Hoa lan có ý nghĩa tinh thần vậy đó ,có giá trị kinh tế vậy đó, nhưng mà hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa thể sản xuất Lan Hồ Điệp một cách đại trà được, vẫn còn phải nhập khẩu các giống Lan Hồ Điệp ở Thái Lan, Đài Loan với giá thành cao… có lẽ vì các kỹ thuật hiện đại sử dụng trong nhân giống chưa được nhiều người biết tới, chỉ một số ít người có thể tiếp cần những phương pháp này, vì lẽ đó hôm nay nhóm em sẽ giới thiệu một vài kỹ thuật “Nhân giống vô tính Lan Hồ Điệp”. 3. VÀI NÉT VỀ PHALAENOPSIS 3.1. Nguồn gốc và phân bố Lan Hồ Điệp được tìm thấy vào năm 1750, đầu tiên được Rumphius xác định dưới tên là Angraecum. Đến năm 1753, linné đổi lại là Epidendrum amabile. Chi Phalaenopsis do C. L Blume phát hiện vào năm 1825. Phalaenopsis hay còn gọi là lan hồ điệp. Tên Phalaenopsis xuất hiện từ tiếng Hy lạp: “Phalaina” (con bướm đêm) và “opsis” (trông giống như), nghĩa là loài hoa có hình dáng như bươm bướm. Năm 1887, loài hồ điệp lai đầu tiên được J. Veitch đăng ký với tên P. harriettiae, từ việc kết hợp giữa P. amabilis và P. violacea. Sau đó, có rất nhiều loài lan lai tạo ra làm tăng thêm sự đa dạng và huyền bí của Phalaenopsis. Giống Phalaenopsis gồm 21 loài lan phát sinh, ưa nóng sống ở bán đảo Ma Lai, Indonexia, Philipine, các tỉnh phía đông Ấn Độ, và Châu Úc. Chúng sống trên cây hoặc trên đá, nơi có khí hậu nóng ẩm, độ cao trên 2000m. Ở Việt Nam, chúng ta có thể bắt gặp 1 số loài lan hồ điệp trong các khu rừng như P. coenu (hồ điệp dẹp), P. mannii (hồ điệp ấn), P. parishii (hồ điệp trung), P. pulcherrima (hồ điệp nhài), P. chibae, P. fuscata, P. gibbo.
Trang 1Hoa lan hồ điệp từ lâu đã được phong tặng danh hiệu của sự cao sang, quý phái trong
số hàng trăm loài phong lan Bên cạnh đó, nó còn biểu tượng cho sự ngây thơ và trongsáng
Nếu bạn là một người yêu phong lan, bạn sẽ vui mừng khi biết rằng những bông hoa
kỳ lạ là một biểu tượng của tình yêu, vẻ đẹp và sự thánh thiện trong hầu hết các nềnvăn hóa trên thế giới Đây cũng là biểu tượng chính yếu của hoa phong lan …
Tình yêu:
Hoa lan hồ điệp được coi là biểu tượng của tình yêu bởi vì thực tế là các cây trồng lớnlên dễ dàng, và nở hoa dưới hầu hết các điều kiện Trong thời kỳ Victoria, hoa đượcxem là món quà kỳ lạ và hiếm để thể hiện tình yêu và tình cảm Người ta thậm chí còntin rằng, bạn càng chọn quà ít hoa bao nhiêu, thì tình yêu của bạn càng sâu đậm bấynhiêu Trong các bộ phận của châu Âu, hoa lan đã được sử dụng như một thành phầnquan trọng trong lựa chọn tình yêu
Hoàn thiện và sắc đẹp:
Bởi vì sự đối xứng hoa, và các đường thẳng trên cánh hoa, lan hồ điệp đại diện cho vẻđẹp trong đối xứng, và coi là hình ảnh tiêu chuẩn cho vẻ đẹp hiếm thấy Ở Anh thờiVictoria, những bông hoa đáng yêu được ví như một người phụ nữ xinh đẹp Thật thú
vị, thậm chí là một trang phục của người phụ nữ trong thời đại có một sự tương đồngnổi bật với hoa Những người Trung Quốc cổ đại xem cánh hoa lan là hình ảnh thunhỏ của sự hoàn hảo của con người
Sang trọng và Sung túc:
Trang 2Vâng, có vẻ như người dân của nước Anh trong thời đại Victoria đã gắn rất nhiều ýnghĩa cho những bông hoa lan xinh đẹp, khi hoa cũng được coi là biểu tượng của sựsang trọng Đây có lẽ là bởi vì những hoa hiếm chỉ có ở vùng nhiệt đới, và do đó, chỉ
có những người giàu có mới đủ khả năng thưởng lãm hoa Ở Nhật Bản cổ đại, hoa lanrất được trân trọng trong hoàng gia, và được coi là biểu tượng của sự giàu có
Từ xưa đến nay, lan vẫn được biết đến như một loài hoa quý phái, hoa của bậc vuachúa vương giả Lan Việt Nam cũng rất đa dạng về chủng loại và chứa đựng nhiều ýnghĩa
Riêng lan hồ điệp được mệnh danh là “ nữ hoàng của các loài hoa” Hồ điệp không chỉ
có ý nghĩa là sự cao sang, quý phái mà còn là sứ giả truyền tải cảm xúc một cách nhẹnhàng, hoa còn mang đến cho chúng ta vẻ đẹp tinh khiết của tự nhiên, nét quyến rũcho không gian sống
Hoa có màu sắc phong phú từ trắng, hồng, đỏ, vàng, tím và có loài có sự phối màu tựnhiên như có đốm hay sọc…, cấu trúc kỳ diệu và đặc tính tươi lâu có thể sống từ 1 đến
2 tháng, trở thành quà tặng có giá trị cao trong những dịp Tết đến Xuân về
Khả năng sinh sản:
Hoa lan từ lâu đã được liên kết với khả năng sinh sản và sinh lực.Trong Hy Lạp cổ đại, người ta tin rằng việc dùng các loại các loại củ rễ có thể xácđịnh giới tính của thai nhi chưa sinh Nếu là cha đẻ của đứa trẻ chưa sinh ăn rễ lớn củacây lan, vợ của anh ta có khả năng sinh một cậu con trai
Mặt khác, nếu người mẹ mong đợi ăn củ lan nhỏ, cô có thể cho ra đời một bé gái Doniềm tin này khá phổ biến, hoa lan đã trở thành quà tặng phổ biến cho các cặp vợchồng đang mong con Ở Trung Quốc cổ đại, hoa lan đã được xem là biểu tượng conđàn cháu đống
Ý nghĩa của màu sắc khác nhau của hoa lan hồ điệp
Lan hồ điệp màu xanh: rất hiếm do đó nó là biểu tượng cho sự cao quý, quý giá Ngoài
ra nó còn là biểu tượng cho sự tâm linh và thiền định
Trang 3Lan hồ điệp màu trắng: là biểu tượng của sự ngây thơ, xinh đẹp và trang trọng Bạn cóthể dùng chậu hoa lan hồ điệp trắng làm món quà để tặng cho người thân yêu củamình.
Lan hồ điệp màu hồng: tượng trưng cho niềm vui, hạnh phúc, và ngây thơ Vì vậy mộtchậu lan hồ điệp hồng là món quà có ý nghĩa cho ngày kỷ niệm
Hình 1: Những cánh hoa Hồ Điệp (Blue Mystique phalaenopsis
orchid) có màu xanh dương
Hình 2 : Lan Hồ Điệp ( P amabilis ) với những cánh hoa có màu trắng
Trang 4Lan hồ điệp màu vàng: tượng trưng cho tình bạn và sự khởi đầu mới
Lan hồ điệp màu tím (lavender): là biểu tượng của sự dung thứ, sang trọng và vẻ đẹp
nữ tính
Hình 3 :Những đóa hoa màu hồng rực rỡ của P schilleriana
Hình 4: Lan Hồ Điệp màu vàng (Yellow Phalaenopsis Orchids)
Trang 5Lan hồ điệp màu đỏ tía: tượng trưng cho hoàng gia, sự ngưỡng mộ và tôn trọng
2 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoa lan có ý nghĩa tinh thần vậy đó ,có giá trị kinh tế vậy đó, nhưng mà hiện nay ởViệt Nam vẫn chưa thể sản xuất Lan Hồ Điệp một cách đại trà được, vẫn còn phảinhập khẩu các giống Lan Hồ Điệp ở Thái Lan, Đài Loan với giá thành cao… có lẽ vì
Hình 5: Lan Hồ Điệp có hoa màu tím (Violet Phalaenopsis orchid)
Hình 6: Lan Hồ Điệp mang màu đỏ tía (Purple Phalaenopsis Orchid)
Trang 6các kỹ thuật hiện đại sử dụng trong nhân giống chưa được nhiều người biết tới, chỉmột số ít người có thể tiếp cần những phương pháp này, vì lẽ đó hôm nay nhóm em sẽgiới thiệu một vài kỹ thuật “Nhân giống vô tính Lan Hồ Điệp”.
3 VÀI NÉT VỀ PHALAENOPSIS
3.1 Nguồn gốc và phân bố
Lan Hồ Điệp được tìm thấy vào năm 1750, đầu tiên được Rumphius xác định
dưới tên là Angraecum Đến năm 1753, linné đổi lại là Epidendrum amabile Chi
Phalaenopsis do C L Blume phát hiện vào năm 1825 Phalaenopsis hay còn gọi là lan
hồ điệp Tên Phalaenopsis xuất hiện từ tiếng Hy lạp: “Phalaina” (con bướm đêm) và
“opsis” (trông giống như), nghĩa là loài hoa có hình dáng như bươm bướm.
Năm 1887, loài hồ điệp lai đầu tiên được J Veitch đăng ký với tên P.
harriettiae, từ việc kết hợp giữa P amabilis và P violacea Sau đó, có rất nhiều loài
lan lai tạo ra làm tăng thêm sự đa dạng và huyền bí của Phalaenopsis.
Giống Phalaenopsis gồm 21 loài lan phát sinh, ưa nóng sống ở bán đảo Ma Lai,
Indonexia, Philipine, các tỉnh phía đông Ấn Độ, và Châu Úc Chúng sống trên câyhoặc trên đá, nơi có khí hậu nóng ẩm, độ cao trên 2000m
Ở Việt Nam, chúng ta có thể bắt gặp 1 số loài lan hồ điệp trong các khu rừng
như P coenu (hồ điệp dẹp), P mannii (hồ điệp ấn), P parishii (hồ điệp trung), P.
pulcherrima (hồ điệp nhài), P chibae, P fuscata, P gibbo.
3.2 Lịch sử lai tạo Phalaenopsis
Khoảng những năm 1945, trên thế giới có tới 3500 loài Odontoglossum, 4300 loài Cattleya và hơn 5000 loài lan hài lai nhưng có khoảng 140 loài Phalaenopsis lai Sau đó hơn 100 loài Phalaenopsis và Doritaenopsis mới được lai tạo và đăng ký Các giống lai Phalaenopsis mới hình thành góp phần tăng thêm tính đa dạng và huyền bí
của thế giới hoa
Các loài lan hồ điệp được phân chia thành 2 nhóm chính:
a Nhóm chuẩn “Moth orchids” có phát hoa dài phân nhánh (trên 1m) và có hoa lớn(đường kính khoảng 123cm) tròn, màu trắng, hồng và sọc Nhóm này chủ yếu được lai
Trang 7tạo từ P amabilis (hoa trắng) và P schilleriana (hoa hồng)
b Nhóm hoa nhỏ có phát hoa ngắn, hoa nhỏ (đường kính khoảng 3cm), không tròn,
dạng sáp và nhiều màu sắc Nhóm này được lai từ nhiều loài Phalaenopsis hoa nhỏ như P amboinensis, P lueddemanniana, và P violacea s
Ban đầu, nhóm lan hồ điệp hoa nhỏ không được ưa chuộng như lan hồ điệpchuẩn Đầu thập niên 80, do thị hiếu của người chơi hoa thay đổi nên nhóm lan hồ điệphoa nhỏ được ưa chuộng hơn , được sản xuất rộng rãi và lai tạo ra nhiều giống mới
Các cây mới này có màu sắc sặc sở và mang hương thơm ngát do lai tạo từ P violacea
nhưng hoa vẫn nhỏ và mau tàn Đến cuối thập niên 80, người ta đã chú trọng đến việcnâng cao chất lượng hoa bằng cách tuyển chọn các loài có phẩm chất tốt để lai tạo, do
đó các cây thuộc nhóm hoa nhỏ dần đã được ngang hàng với hồ điệp chuẩn
Trong khi đó, nhóm hồ điệp chuẩn (màu hồng và trắng) vẫn được lai tạo và sảnxuất với chất lượng tốt và nhu cầu về các giống này luôn rất cao
Hình 7: Nhóm chuẩn chủ yếu được lai từ P amabilis (hoa trắng) và P schilleriana
(hoa hồng)
Hình 8 : Nhóm hoa nhỏ thường được lại tạo từ nhiều loài hoa như P violacea (trên cùng), P amboinensis (bên trái), P lueddemanniana (bên phải)
Trang 8Sau đó, giống lai Phalaenopsis có kích thước hoa bằng với hoa trắng xuất hiện.
Hầu hết các cây hoa vàng này đã được lai từ hơn 20 năm trước nhưng đến nay chúngvẫn đạt chất lượng hoa tốt, lâu tàn Hiện nay, người ta có thể tạo ra cây có hoa lớn hơn
với đường kính khoảng 10 cm bằng cách lai tạo P deventeriana với các cây lai màu
vàng khác Lan Hồ Điệp hoa vàng tiếp tục được tập trung lai tạo và sau một thời giandài đã tạo ra những cây có chất lượng cao nhất
Hình 9: P deventeriana (P amabilis x P.amboinensis) được dùng để tạo
ra những cây lai có hoa lớn
Trang 9Loài P.venosa rất được chú ý vì có hoa màu nâu nhạt và hương hoa ngào ngạt Ngoài ra, một số giống mới lai tạo từ P.venosa như P.Mishima Charm và P.
Hausermann’s Gold Cup cho hoa màu vàng ươm Những cây hoa nhỏ như P Orchid
World và P Michael Croker cũng được nhiều hoa lớn hơn và lâu tàn
Một nhóm Phalaenopsis lai mới được hình thành gọi là “Hoàng Hôn” hay
“Màu sa mạc” Nhóm này được tạo thành nhờ lai giữa P venosa hoặc P amboinensis với P schilleriana Hoa của các giống này (màu hồng nhạt đến hồng cam hoặc cam sẫm) có hình dạng và kích thước tương tự hoa của P schilleriana Một số giống đặc trưng cho nhóm này là P Pago Pago (venosa x Lippegiut).
Nhóm hồ điệp tạo nhiều phát hoa phổ biến ở Trung Mỹ gồm các loài P.
equestris và P stuartiana Mặc dù kích thước hoa chỉ khoảng 4 – 5 cm nhưng do cây
có rất nhiều phát hoa, mỗi phát hoa mang số lượng lớn hoa và hoa nở sớm hơn so vớicác loài Hồ Điệp khác nên các giống này rất được ưa chuộng trên thị trường Hoa cómàu từ trắng đến hồng sáng, sọc trắng và viền trắng
Hình 10: P venosa có hoa màu nâu nhạt và có hương thơmđược dùng để lai, tạo ra những giống lan hồ điệp mới
Trang 10Nhiều giống lai được sử dụng trong ngành công nghiệp hoa cắt cành có thể tạođược hoa quanh năm trong thời gian ngắn với giá thành thấp Mặc dù hoa cắt cànhmau tàn hơn hoa trồng chậu nhưng chất lượng của hoa vẫn đạt tiêu chuẩn nhất định.
Một số giống mới được lai tạo ra khi lai Phalaenopsis với các chi khác, đặc biệt
là Doritis có hoa màu sáng và số lượng hoa nhiều, khi lai với Phalaenopsis tạo ra các giống Doritaenopsis có hình dạng hoa tương tự như Phalaenopsis Khi lai
Phalaenapsis với Asconopsis Iren Dobkin ( P Doris x Ascocentrum miniatum ).
3.3 Vị trí phân loại
Lá đơn nguyên, dày, mọng nước, không cuống và có bẹ ôm lấy thân Hình dạng
lá đơn giản (elip thuôn hoặc hình lưỡi mác) với màu xanh lá đơn thuần hoặc tạp sắc.Hình 11: P equestris và P stuartiana là giống được ưa chuộng do có thời điểm ra hoa
sớm hơn những loại Lan Hồ Điệp khác
Trang 11Một cây có từ 3 – 15 lá, nhưng chỉ có 4 – 5 lá trên cùng là còn tăng trưởng kích thước.
Lá mang đặc tính của thực vật CAM
C Rễ
Rễ bất định, khí sinh, mọc từ gốc thân xuyên qua bẹ lá Rễ phát triển mạnh,màu lục, xung quanh rễ có một màng xốp bao bọc (velamen) Lớp mô xốp này dễ dànghút nước, muối khoáng và các chất dinh dưỡng cho cây, đồng thời đóng vai trò đặcbiệt trong việc giữ nước cũng như ngăn chặn ánh sáng mặt trời gay gắt Số lượng rễkhá nhiều, rễ to và hơi dẹp tạo thành một vành đai để tăng diện tích tiếp xúc với ánhsáng Thân và rễ không có mạch
3.4.2 Cơ quan sinh sản
A Hoa
Phát hoa hình thành ở nách lá ( thường là một phát hoa) Hoa mọc thành cụm,lưỡng tính, đối xứng 2 bên Bao hoa dạng cánh, rời nhau, xếp thành hai vòng: ba mảnhvòng ngoài và hai mảnh vòng trong bé hơn, mảnh thứ ba có hình dạng và màu sắckhác hẳn gọi là cánh môi Gốc cánh môi thường kéo dài ra, chứa tuyến mật Nhị vànhụy dính liền thành một cột nhị nhụy Hạt phấn thường dính lại thành khối phấn, cóchuôi và gót dính ở phía dưới Hai khối phấn ngăn cách nhau bởi trung đới Bộ nhụygồm 3 la noãn dính nhau thành bầu dưới, mang nhiều noãn, đính bên ( Hoàng Thị Sản,2003) Cả cành hoa nở liên tiếp hơn nửa năm Trung bình một phát hoa cho 7 – 15 hoa.Mỗi hoa bền khoảng hai tháng
Hình 12: Lá, thân, rễ lan hồ điệp còn nhỏ
Trang 12B Quả
Quả của Lan Hồ Điệp thuộc loại quả nang, mở bằng các khe nứt dọc theo haibên đường của giá noãn Quả lan chứa rất nhiều, tùy vào giống, loài mà hạt có thể từvài trăm đến vài ngàn hạt Hạt cần trải qua 130 – 150 ngày để hạt trưởng thành, hạt nởsau 90 ngày Hạt nhỏ được gió mang xa như hạt bụi, phần lớn hạt bị chết vì chứa phôichưa phân hóa Theo Bernard (1909), hạt lan muốn nảy mầm phải nhiễm nấm
Rhizoctonia vì loại nấm này có tác dụng khởi phát sự tái lập phân bào Trong thực
nghiệm, người ta có thể đánh thức các “phô sơ khai” (protocorm) khi sử dụng sốcthẩm thấu bằng cách nuôi cấy hạt trên môi trường chứa sucrose
C Keiki
Keiki chỉ một cây con mọc từ mặt đất trên cuống hoa Một số loài hoa nhỏ như
P lueddemanniana thường tạo Keiki trên cuống hoa Hiện tượng này được Williams
mô tả đầu tiên vào năm 1894 ( Williams và Williams, 1894)
Keiki còn có thể được hình thành ở nhiều loài Phalaenapsis và một số loàithuộc các chi lai Chẳng hạn trong The Genus Phalaenopsis (Sweet, 1980) có trình bày
rõ khả năng phát triển cây con từ đốt phát hoa Phalaenopsis kunstleri ở Kew Gardens Keiki còn có thể hình thành từ rễ ở các loài ở Philippine P.stuartiana (Williams và Williams, 1894) và Phalaenopsis schilleriana (Davis và Steiner, 1952 ) Các cây
Hình 13: Quả cây Lan Hồ Điệp
Trang 13Phalaenopsis dưới điều kiện nuôi trồng không thuận lợi sẽ tạo ra keiki trên cuống hoa,
đặc biệt khi đỉnh đã bị cắt bỏ
4 TRỒNG TRỌT VÀ CHĂM SÓC
Việc trồng và chăm sóc Phalaenopsis gặp rất nhiều khó khăn, để có được những cây
khỏe mạnh, cho hoa đẹp cần phải tốn nhiều công sức và thời gian chăm sóc, vì vậyviệc tìm hiểu điều kiện sống phù hợp của giống lan này là điều cần thiết để có đượcnhững cây hoa chất lượng tốt
4.1 Nhiệt độ
Hồ Điệp là một loài lan ở vùng nhiệt đới mà sự tăng trưởng của chúng chịu ảnhhưởng của hai mùa mưa nắng rõ rệt Tuy nhiên lan hồ điệp chỉ xuất hiện ở các vùngrừng ẩm hoặc ven suối Không có sự biến động đáng kể về nhiệt độ và ẩm độ giữa
Hình 14: Keiki là cây con mọc trên cướng hoa, được dùng để nhân giống lan
Trang 14mùa khô và mùa mưa nơi hồ điệp sinh sống, vì thế cây hồ điệp không có mùa nghỉmặc dù do sự bất lợi về thời tiết trong mùa khô, cây hồ điệp tăng trưởng chậm chút ít
so với mùa mưa (trong điều kiện tự nhiên) Nhiệt độ thích hợp cho lan hồ điệp sinhtrưởng và phát triển là 18oC và ban đêm và 22oC vào ban ngày Tuy nhiên hồ điệp làloài lan chịu nóng hơn đa số các loại lan khác, do đó nó cũng có thể tăng trưởng khátốt ở bất cứ nơi nào có nhiệt độ không quá 35oC vào ban ngày và 25oC vào ban đêm
Hai loài lan Phalaenopsis amabilis và Phalaenopsis Schilleriana dưới 1 tuổi,
đặt cây ở điều kiện nhiệt độ 17oC vào ban đêm và 24oC vào ban ngày, ẩm độ 60 –80%, quang kỳ thay đổi từ 6 – 24 giờ chiếu sáng, trong thời gian từ 2 đến 3 tháng câylan sẽ ra hoa
4.2 Ánh sáng
Đây là loài lan có biên độ khá rộng về ánh sáng, ánh sáng hữu hiệu cho loài này
là 30% Vì thế với giàn che có độ che sáng 70% là thích hợp Đây là loài lan duy nhấtchịu được ánh sáng yếu, nhưng thực tế nhu cầu ánh sáng của chúng cao hơn nhiều, vìthế không nên đặt lan hồ điệp vào nơi quá râm mát Ánh sáng rất cần thiết cho sự tăngtrưởng và trổ hoa Hồ điệp với bộ lá màu xanh đậm chưa phải là cây lý tưởng cho việc
ra hoa, hơn nữa cây trồng trong điều kiện này có khả năng kháng bệnh kém Cây lanđược đặt nơi có ánh sáng khuếch tán vừa phải với bộ lá có màu xanh, có ánh sáng nhẹmàu vàng là tốt nhất
Ở Việt Nam nếu cây lan hồ điệp được trồng với 12 giờ chiếu sáng trong ngày,trong đó khoảng 1 – 2 giờ cây nhận được ánh sáng trực tiếp, cây sẽ phát triển tốt
Ít trường hợp cây lan hồ điệp chết vì nắng, trừ khi bạn để cây lan ngoài trờinắng trực tiếp suốt 12 giờ chiếu sáng, cây sẽ bị những vết bỏng do cháy lá và đây làcửa ngõ cho sự xâm nhập của nấm và virus Tốt nhất là tạo cho lan hồ điệp ánh sánggần như khuếch tán Các loại tôn nhựa hoặc vải lưới nylon thưa 1mm được dùng vớimục đích này với quang kỳ 10 – 12h chiếu sáng
4.3 Tưới nước
Hồ Điệp là loài đơn thân, không có giả hành nên không dự trữ nước, hơn nữadiện tích bốc hơi của bản lá khá lớn và chúng không có mùa nghỉ vì thế phải cung cấp
Trang 15cho không một lượng nước đầy đủ và thường xuyên trong suốt năm Trong mùa mưamỗi ngày phải tưới cho chúng 2 lần, trừ những ngày có mưa, một lần vào 9 giờ sáng,một lần vào 3 giờ chiều Tưới như vậy sẽ đảm bảo cây khô ráo khi trời tối vì đọngnước ở nách lá suốt đêm có thể gây ra sự thối rữa Vào mùa nắng, nên tưới cho chúng
1 ngày 3 lần
Điều kiện thoát nước là tương đối quan trọng, Hồ Điệp không thể chịu được một
độ ẩm lắng đọng (nhất là ban đêm), vì rất đễ tạo điều kiện cho bệnh thối rữa phát triển.Tốt nhất cứ ba ngày ta nên pha Dithane M45, Maneb, Captan vào trong nước tưới vớinồng độ 1/400 để ngừa chứng bệnh nói trên Nên nhớ, Hồ Điệp là loài lan thích hợpvới giá thể và nước tưới có pH khá thấp (pH=5,2) vì thế phải dùng axít phôtphoric đểgiảm pH của nước
Ở nước ta, vào mùa mưa Hồ Điệp tăng trưởng mạnh hơn, nhưng những giọt mưanặng hạt cũng không kém phần nguy hiểm vì thế đa số các loại Hồ Điệp bị chết donhững cơn mưa đầu mùa Đây cũng là một hình thức tưới của thiên nhiên mà ta khôngkiểm soát được Do đó để ngừa tình trạng trên, mái giàn che Hồ Điệp nên dùng nhữngtấm tôn nhựa xanh, như vậy sẽ loại trừ những trận mưa không cần thiết và tạo đượcnhững tia sáng khuếch tán rất lý tưởng
Vào mùa khô, ta vẫn duy trì mức độ tưới đều đặn như trong mùa mưa, vì lúc này
ẩm độ trong không khí giảm xuống rõ rệt Do đó, sự tăng số lần tưới nhằm mục đíchtạo cho
cây tăng trưởng liên tục Nếu cây có trạng thái thiếu nước, ủ rũ bạn nên chuyển câysang vị trí khác hoặc tăng số lần tưới lên Một lần tưới bổ sung vào giữa trưa trongmùa khô rất thích hợp cho sự phát triển của Hồ Điệp
4.4 Độ ẩm
Ẩm độ rất cần thiết trong quá trình phát triển của lan Hồ Điệp (TAMU Cục trồng trọt,2007) Lan Hồ Điệp phát triển tốt trong khoảng ẩm độ 50-85% (Philippines D của A,1999)
Trang 16có thể làm thối đọt Do đó để ngăn ngừa tình trạng trên nên dùng những tấm tôn nhựaxanh để che Có một số trường hợp trồng Hồ Điệp trên cao (sân thượng) có hiệu quảhơn Tuy nhiên gió nhiều và mạnh dễ làm cây mất nước nhanh nếu ta không cung cấp
đủ lá cây sẽ héo rũ, nhăn
4.7 Dinh dưỡng
Hồ Điệp cần dinh dưỡng thường xuyên, quanh năm vì không có mùa nghỉ Khitưới phân không nên tưới với nồng độ cao càng đừng tưới lên đọt, nhất là lúc lá nonmới nhú ra từ đỉnh sinh trưởng Hồ Điệp cần phân bón tưới với nồng độ loãng và cóthể tưới nhiều lần trong tuần Có thể tưới thêm phân hữu cơ như: bánh dầu 15ngày/lần, vitamin B1, kích thích ra rễ…
Cách tưới phân:
o Thời kỳ cây dưới 12 tháng tuổi cần dùng N, P, K với tỷ lệ cao 30-10-10, sau đódùng phân N, P, K với tỉ lệ 20-20-20 hoặc 18-18-18 cho đến lúc ra hoa Tuynhiên vào mùa mưa nếu tưới phân 30-10-10 thấy cây yếu mềm quá có thể tăngcường lượng lân và kali bằng cách xen kẽ phân 20-20-20 hoặc 18-18-18 (dù làcây con), để cây được cứng cáp, tăng cường sức đề kháng sâu bệnh
o Lúc cây trưởng thành (18-24 tháng tuổi) vào thời điểm cuối năm, thời tiết lạnh
có thể kích thích cây ra hoa bằng cách tưới phân 10-30-30, đến khi cây bắt đầunhú cành hoa rồi ta trở lại tưới phân 20-20-20 cho đến lúc hoa nở và tàn Khôngnên để cành hoa lâu quá trên cây, khi nụ hoa cuối cùng đã nở và có 1, 2 hoa bắtđầu héo, thì ta nên cắt cành hoa bỏ đi để dưỡng sức cho cây Khi cắt cành hoacàng sớm thì lá mới ra mau và cây sinh trưởng tốt hơn để lần ra hoa sau sẽmạnh hơn
Trang 174.8 Sâu bệnh
Đối với phong lan, việc phòng bệnh hết sức quan trọng, vì khi cây đã bị bệnh rất khótrị và có thể làm chết cây Ngoài việc chăm sóc lan kỹ lưỡng đều đặn, tưới nưới vàdinh dưỡng cần phải tưới thêm thuốc trừ nấm bệnh nhằm tăng sức đề đề kháng chocây Lan Hồ Điệp hay bị con bọ trĩ chích tạo vết thương trên lá từ đó vi khuẩn xâmnhập gây bệnh thối nhũn trên lá Có thể dùng một số loại thuốc để phòng trị nhưMalathion, lannat… để phòng trị
4.9 Chậu, giá thể, cách trồng
Cách trồng chung nhất cho các loại Hồ Điệp là chậu thật thoáng, có nhiều lỗ cóthể sử dụng chậu đất nung có nhiều lỗ hay chậu nhựa cũng được Chậu phải thật sạchkhông có rêu bám trên thành chậu Thông thường các nhà vườn trồng lan với số lượnglớn (vài ngàn cây) thường dùng than, dớ, xơ dừa, mút… làm giá thể để trồng lan HồĐiệp Có rất nhiều cách trồng lan Hồ Điệp tuỳ theo từng vùng Nhưng có điểm chung
là than, mút nằm dưới đáy chậu, còn xơ dừa hay dớn sẽ nằm trên miệng chậu cáchtrồng này giúp cây thoát nước tốt vào mùa mưa, không bị thối rễ và phát triển tốt.Trong thời gian khoảng 2 năm ta thay chậu một lần, nếu cây lớn quá mau có thể thaychậu sớm hơn
5 GIÁ TRỊ THƯƠNG MẠI VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN CỦA LAN HỒ ĐIỆP
5.1 Trên thế giới
Hoa lan không chỉ mang vẻ đẹp đài các, sang trọng mà còn ấm áp, gần gũi và chấtchứa những giá trị tiềm ẩn, mới lạ, hấp dẫn Đặc biệt, lan Hồ Điệp được ưa thích vềmàu sắc, kiểu dáng trang nhã nhưng cũng không kém phần kiêu sa và được mệnh danh
là “ nữ hoàng “ của các loài hoa lan Chính vì vậy, việc trồng lan Hồ Điệp không chỉdừng lại ở qui mô gia đình mà đã nhanh chóng được mở rộng và trở thành lãnh vựcquan trọng trong nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều nước trên thếgiới như Đài Loan, Nhật Bản, Hà Lan, Mỹ
Trong những năm gần đây, lan Hồ Điệp trở thành lan trồng chậu phổ biến và được ưachuộng nhất Tổng sản lượng chiếm trên 75% trong các loại lan được trồng trên thếgiới (theo Griesbach, 2002) Tại Hà Lan, Hồ Điệp cũng là loại lan được trồng trong
Trang 18chậu phổ biến và có giá trị cao nhất trong ngành trồng hoa Tại Mỹ, Hồ Điệp là hoatrồng chậu trang trí và quà tặng cao cấp
Lan Hồ Điệp được trồng mọi nơi trên thế giới, hầu hết là ở Đức, Nhật Bản,Đài Loan,Thái Lan, Hoa Kỳ…vv Lợi nhuận đem về từ việc xuất khẩu cây con hay cây có hoađều lớn
Năm 2009, quy mô diện tích sản xuất hoa lan Hồ Điệp ở miền Bắc đạt khoảng 4.400
m2, cung cấp cho thị trường khoảng 131.000 cây, đáp ứng được 21% nhu cầu của thịtrường Hiệu quả kinh tế đem lại từ sản xuất lan Hồ Điệp là rất cao Qua tính toán chothấy, lãi thu được từ sản xuất lan Hồ Điệp đạt trung bình từ 280 – 540 triệuđồng/1000m2 như mô hình tại Viện Nghiên cứu rau quả Đặc biệt một số mô hình cholãi từ 700 triệu – 1 tỷ đồng/1000m2 như công ty Cửu Long, Trung tâm ứng dụng côngnghệ cao Quảng Ninh…
Lan Hồ điệp, là một loài lan có độ bền bông cao trong điều kiện thích hợp, cũng là mộtloài cây rất thích hợp để trồng trong nhà, dễ ra hoa Hơn nữa, trong vài thập kỉ gần đâynền công nghệ trồng lan phát tiển giúp người trồng đã giảm giá thành đáng kể đối vớiloại lan này nên giá cả phù hợp với những người mê hoa hay người mới tập trồng, hồđiệp rất được ưa chuộng và được trồng ở nhiều nơi
6 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ LAN HỒ ĐIỆP
6.1 Trên thế giới
Hầu hết các cây hồ điệp thương mại được tạo ra từ hạt và là dị hợp tử Tuynhiên, khi nhân giống bằng hạt, cây con thu được sẽ không đồng nhất về mặt di truyền,nhất là sự phân ly tính trạng màu sắc hoa Đã có nhiều phương pháp vi nhân giống lan
Trang 19hồ điệp như nuôi cấy cuống hoa với chồi nách, mô phân sinh, đỉnh chồi của chồicuống hoa, đốt cuống hoa, đoạn cắt lá và chóp rễ Tuy nhiên các phương pháp nàychưa ứng dụng rộng rãi trong sản xuất thương mại vì chúng khác nhau về tỷ lệ sốngsót, sự hình thành thể giống protocorm (PLB) và khả năng tái sinh cây con
Năm 1949, ông Rotor là người đầu tiên nhân giống lan Hồ Điệp bằng cách sửdụng cành phát hoa Và được coi là phương pháp chính để nhân giống vô tính lan hồđiệp Phương pháp này vẫn tồn tại một tỷ lệ cao các chồi duy trì trạng thái ngủ hoặc cóthể phát triển thành cuống hoa hay chồi sinh dưỡng
Tanaka và CS (1976) đã sử dụng đỉnh rễ của cây lai phalaenopsis tạo
protocorm Ông là người đầu tiên nghiên cứu tập trung trên việc tối ưu hóa quy trìnhtạo chồi dinh dưỡng và nuôi lá ở nhiều yếu tố như protocorm, ánh sáng, nhiệt độ Tuynhiên, hiệu suất vẫn chưa cao đồng thời không ứng dụng được trên nhiều giống
Các thí nghiệm của Tanaka và Sakanishi (1977) cho thấy chồi ở các phần phíatrên có xu thế duy trì trạng thái ngủ bất chấp ảnh hưởng của nhiệt độ Các chồi nẩymầm đặt ở 200C hoặc 250C sẽ tăng trưởng sinh sản (trừ một số chồi ở phần gốc) và ở
280C các chồi đều tăng trưởng sinh dưỡng Chồi nuôi cấy đang ở trạng thái ngủ sẽđược kích thích nẩy mầm nếu bổ sung BA vào môi trường
Trang 20Năm 1991, Sajise và Sagawa đã đưa ra báo cáo đầu tiên về sự hình thành môsẹo tạo phôi (embryogenic) và Tokuhara và Mii (2000) đã thực hiện cảm ứng thànhcông mô sẹo tạo phôi từ các mẫu cấy đỉnh chồi trên cuống hoa lan hồ điệp trên môitrường NDM (New Dogashima Medium) và cấy chuyền thành công mô sẹo sang dạnghuyền phù trong môi trường NDM lỏng
Young, Murthy và Yoeup (2000) đã thành công trong việc sử dụng bioreactor
để nuôi cấy PLB từ các đoạn cắt lá, sau 8 tuần nuôi cấy, họ đã thu được khoảng 18.000PLB từ khoảng 1.000 PLB ban đầu trong 2 lít môi trường Hyponex Các PLB nàyđược chuyển sang môi trường Hyponex rắn để tạo cây con
Năm 2002, Park So Young và cộng sự, khảo sát tối ưu hóa quá trình tạoprotocorm từ lá, đưa ra quá trình hoàn chỉnh và kiểm chứng trên nhiều giống lan HồĐiệp khác nhau
Theo nhiều tác giả khi tái sinh thành cây con từ protocorm chỉ cần sử dụng cácmôi trường khoáng có bổ sung nước dừa, khoai tây…mà không sử dụng bất kỳchấtđiều hòa tăng trưởng nào Tanaka và Sakanishi (1985) và Tanaka (1987) đã sử dụng
Hình 15: Tanaka và CS (1976) đã sử dụng đỉnh rễ của
cây lai phalaenopsis tạo protocorm
Trang 21môi trường Knudson C cải tiến, còn Haas-von Schmude (1983,1985) sử dụng môitrường MS trong việc tái sinh cây con từ protocorm Griesbach (1983) sử dụng môitrường Murashige và Skoog cho việc tái sinh cây con từ protocorm trong khi Lin(1986) sử dụng môi trường Knudson C cải tiến có bổ sung BA (1mg/l) để chuyểnprotocorm thành cây con
Hiện đã có hơn 200 công trình quốc tế thực hiện trên lan Hồ Điệp ở rất nhiềunội dung khác nhau từ sinh lý, sinh hóa, sinh học phân tử Phần lớn các công trìnhnghiên cứu có nguồn gốc từ Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, vốn là những quốc giagắn liền với xuất xứ lan Hồ Điệp (Hsu, 2006)
Những hướng nghiên cứu được quan tâm hơn trong thời gian gần đây là xâydựng các qui trình chuyển gen, thiết kế các hệ thống nhân giống có qui mô lớn
Các nghiên cứu về chuyển gen cho phép đưa các tính trạng đặc biệt vào lan HồĐiệp như khả năng tổng hợp sRNA kháng virus gây cháy lá, khả năng tổng hợp chấtcay trong mù tạt để kháng bệnh (theo Rimaldi Sjahril, 2006) Có thể trong tương lai,thế hệ lan Hồ Điệp mang gen kháng acetylene có hoa lâu tàn sẽ được sản xuất và bánrộng rãi trên thị trường (theo Chai và Senthil, 2002)
Tuy vậy, lan Hồ Điệp cũng như các cây trong họ hoa lan thường khó chuyểngen hơn các loại cây trồng khác do có đặc điểm: phát triển rất chậm, khó thao tác trongnuôi cấy mô, chưa có quy trình tái sinh từ các dòng tế bào đã biệt hóa, ít nhạy cảm vớicác loại kháng sinh chọn lọc, tiết ra môi trường một lượng lớn các hợp chất phenol gâyđộc cho tế bào, cấu trúc đa tế bào của vùng mô phân sinh làm cây chuyển gen dễ bịkhảm
6.2 Ở Việt Nam
Bước đầu tìm hiểu về sự nuôi cấy in vitro lan Hồ Điệp (Phalaenopsis sp),Võ
Thị Bạch Mai 1996 và Lê Văn Hướng cho rằng dưới tác động của auxin và cytokininđược bổ sung riêng lẻ hay kết hợp vào môi trường MS cải tiến Khi có bổ sung 5 ppm
BA và 1ppm 2,4 D, mô cấy được kích thích tạo ra tiền củ Trong môi trường MS bổsung 2 ppm BA, mô cấy sẽ phát triển thành cây hoàn chỉnh
Trang 22Khi “nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và nuôi trồng lan
Phalaenopsis” Nguyễn Quang Thạch và cộng sự (2003), đã sử dụng vật liệu nuôi cấy
mô khởi đầu bằng lá non, mắt ngủ trên phát hoa và đỉnh phát hoa
Liêu Hồng Phú 2005 nghiên cứu tạo phôi và hạt nhân tạo lan Hồ Điệp đượcthực hiện tại Bộ Môn Công Nghệ Sinh Học, Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minhnhằm tìm hiểu ảnh hưởng của các chất kích thích tố sinh trưởng và các loại môi trườngđến khả năng tạo mô sẹo, phát sinh phôi, tái sinh chồi và tạo hạt nhân tạo lan Hồ Điệp
Theo Trần Thị Dung, Trịnh Pari và Liêu Hồng Phú (2005) Khi nuôi cấy phátsinh mô sẹo từ protocorm trên môi trường VW (Vacin &Went) có bổ sung 0,01 mg/ l
BA + 200 mg/ l nước dừa + 40 g/ l đường cho khả năng tạo mô sẹo cao nhất Đối vớiviệc tạo phôi, môi trường thích hợp nhất là VW có bổ sung 2mg/ lTDZ sau đó cấychuyền sang môi trường ½ VW Môi trường tốt nhất cho việc tái sinh lan Hồ Điệp từphôi là môi trường VW + 30 g/ l khoai tây + 1g / l than hoạt tính
Theo Cung Hoàng Phi Phượng và cộng sự (2007) sử dụng hệ thống nuôi cấyngập chìm tạm thời sẽ cung cấp chất dinh dưỡng và không khí cho các mô sẹomộtcách chủ động Cũng nhờ đó hệ số nhân giống cây cao gấp 5-6 lần so với cách nhângiống lan Hồ Điệp bằng phương pháp sinh sản vô tính Trong môi trường nuôi cấyngập chìm tạm thời, các mô phát triển nhanh và nhân chồi liên tục Trung bình, từ một
mô sẹo sau 2-3 tháng có thể cho 20- 25 chồi con Các chồi này có lá lớn và ra rễ rấtnhanh, chồi phát triển thành cây con chỉ sau 2- 3 tháng Khi đưa ra trồng ở môi trường
tự nhiên, 100% cây con được nuôi cấy bằng kỹ thuật nói trênđều sống và phát triển tốt
Theo Dương Tấn Nhựt và cộng sự (2007) sử dụng vật liệu nuôi cấy khởi đầu làprotocorm có màu xanh, đường kính từ 1- 1.5 mm cấy chuyền 2-3 tháng 1lần, môitrường MS cơ bản bổ sung 2mg/ l BA, 1mg / l NAA và 20% nước dừa và hệ thốngnuôi cấy bioreactor rất thích hợp để nhân nhanh protocorm của lan Hồ Điệp
Monosaccharide (đường mía) không thích hợp cho nuôi cấy phôi vô tính câylan Hồ Điệp, đặc biệt D-fructose có tác động rất xấu đến mẫu cấy (gây chết 100%mẫu) Các disaccharide thích hợp hơn cho nuôi cấy phát sinh phôi từ mẫu đoạn mắtngủ là phương pháp nhanh chóng và luân phiên để nhân giống cây trồng Nhờ cấy mô
Trang 23sẹo Môi trường nuôi cấy bổ sung 20g / l sucrose sẽ cho hiệu quả phát sinh phôi caonhất (Dương Tấn Nhựt và cộng sự, 2007)
Theo Trần Thị Kim Liên (2008) khi nghiên cứu khả năng phát sinh chồi từ mắtngủ trên phát hoa lan Hồ Điệp cho thấy: việc nuôi cấy mô từ các chấn thương, sẽ đạtđược nhiều cây con Hồ Điệp hơn so với các khúc mắc bình thường chỉ cho một câycon duy nhất Môi trường thích hợp để phát sinh chồi là môi trường MS có bổ sung 1mg/ l BA và 2 mg/ l NAA
Hoàng Thị Hiền, 2009 Đề tài nghiên cứu “Xác định nồng độ nước javel choquá trình khử mẫu phát hoa lan hồ điệp Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởngBAP, TsDZ, NAA đến quá trình sinh trưởng, phát triển của lan hồ điệp lai
(Phalaenopsis sp.) in vitro” được tiến hành tại phòng di truyền và chọn giống - Viện
Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
CN.Sinh học Đặng Thị Ánh Tuyết, 2009, đề tài nghiên cứu “Ứng dụng phương
pháp nuôi cấy lỏng tĩnh để nhân nhanh giống lan Hồ điệp (Phalaenopsis sp)” Tại
Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ Phú Yên
Hồ Phan Thiết Toàn, 2011, đề tài nghiên cứu “Khảo sát một số yếu tố môi
trường ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lan Hồ Điệp (Phalaenopsis) in
vitro.” Tại phòng thí nghiệm nuôi cấy mô của Khoa - Khoa học nông nghiệp – CNSH.Trường Cao Đẳng Nguyễn Tất Thành Quận 4 TP Hồ ChíMinh
7 MỘT SỐ YẾU TỐ SỬ DỤNG TRONG NUÔI CẤY MÔ LAN
7.1 Các chất hấp thụ phenol
Khi phát triển phương pháp nuôi cấy để nhân giống Phalaenopsis, vấn đề
thường gặp nhất là hàm lượng phenol tiết ra từ mô nuôi cấy quá cào, phenol khuyet6chtán vào môi trường, làm oxy hóa các chất trong môi trường, gây độc cho mô nuôi cấy,kết quả là mẫu cấy sẽ bị hóa nâu hoặc đen và chết (Morel, 1974; Flamee và Boesman,1977; Fast, 1979)
Nhiều phương pháp loại trừ chất tiết này và đặc biệt là các sản phẩm oxy hóacủa chúng được thực hiện, chẳng hạn như dùng chất chống oxy hóa, enzyme ức chếphenol, polyvinylprrolidone, than hoạt tính, và nhiều loại chất hấp thụ khác Hầu hết
Trang 24các phương pháp này đều kèm với việc cấy chuyền sau 2 – 3 tuần sang môi trườngmới.
Sử dụng than hoạt tính là biện pháp thường được sử dụng trong nuôi cấy môthương mại Khi bổ sung than hoạt tính ở nồng độ xác định vào môi trường nuôi cấy
mô Phalaenopsis các hợp chất phenol trong môi trường sẽ được loại bỏ, giúp mô sinh
trưởng tốt (Arditi và Ernst, 1993 và cộng sự, 2000)
7.2 Auxin
Auxin là một hợp chất tương đối đơn giản: indol-3-acetic acid (IAA) Các chất
có cấu trúc gần giống IAA là dẫn xuất hay tiền chất của IAA, có cùng vai trò với IAAtrong vài cơ quan đều được gọi là auxin theo nghĩa rộng Auxin tự nhiên được tổnghợp trong thân, trong mô phân sinh (ngọn và lóng) và lá non tức các nơi có sự phânchia tế bào nhanh (trừ trytophan được tổng hợp trong lá trưởng thành dưới ánh sáng).Sau đó, auxin di chuyển tới rễ và tích tụ trong rễ
Auxin là nhóm chất điều hòa sinh trưởng được sử dụng rất thường xuyên trongnuôi cấy mô – tế bào thực vật Đặc tính chủ yếu của auxin là kích thích tăng trưởng vàkéo dài của tế bào Ở một số loài, auxin làn tăng sự tổng hợp enzyme (peroxydase ở lõithuốc lá, cellulose synthegtase ở kiều mạch), auxin có khả năng khởi đầu sự phân chia
tế bào (Mai Trần Ngọc Tiếng, 2002) Trong nuôi cấy mô thực vật, auxin kết hợp chặtchẽ với các thành phần dinh dưỡng khác trong môi trường nuôi cấy để kích thích sựtăng trưởng của mô sẹo, NAA và IBA được sử dụng phổ biến thay thế cho 2,4-D vìhạn chế được hiện tượng đột biến Auxin còn là yếu tố ngăn chặn sự tổng hợp diệp lục
tố ( Nguyễn Đức Lượng, 2002)
Phôi lan có đáp ứng đáng kể đối với auxin Theo Curtis và Nichol (1984), IAA
có khả năng ức chế sự tăng trưởng của phôi trong các giai đoạn đầu sau khi nảy mầm.Nhiều tác giả sau khi nhận thấy auxin có tác động lên sự tăng trưởng và nảy mầm củaphôi lan ở nhiều giống lan khác nhau (Withner, 1953, 1955; Mariat, 1952) Ở một sốgiống lan biểu sinh, auxin (-napthalene acetamide ) không làm ảnh hưởng lên sự nảymầm của phôi nhưng có tác động lên sự tăng trưởng của chồi và rễ (Yates và Curtis,1949) Một số báo cáo khác cho răng auxin có hoạt tính khi được sử dụng cùng với các
Trang 25dịch chiết kích thích tăng trưởng như nước dừa (Hegarty, 1955), nước cà chua (Meyer,1954) và rất khó có thể quan sát thấy được ảnh hưởng riêng lẻ của auxin.
7.3 Cytokinin
Các cytokinin được khám phá do những cố gắng tìm kiếm yếu tố kích thích sựphân chia tế bào thực vật Sau zeatin, hơn 30 cytokinin khác nhau được cô lập Ngàynay, người ta gọi cytokinin để chỉ một nhóm chất, thiên nhiên hay nhân tạo, có đặctính sinh lý giống nước dừa hay kinetin
Cytokinin cần cho sự phân chia tế bào, khi nuôi cấy mô cây đơn tử diệp cần bổsung thêm nước dừa vào môi trường để tăng sự phân chia tế bào Cytokinin cần trongphản ứng phosphoryl hóa, tác dụng trên sự di chuyển Ca2+ vào diệp lạp, giữ màu xanhcho lá, cũng như tổng hợp protein Như vậy, ảnh hưởng của cytokinin được chia làm 2giai đoạn: nhân đôi nhiễm sắc thể và thêm chất tạo phân bào (Mai Trần Ngọc Tiếng,2002)
Khi nuôi cấy phôi lan, nước dừa thường được sử dụng để giúp phôi tăng trưởng
và nảy mầm (Hegarty, 1955; Niimoto và Sagawa, 1961) Với Dendrobium, nước dừa
không ảnh hưởng lên nảy mầm của phôi nhưng ức chế sự tăng trưởng của phôi ở cácgiai đoạn đầu nảy mầm (Kotomori và Murashige, 1965) Một số trường hợp khác, phôi
Phalaenopsis lại tăng sinh mô sẹo và chậm phát sinh cơ quan khi bổ sung nước dừa
vào môi trường (Ernst, 1967b)
Trang 26Nhiều loại nước chiết khác được sự dụng cho môi trường nuôi cấy phôi lan.Chẳng hạn, nước chiết cà chua là một nguồn dinh dưỡng tốt cho phôi lan nảy mầm vàtăng trưởng (Meyerm 1945c; Vacin và Went, 1949; Griffith và Link, 1957) Tác dụng
kích thích tăng trưởng của nước cà chua được thấy rõ ở phôi Cattleya Sudan x C.
percivaliana, các phôi tăng trưởng giới hạn và biệt hóa thành cơ quan, tạo cụm mô
phân sinh và tăng sinh bình thường
Các nhà trồng lan chuyên nghiệp còn sử dụng nhiều loại dịch chiết khác nhưdịch chiết gỗ bulô (Zimmer và Pieper, 1974, 1976), dịch chiết bò, dịch chiết lúa mì,lúa mạch, cà rốt, nấm men, khoai tây, nấm đảm, peptone và nhiều loại nước trái câykhác (Knudson, 1922; Lami, 1927; Curtis, 1947; Mariat, 1952; Withner, 1953) Nhưngđáng tiếc là hiệu quả tác dụng của các loại dịch chiết dinh dưỡng này lên sự tăngtrưởng của phôi vẫn chưa được biết rõ, có thể trong thành phần các dịch chiết nàychứa một số hợp chất kích thích tăng trưởng giúp cho sự phát triển bình thường củaphôi Vì phôi lan có nhu cầu đặc biệt về nguồn đạm, do vậy có thế có các thành phầnđạm trong dịch chiết có tác dụng kích thích sự tăng trưởng của phôi
7.5 Carbohydrate
Hầu hết môi trường nuôi cấy mô thực vật để cần bổ sung thêm nguồnCarbohydrate bên ngoài Carbohydrate cần cho việc nuôi cấy tạo mô sẹo (White, 1934;Gautheret, 1955) Sucrose được sử dụng làm nguồn carbohydrate đầu tiên bởi White(1940) và sau đó nhiều nhà nghiên cứu khác cũng sử dụng hiệu quả
Có nhiều nghiên cứu về nhu cầu carbohydrate đối với phôi non và phôi trưởngthành của thực vật, đặc biệt là ở họ lan Nhiều bằng chứng cụ thể đã chỉ rõ rằng phôilan có khả năng sử dụng được nhiều nguồn Carbon hơn phôi của các loài thực vật hạt
kín khác Đối với phôi của Odontoglssum và Mitonia, sucrose và maltose đều thích hợp, trong khi với Cattleya, Vanda và Phalaenopsis thì glucose và surose đều tốt (Breddy, 1953) Ito (1951) quan sát thấy rằng phôi của Dendrobium, Cattleya, Vanda,
Phalaenopsis và Epidendrum có khả năng sử dụng được tinh bột trong dịch chiết cà
chua bổ sung vào môi trường nuôi cấy Ernst (1967b) khảo sát ảnh hưởng của cácnguồn carbon khác nhau như mono, di, trisaccharides và đường rượu lên sự tăng
trưởng của phôi Phalaenopsis (‘Elinor Shaffer’ x ‘Doris’) mới nảy mầm và
Trang 27Dendrobium để so sánh ảnh hưởng của các dạng môi trường có chứa fructose,
D-xylose, D-glucose, trong khi đó ribitol, D-ribose ngược nhau ở các hợp chất khác
nhau Sự tăng trưởng của phôi Phalaenopsis là cực đại và D-arabinitol không giúp ích
cho sự tăng trưởng Verna và Dougall (1977) cho rằng các nguồn carbohydrate khácnhau có ảnh hưởng khác nhau lên sự tăng trưởng và phát sinh phôi ở cà rốt hoang dại.Các nguồn carbohydrate khác nhau có ảnh hưởng khác nhau lên sự biến dưỡng ở thựcvật Theo Gleddie và cộng sự (1983) sucrose là nguồn carbon tốt nhất cho sự phát sinhphôi
Ngoài vai trò là nguồn carbon, các carbohydrate còn có tác dụng như một yếu
tố điều hòa sự phát sinh hình thái Lúc này, carbohydrate có tác dụng lên sự hình thànhdiệp lục Diệp lục trong mô sẹo nuôi cấy có ảnh hưởng lên khả năng phát sinh phôi.Các gen biểu hiện nhanh trong sự biệt hóa của các diệp lục cảm ứng ánh sáng xanh
cũng có biểu hiện trong sự phát sinh phôi vô tính ở Chenopodium rubrum và cà rốt
(Aleith và Richter, 1991) Sự hình thành và biểu hiện của các protein trong giai đoạnđầu của quá trình phát sinh phôi vô tính được tìm thấy trong lục lạp của đậu Hà Lan(Koonen và Jacobson, 1991) Sự kích thích quá trình phát sinh phôi vô tính trong nuôi
cấy mô sẹo tế bào trứng ở Citrus trên môi trường chứa lactose có liên quan đến sự
hình thành diệp lục trong mô sẹo (Button, 1978)
Quá trình tổng hợp diệp lục ở mô sẹo cà rốt bị ức chế bởi sucrose, trong khi đóglucose không gây ức chế quá trình này Sucrose ức chế sự hình thành màu xanh và vìthế cần hạn chế sucrose trong môi trường để cây tổng hợp diệp lục tốt hơn (Edelman
Trang 287 CÁC PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG LAN HỒ ĐIỆP
7.1 PHƯƠNG PHÁP CƠ HỌC
7.1.1 Cắt thân
Đối với cây Lan Hồ Điệp đã trưởng thành và có thân dài, khỏe, rễ Lan HồĐiệp ra mới giữa những bẹ lá ngay thân nên khi cắt thân để nhân giống ra cắt phầnngọn có rễ và chừa là phần gốc với vài chiếc lá Dùng dao thật sắc hoặc kéo (khử trùngtrước bằng cồn hoặc rượu, lửa), cắt nhanh và gọn không làm dập hay phạm vào rễ Lan,sau đó ta bôi sơn hoặc vôi vào vết cắt của phần ngọn vừa cắt và phần gốc còn lại Phầngốc sau một thời gian sẽ tạo ra vài chồi mới, phần ngọn ta đem trồng lại như một câymới, chú ý đảm bảo vết cắt khô tránh úng thối và chăm sóc như một cây con chờ cây
ra rễ và bám vào giá thể
Ưu và khuyết điểm: Phần ngọn đã cắt sẽ phát triển bình thường nhanh hơn nếutrồng từ một cây con, là phương pháp nhanh, đơn giản nhưng dễ bị úng, thúi chỗ vếtcắt
7.1.2 Siết thân
Hình 16: Nhân giống Lan Hồ Điệp bằng phương pháp cắt thân
Trang 29Đây là một phương pháp đơn giản mà hiệu quả tránh được khuyết điểm củaphương pháp trên Vật liệu cần là một sợi dây đồng hoặc dây điện bọc nhựa, tránh sửdụng dây kim loại có thể bị oxi hóa như dây sắt Cách làm khá đơn giản ta chỉ việc lấydây quấn vòng và siết quanh thân cây (phương pháp này là việc siết quanh thân làmtắc mạng dẫn dinh dưỡng từ trên thân cây xuống rễ và làm cây ức chế tạo mầm conngay chỗ siết) Khi chồi nhú ra khỏi thân, ta gỡ dây đồng, cây con sẽ lớn dần Tốt nhất
là đợi cây con phát triển thành thục và mọc rễ ta sẽ cắt cây con khỏi thân cây mẹ vàtrồng lại
Ưu và khuyết điểm: Khi cây nhú con việc cắt ngọn đem trồng như cắt thân sẽdẫn đến việc gốc Lan Hồ Điệp yếu do thời gian siết lâu sẽ không nuôi được chồi mớidẫn đến chết
7.1.3 Phương pháp sử dụng kích thích tố:
Đây là phương pháp nhanh và hữu hiệu cho việc kích thích cây ra chồi, thậm chí rahoa, ra rễ Tuy nhiên việc sử dụng các chất kích thích cần đảm bảo liều lượng chínhxác Với dung dịch kích thích tố pha sẵn phun sương vào lá và rễ , chỉ 1 tháng sau có
Hình 17: Những cây con mọc ra từ gốc cây mẹ bằng siết thân
Trang 30dấu hiệu của sự mọc chồi Có thể phun 2 lần cách nhau 5 ngày sẽ có kết quả chắcchắn, chất được dùng là Cytokinin, với nồng độ 5 phần triệu (ppm).
7.1.4 Phương pháp tạo chồi từ cọng phát hoa (Keiki)
Sau khi cây Lan Hồ Điệp trổ hoa xong cắt bỏ phần ngọn của phát hoa chỉ chừa lại 2-3mắt tính từ gốc Những mắt này sau đó sẽ mọc ra chồi non Nếu muốn nhanh ta sửdụng chất kích thích ra chồi như trên bôi lên những mắt này sau 4-8 tuần cây con sẽmọc ra và khi cây đã ra rễ ta cắt luôn cành hoa và đem cây con đi trồng
Hình 18: Keiki được tạo từ mắt của phát hoa
Trang 317.2 PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG IN VITRO
Cho tới nay việc nhân giống invitro đã áp dụng cho nhiều loại cây (350 loài,Murashige (1974) chia quy trình nhân giống ra làm 4 giai đoạn :
• Nuôi cấy khởi đầu, tái sinh chồi, cụm chồi
• Nhân nhanh chồi, cụm chồi trong điều kiện invitro
• Tạo cây con hoàn chỉnh, huấn luyện cây con
• Phục hồi, chuyển cây ra trồng trong điều kiện tự nhiên
7.2.1 Các phương pháp nhân giống invitro cơ bản
7.2.1.1 Nuôi cấy đỉnh sinh trưởng
Một phương thức dễ dàng nhất đạt được mục tiêu trong nuôi cấy mô tế bào thựcvật là nuôi cấy đỉnh sinh trưởng (bao gồm nuôi cấy chồi đỉnh và nuôi cấy chồi bên).Sau khi vô trùng, mẫu sẽ được nuôi cấy trên môi trường thích hợp chứa đầy đủ cácchất dinh dưỡng khoáng vô cơ và hữu cơ hoặc môi trường khoáng có bổ sung chấtkích thích sinh trưởng thích hợp Từ một đỉnh sinh trưởng, sau một thời gian nuôi cấynhất định mẫu sẽ phát triển thành một chồi hay nhiều chồi Chồi tiếp tục phát triểnthân, ra lá và rể để thành một cây hoàn chỉnh Cây con được chuyển dần ra đất và thíchnghi bình thường
7.2.1.2 Nuôi cấy mô sẹo
Mô sẹo là một khối tế bào phát triển vô tổ chức, hình thành do sự phân hóa củacác tế bào đã được phân hóa Mô sẹo sẽ phát triển nhanh khi môi trường có sự hiệndiện của auxin Khối mô sẹo có khả năng phát triển thành cây con hoàn chỉnh trongđiều kiện môi trường không có chất kích thích tạo mô sẹo Nuôi cấy mô sẹo được thựchiện đối với các loại thực vật không có khả năng nhân giống thông qua nuôi cấy đỉnhsinh trưởng Cây tái sinh từ mô sẹo có đặc tính giống như cây mẹ Từ một cụm tế bào
mô sẹo có thể tái sinh cùng một lúc nhiều chồi hơn là nuôi cấy đỉnh sinh trưởng, tuynhiên mức độ biến dị tế bào soma lại cao hơn
7.2.1.3 Nuôi cấy tế bào đơn
Trang 32Khối mô sẹo được nuôi cấy trong môi trường lỏng và được đạt trên máy lắc cótốc độ điều chỉnh thích hợp sẽ tách ra thành nhiều tế bào riêng lẽ gọi là tế bào đơn.Tếbào đơn được lọc và nuôi cấy trên môi trường đặc biệt để tăng sinh khối Với các chấtthích hợp được bổ sung vào môi trường, tế bào có khả năng sản xuất các chất có hoạttính sinh học Sau một thời gian nuôi cấy kéo dài trong môi trường lỏng tế bào đơnđược tách ra và trải trên môi trường thạch.
+ Khi môi trường thạch có bổ sung auxin, tế bào đơn phát triển thành từngcụm có mô sẹo
+ Khi môi trường thạch có tỷ lệ cytokinine/auxin thích hợp, tế bào đơn có khảnăng tái sinh thành cây con hoàn chỉnh
7.2.1.4 Nuôi cấy protoplast-chuyển gen
Protoplast (tế bào trần) là tế bào đơn được tách bởi vỏ cellullose, có sức sống vàduy trì đầy đủ các chức năng sẵn có
Trong điều kiện nuôi cấy thích hợp, protoplast có khả năng tái sinh màng tế bào,tiếp tục phân chia và tái sinh cây hoàn chỉnh (tính toàn thể ở thực vật) Khi tế bào chấtmất vách và tiến hành dung hợp, hai protoplast có khả năng dung hợp với nhau tạo tếbào lai, đặc tính này cho phép cải thiện giống cây trồng Quá trình dung hợp protoplast
có thể thực hiện trên hai đối tượng cùng loài hay khác loài
7.2.1.5 Nuôi cấy hạt phấn đơn bội
Hạt phấn ở thực vật được nuôi cấy trên những môi trường thích hợp tạo mô sẹo Môsẹo này được tái sinh thành cây hoàn chỉnh là cây đơn bội
7.3.1 Phương pháp nhân giống invitro đã được áp dụng trên lan Hồ Điệp
Hầu hết các giống lan rất dễ xảy ra biến dị, vì vậy việc nuôi cấy không thể tạođược cây con đồng nhất (Arditini, 1992) Vì vậy, để sản xuất cây con đồng loạt cầnphải áp dụng phương pháp nhân giống vô tính
Khó khăn lớn nhất trong nhân giống vô tính Phalaenopsis là nguồn mẫu rất
hạn chế do chúng là lan đơn thân, sử dụng chồi đỉnh để nuôi cấy như nhiều loài lan
khác sẽ làm tổn thương cây mẹ (Intuwong và Sagawa, 1974) Hơn nữa, Phalaenopsis
Trang 33thường tiết nhiều hợp chất phenol từ bề mặt cắt ra môi trường nuôi cấy, gây độc chomẫu (Fast, 1979).
Một số phương pháp nhân giống vô tính Phalaenopsis thành công được trình
bày sau đây:
7.3.1.1 Nhân giống vô tính sử dụng chồi đỉnh
Chồi đỉnh của cây phalaenopsis khi bị tổn thương hoặc già cỗi có khả năng tạo
ra một hoặc nhiều chồi từ các chồi ngủ ở gốc Từ quan sát này, các nhà làm vườn đãmạnh dạn cắt phần phía dưới các rễ khí của cây và nuôi cấy riêng lẻ chúng để nhânthành các cây mới theo ý muốn Phương pháp này được xem là phổ biến nhất Chồi cóthể phát triển từ phần gốc khi được nuôi cấy ở 27oC (Tran Thanh Van, 1974), Từphương pháp này, một chồi ban đâu có thể tạo ra 3 đến 4 chồi khác trong 10 tháng(Tran Thanh Van, 1974) Các chồi sinh dưỡng phát triển từ chồi ngủ trên trục cây
Phalaenopsis, từ nách là mỗi chồi sẽ tạo ra hai chồi mới (Koch, 1974, Holters, 1983).
Phương pháp nuôi cấy chồi đỉnh PLB thành công đầu tiên được biết đến dotrường Đại hoc Hawaii thực hiện (Intuwong và Sagawa, 1974) Vật liệu là chồi đỉnh
mang 6-7 lá non của các câyP.amabilis, P x Star cua Santa Cruz, P x surfrider, P x Ituby Lips, P x Arcadia, và P cochlearis.
Phương pháp sử dụng chồi đỉnh được ứng dụng thành công cho nhiều loài lan
Tuy nhiên, đối với các loài lan đơn thân như Phalaenopsis, khi sử dụng phương pháp
nuôi cấy chồi đỉnh sẽ làm tổn thương cây mẹ, do đó, hiện nay phương pháp nhângiống sử dụng phát hoa được sử dụng phổ biến hơn
7.3.1.2 Tái sinh chồi từ phát hoa Phalaenopsis
Gavino Rotor là người đầu tiên thành công trong việc nhân giống vô tính in
vitro lan hồ điệp khi còn là nghiên cứu sinh Lawrence McDaniel Đại học Cornell
(Rotor, 1949) Ông đã sử dụng phát hoa đã bỏ lá bắc mang 4-6 chồi, cắt phát 7-8 cm.Sau đó khử trùng bề mặt và cắt vô trùng thành các đoạn mang chồi cách hai đầu 1-2
cm Cấy các đoạn phát hoa vào môi trường knudson C làm rắn với agar, các đoạn pháthoa được cắm thẳng cho chồi hướng lên
Trang 34Phương pháp của Rotor ít được chú ý đến do tỷ lệ nhiễm cao và hệ số nhânthấp Nhưng 10 năm sau đó những nhà nghiên cứu khác đã tạo ra nhiều quy trình mớidựa trên phương pháp này (Sagawa và Niimoto, 1960; Sagawa, 1961; Kotomori vàMurashige, 1965; Scully, 1966; Tse và cộng sự, 1970, Intuwong và cộng sự, 1972 a,b;Resinger và cộng sự, 1976; Arditti và cộng sự, 1977 a; 1977b; Tanaka và Sakanishi1977; 1978; Valmayor, 1977; Fast, 1979; Johnson và cộng sự 1982).
Intuwong và cộng sự (1972a,b) cho rằng lợi ích chính của phương pháp này làcây mẹ không bị tổn thương và nguy hiểm
Tanaka và Sakanishi (1978) đã sử dụng phát hoa của cây Phalaenopsis là cây P.
amabilis lai khoảng 6 tuổi nuôi cấy trên môi trường Vacin – Went bổ sung 2,5 ppm
BAP Các phát hoa được nuôi cấy ở 28oC, các nốt ở vị trí 4 và 3 cho tỷ lệ tăng trưởngcủa cây tốt nhất, có ít hoặc không có chồi ngủ, trong khi đó nhiều chồi ở nốt 1 và 2vẫn chưa thoát khỏi sự ngủ Khi nuôi cấy ở nhiệt độ thấp hơn (20o – 25oC) ở nốt 3 và 4
sẽ tạo được số lượng mẫu đáng kể Nhiệt độ nuôi cấy (28 – 30oC) là một yếu tố quantrọng để tháo gỡ sự ngủ của chồi bên
Nghiên cứu của nhóm Ernsst (1984) cho thấy khi nồng độ cytokinin trong môitrường tăng lên (25 đến 125 ppm BAP trong môi trường Knudson C hoặc môi trườngREM) sẽ cảm ứng tạo cụm chồi và hình thành cây con từ nốt phát hoa Cuống hoa cònnon (hoa chưa nở) được khử trùng, cắt đoạn và cấy vào môi trường REM bổ sung25mg/l BAP sao cho chồi hướng lên Sau 2 – 3 tháng, chồi phát triển, cấy chuyển sangmôi trường REM chứa 10% nước chuối xay và không có chất điều hòa sinh trưởng đểcây ra rễ sau 1-2 tháng tiếp theo
Phương pháp nhân giống từ phát hoa là phương pháp đặc trưng ở Phalaenopsis.
Ưu điểm chính của phương pháp này là tạo ra cây con sạch bệnh và đồng nhất về ditruyền, điều mà phương pháp gieo hạt truyền thống không thể đạt được Ngoài ra, việc
nhân giống in vitro từ phát hoa có ưu điểm lớn là không gây tổn thương cây mẹ, so với
việc nhân giống từ ngọn chồi hoặc lá trưởng thành của cây mẹ Tuy nhiên, phươngpháp này có khuyết điểm là hệ số nhân thấp, do vậy , phương pháp nhân giống vô tính
từ phát hoa thường được sử dụng để tạo nguồn nguyên liệu mô in vitro cho các
phương pháp hiệu quả hơn sau này Một số phương pháp mới ngư phát sinh PLB trực