1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát nhóm từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình của người việt

46 464 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 613,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt xét trên bình diện ngữ nghĩa .... Nội dung những bài ca dao này đều phản ánh được những sắc thái, cung bậc cảm xúc của tì

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐẶNG THỊ NAM

KHẢO SÁT NHÓM TỪ GỌI TÊN CÁC LOÀI THỰC VẬT

TRONG CA DAO TỎ TÌNH CỦA NGƯỜI VIỆT

CHUYÊN NGÀNH: TIẾNG VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS NGUYỄN TRUNG KIÊN

SƠN LA, NĂM 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện khóa luận này, tôi đã nhận được nhiều sự chỉ bảo, động viên, giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn Trường

ĐH Tây Bắc, đặc biệt là Ths Nguyễn Trung Kiên là người đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể học tập, nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè khoa Ngữ Văn trường ĐH Tây Bắc

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến gia đình, người thân, bạn

bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành khóa luận này

Sơn La, tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Đặng Thị Nam

Trang 3

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn khóa luận 1

2 Lịch sử nghiên cứu 1

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

4.1 Mục đích 3

4.2 Nhiệm vụ 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

5.1 Phương pháp thống kê phân loại……… ……… 3

5.2 Phương pháp phân tích tổng hợp……….………… … ….4

5.3 Phương pháp hệ thống hóa……… …… …… 4

6 Đóng góp của khóa luận 4

7 Cấu trúc của khóa luận……… ………….4

B Phần nội dung 5

Chương 1 Cơ sở lí thuyết……… ….5

1.1 Từ tiếng Việt 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Cấu tạo 5

1.1.2.1 Từ đơn 5

1.1.2.2 Từ láy 6

1.1.2.3 Từ ghép 7

1.1.3 Ý nghĩa 11

1.1.3.1 Nghĩa biểu niệm 11

1.1.3.2 Nghĩa biểu vật 12

1.1.3.3 Nghĩa biểu thái 12

1.1.4 Từ ngữ gọi tên các loài thực vật 13

1.2 Ca dao 13

Trang 4

1.2.1 Khái niệm 13

1.2.2 Phân loại 13

1.2.2.1 Ca dao phản ánh lịch sử Việt Nam……… ………….13

1.2.2.2 Ca dao phản ánh đời sống của con người Việt Nam……… ……… 14

Tiểu kết……… …………16

Chương 2 Nhóm từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt 18

2.1 Nhận xét về số lượng từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt 18 2.2 Từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt xét trên bình diện cấu tạo 22

2.2.1 Từ gọi tên các loài thực vật là từ đơn 23

2.2.2 Từ gọi tên các loài thực vật là từ ghép……… ……… 23

2.3 Từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt xét trên bình diện ngữ nghĩa 26

2.3.1 Những hình ảnh thực vật biểu trưng cho niềm hạnh phúc trong tình yêu 27

2.3.2 Những hình ảnh thực vật biểu trưng cho nỗi nhớ trong tình yêu 29

2.3.3 Những hình ảnh thực vật biểu trưng cho sự thủy chung trong tình yêu 30

2.3.4 Những hình ảnh thực vật biểu trưng cho sự ngăn trở trong tình yêu……… …32

2.3.5 Những hình ảnh thực vật biểu trưng cho nỗi đau trong tình yêu……….34

2.4 Từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt xét trên bình diện ngữ dụng 35

Tiểu kết 38

C.Kết luận 39

Tài liệu tham khảo 41

Trang 5

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN KHÓA LUẬN

Dân tộc Việt cũng như một số dân tộc khác với nền văn hóa nông nghiệp lúa nước đều quan niệm tất cả sự sinh sôi nảy nở trong vũ trụ là do sự kết hợp giữa giống đực và giống cái Điều này được phản ánh trực tiếp trong các loại hình văn học như thần thoại, truyện cổ tích… và đặc biệt là ca dao Bên cạnh những bài ca về lao động sản xuất, lịch sử đấu tranh xã hội… đó là những bài ca về tình yêu đôi lứa Đây là mảng đề tài phong phú và sâu sắc nhất trong ca dao, là tấm gương trung thực phản ánh đời sống tâm hồn của người Việt Trong đó, ta sẽ bắt gặp hình ảnh những chàng trai,

cô gái trong những cuộc hẹn hò, gặp gỡ và cùng nhau giãi bày, thổ lộ tình cảm với nhau Nội dung những bài ca dao này đều phản ánh được những sắc thái, cung bậc cảm xúc của tình yêu như: tương tư, tỏ tình, thề nguyền, hận tình… Chiếm số lượng nhiều hơn cả đó là những bài ca dao tỏ tình, đặc biệt là những bài ca mượn những

hình ảnh của thực vật để tỏ tình như trầu, cau, lúa, ngô… rất phù hợp với văn hóa ứng

xử khéo léo, nhẹ nhàng, tinh tế của người Việt trong giao tiếp Tuy nhiên, trên thực tế việc nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về ca dao tỏ tình, nhất là mảng đề tài từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao tỏ tình lại chưa được thực hiện

Thực tiễn theo quy định mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện nay, thời gian học tập trên lớp của học sinh, sinh viên bị co ngắn lại, đa phần thời gian dành cho việc

tự học Thế nhưng trên thực tế để nghiên cứu các vấn đề sâu, kĩ thì rất khó, và thời gian hầu như rất hạn hẹp Trong đó văn học dân gian đặc biệt là từ ngữ trong ca dao tỏ tình lại là đối tượng lớn Để giải quyết những khó khăn đó, chúng tôi quyết định khảo

sát, nghiên cứu về “Từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt” sẽ là cơ

sở, tài liệu cơ bản giúp cho việc học tập, giảng dạy được thuận tiện, dễ dàng và khoa học hơn

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Ca dao giống như một kho báu vô cùng quý giá, một mảnh đất màu mỡ đã thu hút sự chú ý, kiếm tìm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình; đặc biệt là mảng đề tài ca dao trong tình yêu

G.s Hoàng Tiến Tựu khi viết về ca dao trong tình yêu - một bộ phận lời ca chiếm tỷ lệ lớn nhất trong ca dao truyền thống đã được sưu tầm và xuất bản - đã đưa ra nhận định khái quát về đặc điểm “ca dao tỏ tình” như sau: “Đặc điểm chung của ca

Trang 6

dao tỏ tình là tính chất lãng mạn và sự lý tưởng hóa” Đồng thời giáo sư cũng khẳng định: “Ở đây có hàng trăm cách tỏ tình khác nhau giữa các chàng trai và cô gái Nhiều cách nói độc đáo, tế nhị” [23,tr199-200]

T.S Phạm Thu Yến trong cuốn “Giáo trình Văn học dân gian” cũng đưa ra những nhận xét khái lược về “Lời tỏ tình” trong ca dao “Có hàng trăm cách tỏ tình Có cách bày tỏ thật bộc trực, hồn nhiên Có người con trai kín đáo, tế nhị hơn nhiều… có

cô gái thì hồn nhiên, tinh nghịch, họ không quá câu nệ như các cô gái khuê phòng…

có cô gái lại hết sức ý tứ, nết na…” [30,tr176-177]

Viết về sự phong phú trong ca dao tỏ tình Mã Giang Lân, tác giả cuốn “Tục ngữ, Ca dao Việt Nam” cũng nhận định: “Phong phú nhất, sâu sắc nhất là mảng ca dao

về tình yêu nam nữ Trai gái gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi lao động, hội hè, đình đám, vui xuân” [8,tr10]

Khi nghiên cứu về cách thức tỏ tình trong ca dao, trong bài viết của mình Võ Nguyên nhận xét: “Ở mặt tình cảm, thanh niên Việt Nam có truyền thống thật thà, chất phác và họ cũng rất tế nhị, thông minh Tình yêu của họ bao giờ cũng kín đáo, mặn mà, duyên dáng, đáng yêu Lời tỏ tình của người con trai hết sức tế nhị, kín đáo” [8, tr371]

Ngoài những ý kiến, nhận xét nêu trên không thể không kể đến sự đóng góp của các tác giả như: Phan Đăng Nhật, Nguyễn Xuân Kính, Lê Trường Phát… và một số bài viết của các tác giả như:

+ Trần Thị An với “Về một phương diện của ca dao tình yêu” (1990)

+ Phan Huy Dũng với “Hình thức lấp lửng của lời tỏ tình trong bài ca xin áo”

(1991), Tạp chí Văn hóa dân gian

+ Trần Thị Kim Liên với “Cách sử dụng từ xưng hô trong ca dao tình yêu”

(2003), Tạp chí Ngôn ngữ

Như đã nêu ở trên, trong mảng ca dao tình yêu nhất là ca dao tỏ tình đã được nhà nghiên cứu, phê bình đề cập đến và tham gia kiếm tìm những giá trị song hầu hết những ý kiến đó chỉ tập trung vào sự phong phú, đa dạng, một vài phương diện của ca

dao… trong khi đó việc sử dụng các hình ảnh của tự nhiên như trầu, cau, lúa, ngô…

để tỏ tình phản ánh lối ứng xử khéo léo, tế nhị trong giao tiếp và văn hóa nông nghiệp lúa nước của người Việt thì chưa được nghiên cứu một cách hệ thống Để góp phần hoàn thiện mảng đề tài nghiên cứu về ca dao trữ tình, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Khảo sát từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt”

Trang 7

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiếp thu những lí thuyết về ngữ nghĩa học và văn học dân gian đặc biệt là thể loại ca dao với mảng đề tài tình yêu lứa đôi, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này

gắn với đối tượng cụ thể đó là Nhóm từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Từ ngữ sử dụng trong ca dao rất phong phú, đa dạng Song trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung vào mảng nhóm từ gọi tên các loài thực vật dùng để tỏ tình Trong quá trình nghiên cứu có rất nhiều nguồn tài liệu từ các công trình nghiên cứu khác nhau nhưng chúng tôi chỉ tập trung thu thập ngữ liệu từ Đinh Xuân

Kính,“Kho tàng ca dao Việt Nam tập I, II”, NXB Văn hóa thông tin

4 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

4.1 Mục đích

Trên cơ sở lí thuyết ngữ nghĩa học, thực hiện nghiên cứu đề tài này, khóa luận

nhằm mục đích: “Khảo sát nhóm từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình”

qua đó rút ra những kết luận về việc sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong lời tỏ tình của ca dao trên phương diện hình thức, nội dung, mối quan hệ trong văn hóa giao tiếp của người Việt

4.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài: lí thuyết về từ (khái niệm, đặc điểm, cấu tạo, ý nghĩa), lí thuyết về ca dao (khái niệm, phân loại)

- Thống kê, phân loại theo từng loài, từng bài theo kiểu trực tiếp, gián tiếp

- Phân tích, mô tả về nội dung, hình thức của lời tỏ tình trực tiếp, gián tiếp

- Rút ra những nhận xét về việc dùng từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao Việt Nam

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp thống kê phân loại

Phương pháp này được vận dụng trong quá trình thu thập ngữ liệu về các loài thực vật dùng để tỏ tình

Trang 8

5.2 Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp này được sử dụng để phân tích các ví dụ, làm rõ khái niệm, xem xét, nghiên cứu các nhóm từ gọi tên các loài thực vật trên bình diện cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ dụng

5.3 Phương pháp hệ thống hóa

Trên cơ sở ngữ liệu đã được phân tích, tổng hợp, chúng tôi xem xét các loài thực vật dùng phổ biến nhất trong lời tỏ tình của người Việt

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Khóa luận “Khảo sát nhóm từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình của

người Việt” hoàn thành, sẽ có những đóng góp nhất định cho kết quả nghiên cứu về ca dao truyền thống của người Việt ở một số lĩnh vực sau:

* Bước đầu thống kê nhưng bài ca dao tỏ tình có sự xuất hiện của các loài thực vật

theo một hệ thống nhất định để làm tư liệu học tập và nghiên cứu

* Góp một hướng tiếp cận vào nghiên cứu, tìm hiểu ca dao tỏ tình thông qua những hình ảnh gọi tên các loài thực vật biểu trưng cho tình yêu đôi lứa, nét đẹp trong văn

hóa của người Việt

Hy vọng: Những đóng góp của chúng tôi sẽ trở thành một nhịp cầu nhỏ, tiếp nối việc nghiên cứu của các nhà văn học dân gian trong việc tìm hiểu ca dao nói chung và

“ca dao tỏ tình” nói riêng Góp phần đưa đến cho người yêu thích văn học nói chung

và yêu thích ca dao nói riêng một chỗ đứng gần hơn với “ca dao tỏ tình” của dân tộc Việt

7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục luận văn gồm có hai chương:

- Chương 1 Cơ sở lí thuyết

- Chương 2 Nhóm từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt

Trang 9

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Từ tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm

Trong số các các đơn vị từ vựng, “từ” là một đơn vị cơ bản nhất, tập hợp các từ là việc làm đầu tiên của những người làm từ điển và các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Cái khó là ở chỗ phải nêu ra một định nghĩa có tính lí thuyết về “từ” Cho đến nay, trong ngôn ngữ học các định nghĩa về từ đã được đưa ra không ít Các định nghĩa đó, ở mặt này hay mặt kia đều đúng, nhưng đều không đủ và không bao gồm hết được tất cả các sự kiện được coi là từ trong ngôn ngữ hay trong một ngôn ngữ cụ thể Trong phạm

vi nghiên cứu khóa luận chúng tôi trích dẫn khái niệm về “từ” của tác giả Đỗ Hữu Châu

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Việt” nhận: “Từ của tiếng việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [16] Đây là một

khái niệm khi nhận diện về từ tiếng Việt, tác giả đã chú ý đến cả tính tách biệt và tính đồng nhất của từ Có thể thấy rằng đây là một khái niệm giúp người đọc hiểu được một cách toàn diện nhất về “từ”

Từ đơn là những từ một hình vị Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành

những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ

Ví dụ: bàn, ghế, nhà, cây…

* Phân loại

Từ đơn được chia làm hai loại là: từ đơn đơn âm và từ đơn đa âm

Trang 10

+ Từ đơn đơn âm là những là những từ được cấu tạo từ một hình vị và mang

một kiểu ý nghĩa nhất định

Ví dụ: đi, chạy, hoa, ăn…

+ Từ đơn đa âm là những từ được cấu tạo từ hai hình vị trở lên, một hình vị đã

mất nghĩa Từ đơn đa âm được chia làm hai loại: Từ đơn đa âm thuần Việt như: bù nhìn, bồ các, ễnh ương, chèo bẻo, ác là, mắc cọt, mồ hôi, bồ hóng… và từ đơn đa âm vay mượn (đại bộ phận các từ đơn đa âm là các từ vay mượn từ ngôn ngữ Ấn Âu) như:

a pa tít, a xít, cà phê, lắc lê, mô tô, pô pơ lin…

1.1.2.2 Từ láy

* Khái niệm

Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại

toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết của một hình vị hay đơn vị có nghĩa

Ví dụ: đẹp đẽ, xinh xắn, xanh xanh…

* Phân loại

- Dựa vào số lần tác động của phương thức láy: phương thức láy tác động lần đầu

vào một hình vị gốc một âm tiết sẽ cho ta các từ láy đôi hay hai âm tiết:

Ví dụ:

Phương thức láy:

gọn  gọn gàng đẹp  đẹp đẽ hay  hay ho Tiếp đó phương thức láy có thể tác động một lần vào một hình vị một âm tiết cho ta

một từ láy ba âm tiết

Phương thức láy:

sạch  sạch sành sanh tóe  tóe tòe le

dưng  dửng dừng dưng

Trang 11

Phương thức láy cũng có thể tác động một lần vào một đơn vị hai âm tiết cho các từ

láy tư

Phương thức láy:

quần áo  quần quần áo áo từng lớp  từng từng lớp lớp cười nói  cười cười nói nói

- Dựa vào cái được giữ lại trong âm tiết của hình vị cơ sở, Từ láy được chia làm hai loại: Từ láy toàn bộ và Từ láy bộ phận

+ Từ láy toàn bộ là từ láy có các tiếng lặp lại nhau hoàn toàn (cũng có một số

trường hợp tiếng đứng trước biến đổi thanh điệu hoặc phụ âm cuối)

Ví dụ: đăm đăm, lâng lâng, xinh xinh, xa xa…

+ Từ láy bộ phận là từ láy mà giữa các tiếng có sự giống nhau về phụ âm đầu

- Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng

- Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:

+ Hoặc các thành tố đồng nghĩa với nhau, trong đó:

Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt Ví dụ: bạn hữu, bụng

dạ, máu huyết…

Trang 12

Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt Ví dụ: tư duy, thổ địa, tiện lợi…

Có thể hai yếu tố đều là thuần Việt Ví dụ: đợi chờ, máu mủ, xinh đẹp…

Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vốn là từ địa phương Ví dụ: chân

cẳng, bát đọi, chợ búa…

+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau Ví dụ: thương nhớ, nhà cửa, quần áo, ăn uống…

+ Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau Ví dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ…

- Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm

vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát)

- Tuy nhiên có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập

- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ như sau:

+ Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A+B Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị

ý nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của từng thành tố Chẳng hạn, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn

áo Các ví dụ khác về từ ghép gộp nghĩa: điện nước, xăng dầu, tầu xe, xưa nay, chạy nhảy, học tập, thu phát, ăn uống, tốt đẹp…

+ Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB =

A hoặc B Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng và ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ Ví dụ: núi non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm…

Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một số thành tố nên thành

tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho

Trang 13

ý nghĩa của cả từ ghép Có thể nói sự mờ nghĩa của núc (bếp núc), búa (chợ búa), pheo

(tre pheo)… chính là kết quả cực đoan của mô hình đơn nghĩa này

Ví dụ về từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bếp núc, chợ búa, đường sá, heo cúi, áo xống, ăn mặc, ăn nói, viết lách…

+ Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa: bao gồm những từ ghép nằm trong mô hình ngữ nghĩa AB > A + B Tức là loại mà ở đó nghĩa của cả từ không phải chỉ là phép cộng đơn thuần nghĩa của các thành tố, mà nó là sự tổng hợp nghĩa của các thành tố kèm theo sự trừu tượng hoá dựa trên cơ sở liên tưởng ẩn dụ hay hoán dụ Do đó nghĩa của

cả từ mới hơn so với nghĩa của từng thành tố Ví dụ, đất nước không phải để chỉ đất và

nước nói chung hay chỉ đất hoặc nước, mà hai yếu tố được hợp lại để chỉ lãnh thổ của

một quốc gia trong đó có những nét tiêu biểu là đất và nước Trường hợp non sông, sông núi, sơn hà cũng vậy Một số ví dụ khác, ruột thịt không phải chỉ ruột hay thịt nói chung mà cả hai hợp lại để chỉ quan hệ máu mủ, huyết thống Hay gan dạ để chỉ sự

mạnh mẽ không lùi bước trước nguy hiểm cũng là một trường hợp tương tự

Bàn về từ ghép đẳng lập, người ta thường bàn đến khả năng hoán vị giữa các thành tố Tuy nhiên cần chú ý khả năng ấy không xảy ra phổ biến đối với toàn bộ lớp

từ ghép đẳng lập, và không phải xảy ra vô điều kiện trong mọi trường hợp Về hiện tượng này có thể nêu mấy nhận xét như sau:

+ Có thể hoán vị được đối với một số từ ghép gộp nghĩa trường hợp không có yếu tố Hán - Việt Ví dụ: quần áo - áo quần, rủi may - may rủi, tươi tốt - tốt tươi… + Khả năng hoán vị ít xảy ra giữa các thành tố trong từ ghép đơn nghĩa, đặc biệt đối với trường hợp từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa

+ Khả năng hoán vị bị sự khống chế của một số yêu cầu:

* Không được phép làm thay đổi ý nghĩa của từ ghép ban đầu Ví dụ: đi lại - lại đi; cơm nước - nước cơm khác nghĩa

* Không đi ngược lại tập quán cổ truyền của dân tộc Ví dụ: nam nữ - nữ nam; ông bà - bà ông; vua quan - quan vua… không hoán vị được

Trang 14

* Không tạo nên những trật tự khó đọc Chẳng hạn: sửa chữa dễ đọc hơn chữa sửa

+) Từ ghép chính phụ

Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp Loại này có những đặc điểm sau:

- Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo này có khuynh hướng nêu lên các

sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể

- Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hoá loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó

- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại:

+ Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật, hoạt động, đặc trưng

cụ thể Vì vậy có thể nói tác dụng của các yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại Ví dụ:

Máy bay, máy may, máy bơm, máy nổ, máy tiện…

Làm việc, làm thợ, làm duyên, làm ruộng, làm dâu…

Vui tính, vui tai, vui mắt…

Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc

Hán - Việt Việt hoá khác từ ghép Hán - Việt, ở hai trường hợp đầu, yếu tố chính thường đứng trước, ở trường hợp cuối, yếu tố phụ thường đứng trước Ví dụ:

Vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ…

phận, không phận, hoả xa, thi sĩ…

Trang 15

+ Từ ghép chính phụ mang sắc thái hoá: là những từ ghép trong đó thành tố phụ

có tác dụng bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho ghép sắc thái hoá

này khác với từ ghép sắc thái hoá khác về ý nghĩa Ví dụ, so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc

1.1.3 Ý nghĩa

* Khái niệm

Nghĩa của từ vừa là sự phản ánh sự vật, hiện tượng… trong thực tế vào ngôn ngữ;

là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định; qua đó bộc lộ sự đánh giá, tình cảm, cảm xúc của con người

* Các thành phần nghĩa của từ

Bản chất ý nghĩa của từ bộc lộ ra qua sự đối chiếu từ với các chức năng tín hiệu học mà từ đảm nhiệm, qua việc tách ra những mặt đối lập, còn gọi là các thành phần ý nghĩa

Tùy theo các chức năng mà từ đảm nhiệm, trong nghĩa của từ có những thành phần nghĩa sau đây:

+ Nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật

+ Nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm

+ Nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái

Ba thành phần nghĩa trên được gọi chung là nghĩa từ vựng; nghĩa từ vựng thường đối lập với thành phần nghĩa thứ tư là:

+ Nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp

Tuy nhiên chúng ta sẽ chỉ bàn tới ba thành phần nghĩa là: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái

1.1.3.1 Nghĩa biểu vật

- Nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật, hiện tượng …trong thực tế vào ngôn

ngữ đó là những mẩu, những mảnh, những đoạn cắt của thực tế nhưng không hoàn

toàn trùng với thực tế

- Nghĩa biểu vật của từ trong ngôn ngữ có tính khái quát, nhưng cách khái quát

không giống nhau Sự khác nhau về mặt này thể hiện ở:

+ Phạm vi rộng hẹp mà từ biểu thị: có những từ chỉ những loại rộng, có những

từ chỉ loại hẹp và các loại hẹp này là những loại nhỏ nằm trong các loại lớn

Trang 16

Ví dụ: Các vận động mà các từ đi, chạy, nhảy… biểu thị nằm trong vận động lớn: “di chuyển” hoặc “dời chỗ”

+ “Quan niệm” riêng của từng ngôn ngữ trong việc khái quát các nghĩa biểu vật thành các loại khác nhau Trong các loại do từ biểu thị, có những loại được lập nên theo sự phân loại logic, ít nhiều phù hợp với nhận thức khoa học: như loại “đồ đạc” gồm các sự vật như: bàn, ghế, giường, tủ đối lập với các loại “dụng cụ” như kìm, búa, đục, cưa… Lại có những loại mà sự khái quát dựa vào những tiêu chí rất hình thức, không bản chất như loại “củ” bao gồm cả rễ (củ khoai lang, củ sắn), cả thân ngầm (củ dong, củ riềng), cả quả (củ lạc), thân nổi (củ su hào) và cả gốc lá (củ hành, củ tỏi) Hay như loại nước trong tiếng Việt không những bao gồm “nước” tự nhiên mà cả các chất dịch nội tạng (nước trong phổi) và cả kim loại ở thể lỏng (nước thép, nước gang)

1.1.3.2 Nghĩa biểu niệm

Nghĩa biểu niệm của từ Giữa các nét nghĩa có quan hệ nhất định Tập hợp này

ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ Tập hợp các nét nghĩa phạm trù, khái quát chung cho nhiều từ được gọi là cấu trúc biểu niệm

Ví dụ:

+ BÀN: (đồ dùng) (có mặt phẳng được đặt cách mặt nền một khoảng đủ lớn bởi các chân) (bằng nguyên liệu rắn) (dùng để đặt các đồ vật khác hay sách vở khi viết lách, nghiên cứu)

+ BÚA: (dụng cụ) (gồm một khối nguyên liệu rắn có trọng lượng đủ lớn; có cán hoặc không) (để tạo ra một lực bằng thao tác gõ nện)

1.1.3.3 Nghĩa biểu thái

- Thuộc phạm vi nghĩa biểu thái của từ những nhân tố đánh giá như to, nhỏ, mạnh, yếu…,nhân tố cảm xúc như dễ chịu, khó chịu, sợ hãi…, nhân tố thái độ như trọng, khinh,yêu, ghét,…mà từ gợi ra cho người nói và người nghe

- Sự vật, hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật, hiện tượng

đã được nhận thức, được thể nghiệm bởi con người Do đó cùng với tên gọi, con người thường gửi kèm những cách đánh giá của mình và chính mình lắm khi không tự biết

Ví dụ: Núi thường gợi ra cái gì đó “to lớn”, biển gợi ra cái “mênh mông”, lâu đài gợi ra sự “cao to”…

- Đối với các nhân tố cảm xúc, thái độ cũng vậy Có những từ khi phát âm lên

gợi ra cho chúng ta những cảm xúc sợ hãi: ma quái, chém giết, tàn sát… hoặc gợi ra sự

Trang 17

ghê tởm: đờm dãi, mửa, đĩ thõa… Và có những từ gợi ra cảm giác khoan khoái, dễ chịu: thanh thoát, êm ái, quê hương…

1.1.4 Từ ngữ gọi tên các loài thực vật thực vật

Như chúng ta đã biết về mặt ý nghĩa từ có ba bình diện là nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái Áp dụng lí thuyết về ba bình diện của từ vào việc tìm

hiểu bộ phận từ gọi tên thực vật trong ca dao tỏ tình, chúng tôi tiến hành “tách” các từ gọi tên thực vật ra để nghiên cứu về cấu tạo, về ý nghĩa của chúng trong việc truyền tải thông điệp Do đó chúng tôi quan niệm từ gọi tên thực vật là những từ dùng để định danh cây cối nói chung và các loại cây cụ thể chứ không đi sâu vào tìm hiểu những từ thuộc về trường nghĩa của cây như trường nghĩa chỉ các bộ phận của cây, trường nghĩa chi tác dụng của cây, trường nghĩa chỉ sự sinh trưởng và phát triển của cây,…

1.2 Ca dao

1.2.1 Khái niệm

Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt Theo cách hiểu thông thường thì Ca dao

là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể bẻ thành làn điệu dân ca

Trong quá trình phát triển của những sáng tác thơ ca dân gian Việt Nam, khái niệm ca dao đã được quy định dùng để chỉ bộ phận cốt lõi nhất, tiêu biểu nhất: đó là bộ phận những câu hát đã trở thành cổ truyền của nhân dân (Đinh Gia Khánh, “Văn học dân gian Việt Nam”)

1.2.2 Phân loại

1.2.2.1 Ca dao phản ánh lịch sử Việt Nam

Ca dao lịch sử là những câu và những bài ca ngắn lấy đề tài ở những sự kiện lịch

sử Đó là những câu ca dao còn giữ lại được những danh từ riêng chỉ tên người, tên đất, tên triều đại hay ít ra cũng phản ánh những đặc điểm riêng biệt có thể nhận ra ngay được của một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó

Ví dụ: bài ca dao sau đây tuy làm ở đời sau nhưng cũng đã nói lên lòng yêu nước, tinh thần phấn khởi nô nức của nhân dân theo Bà Triệu khởi nghĩa chống lại ách thống trị của quân Ngô xâm lược nước ta hồi thế kỉ thứ III:

Ru con con ngủ cho lành,

Để mẹ gánh nước rửa bành con voi

Muốn coi lên núi mà coi,

Trang 18

Coi Bà Triêu tướng cưỡi voi đánh cồng

Túi gấm cho lẫn túi hồng, Têm trầu cánh kiếm cho chồng đi quân

1.2.2.2 Ca dao phản ánh đời sống của con người

Ca dao là tiếng hát trữ tình của con người Nội dung này sẽ được nghiên cứu ở hai loại đề tài lớn: đề tài trong đời sống riêng tư và đời sống gia đình; đề tài trong đời sống

xã hội

a Đề tài trong đời sống riêng tư và đời sống gia đình

Trong ca dao lấy đề tài đời sống riêng tư và đời sống gia đình thì ca dao về tình yêu nam nữ là bộ phận phong phú nhất

Trai gái ở nông thôn thường gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi cùng lao động, trong những ngày hội hè, vui xuân Tất cả những cung bậc, sắc thái của tình yêu như: tương tư, tỏ tình, thề nguyền, hận tình… đều được phản ánh trong ca dao

Trong khóa luận này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu về mảng ca dao tỏ tình

Ví dụ:

+ Hỡi cô cắt cỏ bên sông

Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây Sang đây anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này có lấy anh không?

+ Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ? Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Trang 19

Hai bài ca dao trên, cả hai chàng trai đều đang tỏ tình với người họ thích Trong bài ca dao thứ nhất, chàng trai bắt đầu làm quen với cô gái bằng việc mời cô sang “ăn nhãn” nhưng đó chỉ là cái cớ để chàng trai thực hiện mục đích của mình Đó là việc cầu hôn cô gái muốn cô làm vợ của mình “Anh hỏi câu này có lấy anh không?” Chàng trai thực hiện lời cầu hôn của mình một cách trực tiếp, thẳng thắn không vòng vo Và

có lẽ cô gái kia dù có chút bất ngờ, ngại ngùng nhưng sẽ cảm nhận được tấm chân tình,

sự thật thà của chàng trai

Ở trong bài ca dao thứ hai, chàng trai này lại lựa chọn lối tỏ tình gián tiếp bằng việc sử dụng hình ảnh của “mận” và “đào” để tỏ tình với cô gái Cách tỏ tình này của chàng trai thật khôn khéo, tinh tế, đủ để cô gái kia hiểu được long mình Nó được minh chứng trong lời đáp của cô gái : “Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào” nhằm nói cho

chàng trai biết cô chưa có người yêu và đang đợi chờ anh

Như chúng tôi đã trình bày ở trên, ca dao tỏ tình là những bài ca dao bày tỏ tình cảm của người với người, đặc biệt là tình yên nam nữ Do đó khi tìm hiểu về chủ đề ca dao này, chúng tôi có chủ trương phân chia thành các nhóm là tỏ tình trực tiếp (nói hiển ngôn) và tỏ tình gián tiếp (nói hàm ngôn) Từ sự phân loại đó, chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu từ ngữ chỉ thực vật trong cả hai nhóm ca dao này dựa trên kết quả đã được phân loại

+) Cách thức tỏ tình trong ca dao Việt Nam:

- Cách thức tỏ tình trực tiếp

Cách thức tỏ tình trực tiếp là cách thức bày tỏ tình cảm liên hệ thẳng tới nội dung,

ý định tỏ tình mà không thông qua một hình ảnh, biểu tượng nào:

+ Thương chàng chàng lắm lắm chàng ơi, Như nước sông Vịnh chảy xuôi cửa Tiền

+ Gặp đây anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này có lấy anh không?

+ Gặp đây anh hỏi thực nàng Còn không hay đã đá vàng cùng ai

Trong ba bài ca dao trên nhân vật trữ tình bộ lộ trực tiếp tình cảm của mình với đối phương: “Thương chàng chàng lắm chàng ơi”, “Anh hỏi câu này có lấy anh không

?”,…

Trang 20

- Cách thức tỏ tình gián tiếp

Tỏ tình gián tiếp là cách bày tỏ tình cảm không liên hệ thẳng tới nội dung tỏ tình

mà thông qua những hình ảnh, biểu tượng để biểu đạt

Tìm hiểu cách thức tỏ tình gián tiếp trong ca dao tỏ tình của người Việt chính là tìm hiểu các kiểu tỏ tình của đối tượng tỏ tình trong ca dao khi các đối tượng này sử dụng hệ thống trung gian làm cầu nối, phương tiện giãy bày tình cảm của mình; cũng như tần số xuất hiện của các kiểu tỏ tình gián tiếp ấy

+ Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

+ Bây giờ trầu lại gặp cau Cũng mong ta ở với nhau một nhà

Hai bài ca dao trên, chàng trai đã sử dụng những hình ảnh “trầu- cau”, “đào- mận” biểu trưng cho tình yêu đôi lứa nhằm mục đích tỏ tình Đây là cách tỏ tình gián

tiếp hết sức độc đáo, tinh tế mà hiệu quả lại cao

Bên cạnh những bài ca dao về tình yêu nam nữ là những bài ca dao về sinh hoạt gia đình phản ánh những mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình: cha mẹ và con cái, vợ chồng, anh em,…

b Đề tài trong đời sống xã hội

Ca dao lấy đề tài đời sống xã hội ra đời chủ yếu trong thời kì phong kiến suy thoái Nó phản ánh những tâm trạng đau khổ, uất ức, thái độ phản kháng của nhân dân lao động bị đè nặng dưới ách thống trị nặng nề của giai cấp địa chủ và chính quyền phong kiến

Ví dụ:

Trời sao trời ở không cân,

Kẻ ăn chẳng hết người lần chẳng ra

Trang 21

Tiểu kết

Như vậy để thực hiện khóa luận “Khảo sát nhóm từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt”, chúng tôi đã vận dụng lí thuyết về từ tiếng Việt,

lí thuyết về ca dao và chúng tôi nhận thấy có một số vấn đề như sau:

1 Từ vựng tiếng Việt thông qua định nghĩa về từ tiếng Việt, đặc điểm cấu tạo của

từ tiếng Việt và nghĩa của từ tiếng Việt Nó giúp chúng ta nắm bắt và hiểu về vốn từ tiếng Việt

2 Ca dao là bộ phận những câu hát đã trở thành cổ truyền của nhân dân Nó phản ánh đời sống tâm hồn của con người lao động, đặc biệt là bộ phận ca dao tỏ tình vừa giản dị, vừa tinh tế mượn những hình ảnh quen thuộc trong đời sống của nhân dân để giãi bày tình cảm thầm kín của mình

Trang 22

CHƯƠNG 2 NHÓM TỪ GỌI TÊN CÁC LOÀI THỰC VẬT

TRONG CA DAO TỎ TÌNH CỦA NGƯỜI VIỆT

2.1 Nhận xét về số lượng từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt

Theo kết quả khảo sát, thống kê, phân loại ngữ liệu của chúng tôi, thực vật được

sử dụng trong ca dao tỏ tình rất phong phú Tạm thời chúng tôi sẽ phân chúng thành các loài ứng với tần số xuất hiện từ cao đến thấp như sau:

Bảng thống kê từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt theo thứ tự

Ngày đăng: 17/10/2016, 16:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2004), “Ngữ pháp tiếng Việt”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ngữ pháp tiếng Việt”
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
2. Đỗ Hữu Châu (1999), “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
3. Hà Châu (1984), “Về một số quan điểm thẩm mĩ dân gian Việt Nam”, Tạp chí Văn học dân gian Việt Nam số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Về một số quan điểm thẩm mĩ dân gian Việt Nam”
Tác giả: Hà Châu
Năm: 1984
4. Mai Ngọc Chừ (1991), “Ngôn ngữ ca dao”, Tạp chí Văn học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ngôn ngữ ca dao”
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 1991
5. Nguyễn Cừ (2003), “Tuyển tập tục ngữ- ca dao Việt Nam”, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tuyển tập tục ngữ- ca dao Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Cừ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
6. Vũ Thị Mai Duyên (2006), “Tìm hiểu vài nét về lời tỏ tình của người Việt xưa trong ca dao”, Trường Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu vài nét về lời tỏ tình của người Việt xưa trong ca dao”
Tác giả: Vũ Thị Mai Duyên
Năm: 2006
7. Lê Bá Hán (1999), “Từ điển thuật ngữ văn học”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Từ điển thuật ngữ văn học”
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
8. Cao Xuân Hạo (1999), “Câu trong tiếng Việt”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Câu trong tiếng Việt”
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
9. Nguyễn Thái Hòa (1997), “Dẫn luận phong cách học”, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dẫn luận phong cách học”
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1997
10. Vũ Thị Thu Hương (2000), “Ca dao Việt Nam- những lời bình”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ca dao Việt Nam- những lời bình”
Tác giả: Vũ Thị Thu Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
11. Nguyễn Thừa Hỷ (2001), “Lịch sử văn hóa Việt Nam truyền thống và giản yếu”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lịch sử văn hóa Việt Nam truyền thống và giản yếu”
Tác giả: Nguyễn Thừa Hỷ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
12. Đinh Gia Khánh (2009), “Văn học dân gian Việt Nam”, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn học dân gian Việt Nam”
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
13. Nguyễn Xuân Kính (1992), “Thi pháp ca dao”, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thi pháp ca dao”
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
14. Đinh Xuân Kính “Kho tàng ca dao Việt Nam”, tập 1-2, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kho tàng ca dao Việt Nam”
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
15. Đinh Trọng Lạc (1999), “Phong cách học tiếng Việt”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phong cách học tiếng Việt”
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
16. Đinh Trọng Lạc (1999), “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
17. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (1993), “Phong cách tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phong cách tiếng Việt”
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
18. Mã Giang Lân (1998), “Tục ngữ ca dao Việt Nam”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tục ngữ ca dao Việt Nam”
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
19. Hà Thị Mai (2007), “Hành vi hỏi dùng để tỏ tình trong ca dao Việt Nam”, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hành vi hỏi dùng để tỏ tình trong ca dao Việt Nam”
Tác giả: Hà Thị Mai
Năm: 2007
20. Hoàng Trọng Nhất (1980), “Ngữ pháp tiếng Việt- Câu”, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ngữ pháp tiếng Việt- Câu”
Tác giả: Hoàng Trọng Nhất
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1980

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt theo thứ tự - Khảo sát nhóm từ gọi tên các loài thực vật trong ca dao tỏ tình của người việt
Bảng th ống kê từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao tỏ tình của người Việt theo thứ tự (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w