tách biệt và tính đồng nhất của từ Có thể thấy rằng đây là một khái niệm giúp người đọc hiểu được một cách toàn diện nhất về “từ”
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp đưa ra khái niệm về “từ” như sau: “Từ tiếng
Việt là đơn vị có nghĩa, nhỏ nhất, có tính hoàn chỉnh và khả năng tách biệt khỏi các đơn vị khác; nó có hình thức một âm tiết, một chữ viết liền.” [7;125] Định
nghĩa về “từ” của tác giả gần với những định nghĩa về từ trong các ngôn ngữ khác Ngoài ra, định nghĩa này còn chỉ ra được nét đặc trưng của từ tiếng Việt:
từ tiếng Việt có vỏ ngữ âm là âm tiết
Theo đó, chúng tôi chọn định nghĩa về từ của tác giả Đỗ Hữu Châu làm định nghĩa về “từ”
Trang 141.1.2 Đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt
1.1.2.1 Yếu tố, đơn vị cấu tạo từ, phương thức tạo từ
Trong tiếng Việt, các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa
nhỏ nhất – được dùng để cấu tạo ra các từ theo các phương thức cấu tạo của từ tiếng Việt Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, gọi các yếu tố có đặc điểm và chức năng
như trên bằng thuật ngữ có tính quốc tế là: Hình vị
Phương thức tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho
ta các từ Tiếng Việt sử dụng ba phương thức: từ hoá hình vị, ghép hình vị và
láy hình vị
Từ hoá hình vị là phương thức tác động vào bản thân ,một hình vị, làm
cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó
Ghép là phương thức tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị có nghĩa, kết
hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa như một từ)
Láy là phương thức tác động vào một hình vị làm cơ sở làm xuất hiện một
hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh Cả hình vị cơ sở và hình
vị láy tạo thành một từ (mang đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ)
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, khả năng cấu tạo từ của hình vị xét về mặt ngữ nghĩa, được xem là tiêu chí hàng đầu để phân loại hình vị
Về mặt hoạt động, hình vị được chia thành ba loại:
- Hình vị không độc lập tức là những hình vị cho đến nay chưa từ hoá thành
từ như: thuỷ (nước), hoả (lửa), thổ (đất)…
- Hình vị độc lập, tức là những hình vị vừa là hình vị, vừa là từ hóa thành
từ như: xe, máy, nhà, tiện, học…
- Hình vị bán độc lập là những hình vị tuy không bị gắn bó chặt chẽ với một loại hình vị khác, vẫn có thể tách rời khỏi các từ khác trong câu song chúng rất ít
khi một mình làm thành phần chính phụ của câu như hình vị: đã, sẽ, đang, rất…
Ngoài ra, căn cứ về mặt ý nghĩa có thể phân chia hình vị thành:
Trang 15- Hình vị thực Ví dụ: nhà, xe, áo, đường, trời, nước tức là những hình vị
mà mang ý nghĩa của chúng liên hệ với những sự vật, hiện tượng có thể hình dung được hay nhận thức được một cách cụ thể
- Hình vị hư Ví dụ: nhưng, rất, sẽ, đang, nên, thì, mà… là những hình vị
mà ý nghĩa thường chỉ quan hệ hoặc tình thái – tức là những biểu hiện của sự vật, hiện tượng hoặc chỉ cách nói năng (các hành vi ngôn ngữ), chỉ quan hệ giao tiếp – hết sức chung chung và trừu tượng
- Hình vị không có nghĩa là những hình vị như: bươu trong ốc bươu, hâu trong diều hâu, xít trong bọ xít, nẹt trong bọ nẹt, róm trong sâu róm…
1.1.2.2 Các kiểu từ xét về mặt cấu tạo
Theo xu hướng chung, từ tiếng Việt được phân chia thành ba loại chính: từ đơn, từ láy, từ ghép
a Từ đơn
* Khái niệm
Từ đơn là những từ một hình vị Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ
Ví dụ: bàn, ghế, nhà, cây…
* Phân loại
Từ đơn được chia làm hai loại là: từ đơn đơn âm và từ đơn đa âm
- Từ đơn đơn âm là những là những từ được cấu tạo từ một hình vị và mang một kiểu ý nghĩa nhất định
Ví dụ: đi, chạy, hoa, ăn…
- Từ đơn đa âm là những từ được cấu tạo từ hai hình vị trở lên, một hình
vị đã mất nghĩa Từ đơn đa âm được chia làm hai loại: từ đơn đa âm thuần Việt
như: bù nhìn, bồ các, ễnh ương, chèo bẻo, ác là, mắc cọt, mồ hôi, bồ hóng… và
từ đơn đa âm vay mượn (đại bộ phận các từ đơn đa âm là các từ vay mượn từ
ngôn ngữ Ấn Âu) như: a pa tít, a xít, cà phê, lắc lê, mô tô, pô pơ lin…
Trang 16b Từ láy
* Khái niệm
Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền,
thanh ngã, thanh nặng) của một hình hay đơn vị có nghĩa
* Phân loại
b1: Từ láy đôi: là từ láy gồm có hai tiếng
Có các dạng cấu tạo láy đôi sau:
- Từ láy bộ phận: Từ giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm đầu
+ Giống nhau ở phụ âm đầu gọi là láy âm Ví dụ: sạch sẽ, dễ dàng, đông đúc… + Giống nhau ở phần vần gọi là từ láy vần Ví dụ: chói lọi, co ro, lanh chanh
- Từ láy hoàn toàn: Ngoại trừ những từ láy bộ phận, còn lại là các từ láy hoàn toàn Bao gồm các dạng sau:
+ Giống cả phần vần, phụ âm đầu và thanh điệu Ví dụ: đu đủ, đo đỏ, tim tím
+ Giống nhau phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh điệu và phụ âm
cuối do sự chi phối của quy luật dị hoá Ví dụ: đèm đẹp, sành sạch…
Dạng biến đổi này xảy ra trong các trường hợp các tiếng gốc có phụ âm cuối là -p, -t, -k ( thể hiện trên chữ viết là c và ch) Trong trường hợp này, thanh điệu cũng có biến đổi theo quy luật vừa nói trên Còn phụ âm cuối biến đổi theo quy luật là tiếng gốc tận cùng bằng các phụ âm tắc – vô thanh sẽ được chuyển thành các phụ âm mũi – hữu thanh ở tiếng láy Cụ thể:
Tiếng gốc Tiếng láy
( Âm tắc, vô thanh) (Âm mũi – hữu thanh)
Ăm ấp - p -m
Phơn phớt - t -n
Sành sạch -k
Trang 17b2: Từ láy ba và láy tư
- Từ láy ba: chủ yếu dựa trên cơ chế láy hoàn toàn Ví dụ: xốp => xốp
xồm xộp; khít => khít khìn khịt; sát => sát sàn sạt; dửng => dửng dừng dưng; con => cỏn còn con
Từ láy ba có kiểu phối thanh thường gặp là:
+ Tiếng thứ hai mang thanh bằng (thường xuất hiện thanh huyền hơn thanh
+ Láy toàn bộ kết hợp với biến thanh
Ví dụ: bồi hồi - bổi hổi bồi hồi
lảm nhảm - lảm nhảm làm nhàm
+ Láy bộ phận kết hợp với tách, xen
Ví dụ: thơ thẩn - lơ thơ lẩn thẩn
nhồm nhoàm - lồm nhồm loàm nhoàm
+ Láy toàn bộ kết hợp với tách, xen
Ví dụ: hăm hở - hăm hăm hở hở
vội vàng - vội vội vàng vàng
c Từ ghép
* Khái niệm
Từ ghép là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa
Trang 18trên quan hệ ý nghĩa
- Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng
- Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:
+ Hoặc các thành tố đồng nghĩa với nhau, trong đó:
Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt Ví dụ: bạn hữu,
bụng dạ, máu huyết…
Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt Ví dụ: tư duy, thổ địa, tiện lợi… Có thể hai yếu tố đều là thuần Việt Ví dụ: đợi chờ, máu mủ, xinh đẹp…
Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vốn là từ địa phương Ví dụ:
chân cẳng, bát đọi, chợ búa…
+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau Ví dụ: thương nhớ, nhà cửa, quần áo,
ăn uống…
+ Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau Ví dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ…
- Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những
phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát)
- Tuy nhiên có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến
hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập
- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ như sau:
+ Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A+B Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý
Trang 19nghĩa riêng của từng thành tố Chẳng hạn, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn áo Các ví dụ khác về từ ghép gộp nghĩa: điện nước,
xăng dầu, tầu xe, xưa nay, chạy nhảy, học tập, thu phát, ăn uống, tốt đẹp…
+ Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa
AB = A hoặc B Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng
và ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ Ví dụ: núi non, binh lính, thay đổi,
tìm kiếm…
Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một số thành tố nên thành tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa Yếu tố này sẽ làm
chỗ dựa cho ý nghĩa của cả từ ghép Có thể nói sự mờ nghĩa của núc (bếp núc),
búa (chợ búa)… chính là kết quả cực đoan của mô hình đơn nghĩa này
Ví dụ về từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bếp núc, chợ búa, đường sá, áo xống,
viết lách…
+ Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa: bao gồm những từ ghép nằm trong mô hình ngữ nghĩa AB > A + B Tức là loại mà ở đó nghĩa của cả từ không phải chỉ là phép cộng đơn thuần nghĩa của các thành tố, mà nó là sự tổng hợp nghĩa của các thành tố kèm theo sự trừu tượng hoá dựa trên cơ sở liên tưởng ẩn dụ hay hoán
dụ Do đó nghĩa của cả từ mới hơn so với nghĩa của từng thành tố Ví dụ, đất
nước không phải để chỉ đất và nước nói chung hay chỉ đất hoặc nước, mà hai
yếu tố được hợp lại để chỉ lãnh thổ của một quốc gia trong đó có những nét tiêu
biểu là đất và nước Trường hợp non sông, sông núi, sơn hà cũng vậy Một số ví
dụ khác, ruột thịt không phải chỉ ruột hay thịt nói chung mà cả hai hợp lại để chỉ quan hệ máu mủ, huyết thống Hay gan dạ để chỉ sự mạnh mẽ không lùi bước
trước nguy hiểm cũng là một trường hợp tương tự
Bàn về từ ghép đẳng lập, người ta thường bàn đến khả năng hoán vị giữa các thành tố Tuy nhiên cần chú ý khả năng ấy không xảy ra phổ biến đối với toàn bộ lớp từ ghép đẳng lập, và không phải xảy ra vô điều kiện trong mọi trường hợp Về hiện tượng này có thể nêu mấy nhận xét như sau:
+Có thể hoán vị được đối với một số từ ghép gộp nghĩa trường hợp không có yếu
tố Hán – Việt Ví dụ: quần áo – áo quần, rủi may – may rủi, tươi tốt – tốt tươi…
Trang 20+ Khả năng hoán vị ít xảy ra giữa các thành tố trong từ ghép đơn nghĩa, đặc biệt đối với trường hợp từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa
+ Khả năng hoán vị bị sự khống chế của một số yêu cầu:
Không được phép làm thay đổi ý nghĩa của từ ghép ban đầu Ví dụ: đi lại
– lại đi; cơm nước – nước cơm khác nghĩa
Không đi ngược lại tập quán cổ truyền của dân tộc Ví dụ: nam nữ - nữ
nam; ông bà – bà ông; vua quan – quan vua… không hoán vị được
c2: Từ ghép chính phụ
Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu
tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp Loại này có những đặc điểm sau:
- Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể
- Trong từ ghép chính phụ,yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hoá loại
sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó
- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại:
+ Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật, hoạt động, đặc trưng cụ thể Vì vậy, có thể nói tác dụng của các yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại Ví dụ:
Máy bay, máy may,máy bơm, máy nổ, máy tiện…
Làm việc, làm thợ, làm duyên, làm ruộng, làm dâu…
Vui tính, vui tai, vui mắt…
Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc
Hán – Việt Việt hoá khác từ ghép Hán – Việt, ở hai trường hợp đầu, yếu tố chính thường đứng trước, ở trường hợp cuối, yếu tố phụ thường đứng trước Ví dụ:
Trang 21Vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ…
Hải phận, không phận, hoả xa, thi sĩ…
+ Từ ghép chính phụ mang sắc thái hoá: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác dụng bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho ghép sắc thái hoá này khác với từ ghép sắc thái hoá khác về ý nghĩa Ví dụ, so
sánh xanh lè với xanh và xanh biếc
1.1.3 Nghĩa của từ tiếng Việt
* Khái niệm
Nghĩa của từ vừa là sự phản ánh sự vật, hiện tượng… trong thực tế vào ngôn
ngữ; là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định; qua đó bộc lộ sự đánh giá, tình cảm, cảm xúc của con người
* Các thành phần nghĩa của từ
Bản chất ý nghĩa của từ bộc lộ ra qua sự đối chiếu từ với các chức năng tín hiệu học mà từ đảm nhiệm, qua việc tách ra những mặt đối lập, còn gọi là các thành phần ý nghĩa
Tùy theo các chức năng mà từ đảm nhiệm, trong nghĩa của từ có những thành phần nghĩa sau đây:
+ Nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật
+ Nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm
+ Nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái
Ba thành phần nghĩa trên được gọi chung là nghĩa từ vựng; nghĩa từ vựng thường đối lập với thành phần nghĩa thứ tư là:
+ Nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp
Tuy nhiên chúng ta sẽ chỉ bàn tới ba thành phần nghĩa là: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái
1.1.3.1 Nghĩa biểu vật
Khái niệm “vật” (sự vật, hiện tượng) trong thuật ngữ “Nghĩa biểu vật” cần tìm hiểu không chỉ là các sự vật, mà còn là các hoạt động (các quá trình), các
Trang 22tính chất, đặc điểm… nói cách khác, không chỉ các danh từ mới có nghĩa biểu vật, mà các động từ, tính từ cũng có nghĩa biểu vật
Từ không chỉ định danh (gọi tên) sự vật, mà còn định danh cả hoạt động, tính chất… trong thực tế khách quan Bên cạnh đó cũng cần hiểu rằng, nghĩa biểu vật của từ không đồng nhất với sự vật, hoạt động, tính chất
Mỗi nghĩa biểu vật của từ là một mảng của hiện thực khách quan được phản ánh trong từ, trong ngôn ngữ
Ví dụ: “rau” để có được tính khái quát thì từ rau không gắn với loại rau cụ thể nào Nói cách khác, từ “rau” trong tiếng Việt biểu thị là loài rau chung
chung, một loại rau đã được khái quát hoá để đưa vào ngôn ngữ Nhờ vậy, trong
hoạt động giao tiếp, từ “rau” sẽ ứng với tất cả các loại rau cụ thể, bằng cách gợi
lên trong tâm lí người sử dụng ngôn ngữ hình ảnh của những loại rau cụ thể mà
họ muốn nói tới
Ngoài ra, sự vật, hoạt động, tính chất… tồn tại trong thực tế khách quan mang tính cụ thể, cá thể, đơn lẻ, phong phú, đa dạng… nhưng nghĩa biểu vật lại mang tính khái quát Nó chỉ cả chủng loại sự vật, hiện tượng chứ không nhằm chỉ riêng một sự vật, hiện tượng cụ thể nào (Trừ các danh từ riêng trong ngôn ngữ, thì nghĩa biểu vật tương ứng với một sự vật cá biệt)
Ví dụ: Được khái quát với tiêu chí hình thức như “củ’’ bao gồm cả rễ (củ
khoai lang, củ sắn), cả thân ngầm (củ rong, củ riềng), cả quả (củ lạc), thân nổi (củ su hào) và cả gốc lá (củ hành, củ tỏi)
1.1.3.2 Nghĩa biểu niệm
Sự vật, hoạt động, tính chất… phản ánh vào tư duy con người thành các khái niệm Các khái niệm ấy được ngôn ngữ hoá thành nghĩa biểu niệm của từ
(Mỗi thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng được con người nhận thức trở thành một dấu hiệu trong nội dung của khái niệm Sau đó, mỗi dấu hiệu của khái niệm được ngôn ngữ hoá trở thành một nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu niệm
của từ Như vậy, toàn bộ nội dung của khái niệm trở thành cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ Nói cách khác, nghĩa biểu niệm của từ chứa đựng những hiểu biết
Trang 23của con người về những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan)
Nghĩa biểu niệm của từ có thể phân định, chia tách được thành từng phần
nhỏ Mỗi phần nhỏ ấy là một nét nghĩa Tập hợp các nét nghĩa ấy lại, ta có một
cấu trúc biểu niệm của từ Cách trình bày, miêu tả các nét nghĩa trong một cấu
trúc nghĩa biểu niệm của từ như sau:
Ví dụ:
“Ngô”: (thực vật), (chia thành từng bắp), (dùng làm thực phẩm)
“Ớt”: (thực vật), (vị cay nồng), (màu sắc xanh, đỏ), (dùng làm thực phẩm)
“Hành”: (thực vật), (củ hành, hành lá), (vị cay tính bình), (dùng làm thực phẩm)
1.1.3.3 Nghĩa biểu thái
Nghĩa biểu thái phán ánh quan hệ của người sử dụng đối với từ; nói cụ thể hơn, phản ánh tình cảm, cảm xúc, thái độ của người sử dụng ngôn ngữ
Ví dụ: các từ chết, hi sinh, từ trần, bỏ mạng, ngoẻo… có cùng nghĩa biểu vật,
nghĩa biểu niệm, nhưng khác nhau về ý nghĩa biểu thái Tất cả đều chỉ chấm dứt sự
sống, nhưng “chết” mang sắc thái trung hoà, “hi sinh, từ trần” mang sắc thái trang
trọng, “bỏ mạng, nghoẻo” mang sắc thái khinh bỉ
1.1.4 Từ ngữ gọi tên thực vật
Như chúng ta đã biết về mặt ý nghĩa từ có ba bình diện là nghĩa biểu vật,
nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái Áp dụng lí thuyết về ba bình diện của từ vào
việc tìm hiểu bộ phận từ gọi tên thực vật trong ca dao tỏ tình, chúng tôi tiến hành “tách” các từ gọi tên thực vật ra để nghiên cứu về cấu tạo, về ý nghĩa của chúng trong việc truyền tải thông điệp Do đó, chúng tôi quan niệm từ gọi tên thực vật là những từ dùng để định danh cây cối nói chung và các loại cây cụ thể chứ không đi sâu vào tìm hiểu những từ thuộc về trường nghĩa của cây như trường nghĩa chỉ các bộ phận của cây, trường nghĩa chỉ tác dụng của cây, trường nghĩa chỉ sự sinh trưởng và phát triển của cây
Trang 241.2 Tục ngữ
1.2.1 Khái niệm tục ngữ
Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất,về con người và xã hội Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian” Trí khôn đó rất phong phú và cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn ngọn, súc tích, dễ hiểu, giàu hình ảnh và nhịp điệu Có thế nói, tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng
và xã hội hay hẹp hơn là những lời ăn tiếng nói khuyên răn Tục ngữ không ngừng được sáng tạo và thường xuyên được sử dụng như một công cụ tư duy nhạy bén Là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học xã hội và nhân văn, tục ngữ được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau
Theo ông Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu “Tục ngữ
(Tục: là thói quen đã có lâu đời, ngữ: là lời nói) là những câu nói gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu hành từ đời xưa, rồi do cửa miệng của người đời truyền đi” Đây là một
trong những định nghĩa về tục ngữ đã xuất hiện sớm Tuy chưa đầy đủ về đặc trưng nhưng cũng đã nêu được một số đặc điểm cơ bản của tục ngữ
Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam viết: “Tục
ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán.” [14;31]
Cao Huy Đỉnh trong truyện luận Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt
Nam (1974), đã nhận rõ tính chất hai mặt của tục ngữ: tính chất văn học nghệ
thuật (âm điệu, hình ảnh, tình cảm) và tính chất phi văn học nghệ thuật (kinh nghiệm, khoa học thực hành, triết lí thực tiễn ), vì thế ông xếp tục ngữ vào loại
“văn học đúc rút kinh nghiệm thực tiễn.” [6;242-243]
Các tác giả trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam(tập 1), đã ra quan niệm:
“Tục ngữ là một câu nói thường ngắn gọn, có vần hoặc không có vần, có nhịp điệu hoặc không có nhịp điệu, đúc kết kinh nghiệm sản xuất hay đấu tranh xã hội, rút ra chân lí phổ biến, ghi lại một nhận xét tâm lí, phong tục tập quán của
Trang 25nhân dân Tục ngữ do nhân dân sáng tác và được toàn thể xã hội công nhận.”
[12;227]
Giáo trình Văn học dân gian (tập 2) Hoàng Tiến Tựu đưa ra định nghĩa:
“Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian có chức năng chủ yếu là đúc rút kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh, dễ nhớ, dễ truyền.” [20;109]
Một cách khái quát, có thể thấy, các định nghĩa về tục ngữ đều đề cập đến hai bình diện: nội dung và hình thức
Về nội dung: Tục ngữ là một thông báo trọn vẹn, đúc rút kinh nghiệm, tri thức của đời sống tự nhiên, xã hội, cũng như phong tục tập quán của nhân dân
Về hình thức: Tục ngữ là câu nói ngắn gọn, súc tích
Từ góc độ ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu đã thể hiện những nỗ lực trong việc nhận thức bản chất của tục ngữ Trong công trình nghiên cứu của
mình Nguyễn Văn Tu cho rằng: “Trong tiếng Việt những tục ngữ, phương ngôn
và ngạn ngữ có liên quan đến thành ngữ và quán ngữ Chúng không phải là đối tượng của từ vựng mà là đối tượng của văn học dân gian.Nhưng vì chúng là một đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ được dùng đi dùng lại để trao đổi tư tưởng cho nên chúng dính dáng đến vấn đề cụm từ cố định Thực ra, chúng là những câu hoàn chỉnh chỉ một nội dung đầy đủ, không cần những thành phần cú pháp nào cả.” [16;87]
Trên đây là các định nghĩa khác nhau về tục ngữ của các nhà ngôn ngữ do tục ngữ được nhìn nhận dưới những cấp độ của ngôn ngữ khác nhau
Tóm lại, tổng hợp các góc nhìn về văn học, ngôn ngữ có thể đi đến định
nghĩa về tục ngữ như sau: “Tục ngữ là những sáng tác dân gian, có kết cấu là
một câu hoàn chỉnh, ngắn gọn, súc tích Tục ngữ thường có vần, có nhịp điệu,
dễ nhớ, dễ thuộc nhằm nêu lên những nhận xét, phán đoán, đúc kết những kinh nghiệm, tri thức cuộc sống của nhân dân về những hiện tượng của tự nhiên và
xã hội được tu luyện từ đời này sang đời khác.”
Trang 261.2.2 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ và nghiên cứu văn học Việt Nam rất quan tâm đến việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ song ranh giới giữa chúng vẫn chưa được xác định rõ nét Bởi lẽ giữa chúng có rất nhiều điểm giống nhau: cả hai đều là những đơn vị có sẵn, cố định, cấu trúc chặt chẽ, giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm và được tái hiện trong giao tiếp thậm chí có người cho rằng không cần tách riêng thành ngữ và tục ngữ
Với công trình nghiên cứu về tìm hiểu sự khác nhau giữa tục ngữ và thành
ngữ tác giả Dương Quảng Hàm đã viết: “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý
nghĩa đầy đủ hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho
nó màu mè.” [8;15] Ở đây, cho ta thấy bộc lộ ra phần nào xu hướng coi tục ngữ
là một hiện tượng ý thức xã hội và thành ngữ như là hiện tượng ngôn ngữ
Còn theo Vũ Ngọc Phan thì “Tục ngữ là một câu nói tự nó diễn trọn vẹn
một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn.” [14;31] Ở đây, sự phân biệt tục ngữ và thành ngữ đã rõ ràng hơn bởi dựa
trên hai tiêu chí: nội dung và kết cấu ngữ pháp Tuy nhiên, vẫn tồn tại những thắc mắc có những thành ngữ có cấu tạo ngữ pháp là một câu trong khi không ít tục ngữ có cấu tạo là một cụm từ
Góp thêm ý kiến phân biệt thành ngữ và tục ngữ, Nguyễn Văn Mệnh trong
bài Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ cho rằng “Có thể nói nội dung của
thành ngữ mang tính chất hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ nói chung mang tính quy luật Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói… về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn, mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu.” (Tạp chí Ngôn ngữ số 3/1972)
Cù Đình Tú cho rằng ý kiến của Nguyễn Văn Mệnh chưa thật xác đáng vì
theo ông “Thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ Tục ngữ cũng là một hiện
Trang 27tượng ngôn ngữ Giải quyết các hiện tượng ngôn ngữ phải căn cứ vào ngôn ngữ học” Ông cho rằng sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác
nhau: Về chức năng: “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định
danh… là những đơn vị tương đương như từ… tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích, đều là những thông báo… nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan Do vậy mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt chọn vẹn một ý tưởng…” [17;7]
Trong cuốn Tục ngữ Việt Nam (1975) Chu Xuân Diên đã đưa ra tiêu chí phân biệt mới: “Sự khác nhau cơ bản về nội dung của thành ngữ và tục ngữ sẽ
được phát hiện như là sự khác nhau về nội dung của hai hình thức tư duy: khái niệm và phán đoán.” [5;27-28] Và “sự khác nhau ở chỗ những tri thức ấy khi ta rút ra lại là những khái niệm thì ta có thành ngữ, còn khi được trình bày, được diễn đạt thành những phán đoán thì ta có tục ngữ.” [5;73]
Với cuốn Văn học dân gian Việt nam, tác giả Hoàng Tiến Tựu đã đưa ra hai tiêu chí để phân biệt nội dung và hình thức: “Tục ngữ là một thành phẩm trọn
vẹn cả về hình thức và tư duy (có nội dung và ý nghĩa rõ ràng) Còn thành ngữ
là “bán thành phẩm” giống như những “tấm bê tông đúc sẵn”, ở trong mỗi thành ngữ chỉ diễn đạt một khái niệm (chứ không phải là một phần đoán như tục ngữ) nghĩa là chỉ tương đương với một từ hoặc một tổ hợp từ.”
Nêu lên ý kiến của mình về sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ ông
Dương Quảng Hàm viết “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ,
hoặc khuyên răn và chỉ bảo điều gì; nghĩa là thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để
ta tiện dung mà diễn đạt một ý nghĩa gì hoặc tả một trạng thái gì cho nó màu mè.” [8;107]
Tuy nhiên, theo các tác giả cuốn Tục ngữ Việt Nam, cần phải xem xét sự khác nhau của thành ngữ và tục ngữ chủ yếu ở chỗ “như là một hiện tượng ngôn
ngữ và một hiện tượng ý thức xã hội” và các tiêu chí mà các tác giả đưa ra để
phân biệt là nhận thức luận Với tiêu chí phân loại đó thì tục ngữ là chủ yếu là một hiện tượng ý thức xã hội, còn thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ Và sự
Trang 28khác nhau về nội dung của hai hình thức tư duy khác nhau: nội dung của thành ngữ là khái niệm, nội dung của tục ngữ là những phán đoán Sự khác nhau về hình thức tư duy tất yếu sẽ dẫn đến sự khác nhau về chức năng, về cấu tạo ngữ pháp và về vị trí trong lời nói của hai hình thức ngôn ngữ đó [5;6]
Dựa trên kết quả nghiên cứu đó, chúng tôi rút ra những đặc điểm cơ bản sau đây nhằm phân biệt tục ngữ và thành ngữ:
Về nét tương đồng: Thành ngữ và tục ngữ đều là những đơn vị do các từ tạo nên, có tính ổn định cao Đặc điểm chung này chính là nguyên nhân dẫn đến
sự nhầm lẫn và khó khăn khi phân biệt thành ngữ, tục ngữ
Bên cạnh những đặc điểm tương đồng trên, thành ngữ và tục ngữ còn có những nét khu biệt khá rõ nét:
Về cấu tạo: Thành ngữ có cấu tạo là cụm từ, còn tục ngữ lại có cấu tạo là câu Thành ngữ bản chất là một loại cụm từ cố định, có chức năng tương đương với từ Trong khi đó, tục ngữ lại là câu hoàn chỉnh - một loại câu được Giáo sư Hoàng Văn Hoành gọi là câu cố định, “câu thông điệp nghệ thuật”
Về ngữ nghĩa: Nếu như thành ngữ được coi là đơn vị định danh bậc hai của ngôn ngữ, có chức năng định danh, miêu tả sự vật, sự việc thì tục ngữ lại là những phán đoán thể hiện kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử của cha ông ngàn đời xưa
Về khả năng sử dụng: Do chỉ là một cụm từ nên thành ngữ không thể dùng độc lập một mình, khi hành chức nó phải được đặt trong câu, chức năng cấu tạo câu này của thành ngữ là một đặc điểm tương đồng với từ Ngược lại, tục ngữ vốn đã là câu nên khi được sử dụng nó có thể đứng độc lập một mình mà vẫn diễn đạt một ý, một thông điệp trọn vẹn
1.2.3 Ý nghĩa biểu trưng
1.2.3.1 Định nghĩa biểu trưng
Biểu trưng là lấy một sự vật, hiện tượng nào đó để biểu hiện một cách tượng trưng, ước lệ một cái gì đó có tính chất khái quát trừu tượng
Trang 291.2.3.2 Ý nghĩa biểu trưng của tục ngữ
Ý nghĩa biểu trưng của tục ngữ, là một đặc trưng nổi bật Tục ngữ biểu trưng cho quy luật của tự nhiên, quy luật của muôn đời và quy luật của con người Ở nhóm tục ngữ gọi tên các loài thực vật, tự thân các từ gọi tên các loài thực vật không có ý nghĩa biểu trưng Người ta chỉ vay mượn hình ảnh có thực,
cụ thể của chúng, để dùng làm dấu hiệu biểu trưng cho ý nghĩa của tục ngữ cụ
thể
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nhóm tục ngữ có chứa từ chỉ thực vật mang nhiều ý nghĩa biểu trưng và có những trường hợp mang một ý nghĩa biểu trưng được biểu hiện qua nhiều loài Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài và giới hạn khả năng nghiên cứu, chúng tôi chỉ nghiên cứu làm nổi bật ý nghĩa biểu trưng của tục ngữ gọi tên các loài thực vật mang tính tổng loại như sau:
a Biểu trưng của nền văn minh,văn hoá, vẻ đẹp Việt Nam
Từ xa xưa khi con người sinh ra đã gắn bó với cây lúa và hạt gạo, nền văn minh lúa nước đã trở thành truyền thống và nét đẹp của người Việt Nam Cùng với những vẻ đẹp về văn hoá qua quá trình sinh hoạt và tổ chức cộng đồng người Việt có những đặc sắc văn hoá rất riêng như bản sắc văn hoá dân tộc, vùng miền; văn hoá ứng xử, giao tiếp; văn hoá ẩm thực… vẻ đẹp của người Việt được phản ánh trong chính đời sống qua cách ứng xử, sinh hoạt cộng đồng Vẻ đẹp đó là vẻ đẹp toàn mĩ thể hiện phẩm chất và con người Việt Nam
- Biểu trưng cho nền văn minh, thể hiện qua lao động sản xuất nảy sinh ra trong quá trình đấu tranh thiên nhiên của nhân dân lao động Đó là những kinh nghiệm lâu đời và có tính chất tập thể rút ra trong quá trình quan sát các hiện tượng tự nhiên, cụ thể con người đúc rút kinh nghiệm trong lao động như làm
ruộng, trồng trọt, quá trình dùng sức người để cải biến thiên nhiên (Ăn kĩ no lâu,
cày sâu tốt lúa; Bụi lúa trồng bằng đồng lúa gieo; Ba năm cây mít đóng đài, cây cam có nụ cây xoài trổ bông; Cày sâu cuốc bẫm, thóc đầy lẫm khoai đầy bồ; Bao giờ đom đóm bay ra, hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng; Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa; Gió đông là chồng lúa trỗ…) Kinh nghiệm về thời tiết (Dù là cỏ
Trang 30chỉ cỏ gà, đang xanh hoá trắn gắt là sắp mưa; Đen đông, chớp lạch, quái ráng hoa bầu – có ba điều ấy lành đâu bao giờ; Lá tre trôi lộc, mùa rét xộc đến; Tháng bảy mưa gãy cành trám, tháng tám nắng rám trái bưởi)
- Biểu trưng cho hôn nhân, sự gắn kết lứa đôi và cuộc sống gia đình được thể hiện chính qua hôn nhân Trong tục ngữ so sánh cùng với hình ảnh của các loài thực vật đã thể hiện tâm tư, tình cảm của tình yêu đôi lứa, của tình cảm vợ
chồng son sắt (Ba vợ, ba bát canh bầu; Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài; Mít
đặc mít đong, mít cả chồng cả vợ; Cau non vì hạt, gái đảm vì chồng; Đêm nằm tàu chuối có đôi, hơn nằm chiếu miến lẻ loi một mình)
Bên cạnh những tục ngữ ca ngợi về tình yêu đẹp về vợ chồng thuỷ chung son sắt, tục ngữ còn chê bai, mỉa mai cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu
thuẫn, cãi vã, chăng hoa (Con vợ khôn lấy thằng chồng dại, như bông hoa nhài
cắm bãi cứt trâu; Vắng trăng thì đã có sao, vắng hoa thiên lý có đào nhị tiên)
Tục ngữ thể hiện sự ghen tuông (Ớt nào mà ớt chẳng cay, gái nào mà gái
chẳng hay ghen chồng)
Cách chọn vợ, chọn chồng (Mua cam thì chọn giống cam, lấy chồng thì
chọn trưởng nam cho giàu; Thà rằng ăn nửa quả hồng, còn hơn ăn cả chùm sung chát lè)
- Biểu trưng cho tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo Đó là những phong tục của người Việt, bởi vậy những loài thực vật gắn liền với những nghi thức và lối sống sinh hoạt của con người rất phong phú Con người tôn sùng, thờ cúng cây lúa, cây đa, cau, trầu… chính vì vậy, tục ngữ có chứa từ chỉ thực vật đã phản ánh đời
sống tâm linh như tin theo và tâm niệm, thờ tự như (Thần cây đa, ma cây gạo,
cú cáo cây đề; Ở cho phải phải phân phân, cây đa cậy thần thần cậy cây đa; Sợ thần phải nể cây đa)
- Biểu trưng cho sự đoàn kết, con người trong một cộng đồng luôn che chở, đùm bọc lẫn nhau Tinh thần đoàn kết của con người và của dân tộc được thể
hiện qua tục ngữ như (Góp gió thành bão, góp cây nên rừng; Một cây làm chẳng
lên non; Ba cây chụm lại lên hòn núi cao; Là lành đùm lá rách)
- Biểu trưng cho niềm từ hào của nhân dân, thể hiện qua đặc sản vùng
Trang 31miền, với tục ngữ như (Bưởi Đoan Hùng, cam Bố Hạ; Cam xã Đoài, xoài Bình
Định; Dưa hấu dưa gang là làng Mông Phụ)
b Biểu trưng cho đức tính của con người
- Biểu trưng cho đức tính cần cù, kiên trì, thể hiện qua quan niệm có làm có
ăn được thể hiện trong tục ngữ như (Ăn cơm làm cỏ chẳng bỏ đi đâu; Công cấy
lá, công làm cỏ là công ăn)
- Biểu trưng về sự biết ơn, đó là trân trọng thành quả của ông cha để lại
Chúng ta thấy qua tục ngữ như (Ăn quả nhớ kẻ trồng cây) Nhớ về cội nguồn như trong tục ngữ (Lá rụng về cội; Cây có cội, nước có nguồn)
- Biểu trưng về sự giản dị, thể hiện qua cách ăn uống có gì ăn đấy Qua tục
ngữ như (Có rau ăn rau, có cháo ăn cháo; Không có cá lấy rau má làm trọng
Về hạnh phúc gia đình Cơm cà là nhà có phúc)
- Biểu trưng về sự tôn trọng, kính nể Chúng ta có thể thấy qua tục ngữ như
(Bí lể dâu, bầu lể mạ) Biểu trưng cho sự quý trọng con người (Người ta là hoa đất; Người như hoa ở đâu thơm đấy)
- Biểu trưng con người không có lí tưởng, luôn bất mãn với số phận, thể
hiện qua tục ngữ như (Cây không uống nước cũng khô, phận nghèo đi đến nơi
mô cũng nghèo) Những kẻ lười biếng chờ đợi thành quả từ người khác (Đại lãn ngồi gốc cây sung; Ngồi gốc sung há miệng chờ rơi)…
- Biểu trưng cho sự tự lập (Muốn ăn lúa phải tìm giống)…
c Biểu trưng cho vẻ bề ngoài của con người
- Biểu trưng cho nét đẹp của người con gái, nét đẹp hiện diện trên khuôn
mặt biểu hiện trong tục ngữ như (Mắt lá răm mày lá liễu) Thể hiện sắc mặt tươi vui (Mặt tươi như hoa)
d Biểu trưng cho quan hệ giữa cha mẹ và con cái
- Biểu trưng cho tình cảm giữa cha mẹ với con cái, thể hiện qua tục ngữ
như (Thương con ngon rau) hay sự trân trọng hạnh phúc gia đình (Thà ăn bắp
hột chà vôi, còn hơn giàu có mồ côi một mình)
- Biểu trưng về việc sự nhận thức cách giáo dục con cái (Con không cha thì
con trễ, cây không dễ thì cây hư; Mấy ai biết lúa von, mấy ai biết con hư)
Trang 32ăn, ở, mặc, giao tiếp, cưới xin, ma chay, hội hè, sinh hoạt Con người yêu lao động, đánh giá cao lao động và có thể xét đoán con người qua lao động Phản ánh đầy đủ đức tính của nhân dân lao động, cần cù, kiên trì, tinh thần lạc quan, lòng chung thuỷ, nết thật thà…
Trang 33Chương 2 TÌM HIỂU TỪ GỌI TÊN CÁC LOÀI THỰC VẬT
TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM
2.1 Khảo sát về số lượng từ gọi tên các loài thực vật trong tục ngữ
Theo kết quả khảo sát, thống kê, phân loại ngữ liệu của chúng tôi, thực vật được sử dụng trong tục ngữ rất phong phú Tạm thời chúng tôi sẽ phân chúng thành các loài ứng với tần số xuất hiện từ cao đến thấp như sau:
Bảng thống kê từ gọi tên thực vật trong tục ngữ Việt Nam theo thứ tự từ cao