1. Lí do chọn đề tàiDu lịch là ngành công nghiệp không khói, là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế xã hội. Lúc đầu du lịch chỉ là hoạt động bên lề của các hoạt động khác như: buôn bán, tôn giáo, tín ngưỡng, khám phá, thể thao…của con người. Trong thời kì hiện đại, con người đi du lịch với mục đích chính là thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hoạt động du lịch sẽ được tiến hành nhanh hơn, thuận tiện hơn giúp con người rút ngắn thời gian và chi phí khi tham gia du lịch.Du lịch mang lại lợi ích kinh tế cao, cân bằng thu nhập giữa các vùng miền lãnh thổ. Đặc biệt với các quốc gia đang trong quá trình hội nhập và phát triển như Việt Nam thì việc đẩy mạnh phát triển du lịch là một vấn đề cần được quan tâm sâu sắc. Hơn nữa, một trong những mục tiêu phấn đấu của nước ta là “dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”. Để đạt được mục tiêu này, việc đẩy mạnh phát triển du lịch là hoạt động không thể thiếu.Để phát triển du lịch đòi hỏi phải có sự hợp thành của nhiều yếu tố. Trong đó tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch. Chính sự phong phú đa dạng và đặc sắc của tài nguyên du lịch tạo nên sự phong phú, đa dạng, hấp dẫn của sản phẩm du lịch. Du khách có quyết định thực hiện các chuyến đi hay không phụ thuộc rất lớn vào giá trị tài nguyên du lịch nơi đến. Do vậy, mỗi quốc gia, mỗi vùng miền muốn phát triển du lịch đạt hiệu quả cao cần quan tâm đầu tư khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch một cách hợp lí.So với các địa phương trong cả nước, Quảng Ninh là tỉnh có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch. Bên cạnh vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên nổi tiếng được nhiều người biết đến, tỉnh Quảng Ninh còn có nhiều các di tích lịch sử, văn hóa quan trọng. Đây là lợi thế giúp Quảng Ninh khai thác loại hình du lịch văn hóa tâm linh. Thời gian qua, nhiều điểm di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh đã trở thành địa chỉ du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Có thể nhận thấy rằng, du lịch tâm linh đang ngày càng phát triển, trở thành một loại hình du lịch quan trọng trong ngành công nghiệp không khói của Quảng Ninh. Trong đề án này, em xin phép phân tích các giá trị của tài nguyên để phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại Quảng Ninh, từ đó đánh giá và đưa ra một số kiến nghị với định hướng phát triển loại hình du lịch này của tỉnh.2. Mục tiêu của đề tàiNêu những kiến thức về giá trị của tài nguyên. Vận dụng kiến thức để liên hệ đánh giá các giá trị tài nguyên để phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại Quảng Ninh và đề xuất các ý kiến.3. Phạm vi nghiên cứuĐề tài tập trung nghiên cứu các giá trị tài nguyên để phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh tại tỉnh Quảng Ninh.4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp thu thập tài liệu, xử lí tài liệu Phương pháp phân tích, đánh giá5. Kết cấu của đề tàiKhông tính phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài bao gồm:1.Nhận thức về giá trị tài nguyên để phát triển du lịch.2.Liên hệ tỉnh Quảng Ninh phát triển du lịch tâm linh dựa trên các giá trị tài nguyên.3.Nhận xét và đưa ra kiến nghị.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN TRUNG TÂM TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO & POHE
BẢN THẢO
ĐỀ ÁN MODULE TỔNG QUAN DU LỊCH
Đề tài:
PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ CỦA TÀI NGHUYÊN
ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH
LIÊN HỆ VỚI TỈNH QUẢNG NINH
Giảng viên hướng dẫn : PGS TS Nguyễn Văn Mạnh Sinh viên thực hiện : Cao Thị Hồng Anh
Mã sinh viên : 11140095
Hà Nội - 2016
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Du lịch là ngành công nghiệp không khói, là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế xã hội Lúc đầu du lịch chỉ là hoạt động bên lề của các hoạt động khác như: buôn bán, tôn giáo, tín ngưỡng, khám phá, thể thao…của con người Trong thời kì hiện đại, con người đi du lịch với mục đích chính là thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hoạt động du lịch sẽ được tiến hành nhanh hơn, thuận tiện hơn giúp con người rút ngắn thời gian và chi phí khi tham gia du lịch
Du lịch mang lại lợi ích kinh tế cao, cân bằng thu nhập giữa các vùng miền lãnh thổ Đặc biệt với các quốc gia đang trong quá trình hội nhập và phát triển như Việt Nam thì việc đẩy mạnh phát triển du lịch là một vấn đề cần được quan tâm sâu sắc Hơn nữa, một trong những mục tiêu phấn đấu của nước ta là “dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh” Để đạt được mục tiêu này, việc đẩy mạnh phát triển du lịch là hoạt động không thể thiếu
Để phát triển du lịch đòi hỏi phải có sự hợp thành của nhiều yếu tố Trong đó tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch Chính sự phong phú đa dạng và đặc sắc của tài nguyên du lịch tạo nên sự phong phú, đa dạng, hấp dẫn của sản phẩm du lịch Du khách có quyết định thực hiện các chuyến
đi hay không phụ thuộc rất lớn vào giá trị tài nguyên du lịch nơi đến Do vậy, mỗi quốc gia, mỗi vùng miền muốn phát triển du lịch đạt hiệu quả cao cần quan tâm đầu
tư khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch một cách hợp lí
So với các địa phương trong cả nước, Quảng Ninh là tỉnh có nhiều tiềm năng
và thế mạnh để phát triển du lịch Bên cạnh vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên nổi tiếng được nhiều người biết đến, tỉnh Quảng Ninh còn có nhiều các di tích lịch sử, văn hóa quan trọng Đây là lợi thế giúp Quảng Ninh khai thác loại hình du lịch văn hóa tâm linh Thời gian qua, nhiều điểm di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh đã trở thành địa chỉ du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Có thể nhận thấy rằng, du lịch tâm linh đang ngày càng phát triển, trở thành một loại hình du lịch quan trọng trong ngành công nghiệp không khói của Quảng Ninh Trong đề án này, em xin phép phân tích các giá trị của tài nguyên để phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại Quảng Ninh, từ đó đánh giá và đưa ra một số kiến nghị với định hướng phát triển loại hình du lịch này của tỉnh
Trang 42 Mục tiêu của đề tài
-Nêu những kiến thức về giá trị của tài nguyên
- Vận dụng kiến thức để liên hệ đánh giá các giá trị tài nguyên để phát triển
du lịch văn hóa tâm linh tại Quảng Ninh và đề xuất các ý kiến
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các giá trị tài nguyên để phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh tại tỉnh Quảng Ninh
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu, xử lí tài liệu
- Phương pháp phân tích, đánh giá
5 Kết cấu của đề tài
Không tính phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài bao gồm:
1 Nhận thức về giá trị tài nguyên để phát triển du lịch
2 Liên hệ tỉnh Quảng Ninh phát triển du lịch tâm linh dựa trên các giá trị tài nguyên
3 Nhận xét và đưa ra kiến nghị
Trang 5Chính vì vậy con người luôn mong muốn được nghỉ ngơi, giải trí để giảm bớt sự mệt mỏi căng thẳng Tất cả những nhu cầu đó con người đều tìm thấy trong hoạt động du lịch Từ xa xưa, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một nhu cầu nhất thiết không thể thiếu trong cuộc sống Du lịch không chỉ đem lại lợi ích với
cá nhân, với địa phương mà du lịch còn được coi là cứu cánh nền kinh tế trì trệ của những nước đang trong quá trình phát triển
Dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, hoàn cảnh không gian, thời gian khác nhau, mỗi tổ chức cá nhân có những cách hiểu về du lịch khác nhau
Tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại ROMA (Italia) năm 1963, các chuyên gia đã đưa ra khái niệm như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan
hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến du lịch không phải nơi làm việc của họ.”
Tổ chức Du lịch thế giới định nghĩa: “Du lịch là tổng thể các hiện tượng
và các mối quan hệ xuất phát từ sự giao lưu với du khách, các nhà kinh doanh, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch.”
Luật Du lịch Việt Nam (được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, Khóa XI năm 2005) đã nêu khái niệm về du lịch như sau:
Trang 6“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”
1.1.2 Khái niệm tài nguyên du lịch
Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình
Theo Pirojnik: “ Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên văn hóa - lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kĩ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất những dịch
vụ du lịch và nghỉ ngơi.”
Theo Điều 4, Luật Du lịch của Việt Nam: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.”
Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch
1.1.3 Đặc điểm tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch cũng giống như các loại tài nguyên khác mang những đặc điểm chung và những đặc điểm riêng liên quan tới tính chất ngành du lịch Để khai thác và sử dụng tốt nhất các tài nguyên du lịch, trước hết cần phải tìm hiểu và nghiên cứu các đặc điểm nguồn tài nguyên này Tài nguyên du lịch có những đặc điểm chính sau:
- Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi, du lịch
Trang 7- Thời gian khai thác xác định tính mùa của du lịch, nhịp điệu của dòng khách.
- Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút
cơ sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó
- Vốn đầu tư tương đối thấp và giá thành chi phí sản xuất không cao cho phép xây dựng tương đối nhanh chóng cơ sở hạ tầng và mang lại hiệu quả kinh tế -
xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên
- Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các qui định về sử dụng một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ
1.2 Phân loại tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch có thể do thiên nhiên tạo ra, có thể do con người tạo ra
Vì vậy, chúng ta phân các tài nguyên du lịch làm hai nhóm: tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhâ văn
1.2.1 Tài nguyên du lịch thiên nhiên
Theo Khoản 1 (Điều 13, Chương II) Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005 quyđịnh: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khíhậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thểđược sử dụng phục vụ mục đích du lịch”
* Đặc điểm của tài nguyên du lịch tự nhiên.
Nếu được quy hoạch, bảo vệ, khai thác hợp lý theo hướng bền vững thì phầnlớn các loại tài nguyên du lịch tự nhiên được xếp vào loại tài nguyên vô tận, tàinguyên có khả năng tái tạo hoặc có quá trình suy thoái chậm
Hầu hết việc khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên chịu ảnh hưởng nhiều vàođiều kiện thời tiết
Một số điểm phong cảnh và du lịch dựa vào tài nguyên tự nhiên thường nằm
xa các khu đông dân cư
Các điều kiện về môi trường tự nhiên đóng vai trò là những tài nguyên thiên nhiên du lịch là: địa hình đa dạng, khí hậu ôn hòa, động thực vật phong phú, giàu nguồn tài nguyên nước và vị trí địa lý thuận lợi
Trang 81.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Theo Khoản 2 (Điều 13, Chương II) Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005 quyđịnh: “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá,văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trìnhlao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác cóthể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”
Nếu hiểu theo nguồn gốc hình thành có thể hiểu tài nguyên du lịch nhân văn
là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra Tuy nhiên chỉ cónhững tài nguyên nhân văn có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác pháttriển du lịch để tạo ra hiệu quả xã hội, kinh tế, môi trường mới được gọi là tàinguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm các loại tài nguyên nhân văn vật thể như:các di tích lịch sử, các di tích lịch sử văn hóa, các công trình đương đại, vật kỷniệm, bảo vật quốc gia Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể gồm các lễ hội,nghề và làng nghề truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, phong tục,tập quán, ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo, các nguồn thông tin và nguồn tri thức khoahọc, kinh nghiệm sản xuất
*Đặc điểm của tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra nên chịu tác động của thời gian, thiên nhiên và do chính con người.Vì vậy dễ bị suy thoái, hủy hoại và không có khả năng tự phục hồi ngay cả khi không có sự tác động của con người
Tài nguyên du lịch nhân văn là do con người sáng tạo ra nên có tính phổ biến
Tài nguyên du lịch nhân văn ở mỗi vùng, mỗi quốc gia thường mang nhữngđặc sắc riêng
Tài nguyên du lịch nhân văn thường được phân bố gần các khu dân cư, đặcbiệt tập trung nhiều ở những khu vực đông dân cư
Giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển của du lịch của một điểm, một vùng hoặc một đất nước Chúng có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông khách du lịch với nhiều nhu cầu và mục đích khác nhau của chuyến du lịch
Trang 91.3 Vai trò của tài nguyên du lịch đối với hoạt động du lịch
Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt Tàinguyên du lịch có sự ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến cấu trúc và chuyên môn hoá của ngành du lịch Quy mô hoạt động du lịch của một vùng, một quốc gia được xác định trên cơ sở khối lượng nguồn tài nguyên
du lịch quyết định tính mùa, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch Sức hấp dẫn của vùng du lịch phụ thuộc nhiều vào tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ sở để tạo nên vùng du lịch
Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia Một lãnh thổ nào đó có nhiều tài nguyên du lịch các loại với chất lượng cao, có sức hấp dẫn khách du lịch lớn
và mức độ kết hợp các loại tài nguyên phong phú thì sức thu hút khách du lịch càng mạnh
2 Liên hệ các giá trị tài nguyên du lịch để phát triển hoạt động du lịch tâm linh ở Quảng Ninh.
2.1 Khái quát chung về tỉnh Quảng Ninh
2.1.1 Vị trí địa lý
Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một hình chữ nhật lệch nằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam Phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh Bắc Bộ với bờ biển khúc khuỷu nhiều cửa sông
Quảng Ninh có toạ độ địa lý khoảng 106o26' đến 108o31' kinh độ đông và từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ bắc Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 195 km
Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 102 km Điểm cực bắc là dãy núi cao thuộc thôn
Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu Điểm cực nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn Điểm cực tây là sông Vàng Chua ở xã Bình Dương và
xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc xã Trà Cổ, thị xã Móng Cái
Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Trên đất liền, phía bắc của tỉnh (có các huyện Bình Liêu, Hải Hà và thị xã Móng Cái) giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng,
Trang 10tỉnh Quảng Tây với 132,8 km đường biên giới; phía đông là vịnh Bắc Bộ; phía tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía nam giáp Hải Phòng
Bờ biển dài 250 km
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh là tính đến ngày 1-10-1998 là 611.081,3 ha Trong đó đất nông nghiệp 243.833,2 ha, đất chuyên dùng 36.513 ha, đất ở 6.815,9 ha, đất chưa sử dụng 268.158,3 ha
2.1.2 Địa hình
80% diện tích Quảng Ninh là địa hình đồi núi, tập trung ở phía Bắc Một phần năm diện tích ở phía Đông Nam tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng Quảng Ninh còn có rất nhiều đảo ven biển
Địa hình đáy biển Quảng Ninh không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m,
có nhiều lạch sâu làm nơi cư trú của các rạn san hô
Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản (Về trữ lượng than trên toàn Việt Nam thì riêng Quảng Ninh đã chiếm tới 90%.) nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Ninh Quảng Ninh với di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 2 lần được Tổ chức UNESCO tôn vinh Với di tích văn hóa Yên Tử, bãi cọc Bạch Đằng, Đền Cửa Ông, Đình Quan Lạn, Đình Trà Cổ, núi Bài Thơ thuận lợi cho phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch văn hóa tâm linh Quảng Ninh được xác định là 1 điểm của vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, là cửa ngõ quan trọng của hành lang kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh Có hệ thống cảng biển, cảng nước sâu có năng lực bốc
Trang 11xếp cho tàu hàng vạn tấn, tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành vận tải đường biển giữa nước ta với các nước trên thế giới Quảng Ninh có hệ thống cửa khẩu phân bố trên dọc tuyến biên giới, đặc biệt cửa khẩu quốc tế Móng Cái là nơi hội tụ giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ và thu hút các nhà đầu tư; Là cửa ngõ giao dịch xuất nhập khẩu với Trung Quốc và các nước trong khu vực.
2.1.4 Văn hóa, Du lịch
Quảng Ninh là một địa danh giàu tiềm năng du lịch, là một đỉnh của tam giác tăng trưởng du lịch miền Bắc Việt Nam, Quảng Ninh có danh thắng nổi tiếng là vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới
và di sản thế giới bởi giá trị địa chất địa mạo Vịnh Hạ Long là địa điêm du lịch
lý tưởng của Quảng Ninh cũng như miền bắc Việt Nam Tiềm năng du lịch Quảng Ninh nổi bật với:
Các thắng cảnh nổi tiếng
Vịnh Hạ Long - với gần 2000 hòn đảo
Đảo Cô Tô (phía Đông Bắc Quảng Ninh) Các bãi tắm đẹp như Hồng Vàn, Bắc Vàn, Vàn Chảy, đảo Cô Tô Con Được đánh giá là những bãi biển đẹp nhất tại phía Bắc
Vịnh Hạ Long có diện tích 1.553 km2 với 1969 đảo, trong đó khu di sản thế giới được UNESCO công nhận có diện tích trên 434 km2 với 788 đảo, có giá trị đặc biệt về văn hoá, thẩm mĩ, địa chất, sinh học và kinh tế Trên vịnh có nhiều đảo đất, hang động, bãi tắm, cảnh quan đẹp thuận lợi cho phát triển nhiều điểm, nhiều hình thức du lịch hấp dẫn Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bà là khu du lịch trọng điểm quốc gia, động lực phát triển vùng du lịch Bắc Bộ
Các bãi tắm bãi tắm đẹp như Trà Cổ (Móng Cái), Bãi Cháy, đảo Tuần Châu
đã được cải tạo, nâng cấp với nhiều loại hình dịch vụ phục vụ đa dạng các nhu cầu của khách hay các bãi tắm đẹp nguyên vẻ hoang sơ như Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng (Vân Đồn)
Các di tích lịch sử văn hóa
Cả tỉnh có gần 500 di tích lịch sử, văn hoá, nghệ thuật gắn với nhiều lễ hội truyền thống, trong đó có những di tích nổi tiếng của Quốc gia như chùa Yên Tử (Uông Bí), đền Cửa Ông (Cẩm Phả), Đình Trà Cổ (Móng Cái), di tích lịch sử Bạch
Trang 12Đằng (Quảng Yên), chùa Long Tiên(TP Hạ Long ), đình Quan Lạn, chùa Cái Bầu - Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm(Vân Đồn) đây là những điểm thu hút khách thập phương đến với các loại hình du lịch văn hoá, tôn giáo, nhất là vào những dịp lễ hội.
Hồ nước nhân tạo (hồ Yên Lập) - nơi có di tích chùa Lôi Âm
2.1.5 Giao thông
Hệ thống giao thông của Quảng Ninh rất phong phú bao gồm giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và cảng hàng không Trong đó, hệ thống đường bộ có 5 tuyến Quốc lộ dài 381 km, đường tỉnh có 12 tuyến với
301 km, 764 km đường huyện và 2.500 km đường xã, toàn tỉnh có 16 bến xe trong
đó 6 bến xe liên tỉnh hỗn hợp Đối với hệ thống đường thuỷ nội địa toàn tỉnh có 96 bến thuỷ nội địa, 5 cảng biển (9 khu bến) thuộc danh mục cảng biển trong Quy hoạch phát triển cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Các cảng biển lớn như Cảng Cái Lân, Cảng Vạn Gia, Cảng Cửa Ông, Cảng Hòn Nét và Cảng Mũi Chùa Ngoài ra tỉnh còn có 65 km đường sắt quốc gia thuộc tuyến Kép - Hạ Long, và hệ thống đường sắt chuyên dùng ngành than Trong tương lai gần, tại huyện đảo Vân Đồn sẽ xây dựng cảng hàng không Quảng Ninh (sân bay Vân Đồn) đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương và tham quan du lịch cho người dân
và khánh du lịch tới đây Quảng Ninh cũng đã và đang phát triển dịch vụ thuỷ phi
cơ cho mục đích di chuyển và ngắm cảnh
2.2 Tài nguyên du lịch tại tỉnh Quảng Ninh
2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Vịnh Hạ Long một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới (N7W), di sản thiên nhiên thế giới, có diện tích 1.553 km2 với 1969 đảo Trong đó khu di sản thế giới được UNESCO công nhận có diện tích trên 434 km2 với 788 đảo, có giá trị đặc biệt về văn hoá, thẩm mĩ, địa chất, sinh học và kinh tế Trên vịnh có nhiều đảo đất, hang động, bãi tắm, cảnh quan đẹp thuận lợi cho phát triển nhiều điểm, nhiều hình thức du lịch hấp dẫn Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bà là khu du lịch trọng điểm quốc gia, động lực phát triển vùng du lịch Bắc Bộ
Vịnh Bái Tử Long nằm liền với vịnh Hạ Long ở phía bắc với nhiều đảo đá trải dài ven biển, các bãi tắm tại các đảo như Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng (Vân Đồn)
Trang 13Hàng chục bãi tắm bãi tắm đẹp hiện đại như Trà Cổ (Móng Cái), Bãi Cháy, đảo Tuần Châu được cải tạo, nâng cấp với nhiều loại hình dịch vụ phục vụ đa dạng các nhu cầu của du khách.
Đảo Cô Tô (phía đông bắc Quảng Ninh) Các bãi tắm đẹp như Hồng Vàn, Bắc Vàn, Vàn Chảy, đảo Cô Tô Con Được đánh giá là những bãi biển đẹp nhất tại phía bắc
2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Bãi cọc Bạch Đằng thuộc thị xã Quảng Yên, khu vực tiếp giáp với thành phố Hải Phòng
Thương cảng Vân Đồn với trận thủy chiến chống quân Nguyên Mông của tường Trần Khánh Dư Nay thuộc khu vực đảo Quan Lạn và Minh Châu, huyện Vân Đồn
Khu quần thể di tích lăng các vua Trần, nơi ở của tổ tiên Vương triều Trần trước khi di cư xuống vùng Thái Bình, Thiên Trường thuộc địa phận thị
xã Đông Triều
Núi Yên Tử, nơi phát tích thiền phái Trúc Lâm do phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập thuộc địa phận thành phố Uông Bí Hiện nay Quần thể di tích danh thắng Yên Tử thuộc 2 tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh đang được lập hồ sơ đề nghị công nhận di sản thế giới
Ngoài ra cả tỉnh có gần 500 di tích lịch sử, văn hoá, nghệ thuật gắn với nhiều lễ hội truyền thống, trong đó có những di tích nổi tiếng như miếu Tiên Công, đình phong Cốc (TX Quảng Yên),đền Cửa Ông (Cẩm Phả), Đình Trà Cổ (Móng Cái), chùa Long Tiên (TP Hạ Long), Đệ tứ chiến khu Đông Triều, đình Quan Lạn, chùa Cái Bầu - Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm (Vân Đồn) Đây là những điểm thu hút khách thập phương đến với các loại hình du lịch văn hoá, tôn giáo, nhất là vào những dịp lễ hội
2.3 Du lịch tỉnh Quảng Ninh
2.3.1 Tình hình du lịch tỉnh Quảng Ninh
Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, lượt khách du lịch đến với Quảng Ninh 4 tháng đầu năm ước đạt trên 4 triệu lượt, đạt 54,6% kế hoạch và tăng 9%