Các học giả đã đưa ra sự phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản như sau: Crystal 1992:25 cho rằng Diễn ngôn là “một chuỗi nối tiếp của ngônngữ đặc biệt là ngôn ngữ nói lớn hơn một câu, thườ
Trang 1MỤC LỤC
Trang 21 Dẫn nhập
Phân tích diễn ngôn là một thuật ngữ được sử dụng trong nhiều lĩnhvực và được dùng với nhiều ý nghĩa khác nhau Nó được dùng để miêu tả cáchoạt động trong nhiều chuyên ngành như ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ tâm
lí học, ngôn ngữ triết học, ngôn ngữ điện toán Ở mỗi một lĩnh vực nó đượcchú trọng với các bình diện riêng Chẳng hạn ngôn ngữ học xã hội tập trungnghiên cứu ở phương diện tương tác hội thoại trong diễn ngôn và bối cảnh xãhội, tâm lí học quan tâm đến việc nhân thức ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ họcquan tâm đến vấn đề ngữ nghĩa, Chính vì thế, khi nghiên cứu về diễn ngôntrong phạm vi ngôn ngữ học, chúng tôi muốn tập trung vào một số vấn đề của
lí luận diễn ngôn Chuyên luận này sẽ không nêu lên tất cả các bình diện màdiễn ngôn có, sự tập trung vào một số vấn đề cơ bản cho phép hiểu về diễnngôn sâu sắc hơn
2 Diễn ngôn
2.1 Các thuật ngữ gọi tên "diễn ngôn"
Việc tiếp cận khái niệm diễn ngôn cũng có nhiều quan điểm Thuật ngữ
discourse đã được các học giả Việt Nam tiếp nhận và chuyển dịch bằng nhiều
tên gọi khác nhau Bảng thống kê sau đây sẽ cho thấy điều đó:
Bảng 1 Các cách gọi tên khái niệm discourse Tên tác giả/
dịch giả Tên tài liệu Nhà xuất bản
Cách chuyển dịch thuật ngữ discourse
George Yule Dụng học (một số dẫn
luận nghiên cứu ngôn ngữ
NxbĐHQGHN HàNội, 2003
NxbĐHQGHN
Ngôn bản
Trang 3Nxb Văn hóathông tin- Tạpchí văn hóa-nghệ thuật, HàNội, 2004
Ngôn bản
Nhìn vào bảng thống kê trên có thể thấy rằng có hai thuật ngữ gọi tên
cho khái niệm discourse là ngôn bản và diễn ngôn
Trong thực tế nghiên cứu, rất cần phân biệt giữa hai khái niệm là văn bản và diễn ngôn Các học giả đã đưa ra sự phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản như sau:
Crystal (1992:25) cho rằng Diễn ngôn là “một chuỗi nối tiếp của ngônngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnhthể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, tranh luận, truyện vui hoặctruyện kể” và văn bản là “một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tựnhiên dưới dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng vìnhững mục đích phân tích Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với mộtchức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc hội thoại, một
tờ áp phích” [dẫn theo 8, tr.19, 20]
Cook (1989) cho rằng Diễn ngôn là “những chuỗi ngôn ngữ được nhậnbiết là có nghĩa, thống nhất và có mục đích” và văn bản là “một chuỗi ngônngữ giải thuyết được ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh” [dẫn theo 8,tr.20]
Brown và Yule (1983) cho rằng “ Chúng ta sẽ sử dụng văn bản nhưmột thuật ngữ chuyên môn, để nói đến việc ghi lại ngôn từ của một hành độnggiao tiếp” [dẫn theo 8, tr.20]
Trang 4Đối với một số học giả, thuật ngữ văn bản và diễn ngôn gần như được
sử dụng giống nhau, chúng có ý nghĩa giống nhau và có thể dùng thay thế chonhau Một số học giả khác lại cho rằng diễn ngôn là chỉ ngôn ngữ trong mộtngữ cảnh cụ thể Song, có một điểm chung cho tất cả các định nghĩa về diễnngôn và văn bản là chúng đều được xác định dựa vào mặt ý nghĩa, tức lànhững diễn ngôn (hay văn bản) mạch lạc tạo nên một tổng thể có nghĩa
David Nunam đưa ra cách phân biệt giữa văn bản và diễn ngôn nhưsau: thuật ngữ văn bản chỉ bất kì cái nào ghi bằng chữa viết của một sự kiệngiao tiếp Sự kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói (ví dụ một bàithuyết guaos, một cuộc thoại tình cờ, một cuộc giao dịch mua bán) hoặc ngônngữ viết (ví dụ một bài thơ, một quảng cáo trên báo, một áp phích dán tườngmột bản kê các thứ mua sắm, một tiểu thuyết) Thuật ngữ diễn ngôn lại để chỉviệc giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh” [dẫn theo 8, tr.21]
Trong phạm vi chuyên luận này, chúng tôi thống nhất sử dụng thuậtngữ diễn ngôn Bởi vì nguyên lí cơ bản của diễn ngôn là coi hoạt động ngônngữ là tương tác xã hội đồng thời sử dụng các phương pháp điển hình củangôn ngữ học để nghiên cứu tương tác ngôn ngữ Stubbs (1983) xác định cụthể việc diễn ngôn nghiên cứu các "đơn vị ngôn ngữ lớn" như cặp thoại haycác văn bản viết và quan tâm đến "sử dụng ngôn ngữ trong bối cảnh xã hội",đến "tương tác" hay "hội thoại giữa những người nói khác nhau" Từ quanđiểm của Stubbs chúng ta có thể nhận thức được ba bình diện cơ bản của diễnngôn Đó là:
(1) Diễn ngôn quan tâm đến các hình thức ngôn ngữ trong sử dụng lớnhơn câu hay phát ngôn;
(2) Diễn ngôn quan tâm đến mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và xãhội;
Trang 5(3) Diễn ngôn quan tâm đến các thuộc tính tương tác của giao tiếp xãhội.
Cũng từ những nguyên lí cơ bản trên, văn bản chính luận cũng được coi
là một dạng diễn ngôn viết nhằm để thực hiện những mục đích giao tiếp nhấtđịnh
Như vậy, chúng tôi cũng thống nhất với quan điểm cho rằng phân tíchdiễn ngôn liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sự sử dụng “Diễnngôn, dùng với tư cách một danh từ khối, có nghĩa đại loại giống như chính
‘việc sử dụng ngôn ngữ’ hay là ‘ngôn ngữ trong sử dụng’” [2, tr.201]
2.2 Khái niệm diễn ngôn
Theo từ điển New Webster`s Dictionary thì diễn ngôn được định nghĩa
gồm hai nghĩa Một là sự giao tiếp băng tiếng nói (trò chuyện, lời nói, bài phát biểu); hai là sự nghiên cứu tường minh, có hệ thống về một đề tài nào
đó (luận án, các sản phẩm của suy luận, ví dụ “Discours de la methode…” củaDescarte, vì trong tiếng Latin từ đó đồng nghĩa với từ “Dissertatio de…”) Cảhai nghĩa đó đều chỉ thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ, nhưng chưa nói đến cáinghĩa hiện đại là hình thức của ý thức hệ và quyền lực, cũng chưa đề cập giaotiếp phi ngôn từ, như cử chỉ thân thể, sự mô phỏng động tác, sự thay đổi tưthế của thân thể, trang phục, nghi thức…Đồng thời cả một lĩnh vực rộng lớn
là nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, múa nhảy, âm nhạc, thi ca đều nằmngoài định nghĩa đó
Trong cuốn Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại: Phân tích đa ngành (Современные теории дискурса: мультидисциплинарный анализ-
Екатеринбург: Издательский Дом “Дискурс-Пи”, 2006) Cuốn sách tậphợp công trình nghiên cứu của các học giả nổi tiếng Bỉ, Hà lan, Úc và Nga;
nội dung tập trung vào hai bình diện chính: thứ nhất: Lí thuyết diễn ngôn của các khuynh hướng, trường phái Âu – Mĩ và Nga; thứ hai: Phân tích các loại
Trang 6diễn ngôn, như diễn ngôn hậu hiện đại, diễn ngôn dân chủ, công dân, công lí,diễn ngôn nhân quyền, thủ đoạn chính trị, diễn ngôn kì thị xã hội, bản sắcvùng miền Đây là Quyển “I” của bộ sách đồ sộ gồm nhiều tập lấy nhan đề
“Diễn ngôn học” do Viện Nghiên cứu – khoa học, Chi nhánh Ural thuộc Viện
Hàn lâm Khoa học Liên Bang Nga tổ chức biên soạn và xuất bản
Teun Adrianus Van Dijk định nghĩa “Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp diễn ra giữa người nói và người nghe (người quan sát…) trong tiến trình hoạt động giao tiếp ở một ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ cảnh khác nào đó Hoạt động giao tiếp này có thể bằng lời nói, bằng văn viết, những bộ phận hợp thành của nó có thể bằng lời và không lời”.
Jacob Torfing cho rằng Diễn ngôn là kết quả của những cách đọc bá quyền mà mục đích của chúng là xác lập vai trò lãnh tụ về mặt chính trị, cũng như đạo đức-trí tuệ”.
Roland Barthes cho rằng “Như mọi thứ diễn ngôn có tham vọng trở thành “hiện thực”, diễn ngôn lịch sử trong tưởng tượng của nó chỉ biết mỗi
sơ đồ ngữ nghĩa hai thành phần: sự phản ánh và cái biểu đạt”.
Muara Chimombo và Robert L.Rozberi định nghĩa rằng: “Diễn ngôn
là một tiến trình phức hợp đặc biệt bao gồm vô số thành phần phụ thuộc lẫn nhau Nó phát sinh từ những tiến trình tinh thần giao cắt với các bình diện, ví như, tâm lí, xã hội, văn hoá và những khía cạnh khác của đời sống”.
Philippe Beneton cho rằng “Mọi văn bản (hay lời nói) đều mang trong mình nội dung, và cả hành động nữa Nói bao giờ cũng có nghĩa là làm: nhà
tư tưởng nói một cái gì đó và, khi nói điều đó, anh ta làm một cái gì đó Sự nói và việc làm ấy, hay diễn ngôn và hành động diễn ngôn ấy trùng nhau hoặc không trùng nhau… Khi tôi nói cạnh khoé, cái mà tôi đang làm không trùng với cái tôi đang nói: ý nghĩa có chủ đích ẩn dấu trong diễn ngôn, hành động diễn ngôn sẽ trao chìa khoá để mở nó”.
Trang 7David Nunan cho rằng: “Diễn ngôn như là một chuỗi ngôn ngữ gồm một số câu, những câu này được nhận biết là có liên quan đến nhau theo một cách nào đó” [8, tr.19].
Trước đây, thuật ngữ diễn ngôn còn được gọi là văn bản, song trongchuyên luận này chúng tôi thống nhất sử dụng một thuật ngữ là diễn ngôn Sở
dĩ như vậy là bởi vì có sự phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản như sau:
Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữnói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểunhư một bài thuyết giáo, tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể (định nghĩa củaCrystal 1992)
Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dướidạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng vì những mục đíchphân tích Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp
có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp – phích (định nghĩacủa Crystal 1992) [dẫn theo 8, tr.20]
Trong chuyên luận này, chúng tôi sử dụng quan điểm của David Nunan
và Crystal, chúng tôi cũng thống nhất với cách phân biệt giữa diễn ngôn vàvăn bản mà Crystal đã đưa ra Bởi vì, nếu coi diễn ngôn là một chuỗi nhữngngôn ngữ nối tiếp có mục đích chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện về cácphương diện như ngữ nghĩa, ngữ pháp, mạch lạc, liên kết…trong đó và mỗimột bài chính luận mà chúng tôi lựa chọn khảo sát sẽ là một văn bản Quanđiểm này cũng phù hợp với đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là diễn ngônchính luận
2.3 Phân loại và cấu trúc diễn ngôn
2.3.1 Phân loại diễn ngôn
David Nunan [8, tr.35] đưa ra cách phân loại diễn ngôn như sau:(1) Phân chia các văn bản thành đối thoại và đơn thoại
Trang 8(2) Phân chia các văn bản dựa trên cơ sở giao dịch
(3) Phân chia các văn bản dựa trên cơ sở liên các nhân
Ngôn ngữ giao dịch là ngôn ngữ diễn ra khi những người tham gia cóquan tâm đến sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ Ngôn ngữ liên cá nhân diễn rakhi những người nói ít quan tâm đến sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ hơn làlàm cho có tính chất xã hội
Chúng ta hãy cùng xét các ví dụ sau:
Ví dụ (1):
A: Mày đang làm gì?
B: Tao đang online
A: Có tin gì mới không?
B: Có vụ taxi chạy công an mày ạ
A: Ừ, vụ đó nghe kinh nhỉ
B: Ừ, nhưng cuối cùng cũng không chạy được công an
Ví dụ (2)
Hỡi đồng bào cả nước,
"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng tạo hóa cho họnhững quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, cóquyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc"
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ.Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh rabình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tựdo
Trang 9Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm
1791 cũng nói: "người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luônluôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi"
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được
(Bản Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh)
Ví dụ (3)
Tình yêu đến trong đời không báo động
Trái tim anh chưa lỗi hẹn bao giờ
Viên xúc xắc mùa thu ru trong cỏ
Mắt anh nhìn sáu mặt bão mưa giăng
Anh đi qua những thành phố bọc vàng
Những thị trấn mẹ ôm con trên cỏ
Qua ánh nắng bảy màu,qua ngọn đèn hạt đỗ
Qua bao cuộc đời tan vỡ lại hồi sinh
(Viên xúc xắc mùa thu – Hoàng Nhuận Cầm)
Ví dụ (4)
Khách hàng: Tôi muốn mua đôi giầy màu trắng cỡ 36
Trang 10Người bán hàng: Chị muốn đi đôi cao mấy phân ạ?
Khách hàng: Khoảng 5 phân thôi
Người bán hàng: Nếu 5 phân thì chỉ còn 1 đôi trắng trơn không có nơchị ạ
Khách hàng: Thế cũng được, bao nhiêu đôi này?
Người bán hàng: 450 nghìn chị ạ
Khách hàng: Đắt thế, 400 nghìn được không?
Người bán hàng: Dạ, em chỉ bớt cho chị được 10 nghìn thôi ạ
Khách hàng: Bớt ít thế thôi à, bớt thêm 10 nghìn nữa nhé
Người bán hàng: Không được ạ, bọn em không lãi nhiều thế đâu ạ,đang có khuyến mãi tặng thêm 01 đôi lót giầy đấy chị ạ
Khách hàng: Thế thì cũng được, chị mua đôi này
Nhìn vào 4 ví dụ trên, chúng ta thấy rằng nếu dựa trên những tiêu chíphân chia David thì ví dụ (1), (3) vào chức năng liên cá nhân, ví dụ (4) vàochức năng giao dịch, ví dụ (2) vừa có chức năng liên cá nhân vừa có chứcnăng giao dịch Đối với ví dụ (3) là một văn bản thơ, chức năng diễn ngôn của
nó không chỉ liên cá nhân mà còn rất đậm tính thẩm mĩ Ví dụ (2) là một diễnngôn chính luận nó cũng không chỉ mang chức năng liên cá nhân mà cònmang chức năng xã hội và tính thẩm mĩ cao Điều này còn cho thấy một đặcđiểm của diễn ngôn là một diễn ngôn không phải chỉ được xem xét ở một
Trang 11chức năng mà còn phải nhìn nhận dưới góc độ chức năng xã hội và nhữngchức năng khác của văn bản diễn ngôn
2.3.2 Cấu trúc diễn ngôn
Khái niệm cấu trúc có vị trí quan trọng trong lí thuyết phân tích diễnngôn O.I Moskalskja cho rằng: “Thật vậy, trước hết nó (cấu trúc) được sửdụng trong lí thuyết chung về văn bản, lí thuyết này đã đưa ra dấu hiệu tínhđịnh hình kết cấu như là một trong những tiêu chí khu biệt văn bản với nhữngchuỗi câu ngẫu nhiên không tạo thành văn bản: trong khi văn bản có một kếtcấu nhất định thì chuỗi câu ngẫu nhiên không được định hình về mặt kết cấu”[7, tr.113] Cấu trúc diễn ngôn được nhìn nhận ở hai phương diện là cáchthức tổ chức và liên kết mạch lạc
Thứ nhất cách thức tổ chức hay còn gọi là bố cục hoặc kết cấu của vănbản Đỗ Hữu Châu cho rằng “… kết cấu còn là một nghệ thuật trình bày cácyếu tố nội dung mang tính chủ quan của người viết trong kết cấu người viết
Thứ hai, liên kết và mạch lạc diễn ngôn là một nét đặc trưng rất tiêubiểu David Nunan cho rằng “ các mối liên hệ hình thức thể hiện các mốiquan hệ giữa các mệnh đề và giữa các câu trong diễn ngôn” và “mạch lạc là
Trang 12cái mức độ phạm vi qua đó diễn ngôn được nhận biết là có mắc vào nhau chứkhông phải là một tập hợp các câu hay phát ngôn không có quan hệ với nhau”[4, tr.116].
Đỗ Hữu Châu thì phân chia thành hai kiểu liên kết là liên kết hình thức
và liên kết nội dung “Liên kết hình thức là cách nối kết các nội dung văn bản
về mạt hình thức” Các cách để liên kết hình thức được gọi là các phương tiệnliên kết Liên kết nội dung gồm liên kết chủ đề và liên kết logic
Diệp Quang Ban thì quan niệm liên kết có mặt trong cả văn bản và phivăn bản còn mạch lạc chỉ có mặt trong văn bản mà thôi Quan hệ giữa văn bản
và phi văn bản cũng chỉ là vấn đề mức độ và các văn bản cũng có ít nhiều tínhmạch lạc
Từ những quan điểm trên, chúng ta thấy rằng mạch lạc cũng là một nétđặc trưng của diễn ngôn Nó được tạo nên trong triển khai mệnh đề, trongchức năng và theo nguyên tắc cộng tác Nó cũng đồng thời thể hiện trình độvăn hóa, trình độ học vấn của người sản sinh diễn ngôn cũng như người tiếpnhận
2.4 Ngữ cảnh và yếu tố ngôn ngữ trong diễn ngôn
Ngữ cảnh là một khái niệm quan trọng trong diễn ngôn Bởi vì ngữcảnh quy chiếu về tình huống gây ra diễn ngôn và tình huống trong đó diễnngôn được gắn vào Các học giả phân biệt hai loại ngữ cảnh, thứ nhất là ngữcảnh ngôn ngữ, được hiểu là ngôn ngữ bao quanh hoặc đi kèm với sản phẩmdiễn ngôn đang được phân tích Thứ hai là ngữ cảnh phi ngôn ngữ, được hiểu
là ngữ cảnh của trải nghiệm con người “Các ngữ cảnh phi ngôn ngữ gồm có:kiểu loại của sự kiện giao tiếp (ví dụ truyện cười, câu chuyện, bài thuyết trình,lời chảo hỏi, hội thoại); đề tài; mục đích của sự kiện; bối cảnh, bao gồm vị tríthời gian trong ngày, mùa trong năm và những phương diện vật lí của tìnhhuống (ví dụ: kích thước của căn phòng, sự bố trí đồ đạc); những người tham
Trang 13dự giao tiếp, và những mối quan hệ giữa họ; và những hiểu biết cơ sở vànhững giả định làm cơ sở cho sự kiện giao tiếp” [dẫn theo 8, tr.23]
Halliday và Hasan (1976) nhận dạng 5 loại liên kết khác nhau là liênkết quy chiếu, thế, tỉnh lược, nối, từ vựng Đến năm 1985, Halliday xếp phépthế vào thành một phạm trù con của phép tỉnh lược
Trước hết, phép liên kết được hiểu là gồm có liên kết quy chiếu theohai cách là liên kết hồi chiếu và liên kết khứ chiếu; quy chiếu chỉ ngôi, quychiếu chỉ định và quy chiếu so sánh Những phép liên kết này gắn bó mật thiếtvới ngữ cảnh Chẳng hạn, nếu chúng ta tách rời phát ngôn ra khỏi ngữ cảnhthì chắc chắn diễn ngôn đó sẽ trở nên khó hiểu Chúng ta hãy cùng xét ví dụsau:
Ví dụ (5)
Sau đó khoảng tối và đêm 4/6, miền Bắc và Bắc Trung Bộ sẽ giảmnhiệt mạnh do ảnh hưởng của rãnh áp thấp bị nén gây mưa rào và dông trêndiện rộng Nắng nóng 39 độ, dân Hà Nội kêu trời
02/06/2016 16:11 GMT+7
dan-ha-noi-keu-troi.html)
http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/song-la/308088/nang-nong-39-do-Diễn ngôn trên khiến người đọc khó hiểu bởi vì nó không có sự tường
minh do ngữ cảnh mang lại Người đọc sẽ không hiểu tại sao lại Sau đó,
không có các yếu tố liên kết trong ngữ cảnh
Hãy cùng nhìn lại ví dụ trên:
Những ngày này, Hà Nội bước vào đợt nắng kỉ lục với nền nhiệt daođộng từ 36-38 độ C, có thời điểm trên 39 độ C Nhiều người lao động phải vất
vả 'vật lộn” với thời tiết nắng nóng
Trang 14Theo dự báo của trung tâm Khí tượng thủy văn, những ngày này nắngnóng đỉnh điểm Sinh hoạt của người dân trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.
Dự báo đợt nắng nóng này sẽ kéo dài thêm 2-3 ngày nữa Sau đókhoảng tối và đêm 4/6, miền Bắc và Bắc Trung Bộ sẽ giảm nhiệt mạnh do ảnhhưởng của rãnh áp thấp bị nén gây mưa rào và dông trên diện rộng
Diễn ngôn cũng phân loại theo hai kiểu là tham khảo ngược lại phần đãqua hoặc hướng tới phía sẽ đến gọi là hồi chiếu và khứ chiếu "Hồi chiếu giúpcho người đọc hoặc người nghe lùi trở lại với một thực thể, một quá trình sựthể đã được đề cập trước đó Khứ chiếu giúp cho người đọc hoặc người nghetiến tới phía trước - nó kéo chúng ta đi sâu hơn vào văn bản để nhận dạng cácphần tử mà các yếu tố quy chiếu chiếu đến" [8, tr.40]
Halliday và Hasan (1976) đã nhận dạng ba kiểu quy chiếu nhỏ trongliên kết qui chiếu là quy chiếu chỉ ngôi, quy chiếu chỉ định và quy chiếu sosánh Quy chiếu chỉ ngôi thường được diễn đạt bằng từ chỉ ngôi và từ hạnđịnh nhằm nhận dạng các cá thể trong văn bản
Ví dụ (6)
“Tinh thần của TP là không bao giờ bao che Những sai phạm phải xử
lý nghiêm khắc, minh bạch”, Bí thư Xuân Anh nói Ông dẫn chứng sự cố chìm
tàu du lịch mới đây, TP đã nghiêm khắc kiểm điểm, cách chức một số cán bộ
và đang làm rõ trách nhiệm các sở ngành liên quan Bí thư Xuân Anh: ĐàNẵng không có chạy chức chạy quyền
14/06/2016 14:07 GMT+7
nang-khong-co-chay-chuc-chay-quyen.html
http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/310185/bi-thu-xuan-anh-da-Trong ví dụ trên, Bí thư Xuân Anh và Ông là có sự quy chiếu chỉ ngôi.
Trang 15Quy chiếu chỉ định lại được diễn đạt bằng từ hạn định và trạng từ Hãyxét ví dụ mà David Nunan đã đưa ra như sau:
Ví dụ (7) [8, tr.42]
Nhận thấy rằng đất nước mình cần phải thay đổi, Gorbachev lẽ ra nên
là một nhà cách tân thận trọng theo kiểu Trung Quốc, khi đưa ra những cải cách kinh tế và bảo trợ cho công nghệ mới vẫn giữ vững không thể thay đổi
về chính trị Điều này đã không diễn ra
Trong ví dụ mà David đưa ra từ Điều này thay thế cho cả một câu dài
trước đó là Gorbachev lẽ ra nên là một nhà cách tân thận trọng theo kiểu Trung Quốc, khi đưa ra những cải cách kinh tế và bảo trợ cho công nghệ mới vẫn giữ vững không thể thay đổi về chính trị
Quy chiếu so sánh được diễn đạt thông qua các trạng từ và tình từnhằm so sánh những yếu tố đồng nhất trong hoặc tương tự trong một văn bản.Hãy xét ví dụ sau:
Ví dụ (8)
A: Cái áo xanh này cậu có thích không?
B: Không, thực chất tớ thích cái áo hoa tím ở đằng kia hơn
Trong ví dụ này, xanh và hoa tím là những tính từ để phân biệt hai vật thể là cái áo và trạng từ hơn có tác dụng so sánh
Phép thế và phép tỉnh lược cũng được coi là một phương tiện tạo nêndiễn ngôn "Trong công trình nghiên cứu năm 1976 về liên kết, Halliday vàHasan đã giải quyết hiện tượng thay thế và tỉnh lược một cách riêng rẽ, mặc
dù họ thường lưu ý rằng hai loại liên kết này thực chất là giống nhau Tỉnhlược được mô tả như một dạng của thay thế trong đó yếu tố gốc bị thay thếbằng zero Trong lần xuất bản sau, Halliday (1985) tổ hợp thay thế và tỉnhlược lại thành một phạm trù đơn" [8, tr.43]