Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 2 diễn ra một cuộc vận động nội sinh ở chiều sâu của đời sống văn học, với những trăn trở, vật vã, tìm tòi thầm lặng mà khô
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––
BÙI VĂN CHUNG
THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH NHÌN TỪ TÂM THỨC HIỆN SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN – 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––
BÙI VĂN CHUNG
THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH NHÌN TỪ TÂM THỨC HIỆN SINH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
THÁI NGUYÊN – 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nào khác
Ngày 30 tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Văn Chung
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
iii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành và sâu sắc nhất của mình tới PGS TS Trương Đăng Dung, người đã tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các quý thầy cô trong Ban giám hiệu;
Khoa Ngữ Văn; Ban chủ nhiệm; quý thầy cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong
suốt thời gian học tập, nghiên cứu khoa học
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn BGH, các thầy cô giáo Trường THPT Yên Hòa,
những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi chia sẻ với tôi những khó
khăn và giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi có được thành quả như ngày hôm nay
Ngày 30 tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Văn Chung
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
iv
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Cấu trúc của luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1 CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG TRIẾT HỌC VÀ VĂN HỌC 10 1.1 Nguồn gốc và cơ sở hình thành, phát triển của chủ nghĩa hiện sinh 10
1.1.1 Khái niệm chủ nghĩa hiện sinh 10
1.1.2 Hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa hiện sinh 12
1.1.3 Những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh 13
1.2 Thân phận con người trong triết học hiện sinh 16
1.2.1 Thân phận con người 16
1.2.2 Ở con người tồn tại có trước bản chất 21
1.3 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học 23
1.3.1 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong đời sống văn học Phương Tây 23
1.3.2 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam 31
Chương 2 CÁC DẠNG BIỂU HIỆN THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH 41
2.1 Con người trong thế giới phi lý 41
2.2 Con người lưu đày 53
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
v
2.3 Con người cô đơn 59
2.4 Con người dấn thân 65
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH 69
3.1 Kết cấu lắp ghép 69
3.2 Cốt truyện phân mảnh 77
3.3 Không gian - thời gian hiện sinh 81
3.3.1 Không gian hiện sinh 81
3.3.2 Thời gian hiện sinh 85
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 1
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong những năm gần đây, Tạ Duy Anh trở thành một gương mặt
nhà văn tiêu biểu, một hiện tượng văn học nổi bật với “những tác phẩm luôn làm bạn đọc giật mình và suy ngẫm bởi những vấn đề gai góc của xã hội hiện đại” Anh đã làm “cháy” báo văn nghệ trên tất cả các sạp báo cả nước bằng truyện ngắn Bước qua lời nguyền Đặc biệt, với bốn cuốn tiểu thuyết: Lão Khổ,
Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Giã biệt bóng tối, Tạ Duy Anh đã dành
được chỗ đứng trong độc giả
Cho đên nay, tiểu thuyết của Tạ Duy Anh không nhiều, nhưng qua đó, độc giả có thể tìm thấy những chiêm nghiệm, triết lí về con người và đời sống, tìm thấy những cách tân, thử nghiệm mới trong sáng tạo nghệ thuật thể hiện nội dung tư tưởng tác phẩm của anh
1.2 Chủ nghĩa hiện sinh là một trào lưu tư tưởng quan trọng có ảnh hưởng mạnh mẽ ở phương Tây và đã có mặt ở Việt Nam hơn nửa thế kỷ nay, nhưng việc nghiên cứu đánh giá về ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong đời sống văn học chưa thỏa đáng Sau 1986, với quan niệm mới về hiện thực,
về con người, văn học đã bám sát đời sống, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, bao quát được những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và số phận con người trong sự vận động và phát triển, đáp ứng những đòi hỏi bức xúc của công chúng
Tìm hiểu văn xuôi, đặc biệt là tìm hiểu tiểu thuyết giai đoạn này sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn bao quát về đời sống văn học Việt Nam đương đại Với đặc thù của đời sống hiện đại là bề bộn, hỗn loạn, xói mòn, khủng hoảng lòng tin, với những chuyển biến trong tư tưởng của người cầm bút Một nền văn học vừa bước ra khỏi chiến tranh, phải đối mặt với nhiều vấn đề mới nảy
sinh, không ít người viết lâm vào tình trạng bối rối, “chông chênh”, đã gây nên những “khoảng chân không” trong văn học Nhưng cũng chính thời gian này đã
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 2
diễn ra một cuộc vận động nội sinh ở chiều sâu của đời sống văn học, với những trăn trở, vật vã, tìm tòi thầm lặng mà không kém phần quyết liệt của một
số nhà văn có mẫn cảm với những đòi hỏi của cuộc sống, có ý thức trách nhiệm cao về ngòi bút của mình
1.3 Tạ Duy Anh đã có những đóng góp rất đáng trân trọng vào cao trào đổi mới văn học nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, tiểu thuyết của Tạ Duy Anh cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn
diện, hệ thống Chính vì thế, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Thân phận con
người trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh nhìn từ tâm thức hiện sinh” nhằm
hướng tới khẳng định nét riêng trong cá tính sáng tạo tiểu thuyết, thành công và phần đóng góp của Tạ Duy Anh Đồng thời, ở một phạm vi nhất định, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói riêng và văn học đổi mới nói chung
Từ những lí do trên tôi chọn đề tài luận văn của mình là “Thân phận con
người trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh nhìn từ tâm thức hiện sinh”
Tạ Duy Anh đánh dấu sự xuất hiện của mình, một cây bút văn xuôi độc
đáo trong nền văn học bằng truyện ngắn Bước qua lời nguyền (1989), nhà thơ Hoàng Minh Châu đã xem Tạ Duy Anh như là sự “báo hiệu về một tấm lòng lớn, một tầm nhìn xa và một tài năng viết về số phận con người” Quả thật, sau khi làm “cháy” báo văn nghệ trên tất cả sạp báo cả nước, Tạ Duy Anh đã xoá
tan mối nghi ngờ trong nhiều người rằng anh sẽ quay về nhấm nháp niềm vinh
quang bằng việc cho ra đời cuốn tiểu thuyết Lão Khổ (1990), tác phẩm được
GS Hoàng Ngọc Hiến đánh giá là “một cuốn tiểu thuyết rất quan trọng về thân phận người nông dân Việt Nam” [4, tr.408]
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 3
Những tưởng, sau khi buộc độc giả phải tím đọc, phải trăn trở, suy tư về những vấn đề gai góc của xã hội trong những năm thực hiện cải cách ruộng đất, Lão Khổ cùng Tạ Duy Anh mất hút trong mắt độc giả Nhưng không, hơn mười
năm sau, “trong khi văn đàn đang có dấu hiệu rệu rã, thì liên tiếp trong hai năm, Tạ Duy Anh đã cho ra đời hai cuốn tiếu thuyết gây xôn xao dư luận trong
và ngoài nước, trước hết bởi sự kỳ lạ về hình thức và vấn đề nhức nhối mà nó quan tâm” [4, tr.408]: Đi tìm nhân vật và Thiên thần sám hối
Ngay khi vừa chào đời, Đi tìm nhân vật (2002) đã nhận được đủ lời khen, tiếng chê Trong bài Tạ Duy Anh đi tìm nhân vật, Trần Thị Trường cho
biết, đã lâu lắm rồi chị mới lại được đọc một cuốn tiểu thuyết thú vị như thế Tác giả bài báo đánh giá đây là cuốn tiểu thuyết đáng đọc nhất trong nhiều năm trở lại đây, bởi nó đã hoàn toàn thoát khỏi lối viết truyền thống quen thuộc, đó
là hiện thực được che phủ bởi nhiều lớp mùng màn, miêu tả dầm dề, hành động
chậm chạp, ngôn ngữ sạch bóng trơn tru…ngoài ra, Đi tìm nhân vật còn cuốn
hút tác giả bài viết ở phương pháp tiếp cận hiện thực đa diện, đa chiều, ở nghệ thuật xây dựng nhân vật, cách sử dụng ngôn ngữ phong phú, đa dạng và lối hành văn hiền đại, giàu chất trí tuệ [41]
Phạm Xuân Nguyên, tác giả bài viết “Tôi đi tìm tôi” (Tiệp kí khi đọc Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh), sau khi đọc xong cuốn tiểu thuyết, anh mãi bị
ám ảnh bởi cái chết của thằng bé đánh giày Anh tâm sự, anh cũng đã bắt đầu đi tìm mình, và dường như, anh cảm thấy nhiều người cũng là tôi [35]
Trần Quang trong bài Đọc tiểu thuyết Đi tìm nhân vật công nhận: Đi tìm nhân vật đã đánh dấu một bước tiến dài của Tạ Duy Anh về nghệ thuật thể loại,
bởi anh đã phá bỏ lối kể chuyện đơn tuyến và lối kết cấu mạch thẳng hay mạch vòng của chủ nghĩa cấu trúc thô lậu Xuyên suốt tác phẩm chỉ là cuộc tìm kiếm không mệt mỏi để trả lời một câu hỏi cổ xưa: Ta là ai? Tác giả đặc biệt chú ý đến những đoạn cật vấn căng thẳng, những đoạn đối thoại kỳ thú có ở khắp các
trang tiểu thuyết Đi tìm nhân vật Ngoài ra, tác giả bài viết còn phát hiện ra
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 4
điểm giống nhau giữa Tạ Duy Anh với nhà văn Nam Cao ở khả năng khám phá những diến biến tâm lí phức tạp của nhân vật [37]
Thụy Khê ở Tạ Duy Anh, người đi tìm nhân vật khẳng định: “lời nguyền
và tội ác” là hai luận đề trong tác phẩm được nhà văn thể hiện qua những
hướng khác nhau trong bút pháp cũng như cách biến thiên nhân vật [28]
Dư luận về Đi tìm nhân vật chưa kịp lắng thì năm 2004, độc giả lại bị Tạ Duy Anh làm cho mê mẩn bởi sự phá cách nghệ thuật trong tiểu thuyết Thiên thần sám hối Nhưng tiểu thuyết này có một số phận khá long đong, qua tay 7
nhà xuất bản, đến tháng 4 năm 2004 mới được in tại nhà xuất bản Đà nẵng
Thật bất ngờ, cũng trong năm đó, Thiên thần sám hối được tái bản lần thứ 5 với
con số kỷ lục: 20.000 bản Tất nhiên, tác phẩm cùng không tránh khỏi những bình luận của báo giới và nhiều bạn đọc yêu thích tiểu thuyết Tạ Duy Anh
Thiên thần sám hối được Nguyễn Hằng giới thiệu là “một thử nghiệm mới trong sáng tạo, một thử nghiệm đầy day dứt, trong đó những yếu tố phi
lí, hoài nghi, liên thông, bất ngờ và mang đậm dấu ấn chủ quan, tạo nên cái riêng của tác phẩm” [26]
Tác giả Ngô Thị Kim Cúc trong bài Đọc sách Thiên thần sám hối của
Tạ Duy Anh: Nếu các thiên thần biến mất trên báo Thanh Niên số ra ngày
21/05/2004 cho rằng, điều làm nên sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết không
chỉ là “hiện thực tàn nhẫn tràn khắp các chi tiết”, mà còn ở chỗ, tác phẩm ít
nhiều bộc lộ niềm tin vào cuộc sống trước tình mẹ bao la và sự ra đời của đứa trẻ [27]
Dương Thuấn trong bài Nét đặc sắc của Thiên thầm sám hối trên báo điện tử www.Talawas.org số ra ngày 10/06/2004 Tạ Duy Anh nhìn nhận, Thiên thần sám hối mang một lối viết hoàn toàn hiện đại Điều đó được thể hiện rõ
nhất trong cách kể, cách dẫn chuyện, nghệ thuật mê hoặc bạn đọc Đặc sắc hơn
cả là cách xây dựng nhân vật Tôi - đứa trẻ còn ba ngày nữa sẽ sinh đang nằm
trong bụng mẹ - của tác giả Khác với tiểu thuyết truyền thống, nhân vật của Tạ
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 5
Duy Anh không xây dựng theo kiểu miêu tả diện mạo bên ngoài sao cho phù
hợp với ý nghĩa nội tâm, trau chuốt các lời thoại sao cho đẹp đẽ…mà “đứa trẻ”,
từ đầu đén cuối chuyện không nói bao giờ, chỉ thể hiện tư tưởng tình cảm qua ý nghĩ Bên cạnh đó, tác phẩm còn lôi cuốn bạn đọc ở giọng điệu hài hước với dung lượng vừa phải, nhưng mang dáng vóc của một tác phẩm lớn Tác phẩm
đã đem đến cho người đọc cả sự sảng khoái lẫn sự suy nghĩ chua chát, sâu cay…, bởi toàn bộ câu chuyện là lời kể của một đứa trẻ ba ngày cuối cùng trong bụng mẹ Đó là nét đặc sắc và cũng là sự bí ẩn không chỉ đối với người đọc ngày hôm nay mà còn mai sau [42]
Báo Thể thao và Văn hoá số 47 năm 2004 có nhận xét: “Tiểu thuyết mới nhất của Tạ Duy Anh, Thiên thần sám hối, gọn nhẹ và giản dị về hình thức…chứa đựng những ấn số lớn về con người và nhân thế”, tác giả bài viết còn nhấn mạnh: “có thể coi ông là nhà văn của đạo đức Văn chương ông có lúc hiện lên bằng gương mặt thế sự, đau đáu riết róng chuyện thánh thiện, tàn
ác, liêm sỉ, và vô lương…nhưng không phải như khái niệm truyền báo chết khô,
mà thông qua sự cảm nhận đau đớn về số phận…” [43]
Báo Pháp Luật số 140 năm 2004 trong bài phỏng vấn nhà văn của Chu Thị
Thơm cũng nhận định: “Tạ Duy Anh là tác giả của những tác phẩm luôn làm bạn đọc giật mình và suy ngẫm bởi những vấn đề gai góc của xã hội hiện đại Ông cũng là tác giả tâm huyết, trăn trở với số phận con người, nhất là khi họ bị rơi vào tình trạng khủng hoảng nhân cách Trong lăng kính đa chiều, Tạ Duy Anh đã nhìn hiện thực một cách lý trí lạnh lùng nhưng cũng đầy thương xót con người - để qua
đó mổ xẻ nhân vật mình với khát vọng của một cây bút hiện thực - với những trăn trở, suy ngẫm trước những vấn đề mang tính thời sự” [40]
Tác giả bài viết Tạ Duy Anh giữa lằn ranh thiện ác của Việt Hoài trên báo Tuổi trẻ cũng góp thêm nhận xét về nhân vật của anh, đó là những nhân vật
nhờ nhờ, xam xám về ngoại hình, song về bản chất con người thì luôn ở ranh
giới thiện - ác Phải chăng, “anh đang tìm về thế giới của cái ác để lay thức cái
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 6
thiện” và buộc người đọc phải có cái nhìn thẳng vào sự thật chua chát của cuộc sống và con người hiện đại” [4, tr.419]
Trong các trường đại học có một số luận văn Thạc sĩ, khoá luận tốt nghiệp về các tác phẩm của Tạ Duy Anh Có thể kể như Nguyễn Thị Mai Loan
(2004), Nông thôn trong sáng tác của Tạ Duy Anh, luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn, ĐHSP, Hà Nội; Nguyễn Thị Ninh (2005), Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh, luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn, ĐHSP, Hà Nội; Nguyễn Thị Hồng Giang (2005) Tạ Duy Anh và việc làm mới nghệ thuật tiểu thuyết, luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn, ĐHSP, Hà Nội; Cao Tố Nga (2006), Cảm thức về cái phi lí trong sáng tác của
Tạ Duy Anh, luận văn Thạc sĩ, ĐHSP, Hà Nội; Vũ Lê Lan Hương (2006), Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh, luận văn Thạc sĩ, ĐHSP, Hà Nội;
Võ Thị Thanh Hà (2006), Nhân vật tiểu thuyết Tạ Duy Anh, luận văn Thạc sĩ, ĐHV, Nghệ An; Nguyễn Thị Kim Lan (2006), Nghệ thuật kết cấu trong một số tiểu thuyết huyền ảo triết luận của Tạ Duy Anh, Châu Diên, Hồ Anh Thái, ĐHSP, Hà Nội; Nguyễn Tiến Hùng (2008), Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết
Tạ Duy Anh, luận văn Thạc sĩ, ĐHSP, Hà Nội…
Trên đây là những bài viết, những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết
Tạ Duy Anh, dù khen hay chê, các nhà nghiên cứu đều nhằm khẳng định:
Một là, Tạ Duy Anh luôn mang trong mình nỗi trăn trở, băn khoăn về số phận con người và hiện thực cuộc sống Ngòi bút của nhà văn đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cái ác và lay thức cái thiện Đối diện với hiện thực khốc liệt,
anh không “ngần ngại chạm vào những chủ đề gai góc của xã hội hiện đại và tìm cách lí giải nó” [4, tr.383] Anh mong muốn vì những trang tiểu thuyết của
mình mà cái ác mỗi ngày ít đi một chút, một chút như những hạt bụi
Hai là, nhà văn có đạo đức, có trách nhiệm cao đối với nghề - Anh quan niệm viết đương nhiên là một nghề, nó đòi hỏi chuyên môn sáng tác cao
Tạ Duy Anh đánh giá rất cao việc tìm tòi, đổi mới kĩ thuật viết Tiểu thuyết của anh đã thoát ly hoàn toàn lối sáng tác của tiểu thuyết truyền thống
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 7
Nó mang vẻ đẹp cách tân về thể loại, đổi mới từ quan niệm nghệ thuật về con người, về cách xây dựng nhân vật…đến ngôn ngữ, giọng điệu…
Tiểu thuyết Tạ Duy Anh sẽ còn làm cho dư luận chưa thể đặt dấu chấm hết cho những lời bình, những lời nhận xét và cả những công trình nghiên cứu
Tuy nhiên qua khảo sát lịch sử nghiên cứu về tiểu thuyết Tạ Duy Anh, chúng tôi nhận thấy: cho đến nay, vẫn chưa có những công trình nghiên cứu một cách hệ thống toàn bộ tiểu thuyết của nhà văn dưới cái nhìn của chủ nghĩa
hiện sinh Chọn nghiên cứu đề tài Thân phận con người trong tiểu thuyết Tạ
Duy Anh nhìn từ tâm thức hiện sinh này, luận văn của chúng tôi sẽ đi sâu
khảo sát toàn diện, hệ thống sáng tác tiểu thuyết của Tạ Duy Anh từ tâm thức hiện sinh, từ đó, khẳng định phần thành công, đóng góp của nhà văn vào sự đổi mới của văn học Việt Nam nói chung và sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói riêng
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Mục đích chính của luận văn là sẽ nghiên cứu
những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong việc khắc họa thân phận con người trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh nhìn từ tâm thức hiện sinh ở một số phương diện cơ bản nhất
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Trong luận văn chúng tôi tập trung nghiên cứu ở
các phương diện: con người trong quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh, con người hiện sinh trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh, nghệ thuật miêu tả con người hiện sinh trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh
3.3 Phạm vi nghiên cứu: Do hạn chế về tư liệu, chúng tôi sẽ khảo sát qua các
tiểu thuyết tiêu biểu của ông:
Luận văn chủ yếu tập trung khảo sát ba cuốn tiểu thuyết của Tạ Duy Anh,
bao gồm: Lão Khổ, 1992, Nxb Văn học; Đi tìm nhân vật, 2002, NXB Văn hóa dân tộc; Thiên thần sám hối, 2004, NXB Đà Nẵng Để có cơ sở so sánh, làm nổi bật
những nét đặc sắc của tiểu thuyết của Tạ Duy Anh, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng khảo sát những tiểu thuyết của nhà văn và một số tiểu thuyết tiêu biểu trong thời kì đổi mới cùng một số tiểu thuyết hiện đại trên thế giới
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 8
3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu: Nhiệm vụ của luận văn là đưa ra một cái nhìn
khái quát về tiểu thuyết Tạ Duy Anh dưới cái nhìn của tâm thức hiện sinh trong bối cảnh của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Khảo sát, phân tích, xác định các phương diện cơ bản nhất của nội dung và nghệ thuật trong việc thể hiện thân phận con người trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh dưới ánh sáng của tâm thức hiện sinh
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được triển khai theo phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp kết hợp một số thao tác chứng minh, đối chiếu, so sánh để làm nổi bật vấn đề Ngoài ra để làm nổi bật sự cách tân trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh dưới tâm thức hiện sinh với các nhà văn khác cùng thời trong nên văn học dân tộc, tôi đặt hoàn cảnh ra đời và thời điểm xuất hiện tác phẩm trong tiến trình chung của văn học dân tộc và thế giới, đối chiếu và so sánh tiểu thuyết của ông với một số tiểu thuyết của một số nhà văn khác
Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các kiến thức liên ngành: hệ thống lí thuyết về tự sự học, thi pháp học, triết học…để tìm hiểu nghệ thuật miêu tả thân phân con người trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh
Để triển khai luận văn, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phương pháp nghiên cứu theo đặc trưng thể loại, phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống, tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn của tôi muốn qua thể loại tiểu thuyết để khẳng định nét riêng trong cá tính sáng tạo của Tạ Duy Anh, những thành công và phần đóng góp của nhà văn vào công cuộc đổi mới văn học Đồng thời, qua đó, ở một góc độ nhất định, chúng tôi cũng làm sáng tỏ những vấn đề đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói riêng và văn học đổi mới nói chung
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu hữu ích đối với những người nghiên cứu tiểu thuyết Tạ Duy Anh nói chung và chủ nghĩa hiện sinh nói riêng
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 9
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Chủ nghĩa hiện sinh trong triết học và văn học
Chương 2: Các dạng biểu hiện con người mang tâm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện con người mang tâm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 10
PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG TRIẾT HỌC VÀ VĂN HỌC 1.1 Nguồn gốc và cơ sở hình thành, phát triển của chủ nghĩa hiện sinh
1.1.1 Khái niệm chủ nghĩa hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh là một phong trào triết học nở rộ sau đại chiến thế giới lần thứ hai Trào lưu triết học học này ảnh hưởng to lớn đến nhiều khuynh hướng của triết học và văn học nghệ thuật hiện đại của các nước phương Tây Chủ nghĩa hiện sinh không chỉ được bàn luận sôi nổi đề cập phong phú trong những lý thuyết triết học, mà còn thâm nhập vào đời sống, tạo nên một lối sống mang tên chủ nghĩa này được tán dương, ưa chuộng nhất trong nhiều nước phương Tây sau đại chiến Giai đoạn thịnh vượng của chủ nghĩa hiện sinh là những năm 50 mươi và những năm 60 mươi của thế kỷ XX
Theo Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa thì Chủ nghĩa hiện sinh
(tiếng Pháp: existentialisme), một trào lưu văn học xuất hiện ở châu Âu, trước hết là ở Pháp, vào những năm trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai và tiếp
đó lan rộng nhanh chóng sang một số nước khác trên thế giới Ngay trong tư tưởng triết học của họ không hoàn toàn đồng nhất Có người hữu thần, có người vô thần, song họ giống nhau ở tư tưởng bi quan sâu sắc đối với con người và cuộc sống Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh cho rằng thế giới ngày nay mọi giá trị tinh thần đang mất hết ý nghĩa mà không thể bù đắp lại
được Điều đó sẽ dẫn tới thảm kịch truyền kiếp “thân phận con người” mà nhà
triết học Đan Mạch Kiếckơgơ thế kỷ XIX, đã nói đến trong các thuyết về tội lỗi
của con người ở “một thời đại mất chúa” (thực chất là sự qian niệm về sự mất ý
nghĩa của cuộc sống) Theo họ, con người đang bị bỏ rơi trong nỗi cô đơn giữa
cái hiện hữu thù nghịch, cho nên cuộc đời chỉ là mọi sự vô nghĩa “sự vô nghĩa sinh ra từ sự đối chiếu giữa lời kêu gọi của con người và sự im lặng của cuộc đời” (A.Camus) [23, tr.75]
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 11
Để khắc phục tình trạng ấy, xuất phát từ một quan niệm duy tâm về bản
chất con người, trong mệnh đề triết học khá tiêu biểu của họ “cái hiện sinh có trước bản chất”, các nhà hiện sinh chủ nghĩa kêu gọi con người quay về với cá nhân mình, “dựa vào cái mình có để không ngừng nâng cao mình lên”, để “tự
do sáng tạo ra mình bằng mỗi hành động của mình, tự do mang đến sự sinh tồn của mình một ý nghĩa và trở thành cái mà trước đây mình không phải như thế” (jean Paul Sartre) Các khái niệm “dấn thân” và “nhập cuộc”mà các nhà chủ
nghĩa hiện sinh thường nói tới chỉ là sự diễn đạt quan niệm và hành động tự do
sáng tạo ra “con đường riêng của mình”, như một sự cần thiết lựa chọn của bản thân mình trong những “tình huống bên bờ vực thẳm” đầy bi kịch, bất chấp tiêu
chuẩn đạo đức không tính đến động cơ, hiệu quả Như vậy, họ hành động trước hết vì các nhân mình, vì sự tự vượt lên mình
Theo Từ điển văn học (bộ mới), theo quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh:
nhận thức duy lý là bất cập đối với hiện sinh của con người; nhưng hiện sinh lại
có thể được khám phá bằng sự trải nghiệm trực tiếp; bởi vậy có thể miêu tả nó gần với cung cách miêu tả của nghệ thuật Trung tâm chú ý của các nhà hiện sinh là vấn đề các nhân và các quan hệ của nó với thế giới, với những người khác và với chúa trời Giọng điệu chung thể hiện tâm trạng bi quan, bi đát Chủ nghĩa hiện sinh là triết học của sự khủng hoảng; không phải ngẫu nhiên mà nó nảy sinh vào thời kỳ của những chấn động và tai biến của xã hội [25, tr.279]
Khi nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh người ta thấy đây không phải một trao lưu triết học thuần nhất mà là triết học khá phức tạp ở nội dung những lý thuyết cũng như trong những biến thế của chúng, chính vì vậy có nhà nghiên
cứu đã nói rằng: “có bao nhiêu nhà triết học hiện sinh thì có bấy nhiêu chủ nghĩa hiện sinh” Nhưng có một điều mà tất cả những nhà triết học hiện sinh
đều thống nhất và đồng tình với nhau rằng triết học của họ khác với mọi triết học đã có dành mọi ưu tiên cho việc nghiên cứu con người Các nhà triết học hiện sinh nói như vậy không có nghĩa họ phủ nhận các triết học, các trào lưu,
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 12
khuynh hướng triết học trong quá khứ đã không nghiên cứu vấn đề con người
hay đã “bỏ quên” hoàn toàn vấn đề con người như một vài nhà nghiên cứu đã
gắn cho họ những lời trách cứ ấy Theo quan điểm của những nhà triết học hiên sinh việc nghiên cứu con người trong những triết học trước đây chưa đi vào thực chất của vấn đề con người để tìm hiểu, nghiên cứu Và họ đã đưa ra quan
điểm, lập trường của họ về vấn đề này
1.1.2 Hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa hiện sinh
Khi nghiên cứu nguồn gốc về hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa hiện sinh, nhiều nhà nghiên cứu thường nhắc đên nguyên nhân xã hội đó là chiến tranh, đặc biệt là hai cuộc đại chiến thế giới khốc liệt - là hoàn cảnh quyết định để hình thành và phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa hiện sinh Những cuộc tranh này đã cuốn hút châu Âu vào cuộc chém giết liên miên, làm cho dân chúng
châu Âu đặc biệt là tầng lớp thanh niên cảm thấy mình “như những con số vô danh”, “những tấm thẻ vô hồn” trong bộ máy chiến tranh khổng lồ Nhân tính con người đã được thay thế bằng “con người thú tính” trong các quân đội phát
xít Người dân châu Âu thấy rõ cơ cấu xã hội của họ đã bị lung lay đến tận gốc rễ: chính trị, pháp luật, lý luận, tôn giáo…đều trở thành những trò thực dụng, dối trá lừa bịp tiếp tay cho tọi ác nên đã làm cho nhiều người mất hết tin tưởng, nghi ngờ mọi giá trị, dẫn đến những tư tưởng bi quan, thất vọng Con người sống trong lo âu, chán nản và thấy cuộc đời thật vô nghĩa, phi lý từ đó làm cho hiện tượng tha hóa của con người ngày càng trầm trong, cá tính con người mất
đi, tự do của con người bị tước đoạt, con người bị chi phối của vật và tất cả sức mánh tha hóa trong xã hội hiện đại đầy mâu thuẫn và khủng hoảng Vấn đề cuộc sống con người và thân phận con người mà chủ nghĩa hiện sinh đề cập tới
đã có từ lúc con người bắt đầu biết suy nghĩ, biết tư duy về sự hiện diện của mình trên cõi đời
Con người là ai? Ai sinh ra con người? Con người sẽ sống ra sao? Và sống theo cách nào? Cuộc đời của người đến lúc nào mới hết đau khổ, mới hết
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 13
buồn phiền, lo âu? Con người có hoàn toàn bất lực không? Con người có chống lại được cái chết không? Con người hiểu biết tới mức nào? Sức mạnh của con người có tới đâu?…Đó là những câu hỏi đặt ra với con người từ rất sớm và càng trở thành thường xuyên hơn, gay gắt hơn, sâu sắc hơn tư khi chủ nghĩa hiện sinh ra đời Và theo họ, đây chính là những cơ sở, nguồn gốc trực tiếp, căn bản để hình thành và phát triển chủ nghĩa hiện sinh
Các nhà nghiên cứu mác-xít còn đưa thêm một nguyên nhân sâu xa và bao quát hơn: đó chính là những mâu thuẫn, những sự bất công giữa những con người sống trong những xã hội dựa trên bóc lột, và biêu hiện rõ nhất trong xã hội tư bản, nói khác đi là trong nền văn minh tư sản
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời không phải ngẫu nhiên, xét về mặt lý luận, nó
là sự kế tục truyền thống của chủ nghĩa phi lý tính đã tồn tại rất sớm trong triết học phương Tây.Truyền thống này có từ nên văn hóa Hy Lạp cổ đại Những người theo chủ nghĩa hiện sinh cũng tìm thấy được yếu tố tư tưởng chủ yếu của mình trong thần học đạo cơ đốc, đặc biệt là trong thuyết giáo về tín ngưỡng cao
hơn lý tính của cha cố Augustinus Nguyên tắc chủ nghĩa chủ quan “tôi suy nghĩ nên tôi tồn tại” của Descartes thời cận đại, nhân tố chủ nghĩa phi lý tính
trong triết học của con người của Blaise - Pascal (1623-1662), Kant, Schelling cùng với một số tư tưởng nào đó của nhà văn F.M.Dostoevsky đã được không
ít những người theo chủ nghĩa hiện sinh thường viện dẫn Còn quan hệ giữa chủ nghĩa phi lý tính của Phương Tây hiện đại như chủ nghĩa duy ý chí (đặc biệt là triết học của Nietzsche và triết học sinh mệnh) với chủ nghĩa hiện sinh lại càng mật thiết hơn Ở mức độ nhất định, chủ nghĩa hiện sinh là sự phát triển
và đi sâu hơn tư tưởng triết học chủ nghĩa phi lý tính của nó trước đây
1.1.3 Những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh
Kiếckơgơ (1813-1855) được coi là ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh hiện
đại Ông quan niệm “chỉ có cá nhân có thể quyết định rằng nó thật sự ở trong
sự khủng hoảng hay nó là một kỵ sĩ của niềm tin” Nói cá nhân, ông nêu khái
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 14
niệm hiện sinh như đó là cái sống đích thực của cá nhân Con người luôn bất hạnh vì nó bị gạt ra ngoài bản thân nó, con người sống bằng hồi tưởng quá khứ hay bằng hy vọng tương lai, điều đó có nghĩa là ngay lúc đó, nó không đạt được cái sống đích thực của nó, tức nó không hiện hữu Đối với ông điều đáng
kể là cá nhân hiện hữu (hiện sinh)
Hiện sinh là trạng thái tình cảm qua đó cá nhân thấy được cái hữu hạn và cái vô hạn, cái khoảnh khắc và cái vĩnh cửu thống nhất với nhau Hiện sinh không thể định nghĩa mà chỉ có thể mô tả Kiếckơgơ cho rằng nhiệm vụ của nhà tư duy chủ quan là mô tả hiện sinh trực tiếp, làm cho chúng ta biết thế nào
là hữu thể người, thế nào là hiện sinh một cách con người Những nét cơ bản
mà ông rút ra từ sự mô tả trực tiếp ấy, ông gọi là những “phạm trù” - những
phạm trù hiện sinh (phạm trù theo cách hiểu của Kiếckơgơ không có nghĩa là những khái niệm chung nhất phân chia các thuộc tính của phán đoán thành từng cụm, và cũng không phải là những quy luật của tinh thần chỉ cho ta cách tập
hợp các hiện tượng của kinh nghiệm để hiểu biết nó Như vậy “phạm trù” sẽ là những yếu tố trừu tượng, phổ biến và có tính năng Theo Kiếckơgơ “phạm trù”
là những tính cách cụ thể, không thể tư duy, không thể giải thích, những tính cách cụ thể ấy là cá tính của mỗi người được nhận định như cái hiện sinh cụ thể Kiếckơgơ đưa ra những phạm trù hiện sinh chính sau:
Phạm trù cái duy nhất Trong cuộc đời không một người nào giống
người nào, không thể có hai người tuyệt đối như hệt nhau, hai người đồng nhất
Là một cá nhân, mỗi người là một đơn vị riêng biệt, một thế giới riêng biệt, một cái đơn nhất, khác với người bên cạnh Mỗi người có một thân xác riêng, một cuộc sống riêng tư, những tình cảm, suy tư riêng Không ai sống, sinh tồn thay cho tôi được Mỗi người là một cái độc đáo và như vậy là một trường hợp đặc biệt Con người là một hữu thể đơn độc
Phạm trù cái huyền bí Mỗi một người là một vũ trụ đóng kín, mỗi ý
thức là một thế giới không thể thông tin đầy đủ với bên ngoài, những biểu hiện,
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 15
ngôn ngữ của người ta hết sức trừu tượng, nghèo nàn, mờ nhạt, khô cứng so với tâm hồn phong phú, sôi động, với muôn ngàn đợt song xô đẩy Làm sao có thể thông tin với người khác cái thế giới bên trong phức tạp như thế? Lý trí, tư duy trừu tượng, trí tuệ chỉ cung cấp cho tôi một hình bóng chết, những ý nghĩ chung chung và máy móc, mơ hồ và im lìm về một con người chứ không đi sâu vào cá tính cụ thể của nó
Phạm trù cái sinh thành Con người là một hữu thể sống, nó không tồn
tại im lìm, bất động, nó luôn luôn vươn tới Hiện sinh là một sức năng động tích cực, là một hữu thể luôn luôn biến chuyển, một cố gắng liên tục để tự vượt qua nó, tự chinh phục nó, để trở thành nó Tiêu cực, chờ đợi, thụ động, không phải là dấu hiệu của hiện sinh, không biến đổi chỉ là phản ánh yếu ớt của thế giới Đặc điểm của hiện sinh là cái sinh thành
Phạm trù lựa chọn Tự do là một đặc tính riêng của con người, tự do là
cơ sở của cá tính, là điều kiện của sự vươn tới Có tự do mới có cá tính, không
có tự do con người sẽ không có nhân cách, mà chỉ là một cái bóng của những
lực lượng tự nhiên Kiếckơgơ, là một sự khởi đầu “tuyệt đối” tức là phi lý tính
và ngẫu nhiên, hành động tự do là một hành động phi lôgíc không thể giải thích, không có nguyên nhân Lựa chọn cái gì, cuối cùng, tức là tự lựa chọn Người ta lựa chọn trở thành cái không phải cái người ta hiện nay Trong triết
học hiện sinh, tự do, lựa chọn có một vị trí quyết định, bởi vì đó là “bước nhảy siêu nghiệm” từ tồn tại sang hiện sinh
Phạm trù lo âu Con người là một hữu thể mang lo âu trong bản thân nó
Lo âu, theo Kiếckơgơ và triết học hiện sinh không phải là sự khiếp sợ một cái
gì cụ thể, nó không có đối tượng trực tiếp Con người, bất kì ai dù là sung sướng nhất cũng đầy lo âu đơn giản vì là con người Con người là một hữu thể đơn độc, một thế giới đóng kín và mang một trách nhiệm nặng nề với bản thân
nó Con người là cái hữu hạn đối lập với cái vô hạn, con người như vậy đảm
nhiệm “thân phận đau khổ” của nó và không thể không đi tới diệt vong tức là
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 16
cái tuyệt vọng tuy nhiên theo Kiếckơgơ cái tiêu vong lại là con đường giải thoát cho nó, tuyệt vọng mở cho nó con đường hướng cái vĩnh cửu, cái vô hạn Lo âu
và tuyệt vọng gắn liền với nhau, cái sau là tận cùng của cái trước Tuyệt vọng
là sự phủ định hữu hạn, là cánh cửa mở đến cái tuyệt đối
Đó là những phạm trù hiện sinh cơ bản về con người, về hiện sinh cụ thể
Những “phạm trù” ấy là cơ sở của chủ nghĩa hiện sinh hiện đại
1.2 Thân phận con người trong triết học hiện sinh
Cũng như những trào lưu triết học lớn khác, các nhà triết học của chủ nghĩa hiện sinh đã bàn đến những vấn đề quan trọng nhất của triết học: vấn đề bản thể luận, vấn đề con người, vấn đề nhận thức luận, vấn đề thượng đế…triết học hiện sinh không trình bày những vấn đề triết học của họ một cách có hệ thống, hay theo kiểu chương mục như triết học cổ điển, truyền thống mà trình bày những vấn đề triết học thông qua các cuốn tiểu thuyết, kịch huyền thoại, hay các luận đề triết học…Nói như vậy không có nghĩa ở mọi lúc, ở mọi nhà triết học hiện sinh đều làm như vậy mà cũng có lúc cũng có nhà triết học hiện sinh đã trình bày những vấn đề triết học theo cách thức của triết học truyền thống như Heidegger, Merleau Ponty, một phần quan trọng trong triết học của J.P.Sartre hay một số nhà triết gia hiện sinh khác
1.2.1 Thân phận con người
Vấn đề thân phận con người đã được các nhà triết học hiện sinh quan tâm một cách sâu sắc Tuy nhiên, nhìn chung họ đều có cái nhìn tiêu cực về thân phận con người Một số nhà triết học hiện sinh cho rằng, bản chất con người đã không mỉm cười mà cất tiếng khóc chào đời Theo họ, nỗi đau khổ là
vì cuộc đời con người là một lỗi lầm Lỗi lầm căn bản của con người nằm ngay trong giới hạn và yếu hèn của chính cuộc đời Con người thấy mình là tất cả, nhưng đồng thời lại chẳng là gì cả Con người cũng thấy mình luôn luôn hướng
về cái hoàn thiện, toàn mỹ, những cõi vô cùng, nhưng con người lại thấy mình hạn chế, bản chất còn nhiều thiếu sót, khuyết điểm, con người cũng thấy chân
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 17
mình chạm đất như nhiều sinh vật khác, nhưng lại khác với mọi loài sinh vật, đầu óc con người luôn luôn hướng lên trời… nhưng rốt cuộc, con người không thể giải quyết được những mâu thuẫn ấy và luôn luôn sống trong trạng thái bi kịch vì năng lực bản thân, vì thực tại tăm tối
Thân phận của con người hay cái kiếp của con người luôn luôn phải sống
ở cái thế mâu thuẫn như vậy, theo Jaspers còn thấy rõ ở sự vật lộn đấu tranh
bền bỉ của con người trong cuộc sống hàng ngày giữa cái mà ông gọi là: “qui pháp ban ngày” tượng trưng cho những gì sáng sủa, minh bạch, qui tắc, trật tự,
có đức, có nghĩa, có tín…và “đam mê ban đêm” là những tượng trưng cho
những điều con người nhìn nhận một cách mơ hồ, mọi sự vật dường như bị biến dạng, biến hình lúc thế này, khi thế khác, chuyển đổi sinh động phong phú làm ta nhìn nhận không thể rõ ràng, những điều này là do những đam mê của
con người gây nên “qui pháp ban ngày” là lý trí đanh thép, con “đam mê ban đêm” là tình cảm tuôn trào “qui pháp bàn ngày” là những gì thuộc về những
qui chế, những phép tắc, luật lệ đạo đức, phong tục,tập quán, truyền thống, tôn
giáo, dư luận…con “đam mê ban đêm” là những gì phóng túng, thác loạn của tình cảm, thậm chí đó là những tình cảm mù lòa, tối tăm, vô thức Sự “đam mê ban đêm” có thẻ phá bỏ mọi trật tự, phép tắc, lề thói trong mọi lĩnh vực (đạo đức, lối sống, tôn giáo…) mà được “qui pháp ban ngày” xây dựng nên Nói tóm lại “đam mê ban đêm” chính là những tình cảm được bắt nguồn từ những
nơi sâu thẳm nhất, bí ẩn nhất trong con người, chúng co sức mạnh thật lớn lao, nhiều khi không có một lực lượng vật chất, tinh thần nào tiêu diệt, chôn vùi được Hủy diệt đam mê là hủy diệt mầm mống sinh tồn Đam mê và lý trí tương tự như cực âm và cực dương trong một vật thể Chúng là hai mặt khắng khít như hình với bóng của một thực thể người Người chính là đam mê và lý trí Và theo những nhà triết học hiện sinh tất cả mọi thiên tài của nghệ thuật văn chương, triết học…đều là những con người đã thực hiện một cách cao độ những đòi hỏi của đam mê và lý trí trong đời sống của họ Và lịch sử của vũ
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 18
trụ, của nhân loại chính là lịch sử của sự đấu tranh không ngừng giữa thần ánh sáng và bóng tối, giữa lý trí và đam mê, giữa thiện và ác Những người theo chủ nghĩa hiện sinh cho rằng mãi mãi không thể có sự hòa hợp giữa những lực lượng đối chọi này, và cũng khó có thể phân biệt, nhân xét một cách rõ rang, rành mạch giữa ánh sáng và bóng tối, giữa lý trí và đam mê bên nào là tiêu cực,
là có lỗi hơn bên nào Theo Jaspers, lỗi lớn nhất chính là sự từ chối không chấp nhận những khả năng khác nhau, không có đêm thì cũng không có ngày, và cái điều đáng nói nhất chính là con người không thể sống hoàn toàn trong ánh sáng ban ngày mà không cần đến những bóng tối ban đêm Đây chính là bi kịch của con người Con người không thể trở nên hoàn thiện, toàn mỹ được nếu không
có một cuộc đời siêu vượt Chính vì thế nên Jaspers cho rằng người là hiện sinh, là một hữu (tồn tại) luôn luôn trong thế thất bại Nhưng có thất bại và càng thất bại mới hiểu được hiện sinh
Martin Heidegger cảm thấy con người sống trong trần thế như những kẻ
bị bỏ rơi, những kẻ bị lưu đầy Con người hiện diện trong cuộc đời nhưng không biết minh đi từ đâu tới và cũng không biết mình sẽ đi về đâu Con người chỉ biết mình tồn tại trong trần gian, bị ném vào một thế giới xa lạ, phi ngã, trong đó con người không có sự nương tựa chống đỡ nào khác ngoài chính hoàn cảnh sống của mình, vì thế con người luôn luôn cảm thấy cô đơn, ghẻ lạnh, tuy vậy con người vẫn luôn luôn tạo cho mình một cuộc sống, tự mình làm cho đời mình có ý nghĩa, tự mình sáng tạo nên mình - tức là con người tự làm nên mình, tự tạo ra mình trong sự ruồng bỏ Vì vậy, Heidegger gọi thế giới hoàn cảnh con người đang sống vừa là chốn lưu đầy nhưng vừa là cố hương Thân phận con người phải sống trong một tình trạng như vậy nên lúc nào cũng cảm thấy kinh hoàng, lo âu Con người luôn ở trong trạng thái kinh hoàng, lo
âu, sợ hãi là vì thấy trong đời sống có nhiều điều bất ổn, hiểm nguy, thiếu sự an toàn, đó là tâm trạng của những thân phận sống ở nơi đất khách quê người, sống trong chốn lưu đầy của trần thế
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 19
Con người luôn luôn sống trong tâm trạng kinh hoàng, lo âu, sợ hãi còn
là ví lúc nào cũng phải đối mặt với cái chết, dù con người cố tìm đủ mọi cách chạy chốn chạy để xa lánh cái chết Cái chết có thể đến với con người bất cứ lúc nào, bất kỳ nơi đâu Nhưng chính do cái chết là một khả năng hiện thực luôn luôn đe dọa con người, nên con người càng thấy trách nhiệm nặng nề, lớn lao của mình trong lúc sống Và cũng do vì sống tức là đang đi về cái chết, mà
theo Heidegger là “đi trước vào trong cái chết”, nên con người càng cần phải
nhận thức rõ cảnh ngộ của mình để có những lựa chọn đúng đắn và có ý nghĩa cho những hành động ở đời Những nhà hiện sinh không nhìn những tâm trạng kinh hoàng, lo âu của con người là những điều hoàn toàn tiêu cực Theo Heidegger thì chính những điều đó lại là nguồn gốc của mọi sự bận rộn, mọi sự
cố gắng, nhiệt tình, thiết tha với cuộc sống và đồng thời cũng chính là động cơ
để thúc đẩy, khính lệ mọi hoạt động, mọi sự dồn bước của con người trong những năm tháng sống trong cuộc đời
A.Camus nhìn thân phận con người ở khía cạnh: đời là vô nghĩa lý Con người luôn phải sống trong thế giới vô nghĩa và phi lý, cái thế giới mà ông gọi
là “thế giới tầm thường, ghẻ lạnh - thế giới không có người” Còn J.P.Sartre thì
phát hiện thấy đời người là kinh tởm, đáng buồn nôn Những theo A.Camus và J.P.Sartre: con người thấy đời là vô nghĩa, phi lý, đáng buồn nôn thật đấy, nhung con người không thể thôi băn khoăn cho thân phận của mình, điều đó thôi thúc con người muốn làm một cái gì khác hơn để thân phận của mình có khả năng tiến bước, vượt lên những thực trạng buồn thảm, đen tối ấy để làm cho đời người có một ý nghĩa nào đó Đây là những tư tưởng khởi nguồn cho
“thuyêt nổi loạn” của A.Camus và thuyết “chủ nghĩa hiện sinh hành động” của
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 20
nghĩa cổ điển hay thuyết duy lý của Descartes nhằm nhấn mạnh đến chiều tư
duy duy lý của con người “tôi tư duy vậy tôi tồn tại” Người cũng không phải là
một thành phần được triển khai trong Logos của Hesgel - tức định nghĩa người trên cơ sở của thuyết ý niệm tuyệt đối… Người theo chủ nghĩa hiện sinh trái với tất cả mọi định nghĩa đã có về con người Người chính là một cá nhân tự khẳng định trên mặt đất này với tất cả những đặc tính chủ quan, từ chối mọi cố gắng hiểu về con người theo tinh thần duy lý hóa
Xuất phát từ quan niệm con người trong trần thế luôn luôn sống trong trạng thái kinh hoàng, lo âu, Heidegger đã định nghĩa người là sự ưu tư Theo ông, ưu tư có trước tất cả mọi điều mà con người có Con người ưu tư là vì con
người bị “ném” vào trần gian với bao kiếp khổ ải, đọa đầy Cho nên tất cả mọi
tình cảm, tư tưởng, hành động của con người đều liên quan gián tiếp hay trực tiếp ở tình trạng ưu tư này của con người Chính vì ưu tư nên con người mới suy tư, thắc mắc, đặt vấn đề để tìm hiểu, nhận biết, để tìm ra phương hướng, cách thức giải quyết và cũng chính vì ưu tư nên con người mới hành động Cho nên Heidegger đã cho rằng con người suy tư hay hành động ở mọi phương diện, ở mọi trình độ đều bắt nguồn từ một động lực duy nhất có tính chất nguyên thủy là sự ưu tư Nhưng ý niệm của con người là do ưu tư mà có, và những kinh nghiệm, những hành động của con người cũng do ưu tư mà ra Ưu
tư theo Heidegger không phải là một hiện tượng tâm lý mà thuộc về bản chất của người Nói chính xác hơn, ưu tư thuộc vấn đề bản thể luận do vậy không phải đối tượng của khoa học tâm lý
Phần lớn những nhà triết học hiện sinh đồng tình với khuynh hướng quan niệm định nghĩa: Người chính là cuộc sống được triển khai theo mọi chiều hướng hoàn cảnh - nghĩa là người là một hiện sinh Và chỉ có người mới gọi là hiện sinh
Theo các nhà triết học hiện sinh thì người hiện sinh là người tự do Định nghĩa người như vậy để phân biệt với mọi vật, mọi loài là người không phải là
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 21
một ý niệm đúc sẵn như các đồ vật hay muông thú mà người chỉ có thể xác định qua việc làm của nó Chủ nghĩa hiện sinh không công nhận có một nhân tính hiểu theo nghĩa duy lý hay triết học cổ điển
Theo J.P.Sartre thật khó có thể đưa ra một định nghĩa về người, vì mỗi người tự làm cho mình thành người trong những hoàn cảnh khác nhau, cho nên không thể đưa ra một định nghĩa chung về người một lần là xong như người ta
vẫn làm Theo ông: “Con người chỉ sau khi hiện hữu rồi mới tự quan niệm về mình được, và sau khi mới ra đời rồi mới hiểu tự mình muốn điều gì Do vậy, con người chỉ là cái mình tự tạo nên” tức là: Người tự làm mình thành người
1.2.2 Ở con người tồn tại có trước bản chất
Theo chủ nghĩa hiện sinh, với ý nghĩa triết học thì bất kỳ vật nào cũng có một bản chất và một tồn tại Một bản chất là một hệ thống bất biến những thuộc tính Và một tồn tại nghĩa là có một sự hiện diện thật sự nào đó có ở trên đời Những nhà triết học hiện sinh đã phê phán quan điểm của nhưng nhà triết học cho rằng bản chất con người có trước sau đó con người mới tồn tại
Người ta vẫn nghĩ rằng có một bản chất chung cho tất cả mọi người Các nhà triết học hiện sinh, đặc biệt là J.P.Sartre đã không đồng tình với quan điểm
như vậy Ông đua ra quan điểm rằng “ngay từ lúc ban đầu, con người đã không
là gì cả Sau đó rồi mới trở thành thế này, hay thế kia Tức là sẽ là cái mình tạo nên Như vậy không thể có một bản tính nhân loại”, sau này ông nhấn mạnh
“ở con người, và chỉ ở con người mà thôi, tồn tại có trước bản chất Điều đó có nghĩa rằng: “con người có trước đã, sau này mới thành thế này hay thế khác - tức bản chất”” Vì trong thế giới chúng ta đang sống chỉ có con người là tự do Theo J.P.Sartre cho rằng: “tồn tại có trước bản chất” đã nói lên rằng tự do của
con người có trước bản chất của con người Bản chất con người chỉ có được khi con người bằng sự tự do của mình hoạt động dấn thân vào những hoàn cảnh của đời sống đẻ sáng tạo ra mình - sáng tạo ra bản chất mình J.P.Sartre cho rằng: Tự do của con người có trước bản chất của con người, làm cho bản chất
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 22
trở thành những khả năng Thứ tự do mà chủ nghĩa hiện sinh quan niệm khác với với quan niệm về tự do của triết học truyền thống Tự do ở đây không phân biệt với tồn tại - có nghĩa là ở con người tự do ngang hàng với tồn tại Tồn tại
của con người và “họ là tự do” giữa hai điều đó không có sự khác nhau Và
theo quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh chỉ cần con người sống là con người có
tự do, tự do là một điều con người không thể thoát khỏi Tự do, đó là cái được phán quyết cho con người Cho nên con người không phải là được tự do mà là
Sự tồn tại của con người có trước bản chất của con người là để phân biệt
rõ ràng giữa người và vật Vật luôn luôn là một tồn tại tiêu cực, bị động, không
có tự do, không thể tự mình sáng tạo ra mình Chúng là bản thân tồn tại tự tại, không có ý nghĩa, giá trị gì Và cũng không thể tự tạo ra bản chất Bản chất của chúng có được là do con người ban cho - chúng là đối tượng của con người Cho nên khác với con người, bản chất của chúng có trước sự tồn tại của chúng
Theo chủ nghĩa hiện sinh, trong một hoàn cảnh, con người có thể lựa chọn một trong nhiều giả thiết Và chỉ sau khi anh ta lựa chọn, người ta mới biết được cụ thể anh ta chọn gì Sự lựa chọn ấy chính sẽ tạo ra anh ta ra sao - tức bản chất của anh ta Nhưng theo chủ nghĩa hiện sinh, con người không chỉ lựa chọn trong đời một lần, mà lựa chọn nhiều lần Có sự lựa chọn nhiều lần trong đời của một con người là do con người phải sống trong nhiều hoàn cảnh, nhiều điều kiện khác nhau, nên phải dấn thân vào nhiều cảnh ngộ, vì vậy anh ta tồn tại, nhưng bản chất của anh ta thi chưa thể xác định một cách chắc chẵn
được Đối với chủ nghĩa hiện sinh “con người sẽ không là gì khác ngoài một chuỗi nhưng dự định, một tổng số, một tập hợp những mối dây liên hợp của
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 23
những dự định” Trong cuộc đời của con người, không có cái gì gọi là cùng
đích, là những dự định cuối cùng Chính vì thế mà các nhà triết học hiện sinh không thừa nhận bản chất bất biến của con người Bản chất của mỗi con người
có thể thay đổi theo hoàn cảnh điều kiện sống hay do những hành động tự do lựa chọn của cá nhân làm thay đổi
J.P.Sartre cho rằng khẳng định sự tồn tại của con người có trước bản chất của con người đã nói lên chủ nghĩa hiện sinh là một triết học hành động, quan điểm này đã nhấn mạnh đến tính năng động, tính sáng tạo của con người, và khuyến khích mọi người tích cực hoạt động tiến lên để luôn tạo ra những bản chất mới cho mình Khẳng định sự tồn tại của con người có trước bản chất của con người chính là không coi con người là một loại tồn tại hiện có, một loại tồn
tại của “vật tự nó” u lì, bất động đã được xác định Con người không đứng im
Tồn tại của con người là tồn tại hướng về tương lai Tương lai đó có thể tốt hay xấu, điều này phụ thuộc vào việc tự do lựa chọn những hành động của mình, vì trước mặt con người ngổn ngang những tính khả năng Cuối cùng con người trở thành một con người như thế nào - tức có những bản chất như thế nào là do khả năng chọn lựa của anh ta, khả năng thiết kế, tạo dựng của anh ta quyết định
1.3 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học
1.3.1 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong đời sống văn học Phương Tây
Văn học với đặc trưng riêng của nó, là lĩnh vực thuận lợi để nói về đời sống bên trong của con người, do đó, cũng trở nên thuận lợi để nhà văn hiện sinh nói về con người đi vào bên trong Henri Bergson từng nói rằng văn học là lĩnh vực vừa thích hợp cho việc diễn dịch những khái niệm của triết học nội quan, những khái niệm của thuyết trực giác do ông nêu ra Tiếp tục Bergson, những người hiện sinh chủ nghĩa càng chú ý sử dụng văn học để làm rộng
nghĩa của chủ nghĩa hiện sinh Kiếckơgơ nói: “thay vì tư duy trừu tượng có nhiệm vụ hiểu cái cụ thể một cách trừu tượng, nhà tư tưởng chủ quan (hay hiện sinh) trái lại có nhiệm vụ hiểu cái trừu tượng một cách cụ thể” (Tái bút viết sau
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 24
Những mảnh vụn triết học) Cũng trên tinh thần như vậy và liên hệ với đặc tính
của tiểu thuyết hiện đại chủ nghĩa, Simone de Beauvoir nói: “Nếu như sự mô tả bản chất thuộc về triết học thuần nghĩa thì chỉ có tiểu thuyết mới cho phép gợi lên cái tia gốc của hiện sinh trong thực tế đầy đủ, riêng biệt, có thời gian tính của nó” (Chủ nghĩa hiện sinh và sự khôn ngoan của các dân tộc) Do đó, một số
triết gia hiện sinh chủ nghĩa lao vào viết tác phẩm văn học và họ tạo ra mối liên
hệ rộng với những người viết văn dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh
Văn học phương Tây hiện đại chịu ảnh hưởng sâu đậm những tư tưởng hiện sinh Đã xuất hiện một dòng văn học hiện sinh với nhiều thành tựu nổi bật
ở phương Tây suốt một thế kỷ qua
Người đầu tiên sáng tác những tác phẩm mang đậm chất hiện sinh là F.Kafka Các tác phẩm của ông đều thẫm đẫm tư tưởng hiện sinh, người ta nói đến tác phẩm của Kafka như một hình mẫu của phương pháp đi vào bên trong
có khả năng làm xuất lộ “cái bí mật” của tồn tại như là tồn tại phi lý của thân
phận con người Tác phẩm của Kafka nói đến những con người sống trong xã hội hiện đại, nhưng đó không phải là con người hiện thực mà là nhân vật huyền
thoại Những biểu hiện tập trung nhất vào hai cuốn tiểu thuyết Vụ án và Lâu đài Hai tác phẩm này đã phác họa ra một thế giới hoàn toàn phi lý, ở đó không
có sự đảm bảo, không có khế ước xã hội, con người có thể bị buộc tội bất cứ lúc nào, không có quyền được khiếu nại, được xét xử, người ta không thể hiểu,
không thể “đo đặc” được thế giới ấy như thế nào Vụ án là một trong những tác phẩm của Kafka được nói đến nhiều nhất, Vụ án được coi như tác phẩm tiêu
biểu của Kafka Tiểu thuyết viết về một công chức có tên Jôzép K, đại lý cho một ngân hang Anh có giấy của tòa án cho biết anh bị cáo, nhưng anh không biết mình có tội gì Anh bị cáo, nhưng được “tại ngoại”, anh vẫn đi làm, vẫn có dịp đưa khách du lịch đi tham quan, vẫn đi lại với người yêu, anh có người chú đưa anh đi tìm đến biện hộ sư nhờ bào chữa, trong khi anh không hiểu mình
bào chữa cái gì Cuối cùng, anh bị hai đao phủ giết chết bằng dao Vụ án là câu
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 25
chuyện siêu hình về cuộc sống bi thảm của con người sống trong một xã hội
phi lý như sống trong trại giam chờ ngày lên máy chém Vụ án là câu chuyện
con người sống trong xã hội vĩnh viễn xa lạ với mình, như người không có giấy khai sinh, không có phép cư trú
Trong Lâu đài, K không hề nguôi ý chí giành được chỗ đứng trong ngôi
làng - con người tự khẳng định quyền sống của nó trên trái đất Chính vì vậy
mà nó bị trừng phạt Những kẻ thống trị không thể chấp nhận những người “nổi loạn” ấy, dù chỉ là nổi loạn trong ý thức Hãy sống yên ổn như ông bố, bà mẹ
và cô em gái của Grêgor Xamxa Anh không bằng lòng ư? Tức khắc, anh sẽ biến thành một con bọ bẩn thỉu trước mắt của mọi người, anh sẽ bị ruồng bỏ,
khinh ghét và vứt vào sọt rác “như con chuột chết” Anh là con bọ, bởi vì anh
hiện nguyên hình anh là người bị tha hóa, anh có ý thức về sự tha hóa ấy Còn cái xã hội kia ghét bỏ anh bởi vì nó không có - hoặc không muốn có - ý thức là
nó bị tha hóa, nó không muốn thấy gì, không muốn chống lại cái gì, nó tự bằng
lòng với tình trạng “sền sệt” của nó Anh chớ phản đối cái xã hội tha hóa này,
nó là trật tự hiện hành một cách tự nhiên, không thể giải thích, ai quấy rối nó,
sẽ bị trừng phạt
Thế giới Kafka là một thế giới phi lý, có thể nói tác phẩm của ông gồm những âm vang mênh mông vô tận, những hình bóng nhảy múa, nửa hư, nửa thực Tác phẩm của Kafka là những câu hỏi: Con người là cái gì? Nó từ đâu đến? Nó đi đâu?, những câu hỏi không bao giờ có lời đáp lại Cho đến chết Jôzép K không biết mình mắc tội gì, chờ đến chết K không gặp được ông Klam
và không biết mình có được cư trú hay không, cái chết của Xamxa là một câu
hỏi lớn về “thân phận con người” Trong cái thế giới yên lặng một cách khủng
khiếp ấy, lại vang lên những băn khoăn, ám ảnh, ảo giác - của cái phi lý
Thế giới Kafka còn là thế giới đầy lo âu, một thứ lo âu siêu hình, không
nguyên nhân cụ thể, không thể lý giải, cái lo âu “bản thể luận” gắn liền với con người, với cuộc sống “còn con người thì còn những đau khổ”, cái lo âu triền
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 26
miên ấy bám lấy anh, cuối cung anh ngã xuống thế giới Kafka cũng là thế giới của cô đơn và tuyệt vọng Nhân vật của ông sống trong mộ xã hội lạnh nhạt, băng giá, ở ngoài xã hội, xa lạ với hết thảy Jôzép K và K là hình ảnh tượng trưng cho thân phận con người trong thế giới phi lý, bất lực và lẻ loi, cô đơn và luôn mang nặng tâm trạng lo âu, bất an khôn cùng Ngẫu nhiên, nó đến với cuộc sống, nó phát hiện ra cuộc sống, rồi đột nhiên nó rời bỏ cuộc đời Nó sống cô đơn và chết
cô đơn, nó hết sức thụ động Những yếu tố siêu hình này về một thân phận con người siêu hình, tràn ngập tác phẩm, lấn át một số yếu tố hiện thực Có thể nói tính thần bí bao trùm tác phẩm của Kafka Cho nên, nhiều nhà triết học khẳng định Kafka là một trong những người tiền bối của chủ nghĩa hiện sinh
Nếu ở Kafka cái phi lý là một thực thể khách quan mà con người tìm hiểu cả đời không thấy, thì A.Camus, cảm giác về cái phi lý là khởi nguồn cho lối sống đậm chất hiện sinh: Nổi loạn Đó là chủ đề nổi bật ở hầu hết các tác phẩm của ông
A.Camus là một nhà văn đã viết nhiều tiểu thuyết bút ký và kịch theo
triết lý hiện sinh Người xa lạ (1942) là truyện đầu tiên của Camus nói về con
người xa lạ với cái thế giới mà nó sống, con người dửng dưng trước mọi sự
Mócxôn trong Người xa lạ là một viên chức nghèo ở Angiê, sống thờ ơ vơi mọi
sự Một hôm được tin mẹ chết ở trại an dưỡng, Mócxôn đi đến trại để đưa tang
mẹ Anh ta vẫn uống cà phê, hút thuốc như thường Không nhìn mặt mẹ lần cuối, không thức đêm bên quan tài mẹ Đi cùng những người đưa đám tang, anh ta ngạc nhiên thấy có ông bạn của mẹ lấy khăn tay lau nước mắt Sau đám tang mẹ, trở về Angiê, ngay chiều hôm ấy anh ta đi tắm, đi xem chiếu bóng với Mari, cô bạn gái Mari muốn làm lễ cưới, Mócxôn chẳng tha thiết bởi theo anh anh cưới hay không cưới chẳng có gì quan trọng Một hôm có anh bạn Raymông, rủ Mócxôn cùng đi ra bãi biển, có mấy thanh niên Arập gây sự với Raymông vì chuyện đàn bà Xảy ra cuộc ẩu đả làm cho Raymông bị thương ở miệng rồi mấy thanh niên kia rút lui Trưa hôm ấy, Mócxôn nắm súng ngắn
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 27
một mình ra biển, anh gặp một người thanh niên Arập, người này đưa dao lên dọa Lưỡi dao sáng lên dưới ánh mặt trời làm cho Mócxôn choáng váng, anh nổ súng giết người Arập Bị bắt và hỏi cung, Mócxôn kể lại sự việc, nói là vì mặt trời làm chói mắt nên nổ súng Bị kết án tử hình, Mócxôn vẫn thản nhiên bởi vì theo anh, chết vào lúc 30 tuổi hay chết vào lúc 70 tuổi cũng chẳng có gì là quan
trọng Sartre nói “Người xa lạ là tác phẩm được tạo nên vì cái phi lý và chống lại cái phi lý” Mócxôn coi tình mẫu tử, tình yêu đôi lứa, cái chết của bản
thân…chẳng có gì quan trọng cả Anh ta khước từ những chuẩn mực xã hội áp đặt lên hành vi của anh ta, anh ta muốn sống đích thực với chính con người mình Chính vì vậy anh ta là kẻ lạc loài, xa lạ với xã hội và anh ta bị xã hội kết
án Cuộc đời là phi lý thì con người chỉ chấp nhận cái phi lý đó bằng hành động phi lý, vô lý do như Mócxôn đã làm, đó là điều Camus muốn nói bằng hình ảnh
“Người xa lạ” Và để thể hiện cái phi lý hiện sinh chủ nghĩa, Camuy đưa ra một
con người với ý thức trống rỗng của nó, một con người bị lột bỏ tất cả các lớp
áo của đời sống tâm lý xã hội Hangri Ximong trong Lịch sử văn học Pháp thế
kỷ XX nhận xét cuốn Người xa lạ, nói rằng để chứng minh cái luận đề hiện sinh chủ nghĩa về tính phi lý của thế giới, Camus đã “làm cho công việc của mình nhẹ bớt bằng cách mô tả một con người ít lý trí hơn những người bình thường và mô tả thế giới què quặt hơn là thế giới trong thực tế” Như thế là
Camus không mô tả con người và thế giới như đã có trong thực tế mà ông làm huyền thoại về thân phận con người giống như kiểu người huyền thoại của
Kafka Hay Matra trong vở kịch Ngộ nhận, coi tình yêu, lý tưởng…là ảo tưởng,
“nhận lầm”, chỉ sự phi lý là có thật, cho nên sau khi vô tình giết chết anh trai và
sau khi mẹ mất đã chấp nhận sự phi lý của cuộc đời với một thái độ dửng dưng Vua Sisyphe trong huyền thoại Sisyphe vì mắc tội với thần linh mà bị trừng phạt lăn một tảng đá lớn từ chân núi lên đỉnh núi, nhưng cứ gần đến nơi tảng đá lại lăn xuống Đó là một công việc hoàn toàn vô ích và vô vọng Sisyphe là hình ảnh tượng trưng của loại người ham mê cuộc sống dù biết rằng cuộc sống
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 28
là vô nghĩa, vô lý Nhân vật Hoàng đế La Mã Caligula trong vở kịch cùng tên trước cái chết của chị gái đồng thời là người yêu hắn Drusilla nhận ra sự phi lý của cuộc đời, đã nổi loạn muốn phá phách cái thế giới này, muốn ngang bằng với thần linh, muốn bất tử, muốn tàn bạo, bất công, phi luân, chém giết như thần linh…để khẳng định tự do của hắn
Tác phẩm Dich hạch (1947), dù có một ý nghĩa tích cực nhất định thì cái
phi lý vẫn luôn hiển hiện: bệnh dịch hạch đến rồi đi một cách bất ngờ, không nguyên nhân, không phải cuộc chiến can đảm của các nhân vật đẩy lùi được bệnh dịch hạch, mà là tự nó rút đi Số phận của con người là như vậy, luôn phải sông trong tâm trạng lo âu, phập phồng, cuộc sống bình yên, hạnh phúc có thể chấm dứt vì bệnh dịch hạch (tượng trưng cho cái ác, sự hủy diệt…) không mất
đi, nó có thể quay trở lại bất cứ lúc nào
Jean - Paul Sartre, nhà triết học, nhà văn lớn của chủ nghĩa hiện sinh người Pháp Tác phẩm văn học của Sartre gồm nhiều thể loại khác nhau trong
đó nổi rõ cái chủ đề về tự do cá nhân và về nhập cuộc Sartre nói: “Văn học là tinh thần hóa, nghĩa là tái hiện lại Và không có cái gì khác để tinh thần hóa, không có cái gì khác để tái hiện lai hơn là cái thế giới nhiều màu và cụ thể này, với sự nặng nể của nó, sự mờ đục của nó, những vùng tổng quát của nó và những câu chuyện nhiều kiến của nó, cả cái ác không thể khuất phục, nó gậm nhấm mà không bao giờ tiêu hủy được cái thế giới ấy Nhà văn sẽ tái hiện lại cái thế giới như nó vốn thế, hoàn toàn sống sượng, đang chảy mổ hôi, đang hôi thối, đang diễn ra hàng ngày để trình nó với những tự do trên nền tảng của một
tự do”, Sartre nói đến tự do cá nhân, sự nhập cuộc của cá nhân, không tách rời
quan niệm phi lý về tồn tại Sartre cũng nói tới những sự kiện xã hội, những sự kiện lớn xảy ra trong thời đại của ông sống (cuộc chiến tranh thế giới, sự chiếm đóng của phát xít Đức ở Pháp…) nhưng chủ yếu Sartre mô tả thế giới bên trong của nhân vật, những cảm giác khó chịu mà ông gọi là trạng thái chóng mặt, buồn nôn, những lo lắng, những băn khoăn, những dao động của cá nhân trước
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 29
cuộc sống của họ, trước hiện thực của đất nước mà họ xem như xa lạ và vô nghĩa Do đó nhân vật của Sartre là con người luôn sống trong tình trạng đau khổ, tuyệt vọng, nó luôn suy nghĩ và biện luận về sự vô nghĩa của cuộc sống, hơn là có hành động gì cụ thể, hoặc nếu có hành động có ý nghĩa xã hội thì hành động đó cũng bị xem như một đam mê vô ích theo tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh Sartre đã chứng minh những quan điểm triết học của mình qua truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch…
Buồn nôn là tác phẩm có tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp sáng
tác của Sartre và trong lịch sử triết học hiện sinh Một mặt, nó từ bỏ lối tiểu thuyết truyền thống, báo hiệu sự ra đời sau này của tiểu thuyết mới Đó không phải là tiểu sử một nhân vật, mà là sự miêu tả, phân tích những hiện
tượng xảy ra trong ý thức một người Mặt khác, nó mở đầu một “thời đại hiện sinh ở châu Âu”, nó khai thác tâm trạng u uất của xã hội phương Tây
đầy mây mù - thời gian trước Đại chiến thế giới thứ II, nó dự đoán một thế giới sụp đổ, trong đó con người bàng hoàng đứng dậy, từ điêu tàn và cô quạnh, từ hoang vu và bất hạnh, cố gắng tự khẳng định mình một cách tuyệt vọng Thượng đế đã chết, thế giới tan vỡ, mọi giá trị đảo lộn, chỉ còn những con người, những con người trơ trụi, chủ nhân duy nhất của traí đất - con người trước những vấn đề lớn lao của cuộc sống, con người từ bỏ quá khứ đau khổ, tự mình tạo ra cuộc sống của bản thân mình, con người của tương
lai, của những “dự phòng”, con người mà ý thức bị ám ảnh bởi hư vô, khoảng trống, luôn luôn vận động thoát ra khỏi nó, “hướng về” các sự vật
Buồn nôn, với hình thức một tiểu thuyết nhật ký, là những trầm tư triết
học của Sartre về ý nghĩa của cuộc sống hay là sự phát hiện hiện sinh, những
nghiền ngẫm về “thân phận con người”, về sự tồn tại phi lý của thế giới, về tự
do và dấn thân Buồn nôn là một trầm tư triết học có tính phê phán và phủ định toàn diện để con người nhận thức được thế giới và bản thân mình Nhân vật
chính Roquentin “nôn mửa” trước những sự vật im lìm, bất động, trước cuộc
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 30
đời quẩn quanh theo lối mòn, anh dũng cảm vén bức màn nhận thức giả dối bấy lâu che lấp con người với thế giới để phát hiện ra rằng; bản chất đích thực của thế giới là vô thường, vô đích, hoàn toàn phi lý, nó có đấy, không nguyên nhân, không lý do, không thể lý giải nổi Thế giới đó với con người chẳng có gì ràng buộc nhau cả, con người có tự do, nó thuộc về tương lai, nó tạo nên bản chất
của mình qua “dự phòng”
Như vậy, tác phẩm Buồn nôn của Sartre đặt những cơ sở quan trọng cho
học thuyết hiện sinh chủ nghĩa của ông Tác phẩm diễn tả đầy đủ quan niệm của Sartre về thân phận con người, một quan niệm siêu hình, tách rời lịch sử, tách rời xã hội
Chủ đề tự do tiếp tục được Sartre triển khai trong vở kịch Ruồi Hoàng tử Oreste tiêu biểu cho triết lý tự do của thuyết hiện sinh: “tôi là tự do của chính tôi” Chàng không chịu khuất phục trước thần quyền và thế quyền, không sợ bị
chị gái và đám dân chúng ghét bỏ, không sợ những con ruồi báo thù bao vây
đuổi đốt, tự mình đảm nhiệm trách nhiệm chiến đáu chống lại cái ác “…ta là một con người, và mỗi con người phải tìm ra con đường của mình” Vở kịch
Ruồi của Sartre, một mặt, biểu hiện quan niệm của tác giả về tự do, mặt khác,
là một lời tố cáo và lên án chủ nghĩa phát xít tàn bạo, biến con người thành những kẻ thấp hèn, nô lệ
Với vở kịch Chết không mai táng, Sartre một lần nữa đề cập đến vấn đề
tự do và vấn đề chống chủ nghĩa phát xít Diễn biến câu chuyện xảy ra trong một nhà giam của bọn phát xít: những người du kích yêu nước bị bắt và bị tra tấn dã man, sau một trận tấn công thất bại Họ ở trong một tình thế quyết liệt, khai nơi ẩn náu của Giăng, người chỉ huy du kích khu vực đó thì sống, không
khai thì chết Cuối cùng họ đã “lựa chọn” và tất cả đã chết Song cuộc đấu
tranh của họ thật bi đát, dao động và đẫm máu, họ trải qua một cuộc khủng hoảng dữ dội: Xoocbiê tự tử, Hăngri và Canôrix bóp chết chú bé vì Phrăngxoa
khiếp sợ tra tấn, có thể sẽ khai sự thật Luyxi khóc lóc, kêu rên “tôi là một kẻ
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 31
khác, tôi không nhận ra tôi nữa…tôi đơn độc”, Hăngri “mệt mỏi”, Xoocbiê “cô độc” Còn chú bé là một tấn bi kịch thê thảm: “tôi vô tội, vô tội, vô tội…tôi không muốn chết… tôi không muốn chết…tôi không là anh hùng…chị Luyxi ơi cứu em với!” Vở kịch đã miêu tả những người yêu nước yếu đuối, cô độc gần
như rã rời Cùng chung số phận, cùng chiến đấu chống bọn phát xít chiếm đóng
và bọn tay sai, song mỗi người là một thế giới riêng biệt, một “cô đảo”, lo âu
và bi đát - tức là những con người hiện sinh chủ nghĩa
Tự do là bản chất của con người nhưng luôn bị đe dọa bởi sự có mặt của
kẻ khác Trong vở kịch Cửa đóng kín (1944), ba nhân vật Garcin, Estelle, Inès
đã chết và bị nhốt chung ở một căn buồng Họ chờ đợi những hình phạt khủng khiếp ở địa ngục nhưng không có hình phạt nào cả mà chỉ có sự bới móc, giằn
vặt lẫn nhau Ông minh họa khái niệm “con người hữu thể cho người khác” và trong đó, nhân vật Garcin nói một câu nỏi tiếng “Địa ngục, chính là những người khác”, vở kịch trình bày quan niệm của ông về mối quan hệ giữa người với người, cái địa ngục ở trên cuộc đời này, chính là phải sống dưới “cái nhìn”
của người khác, cái vũ trụ của tôi bị người khác đánh cắp, có sự xung đột kịch liệt giữa những con người
1.3.2 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam
1.3.2.1 Chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam (trước năm 1975)
Văn học ở miền Nam trước năm 1975 có một mảng quan trọng viết theo những quan niệm và khái niệm của hiện sinh chủ nghĩa Chủ nghĩa hiện sinh ở phương Tây vào miền Nam cùng với chính sách văn hóa của chính quyền Sài Gòn, dưới chế độ thực dân kiểu Mỹ
Sau hiệp định Giơnevơ 1954, đế quốc Mỹ thay chân thưc dân Pháp ở miền Nam, thi hành chính sách thực dân giấu mặt, trá hình bằng cách dựng lên một chính quyền quốc gia độc lập giả hiệu (về chính trị), tạo sự phồn vinh giả tạo (về kinh tế), tạo nên một giai cấp tư sản bản xứ chủ yếu là tư sản mại bản làm chỗ dựa cho chúng khai thác bóc lột lao động người bản xứ, trong việc bao
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 32
thầu cung cấp vật tư, lương thực, nhân công Chúng cố làm cho miền Nam là
một “xã hội tiêu thụ” kiểu phương Tây Trong khi chính sách văn hóa của Mỹ
ra sức tạo nên những “con mắt”, cách nhìn của người bản xứ theo yêu cầu của
Mỹ Nó huênh hoang về tự do cá nhân, tụ do tư tưởng, tự do ăn chơi Nó khuấy động những ham muốn bản năng của con người nhằm phá hủy những khát vọng cao quí của người dân đối với quê hương đất nước, đối với lý tưởng sống, với ý thức về tự do độc lập Nó đề xướng chiến tranh tâm lý nhằm làm cho người dân sợ
vũ khí và kỹ thuật mỹ, càng dễ tự mình cuốn theo lối sống tiêu thụ
Trong hoàn cảnh như vậy, người dân có những phản ứng khác nhau đối với thực tế xã hội Có những người đứng lên đấu tranh trực diện với kẻ thù hoặc âm thầm chống lại kẻ thù Có những người chấp nhận lối sống mà kẻ thù qui định cho họ Lại có những người hoang mang trước những biến cố xã hội,
nhìn đời với con mắt hoài nghi bi quan, “lấy sự vô lý để cắt nghĩa cuộc đời, lấy
sự bất khẳng và tự do tuyệt đối làm phương châm, lấy sự thỏa mãn bản năng và cảm giác làm lẽ sống”, số người sau dễ dàng chấp nhận ảnh hưởng của chủ
nghĩa hiện sinh và có thể là những người truyền bá ảnh hưởng đó Chủ nghĩa hiện sinh phương Tây đã đi vào mảnh đất miền Nam nước ta trong hoàn cảnh
đó, với một không khí khá ồn ào Nhất là từ sau cái chết của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu (1963), cái chết đã làm tan rã nhiều ảo tường, nhất là trong những tầng lớp nhất định của giới tri thức ở miền Nam, đã làm nảy sinh mảng tâm trạng bơ vơ, lo âu, tình cảm chán nản tuyệt vọng của một số người sống ở
đô thị Sài Gòn
Trên bình diện sáng tạo nghệ thuật, người ta thấy sự lặp lại khá rõ nét những chủ đề quen thuộc của chủ nghĩa hiện sinh
Đã có một thời, ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp đi vào nước ta ồ ạt,
ấy là thời kỳ 1936-1945 Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, đã nói rằng hầu hết thi sĩ Việt Nam lúc bấy giờ đều “bị ám ảnh vì Bôđơler” Ở Sài Gòn từ năm
1963, ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh lan rộng đến nỗi nhiều người cầm bút
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 33
tự thấy mình lạc lõng nếu như bài viết của họ thiếu những danh từ quen thuộc
của chủ nghĩa hiện sinh “Ở miền Nam, người ta thấy khá đầy đủ dấu vết của triết học hiện sinh Từ những cuốn biên khảo, dịch thuật về chủ nghĩa hiện sinh, những thứ văn chương tiểu thuyết mang đầy danh từ hiện sinh đến những lối sống ăn chơi trụy lạc được gọi là hiện sinh…Tất cả đều có mặt” (Đất nước
số tháng 11/1967) Trong một thời gian dài chủ nghĩa hiện sinh trở thành câu chuyện trung tâm ở Sài Gòn
Sống không lý tưởng, lạnh nhạt với vận mệnh Tổ quốc, đời sống xã hội, đời sống gia đình, coi nhẹ tình cảm thủy chung, lừng khừng hoài nghi trong tình bạn, tình yêu, quay lưng với mọi hoài bão ước mơ, yếm thế cô đơn, cuồng loạn trác táng, con người mà văn học hiện sinh ở Sai Gòn vẽ ra trước mắt chúng ta thường là như vậy, trong văn xuôi rõ hơn trong thơ
Về thơ, có thơ tự mệnh danh là thơ tự do “thơ hôm nay” với những cây
bút như Thanh Tâm Tuyền, Sao Trên Rừng, Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Mai Trung Tĩnh, Tô Thùy Yên, Viên Linh, Quách Thoại…Vì bất lực nên đứng
xa cuộc đấu tranh của dân tộc thay vì đứng xa cuộc đấu tranh mà trở nên bất lực người làm thơ ở Sài Gòn tìm chỗ trú ẩn trong những khái niệm hiện sinh chủ nghĩa và dựa vào những khái niệm đó, họ tự khai thác kinh nghiệm sống của con người ở đô thị tạm chiếm, nêu lên một số hình ảnh của đời sống cá nhân đầy mặc cảm thân phận, bị ám ảnh nặng nề về hư vô lạnh lùng, về nỗi cô đơn không gì bù đắp, về cái chết Có hàng trăm cách nói khác nhau để nói cái phi lý, cái hư vô hiện sinh chủ nghĩa, có nói cái rỗng tuếch của cuộc sống bản
thân như Mai Trung Tĩnh trong bài Cuộc đối thoại buổi sáng:
“Này người của thế kỷ ưu phiền và tội lỗi, hôm nay ngươi phải làm gì? Đừng hỏi, bởi không bao giờ ta nghĩ tới”
…
“Còn ái tình, người quên sao?
Người yêu cùng ta vừa xí xóa trong mộng đêm qua sau ít ngày mê đắm”
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 34
…
“Thế ngươi ao ước chi đời này?
Như sớm lên, chiều đổ, bóng đêm rơi, ta sống nào kịp nghĩ”
Có người nói cái mục rã tàn tạ, hay kỷ niệm, hư vô:
“Tôi ôm lấy thây dòng suối tắt
Thối tha cành lá mục
Mà nước mắt tôi không đủ sức hối sinh”
(Lễ tấn phong tình yêu -Tô Thùy Yên )
“Một tia lửa nồng nàn trong đêm tối lạnh lẽo
Tia lửa ngày thôi nôi
Của buổi chiều sinh nhật
Mang đến cho ta khuôn mặt ngoài hư vô”
(Ngọn nến - Nhã Ca )
Có người bị ám ảnh vì cái chết:
“Xưa chúng ta gặp nhau
Là sự đồng nhất trong cái chết
Như loại quạ đen vùng biển
Già nua và sâu thẳm những đêm sao
Rơi từng chiếc một, chiếc một ”
(Sự đồng nhất trông cái chết - Sao Trên Rừng )
Hoặc:
“Hôm qua tôi bỗng chết hai lần
Tẽ ngửa trên bờ dĩ vãng xanh
Hôm nay bỗng chết thêm lần nữa
Té sấp trên đường tương lai đen”
(Những trận chết - Đinh Trầm Ca)