Nghiên cứu về báo chí trên thế giới Báo chí ra đời từ khá sớm và để tổng thuật về tình hình nghiên cứu về báochí trên thế giới, chúng tôi sẽ lần lượt tổng quan về thành tựu nghiên cứu ở
Trang 11 Dẫn nhập 2
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
2.1 Tình hình nghiên cứu về báo chí 2
2.1.1 Nghiên cứu về báo chí trên thế giới 2
2.1.2 Nghiên cứu về báo chí ở Việt Nam 6
2.2 Tình hình nghiên cứu về phân tích diễn ngôn 9
2.2.1 Nghiên cứu về phân tích diễn ngôn trên thế giới 9
2.2.2 Nghiên cứu về phân tích diễn ngôn ở Việt Nam 12
3 Hướng triển khai đề tài 14
3.1 Vài nét về cơ sở lí luận của đề tài 14
3.1.1 Diễn ngôn 14
3.1.2 Thể loại chính luận 18
3.2 Cấu trúc của đề tài 21
4 Kết luận 23
Trang 22 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn chính luận tiếng Việt (So sánh với diễn ngôn chính luận tiếng Anh)
2.1 Tình hình nghiên cứu về báo chí
Lịch sử báo chí đã chỉ ra rằng báo chí xuất hiện là do nhu cầu thông tinkinh tế của con người Điều dễ nhận thấy là rất nhiều các tác phẩm được đăngtải trên báo và tạp chí có sử dụng văn chính luận Tùy theo những trường hợp cụthể mà nhà báo dùng những hình thức và phương pháp khác nhau của văn chínhluận để phản ánh Chính vì thế, trong phần tổng quan này, chúng tôi đặt ra mộtphạm vi điểm luận rộng hơn thể loại chính luận là những nghiên cứu về báo chínói chung để có một cái nhìn toàn diện nhất
2.1.1 Nghiên cứu về báo chí trên thế giới
Báo chí ra đời từ khá sớm và để tổng thuật về tình hình nghiên cứu về báochí trên thế giới, chúng tôi sẽ lần lượt tổng quan về thành tựu nghiên cứu ở một
số nước Tây Âu như Mĩ, Anh,…
Ở Mĩ, trong giai đoạn sơ khởi, những nghiên cứu về báo chí tập trung vàohướng phân tích việc đưa tin tức, công tác tổ chức của báo chí và truyền hình, sự
Trang 3kiểm soát đối với báo chí Cụ thể là: Theo Van Dijk (1988), từ những năm 1960của thế kỉ XX, những nghiên cứu khởi thủy là công trình ghi chép của các nhàbáo, họ nói về kinh nghiệm bản thân hoặc tường thuật những sự kiển nổi bậttrong đời sống xã hội như chiến dịch tranh cử tổng thống, những cuộc bạo loạn
về chủng tộc,… Rosenblum (1981) đưa ra cách viết tin, cách đưa tin trên báo
chí Năm 1978, nhóm News Study Group của học viện MIT đã quay video và
phân tích hơn 600 giờ phát sóng tin tức truyền hình Nghiên cứu của nhóm nàytập trung vào các vấn đề chính trị, ví dụ như làm thế nào để đưa tin về cuộc chạyđua vào nhà trắng của các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử tồng thống Hoa Kìhay vai trò của các biên tập viên truyền hình hoặc cách các chương trình truyền
hình thu hút khán giả Cuối cùng, nghiên cứu của nhóm News Study Group nhấn
mạnh đến trách nhiệm của báo chí và việc cần thiết phải có sự kiểm duyệt đối
với báo chí Về sau, các nghiên cứu của nhóm News Study Group được tập trung trong cuốn Abel E (Ed), (1981), What’s news: The media in American Society,
Institute for Contemporary Studies.S Francisco Epstein (1973, 1975) nghiêncứu các chương trình truyền hình thực tế của kênh NBC nhằm tìm hiểu cách tintức lệ thuộc không những vào sự kiện mà còn vào cơ cấu sản xuất tin Gans(1979) đặt trọng tâm nghiên cứu là công việc thường nhật của báo chí và cácquy định khi đưa tin trên báo chí Bên cạnh đó, những tác giả như Barent (1978),Abel (1981), Altheide (1974), Cirino (1971) lại tập trung vào việc các tin tứcđưa ra đã bị bóp méo hoặc sai lệch so với thực tế như thế nào
Cùng với sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, nghiêncứu về báo chí ở Mĩ tập trung vào các hướng như: những vấn đề xuất phát từ đờisống chính chị xã hội; lập trường tư tưởng chính chị của các tác giả ví dụ nhưthái độ phê phán thực trạng báo chí, những thiên lệch khi đưa tin, những đề xuấtcải tiến báo chí xuất phát từ quan điểm nhân văn và quyền lợi công dân haytrách nhiệm của báo chí Cụ thể là: Tuchman (1978) là một nữ nhà báo, bà đềxuất việc sản xuất tin theo hướng nhân chủng học, có nghĩa là những tin tức đưa
Trang 4trên báo chí có thể đúng hoặc hơi thiên lệch nhưng phải tạo thành một thói quentheo dõi tin tức của công chúng Các phóng viên được xây dựng thành một mạnglưới để săn tin và được phân loại theo nhóm ví dụ tin chính trị, tin giáo dục,…
Fishman (1980), trong công trình Manufacturing the news, University of Texas Press, Austin nhấn mạnh đến việc “Theo dõi các diễn tiến, diễn dịch
chúng thành những sự kiện có ý nghĩa, điều tra bản chất sự thật của chúng vàráp nối chúng thành những sự kiện có ý nghĩa, nối kết chúng thành những câuchuyện” (tr 16)
Vào năm 2003, tại Hội nghị hàng năm của Hiệp hội giáo dục về báo chí
và truyền thông đại chúng lần thứ 86 đã tập trung rất nhiều chuyên đề xoayquanh các vấn đề như: sự quan tâm của độc giả đến báo chí, các bài xã luận, vaitrò giáo dục của báo chí,…Hội nghị này đã đánh dấu sự phát triển toàn diện củabáo chí Mĩ
Ở Anh, hầu hết các nghiên cứu về báo chí để tập trung xung quanh vấn đềchính trị xã hội Van Dijk cho rằng phần lớn các công trình nghiên cứu về báochí ở Anh chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa mác xít như ở Pháp; đồng thời chútrọng đến tính giai cấp, ví dụ như những tin tức trên báo chí gắn liền với cuộcđấu tranh giai cấp,…Mặc dù không phải tất cả những nhà xã hội học của ngườiAnh đều mang tính mác xít, chẳng hạn những trung tâm quan trọng nhưLeicester, Birmingham, Glasgow, London có những quan điểm và tư tưởngkhông đồng nhất nhưng tựu chung lại, xu hướng chung của hướng nghiên cứubáo chí Anh là như thế
Một công trình nghiên cứu có tính chính trị sâu sắc của nhóm Leicester(1970) với các học giả tiêu biểu như Halleran, Elliott, Murdock đã làm một cuộckhảo sát các loại bài báo như tin, phóng sự, xoay quanh cuộc biểu tình lớn ởLondon về việc chống lại cuộc xâm lược của Hoa Kì ở Việt Nam Cohen (1980)cũng nghiên cứu về các bài báo chí về cuộc bạo động của những kẻ Mods vàRockers ở Anh trong thập niên 60 của thế kỉ XX, sau đó ông kết luận về vai trò
Trang 5của phương tiện truyền thông trong việc đưa tin đến nhân dân, tác động đến tưtưởng, đạo đức của con người Có thể kể đến những tác giả đã đặt nền móng choviệc nghiên cứu về các phương tiện truyền thông ở nước Anh trong thập niên 70của thế kỉ XX là Chibnall, Hall, Murdock, Cohen, Young, Morley, Husband,…
và các nghiên cứu được tập trung trong cuốn Do it yourself Trong công trình
này, các học giả đưa ra các quy định về việc chọn lọc tin, những tin nào có thểđưa và những tin nào không nên đưa; những phạm trù và mô hình đạo đức củanghề báo; những chủ đề chính được đưa lên trên báo chí Tóm lại, công trìnhnày ghi dấu ở quan điểm cơ bản là: phương tiện truyền thông không phải là một
kẻ trung gian trong việc phản ánh đời sống xã hội mà cần tỉnh táo trước các sựkiện để đưa tin Báo chí chính là một phương tiện hữu ích trong việc củng cố các
ý thức hệ xã hội đã có trước đó
Vào thập niên 80 của thế kỉ XX, nhóm Glasgow University Media Groupnghiên cứu về tin xấu trên báo chí Tin xấu được hiểu là những thông tin mangtính tiêu cực trong đời sống ví dụ như những cuộc đình công, những tranh chấptrong công nghiệp,…Thông qua việc nghiên cứu các nội dung được phát sóngtrong chương trình thời sự, nhóm nghiên cứu đưa ra nhận định rằng, nội dungcủa thông tin quyết định độ dài của tin được đưa, trong đó những tin tức thể hiệnquan điểm của giới công nhân ít được chú trọng Cho nên những cuộc đình côngchỉ được nêu như là một trở ngại, khó khăn trong công chúng Cũng ở thập niên
80 này, nhóm Glasgow University Media Group cũng chú ý nghiên cứu nhiềuhơn đến vấn đề văn bản của báo chí Điều này cho thấy những nghiên cứu củanhóm đã bắt đầu đi vào các chi tiết cấu trúc diễn ngôn tin và quá trình sản xuấtđưa tin trên báo chí Hướng tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học khi nói đến tinđược tập trung trong các công trình của Flowler, Hodge, Kress&Trew (1979).Thông qua việc phân tích những sự cố trong lễ hội của người Tây Ấn ở London,các tác giả chỉ ra rằng chính cú pháp trong văn bản tin đã thể hiện các hành độngtích cực hay tiêu cực Harley (1981) đưa ra hướng tiếp cân từ góc độ kí hiệu học
Trang 6đối với tin tức trên báo chí thông qua việc nghiên cứu ngôn ngữ, hình ảnh trêntruyền hình và các phương tiện truyền thông Sau này VanDicjjk đã tiếp nối
những nghiên cứu này qua các công trình như News as Discourse (1987) và News Analysis: case studies of International anh national News, in the Press (1988) Fowler (2005) với công trình Language in the news đặc biệt chú ý
nghiên cứu ngôn ngữ và vai trò của diễn ngôn trên báo chí
Đối với các nước Tây Âu, Van Dijk đã đánh giá cao những nghiên cứutrước đây ở Tây Đức Ông cho rằng hướng tiếp cận của những ngiên cứu về báochí Đức gần với Anh và ngoài các phân tích về thuật ngữ, về các hàm ngôn kinh
tế xã hội người Đức còn chú trọng đến cả ý thức hệ của báo chí Có thể kể đếnmột số tác giả tiêu biểu như STrassner (1975) nghiên cứu bản chất liên ngànhcủa diễn ngôn qua các bản tin; Grice (1975) nghiên cứu việc xử lí ngữ nghĩatrong thông điệp của các hãng thông tấn và phân tích về các thể loại diễn ngônthường xuất hiện trong các chương trình thời sự, Kniffka (1980) đã nghiên cứu
về lời đề dẫn trong các bài báo; Liiger (1983) phân tích diễn ngôn trong báo chí;Bentele (1981) tập trung nghiên cứu về kí hiệu học Ngoài ra còn có những họcgiả khác như Schmidt (1977), Bechman, Bischoff, Maldner & Loop (1977),…
Có thể nói rằng những công trình nghiên cứu về báo chí cũng như diễnngôn trên báo chí của các tác giả Anh, Đức, Pháp, Hoa Kì đã cho chúng ta thấymột bề dày lịch sử của những nghiên cứu về báo chí trên thế giới Không thểphủ nhận rằng những kết quả nghiên cứu của quốc tế đã ảnh hưởng không nhỏđến Việt Nam
2.1.2 Nghiên cứu về báo chí ở Việt Nam
Đối với Việt Nam, lịch sử báo chí được tính từ thế kỉ XX bởi vì từ đầu thế
kỉ XX thì Việt Nam xuất hiện chữ quốc ngữ Đồng thời cũng gắn với sự chuyểnđộng của lịch sử, những thế kỉ trước đó là chế độ phong kiến ngự trị, chữ viết làchữ Nho và chữ Nôm nên hầu như không có sự xuất hiện của báo chí Theo một
số nhà nghiên cứu, người khơi nguồn cho việc tìm hiểu báo chí Việt Nam là học
Trang 7giả Đào Trinh Nhất với bài viết “Thử tìm hiểu long mạch của tờ báo ta” đăng
trên báo Trung Bắc Chủ nhật năm 1942
Thật ra, ngay từ Việt Nam Văn học sử yếu (1941), Dương Quảng Hàm
sau khi phân chia các thời kỳ lịch sử báo chí, đã nêu lên tác dụng của báo chíbấy giờ: thông tin tin tức ở trong xứ và ban bố các mệnh lệnh của chính phủ,giúp cho việc thành lập quốc văn, sáp nhập vào tiếng ta nhiều danh từ mới vềtriết học và khoa học, giúp cho sự thống nhất tiếng nói ba kỳ
Cụ thể hơn, Ở miền Bắc, trước những năm 1954, việc nghiên cứu lí luậnbáo chí còn mờ nhạt Người làm báo lúc đó được đào tạo theo hai dạng, thứ nhất
là tiếp thu nghiệp vụ báo chí ở nước ngoài, chủ yếu là ở Pháp, thứ hai là học lớpbáo chí Huỳnh Thúc Kháng Còn ở miền Nam, trước những năm 1975 có một sốtài liệu báo chí dịch từ nước ngoài, ví dụ như cuốn “Ký giả chuyên nghiệp” củaJohn Hohenberg Cũng có một vài bài viết trên báo chí về lí luận nghề báonhưng còn rất ít Đến khi đất nước thống nhất, vào năm 1977, 1978 có cuốn
“Giáo trình nghiệp vụ báo chí” Tập 1 và 2 nhưng chỉ lưu hành nội bộ trong
trường Tuyên huấn trung ương Cuốn giáo trình này đã đề cập đến các thể loại
báo như tin, bình luận, phóng sự, điều tra và một số đóng góp về lí luận
Đến năm 1992, việc nghiên cứu về báo chí bắt đầu nở rộ ở Việt Nam Có
thể kể đến Nghề nghiệp và công việc của nhà báo do Hội nhà báo Việt Nam
xuất bản năm 1992, nội dung của nó là bàn về việc đổi mới cách viết tin và cách
viết bài phỏng vấn; Cơ sở của sự hình thành thể loại báo chí, Tạp chí Khoa học _Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 3/1993; Tác phẩm báo chí tập 1, Tạ Ngọc Tấn (chủ biên) 1995; công trình này nghiên cứu về tin và các dạng tin; Nghề báo nói của nguyễn Đình Lương bàn về tường thuật phát thanh; Các thể kí báo chí của Đức Dũng, 1992, bàn về một số dạng của kí; Tác phẩm báo chí, tập 3, của
Nguyễn Thế Phiệt, 1995, bàn về các thể loại bình luận, chuyên luận, xã luận;
Các thể loại chính luận báo chí (200) và Làm báo – lí thuyết và thực hành (2001) của Trần Quang, bàn về các thể loại chính luận như tiểu luận, phê bình
Trang 8và giới thiệu tác phẩm, điều tra, bài phản ánh, thư từ trên báo, kí, ghi nhanh,phóng sự, các thể loại có tính trào phúng Một công trình có tính chuyên sâu hơn
là Thể loại báo chí của tập thể tác giả năm 2005 của khoa Báo chí - trường Đại
học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Năm 2005, Trần
Quang xuất bản cuốn Kĩ thuật viết tin đề cập đến phần lí luận và thao tác nghiệp
vụ trong công tác báo chí đối với ba thể loại là tin, tường thuật và phỏng vấn.Ngoài ra có thể kể đến một số tác giả khác đã nghiên cứu về một số khía cạnhkhác nhau của báo chí, có thể kể đến Vũ Quang Hào (2001), Dương Văn Quảng(2002), Hoàng Anh (2003), Nguyễn Tri Niên (2004), Nguyễn Đức Dân (2007),
… Trong đó các tác giả đề cập đến đặc điểm ngôn ngữ báo chí nói chung và đặcđiểm ngôn ngữ báo viết, báo hình nói riêng; cấu trúc của một bản tin và phóng
sự thể hiện cụ thể của cấu trúc đó qua những bộ phận khuôn tin, tiêu đề, đềdẫn…;thông tin chùm trong báo chí và kĩ thuật xây dựng thông tin chùm bằngnhững thao tác ngôn ngữ cụ thể; ngôn từ của nhà báo và những yêu cầu về logicdiễn đạt trong báo chí…
Bên cạnh các bài viết trên tạp chí, các công trình chuyên luận, cũng có rấtnhiều luận án bàn về các khía cạnh khác nhau của báo chí Ví dụ như: Nguyễn
Hòa (2009) Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị - xã hội trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại, Nguyễn Thị Thanh Hương (2003) Luận án Đối chiếu ngôn ngữ phóng sự trong báo in tiếng Anh và tiếng Việt, Nguyễn Hữu Đức (2007), luận án Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản in tiếng Việt (so sánh với văn
bản tin tiếng Anh đã khai thác tính văn bản của các bản văn tin Tiếng Việt so
sánh với các văn bản tin tiếng Anh Gần đây nhất có bài nghiên cứu của Nguyễn
Hồng Sao về”So sánh ngôn ngữ báo chí Tiếng Việt và Tiếng Anh qua một số thể loại” (2010) có thể nói đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về so sánhngôn ngữ báo chí giữa báo tiếng Việt và báo tiếng Anh qua bộ khung thẩm địnhnhưng tiếc là công trình này chỉ dừng lại ở mảng tin quốc tế và phóng sự
Trang 92.2 Tình hình nghiên cứu về phân tích diễn ngôn
2.2.1 Nghiên cứu về phân tích diễn ngôn trên thế giới
Trên thế giới, vấn đề nghiên cứu về diễn ngôn diễn ra sôi nổi và phongphú Có rất nhiều nghiên cứu theo nhiều trường phái, nhiều xu hướng Trongphạm vi của chuyên luận này, chúng tôi chỉ điểm luận những lí thuyết nghiêncứu diễn ngôn tiêu biểu có liên quan trực tiếp đến việc triển khai luận án Đó lànhững cách phân loại, những xu hướng nghiên cứu diễn ngôn như sau:
Cách phân loại của Van Dijk có cơ sở từ hướng tiếp cận khoa học – nguồn gốc được ông trình bày trong bài giới thiệu ở tập I của bộ sách bốn tập do ông làm chủ biên: Cẩm nang về diễn ngôn – phân tích (1985), cụ thể là công
trình T.A.van Dijk.- Introduction: Discourse Analysis as a New Discipline//Handbook of Discourse Analysis Vol 1 Disciplines of Discourse.
vận dụng ngôn ngữ học và ngữ nghĩa học vào văn học của Todorov, củaBarthes, Eco và nhiều tác giả khác Những năm 60 của thế kỉ XX, nghiên cứu vềngôn ngữ học bắt đầu được chú trọng dẫn tới sự xuất hiện các lí thuyết diễnngôn của ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học nhân chủng, ngôn ngữ học văn hoá
xã hội… (Broun, Bernsnein, Gumperz, Bright…) Dưới ánh sáng của ngôn ngữhọc mới, đối tượng của diễn ngôn – phân tích được mở rộng sang lĩnh vựcnghiên cứu phong cách văn hoá, nghệ thuật lời nói, các hình thức chỉ dẫn,nghiên cứu bối cảnh xã hội và bối cảnh văn hoá của các dạng giao tiếp khácnhau: đàm thoại, quảng cáo, bản tin (Halliday, Leech, Crystall)
Trang 10Theo Van Dijk, đến giai đoạn 1972 – 1974, diễn ngôn – phân tích đạt tới
vị thế của một khoa học độc lập Vào những năm 1970, thấy xuất hiện nhữngchuyên luận đầu tiên và những công trình tập thể dành hoàn toàn hoặc một phầncho diễn ngôn – phân tích như một lĩnh vực tri thức liên ngành Có thể kể đếndiễn ngôn đàm thoại (Labov, Sacs, Schegloff, Jefferson), lí thuyết hành vi lờinói (Austin, Grice, Searle), diễn ngôn thường nhật (Goffman, Garfinkel…).Ngôn ngữ tự nhiên trong giao tiếp đời thường bắt đầu được nghiên cứu qua lăngkính của ngữ dụng và các tình huống xã hội, ví như hội thoại của học sinh cáclớp trong nhà trường phổ thông (Sinclair và Coulthard)
Van Dijk đưa ra nguyên tắc phân loại là hướng tiếp cận khoa học – nguồn gốc Hướng tiếp cận này cho phép tiến hành phân chia các lí thuyết diễn ngôn,
với điểm xuất phát là công cụ phương pháp luận của bộ môn khoa học nào đó cóảnh hưởng nhiều nhất tới sự phát triển của diễn ngôn – phân tích ở một lát cắtthời gian cụ thể
Thứ hai là sự phân loại của Jacop Torfing được tập trung trong cuốn
Jacob Torfing.- Discourse Theory: Archivments, Arguments, and Chellengers // Discourse Theory in European Politics Identity, Policy and Governance.
Palgrave Vacmillan 2005
Theo Jacop Torfing lí thuyết diễn ngôn xuất hiện vào cuối những năm
1970 và hậu cấu trúc luận đặt nền tảng cho sự kiến giải về diễn ngôn – lí thuyết.Jacop Torfing phân biệt ba thế hệ lí thuyết diễn ngôn như sau:
Thế hệ thứ nhất phân tích diễn ngôn đóng khung trong ý nghĩa ngôn ngữhọc, tức là xác định diễn ngôn như một đơn vị văn bản của ngôn ngữ hội thoạihoặc ngôn ngữ viết mà trọng tâm là văn bản nói và văn bản viết Lí luận diễnngôn của thế hệ thứ nhất tập trung vào phân tích đặc điểm ngôn ngữ của cá nhânhay tác giả nào đó đồng thời chú ý đến cả quan điểm xã hội của họ Ví dụ xã hộihọc phân tích mối quan hệ giữa hoàn cảnh kinh tế xã hội của người nói với vốn
từ vựng của anh ta Những tác giả thuộc thế hệ thứ nhất này là Labov, Franchel,
Trang 111977, Fowler, 1979, Douns, 1984, Labov, Franchel, 1977; Potter, Wetherell,1987,…Hạn chế của thế hệ thứ nhất là đã gắn chặt phân tích diễn ngôn với phântích chính trị.
Thế hệ thứ hai đã mở rộng phạm vi giải thích về diễn ngôn, không bó hẹptrong ngôn ngữ hội thoại và ngôn ngữ viết mà mở rộng đối tượng sang các hoạt
động thực tiễn xã hội Và nó được gọi tên chung là diễn ngôn – phân tích phê bình – tức là tổng thể các hoạt động thực tiễn xã hội có nội dung kí hiệu học.
Các cử chỉ, hình ảnh,… trong giao tiếp cũng được coi là diễn ngôn Nhà nghiêncứu chủ chốt của xu hướng này là Norman Fairclough, người lấy cảm hứng từnhững công trình phân tích diễn ngôn của Michel Foucault, xem diễn ngôn làmột trong số các phương thức xác lập quyền lực, điều chỉnh quan hệ lệ thuộcgiữa các vai diễn xã hội Tuy nhiên thế hệ thứ hai lại chưa giải thích được câuhỏi giữa diễn ngôn và ngữ cảnh phi diễn ngôn có quan hệ như thế nào
Thế hệ thứ ba thể hiện đặc điểm của hậu cấu trúc luận, khái niệm diễnngôn được mở rộng thành một phạm trù xã hội rộng lớn Diễn ngôn được giảithích như là một phạm trù đồng nghĩa với thực tiễn kiến tạo xã hội JacquesDerrida nói rằng: “Tất cả đều là diễn ngôn” Những học giả tiêu biểu của thế hệnày là Roland Barthes, Julia Kristeva, Jacques Lacan,… Torfing cũng thuộc thế
hệ thứ 3 này
Thứ ba là sự phân loại lí thuyết diễn ngôn của M Jorgensen và L
Phillips, được tập trung trong cuốn Discourse Analysis as Theory and Method (Trong bản dịch tiếng Nga, cuốn sách được xuất bản với nhan đề: Diễn ngôn -
phân tích Lí luận và phương pháp, Kharkov, Nxb Trung tâm Nhân văn học,
2004) Việc phân loại các lí thuyết diễn ngôn được thực hiện thông qua sự sosánh ba quan điểm lí thuyết – phương pháp luận phân tích diễn ngôn mà theo
các tác giả có thể xếp chung vào cùng một lĩnh vực khoa học liên ngành: diễn ngôn - phân tích kiến tạo - xã hội Ba cách tiếp cận phân tích diễn ngôn theo quan điểm kiến tạo xã hội là: 1 Lí luận diễn ngôn của Laclau và Mouffe; 2.
Trang 12Diễn ngôn – phân tích phê bình và 3 Tâm lí học diễn ngôn M Jorgensen và L.
Phillips cho rằng ca ba cách tiếp cận này đều có chung một nguồn gốc từ chủnghĩa cấu trúc và hậu cấu trúc luận Bên cạnh M Jorgensen và L Phillips,
những học giả tiêu biểu của xu hướng này là Laclau và Mouffe
2.2.2 Nghiên cứu về phân tích diễn ngôn ở Việt Nam
Tình hình nghiên cứu về diễn ngôn ở Việt Nam không quá phức tạp nhưtrên thế giới Nói một cách khái quát, diễn ngôn là một địa hạt được nhiều nhàViệt ngữ học quan tâm nghiên cứu Chúng tôi xin điểm luận những nét chính vềnghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam như sau:
Nghiên cứu về ngữ pháp diễn ngôn, có thể kể đến Chu Thị Thanh Tâm
(1995), Ngữ pháp hội thoại và việc nghiên cứu đề tài diễn ngôn, Tạp chí Ngôn
ngữ số 4 Tác giả đặt ra vấn đề nghiên cứu diễn ngôn trong các cuộc hội thoại vàkết luận rằng: ngữ pháp hội thoại đem đến một cái nhìn tổng quát về cấu trúc vàchức năng của các hành vi hội thoại, dựa vào đó cúng tôi nghiên cứu các cuộchội thoại với những đề tài diễn ngôn nhất định” Tôn Nữ Mỹ Nhật (2003),
(2006) Cấu trúc đề - thuyết với thực tiễn phân tích diễn ngôn, Tạp chí Ngôn ngữ
số 2/2003 và Cấu trúc và cấu trúc chức năng Tạp chí Ngôn ngữ số 8/2006
nghiên cứu về mô hình lí thuyết ngữ pháp chức năng và diễn ngôn trong giaotiếp thực – ngôn ngữ hành chức trong những môi trường văn hóa xã hội cụ thể,với những mục đích giao tiếp cụ thể
Nghiên cứu về diễn ngôn và việc phân tích diễn ngôn cũng như đưa raphạm vi nghiên cứu diễn ngôn gồm tất cả các văn bản, các cuộc hội thoại có thể
kể đến tác giả Diệp Quang Ban với một số công trình như (1999), Hai giai đoạn của ngôn ngữ học văn bản và tên gọi phân tích diễn ngôn, tạp chí Ngôn ngữ, số
2 Tác giả khẳng định “Cùng với phân tích diễn ngôn người ta cũng nhắc đếncác bộ phận nghiên cứu có liên quan dưới các tên gọi phân tích văn bản, phântích hội thoại Điều đó cho thấy ngôn ngữ học hiện đại đang tiến vào giai đoạnphân tích mới sau hoặc cùng với giai đoạn tổng hợp ngôn ngữ học văn bản, một