Hiện tại, các xóm thuộc xã Đông Liên đa phần chưa nằm trong khu vực được cung cấp nước sạch của thành phố Thái Nguyên.Chính vì vậy, Đề tài luận văn: “Xây dựng mô hình quản lý môi trường
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỒNG LIÊN, HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỒNG LIÊN, HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Đỗ Thị Lan
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Thị Lan, giảng viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã ân cần chỉ bảo tận tình và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Cuối cùng em xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn
bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ em hoàn thành tốt việc học tập nghiên cứu của mình trong suốt quá trình học vừa qua
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Trương Thị Kiều Oanh
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Trước yêu cầu của thực tiễn sản xuất, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn vô cùng quan trọng đối với sinh viên trước khi ra trường, giúp cho sinh viên tiếp cận được với thực tiễn, vận dụng được những kiến thức đã học vào trong thực tế sản xuất, củng cố và nâng cao kiến thức cho mỗi sinh viên
Vì vậy, thực tập tốt nghiệp là phần không thể thiếu trong chương trình đào tạo của trường Đại học, giúp sinh viên nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao tay nghề, rèn luyện cho sinh viên tác phong làm việc, chuẩn bị đầy đủ hành trang trước khi ra trường
Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường và sự giúp đỡ tận tình của cô giáo PGS.TS Đỗ Thị Lan, tôi đã tiến hành ghiên cứu đề tài“Xây dựng mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng để đạt tiêu chí 17 xây dựng nông thôn mới tại
xã Đồng Liên, huyện Phú Bình Tỉnh Thái Nguyên.”
Trong thời gian thực tập tôi luôn tìm tòi học hỏi trau dồi kiến thức cho mình Song trình độ bản thân còn nhiều hạn chế, nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Sinh viên
Trương Thị Kiều Oanh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
PHẦN I 1
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
PHẦN 2 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 3
2.1.1 Quản lý và quản lý xã hội 3
2.1.2 Các phương thức quản lý 4
2.1.3 Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng 6
2.1.4 Các nguyên tắc trong quản lý môi trường dựa vào cộng đồng 8
2.2 TIÊU CHÍ 17 XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 9
2.2.1 Khái niệm nông thôn 9
2.2.2 Khái niệm nông thôn mới 9
2.2.3 Tiêu chí 17: Môi trường (01/11/2010) 9
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM 10
2.3.1 Cơ sở pháp lý của việc áp dụng mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 10
2.3.2 Cơ sở thực tiễn 11
2.3.3 Một số mô hình quản lý dựa vào cộng đồng trên thế giới 11
2.3.4 Các mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 12
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
Trang 63.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 16
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 16
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 16
3.2 Đặc điểm và thời gian nghiên cứu 16
3.2.1 Địa điểm 16
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 16
3.3 Nội dung nghiên cứu 16
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường cũng như nhận thức của người dân về vấn đề môi trường của xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 16
3.3.2 Nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng tại xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 16
3.3.3 Đánh giá những tồn tại, khó khăn, thuận lợi mà mô hình gặp phải và đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình 19 3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 20
3.4.2 Phương pháp kế thừa, tổng hợp, phân tích so sánh đánh giá 20
Kế thừa các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; Các số liệu quan trắc môi trường hàng năm của tỉnh Thái nguyên 20
3.4.3 Phương pháp thống kê số liệu: 20
3.4.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: 20
3.4.5 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm 20
PHẦN 4 22
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường cũng như nhận thức của người dân về vấn đề môi trường của xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 22
Trang 74.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Đồng Liên – huyện Phú Bình- tỉnh Thái
Nguyên 22
4.1.1.1 Vị trí địa lý 22
4.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội 24
4.1.3 Hiện trạng môi trường tại xã Đồng Liên 25
4.1.4 Kết quả điều tra, phân tích, thống kê về các vấn đề liên quan đến môi trường tại xã Đồng Liên 29
4.2 Nghiên cứu, đề xuất xây dựng mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng tại xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 37
4.2.1 Xác định mục tiêu của mô hình quản lý MT dựa vào cộng đồng 37
4.2.2 Tiến trình xây dựng mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng tại xã Đồng Liên 37
4.3 Những tồn tại, khó khăn, thuận lợi mà mô hình gặp phải và đề xuất giải pháp 40
4.3.1 Hiện trạng của mô hình quản lý cộng đồng tại xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 40
4.3.2 Thuận lợi của mô hình 40
4.3.3 Khó khăn mô hình gặp phải 40
PHẦN 5 KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Các thông số xử lý sau khi phân tích mẫu nước 23
Bảng 4.2 Vấn đề sử dụng nước sinh hoạt tại xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 26
Bảng 4.3: Tỷ lệ xử lý nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình 27
Bảng 4.4 Tỷ lệ các loại rác thải tạo ra trung bình một ngày 27
Bảng 4.5: Tỷ lệ hình thức đổ rác của các hộ gia đình 28
Bảng 4.6 Nhận thức của người dân về việc ô nhiễm môi trường có gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân theo trình độ học vấn 29
Bảng 4.7 Hiểu biết của người dân về việc ở Việt Nam có luật bảo vệ môi trường không theo nghề nghiệp 31
Bảng 4.8 Ông/bà nhận được thông tin VSMT từ nguồn nào? 32
Bảng 4.9.Gia đình có sử dụng các biện pháp bảo vệ môi trường 35
Bảng 4.10 Để môi trường trong lành hơn theo ông/bà cần phải làm gì? 36
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Tiến trình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng (CBEM)[5] 17
Hình 3.2 Sơ đồ xác định các chỉ tiêu mục tiêu[5] 18
Hình 4.1: Tỷ lệ phân loại rác thải trước khi vất bỏ 28
Hình 4.2: Có nên phân loại từng rác thải riêng biệt trước khi vứt bỏ ra ngoài không 30
Hình 4.3 Gia đình có nhận được thông tin về VSMT hay không? (nếu có bao lâu 1 lần) 32
Hình 4.4 Địa phương có thường xuyên ổ chức các chương trình VSMT không? (nếu có thì bao lâu 1 lần) 33
Hình 4.5 Sự hưởng ứng của người dân đối với các chương trình VSMT này 34
Hình 4.6 Ông/bà có được tham gia những hoạt động, cuộc thi nào về bảo vệ môi trường? 34
Hình 4.7.Nhà trẻ và trường cấp 1 ở địa phương đã có giáo dục BVMT chưa 35
Trang 10
CÁC TỪ VIẾT TẮT
- CN-TTCN : Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
- MHQLMT : Mô hình quản lý môi trường
Trang 11về vệ sinh môi trường chưa được dân tuân thủ nghiêm túc; chức năng, nhiệm vụ tổ chức và quản lý môi trường còn chưa được xát xao, thiếu các quy định đặc thù cho môi trường nông thôn mới Công tác quản lý môi trường tại khu vực nông thôn còn đang bị buông lỏng dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường khu vực nông thôn đang trở thành vấn đề bức xúc trong nhân dân, như: ô nhiễm môi trường đất nông nghiệp
do sử dụng các loại hóa chất bảo vệ thực vật; ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là nước ngầm, vấn đề về vệ sinh môi trường chưa đạt đúng yêu cầu Hiện tại, các xóm thuộc xã Đông Liên đa phần chưa nằm trong khu vực được cung cấp nước sạch của thành phố Thái Nguyên.Chính vì vậy, Đề tài luận văn: “Xây dựng mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng đểđạt tiêu chí 17 xây dựng nông thôn mới tại xãĐồng Liên, huyện Phú Bình Tỉnh Thái Nguyên.” là cần thiết, kết quả của đề tài sẽ rất hữu ích trong công tác quản lý môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, cũng như giúp chính bản thân tác giả là cán bộ quản lý môi trường của phòng Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Thái Nguyên có những định hướng nhằm nâng cao năng lực chuyên môn của bản thân đểđáp ứng được yêu cầu trong công tác quản lý môi trường của địa phương
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
a Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng và xây dựng mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng đểđạt tiêu chí 17 xây dựng nông thôn mới tại xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Trang 12b Mục tiêu cụ thể
- Đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý môi trường dựa vào cộng đồng
- Đánh giá hiện trạng môi trường cũng như nhận thức của người dân về một
số vấn đềô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường tại xã Đồng Liên, huyên Phú Bình
- Đề xuất mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng đạt tiêu chí nông thôn mới tại xã Đồng Liên, huyên Phú Bình
- Đánh giá những tồn tại, khó khăn, thuận lợi mà mô hình gặp phải vàđề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
- Áp dụng kiến thức đã học ở nhà trường vào thực tiễn;
- Nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học, kiến thức thực tế;
- Tích lũy kinh nghiệm cá nhân trong giải quyết công việc chuyên môn về công tác quản lý môi trường trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
2.1.1 Quản lý và quản lý xã hội
- Khái niệm quản lý
Quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ thống đó đến trạng thái cần đạt được Quản lý là một phạm trù xuất hiện trước khi có Nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành trên quy mô tương đối lớn đều cần có
sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung Một nhạc công tự điều khiển mình nhưng một dàn nhạc cần phải có nhạc trưởng”
Như vậy, quản lý xã hội không phải là sản phẩm của sự phân chia quyền lực,
mà là sản phẩm của sự phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp hoạt động chung của con người.[3]
- Khái niệm quản lý xã hội
Là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước, quản lý nhà nước
ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản
lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức
xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước) Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý.[4]
Trang 142.1.2 Các phương thức quản lý
- Phân cấp quản lý nhà nước
Hiện nay, có một số quan niệm khác nhau xung quanh khái niệm “phân cấp” Theo một số tác giả, phân cấp chính là phân quyền giữa trung ương và địa phương Phân cấp là phân ra, chia thành các cấp, các hạng Phân cấp có sự chuyển giao quyền lực quản lý xuống các cấp dưới để thực hiện cho sát dân và sát tình hình thực tiễn, đồng thời, để giảm bớt khối lượng cho cấp trên khỏi phải trực tiếp giải quyết những việc sự vụ Việc phân cấp phải gắn trách nhiệm với quyền hạn rõ ràng và bảo đảm tính thống nhất từ trung ương đến cơ sở Có quan niệm khác cho rằng, phân cấp có thể theo hai hướng: một hướng nằm ngang là sự phân chia căn cứ vào sự khác nhau của các công việc của một cấp; hướng nằm dọc (thẳng đứng) là sự phân chia theo cơ cấu thứ bậc công việc giữa các cấp khác nhau
Có ý kiến cho rằng, cần phân biệt “phân cấp quản lý” với một số khái niệm gần với nó là phân công, phân nhiệm, phân quyền vì “phân công và phân nhiệm đều
để chỉ sự xác định quyền hạn, trách nhiệm cả theo chiều ngang và chiều dọc Thông thường, người ta sử dụng khái niệm phân công để chỉ quan hệ theo chiều ngang với dụng ý phân biệt nó với phân cấp Nếu phân quyền được hiểu là phân giao quyền hạn cho một cơ quan hoặc một cấp chính quyền nào đấy thì thực ra sử dụng thuật ngữ phân công và phân cấp là đầy đủ và chính xác hơn”
Như vậy, cho đến nay, mặc dù được sử dụng một cách rộng rãi, song cách hiểu về phân cấp còn chưa hoàn toàn thống nhất
Dưới góc độ ngôn ngữ, “cấp” được hiểu là loại hạng trong một hệ thống (xếp theo trình độ cao thấp, trên dưới) Từ đó, phân cấp quản lý được cắt nghĩa là giao bớt một phần quyền quản lý cho cấp dưới, quy định nhiệm vụ và quyền hạn cho mỗi cấp Như vậy, ở đây có hai nội dung cần lưu ý là chuyển giao thẩm quyền cho cấp dưới và xác định thẩm quyền của mỗi cấp trong đó
Hiện nay, căn cứ vào cách phân chia đơn vị hành chính - lãnh thổ mà ở Việt Nam hình thành các cấp chính quyền: trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Phân cấp quản lý nhà nước, trước hết được hiểu là phân cấp giữa trung ương với chính quyền cấp tỉnh; đồng thời, còn bao hàm cả phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương với nhau
Theo các văn kiện của Đảng, phân cấp được tiến hành theo hướng “phân
Trang 15cấp rõ hơn cho địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ và trên cơ sở nguyên tắc “chính quyền trung ương quản lý tập trung một số lĩnh vực theo ngành dọc được xác định từ yêu cầu thực tế Đối với một số lĩnh vực khác, trung ương trực tiếp quản lý một phần, còn một phần phân cấp cho địa phương quản lý” Cũng với tinh thần đó mà hiện nay, phân cấp được hiểu là việc chuyển giao nhiệm vụ, thẩm quyền từ cơ quan quản lý nhà nước cấp trên xuống cơ quan quản lý cấp dưới nhằm đạt mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả quản lý
Việc chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn chỉ có thể được tiến hành một khi thẩm quyền và trách nhiệm của cấp chuyển giao và cấp được chuyển giao đã được xác định hết sức rõ ràng Vì vậy, bản thân khái niệm phân cấp phải hàm chứa trong
đó nội dung phân định thẩm quyền của từng cấp hay nói một cách khác, phân định thẩm quyền là tiền đề cho việc chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn (hoặc rộng hơn nữa, điều chỉnh khối lượng nhiệm vụ, quyền hạn cho phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế của mỗi cấp chính quyền)
Trên cơ sở những lập luận đó, có thể đưa ra khái niệm về phân cấp quản lý nhà nước như sau: Phân cấp quản lý nhà nước là sự phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa khối lượng và tính chất thẩm quyền với năng lực và điều kiện thực tế của từng cấp nhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước.[2]
- Quản lý dựa vào cộng đồng
Phương thức quản lý dựa vào cộng đồng là một tập hợp mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng; trong đó, cộng đồng là người đưa ra quyết định cuối cùng
về tất cả các vấn đề liên quan đến quá trình lập kế hoạch và triển khai thực hiện
Phương thức quản lý dựa vào cộng đồng có 5 cấp độ:
Cấp độ thông báo: Nhà nước ra quyết định, thông báo và hướng dẫn cộng đồng tham gia quản lý
Cấp độ tham vấn: Cộng đồng cung cấp thông tin, Nhà nước tham khảo ý kiến của cộng đồng để đưa ra quyết định, thông báo và hướng dẫn cộng đồng tham gia quản lý
Cấp độ cùng thực hiện: Cộng đồng có cơ hội và được phép tham gia thảo luận, góp ý kiến để đưa ra quyết định và được tham gia quản lý
Trang 16- Phương thức tự quản địa phương
Khái niệm “tự quản” theo nghĩa chung nhất là “tự mình trông coi, quản lý công việc, không cần có ai điều khiển” hoặc “là một phương thức quản lý mở rộng dân chủ trên những mức độ khác nhau Ở một cộng đồng lãnh thổ, chế độ tự quản thể hiện ở chỗ chính quyền địa phương tự quyết định công việc của địa phương Trong bất cứ trường hợp nào, chế độ tự quản cũng đặt dưới sự quản lý tập trung của cơ quan có thẩm quyền cấp trên và trong khuôn khổ pháp luật nhà nước” [4]
- Quản lý chất lượng toàn diện
Quản lý chất lượng toàn diện - TQM (Total Quality Management) là một phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại thành công dài hạn thông qua thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty và xã hội
đã được nhiều doanh nghiệp ở Mỹ áp dụng Các doanh nghiệp áp dụng triết lý TQM
và kỹ thuật để cải tiến liên tục trên tất cả các hoạt động của mình, bằng cách tìm ra các nguyên nhân của việc kém chất lượng, và thực hiện các phương pháp để làm giảm hoặc loại trừ chúng[4]
2.1.3 Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng
- Quản lý môi trường
Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý môi trường Theo một số tác giả, thuật ngữ về quản lý môi trường bao gồm hai nội dung chính: quản
lý Nhà nước về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, khu vực dân cư về môi trường Trong đó, nội dung thứ hai có mục tiêu chủ yếu là tăng cường hiệu quả
Trang 17của hệ thống sản xuất (hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000) và bảo vệ sức khỏe của người lao động, dân cư sống trong khu vực chịu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất
Phân tích một số định nghĩa, có thể thấy quản lý môi trường có 3 khía cạnh: tổng hợp các biện pháp tiếp cận hệ thống thích hợp, tác động và điều chỉnh các hoạt động của con người, với mục đích chính là giữ cân bằng quan hệ giữa môi trường
và phát triển, giữa nhu cầu của con người và chất lượng môi trường, giữa hiện tại và khả năng chịu đựng của trái đất - “Phát triển bền vững”
Từ đó, có thể tạm thời nêu ra một định nghĩa tóm tắt sau: Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xã hội, văn hoá, giáo dục, v.v Các biện pháp này
có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt
ra Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình, v.v [3]
- Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng (Community – Based Environment
Manager – CBEM)
Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng là lấy cộng đồng làm trọng tâm trong việc quản lý môi trường Đưa cộng đồng tham gia trực tiếp vào hệ thống quản lý môi trường, họ trực tiếp tham gia trong nhiều cộng đoạn của quá trình quản lý, từ khâu bàn bạc ban đầu tới việc lên kế hoạch thực hiện, triển khai các hoạt động và nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện
- Phạm vi áp dụng: Sự tham gia của cộng đồng rất đa dạng và phụ thuộc vào
bối cảnh địa phương, quy mô của cộng đồng, luật pháp nhà nước, thể chế và năng lực địa phương Mô hình này có thể xác lập dưới dạng hương ước bảo vệ môi trường ở làng xã, khu phố văn hóa
- Ưu điểm của MHQLMT dựa vào cộng đồng: công tác QLMT tập trung vào
Trang 18một cộng đồng cụ thể, không chịu tác động ảnh hưởng từ những cộng đồng khác; phát huy được tính tích cực của tập thể để tạo nên sức mạnh; cộng đồng được giáo dục kiến thức về BVMT có nhận thức tương đối đồng đều; quyền lợi và sinh kế của cộng đồng được đảm bảo; cơ quan QLMT thực hiện tốt chức năng định hướng tổ chức, kiểm soát và xử lý tình huống nhanh nhạy, chính xác; dễ nhận được sự hỗ trợ
về kinh phí cũng như khoa học công nghệ từ các tổ chức tài trợ tương ứng; chi phí quản lý thấp
- Nhược điểm: truyền đạt và xử lý thông tin chậm và dễ bị nhiễu loạn; tư duy, hành động chậm và thiếu sự kiên quyết, nhất quán
- Vai trò của cộng đồng trong quản lý môi trường
Một trong chín nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững là: Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình
Sự tham gia của người dân sẽ góp phần điều tiết trong sử dụng nguồn lực đảm bảo tính bền vững trong quản lý môi trường, tài nguyên được sử dụng hiệu quả nhất khi biết vận dụng kiến thức của người dân và huy động các nguồn lức sẵn có trong cộng đồng vào việc làm kinh tế, từ đó tạo cơ hội tăng thêm thu nhập cho người dân
Sự tham gia của cộng đồng cũng sẽ đảm bảo giám sát và đánh giá các chương trình liên quan đến quản lý tổng hợp, duy trì được các hoạt động thông qua hợp tác trong cộng đồng và thể chế hóa sự tham gia của cộng đồng Những dự án từ khi bắt đầu đến khi vận hành đều phải gắn với môi trường dân cư trong vùng, người dân trong vùng là người hiểu rõ nhất những này sinh, những hiện tượng khi dự án hoạt động
Họ sẽ là người đưa ra những đánh giá trung thực nhất, sát sao nhất về dự án qua đó đánh giá được thực chất của dự án[4]
2.1.4 Các nguyên tắc trong quản lý môi trường dựa vào cộng đồng
Nguyên tắc: Xác định ranh giới rõ ràng
- Xác định ranh giới địa lý của khu vực triển khai mô hình
- Xác định rõ ràng trách nhiệm cụ thể tới từng cá nhân, đối tượng
- Các vấn đề môi trường cần quan tâm
- Xác định nguyên nhân, nguồn gốc của các vấn đề môi trường
Nguyên tắc: Cân đối giữa chi phí và lợi ích
Trang 19- Gắn kết mục tiêu quản lý môi trường với tăng thu nhập của người dân
Nguyên tắc: Người dân được tham gia trong toàn bộ tiến trình thực hiện
- Cộng đồng dân cư được phép và được khuyến khích tham gia ý kiến trong các cuộc thảo luận
- Cộng đồng dân cư được phép tham gia giám sát đối với hệ thống quản lý cấp trên, giám sát đối tượng quản lý và giám sát nhau
Nguyên tắc: Thưởng phạt rõ ràng
- Những cá nhân có hành vi vi phạm sẽ bị phạt, còn nếu lập công sẽ có thưởng
và nếu không tham gia sẽ bị loại khỏi hoạt động của dự án
Nguyên tắc: Công nhận quyền tối thiểu đối với các tổ chức
2.2 TIÊU CHÍ 17 XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
2.2.1 Khái niệm nông thôn
Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã
Nông thôn Việt Nam hiện nay có khoảng 70% dân số sinh sống
2.2.2 Khái niệm nông thôn mới
Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức về nông thôn mới Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn, thì nông thôn mới được hiểu là:
- Có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại
- Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch
- Xã hội – nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc
- Dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ
- Hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường
2.2.3 Tiêu chí 17: Môi trường (01/11/2010)
17.1 Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia 17.2 Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi trường
Trang 2017.3 Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp
17.4 Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch
17.5 Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM
2.3.1 Cơ sở pháp lý của việc áp dụng mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng ở Việt Nam
- Luật Bảo vệ môi trường số ký hiệu 55/2014/QH13 ban hành ngày 01/07/2014
- Nghị quyết 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Nghị định số 80/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 21/NĐ-CP ngày 28/2/2008 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường;
- Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05/9/2012 của Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020
- Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 04 năm 2011 của Chính phủ về quy định đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
- Quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đề
án bảo vệ môi trường chi tiết; lập và đăng ký đề án bảo vệ môi trường đơn giản ban hành ngày 05/02/2013
- Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 21- Nghị định số 75/2009/NĐ-CP ngày 10/9/2009 của Chính phủ sửa đổi Điều 3 Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 của Chính phủ
- Thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17/06/2009 về chất lượng nước sinh hoạt
- Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011 quy định bảo vệ môi trường làng nghề
- Thông tư số 47/2011/TT-BTNMT ngày 28/12/2011 quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
Nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2014
2.3.3 Một số mô hình quản lý dựa vào cộng đồng trên thế giới
Mỹ là quốc gia tiên phong trong việc áp dụng quản lý tổng hợp biển và vùng ven biển Luật Quản lý Vùng Ven biển (CZMA) được Mỹ thông qua năm 1972 nhằm tăng cường sự tham gia và phối hợp của các bên liên quan trong việc đưa ra các chương trình liên quan đến vùng ven biển và cân bằng giữa các nhóm cạnh tranh về lợi ích ở vùng ven biển Để thực hiện CZMA, chính phủ liên bang cung cấp
hỗ trợ tài chính cho các bang xây dựng và duy trì các chương trình quản lý vùng ven biển Vụ Quản lý Tài nguyên Vùng Ven biển&Đại dương thuộc Tổng cục Khí quyển&Đại dương Quốc gia Mỹ chịu trách nhiệm đánh giá các chương trình quản
lý vùng ven biển của các bang Chính phủ khuyến khích công chúng tham gia và góp ý vào quá trình đánh giá này nhằm đảm bảo các bang thực hiện các chương trình một cách hiệu quả nhất Vụ Quản lý Tài nguyên Vùng Ven biển&Đại dương cũng đã xây dựng và thực hiện một số công cụ đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý
Trang 22vùng ven biển như quy hoạch chiến lược, hệ thống đánh giá việc thực hiện CZMA, sáng tạo về hiệu quả quản lý các khu bảo tồn biển.[13]
2.3.4 Các mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng ở Việt Nam
a Dự án Phát triển bền vững dựa vào cộng đồng KV ven đô ở Việt Nam
Đơn vị phối hợp
- Danida: Đơn vị hỗ trợ về tài chính
- OVE: Tổ chức năng lượng bền vững Đan Mạch chịu trách nhiệm điều phối chung dự án và chịu trách nhiệm tư vấn quốc tế về kết quả thực hiện
- SCODE : Trung tâm phát triển cộng đồng bền vững là đơn vị đứng đầu trong nhóm quản lý dự án (nhóm quản lý gồm SCODE, ENERTEAM, OVE), chịu trách nhiệm đảm bảo dự án được thực hiện đúng tiến độ
- ENERTEAM: Trung tâm nghiên cứu và phát triển về tiết kiệm năng lượng chịu trách nhiệm cung cấp chuyên gia và phụ trách về công nghệ trong dự án
Kết quả thực hiện
- Cộng đồng và cán bộ quản lý môi trường tại một 4 xã ở Hà Nam và 2 xã ở Thái Nguyên được nâng cao nhận thức trong việc nhận dạng các vấn đề về quản lý môi trường, tài nguyên thiên nhiên như nước thải, nước sạch, rác thải, cũng như các vấn đề về sinh kế bền vững
- Huy động được sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc ra quyết định về quản lý môi trường Tính tới thời điểm hiện tại thông qua sự hỗ trợ của ban quản lý dự án, cộng đồng và chính quyền địa phương đã huy động sự tham gia của người dân cùng nhau xây dựng các công trình hệ thống thoát nước, hệ thống xử lý nước thải làng nghề tại 2 làng nghề bún miến Bích Trì và làng nghề thêu ren An Hòa,…
- Hình thành thói quen cho các cấp chính quyền trước khi ra quyết định có lồng ghép các vấn đề về môi trường dựa trên các yêu cầu luật định
- Dự án đã tiến hành hỗ trợ và xây dựng 29 bể nước mưa, 17 giếng khoan bể lọc, 25 nhà vệ sinh với tổng mức hỗ trợ lên đến 148 triệu đồng
- Xây dựng và vận hành bãi trung chuyển rác tại thôn Dương Xá dựa vào cộng đồng địa phương Dự án đang từng bước hình thành mô hình “ngân hàng rác” nhằm mục tiêu giảm thiểu lượng rác phải đi đến bãi chôn lấp đồng thời nâng cao khả năng tái sử dụng tái chế lượng rác thải phát sinh tại các hộ gia đình
Trang 23- Xây dựng và vận hành thành công 2 mô hình giảm thiểu ô nhiễm nước thải phát sinh tại 2 làng nghề sản xuất bún miến và làng nghề thêu ren
- Xây dựng các mô hình phân loại rác và sản xuất phân vi sinh tại các hộ giađình
Dự án đã tiến hành ủ 400 tấn phân vi sinh tại các địa phương và tiến hành thử nghiệm thành công sản phẩm phân vi sinh trên các ruộng lúa với kết quả tăng sản lượng từ 200 kg/sào -240 kg/sào.[8]
b Mô hình quản lý bảo vệ nguồn lợi biển dựa vào cộng đồng xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Quảng Ngãi hiện có 26 xã ven biển và hải đảo, tình hình khai thác quá mức tài nguyên biển ngày càng trầm trọng hơn, môi trường biển ngày càng bị ô nhiễm, Nhà nước đã và đang thực hiện nhiều biện pháp quản lý nhưng vẫn không ngăn chặn được Phương thức quản lý dựa vào cộng đồng đã được nhiều nước trên thế giới và một số nơi trong nước áp dụng để quản lý tài nguyên và môi trường biển rất hiệu quả
Cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Quảng Ngãi có đặc điểm là sinh sống tập trung ở những vùng giàu tài nguyên, với mật độ dân cư rất cao; bắt đầu nhận thức
về vai trò của việc bảo vệ tài nguyên và môi trường biển Bức xúc trước tình trạng phá hủy các rạn san hô, khai thác quá mức các thảm cỏ biển, đánh bắt hải sản bằng thuốc nổ và các dụng cụ mang tính hủy diệt; một số người dân đã đề nghị Nhà nước tạo điều kiện, hỗ trợ để họ hình thành các tổ chức tự quản để bảo vệ tài nguyên và môi trường biển trong thôn, xóm của họ; điển hình là bà con nhân dân thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu đã tìm đến Sở Tài nguyên và Môi trường để đề đạt nguyện vọng Chi cục Biển và Hải đảo đã tìm hiểu tình hình thực tế, nắm bắt nguyện vọng của bà con và làm việc với UBND xã Bình Châu để thống nhất chủ trương, hướng dẫn, hỗ trợ nhân dân thôn Châu Thuận Biển thành lập Tổ tự quản bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, đây là một tổ chức quản lý dựa vào cộng đồng; và xác định đây là tổ chức điển hình để nhân rộng ra cả 5 thôn ven biển của
xã Bình Châu và các địa phương ven biển khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Cơ cấu tổ chức của Tổ tự quản bảo vệ tài nguyên và môi trường biển thôn Châu Thuận Biển gồm Trưởng thôn làm Tổ trưởng; một quần chúng nhân dân ưu tú
Trang 24là tổ phó, đại diện các tổ chức (UBMTTQ, Phụ nữ, Thanh niên, cựu chiến binh…)
và một số quần chúng nhân dân làm tổ viên Trình tự thành lập gồm 5 bước:
Bước 1: Quân dân chính đảng thôn tìm hiểu tình hình thực tế và nguyện vọng của quần chúng nhân dân, khi nhận thấy việc thành lập tổ tự quản là cần thiết, tiến hành họp quân dân chính đảng để thống nhất kế hoạch vận động thành lập tổ;
Bước 2: Trưởng thôn báo cáo với UBND xã và các cơ quan chức năng khác (như Chi cục Biển và Hải đảo, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản…)
để xin chủ trương, nhận sự hỗ trợ và hướng dẫn;
Bước 3: Thôn trưởng tổ chức cuộc họp thành lập Tổ tự quản và bàn về quy chế hoạt động của tổ tự quản, có sự tham dự của đại diện Chi bộ đảng, các hội đoàn thể có liên quan;
Bước 4: Thôn trưởng trình UBND xã để quyết định công nhận tổ tự quản và ban hành quy chế hoạt động của tổ tự quản;
Bước 5: Tổ chức lễ ra mắt tổ tự quản và triển khai kế hoạch hoạt động
Quản lý tài nguyên và môi trường biển dựa vào cộng đồng là một phương thức quản lý hiệu quả, ít tốn kém; nếu được áp dụng rộng rãi tại các địa phương ven biển thì nhất định tài nguyên và môi trường biển sẽ được bảo vệ tốt hơn.[9]
c Mô hình quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Trước năm 1990, việc khai thác lâm sản từ rừng diễn ra khá thường xuyên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự suy giảm đa dạng sinh học, phá vỡ cảnh quan của khu vực rừng Cấm thuộc địa bàn xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuy nhiên, từ sau năm 1990, UBND xã Thi Sơn đã xây dựng quy định quản lý rừng Cấm
và thực hiện công tác tuyên truyền bảo vệ rừng; sử dụng nguồn kinh phí địa phương
để hỗ trợ công tác quản lý rừng, đồng thời, chịu trách nhiệm điều hành các đơn vị,
tổ chức của xã phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm huyện Kim Bảng, cơ quan chịu trách nhiệm quản lý diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện cũng thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương xã Thi Sơn
có các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng Việc quản lý rừng được UBND xã giao cho Hội Cựu chiến binh trực tiếp triển khai Ban Quản lý gồm 5 thành viên có nhiệm vụ
Trang 25gìn giữ, bảo vệ rừng và khu di tích, kiêm nhiệm hoạt động hướng dẫn khách tham quan các động trong núi Ngoài ra, Ban Quản lý cũng tổ chức tuyên truyền cho cộng đồng địa phương từ nguồn vốn sự nghiệp lâm nghiệp, công tác bảo vệ rừng Chính
vì vậy, đến nay rừng đã được khôi phục và tái sinh tự nhiên trong điều kiện được quản lý và bảo vệ bởi chính cộng đồng địa phương Người dân không còn chặt phá rừng mà đã trở thành "tai, mắt" phát hiện các đối tượng khai thác hoặc xâm phạm trái phép các sản phẩm của rừng để báo cho Ban Quản lý và Công an xã kịp thời ngăn chặn Đồng thời, họ còn tham gia tích cực trong việc giám sát và phòng chống cháy rừng Trong ý thức của người dân Thi Sơn, rừng Cấm không chỉ là rừng thông thường mà là khu tâm linh quan trọng của địa phương Vì vậy, việc chặt phá hay xâm phạm tài nguyên rừng đã không còn hoặc rất hiếm khi xảy ra.[10]
Trang 26PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG,PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hiện trạng môi trường tại xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng tại xã
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Đặc điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm
Xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 6/ 2014 đến tháng 3/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường cũng như nhận thức của người dân về vấn đề môi trường của xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
-Đặc điểm tự nhiên
- Điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường
- Nhận thức của người dân về các vấn đề về ô nhiễm môi trường của xã
3.3.2 Nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng tại
xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Trang 27Hình 3.1 Tiến trình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng (CBEM)[5]
- Xác định các thách thức của cộng đồng: xác định các vấn đề ưu tiên, tìm kiếm các giải pháp để xây dựng sự đồng thuận rộng rãi trong cộng đồng
Các đối tác cam kết: Hành động
Nguồn lực Lịch trình Biện pháp
Trang 28- Chỉ định người triệu tập: là việc chọn người triệu tập, bằng việc đưa ra các câu hỏi sau cho nhóm cộng đồng trả lời
1 Ai là người trong cộng đồng có thể tham gia với vai trò là người triệu tập?
2 Ai có được sự hỗ trợ từ địa phương, có mối liên quan tới quản lý nhà nước
để bênh vực cho dự án?
3 Ai có thể đóng vai trò lãnh đạo, có kỹ năng điều phối và biểu lộ sự tập trung?
4 Ai có thể tham gia đủ thời gian?
5 Chính quyền có bằng lòng bổ nhiệm người triệu tập không? Trong ví dụ này, với 5 câu hỏi trên, người nhận được câu trả lời tốt nhiều nhất, được lựa chọn là người triệu tập của dự án
- Xây dựng nhóm cộng đồng: Nhóm cộng đồng bao gồm các thành phần sau: Nhà tài trợ; Người triệu tập/nhà lãnh đạo; Nhóm trung lập
- Xây dựng sự nhất trí: Sự nhất trí được duy trì trên nguyên tắc hoạt động là công bằng, cởi mở và tin tưởng lẫn nhau
- Đề ra các mục tiêu: Việc đề ra các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường nhằm giúp dự án xác định rõ kết quả đạt được về từng lĩnh vực cụ thể là như thế nào
- Xây dựng các giải pháp tích hợp: Chúng bao gồm các bước chính sau: + Xác định các hoạt động của dự án
2 Kinh tế
3 Xã hội
Chỉ tiêu 1.1 Chỉ tiêu 1.2 Chỉ tiêu 2.1 Chỉ tiêu 2.1 Chỉ tiêu 3.1 Chỉ tiêu 3.1
Bước 2 Đối với mỗi mục tiêu, trình bày rõ từng loại chi tiêu
Bước 3 Sử dụng bảng danh sách các mục tiêu và chỉ tiêu
để truyền đạt những lợi ích đếna cộng đồng và các đối tác
Trang 29+ Lên khung thời gian
+ Phân công trách nhiệm
- Ký kết thỏa thuận: Việc ký kết thỏa thuận áp dụng sau hội thảo lập kế hoạch hành động nhằm mục đích dẫn chứng - bằng văn bản - các vai trò và sự giao phó cho mỗi đối tác chủ yếu có liên quan tới quy trình CBEM
Quy trình thực hiện ký kết thỏa thuận có thể bao gồm các bước:
1) Người triệu tập xác nhận lại các đối tác chủ yếu đã ký tên vào bảng công bố; 2) Điều phối viên dự án chuẩn bị bản công bố và thu thập ý kiến tán thành của từng thành viên, nhóm;
3) Người triệu tập họp các đối tác để cùng nhau ký thỏa thuận chính thức Bản ký kết sẽ diễn đạt tất cả các thông tin cần thiết để thuyết phục và dẫn chứng sự thỏa thuận mà các đối tác đạt được trong việc thực hiện mô hình CBEM
- Thực hiện dự án: Thực hiện dự án là quá trình triển khai các kế hoạch đã lập ra trong các hội thảo trước đó dựa trên sự đóng góp của các bên theo thỏa thuận Như vậy để triển khai thành công mô hình cần chú ý tới các vấn đề:
+ Cần xác định rõ vấn đề môi trường cần giải quyết
+ Lựa chọn được công cụ phù hợp, dưới cái nhìn toàn diện
+ Trong quá trình thực hiện cần sự điều chỉnh linh hoạt và phối hợp tốt giữa các đối tác
+ Đạt được các cam kết của các bên liên quan, cần thiết trong phối hợp giữa chính quyền và nhân dân
+ Cần xác định rõ vai trò của người đầu tàu trong dự án CBEM: Người đầu tàu phải được chỉ định bởi chính quyền và có uy tín trong cộng đồng[6]
- Xác định mục tiêu của mô hình quản lý mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng
- Tiến trình xây dựng mô hình quản lý mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng tại xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
3.3.3 Đánh giá những tồn tại, khó khăn, thuận lợi mà mô hình gặp phải và đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình
- Hiện trạng mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng tại xã
Trang 30- Thuận lợi của mô hình
- Khó khăn mô hình gặp phải
- Đề xuất giải pháp
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
* Số liệu thứ cấp:
- Báo cáo hiện trạng môi trường của tỉnh Thái Nguyên các năm gần đây
- Các báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên những năm gần đây
* Số liệu sơ cấp
- Điều tra, phỏng vấn bằng Phiếu điều tra với các đối tượng như sau:
+ 40 Phiếu điều tra đối với các hộ gia đình trong 10 xóm của xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
3.4.2 Phương pháp kế thừa, tổng hợp, phân tích so sánh đánh giá
Kế thừa các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; Các số liệu quan trắc môi trường hàng năm của tỉnh Thái nguyên
3.4.3 Phương pháp thống kê số liệu:
Từ các thông tin của 60 Phiếu điều tra cho các đối tượng khác nhau sẽ nhập
số liệu và xử lý số liệu trên Excel
3.4.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo:
Từ các số liệu đã được thống kê, xử lý và phân tích số liệu xin ý kiến các chuyên gia để đưa ra nhận định về công tác quản lý môi trường trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, nguyên nhân tồn tại và đề xuất các giải pháp để làm tốt hơn công tác quản lý môi trường trong thời gian tới
3.4.5 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm
* PP phân tích
-Lấy ngẫu nhiênmẫu nước ngầm tại giếng đào, hoặc giếng khoan
* Cách lấy mẫu : lấy mẫu trực tiếp từ vòi bơm từ giếng lên, không lấy qua
bể chứa nước.Đánh dấu tên mẫu, vận chuyển về phòng thí nghiệm
* PP bảo quản: Bảo quản trong chai nhựa sạch, có nắp đậy
Trang 31* PP phân tích: Tiến hành phân tích các chỉ tiêu: pH, độ cứng , DO, NO3- ,
Fe, PO43-,
Tùy theo các chỉ tiêu phân tích mà dùng các phương pháp khác nhau như:
pH, DO dùng máy đo đa chỉ tiêu, Độ cứng dùng phương pháp chuẩn độ, Fe dùng phương pháp khử Sắt bằng AgNO3,
- Đem kết quả phân tích so sánh với QCVN09:2008/BTNMT rồi đưa ra kết luận
- Lấy 1 mẫu nước mặt tại sông nằm trên địa bàn xã
* Cách lấy mẫu: Lấy mẫu ở giữa dòng bằng chai, lọ, hướng miệng chai về
phía ngược dòng, đóng lắp vận chuyển về phòng thí nghiệm
* PP bảo quản: Bảo quản bằng chai lọ sạch
* PP phân tích: Tiến hành phân tích các chỉ tiêu:pH, DO, nhiệt độ, COD,
EC, độ cứng, TDS, TSS, No3−, PO43- tại phòng thí nghiệm trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tùy theo các chỉ tiêu phân tích mà dùng các phương pháp khác nhau như:
pH, DO dùng máy đo đa chỉ tiêu, Độ cứng dùng phương pháp chuẩn độ
- Đem kết quả phân tích so sánh với QCVN08:2008/BTNMT rồi đưa ra kết luận