1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tài liệu triết học dành cho sau đại học

92 1,5K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhận thức, nguyên tắc toàn diện là yêu cầu tất yếu của phương pháp tiếp cận khoa học, cho phép tính đến mọi khả năng của vận động, phát triển có thể có của sự vật, hiện tượng đang

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

MỘT SỐ CÂU HỎI ÔN TẬP

Tập thể lớp Cao học Toán giải tích K21

Nguyễn Hữu Cần (Toán Giải tích K21)

Mai Hoàn Hảo (Phương pháp dạy học môn Toán K21)

Tổng hợp và Trình bày: Nguyễn Hữu Cần Liên hệ: nguyenhuucan@gmail.com – www.nhcan.WordPress.com

2016

Trang 2

Chú ý:

Để sử dụng tốt nguồn tài liệu này, bạn đọc nên mang theo các tài liệu sau vì có những câu có sẵn trong tài liệu sau đây sẽ không soạn lại trong tài liệu này mà chỉ ghi số trang rồi bạn đọc tự tra cứu

1 Giáo trình Triết học (dùng cho học viên Cao học và Nghiên cứu sinh không chuyên ngành Triết học) (2005) của Bộ Giáo dục và Đào tạo

2 Giáo trình Lịch sử Triết học (2005) của thầy Đinh Ngọc Quyên

3 Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin (2010) của thầy

Nguyễn Viết Thông

Chia sẻ một số kinh nghiệm:

 Chuẩn bị đầy đủ tài liệu (giấy), mặc dù là đề mở nhưng học viên không được phép mang laptop và điện thoại (đã có rất nhiều người chủ quan đề mở nên không mang tài liệu mà chỉ mang laptop chứa file này – do tiết kiệm chi phí in )

 Tranh thủ đọc hết tất cả các câu hỏi để khi đọc đề xong tìm nhanh hơn

 Ghi nhanh và rõ nhất có thể (tôi dám chắc vừa tra cứu, vừa ghi thì bạn sẽ không kịp giờ nếu chủ quan)

 Điều cuối cùng: Đây là tài liệu chỉ mang tính chất tham khảo Khóa sau hãy bỏ chút thời gian ra để bổ sung thêm vào tài liệu này được đầy đủ hơn

Chúc mọi người đạt kết quả cao

Nguyễn Hữu Cần

MỤC LỤC

Phần I: Thầy Quyên 3 câu 1

Câu 1: Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo trong lịch sử triết học Ấn Độ cổ trung đại Liên hệ vai trò của Phật giáo ở Việt Nam. 1

Câu 2: Phân tích quan điểm triết học Phật giáo về nhân sinh của phật giáo Ý nghĩa về quan điểm nhân sinh cảu phật giáo 3

Câu 3: Phân tích tư tưởng triết học Mạnh tử trong lịch sử triết học trung hoa cổ? 5

Câu 4: Nội dung quan điểm triết học duy vật của Đêmôcrit (460 – 370 tr.CN) 6

Phần II: Thầy Triết 9 câu 8

Câu 1: Anh chị hãy phân tích nội dung quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và nêu ý nghĩa của quy luật? Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn thì bản chất anh chị vận dụng ý nghĩa đó như thế nào? 8 Câu 2: Trình bày nội dung, ý nghĩa của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập? 10

Trang 3

Câu 3: Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định và ý nghĩa của phương pháp luận của quy luật này trong việc xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay? 12

Câu 4: Phân tích nội dung của nguyên tắc toàn diện Cho biết trong thực tiển , anh /chị đã vận dụng nguyên tắc đó như thế nào ? 14

Câu 5: Phân tích nội dung của nguyên tắc lịch sử cụ thể Cho biết trong thực tiễn, anh /chị đã vận dụng nguyên tắc đó như thế nào ? 14

Câu 6 Phân tích nội dung của nguyên tắc phát triển 18

Câu 7: Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện trong hoạt động nhận thức, thực tiển , anh /chị đã vận dụng như thế nào ? (Chỉ ra cơ sở lý luận không phân tích nội dung) 19

Câu 8: Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc lịch sử - cụ thể trong nhận thức và hoạt động thực tiển. 21

Câu 9: Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm (toàn diện/ lịch sử cụ thể/ phát triển) trong hoạt động nhận thức, thực tiển , anh /chị đã vận dụng như thế nào ? (Chỉ ra

cơ sở lý luận không phân tích nội dung). 22

Phần III: Thầy Sơn 5 câu 24

Câu 1: Trình bày sự vận dụng lý thuyết hình thái kinh tế xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 24

Câu 2: Nội dung cơ bản của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là gì? 25

Câu 3: Trình bày mối quan hệ giai cấp và dân tộc trong giai đoạn hiện nay Đấu tranh giai cấp với phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay.27

Câu 4: So sánh sự giống và khác nhau giữa nhà nước pháp quyền Tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. 31

Câu 5: Trình bày vấn đề xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (bản chất, điều kiện lịch sử hình thành, mục tiêu, đặc trưng, xây dựng con người). 31

Phần IV: Sưu Tầm Các Đề Thi Khóa Trước 35

Câu 1: Anh (chị) hãy phân tích nội dung tư tưởng triết học Phật giáo về thế giới trong lịch sử triết học Ấn Độ Cổ - Trung đại Liên hệ vai trò của Phật giáo ở Việt Nam? 35

Câu 2: Anh (chị) hãy phân tích điểm khác nhau giữa triết học siêu hình và triết học duy vật biện chứng khi xem xét “nguyên tắc về sự phát triển”. 35

Câu 3: Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân tộc Anh (chị) hãy phân tích mối quan hệ giữa nhận định trên của Đảng và vấn đề đấu tranh giai cấp ở nước ta giai đoạn hiện nay. 36

Câu 4: Anh (chị) hãy phân tích tư tưởng triết học duy vật của Đê-mô-crít trong lịch

sử triết học Hy Lạp cổ đại? Ý nghĩa triết học của vấn đề trên? 36

Trang 4

Câu 5: Anh (chị) hãy phân tích cơ sở lý luận của quan điểm lịch sử - cụ thể trong phép biện chứng duy vật Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, anh (chị) vận dụng quan điểm đó như thế nào? 36

Câu 6: Trình bày bối cảnh lịch sử, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam giai đoạn hiện nay Từ đó, hãy chỉ rõ mặt tích cực và mặt hạn chế của người Việt Nam? 38

Câu 7: Anh (chị) hãy phân tích nội dung tư tưởng triết học của Democrit (460 - 370 trcn). 38

Câu 8: Anh (chị) phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về

Phần V: Sưu Tầm Một Số Câu Hỏi Khác 43

Câu 1: Phân tích những điều kiện ra đời của triết học Mác và nêu những giai đoạn

chủ yếu trong sự hình thành và phát triển của triết học Mác – Lenin 43

Câu 2: Khái niệm thế giới quan, các hình thức thế giới quan, bản chất và những

nguyên tắc phương pháp luận của thế giới quan duy vật biện chứng và việc vận dụng

chúng vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay? 46

Câu 3: Trình bày lịch sử của phép biện chứng, những nội dung cơ bản của phép biện chứng và sự vận dụng những nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ sự nghiệp

đổi mới ở nước ta hiện nay 48

Câu 5: Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện và quan điểm phát triển? Vận

dụng quan điểm toàn diện và phát triển như thế nào trong quá trình thực hiện công

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay? 49

Câu 6: Phân tích nội dung quy luật mâu thuẫn của phép biện chứng duy vật? Ý nghĩa của phương pháp luận cảu quy luật này trong việc phát hiện và phân tích mâu thuẫn ở

nước ta hiện nay? 50

Câu 7: Phân tích nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại? Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật này trong sự nghiệp

xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay? 52

Câu 8: Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định? Ý nghĩa phương pháp

luận của quy luật này trong việc xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc

dân tộc ở nước ta hiện nay? 53

Câu 9: Quan niệm của triết học Mác – Lênin về thực tiễn, nguyên tắc thống nhất giữa

lý luận và thực tiễn? Ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm này trong việc đổi

mới tư duy lý luận và nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta? 54

Trang 5

Câu 10 Quan niệm của triết học Mác – Lênin về lý luận và thực tiễn, quan hệ giữa lý luận và thực tiễn? Đảng ta vận dụng quan hệ này vào việc đổi mới tư duy lý luận như

thế nào? 54

Câu 11: Quan điểm của triết học Mác – Lênin về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất? Luận chứng

cho thấy, ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp? 55

Câu 13 :Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất ? Vận dụng quy luật này luận chứng tính tất yếu của sự tồn tại và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước

ta hiện nay ? 56

Câu 15: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng

tầng XH? Vận dụng mối quan hệ này vào việc luận chứng tính tất yếu của việc cải

cách nền hành chính quốc gia ở nước ta hiện nay? 59

Câu 16: Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng

tầng XH để phân tích vai trò của nhà nước đối với sự phát triển XH ở nước ta hiện

nay?1 Quan điểm Macxit về mối quan hệ biện chứng lý luận giữa CSHT và KTTT 61

Câu 17: Phân tích luận điểm của Mác: “Tôi coi sự phát triển các hình thái kinh tế - xã

hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”? Ý nghĩa của vấn đề này trong việc nhận thức

về CNXH và con đường đi lên CNXH ở VN hiện nay? 62

Câu 18: Vận dụng lý luận hình thái kinh tế - XH của Mác Phân tích tính tất yếu của

việc định hướng con đường đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ? 63

Câu 19 : Phân tích nội dung những nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi

lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 64

Câu 20: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – lênin về mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp, dân tộc, nhân loại và sự vận dụng của Đảng ta vào Việt Nam trong giai đoạn cách

mạng hiện nay? 65

Câu 21: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-lênin về nguồn gốc và bản chất của nhà nước? Bản chất của nhà nước pháp quyền XHCN? những đặc trưng của nhà nước

pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay? 66

Câu 23: Quan điểm của triết học Mác-lênin về bản chất con người và giải phóng con

người? Ý nghĩa của quan điểm này đối với việc phát triển con người trong sự nghiệp

đổi mới ở nước ta hiện nay? 68

Phần VI: Đề Và Đáp Án Trong Một Số Kì Thi 70

Trang 7

Phần I: Thầy Quyên 3 câu

Câu 1: Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo trong lịch sử triết học Ấn Độ cổ trung đại Liên hệ vai trò của Phật giáo ở Việt Nam

* Thân thế, sự nghiệp của Phật Thích Ca

Phật giáo là một trào lưu triết học xuất hiện vào thế kỉ VI – TCN Người sáng lập Phật giáo là thái tử Tất Đạt Đa, họ Gôtama Phật sinh ngày 8 tháng 4 năm 563 TCN, nhưng theo truyền thống Phật lịch là ngày rằm tháng tư (15/4) gọi là ngày Phật Đản Ông là con vua Tịnh Phạn, trị vì một xứ nhỏ ở trung lưu song Hằng là Ca tỳ la vệ Cuộc sống nơi cung đình

đã tạo cơ hội cho ông chăm lo việc học hành, lễ bái, yến tiệc và giải trí Vì vậy, ông không hay biết những gì đen tối, cực nhọc, nỗi bất hạnh diễn ra ngoài xã hội Năm 17 tuổi, ông cưới vợ và sinh được một người con trai đặt tên là La Hầu La Sau bốn lần trực tiếp ra ngoài thành và tận mắt chứng kiến nỗi khổ của kiếp người, ông quyết noi theo các đạo sĩ tu theo lối sống khổ hạnh

Năm 29 tuổi, ông bỏ nhà ra đi để trở thành một ẩn sĩ Sau 6 năm tu khổ hạnh, ông chợt nhận thấy rằng, lối tu đó cũng không giải thoát con người khỏi nỗi đau sinh, lão, bệnh, tử Theo ông, tu khổ hạnh hay chủ trương khoái lạc cũng đều là những cực đoan phi lý như nhau Bằng sự kiên trì và nhạy cảm trí tuệ, cuối cùng ông đã phát hiện ra con đường “trung đạo”, một con đường có thể dẫn con người đến sự giải thoát Bằng lối tu đó, sau 49 ngày chìm đắm trong những tư duy sâu thẳm, ông tuyên bố đã đạt đến chân lí, đã hiểu được bản chất sự tồn tại của nhân sinh, Từ đó, ông được gọi là Thích Ca Mâu Ni – tức người giác ngộ chân lí đầu tiên có họ là Thích Ca Ông bắt đầu sự nghiệp hoằng hóa của mình, thu nạp đệ

tử, thành lập các tang đoàn Phật giáo Vào năm 483 TCN, ông tạ thế

Xét về mặt triết học, Phật giáo được coi là triết lí thăng trầm về vũ trụ và con người Với mục đích giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức độ của con người Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động Nó trở thành biểu tượng của lòng từ bi bát ái trong đạo đức truyền thống của các dân tộc châu Á

Kinh điển của Phật giáo rất đồ sộ, bao gồm 3 bộ phận gọi là Tam tạng kinh, đó là: Tạng kinh (ghi lại những lời dạy của Phật Thích Ca, Tạng luật (những điều quy định mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo), Tạng luận (các tác phẩm luận giải về Phật giáo của các học giả cao tăng về sau)

* Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan

Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung của 3 phạm trù là: vô ngã, vô thường và duyên

- Quan điểm “vô ngã” (không có cái “ta”, cái “tôi” chân thực): Phật giáo cho rằng thế

giới xung quanh ta và cả con người không phải do một vị thần sáng tạo ra mà được cấu thành bởi sự kết hợp của hai yếu tố vật chất và tinh thần Vật chất gọi là “sắc”, là cái có thể cảm giác được, nó bao gồm đất, nước, lửa, không khí Tinh thần là “danh”, không có hình chất mà chỉ có tên gọi, bao gồm thụ (cảm thụ), tưởng (sự suy nghĩ, tư tưởng), hành (ý muốn thúc đẩy hành động), thức (sự nhận thức) Chính cái “danh” và cái “sắc” đó kết hợp với nhau tạo thành “ngũ uẩn” Ngũ uẩn tác động qua lại tạo nên vạn vật và con người Nhưng sự tồn tại chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi Do đó, không có cái “bản ngã” hay cái tôi chân thực

- Quan điểm “vô thường” (vận động biến đổi không ngừng): qua điểm này cho rằng

thế giới là dòng biến đổi không ngừng, không nghỉ theo chu trình bất tận: sinh, trụ, dị, diệt

Trang 8

- Quan điểm “duyên” (điều kiện giúp nguyên nhân thành kết quả): Phật giáo cho rằng,

mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ, từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên Trong đó, duyên là điều kiện giúp nguyên nhân thành kết quả, kết quả ấy lại nhờ có duyên mà trở thành nguyên nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà thành kết quả mới, cứ như vậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của các sự vật Ví dụ: Hạt lúa là nguyên nhân, nhờ có duyên (đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, …) mà có kết quả là cây lúa Trong thực tế, quá trình nhân – quả là vô tận Quá trình trước là cơ sở, nguyên nhân cho quá trình sau Ví dụ: Tốt nghiệp lớp 12 là kết quả của 12 năm học tập, đồng thời là nguyên nhân cho vào đại học Tuy nhiên, tốt nghiệp 12 đồng thời cũng là nguyên nhân cho việc học cao học …

Như vậy, thong qua phạm trù vô ngã, vô thường và duyên, triết học Phật giáo đã bác bỏ qua điểm duy tâm cho rằng Brahman sáng tạo ra con người và thế giới Phật giáo cho rằng con người và sự vật được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần, các sự vật của thế giới nằm trong quá trình biến đổi không ngừng Đó là quan điểm duy vật biện chứng về thế giới, mặc dù còn chất phác, mộc mạc nhưng rất đáng trân trọng

* Quan điểm của triết học Phật giáo về nhân sinh

Nội dung triết lí nhân sinh của Phật giáo được thể hiện tập trung trong thuyết “Tứ diệu đế” tức là bốn chân lí tuyệt diệu mà đòi hỏi mọi người phải nhận thức được

- Khổ đế: Cuộc đời của mỗi con người là một bể khổ, ít nhất có tám nỗi khổ (bát khổ),

đó là sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt (thương nhau mà phải xa nhau), oán tang hội (ghét nhau

mà phải gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn mà không được), ngũ thụ uẩn (do năm yếu

tố tạo nên con người) Vậy con người ở đâu, làm gì cũng khổ

- Nhân đế (tập đế): Giải thích nguyên nhân của sự khổ Phật giáo cho rằng nỗi khổ của

con người là có nguyên nhân, có 12 nguyên nhân của sự khổ gọi là thuyết “thập nhị nhân duyên”

1 Vô minh: Không sáng suốt

2 Duyên hành: Ý muốn thúc đẩy hành động

3 Duyên thức: Tâm từ trong sáng trở nên u tối

4 Duyên danh sắc: Sự hội tụ của các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơ quan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức)

5 Duyên lục nhập: Quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các giác quan

6 Duyên xúc: Sự tiếp xúc với thế giới xung quanh sinh ra cảm giác

7 Duyên thụ: Sự cảm thụ, nhận thức trước sự tác động của thế giới bên ngoài

8 Duyên ái: Sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giới bên ngoài

9 Duyên thủ: Do yêu thích mà muốn chiếm lấy, giữ lấy

10 Duyên hữu: Sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được

11 Duyên sinh: Sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại

12 Duyên lão tử: Già và chết vì có sự sinh thành

Đó là 12 nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng lẩn quẩn của nỗi đau nhân loại

- Diệt đế: Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ đều có thể tiêu diệt được để đạt được trạng thái Niết bàn

- Đạo đế: Con đường tu đạo để hoàn thiện đạo đức cá nhân, đó cũng là con đường giải thoát khỏi nỗi khổ để đạt đến hạnh phúc Phật giáo đưa ra 8 con đường chân chính gọi là

“bát chính đạo”

1 Chính kiến: Hiểu đúng đắn tứ diệu đế

2 Chính tư duy: Suy nghĩ đúng đắn

3 Chính ngữ: Nói năng đúng đắn

Trang 9

4 Chính nghiệp: Giữ nghiệp một cách đúng đắn

5 Chính mệnh: Giữ ngăn dục vọng đúng đắn

6 Chính tinh tiến: Cố gắng nỗ lực đúng hướng

7 Chính niệm: Tâm niệm tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát

8 Chính định: Kiên định, tập trung tư tưởng cao độ mà suy nghĩ về tứ diệu đế, về vô ngã, vô thường

Theo con đường bát chính đạo nói trên, con người có thể diệt trừ được vô minh, đạt tới

sự giải thoát, nhập vào Niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh tử luân hồi

Ngoài tám con đường chính để diệt khổ, Phật giáo còn đưa ra năm điều răn để mỗi người chủ động thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho mình và cho mọi người Đó là bất sát (không được sát sinh), bất dâm (không được dâm dục), bất vọng ngữ (không được nói năng thô tục, bậy bạ), bất ẩm tửu (không được rượu trà), bất đạo (không được trộm cướp)

Như vậy, Phật giáo là một trào lưu triết học lớn của Ấn Độ trung đại Ở giai đoạn đầu, học thuyết triết học ấy chứa đựng những yếu tố duy vật và tư tưởng biện chứng về thế giới Phật giáo nói lên được tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, phê phán sự bất công, đòi tự do, bình đẳng xã hội Đồng thời, nó cũng nêu lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch của cuộc đời, khuyên con người sống lương thiện, từ bi, bát ái, góp phần hoàn thiện đạo đức cá nhân Tuy nhiên, triết lí nhân sinh của Phật giáo vẫn còn mang nặng bi quan không tưởng và duy tâm về mặt xã hội

* Liên hệ vai trò của Phật giáo ở Việt Nam

Phật giáo du nhập vào nước ta từ những năm đầu công nguyên Với bản chất từ bi, bát

ái, hỷ xả, Phật giáo nhanh chóng tìm được chỗ đứng và dần dần bám rễ vững chắc trên mảnh đất này Phật giáo truyền vào nước ta bằng 2 con đường: từ Trung Hoa và từ phía Nam Do phù hợp với truyền thống, đạo đức của người Việt Nam nên Phật giáo thâm nhập vào VN một cách tự nhiên

Từ khi vào VN đến nay, PG đã tồn tại và phát triển phù hợp với truyền thống VN PG

đã trở thành quốc giáo ở các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, góp phần kiến lập và bảo vệ chế

độ phong kiến vững mạnh, giữ vững độc lập dân tộc

Trước đây, PG có công trong việc đào tạo tầng lớp trí thức cho dân tộc Trong đó có nhiều vị thiền sư, quốc sư có đức độ và tài năng giúp nước an dân như: Ngô Chân Lưu, Pháp Nhuận, Vạn Hạnh, Viên Thiếu, Không Lộ, … Bản chất từ bi hỷ xả ngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thần dân tộc, hướng nhân dân và vua quan vào con đường thiện nghiệp, tu dưỡng đạo đức, vì dân vì nước

Vào thời cực thịnh, PG là nền tảng tư tưởng trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, …Nhiều tác phẩm văn học có giá trị, nhiều công trình kiến trúc độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc, mang tầm quốc tế của VN được xây dựng vào thời kì này

Từ cuối tk XIII cho đến nay, PG không còn là quốc giáo nữa nhưng những giá trị tư tưởng tích cực của nó vẫn còn là nhu cầu, sức mạnh tinh thần của nhân dân ta

Câu 2: Phân tích quan điểm triết học Phật giáo về nhân sinh của phật giáo Ý nghĩa

về quan điểm nhân sinh cảu phật giáo

1 Thân thế, sự nghiệp của Phật Thích Ca:

Phật giáo là trào lưu tôn giáo triết học xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ VI tr.CN Người sáng lập ra phật giáo là Tất Đạt Đa (Siddharta), họ là Gôtama, dòng họ này thuộc bộ tộc Sakya Ông là thái tử của vua Tịnh Phạn, vua một nước nhỏ ở Bắc Ấn Độ lúc đó (nay thuộc đất Nêpan) sáng lập

Trang 10

Về năm sinh của phật hiện nay có nhiều tài liệu khác nhau nhưng nhìn chung nhiều ý kiến cho rằng phật sinh vào năm 563 tr.CN Ông sinh ngày 8/4 năm 563 tr.CN nhưng theo truyền thống phật lịch thì tính là ngày 15/4 ( rằm tháng tư ) gọi là ngày phật đản

Mặc dù sinh ra trong gia đình quý tộc dòng dõi Đế Vương, nhưng trước bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự bất lực của con người trước những khó khăn của cuộc đời và xã hội đã khiến ông sớm có ý định từ bỏ cuộc đời giàu sang phú quý để đi tìm đạo lí cứu đời Vì vậy năm 29 tuổi người đã rời bỏ hoàng cung xuất gia tu đạo, đến năm 35 tuổi người đã đắc dạo tìm ra chân lí Ông trở thành người sáng lập ra tôn giáo mới gọi là phật giáo

Từ đó người đi khắp nơi để truyền bá đạo lí của mình, sau này ông được suy tôn với nhiều danh hiệu khác nhau: đức phật (Buddha), Người giác ngộ hay Thích Ca - mâu ni (sakyamuni), Thánh thích ca (vị thánh dòng họ thích ca ) Xét về mặt triết học, phật giáo được coi là triết lí thâm trầm sâu sắc về vũ trụ và con người

Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức độ của con người, phật giáo nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động Nó đã trở thành biểu tượng của lòng từ bi bác ái trong đạo đức truyền thống của các dân tộc Châu Á Kinh điển của phật giáo rất đồ sộ gồm ba bộ phận gọi

là Tam tạng kinh bao gồm:Tạng kinh: ghi lại những lời dạy của phật thích ca; Tạng luật: những điều quy định mà giáo đoàn phật giáo phải tuân theo; Tạng luận: các tác phẩm luận giải về phật giáo của các học giả cao tăng về sau

2 Quan điểm về triết lý nhân sinh của phật giáo:

Nội dung triết lý nhân sinh của phật giáo được thể hiện tập trung trong thuyết “Tứ diệu đế” tức là bốn chân lý tuyệt diệu mà đòi hỏi mọi người phải nhận thức được

- Một là khổ đế: Là triết lý về cuộc đời và con người là bể khổ, ít nhất có tám nỗi

khổ Đó là: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, thụ biệt khổ (yêu thương nhau mà phải xa nhau), oán tăng hội (ghét nhau mà phải gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn mà không được), ngũ thụ uẩn (do năm yếu tố tạo nên con người) Vậy con người ở đâu, làm gì cũng

khổ

- Hai là nhân đế (tập đế): Triết lý về nguyên nhân của sự khổ Phật giáo cho rằng

nỗi khổ của con người là có nguyên nhân, phật giáo đưa ra 12 nguyên nhân của sự khổ gọi

là thuyết “thập nhị nhân duyên”

1) Vô minh: Là không sáng suốt

2) Duyên hành: Là ý muốn thúc đẩy hành động

3) Duyên thức: Tâm từ trong sáng trở nên u tối

4) Duyên danh sắc: Sự hội tụ của các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơ quan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức)

5) Duyên lục nhập: Là quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các giác quan

6) Duyên xúc: Là sự tiếp xúc với thế giới xung quanh sinh ra cảm giác

7) Duyên thụ: Là sự cảm thụ, sự nhận thức trước sự tác động của thế giới bên ngoài 8) Duyên ái: Là sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giới bên ngoài

9) Duyên thủ: Do yêu thích rồi muốn chiếm lấy, giữ lấy

10) Duyên hữu: Là sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được

11) Duyên sinh: Là sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại

12) Duyên lão tử: Là già và chết vì có sự sinh thành

Đó là 12 nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng luẩn quẩn của nỗi khổ đau nhân loại

Trang 11

– Ba là diệt đế: Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ đều có thể tiêu diệt được để đạt tới trạng thái niết bàn

– Bốn là đạo đế: Là con đường tu đạo để hoàn thiện đạo đức cá nhân, đó cũng là con đường giải thoát khỏi nỗi khổ để đạt tới hạnh phúc Phật giáo đưa ra tám con đường chân chính gọi là (bát chính đạo)

1) Chính kiến: Là hiểu biết đúng đắn tứ diệu đế

2) Chính tư duy: Là suy nghĩ đúng đắn

3) Chính ngữ: Nói năng phải đúng đắn

4) Chính nghiệp: Giữ nghiệp một cách đúng đắn, không làm việc xấu, nên làm việc thiện

5) Chính mệnh: Giữ ngăn dục vọng đúng đắn

6) Chính tinh tiến: Cố gắng nỗ lực đúng hướng, không biết mệt mỏi

7) Chính niệm: Là tâm niệm tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát

8) Chính định: Là kiên định, tập trung tư tưởng cao độ mà suy nghĩ về tứ diệu đế, về

vô ngã, vô thường

Ngoài tám con đường chính để diệt khổ, phật giáo còn đưa ra năm điều răn để mỗi

người chủ động thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho mình và cho mọi người Đó là: bất sát (không được sát sinh); bất dâm (không được dâm dục); bất vọng ngữ (không được nói năng thô tục, bậy bạ); bất ẩm tửu (không được rượu trà); bất đạo (không được trộm cướp)

3 Ý nghĩa về quan điểm nhân sinh cảu phật giáo

- Về mặt tích cực: phật giáo nói lên được tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, phê phán sự bất công, đòi tự do bình đẳng xã hội đồng thời nêu lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch của cuộc đời, làm cho con người không ngừng tu dưỡng phẩm chất, đạo đức cá nhân

- Về mặt tiêu cực: trong triết lý nhân sinh của phật giáo vẫn mang nặng tính bi quan không tưởng và duy tâm về xã hội

Câu 3: Phân tích tư tưởng triết học Mạnh tử trong lịch sử triết học trung hoa cổ?

Mạnh Tử (327-289 trước Công Nguyên) tên thật là Mạnh Kha, tự là Dư, sinh ra tại nước Lỗ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Ông là người kế thừa xuất sắc tư tưởng trường phái Nho gia, thực chất là kế thừa quan điểm và tư tưởng của nhà triết gia Khổng Tử Ông đã hệ thống hóa triết học duy tâm của Nho gia trên phương diện thế giới quan và nhận thức luận Quan điểm triết học của Mạnh Tử thể hiện ở ba nội dung:

a Quan điểm về thế giới quan

Mạnh Tử phát triển tư tưởng “thiên mệnh” của Khổng tử và đẩy thế giới quan ấy đến đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm Ông cho rằng không có việc gì xảy ra mà không có mệnh trời, mình nên tùy phận mà nhận lấy cái mệnh chính đáng ấy Từ đó Mạnh Tử đưa ra học thuyết “vạn vật đều có đủ trong ta nên chỉ cần tự tĩnh nội tâm là biết được tất cả” nghĩa là không phải tìm cái gì ở thế giới khách quan mà chỉ cần tu dưỡng nội tâm là biết được tất cả

b Quan điểm về bản chất con người

Ông là người đi sâu vào việc lý giải bản chất con người, ông cho rằng con người khi sinh ra vốn là thiện “nhân chi sơ, tính bổn thiện” Tính thiện đó là do thiên phú mà có chứ không phải là do con người chọn, nếu như con người biết nuôi dưỡng, giữ gìn thì làm cho tính thiện ngày càng hoàn thiện hơn Nếu như không biết nuôi dưỡng, giữ gìn thì làm cho tính thiện ngày càng mai một đi, con người trở nên xấu xa, nhỏ nhen, ti tiện không khác gì loài cầm thú

Trang 12

Từ đó Mạnh Tử kết luận rằng bản chất con người là thiện nhưng trong hiện thực thì con người có thể là ác Đó là do xã hội rối loạn, luân thường đạo lý bị đảo lộn.Cho nên để thiết lập quốc gia thái bình, thịnh trị thì phải lại con người tính thiện bằng đường lối chính trị lấy con người làm gốc

c Quan điểm về chính trị xã hội

Trong học thuyết, quan điểm về chính trị - xã hội Mạnh Tử có nhiều tiến bộ, đặc biệt là tư tưởng của ông về dân quyền, tức là quan điểm về quần chúng nhân dân Ông là người đầu tiên đề cao vai trò của người dân, ông cho rằng: “Dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ chi” Với tinh thần ấy, Mạnh Tử chủ trương xây dựng một chế độ “bảo dân, dưỡng dân” – bảo vệ cho dân, nuôi dưỡng, chăm lo cho dân, phải tạo cho dân có nhà cửa ruộng vườn Vì vậy, ông chủ trương khôi phục lại chế độ “đinh điền” để chia ruộng đất cho dân, để cho dân có tài sản, ông cho rằng dân có hằng sản thì mới hằng tâm Đồng thời ông khuyên các bậc vua chúa phải tiết kiệm chi tiêu, thu thuế của dân có chừng mực Đó là những quan điểm hết sức mới mẻ và tiến bộ của ông, khiến ông mạnh dạn đưa vào đường lối chính trị của Nho gia hàng loạt vấn đề mới mẻ, toát lên tinh thần nhân bản theo đường lối lấy dân làm gốc

Câu 4: Nội dung quan điểm triết học duy vật của Đêmôcrit (460 – 370 tr.CN)

Đêmôcrit là một trong những nhà triết học duy vật vĩ đại trong thế giới cổ đại Ông sinh ra ở Apđe, một thành phố thương mại lớn nhất vùng Tơ – ra – xơ trong một gia đình giàu có, có điều kiện để học tập và đi du lịch nhiều nơi, do vậy ông có tầm hiểu biết rộng, nắm được hầu hết những kiến thức đương thời như: Triết học, Logic học, Toán học, Vũ trụ học, Vật lý học, Sinh vật học, Tâm lý học, Đạo đức học, Mỹ học, Ngôn ngữ học, … Vì vậy, ông được coi là người có bộ óc bách khoa đầu tiên của Hy Lạp Quan điểm duy vật của ông được thể hiện ở những nội dung sau:

Quan điểm về thế giới

Đêmôcrit cho rằng, cơ sở đầu tiên cấu tạo nên mọi vật là nguyên tử Nguyên tử là phần tử nhỏ nhất không thể phân chia được nữa, không nhìn thấy được, không âm thanh, không màu sắc, không mùi vị và tồn tại vĩnh viễn

Theo quan điểm của Đêmôcrit, sự vật là do các nguyên tử liên kết lại với nhau tạo nên Tính đa dạng của các nguyên tử làm nên tính đa dạng của thế giới các sự vật Nguyên

tử tự vận động nhưng khi kết hợp với nhau thành vật thể thì làm cho vật thể và thế giới chuyển động không ngừng Lần đầu tiên trong lịch sử Đêmôcrit nêu lên khái niệm không gian là khoảng trống mà ở đó các nguyên tử vận động liên kết lại với nhau Ông là người đã thấy mối liên hệ giữa vật chất, vận động và không gian Ở đây, Đêmôcrit đã thể hiện lập trường duy vật về tự nhiên

Nét đặc sắc trong triết học duy vật của ông là tư tưởng quyết định luận, nghĩa là ông giải thích mọi hiện tượng biến đổi theo quy luật nhân quả Theo ông vũ trụ do vô số thế giới tạo nên Do những sự vật kết hợp khác nhau (tập trung và phân tán) của những nguyên tử luôn vận động trong không gian và tuân theo quy luật của tự nhiên đã tạo nên sự xuất hiện

và diệt vong của vô số thế giới, hợp thành vũ trụ Ông cho rằng sự sống là kết quả của quá trình biến đổi dần dần từ thấp đến cao của tự nhiên Sinh vật đầu tiên xuất hiện ở môi trường nước là bùn, dưới tác động của nhiệt độ Sinh vật đó sống dưới nước, sau đó dần dần xuất hiện sinh vật có vú sống trên cạn, cuối cùng là con người trên quả đất

Sự thừa nhận tính quy luật, tính nhân quả trong triết học của Đêmôcrit là thành quả

có giá trị của triết học duy vật cổ đại Hy Lạp Song, ông lại phủ nhận tính ngẫu nhiên và cho rằng trong cuộc sống nếu chỉ dựa vào ngẫu nhiên thì chỉ làm cho con người thêm lười biếng

mà thôi Ông bác bỏ quan điểm duy tâm, xem linh hồn là bản nguyên của thế giới Ông cho

Trang 13

rằng linh hồn cũng được cấu tạo từ các nguyên tử hình cầu nó cũng chết cùng với cái chết của cơ thể

Về lý luận nhận thức

Đêmôcrit là người có công đặt nền móng cho sự hình thành lý luận nhận thức chủ nghĩa duy vật Ông thừa nhận khả năng nhận thức của con người về thế giới Ông chia nhận thức ra làm hai dạng: Nhân thức cảm tính do các giác quan đem lại gọi là nhận thức mờ tối, thực chất là trực quan sinh động và dạng nhận thức chân lý thông qua phán đoán logic, thực chất là giai đoạn tư duy trừu tượng Ông cho rằng dạng nhận thức chân lý phản ánh được bản chất của sự vật và hai dạng nhận thức này có liên hệ chặt chẽ với nhau và đều có vai trò quan trọng nhưng dạng nhận thức chân lý đáng tin cậy hơn vì có khả năng phản ánh được bản chất của sự vật

Đêmôcrit còn là người đặt nền móng cho sự ra đời của logic học với tư cách là khoa học của tư duy Ông là người đầu tiên trong lịch sử viết tác phẩm “Bàn về logic học” Ông coi logic học là một công cụ để nhận thức các hiện tượng của tự nhiên

Ví dụ:

Từ những đặc điểm riêng – đến đặc điểm chung – đến khái niệm

+ Cây lúa có đặc điểm: Lá hình mác, thân thảo, rễ chùm Cây xoài có đặc điểm: Lá hình bầu dục, thân gỗ, rễ cọc Cây mít có đặc điểm: Lá hình bầu dục, thân gỗ, rễ cọc Các cây này đều có đặc điểm chung là đều có lá, thân, rễ - Khái niệm “Cái cây”

+ Từ các đặc điểm: Động vật biết chế tạo công cụ lao động và có ý thức – Khái niệm

“Con người” vừa là thực thể sinh vật vừa là thực thể xã hội

+ Từ các đặc điểm chung và các dạng vật chất vô cơ, vật chất hữu cơ, vật chất xã hội

là đều tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người – Khái niệm “Vật chất”

Trong lĩnh vực chính trị - xã hội

Đêmôcrit phê phán mạnh mẽ tôn giáo Ông cho rằng những thần thánh của tôn giáo

Hy Lạp chỉ là sự nhân cách hóa những hiện tượng của tự nhiên hay thuộc tính của con người Đêmôcrit là người đứng trên lập trường của tầng lớp chủ nô dân chủ chống lại bọn chủ nô quý tộc

Đêmôcrit có những quan điểm tiến bộ về mặt đạo đức Theo ông, phẩm chất con người không phải ở lời nói mà ở việc làm Con người cần hành động có đạo đức, còn hạnh phúc của con người là ở khả năng trí tuệ, ở khả năng tinh thần nói chung và đỉnh cao hạnh phúc là trở thành nhà thông thái, trở thành công dân của thế giới

Tóm lại, những quan điểm, tư tưởng triết học của Đêmôcrit còn mang tính chất phát, mộc mạc, trực quan, song nó đã đưa triết học duy vật Hy Lạp cổ đại lên bước tiến mới, đóng góp cho kho tàng triết học của nhân loại những thành quả vô giá

Trang 14

Phần II: Thầy Triết 9 câu

Câu 1: Anh chị hãy phân tích nội dung quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và nêu ý nghĩa của quy luật? Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn thì bản chất anh chị vận dụng ý nghĩa đó như thế nào?

Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng

- Chất và lượng của sự vật hiện tượng là 2 mặt thống nhất quy định lẫn nhau Sự thống nhất phụ thuộc lẫn nhau giữa chất và lượng được thể hiện trong quan hệ nhất định và trong quan hệ đó chất và lượng cùng quy định sự tồn tại của sự vật thì quan hệ đó gọi là độ của sự vật Vậy, độ là giới hạn và trong giới hạn độ của mình sự vật còn là nó chưa biến thành sự vật hiện tượng

- Trong phạm vi một độ nhất định hai mặt chất và lượng liên hệ tác động lẫn nhau làm cho sự vật vận động biến đổi, sự vận động biến đổi của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi vượt quá giới hạn độ dẫn đến sự thay đổi về chất Sự thay đổi về chất gọi là bước nhảy và ở thời điểm xảy ra bước nhảy gọi là điểm nút

- Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng, nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động liên tục của sự vật nhưng nó không chấm dứt sự vận động nói chung mà chỉ chấm dứt một dạng tồn tại của sự vật

Ý nghĩa

- Quy luật lượng chất giúp ta hiểu được bước nhảy làm cho chất mới ra đời thay thế chất cũ Và chất chỉ thay đổi khi lượng thay đổi vượt quá giới hạn độ Do đó trong hoạt động nhận thức và thực tiễn để có sự thay đổi về chất phải quan tâm đến quá trình tích lũy

về lượng và khi lượng thay đổi vượt quá giới hạn độ thì phải thực hiện bước nhảy Đó là yêu cầu khách quan của sự vận động phát triển của sự vật

- Phải có thái độ khách quan khoa học và có quyết tâm thực hiện các bước nhảy: quy luật của tự nhiên và quy luật của quy luật của đời sống xã hội đều có tính khách quan Song

sự khác nhau giữa quy luật của giới tự nhiên và quy luật của đời sống XH là ở chổ: quy luật trong giới tự nhiên diễn ra tự phát, còn quy luật của đời sống XH chỉ được giải quyết thông qua hoạt động có ý thức của con người Do đó, trong hoạt động thực tiễn chẳng những chúng ta phải xác định được quy mô và nhịp điệu bước nhảy khi điều kiện đã chín muồi, chủ động nắm bắt thời cơ thực hiện kịp thời cơ thực hiện kịp thời các bước nhảy khi điều kiện cho phép

Trang 15

luật lượng chất Bởi vì, dù nhanh hay chậm thì sớm muộn, sự tích lũy về tri thức cũng sẽ làm con người có được sự thay đổi nhất định, tức là có sự biến đổi về chất Quá trình biến đổi này trong bản thân con người diễn ra vô cùng đa dạng và phong phú, ở ví dụ này chúng tôi chỉ xin giới hạn việc làm rõ quy luật lượng chất thông qua quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên và học viên

Là sinh viên, ai cũng phải trải qua quá trình học tập ở các bậc học phổ thông kéo dài trong suốt 12 năm Trong 12 năm ngồi trên ghế nhà trường, mỗi học sinh đều được trang bị những kiến thức cơ bản của các môn học thuộc hai lĩnh vực cơ bản là khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Bên cạnh đó, mỗi học sinh lại tự trang bị cho mình những kĩ năng, những hiểu biết riêng về cuộc sống, về tự nhiên, xã hội Quá trình tích lũy về lượng (tri thức) của mỗi học sinh là một quá trình dài, đòi hỏi nỗ lực không chỉ từ phía gia đình, nhà trường mà còn chính tử sự nỗ lực và khả năng của bản thân người học Quy luật lượng chất thể hiện ở chỗ, mỗi học sinh dần tích lũy cho mình một lượng kiến thức nhất định qua từng bài học trên lớp cũng như trong việc giải bài tập ở nhà Việc tích lũy kiến thức sẽ được đánh giá qua các kì, trước hết là các kì thi học kì và sau đó là kì thi tốt nghiệp Việc tích lũy đủ lượng kiến thức cần thiết sẽ giúp học sinh vượt qua các kì thi và chuyển sang 1 giai đoạn mới Như vậy, có thể thấy rằng, trong quá trình học tập, rèn luyện của học sinh thì quá trình học tập tích lũy kiến thức chính là độ, các kì thi chính là điểm nút, việc vượt qua các kì thi chính là bước nhảy làm cho việc tiếp thu tri thức của học sinh bước sang giai đoạn mới, tức là có sự thay đổi về chất

Trong suốt 12 năm học phổ thông, mỗi học sinh đều phải tích lũy đủ khối lượng kiến thức và vượt qua những điểm nút khác nhau, nhưng điểm nút quan trọng nhất, đánh dấu bước nhảy vọt về chất và lượng mà học sinh nào cũng muốn vượt qua đó là kì thi đại học Vượt qua kì thi tốt nghiệp cấp 3 đã là một điểm nút quan trọng, nhưng vượt qua được kì thi đại học lại còn là điểm nút quan trọng hơn, việc vượt qua điểm nút này chứng tỏ học sinh đã

có sự tích lũy đây đủ về lượng, tạo nên bước nhảy vọt, mở ra một thời kì phát triển mới của lượng và chất, từ học sinh chuyển thành sinh viên

Cũng giống như ở phổ thông, để có được tấm bằng đại học thì SV cũng phải tích lũy

đủ các học phần theo quy định Tuy nhiên, việc tích lũy kiến thức ở bậc đại học có sự khác biệt về chất so với học phổ thông, sự khác biệt nằm ở chỗ, sinh viên ko chỉ tiếp thu kiến thức một cách đơn thuần mà phải tự mình tìm tòi nghiên cứu, dựa trên những kĩ năng mà giảng viên đã cung cấp Nói cách khác, ở bậc đại học, việc học tập của sinh viên khác hẳn

về chất so với học sinh ở phổ thông Việc tiếp thu tri thức diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú, từ cơ bản đến chuyên sâu, từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều Từ

sự thay đổi về chất do sự tích lũy về lượng trước đó (ở bậc học phổ thông) tạo nên, chất mới cũng tác động trở lại Trên nền tảng mới, trình độ, kết cấu cũng như quy mô nhận thức của sinh viên cũng thay đổi, tiếp tục hướng sinh lên tầm tri thức cao hơn

Cũng giống như ở bậc học phổ thông, quá trình tích lũy các học phần của sinh viên chính là độ, các kì thi chính là điêmt nút và việc vượt qua các kì thi chính là bước nhảy, trong đó bước nhảy quan trọng nhất chính là kì thi tốt nghiệp Vượt qua kì thi tốt nghiệp lại đưa sinh viên chuyển sang một giai đoạn mới, khác về chất so với giai đoạn trước Quá trình

đó cứ liên tục tiếp diễn, tạo nên sự vận động và phát triển không ngừng ngay trong chính bản thân con người, tạo nên động lực không nhỏ cho sự phát triển của xã hội

Việc nhận thức quy luật lượng chất trong quá trình học tập của học sinh sinh viên có

ý nghĩa rất to lớn trong thực tiễn, không chỉ với bản thân người học mà còn rất có ý nghĩa với công tác quản lý và đào tạo Thực tế trong nhiều năm qua, giáo dục nước ta đã mắc phải nhiều sai lầm trong tư duy quản lý cũng như trong hoạt động đào tạo thực tiễn Việc chạy theo bệnh thành tích chính là thực tế đáng báo động của ngành giáo dục bởi vì mặc dù sẹ tích lũy về lượng của học sinh chưa đủ nhưng lại vẫn được “tạo điều kiện” để thực hiện

Trang 16

“thành công” bước nhảy, tức là không học mà vẫn đỗ, không học nhưng vẫn có bằng Kết quả là trong nhiều năm liền, giáo dục nước ta đã cho ra lò những lớp người không “lượng”

mà cũng chẳng có “chất”

Xuất phát từ việc nhận thức một cách đúng đắn quy luật trên cho phép chúng ta thực hiện những cải cách quan trọng trong giáo dục Tiêu biểu là việc chống lại căn bệnh thành tích trong giáo dục ở bậc phổ thông và đào tạo đại học Việc chuyển từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ và cho phép người học được học vượt tiến độ chính là việc áp dụng đúng đắn quy luật lượng chất trong tư duy con người

Câu 2: Trình bày nội dung, ý nghĩa của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập?

Đây là 1 trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng, nói lên nguồn gốc động lực của

sự phát triển Lê-nin gọi quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng, nghĩa là nắm bắt được quy luật này sẽ là cơ sở để hiểu các quy luật khác và hiểu được nguồn gốc vận động, phát triển của mọi hiện tượng

1 Nội dung của quy luật

1.1 Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, phổ biến

- Phép siêu hình: phủ nhận mâu thuẫn bên trong bản thân của sự vật, hiện tượng, cho rằng chỉ có sự khác nhau giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác và trong xã hội nếu có mâu thuẫn sẽ làm cho xã hội tan rã còn trong tư duy nếu có mâu thuẫn thì đó là

sự suy nghĩ sai lầm

- Phép biện chứng duy vật:

+ Khẳng định mọi sự vật, hiện tượng đều có mâu thuẫn bên trong và mỗi sự vật, hiện tượng là thể thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau Các mặt đối lập liên hệ bài trừ, gạt bỏ lẫn nhau thì tạo nên mâu thuẫn

+ Mâu thuẫn là một chỉnh thể trong đó có mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau

+ Mâu thuẫn chẳng những là hiện tượng khách quan mà còn phổ biến, mâu thuẫn tồn tại một cách khách quan ở mọi sự vật, hiện tượng trong suốt quá trình của sự vật và không

có sự vật, hiện tượng nào không có mâu thuẫn, nếu không có mâu thuẫn này cũng sẽ có mâu thuẫn khác, mâu thuẫn có trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy

* Một số loại mâu thuẫn:

a) Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài

- Mâu thuẫn bên trong: là mâu thuẫn xảy ra ngay bên trong bản thân của sự vật, hiện tượng

- Mâu thuẫn bên ngoài: là do sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng

b) Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản:

- Mâu thuẫn cơ bản: là mâu thuẫn quyết định bản chất của sự vật, gắn liền với sự vật

và khi mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời

- Mâu thuẫn không cơ bản: chịu sự chi phối của mâu thuẫn cơ bản, không giữ vai trò quyết định bản chất của sự vật và hiện tượng nhưng nó cũng giữ một vai trò nhất định đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

c) Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu

- Mâu thuẫn chủ yếu: là mâu thuẫn nổi bật lên hàng đầu ở mỗi giai đoạn nhất định của quá trình phát triển của sự vật Nó có tác dụng quyết định đối với những mâu thuẫn khác trong cùng một giai đoạn của quá trình phát triển của sự vật

Trang 17

- Mâu thuẫn thứ yếu: là những mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định

d) Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng:

- Mâu thuẫn đối kháng: là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người, những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau không thể điều hòa được và đi đến đấu tranh một mất một còn

- Mâu thuẫn không đối kháng: là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người, những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, còn mâu thuẫn chỉ tạm thời cục bộ

1.2 Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

- Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau tạo nên thế cân bằng nhưng liên hệ phụ thuộc ràng buộc tác động lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề để tồn tại cho mình và ngược lại nếu thiếu một trong hai mặt đối lập thì sự vật sẽ không tồn tại

- Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự phủ định bài trừ gạt bỏ lẫn nhau

1.3 Đấu tranh của sự đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển

- Phép biện chứng duy vật chỉ ra là muốn tìm nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển thì phải tìm ngay bên trong bản thân của sự vật, hiện tượng Mọi sự vật, hiện tượng là thể thống nhất trong các mặt đối lập, trong đó có 2 mặt đối lập cơ bản Các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau Chừng nào sự vật chưa mất đi thì đấu tranh của các mặt đối lập còn diễn ra và đấu tranh của các mặt đối lập làm cho thể thống nhất cũ mất

đi, thể thống nhất mới cao hơn ra đời

- Đấu tranh của các mặt đối lập là quá trình diễn ra phức tạp, nhất là trong lĩnh vực xã hội, quá trình này có thể chia ra nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm riêng thông thường khi mới xuất hiện thì có 2 mặt đối lập chưa thể hiện sự xung đột gay gắt và trong quá trình phát triển của mâu thuẫn thì đấu tranh của các mặt đối lập ngày càng trở nên quyết liệt khi hội đủ những điều kiện cần thiết thì dẫn đến sự chuyển hóa lẫn nhau, lúc đó mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời Sự vật mới là thể thống nhất của những mặt đối lập mới và đấu tranh của các mặt đối lập lại diễn ra làm cho mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ lại mất đi, sự vật mới cao hơn ra đời và quá trình này được lặp đi lặp lại không ngừng làm cho con đường phát triển diễn ra liên tục ngày càng cao Điều đó chứng minh đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển

2 Ý nghĩa

Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn phải phát hiện sớm mâu thuẫn để giải quyết kịp thời, phải phân loại mâu thuẫn để có biện pháp giải quyết thích hợp và giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh, mục đích của đấu tranh là thúc đẩy sự vật phát triển

- Đối với nhận thức: mâu thuẫn là khách quan phổ biến nên việc nhận thức mâu thuẫn của sự vật là cực kỳ quan trọng Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét toàn diện các mặt đối lập, theo dõi quá trình phát sinh, phát triển của các mặt đó, phải phân biệt được các loại mâu thuẫn để giải quyết kịp thời đưa sự vật phát triển tiến lên

- Đối với hoạt động thực tiễn:

+ Phải xác định đúng trạng thái chín muồi của mâu thuẫn, tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổ chức thực tiễn để giải quyết mâu thuẫn một cách thực tế

+ Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi Cho nên, chúng ta không được giải quyết mâu thuẫn một cách vội vàng khi chưa có đủ điều kiện, cũng không

để cho việc giải quyết mâu thuẫn diễn ra một cách tự phát, chủ động thúc đẩy sự chín muồi của mâu thuẫn

Trang 18

+ Mâu thuẫn được giải quyết bằng con đường đấu tranh (dưới những hình thức cụ thể rất khác nhau) Đối với các mâu thuẫn khác nhau cần có phương pháp giải quyết khác nhau Phải có biện pháp giải quyết thích hợp với từng mâu thuẫn

Câu 3: Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định và ý nghĩa của phương pháp luận của quy luật này trong việc xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay?

- Vị trí của quy luật: Đây là 1 trong 3 qui luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, nó

phản ánh về khuynh hướng chung của sự vận động phát triển và tiến lên thông qua 1 chu kì phủ định biện chứng thì sự vật hiện tượng mới sẽ ra đời thay thế cho sự vật hiện tượng cũ nhưng ở trình độ cao hơn cái cũ

- Khái niệm phủ đinh, phủ định biện chứng

Phủ định: là sự thay thế bằng sự vật khác trong quá trình vận động và phát triển

Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ phủ định tự thân, là mắt khâu của

quá trình dẫn đến ra đời sự vật mới, tiến bộ hơn sự vật cũ Mọi quá trình vận động và phát triển các lĩnh vực tự nhiên, xã hội hay tư duy diễn ra thông qua những sự thay thế, trong đó

có sự thay thế chấm dứt sự phát triển, nhưng cũng có sự thay thế tạo ra điều kiện, tiền đề cho quá trình phát triẻn của sự vật Những sự thay thế tạo ra điều kiện, tiền đề cho qúa trình phát triển của sự vật thì gọi là phủ định biện chứng

- Tính chất của phủ định

Tính khách quan

Nguyên nhân của phủ định nằm trong bản thân sự vật, hiện tượng, nó là quá trình đấu tranh, giải quyết mâu thuẫn tất yếu bên trong bản thân sự vật, tạo kả năng ra đời cái mới thay thế cái cũ, nhờ đó tạo nên xu hướng phát triển của chính bản thân sự vật

Tính kế thừa

Tính kế thừa của Phủ định được thể hiện mà trong đó cái mới hình thành và phát triển tự thân thông qua quá trình chọn lọc, loại bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời, giữ lại những nội dung tích cực

Nội dung quy luật Phủ định của phủ định

Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là do mâu thuẫn trong bản thân sự vật quyết định Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật - giữa mặt khẳng định và phủ định

Sự phủ định lần thứ nhất diễn ra là cho sự vật cũ chuyển thành cái đối lập với mình (cái phủ định, phủ định cái bị phủ định, cái bị phủ định là tiền đề là cái cũ, cái phủ định là cái mới xuất hiện sau cái phủ định là cái đối lập với cái bị phủ định Cái phủ định sau khi khi phủ định cái bị phủ định, cái phủ định định lại tiếp tục biến đổi và tạo ra chu kỳ phủ định lần thứ hai) Sự phủ định lần thứ hai được thực hiện dẫn tới sự vật mới ra đời Sự vật này đối lập với cái được sinh ra ở lần phủ định thứ nhất Nó dường như lập lại cái ban đầu nhưng nó được bổ sung nhiều nhân tố mới cao hơn, tích cực hơn

Ý nghĩa quy luật phủ định của phủ định

Quá trình phủ định mang tính đi lên, vì vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải có niềm tin vào xu hướng của sự phát triển

Chu kỳ sau bao giờ cũng tiến bộ hơn chu kỳ trước.trong sự thay thế đó có sự tác động của các nhân tố chủ quan của con người, vì vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải phát huy tính năng động sáng tạo, phát hiện những cái mới thay thế những cái cũ lỗi thời

Trang 19

Phủ định mang tính kế thừa, vì vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải kế thừa những yếu

tố tích cực Kế thừa phát triển những tinh hoa văn hoá của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Loại bỏ những hủ tục lạc hậu, những tư tưởng lỗi thời mang tính bảo thủ Trong quá trình đổi mới của nước ta cùng đều diễn ra theo chiều hướng đó Nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự quản lý điều tiết của nhà nước tạo tiền đề phủ định nền kinh tế tập trung, bao cấp đặt nền móng cho xã hội phát triển cao hơn nó trong tương lai đó là xã hội xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên ở mỗi mô hình đều có đặc điểm riêng, do đó, chúng ta đã nhận thức được vấn

đề và đã có cách thức tác động phù hợp với sự phát triển của thực tiễn đất nước, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và từng bước xóa bỏ đói nghèo nhưng không vì thế mà chúng ta không trân trọng cái cũ

Chúng ta đã biết giữ hình thức cải tạo nội dung, biết kế thừa và sử dụng đặc trựng tiến bộ của nền kinh tế tập trung là tiền đề để phát triển nền kinh tế thị trường trên cơ sở đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa.chính vì vậy mới có kết quả đáng mừng của 20 năm đổi mới Tuy nhiên để có thành công như hôn nay, trong hoạt động của chúng ta, cả hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiến chúng ta phải vận dụng tổng hợp tất cả những quy luật một cách đầy đủ sâu sắc, năng động, sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể Chỉ có như vậy hoạt động của chúng ta, kể cả hoạt động học tập, mới có chất lượng và hiệu quả cao

Vận dụng quy luật

VD: Hạt thóc Cây mạ Cây lúa

Hạt thóc cho ra đời cây mạ (đây là phủ định lần 1)

Cây mạ cho ra đời cây lúa (đây là phủ định lần 2)

Cây lúa cho ra bông thóc (thóc lại cho ra thóc nhưng lần này không phải là 1 hạt mà là nhiều hạt) Như vậy sau hai lần phủ định sự vật dường như quay trở lại cái cũ, nhưng trên cơ

sở mới cao hơn là đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển biện chứng thông qua phủ định của phủ định

Phủ định của phủ định làm xuất hiện sự vật mới là kết quả của sự tổng hợp tất cả nhân tố tích cực đã có và đã phát triển trong cái khẳng định ban đầu và trong những lần phủ định tiếp theo Do vậy, sự vật mới với tư cách là kết quả của phủ định của phủ định có nội dung toàn diện hơn, phong phú hơn, có cái khẳng định bạn đầu và kết quả của sự phủ định lần thứ nhất

Kết quả của sự phủ định của phủ định là điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển và cũng

là điểm khởi đầu của chu kỳ phát triển tiếp theo Sự vật lại tiếp tục phủ định biện chứng chính mình để phát triển Cứ như vậy sự vật mới ngày càng mới hơn

Quy luật phủ định của phủ định khái quát xu hướng tất yếu tiến lên của sự vật - xu hướng phát triển Song phát triển đó không theo hướng thẳng mà theo đường "xoáy ốc"

Sự phát triển "xoáy ốc" là sự biểu thị rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng của sự vật: tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên Mỗi vòng của đường xoáy ốc dường như thể hiện sự lặp lại, nhưng cao hơn, thể hiện trình độ cao hơn của sự phát triển Tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao được thể hiện ở sự nối tiếp nhau từ dưới lên của các vòng trong đường "xoáy ốc"

Ý nghĩa trong quá trình đổi mới ở nước ta

* Đặc điểm của phủ định trong đời sống xã hội:

- Phủ định trong xã hội là hình thức và kết quả hoạt động của con người do vậy ngoài những

đặ trưng mà mọi phủ định biện chứng đều có thì phủ định biện chứng trong xã hội có 2 đặc điểm riêng:

+ Quan điểm biện chứng và siêu hình về sự phủ định:

> Quan điểm siêu hình về phủ định trong xã hội xuất hiện khi xác định không đúng đối tượng, thời điểm, phương thức phủ định

Trang 20

> Tuyệt đối hoá mặt loại bỏ hoặc mặt giữ lại

+Phủ định xã hội diễn ra bằng cơ chế khác căn bản với phủ định trong tự nhiên

* Vì vậy, phương pháp luận rút ra từ quy luật phủ định của phủ định có ý nghĩa:

- Cho ta cơ sở lý luận để hiểu sự ra đời của các mới, cái mới ra đời từ cái cũ, kế thừa những mặt tích cực của cái cũ do vậy cần chống thái độ phủ định sách trơn

- Phải phát hiện và quý trọng cái mới, phải biết sàng lọc giữ lấy những cái tích cực có giá trị của cái cũ

- Chống lại thái độ bảo thủ, khư khư giữ những cái cản trở bước tiến của lịch sử

Câu 4: Phân tích nội dung của nguyên tắc toàn diện Cho biết trong thực tiển , anh /chị đã vận dụng nguyên tắc đó như thế nào ?

với sự vật, hiện tượng khác, tránh xem xét phiến diện một chiều

Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét, đánh giá từng mặt, từng mối liên hệ, và phải nắm được đâu là mối liên hệ chủ yếu, bản chất quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Trong nhận thức, nguyên tắc toàn diện là yêu cầu tất yếu của phương pháp tiếp cận khoa học, cho phép tính đến mọi khả năng của vận động, phát triển có thể có của sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu, nghĩa là cần xem xét sự vật, hiện tượng trong một chỉnh thể thống nhất với tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, cùng các mối quan

hệ của chúng

Nguyên tắc toàn diện còn đòi hỏi để nhận thức được sự vật, hiện tượng chúng ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Mối liên hệ giữa sự vật,

hiện tượng với nhu cầu của con người rất đa dạng

Nguyên tắc toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện, một chiều; đối lập với chủ nghĩa chiết trung và thuật ngữ ngụy biện

Câu 5: Phân tích nội dung của nguyên tắc lịch sử cụ thể Cho biết trong thực tiễn, anh /chị đã vận dụng nguyên tắc đó như thế nào ?

 Phân tích nội dung:

Nguyên tắc lịch sử - cụ thể cũng là một trong những nguyên tắc phương pháp luận

cơ bản, quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Đặc trưng cơ bản của nguyên tắc này là xem xét sự hình thành, tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng trong điều kiện, môi trường cụ thể, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể Điểm xuất phát của nguyên tắc lịch

sử - cụ thể là sự tồn tại, vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng diễn ra trong không gian, thời gian cụ thể Không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể khác nhau thì các mối liên hệ và hình thức phát triển của sự vật, hiện tượng cũng khác nhau, bởi vậy không chỉ nghiên cứu chúng trong suốt quá trình, mà còn nghiên cứu chúng trong các không gian,

thời gian, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể khác nhau đó

Trang 21

Theo triết học Mác - Lênin, lịch sử phản ánh tính biến đổi về mặt lịch sử của thế giới khách quan trong quá trình lịch sử - cụ thể của sự phát sinh, phát triển, chuyển hóa của sự vật, hiện tượng; biểu hiện tính lịch sử cụ thể của sự phát sinh và các giai đoạn phát triển của

sự vật, hiện tượng Mỗi sự vật, hiện tượng đều có quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của mình và quá trình đó thể hiện trong tính cụ thể, bao gồm mọi sự thay đổi và sự phát triển diễn ra trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau trong không gian và theo thời gian khác nhau Bởi vậy, nguyên tắc lịch sử cụ thể đòi hỏi, để nhận thức đầy đủ về sự vật, hiện

tượng, chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình phát sinh, phát triển, chuyển hóa trong các hình thức biểu hiện, với những bước quanh co, với những ngẫu nhiên gây tác động lên quá trình tồn tại của sự vật, hiện tượng trong không gian và thời gian cụ

thể; gắn với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà trong đó sự vật, hiện tượng tồn tại

Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển trong từng giai đoạn

cụ thể của nó; biết phân tích mỗi tình hình cụ thể trong hoạt động nhận thức và hoạt dộng thực tiễn là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố của nội dung nguyên tắc lịch sử - cụ thể Nguyên tắc lịch sử - cụ thể được V.I.Lênin nêu rõ và cô đọng, “xem xét mỗi vấn đề theo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xét xem hiện nay nó đã trở thành như thế nào” Bản chất của nguyên tắc này nằm ở chỗ, trong quá trình nhận thức sự vật, hiện tượng, trong sự vận động, trong

sự chuyển hóa qua lại của nó, phải tái tạo lại được sự phát triển của sự vật, hiện tượng ấy,

sự vận động của chính nó, đời sống của chính nó Nhiệm vụ của nguyên tắc lịch sử - cụ thể

là tái tạo sự vật, hiện tượng xuyên qua lăng kính của những ngẫu nhiên lịch sử, những bước quanh co, những gián đoạn, theo trình tự không gian và thời gian Nét quan trọng nhất của nguyên tắc lịch sử - cụ thể là mô tả sự kiện cụ thể theo trình tự nghiêm ngặt của sự hình

thành sự vật, hiện tượng Giá trị của nguyên tắc này là ở chỗ, nhờ đó mà có thể phản ánh

được sự vận động lịch sử phong phú và đa dạng của các hình thức biểu hiện cụ thể của sự vật, hiện tượng để qua đó, nhận thức được bản chất của nó

Nguyên tắc lịch sử - cụ thể yêu cầu phải nhận thức được vận động có tính phổ biến, là phương thức tồn tại của vật chất, nghĩa là phải nhận thức được sự vận động làm cho sự vật, hiện tượng xuất hiện, phát triển theo những quy luật nhất định và hình thức của vận động quyết định bản chất của nó; phải chỉ rõ được những giai đoạn cụ thể mà nó đã trải qua trong quá trình phát triển của mình; phải biết phân tích mỗi tình hình cụ thể trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn thì mới có thể hiểu, giải thích được những thuộc tính, những mối liên hệ tất yêu, những đặc trưng chất và lượng vốn có của sự vật,

hiện tượng

Nguyên tắc lịch sử - cụ thể không chỉ yêu cầu nhận thức những thay đổi diễn ra trong sự vật, hiện tượng, nhận thức những trạng thái chất lượng thay thế nhau, mà còn yêu cầu chỉ ra được các quy luật khách quan quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, quy định sự tồn tại hiện thời và khả năng chuyển hoá thành sự vật, hiện tượng mới thông qua sự phủ định; chỉ ra được rằng, thông qua phủ định của phủ đỉnh, sự vật, hiện tượng mới là sự kế tục sự vật, hiện tượng cũ; là sự bảo tồn sự vật,hiện tượng cũ trong dạng

đã được lọc bỏ, cải tạo cho phù hợp với sự vật, hiện tượng mới Như vậy, chỉ khi đã tìm được mối liên hệ khách quan, tất yếu giữa các trạng thái chất lượng, tạo nên lịch sử hình

thành và phát triển của sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu; tạo nên các quy luật quy định sự

tồn tại và chuyển hóa của nó, quy định giai đoạn phát triển này sang giai đoạn phát triển khác cho tới trạng thái chín muồi và chuyển hóa thành trạng thái khác, hay thành các mặt đối lập của nó, thì mới có thể giải thích các đặc trưng chất lượng và số lượng đặc thù của

nó, nhận thức được bản chất của nó

Nguyên tắc lịch sử - cụ thể còn đòi hỏi phải xem xét các sự vật, hiện tượng trong các

Trang 22

mối liên hệ cụ thể của chúng Việc xem xét các mặt, các mối liên hệ cụ thể của sự vật, hiện tượng trong quá trình hình thành, phát triển cũng như diệt vong của chúng cho phép nhận thức đúng đắn bản chất các sự vật, hiện tượng và từ đó mới có định hưóng đúng cho hoạt động thực tiễn của con ngưòi Đối với việc nghiên cứu quá trình nhận thức, nguyên tắc lịch

sử - cụ thể cũng đòi hỏi phải tính đến sự phụ thuộc của quá trình đó vào trình độ phát triển của xã hội, trình độ phát triển của sản xuất và các thành tựu khoa học trước đó

Sự kiện tuy có vai trò quan trọng đối với nguyên tắc lịch sử - cụ thể nói riêng và đối với các nguyên tắc khác nói chung, nhưng nguyên tắc lịch sử - cụ thể không kết hợp các sự kiện riêng lẻ, mô tả các sự kiện, mà tái hiện sự kiện, chỉ ra mối liên hệ nhân quả giữa các sự kiện với nhau, khám phá quy luật và phân tích ý nghĩa và vai trò của chúng để tạo nên bức tranh khoa học về các quá trình lịch sử

Nhận thức sự vật, hiện tượng theo nguyên tắc lịch sử - cụ thể là cần thấy các mối liên

hệ, sự biến đổi của chúng theo thời gian, cũng như trong những không gian tồn tại khác nhau của mỗi mặt, mỗi thuộc tính, đặc trưng của sự vật, hiện tượng; tránh khuynh hướng giáo điều chung chung, trừu tượng không cụ thể Mặt khác, cũng cần đề phòng khuynh hướng tuyệt đối hóa tính cụ thể, không thấy sự vật, hiện tượng trong cả quá trình vận động, biến đổi Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải vừa thấy tính cụ thể, vừa thấy cả quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng là điều tất yếu

 Vận dụng của bản thân

Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử- cụ thể góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân chúng ta Song để thực hiện được chúng, mỗi chúng ta cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng - nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về

sự phát triển, biết vận dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình Đối với học viên, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, vẫn có thể sử dụng các nguyên tắc phương pháp luận đó vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, xã hội ta ngày càng tươi đẹp

Chúng ta có thể áp dụng những quan điểm này trong cuộc sống:

Chúng ta hiện nay đều là những tân học viên, khi mới nhập học hầu như là không quen biết nhau Khi nhìn thấy 1 bạn nào đấy, chắc chắn chúng ta đều có những ấn tượng đầu tiên

về ngoại hình, tính cách của bạn đó Nhưng nếu chỉ qua 1 vài lần gặp mặt mà chúng ta đã đánh giá bạn là người xấu hoặc tốt, dễ tính hay khó tính Cách đánh giá như vậy là phiến diện, chủ quan trái với quan điểm toàn diện.Điều có thể làm cho chúng ta có những quyết định sai lầm Chẳng hạn như khi nhìn thấy một người có gương mặt ưa nhìn, ăn nói nhỏ nhẹ đã vội vàng kết luận là người tốt và muốn làm bạn, còn khi nhìn thấy một người ít nói, không hay cười thì cho là khó tính không muốn kết bạn Qua một thời gian kết bạn mới nhận ra người bạn mà mình chọn có những đức tính không tốt như lợi dụng bạn bè, ích kỷ Còn người bạn ít nói kia thực ra rất tốt bụng, hay giúp đỡ bạn bè Ấn tượng đầu tiên chỉ quyết định đến quá trình giao tiếp về sau Quan điểm toàn diện dạy cho ta biết rằng khi xem xét, đánh giá một sự vật, hiện tượng phải xem xét đánh giá một cách toàn diện, mọi mặt của vấn đề để hiểu được bản chất thật sự của sự vật hiện tượng Chúng ta không thể chỉ nhìn bề ngoài mà phán xét về phẩm chất, đạo đức của người đó.Vẻ bề ngoài không nói lên được tất

cả, có thể bạn đó có gương mặt lạnh lùng nhưng tính bạn rất cởi mở, hòa đồng, dễ gần Vì vậy muốn đánh giá 1 con người cần phải có thời gian tiếp xúc lâu dài, nhìn nhận họ trên mọi phương diện, ở từng thời điểm,từng hoàn cảnh khác nhau

Trong quan hệ giữa con người với con người, chúng ta phải biết ứng xử sao cho phù hợp với từng con người Đối với những người bề trên như ông,bà,bố,mẹ, thầy cô… thì chúng ta cần có thái độ cư xử lễ phép, tôn trọng họ Đối với bạn bè thì có những hành động,

Trang 23

thái độ thoải mái, tự nhiên Ngay cả quan hệ với một con người nhất định ở những không gian khác nhau hoặc thời gian khác nhau, chúng ta cũng phải có cách giao tiếp, cách quan

hệ phù hợp như ông cha đã kết luận: “đối nhân xử thế” Ví dụ như khi xưa anh ta là người xấu, tính cách không tốt hay vụ lợi không nên giao tiếp chơi thân, nhưng hiện nay anh ta đã sửa đổi tính cách tốt hơn biết quan tâm mọi người không như xưa, chúng ta cần nhìn nhận anh ta khác đi, có thể cư xử khác trước, có thể giao tiếp, kết bạn với anh ta

Hay khi xem xét nguyên nhân của một vấn đề nào đó để giải quyết, chúng ta cần xem xét chúng trong các mối liên hệ để xem nguyên nhân từ đâu để có cách giải quyết, xử lý tốt Khi ta học kém đi, điểm số giảm cần tìm nguyên nhân do đâu khiến ta như vậy Do lười học, không hiểu bài, không làm bài tập hay không có thời gian học Nếu tìm được nguyên nhân cụ thể, chủ yếu, thì sẽ tìm được cách giải quyết đúng đắn

Chúng ta có thể áp dụng những quan điểm này trong việc học tập:

Trong học tập bao giờ cũng xác định mục tiêu, động cơ, thái độ đúng đắn thì mới có kết quả cao hơn Việc vận dụng quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể trong học tập sẽ giúp định hướng học tập sâu hơn và cao hơn, quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể là thế giới quan của mỗi con người

Để vận dụng quan điểm trên chúng ta cần phân tích, xem xét các mặt của việc học một cách cụ thể, toàn diện, phù hợp với từng thời điểm :

- Học tập là suốt đời, học bằng cái gì: bằng mắt, bằng tai, bằng tay, bằng da, bằng mũi, bằng miệng, học cái gì trước, cái gì sau, học cái gì để biết, cái gì để làm, học để tồn tại, học

để chung sống với con người, với vạn vật, với muôn loài

- Người học phải biết khiêm tốn, học phải hỏi, học ở mọi người

- Nhiều thứ con người muốn học, nhưng muốn hiểu kỷ và sâu sắc thì phải tốn nhiều thời gian, kiên trì, kiên nhẫn ví dụ như người trồng lúa: học biết các giống lúa, loại nào phù hợp vùng đất nào, thời tiết nào, những điều kiện và cách chăm bón đúng cách để đạt năng suất, khi phát hiện có sâu rầy phải giải quyết thế nào

- Học phải gắn với hành thì việc học có kết quả nhanh hơn Người xưa vẫn dạy rằng:

“Trăm hay không bằng tay quen” Lao động thời nào cũng vậy, phải luôn ý thực là lí thuyết hay cũng không bằng thực hành giỏi Vai trò của thực hành được đề cao là điều hiển nhiên Ngày nay với đà phát triển của xã hội, quan niệm lí thuyết và thực hành được hiểu khác hơn, học và hành lúc nào cũng đi đôi, không thể tách rời nhau Trước hết ta cần hiểu : “học”

là tiếp thu kiến thức đã được tích luỹ trong sách vở, là nắm vững lí luận đã được đúc kết trong các bộ môn khoa học, đồng thời tếp nhận những kinh nghiệm của cha anh đi trước

“Học” là trau dồi kiến thức, mở mang trí tuệ, từng lúc cập nhật hóa sự hiểu biết của mình, không để tụt lùi, lạc hậu “Học” là tìm hiểu, khám phá những tri thức của loài người nhằm chinh phục thiên nhiên, chinh phục vũ trụ Còn “hành” nghĩa là làm, là thực hành, là ứng dụng kiến thức, lí thuyết vào thực tiễn đời sống Cho nên học và hành có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Học và hành là hai mặt của một qua trình thống nhất, nó không thể tách rời mà phải luôn gắn chặt với nhau làm một

Chúng ta cần hiểu rõ “hành” vừa là mục đích vừa là phương pháp học tập Một khi đã nắm vững kiến thức, đã tiếp thu lí thuyết mà ta không vận dụng vào thực tiễn, thì học cũng trở nên vô ích Có nhiều bạn trẻ khi rời ghế nhà trường vào một nhà máy, một cơ quan… Lúng túng không biết phải làm công việc mà chuyên môn mình đã được học như thế nào? Dẫn đến gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi là sự hoang mang, chán nản Nguyên do dẫn đến việc “học” mà không “hành” được là do học không thấu đáo, khi còn ngồi trên ghế nhà trường không thật sự chuyên tâm, rèn luyện, trau dồi kiến thức hoặc thiếu môi trường hoạt động

Trang 24

Ngược lại nếu hành mà không có lí luận, lí thuyết soi sáng và kinh nghiệm đã được đúc kết dẫn dắt thì việc ứng dụng vào thực tiễn sẽ lúng túng, gặp rất nhiều khó khăn trở ngại, thậm chí có khi còn dẫn đến những sai lầm to lớn nữa Do vậy việc học tập, trau dồi kiến thức và kinh nghiệm là nền tảng để mỗi người áp dụng vào thực tế, thực hành trong thực tiễn cuộc sống

Một thực tế cho thấy, sự thiếu liên hệ giữa kiến thức với thực tiễn ở các trường phổ thông đã khiến các học viên tương lai không biết nên lựa chọn ngành học nào trước mùa thi

Đa số các em không biết sử dụng những kiến thức đã được học vào việc gì ngoài việc để thi đỗ đại học

Hậu quả sâu xa hơn của việc “học” không đi đôi với “hành” là có nhiều học sinh, học viên đạt kết quả học tập rất cao nhưng vẫn ngơ ngác khi bước vào cuộc sống, nhiều thủ khoa sau khi ra trường, va vấp cuộc sống mới tự hỏi: “Không biết việc chọn trường chọn ngành của mình đã đúng hay chưa?” Nhất là khi xã hội đang cần những người có tay nghề cao phục

vụ cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì việc “Học đi đôi với hành” càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

- Tuy nhiên, nếu chỉ chăm vào học tập thôi thì chưa đủ, chúng ta cần phải rèn luyện cả

về phẩm chất, đạo đức như Bác đã từng dạy “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Tài và đức là những phẩm chất khác nhau nhưng luôn luôn gắn bó mật thiết không thể tách rời Có tài mà không có đức là người vô dụng, bởi tài năng đó không phục vụ cái chung mà chỉ mưu cầu lợi ích cho một cá nhân thì cũng trở thành vô giá trị Con người ta không thể sống một mình, không thể tách rời khỏi gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, nhân dân, nhân loại Giá trị một con người được xem xét chính bởi tác dụng của cá nhân đó trong mối quan hệ với đồng loại Người không có đức là người không quan tâm đến quyền lợi của người khác Nếu có tài, họ cũng chỉ vun vén để có lợi cho riêng họ Người có tài mà phản bội Tổ quốc, đi ngược lại lợi ích của tập thể thì chẳng những vô dụng mà còn có tội Người càng có tài mà kém đạo đức thì tác hại mang đến cho gia đình, xã hội càng lớn

Nhưng nếu chỉ có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó Có đức, có khát vọng hành động vì lợi ích của mọi người nhưng không có kiến thức, năng lực kém thì những ý định tốt cũng khó trở thành hiện thực Tài năng giúp con người lao động có hiệu quả Thiếu tài năng, người ta trở nên ít có tác dụng trong đời sống con người Rõ ràng là giá trị con người phải bao gồm cả tài và đức Đức và tài bổ sung, hỗ trợ cho nhau thì con người mới trở nên toàn diện, mới đạt hiệu quả lao động cao và mới có ích cho mọi người

Chúng ta hiện nay đang là những học viên, là những người đang trong quá trình phát triển về mọi mặt cả về thể lực và trí lực, tri thức và trí tuệ nhân cách cho nên thời kì này phải tranh thủ điều kiện để hoàn thiện bản thân, phải rèn luyện cả phẩm chất, năng lực, cả đức cả tài, học hỏi bạn bè, gia đình, nhà trường và xã hội để trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay làm nền tảng cho sự phát triển tiếp tục trong tương lai

Câu 6 Phân tích nội dung của nguyên tắc phát triển

Như chúng ta đã biết, mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên trong nhận thức và hoạt động của bản thân thì bên cạnh nguyên tắc toàn diện

Trang 25

và nguyên tắc lịch sử - cụ thể, chúng ta phải có nguyên tắc phát triển Điều đó có nghĩa là

khi xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong sự vận động, sự phát triển, vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng

Nguyên tắc phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật,

mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biển đổi chính của sự vật Để xem xét sự vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển; để phát hiện ra các quy luật quy định

sự chuyển hóa về chất của nó; để xem xét sự vật, hiện tượng trong giai đoạn phát triển này sang giai đoạn phát triển khác, cần phải chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển là mâu thuẩn Điều quan trọng là phải xem xét sự vật, hiện tượng trong sự thống nhất giữa các mặt đối lập; phát hiện những khuynh hướng mâu thuẫn bên trong, vốn có và sự đấu tranh giữa những khuynh hướng ấy

Xem xét sự vật theo nguyên tắc phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Mỗi giai đoạn phát triển lại có những đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau; bởi vậy, phải có sự phân tích cụ thể để tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tùy theo sự phát triển đó có lợi hay có hại đối với đời sống của con người

Nguyên tắc phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chúng ta Nếu chúng ta tuyệt đối hóa nhận thức, nhất là nhận thức khoa học, về sự vật hay hiện tượng nào đó thì các khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn sẽ không thể phát triển và thực tiễn sẽ dậm chân tại chỗ Chính

vì thế, chúng ta cần phải tăng cường phát huy nỗ lực của bản thân trong việc hiện thực hóa nguyên tắc phát triển vào nhận thức và cải tạo sự vật nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của chúng ta và của toàn xã hội Chúng ta phải sớm phát hiện ra cái mới, ủng hộ cái mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho cái mới đó phát triển thay thế cái cũ Sự thay thế cái cũ bằng cái mới diễn ra rất phức tạp bởi cái mới phải đấu tranh chống lại cái cũ, chiến thắng cái cũ Trong quá trình đó, nhiều khi cái mới hợp quy luật chịu thất bại tạm thời, tạo nên con đường phát triển quanh co, phức tạp Nhận thức được như vậy sẽ vững tin ở cái mới, tìm mọi cách vượt qua cản trở trên con đường phát triển, tạo điều kiện cho cái mới chiến thắng cái cũ Trong quá trình thay thể cái cũ phải biết kế thừa dưới dạng lọc bỏ và cải tạo những yếu tố tích cực đã đạt được, phát triển sáng tạo chúng trong cái mới

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, anh (chị) vận dụng quan điểm của nguyên tắc như thế nào? Tùy cơ ứng biến

Câu 7: Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện trong hoạt động nhận thức, thực tiển , anh /chị đã vận dụng như thế nào ? (Chỉ ra cơ sở lý luận không phân tích nội dung)

a/ Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện: là nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

MLHPB là mối liên hệ giữa các mặt (thuộc tính) đối lập tồn tại trong mọi sự vật, trong

mọi lĩnh vực hiện thực

MLHPB mang tính khách quan và phổ biến Nó chi phối tổng quá sự tồn tại , vận động, phát triển của mọi sự vật, quá trình xảy ra trong thế giới; và là đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng Nó được nhận thức trong các cặp phạm trù (mặt đối lập- mặt đối lập;

Trang 26

chất-lượng; cái cũ-cái mới; cái riêng-cái chung; nguyên nhân- kết quả; nội dung-hình thức;

bản chất- hiện tượng; tất nhiên- ngẫu nhiên; khả năng- hiện thực

Cơ sở lý luận:

Mối liên hệ và MLH phổ biến:

- Mối liên hệ là sự tác động ràng buộc, thâm nhập… lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay quá trình (vạn vật) mà trong đó sự thay đổi của cái này mà tất yếu kéo theo sự thay đổi của các kia Đối lập với mối liên hệ là sự khác biệt Sự tách biệt cũng là sự tác động qua lại giữa các sự vật, hiện tượng hay quá trình nhưng sự thay đổi của cái này sẽ ko tất yếu kéo theo sự thay đổi của cái kia Do vậy mà vạn vật trong thế giới đều luôn tác động lẫn nhau, nhưng có một số tác động dẫn đến sự thay đổi, tức còn nằm trong trạng thái ổn định Vạn vật vừa tách biệt vừa liên hệ, vừa là nó vừa ko là nó Thế giới vật chất là một hệ thống thống nhất mọi yếu tố, bộ phận của nó Chính nhờ sự thống nhất vật chất mà vạn vật luôn

tác động qua lại lẫn nhau

+ Mối liên hệ mang tính khách quan, tính phổ biến

+ Mối liên hệ mang tính đa dạng Nó có thể được chia ra thành: MLH bên trong và MLH bên ngoài; MLH trong tự nhiên, MLH trong xã hội và MLH trong tư duy; MLH riêng,

MLH chung và MLH phổ biến;… Vai trò các MLH khác nhau là ko giống nhau

- MLH phổ biến là MLH giữa các mặt (thuộc tính) đối lập tồn tại trong mọi sự vật,

trong mọi lĩnh vực hiện thực

+ MLH phổ biến cũng mang tính khách quan và bổ biến Nó chi phối tổng quát sự tồn tại, vận động, phát triển của mọi sự vật, quá trình xảy ra trong thế giới; và là đối tượng

nghiên cứu của phép biện chứng

+ MLH phổ biến được nhận thức trong các (cặp) phạm trù biện chứng như MLH giữa: mặt đối lập - mặt đối lập; chất - lượng; cái cũ – cái mới; cái riêng – cái chung; nguyên nhân

- kết quả; nội dung – hình thức; bản chất - hiện tượng; tất nhiên - ngẫu nhiên; khả năng -

hiện thực

Nội dung nguyên lý:

- Mọi sự vật, hiện tượng hay quá trình (vạn vật) trong thế giới đều tồn tại trong muôn

vàn MLH ràng buộc lẫn nhau MLH tồn tại khách quan, phổ biến và đa dạng

- Trong muôn vàn MLH chi phối sự tồn tại của chúng có những MLH phổ biế MLH phổ biến tồn tại khách quan, phổ biến; chúng chi phối một cách tổng quát quá trình vận

động, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong thế giới

b/ Những yêu cầu về Phương pháp luận:

- Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải:

 Tìm hiểu, phát hiện càng nhiều mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm,

tính chất, yếu tố…) đang chi phối sự tồn tại của bản thân sự vật càng tốt

 Phân loại để xác định quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố…) nào

là bên trong, cơ bản, tất nhiên, ổn định…; còn những mối liên hệ nào là bên ngoài, ko cơ

bản, ngẫu nhiên

 Dựa trên các MLH, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố…) bên trong đế lý giải các MLH, quan hệ còn lại Qua đó, xây dựng hình ảnh về SV như sự thống

nhất các MLH; phát hiện ra đặc điểm, tính chất, quy luật (bản chất) của nó

- Trong hoạt động thực tiễn, chủ thể phải:

o Đánh giá đúng vai trò của từng MLH, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất,

yếu tố…) chi phối SV

o Thông qua hoạt động thực tiễn sử dụng nhiều biện pháp thích hợp để biến đổi

những MLH, đặc biệt là những MLH bên trong, cơ bản, tất nhiên, quan trọng…

o Nắm vững sự chuyển hóa các MLH, kịp thời đưa ra các biện pháp bổ sung để

phát huy / hạn chế sự tác động của chúng, lái SV theo đúng quy luật và hợp lợi ích chúng ta

Trang 27

c/ Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn:

 Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tác toàn diện sẽ khắc phục được chủ nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện, trong hoạt động thực tiễn và nhận

thức của chính mình

+ Chủ nghĩa phiến diện: là cách xem xét chỉ thấy ở một mặt, một mối quan hệ, một

tính chất hay từ một phương diện nào đó mà không thấy được nhiều mặt, nhiều mối liên hệ

nhiều tính chất cúa sự vật

+ Chủ nghĩa chiết trung: là cách xem xét chỉ chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ

nhưng ko rút ra được bản chất, mối liên hệ cơ bản của sự vật mà coi chúng như nhau, kết

hợp chúng một cách vô nguyên tắc, tùy tiện

+ Chủ nghĩa ngụy biện: Cách xem xét qua đó đánh tráo cái cơ bản với cái không cơ

bản, cái chủ yếu với cái thứ yếu… hay ngược lại nhằm đạt được mục đích hay lợi ích của

mình một cách tinh vi

- Trong đời sống XH, nguyên tắc toàn diện có vai trò cục kỳ quan trọng Nó đòi hỏi chúng ta không chỉ liên hệ nhận thức với nhận thức mà cần phải liên hệ nhận thức với thực tiễn cuộc sống, phải chú ý đến lợi ích của các chủ thể khác nhau trong xã hội và biết phân biệt đâu là lợi ích cơ bản và lợi ích ko cơ bản

Câu 8: Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc lịch sử - cụ thể trong nhận thức và hoạt động thực tiển

Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật chúng

ta phải chú ý đến điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh

ra tồn tại và phát triển

Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển trong từng giai đoạn

cụ thể của nó; biết phân tích mỗi tình hình cụ thể trong hoạt động nhận thức và trong hoạt động thực tiễn là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố cảu nội dung nguyên tắc lịch sử -

cụ thể

- Bản chất của nguyên tắc này nằm ở chổ: trong quá trình nhận thức sự vật, hiện tượng, trong sự vận động, trong sự chuyển hóa qua lại của nó, phải tái tạo lại được sự phát triển của sự vật, hiện tượng ấy, sự vận động của chính nó, đời sống của chính nó

- Nhiệm vụ của nguyên tắc lịch sử - cụ thể: là tái tạo sự vật, hiện tượng xuyên qua lăng kính của những ngẫu nhiên lịch sử, những bước quanh co, những gián đoạn theo trình tự không gian và thời gian

- Nét quan trọng nhất của nguyên tắc lịch sử - cụ thể: là mô tả sự kiện cụ thể theo trình

tự nghiêm ngặt của sự hình thành sự vật, hiện tượng

- Giá trị của nguyên tắc này ở chổ, nhờ đó mà có thể phản ánh được sự vận động lịch

sử phong phú và đa dạng của các hình thức biểu hiện cụ thể của sự vật, hiện tượng để qua

đó, nhận thức được bản chất của nó

Nguyên tắc lịch sử - cụ thể yêu cầu phải nhận thức được vận động có tính phổ biến, là phương thức tồn tại của vật chất Nguyên tắc lịch sử - cụ thể không chỉ yêu cầu nhận thức những thay đổi diễn ra trong sự vật hiện tượng, nhận thức những trạng thái chất lượng thay thế nhau, mà còn yêu cầu chỉ ra được các quy luật khách quan quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiên tượng, quy định sự tồn tại hiện thời và khả năng chuyển hóa thành sự vật, hiện tượng mới thông qua sự phủ định

Nguyên tắc lịch sử - cụ thể còn đòi hỏi phải xem xét các sợ vật, hiện tượng trong các mối liên hệ cụ thể của chúng Đối với việc nghiên cứu quá trình nhận thức, nguyên tắc lịch

Trang 28

sử - cụ thể cũng đòi hỏi phải tính đến sự phụ thuộc của quá trình đó vào trình độ phát triển của xã hội, trình độ phát triển của sản xuất và các thành tựu khoa học trước đó

Nguyên tắc lịch sử - cụ thể không kết hợp các sự kiện riêng rẻ, mô tả các sự kiện, mà tái hiện sự kiện, chỉ ra mối liên hệ nhân quả giữa các sự kiện với nhau, khám phá quy luật

và phân tích ý nghĩa và vai trò của chung để tạo nên bức tranh khoa học về các quá trình lịch sử

Nhận thức sự vật, hiện tượng theo nguyên tắc lịch sử - cụ thể là cần thấy các mối liên

hệ, sự biến đổi của chúng theo thời gian, cũng như trong không gian tồn tại khác nhau của mỗi mặt, mỗi thuộc tính, đặc trưng của sự vật, hiện tượng; tránh khuynh hướng giáo điều, chung chung, trừu tượng không cụ thể Trong hoạt động nhận thức và hoạt động và hoạt động thực tiễn phải vừa thấy tính cụ thể, vừa thấy cả quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng là điều tất yếu

Vận dụng nguyên tắc lịch sử - cụ thể vào thực tiễn nước ta

Vận dụng nguyên tắc lịch sử - cụ thể, từ năm 1930, Đảng ta đã lựa chọn con đường chủ nghĩa xã hội Ngày nay để xây dựng thành công CNXH, Đảng đề ra đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh

tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; thực hiện tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến độ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế

xã hội với tăng cường an ninh, quốc phòng; bảo vệ và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh

Ngày nay tình hình thế giới vẫn diễn biến quanh co, phức tạp đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẽ cần được giải quyết Nắm vững phép biện chứng duy vật

và mai sắc tư duy biện chứng, vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chức duy vật giúp nhận thức được tính biện chứng của thế giới, tính tất yếu cảu công cuộc đổi mới ở VN hiện nay Thực tiễn cho thấy con đường đi lên CNXH không tuân theo những nguyên tắc có sẵn, hoàn cảnh của mỗi nước và tình hình quốc tế trong từng giai đoạn

Con đường cách mạng VN được xác định là “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước VN theo con đường XHCN trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Leenin và tư tưởng Hồ Chí Minh” là con đường duy nhất đúng, thể hiện sự nhận thức và vận dụng sáng tạo các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lenin nói chung, các nguyên tắc phương

pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật nói riêng, của Đảng Cộng sản VN

Câu 9: Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm (toàn diện/ lịch sử cụ thể/ phát triển) trong hoạt động nhận thức, thực tiển , anh /chị đã vận dụng như thế nào ? (Chỉ ra cơ

sở lý luận không phân tích nội dung)

Quan điểm phát triển là một trong những nguyên tắc quan trọng của phương pháp biện

chứng Mác Xít Quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta khi nhận thức sự vật phải xem xét nó trong sự vận động, biến đối, phải phân tích các sự vận động phức tạp của sự vật, tìm ra khuynh hướng phát triển cơ bản của chúng để cải biên sự vật phục vụ nhu cầu của con người

Cơ sở lý luận của quan điểm phát triển chính là nguyên lý về sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Nguyên lý đó nói rằng phát triển là khuynh hướng tất yếu khách quan của tất cả các sự vật hiện tượng Phát triển được diễn ra theo 3 hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện

Trang 29

Mỗi sự vật đều có quá trình ra đời, biến đổi, phát triển và mất đi Nhưng khuynh hướng chung của thế giới vật chất là luôn phát triển theo hướng hiện đại, cái mới thay thế cái cũ, cái sau tiến bộ hơn cái trước Do đó để nhận thức và phản ánh chính xác sự vật hiện tượng ta phải có quan điểm phát triển

Ý nghĩa thực tiễn của quan điểm phát triển

Quan điểm phát triển là phương pháp khoa học giúp cho chúng ta hiểu được bản chất thực sự của sự vật, tự do ta tìm được biện pháp cải tạo sự vật theo đúng quy luật phát triển của chúng

Giúp ta tránh được tư tưởng hoang mang, dao động bi quan trước những bước thụt lùi tạm thời đi xuống của sự vật, xây dựng niềm tin vào cái mới nhất định thắng lợi

Tránh tư tưởng ảo tưởng (vì sự phát triển của sự vật rất phức tạp), tránh tư tưởng bi quan chán nản vì cái mới hợp quy luật thắng lợi là tất yếu, cái cũ, cái lạc hậu tồn tại chỉ là tạm thời, nó nhất định sẽ mất đi

Trang 30

Phần III: Thầy Sơn 5 câu

Câu 1: Trình bày sự vận dụng lý thuyết hình thái kinh tế xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù chỉ một kiểu hệ thống xã hội ở một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, có tính xác định về chất, là sự thống nhất của tất cả các yếu tố, một cơ cấu hoàn chỉnh luôn luôn vận động thông qua sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Lần đầu tiên trong lịch sử xã hội, học thuyết Mác-Lênin về hình thái kinh tế xã hội đã vạch ra nguồn gốc động lực bên trong của sự phát triển xã hội; tìm ra quy luật khách quan chi phối sự vận động phát triển của xã hội loài người Đó là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu xã hội và chống lại các quan điểm duy tâm về lịch sử

Đối với nước ta, lý luận hình thái kinh tế xã hội là cơ sở cho đường lối chiến lược cách mạng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung và cho công cuộc đổi mới hiện nay Ngày nay trong quá trình đổi mới, Đảng ta khẳng định chúng ta vẫn giữ vững mục tiêu

xã hội chủ nghĩa vì đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu hướng của thời đại và phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta

Do tính đặc thù của cách mạng nước ta là đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa, do đó để tạo ra những tiền đề cần thiết cho chủ nghĩa xã hội chúng ta phải xây dựng trên tất cả các mặt: Từ lực lượng sản xuất mới đến quan hệ sản xuất mới, từ cơ sở hạ tầng mới đến kiến trúc thượng tầng mới Vì vậy

để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, trước hết chúng ta phải tập trung phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất bằng cách đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Phấn đấu đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp

Cùng với việc phát triển lực lượng sản xuất, hiện đại hóa đất nước, phải xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta và cũng là động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Cùng với đổi mới kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đảng ta chủ trương phải không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, làm cho nhà nước thực sự là nhà nước của dân, do dân vì đân

Đồng thời nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng, phát huy sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đồng thời với sự phát triển kinh tế, phải phát triển văn hóa nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân Phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài giải quyết tốt các nhu cầu xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Tóm lại: xây dựng chủ nghĩa ở nước ta là quá trình kết hợp ngay từ đầu xây, dựng cả

lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất, cả kinh tế lẫn chính trị và các mặt khác của đời sống xã hội nhằm từng bước tạo ra tất cả các tiền đề cần thiết cho sự ra đời một hình thái kinh tế xã hội mới, xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Trang 31

Câu 2: Nội dung cơ bản của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là gì?

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức

là bỏ qua việc xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa Với điểm xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế - xã hội rất thấp, quá trình đó tất yếu phải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, với nhiều chặng đường

Tổng kết 20 năm thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991 - 2011) và 25 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ: Xã hội, xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng văn minh”

Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc Từ nay đến giữa thế kỷ XXI toàn đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để đạt được những mục tiêu trên cần thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau đây:

Một là: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường

Từ một nền sản xuất nhỏ nông nghiệp lạc hậu, tất yếu phải tiến hành công nghiệp hoá Trong thời đại bùng nổ cách mạng khoa học và công nghệ, công nghiệp hoá phải kết hợp ngay từ đầu với hiện đại hoá, đồng thời phải bảo vệ tài nguyên, môi trường Như vậy mới đảm bảo cho việc phát triển nhanh, bền vững, môi trường sống tốt hơn

Hai là: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đây là bước phát triển mới về lý luận của Đảng ta trong quá trình đổi mới Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Định hướng kinh tế thị trường được thể hiện qua

4 đặc trưng cơ bản sau:

- Mục tiêu phát triển kinh tế là "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng…

- Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân

- Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, giáo dục, y tế… giải quyết tốt các vấn đề

xã hội, vì mục tiêu phát triển con người Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn, cùng các nguồn lực khác, thông qua phúc lợi xã hội

- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng

Ba là: Xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội

Văn hoá hiểu theo nghĩa chung là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội Để xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh phải lấy văn hoá làm nền tảng tinh thần Đại hội XI tiếp tục khẳng định: "Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân

Trang 32

tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ, làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển

Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ công bằng, văn minh

Bốn là: Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội

Dựng nước gắn liền với giữ nước là quy luật lịch sử của dân tộc ta Chủ tịch Hồ Chí

Minh căn dặn: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" Trong thời kỳ phát triển mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt

Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bảo đảm an ninh quốc gia ngày nay bao gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá, an ninh xã hội Bảo vệ Tổ quốc ngày nay không phải chỉ bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà còn phải bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo

vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, nhân dân, bảo vệ kinh tế, văn hoá, sự nghiệp đổi mới…

Năm là: Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác

và phát triển, chủ động tích cực hội nhập quốc tế

Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu khách quan đang lôi cuốn nhiều nước tham gia Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại là phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động về đường lối chính sách và bước đi trong hội nhập, tham gia mạnh mẽ hơn, đầy đủ hơn vào quá trình toàn cầu hoá vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới

Sáu là: Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất

Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Phát huy dân chủ gắn liền với việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc Thực hiện có hiệu quả các hình thức thực hành dân chủ: Dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp ở cơ sở và tự quản trong các cộng đồng dân cư Đại đoàn kết toàn dân tộc vừa là nguồn lực chủ yếu, vừa là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta

Bảy là: Xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

Nhà nước Pháp quyền là sự tiến bộ của nhân loại, trong đó có đặc điểm nổi bật là bảo đảm quyền tối cao của Pháp luật Nhà nước Pháp quyền của nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình chủ yếu bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhà nước là công cụ chủ yếu

để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Xây dựng Nhà nước Pháp quyền hiện nay là xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát các cơ quan công quyền, đổi mới lập pháp, hành pháp

và tư pháp; kiên quyết phòng ngừa, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí

Tám là: Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh

Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta Trong điều kiện hiện nay, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là "nhiệm vụ then chốt" có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng nước ta Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng

Đảng lấy chủ nghĩa Mác -Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản

Trang 33

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật

Trên đây là hệ thống quan điểm, lý luận về con đường đi lên CNXH ở nước ta mà bước đầu chúng ta đã xác định được Tuy nhiên trong nội dung những quan điểm đó, còn nhiều vấn đề cụ thể chưa phải đã thật rõ Hơn nữa bên cạnh đó, có nhiều vấn đề mới đặt ra

Sự phát triển của thực tiễn và sự nâng cao không ngừng năng lực tư duy lý luận của Đảng, trình độ nhận thức của xã hội, nhất là giới lý luận sẽ từng bước góp phần làm sáng tỏ và đem lại lời giải đầy đủ, thấu đáo hơn những vấn đề đó.Trên tinh thần của đổi mới, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, chúng ta cần thẳng thắn nhận rõ rằng, lý luận về CNXH

và con đường đi lên CNXH như hiện nay của chúng ta vẫn chưa ngang tầm những đòi hỏi của thực tiễn cách mạng, của yêu cầu phát triển và hiện đại hóa xã hội Thành tựu của đổi mới còn có thể to lớn hơn nữa, nếu lý luận đổi mới theo định hướng XHCN có những bước tiến đột phá, đủ sức tạo ra một xung lực tinh thần thúc đẩy thực tiễn phát triển ./

Câu 3: Trình bày mối quan hệ giai cấp và dân tộc trong giai đoạn hiện nay Đấu tranh giai cấp với phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay

3.1 Mối quan hệ giai cấp và dân tộc trong giai đoạn hiện nay

Trong thời đại hiện nay vấn đề quan hệ giai cấp và dân tộc có nhiều biểu hiện phức tạp

Trang 34

Trang 462-463 (Giáo trình TRIẾT HỌC(Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học) – NXB CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH)

3.2 Đấu tranh giai cấp với phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay

C.Mác và Ăngghen tiếp cận giai cấp và đấu tranh giai cấp dưới góc độ kinh tế nghĩa là

gắn với một phương thức sản xuất nhất định, hiện tượng kinh tế xã hội nhất định

Định nghĩa giai cấp: giai cấp là những tập đoàn người khác về địa vị trong một

phương thức sản xuất nhất định cụ thể thể hiện ở ba ý:

- Khác về địa vị đối với sở hữu tư liệu sản xuất

- Khác về địa vị tổ chức lao động sản xuất

- Khác về địa vị phân phối của cải của xã hội

Thực chất của quan hệ giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột là giai cấp của tập này bóc lột giai cấp của tập đoàn kia

Định nghĩa đấu tranh giai cấp: đấu tranh giai cấp là đấu tranh giữa giai cấp này với

giai cấp khác do khác về địa vị, có lợi ích khác nhau của một tập đoàn người Đấu tranh giai cấp là đấu trạnh giữa các giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau trong cùng một hình thái kinh tế xã hội nhất định

Ví dụ: tầng lớp nô lệ mâu thuẫn với chủ nô, giai cấp nông dân mâu thuẫn với địa chủ

Nội dung đấu tranh giai cấp với kết hợp sức mạnh của đại đoàn kết đại dân tôc trong giai đoạn hiện nay:

Do kết cấu giai cấp và quan hệ giai cấp trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam thay đổi, nên nội dung và hình thức đấu tranh giai cấp cũng không giống như trước đây khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động chưa giành được chính quyền Chính vì vậy, Đảng ta đã chủ trương phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì:

- Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và dân tộc ta Đây cũng chính là tư tưởng cốt lõi, cơ bản, chiến lược trong tư tưởng Hồ Chí Minh

- Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cũng đã vươn cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, lực lượng cách mạng là toàn dân

Trang 35

- Đường lối Đảng Cộng sản trong giai đoạn hiện nay là đấu tranh nhằm thực hiện mục tiêu cách mạng, xây dựng nước ta thành nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mà cơ bản là phải phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa và truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, chống lại các thế lực thù địch âm mưu phá hoại độc lập và chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xây dựng vững chắc Tổ quốc Việt Nam

Để thực thực hiện được nó đòi hỏi phải xem cái mục tiêu ấy, con đường ấy là mẫu số chung, điều tương đồng là cơ sở khách quan cho phép phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để thể hiện chính mục tiêu ấy Đường lối đó đặt ra yêu cầu khách quan tập hợp sức mạnh toàn dân, xem nó là động lực chủ yếu để phát triển đất nước

Tuy nhiên, vấn đề giai cấp và đấu tranh gia cấp cần phải được hiểu cho đúng, đây là một vấn đề kinh tế xã hội khách quan không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ giai cấp nào, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào thì nó cũng tồn tại; đấu tranh giai cấp của nước ta trong giai đoạn hiện nay trong những điều kiện mới, nội dung mới và hình thức mới Nếu nhận thức đúng thì nó sẽ phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thống nhất với nhau mà không có mâu thuẫn ./

<<Tham khảo thêm: Quan hệ giữa đấu tranh giai cấp và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Đại đoàn kết toàn dân tộc là một giá trị tinh thần to lớn, một truyền thống quý báu của dân tộc ta Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới có thành công hay không phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng trước hết là phụ thuộc vào việc phát huy được hay không vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Hiện nay và cả trong thời kỳ quá độ ở nước ta còn tồn tại một cách khách quan các giai cấp và đấu tranh giai cấp, không thể xóa nhòa ranh giới giữa các giai cấp, không thể phủ nhận đấu tranh giai cấp Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, lợi ích cơ bản lâu dài của các giai cấp thống nhất vói lợi ích dân tộc, cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường vẫn còn nhưng gắn với cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, chống nghèo nàn lạc hậu, khắc phục tình trạng đói nghèo, chậm phát triển

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, quan hệ giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, nhất là trong quan hệ lợi ích kinh tế, có một số vấn đề nảy sinh, ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đó là tình trạng mâu thuẫn, tranh chấp ở những lợi ích cục bộ, lợi ích trước mắt, dẫn đến thái độ thiếu hợp tác, nhất trí trong sản xuất và các hoạt động xã hội chung Tuy nhiên, trong điều kiện của thời kỳ quá độ ở nước ta, do có Nhà nước chuyên chính vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng nên mâu thuẫn giữa công nhân và tầng lớp tư sản là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân

Ở nước ta tầng lớp tư sản không có công cụ để thực hiện sự thống trị về chính trị và kinh tế Giai cấp công nhân dù làm việc trong doanh nghiệp tư bản tư nhân nhưng được sự bảo vệ của Nhà nước chuyên chính vô sản Tầng lớp tư sản có vai trò tích cực trong sự phát triển kinh tế, có khả năng tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Như vậy, quan hệ giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động với tầng lớp tư sản là quan hệ vừa đấu tranh vừa hợp tác Đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ là đấu tranh nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để đạt được mục tiêu

đó, đòi hỏi phải sử dụng nhiều hình thức đấu tranh khác nhau, vừa mềm dẻo, vừa kiên quyết, bao gồm cả giáo dục tuyên truyền, vận động, cả hành chính lẫn những biện pháp bạo lực trấn áp Phải tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân lao động và các lực lượng xã

Trang 36

hội ủng hộ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong mặt trận dân tộc thống nhất, phải phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng chống lại các thế lực thù địch và phát triển đất nước

Trong những năm qua, sự đoàn kết, thống nhất giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đã tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đại hội IX, Đảng ta ít nói đến giai cấp và đấu tranh giai cấp mà nói nhiều đến sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ

sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh

tế, của toàn xã hội” Trên tinh thần ấy, tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng định:

“Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân

và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Đại hội XI tiếp tục nhấn mạnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Như vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng vì mục tiêu chung của dân tộc chứ không nhằm phục vụ cho lợi ích của riêng một giai cấp, tầng lớp nào Đối tượng đoàn kết rất rộng rãi, bao gồm tất cả những người Việt Nam tán thành mục tiêu chung, nguyện vọng, ý chí của dân tộc, củng cố và phát triển sâu rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước

và bảo vệ Tổ quốc

Bên cạnh đó, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh giữa giai cấp

công dân, nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Giữa giai cấp công dân, nông dân và đội ngũ trí thức có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau và thống nhất với lợi ích của toàn dân tộc Do vậy, sự vững chắc của liên minh này là cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị Trên cơ sở liên minh này, Đảng ta đề ra nhiệm vụ quan tâm giáo dục, đào tạo bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân; xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao; tạo điều kiện xây dựng, phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh,

có đạo đức và trách nhiệm xã hội cao,

Mặc khác, thực hiện đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở những điểm tương đồng của các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta cho rằng cần phát huy những yếu tố tương đồng, cố gắng tìm ra mẫu

số chung của tất cả các giai cấp, tầng lớp; quy tụ sức mạnh của tất cả các bộ phận cấu thành dân tộc ta Trong thời kỳ hiện nay, đại đoàn kết toàn dân tộc “lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung,… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội” Đây chính là điểm tương đồng, cơ sở khách quan cho phép chúng ta phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đoàn kết toàn dân không có nghĩa là loại trừ đấu tranh gai cấp, mà cần đấu tranh giai cấp đúng qui luật, phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân Chính mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đáp ứng lợi ích chung của mọi tầng lớp, mọi thành viên trong cộng đồng dân tộc, nên đấu tranh giai cấp ở nước ta không mâu thuận

Trang 37

với đại đòan kết toàn dân, không những thế còn cũng cố vững chắc hơn khối đại đoàn kết toàn dân >>

Câu 4: So sánh sự giống và khác nhau giữa nhà nước pháp quyền Tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

1 Giống nhau:

- Nhà nước pháp quyền chỉ có từ thời kỳ chủ nghĩa tư bản trở đi tức là tư sản và xã hội chủ nghĩa mới có nhà nước pháp quyền Vì vây, cả hai giống nhau ở chổ đều là nhà nước pháp quyền

- Cả hai đều quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, cho nên phải xây dựng một hệ thống pháp luật

- Pháp luật phải nhiễm tính xã hội, trong nhà nước pháp quyền thì pháp luật mới được tôn trọng

- Pháp luật phải ở vị trí tối thượng: Đảng phải thực hiện, nhà nước, đoàn thể và toàn dân đều phải thực hiện theo đúng pháp luật

- Phải xây dựng mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, đó là nhà nước phải có trách nhiệm và nghĩa vụ với công dân và công dân cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ với nàh nước Mối quan hệ hai chiều như vậy gọi là xây dựng một xã hội dân sự

2 Khác nhau: thể hiện ở hai điểm

Nhà nước pháp quyền tư sản Nhà nước pháp quyền

XHCN

- Thực hiện mục tiêu, lý tưởng của giai cấp tư sản

Mang lại lợi ích cho số ít

- Nguyên tắc tổ chức: tổ chức theo nguyên tắc tam

quyền phân lập (phân quyền), phân chia quyền lực

thành hành pháp - lập pháp - tư pháp Phân chia quyền

lực là vì tất cả phải thực hiện theo ý chí, mục tiêu của

giai cấp tư sản Trong giai cấp tư sản do chế độ chiếm

hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất cho

nên có nhiều tập đoàn tư bản phân chia với nhau nếu tập

đoàn nào chưa có thì phải phân chia lại cho tập đoàn tư

bản đó

- Hoàn toàn có khả năng hiện thực Mang lại lợi ích cho số đông

- Nguyên tắc tổ chức: tổ chức theo nguyên tắc thống nhất quyền lực nhưng có phối hợp, phân công rành mạch giữa các cơ quan nhà nước trong việc hành pháp -

lập pháp - tư pháp

Câu 5: Trình bày vấn đề xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện

nay (bản chất, điều kiện lịch sử hình thành, mục tiêu, đặc trưng, xây dựng con

người)

1 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về bản chất của con người

Định nghĩa: con người là một sinh thể tự nhiên có tính người cho nên con người trước

hết là sản phẩm của tự nhiên có nguồn gốc từ động vật Nó thống nhất giữa các yếu tố sinh vật và các yếu tố xã hội

- Con người là một thực thể của sinh vật: vì dù phát triển đến đâu thì con người cũng

là một động vật Giống như những động vật khác, con người là một bộ phận của tự nhiên có

Trang 38

thể nói “giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên”, nhưng con người khác với động vật vì con người còn là một thực thể xã hội

- Con người là một thực thể xã hội: vì các hoạt động xã hội, trước hết và quan trọng nhất là hoạt động lao động sản xuất, đã làm cho con người trở thành con người với đúng nghĩa của nó “Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy là loài vật”

Như vậy, con người là một thực thể tự nhiên có tính người vì khi sống trong môi trường xã hội đã tạo ra tính người ấy, không có con người xã hội Trong 2 mặt sinh vật và

xã hội thì mặt xã hội là mặt nổi trội của con người

- Con người là chủ thể của lịch sử: con người không chỉ là sản phẩm của lịch sử với tư cách là sản phẩm quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên, mà con người còn là chủ thể của lịch sử

C.Mác còn khẳng định: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” Nó đặt ra hai vấn đề:

- Muốn biết bản chất của con người phải xem xét tất cả các mối quan hệ xã hội mà con người đó sinh sống và học tập

- Đưa con người vào trong những mối quan hệ xã hội cụ thể, trong những điều kiện cụ thể mà ở đó những mặt khác nhau tạo nên bản chất của con người sẽ được bộc lộ rỏ ra ở

những mức độ cụ thể, từ đó xây dựng một môi trường xã hội văn minh

2 Điều kiện lịch sử hình thành con người Việt Nam

Con người Việt Nam hình thành dưới sự tác động đa dạng của các điều kiện tự nhiên

và xã hội như sự tác động của môi trường địa lý, đời sống kinh tế, lịch sử giữ nước, sự tác động của môi trường văn hóa

- Sự tác động của môi trường địa lý: tổ tiên người Việt nhiều nghìn năm sống trên

vùng đất mới được bồi đắp, nằm giữa một bên là núi và một bên là biển nên phù sa của sông ngòi, nắng lắm, mưa nhiều vừa là điều kiện lý tưởng cho trồng trọt và chăn nuôi vừa là thử thách đối với con người qua dông, bão, lũ, lụt Về địa lý, Việt Nam nằm ở Đông Nam Á châu Á - khu vực vừa có vị trí chiến lược, vừa là nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa nên người Việt Nam chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau

- Đời sống kinh tế: nền kinh tế tiểu nông với những đơn vị sản xuất gia đình và cộng

đồng làng xã để hợp lực chống thiên tai, giúp đỡ lẫn nhau Nền kinh tế tiểu nông và kết cấu kinh tế, tổ chức làng xã đã hình thành ở người Việt Nam nhiều phẩm chất đạo đức, năng lực, quan điểm, quan niệm và tầm nhìn tương ứng

- Lịch sử giữ nước: Việt Nam là một trong những quốc gia bị nhiều thế lực lớn, mạnh

hơn về tiềm lực kinh tế và quân sự xâm chiếm, đô hộ Vì vậy, lịch sử dân tộc Việt Nam đã hình thành nên những phẩm chất và năng lực của những con người thường xuyên phải chiến đấu trong thế trận không cân sức để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và sự sống của mình

- Môi trường văn hóa: chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa thế giới như Trung

Quốc, Ấn Độ, Pháp, các hệ tư tưởng như Nho giáo, Phật giáo Đầu thế kỷ XX, qua hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, người Việt Nam đã tiếp cận với chủ nghĩa Mác-Lênin và khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập thì nó đã trở thành hệ tư tưởng định hướng cho cách mạng Việt Nam

3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng

Khi nói về vị trí của con người trong cách mạng cụ thể đó là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh quan niệm cuộc sống của nhân dân là mục tiêu của mọi hoạt động cách mạng, lợi ích phải là của dân, hạnh phúc phải là của dân Quan điểm này

Trang 39

còn cho thấy độc lập, tự do chưa đủ mà còn xây dựng một xã hội một nhà nước của dân, vì dân Như vậy, xác định nhân dân lao động là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng và hướng tới toàn bộ hoạt động của mình nhằm đạt đến mục tiêu đó là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá vừa ở góc độ chính trị, tư tưởng, vừa ở góc độ đạo đức đối với đời sống của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức xã hội

Con người là động lực của cách mạng, phát triển của xã hội đo đó Bác Hồ nêu phải đào tạo thế hệ nối tiếp cho đời sau Khi xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam là giải phóng con người bằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh nhấn mạnh “muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có những con người chủ nghĩa xã hội” Nói tóm lại, phải tin về con người; hiểu về con người; quan tâm đến con người; công bằng đối với con người

Có thể nói tư tưởng “con người vừa là mục tiêu của cách mạng” là tư tưởng sự nghiệp

cách mạng, thành quả cách mạng của dân, do dân và vì dân

4 Đặc trưng của con người Việt Nam trong lịch sử (mặt tích cực và hạn chế)

Phẩm chất và năng lực của người Việt Nam hình thành trong môi trường tự nhiên, những điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nên có nhiều mặt tích cực và hạn chế

- Những mặt tích cực của con người Việt Nam trong lịch sử được coi là một phần bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của các cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là: lòng yêu nước nòng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết; ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa, tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống

- Những mặt hạn chế của con người Việt Nam trong lịch sử bộc lộ qua:

+ Những hạn chế của truyền thống dân chủ làng xã: do cuộc sống tiểu nông tự cung, tự cấp tạo ra cùng với tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau Điều này thường dẫn đến tư tưởng bình quân chủ nghĩa, can thiệp vào cuộc sống riêng tư và quá trình phát triển của từng

cá thể; thiếu tinh thần tự giác, coi thường luật pháp,

+ Tập quán sản xuất tiểu nông: là tập quán của nền sản xuất tiểu nông tồn tại lâu dài nên dẫn đến khả năng hạch toán kinh tế kém, nặng về lợi ích trước mắt, thiếu kỹ thuật, + Đề cao thoái hóa kinh nghiệm: xem kinh nghiệm là sản phẩm của nền sản xuất nông nghiệp lúa nước, đặc biệt là nền sản xuất nhỏ, manh mún Điều này dẫn đến xem thường lý luận, xem thường tuổi trẻ, quyền lực thuộc về những người lâu năm, nhiều tuổi,

+ Tính hai mặt của một số truyền thống: sống giản dị, ghét cầu kỳ, xa hoa là phẩm chất tốt, song dễ dẫn đến sự hạ thấp nhu cầu trong khi nhu cầu là một động lực phát triển của xã hội; truyền thống giỏi chịu đựng gian khổ cũng là phẩm chất tốt nhưng cũng dẫn đến sự cam khổ, thỏa mãn, bằng lòng với các hiện có,

5 Xây dựng con người Việt Nam đáp ứng của giai đoạn cách mạng hiện nay

Đồng thời với việc kiên trì đấu tranh chống thoái hóa, biến chất, xây dựng con người Việt Nam trong giai đoan hiện nay là hình thành và phát triển ở con người những đức tính

cơ bản sau:

- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung

- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa tôn trọng kỹ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái

- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao

vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội

Trang 40

- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực

Để đạt được điều này người Việt Nam đã và đang tập trung đầu tư vào những lĩnh vực chủ yếu nhất của xã hội như:

- Trên lĩnh vực kinh tế: thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Trên lĩnh vực chính trị: khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trên nền tảng của chủ nghĩa nhằm nâng cao tính tích cực chính trị của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia nhiều hơn vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội

- Trên lĩnh vực xã hội: giải phóng con người ra khỏi xã hội lỗi thời, kế thừa truyền thống tốt đẹp, xây dựng hệ thống những chuẩn mực quan hệ mới

- Trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo - khoa học, công nghệ: coi đây là “quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, “là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

- Trên lĩnh vực văn hóa: “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được coi vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Mọi hoạt động của văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, quan hệ hoài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội”

Ngày đăng: 17/10/2016, 07:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w