1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội đối với việc phát huy vai trò tích cực của nhóm cán bộ cao tuổi hưu trí tại câu lạc bộ thăng long hà nội

113 372 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh các vấn đề y tế, chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi, việc xâydựng cơ chế đối với các hoạt động công tác xã hội tại cộng đồng nhằm pháthuy khả năng lao động, cống hiến của ngườ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

CAO THỊ HOÀNG VÂN

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA NHÓM CÁN BỘ CAO TUỔI HƯU TRÍ TẠI CÂU LẠC BỘ THĂNG LONG ,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

CAO THỊ HOÀNG VÂN - C00245

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA NHÓM CÁN BỘ CAO TUỔI HƯU TRÍ TẠI CÂU LẠC BỘ THĂNG LONG ,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI

MÃ SỐ : 60 90 01 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS Đặng Cảnh Khanh

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này được thực hiện một cách nghiêm túc,trung thực bằng nỗ lực nghiên cứu của chính tác giả, không gian lận, khôngsao chép từ các tài liệu khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của toàn bộ nội dung khóaluận tốt nghiệp

Tác giả luận văn

Cao Thị Hoàng Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua Luận văn tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tớiGS.TS Đặng Cảnh Khanh, với sự hướng dẫn nhiệt tình, tận tâm, thầy khôngchỉ giúp đỡ tôi về kiến thức, phương pháp, mà thầy còn cung cấp tài liệu,truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong quá trình nghiên cứu cho tôi đểtôi có thể hoàn thành luận văn này Xin cảm ơn gia đình, thầy cô, bạn bè vànhững người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gianlàm luận văn tốt nghiệp Tôi xin cảm ơn tất cả thầy cô giáo trong Khoa Khoahọc xã hội và Nhân văn, đặc biệt các thầy cô trong bộ môn Công tác xã hội đãtạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn

Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do khả năng còn hạn chế nên luậnvăn khó tránh khỏi những sai sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiếncủa thầy cô và các bạn để báo cáo được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2016

Tác giả luận văn

Cao Thị Hoàng Vân

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục từ viết tắt v

Danh mục bảng vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 15

Chương 1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG 15

1.1 Khái niệm nghiên cứu 15

1.1.1 Công tác xã hội 15

1.1.2 Công tác xã hội nhóm 17

1.1.3 Khái niệm người cao tuổi 19

1.1.4 Khái niệm nhóm cán bộ cao tuổi 21

1 2 Phương pháp luận 21

1.2.1 Chủ nghĩa Duy vật biện chứng 21

1.2.2 Chủ nghĩa duy vật lịch sử 25

1.2.3 Hướng tiếp cận nghiên cứu 31

1.3 Các lý thuyết vận dụng trong luận văn 34

1.3.1 Lý thuyết hệ thống 34

1.3.2 Thuyết vai trò 36

1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về người cao tuổi 37

Chương 2 PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 43

2.1 Tình hình người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay 43

2.2 Xu hướng đưa hoạt động công tác xã hội vào chăm sóc giúp đỡ người cao tuổi trên thế giới và ở Việt Nam 55

2.2.1 Xu hướng đưa hoạt động công tác xã hội vào chăm sóc giúp đỡ người cao tuổi trên thế giới 55

2.3 Thực trạng và xu thế phát triển dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam 64

Trang 6

Chương 3 THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI CAO

TUỔI QUA MÔ HÌNH CÂU LẠC BỘ THĂNG LONG 81

3.1 Giới thiệu về Câu lạc bộ Thăng Long 81

3.2 Những kinh nghiệm CLB Thăng Long đạt được trong suốt quá trình hoạt động 88

3.3 Đặc điểm chung của nhóm cán bộ tại CLB Thăng Long 89

3.3.1 Nhu cầu được công tác xã hội vào hoạt động tại Câu lạc bộ Thăng Long90 3.3.2 Vận dụng công tác xã hội với người cao tuổi trong CLB Thăng Long 95

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 100

1 Kết luận 100

2 Kiến nghị 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Người cao tuổi Việt Nam qua các cuộc tổng điều tra 43Bảng 2.2 Người cao tuổi - dự báo đến năm 2050 ở một số nước 44

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Người cao tuổi là những người có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên (Luật ngườicao tuổi, 2009), chiếm 10% dân số của Việt Nam Trong những năm gần đây,quá trình phát triển dân số đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, điều đóđồng nghĩa với việc tỷ lệ người cao tuổi trên 60 tuổi ngày càng đông hơntrong xã hội Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á - Thái BìnhDương của Liên hợp quốc (UNESCAP), dân số một nước sẽ bước vào thời kỳgià hóa khi tỷ lệ người cao tuổi chiếm hơn 10% tổng dân số Theo dự báo dân

số của Tổng cục Thống kê (2010) thì tỷ lệ người cao tuổi so với tổng dân số ởViệt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay dân số Việt Nam chính

thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 (UNFPA, 2011).

Người cao tuổi là một trong nhóm yếu trong xã hội, sau một quãng dài trongcuộc đời, sức khoẻ họ sẽ bị suy yếu một cách rõ nét do ảnh hưởng của quátrình lão hóa Sức khoẻ là vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến cuộc sốngcủa người cao tuổi

Cùng với quá trình lão hóa, quá trình thay đổi về sinh lý, tâm lý con ngườitrong giai đoạn cao tuổi cũng có rất nhiều vấn đề nổi bật Người cao tuổi cóthể cảm thấy cô độc, hướng về quá khứ, hay giận dỗi, chuyển từ trạng tháitích cực sang tiêu cực…những vấn đề đó làm cho tâm lý người cao tuổi cónhiều thay đổi Đồng thời, vấn đề tâm lý có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống củangười cao tuổi Khi tâm lý ổn định, vui vẻ, người cao tuổi sẽ thấy khoẻ khoắnhơn, sẽ hoạt động nhiều hơn Do sự thay đổi vai trò của bản thân, nhiều ngườicao tuổi cảm thấy mình không còn có ích, không còn được sự tôn trọng củamọi người, ảnh hưởng của “hội chứng về hưu”, nhiều người cao tuổi donhững sai lầm trong quá khứ thì thường than trách bản thân…trong khi đó họrất khó chia sẻ với con cháu hay những người thân

Hơn nữa, bước vào giai đoạn cao tuổi đồng nghĩa là con người bước vàogiai đoạn nghỉ ngơi Tuy nhiên chỉ có một số ít người cao tuổi có điều kiệnkinh tế khá giả: Cán bộ, viên chức nhà nước nghỉ hưu, sự hỗ trợ của con

Trang 10

cháu…Còn lại đa số người tuổi, nhất là những người neo đơn đều gặp phảinhững khó khăn về kinh tế do sự suy giảm của thu nhập Trong khi đó cácnhu cầu của người cao tuổi, nhất là khám chữa bệnh hay chế độ dinh dưỡngđòi hỏi những chi phí nhất định (Bộ lao động thương binh và xã hội, 2012).Trên thế giới, các mô hình trợ giúp người cao tuổi khá phổ biến, đặc biệt

ở các nước châu Âu Tại các nước có nền kinh tế phát triển, khi dân số già đi

sẽ gia tăng nhu cầu về các dịch vụ chăm sóc cho người già và trung tâmdưỡng lão đã trở thành nơi bầu bạn cùng chia sẻ và được chăm sóc y tế tốtnhất Điển như ở Phần Lan, chế độ phúc lợi và bảo hiểm xã hội ở đây rất tốt.Trong nhà dưỡng lão này, tất cả mọi người đều được hưởng phúc lợi một cáchbình đẳng, bất kể họ đóng góp nhiều hay ít, họ sẽ được các nhân viên CTXHchăm sóc chu đáo từ ăn uống, luyện tập đến việc chia sẻ, trò chuyện Với một

số cụ không thể đóng góp chút nào, ngân sách thành phố sẽ bảo đảm toàn bộchi phí cho họ trong nhà dưỡng lão (Hồng Quang, Triệu Hà, Đoàn Hà, 2014).Còn ở Việt Nam, tâm lý “Trẻ cậy cha, già cậy con” nên mô hình CTXH vớingười cao tuổi vẫn chưa được quan tâm đúng mực

Chính vì vậy, người cao tuổi nói chung và nhóm người cao tuổi về hưungày càng trở thành một vấn đề cần quan tâm của xã hội, đặc biệt từ góc độchính sách và công tác xã hội nhằm có những biện pháp giúp đỡ

Nhóm người cao tuổi, đặc biệt là cán bộ lão thành cách mạng và hưu trí cónhiều thành tích đóng góp trong mọi lĩnh vực phát triển kinh tế- xã hội của đấtnước Thực tế cho thấy, bề dày tri thức, kinh nghiệm của nhóm cán bộ hưu trí

là tài sản quý của cộng đồng và xã hội Phần đông trong số họ khi còn đủ sứckhoẻ và điều kiện, ngay cả sau khi nghỉ hưu họ vẫn tìm cơ hội để tiếp tục laođộng, cống hiến, sáng tạo trong cộng đồng với nhiều hình thức và cấp độ khácnhau tạo ra nhiều hoạt động mang ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triểnchung Mặt khác, lao động, cống hiến của cán bộ hưu trí cao tuổi mang đặctrưng tự phát, không ràng buộc hoàn toàn vào đơn đặt hàng, điều đó giúp họgiải phóng năng lượng và tạo nên nhiều hoạt động có giá trị hơn

Trang 11

Bên cạnh các vấn đề y tế, chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi, việc xâydựng cơ chế đối với các hoạt động công tác xã hội tại cộng đồng nhằm pháthuy khả năng lao động, cống hiến của người cao tuổi không chỉ đem lại niềmvui cho các cụ (sống vui, sống khoẻ, sống có ích) mà còn đem lại thành quả,lợi ích xã hội từ các sản phẩm vật chất và tri thức do người cao tuổi làm ra.Câu lạc bộ Thăng Long là một trong những mô hình hoạt động của ngườicao tuổi và công tác xã hội đối với người cao tuổi đầu tiên ở nước ta, đượcthành lập năm 1978 Đây là nơi sinh hoạt, mái nhà chung của những cán bộtrung, cao cấp của Trung ương và thành phố Hà Nội sau khi hoàn thànhnhiệm vụ, về nghỉ hưu Theo thống kê hiện nay, câu lạc bộ Thăng Long cókhoảng 1.500 hội viên, trung bình hằng năm câu lạc bộ tổ chức hơn 220 buổisinh hoạt với hơn 30 nghìn lượt hội viên tham dự Nhiều hoạt động công tác

xã hội bổ ích, phong phú của câu lạc bộ được duy trì thường xuyên như: Tổchức đóng góp ý kiến với Trung ương và thành phố Hà Nội, rèn luyện giữ gìnsức khoẻ, vui chơi giải trí, tham quan du lịch, trao đổi kinh nghiệm với cácCLB trong nước và quốc tế… Những hoạt động của câu lạc bộ góp phần quantrọng nhằm củng cố, nâng cao nhận thức và tăng cường niềm tin vào sựnghiệp của Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước Tuy nhiên, CLB Thăng Long vẫn chưa đáp ứng hết được nhữngnhu cầu của những thành viên như mặt đời sống tinh thần, một số thành viênchưa có tiếng nói trong CLB, vai trò của một số người chưa được phát huy…

Vì vậy, để hoàn thiện hơn các hoạt động cũng như đưa CLB trở thành mộttrung tâm chuẩn đầu tiên điển hình về người cao tuổi ở Việt Nam cần cónhững biện pháp can thiệp của CTXH

Chính từ thực tế trên, chúng tôi lựa chọn chủ đề nghiên cứu “Công tác xã

hội đối với việc phát huy vai trò tích cực của nhóm cán bộ cao tuổi hưu trí tại Câu lạc bộ Thăng Long Hà Nội” Qua chủ đề nghiên cứu này, chúng tổi

muốn nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải pháp phát huy vai trò người cao tuổi

qua các mô hình công tác xã hội không chỉ góp phần cải thiện, đem lại hiệuquả cao hơn cho các mô hình công tác xã hội nói chung mà còn góp phần

Trang 12

nâng cao các hoạt động của ngành công tác xã hội hướng tới phát huy khảnăng lao động, cống hiến của nhóm cán bộ hưu trí cao tuổi, vì mục tiêu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ hai, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính,phỏng vấn sâu, thu thập, phân tích các nguồn tài liệu khác làm rõ thực trạngcông tác xã hội hướng đến phát huy vai trò tích cực của cán bộ hưu trí caotuổi tại mô hình câu lạc bộ Thăng Long, các yếu tố chủ quan và khách quantác động, đặc biệt là các vấn đề về cơ chế, chính sách, so sánh biểu hiện của

cơ chế, chính sách thông qua các loại hình công tác xã hội khác đối với ngườicao tuổi

Thứ ba, từ kết quả phân tích thực trạng, luận văn tập trung nghiên cứu,

đề xuất các giải pháp, khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hoạt độngcông tác xã hội, phát huy vị thế, vai trò của người cao tuổi về hưu trong hoạtđộng lao động, cống hiến cho sự nghiệp phát triển đất nước

3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trên thế giới, vấn đề người cao tuổi đã được quan tâm từ rất lâu ở cácnước phát triển, qua đó xây dựng được những mô hình công tác xã hội chăm

Trang 13

sóc người cao tuổi phù hợp với từng quốc gia Tuy nhiên ở các nước đang pháttriển, trong đó có châu Á, vấn đề người cao tuổi cho tới nay mới bắt đầu thuhút được sự quan tâm của nhiều chuyên gia và nhà nghiên cứu

3.1 Những nghiên cứu về người cao tuổi trên thế giới

Bài viết “Sự biến đổi gia đình và trợ giúp người già ở châu Á: chúng ta

biết gì?” của Karen Oppenhemim Mason tập trung làm rõ hai hệ thống gia đình

châu Á truyền thống là gia đình mở rộng gia trưởng và hệ thống gia đình songphương Trong đó ở gia đình gia trưởng, sự an toàn của các thành viên nam và

nữ trong gia đình hoàn toàn khác nhau, sự an toàn của phụ nữ tuỳ thuộc vàothiện ý của người cha, người chồng hay các con trai Sau đó tác giả phân tích sựtác động của công nghiệp hoá, đô thị hoá và di cư đến sự biến đổi gia đình, trong

đó có sự chăm sóc, trợ giúp người già Ảnh hưởng đầu tiên là tỷ lệ những người

có thu nhập từ các xí nghiệp ngoài gia đình gây ra sự suy giảm quyền lực củacha mẹ đối với thế hệ trẻ, đồng thời giảm khả năng sống cùng con cái của cácbậc cha mẹ Thứ hai, công nghiệp hoá thu hút một số lượng lớn phụ nữ tham giavào lực lượng lao động, do đó làm giảm khả năng chăm sóc người già trong giađình và hình thành những hộ gia đình riêng biệt không sống chung cùng với các

bà mẹ chồng Thứ ba, ảnh hưởng của học vấn làm giảm mức sinh, từ đó hạ thấp

số người chăm sóc gia đình- trong đó có chăm sóc người cao tuổi Thêm vào đó,quá trình di cư vào đô thị làm giảm các hộ gia đình nhiều thế hệ, bởi thế, sựchăm sóc người cao tuổi cũng bị tác động đáng kể bởi sự vắng mặt của con cái.Tuy nhiên, tác giả cũng đưa ra một nhận định là sự phát triển kinh tế mặc dù cóthể làm xãi mòn vai trò truyền thống của gia đình trong việc cung cấp sự chămsóc cho người già, nhưng nó cũng có thể mang yếu tố tích cực ở chỗ người già

có được sự độc lập hơn và phúc lợi toàn diện

Công trình “Chăm sóc người cao tuổi ở Nhật Bản trong thế kỷ 21” của

Takako Sodei đăng trên Tạp chí Xã hội học số 3/2001 điểm lại hệ thống an sinh

xã hội trong chăm sóc người cao tuổi của nhà nước Nhật Bản trước đây và hiệnnay và mô tả những khó khăn mà nhiều người đang phải đối mặt trong việc chămsóc người cao tuổi tại nhà và xem những nguyên nhân gây ra khó khăn; giải thích

Trang 14

việc dự định thành lập một hệ thống mới gọi là hệ thống chăm sóc người cao tuổicủa Bộ Y tế và Phúc lợi Nhật Bản, dự đoán tương lai chăm sóc người cao tuổi tạiNhật Bản Nhìn chung những nguyên nhân ảnh hưởng tới việc chăm sóc ngườicao tuổi ở Nhật Bản cũng giống như ở châu Á nói chung đã được KarenOppenhemim Mason phân tích trong bài viết của mình, bao gồm ảnh hưởng kếtcấu dân số già, sự thay đổi trong sắp xếp gia đình và sự gia tăng phụ nữ tham giavào lực lượng lao động sản xuất ngoài gia đình Dựa vào tình hình thực tế của đấtnước, tác giả đưa ra mô hình chăm sóc người cao tuổi thông qua hệ thống an sinh

xã hội ở Nhật Bản

Ở Việt Nam những năm gần đây, vấn đề người cao tuổi cũng đã bắt đầuđược một số viện nghiên cứu, một số cơ quan, tổ chức quan tâm chú ý Chođến nay, đã có một số công trình nghiên cứu tập trung vào phân tích thực trạngngười cao tuổi hiện nay như đời sống vật chất (nhà ở, tiện nghi, vấn đề việclàm…), tinh thần (mối quan hệ với con cháu và tham gia các hoạt động xã hội)

và công tác xã hội đối với người cao tuổi…

3.2 Những nghiên cứu về người cao tuổi ở Việt Nam

Công trình “Người cao tuổi và an sinh xã hội”- do GS Bùi Thế Cường

chủ biên (1994) là tập hợp các bài viết, nghiên cứu của các chuyên gia, nhàkhoa học về người cao tuổi, mô tả thực trạng người cao tuổi Việt Nam tronggiai đoạn xã hội đang diễn ra nhiều thay đổi về mọi mặt kinh tế - chính trị - vănhoá - xã hội, từ đó đề ra các chính sách đối với người cao tuổi hiện nay

Đặc biệt trong công trình “Người cao tuổi và an sinh xã hội” có bài viết

“Sức khoẻ với đời sống người cao tuổi” của tác giả Phạm Nguyên Thanh có đề

cập đến vai trò của gia đình và xã hội trong đời sống người già Tác giả khẳngđịnh môi trường gia đình và sinh hoạt cộng đồng đều có ảnh hưởng với sự suygiảm hay ổn định sức khoẻ của người già, nó cũng là môi trường cơ bản để pháthuy vai trò người già Chính trong môi trường sống, quan hệ giao tiếp cơ bản đó,người già tìm lại được cảm giác bình yên, sự thoả mãn và vui vẻ, đặc biệt là cảmgiác có ích cảm giác trực tiếp gây nên trạng thái sảng khoái hay u uất của họ

“Tuổi già- mối liên quan giữa các thế hệ” (1997) là tập hợp nhiều bài

viết, bài báo cáo khoa học nghiên cứu, tìm hiểu về người già trong xã hội Việt

Trang 15

Nam từ truyền thống đến hiện đại, ở các vùng miền khác nhau của nhiều tác

giả thuộc các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, do đó, nó đưa ra được cái nhìnphong phú từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như văn hoá, tâm lý học, y học,

xã hội học… Đa số các bài viết nhấn mạnh vai trò của người cao tuổi đối vớigia đình và xã hội, thực trạng người già ở nông thôn và đô thị, mối quan hệgiữa người cao tuổi với thế hệ trẻ…

“Người cao tuổi Việt Nam- thực trạng và giải pháp” (1999) là tập hợp

các bài viết về người cao tuổi với những vấn đề như: phát huy vai trò người caotuổi trong sự nghiệp đổi mới, những vấn đề về chính sách xã hội đối với ngườicao tuổi, tình trạng sức khoẻ hiện nay của người cao tuổi Việt Nam, các hoạtđộng văn hoá- tinh thần của người cao tuổi, mối quan hệ giữa gia đình và ngườicao tuổi và các tổ chức của người cao tuổi…

Bài viết “Chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi trong sự

nghiệp đổi mới” của thạc sỹ Nguyễn Thị Hằng đặt ra một vấn đề không chỉ đối

với người cao tuổi Việt Nam mà còn đối với người cao tuổi trên thế giới nóichung, đó là trong khi tuổi thọ của con người ngày càng cao thì sẽ đặt ra yêucầu và nhiệm vụ mới trong việc chăm sóc và phát huy vai trò của người caotuổi Tác giả đề cập đến vai trò to lớn của người cao tuổi Việt Nam hiện naytrong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước- lớp người tiêu biểu cho chân lý

“Không có gì quý hơn độc lập tự do” Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháptrong công tác chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi

“Thực trạng về người cao tuổi và định hướng xây dựng chính sách chăm sóc người cao tuổi” của TS Nguyễn Hải Hữu đưa ra cái nhìn khái quát

về thực trạng sức khoẻ, đời sống vật chất, tinh thần và nguyện vọng của ngườicao tuổi Việt Nam hiện nay Trong đó nhấn mạnh nhu cầu được tham gia laođộng với rất nhiều ý nghĩa và mục đích khác nhau: lao động để nuôi sống bảnthân, để khuây khoả hay hỗ trợ thêm cho bản thân và gia đình… Thông quaphân tích một số số liệu thu được từ các cuộc điều tra của Viện Khoa học laođộng, tác giả đưa ra một số nhận định như: điều kiện vật chất của người caotuổi hiện nay đã được cải thiện nhưng cuộc sống tinh thần còn nghèo nàn và

Trang 16

chất lượng thấp, sức khoẻ của người cao tuổi những năm gần đây có khá hơntrước nhưng hiện tại sức khoẻ của người cao tuổi vẫn rất kém, các hệ thống

cơ sở y tế công vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của ngườicao tuổi và bản thân nhiều người cao tuổi và gia đình họ không đủ điều kiệnkinh tế để đi khám chữa bệnh, vì thế buộc phải tự kiếm thuốc để chữa…

“Những nghiên cứu xã hội học về người cao tuổi” đăng trên Tạp chí

Xã hội học số 2/1999 gồm 9 bài viết của nhiều nhà nghiên cứu về người caotuổi và các vấn đề liên quan tới người cao tuổi thông qua phân tích các số liệuđịnh lượng hay định tính trong những nghiên cứu về người cao tuổi trước đó

Trong đó, “Người già và những thay đổi thiết chế xã hội ở nông thôn

đồng bằng sông Hồng hiện nay” của Nguyễn Đức Truyến phân tích phẩm

chất, năng lực và vị thế của người già trong nông thôn nhằm tạo điều kiện cho

họ đóng góp tích cực hơn cho sự nghiệp đổi mới nông thôn Ở thời kỳ sản xuấtnông nghiệp tự cung tự cấp, người già được coi là chuẩn mực cho các nguyêntắc đạo lý, là đại biểu chung cho mọi gia đình, họ có khả năng giải quyết nhữngmâu thuẫn, nhờ đó gìn giữ các mối quan hệ xã hội Họ trở thành cầu nối giữahiện tại và quá khứ, giáo dục lớp trẻ truyền thống của cộng đồng Đến thời kỳđổi mới, người già tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế và tự quản

xã hội Bài viết tập trung chủ yếu vào vai trò của người cao tuổi và ảnh hưởngcủa những thay đổi thiết chế xã hội ở nông thôn tới vai trò của họ

“Sự tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi ở đồng bằng sông Hồng”- tác giả Dương Chí Thiện- phân tích các tổ chức, hoạt động xã hội

người cao tuổi thường tham gia và những nhân tố ảnh hưởng tới sự tham giavào các hoạt động xã hội của người cao tuổi như vùng miền, giới tính, tuổi, họcvấn, thu nhập, nghề nghiệp hay tình trạng sức khoẻ… Các cụ ở khu vực đô thị,nhóm tuổi trẻ hơn (60- 69), có trình độ học vấn cao, mức sống dư giả, trướcđây làm việc trong các tổ chức của nhà nước có xu hướng tham gia nhiều hơnvào các tổ chức chính thức như Đảng, chính quyền,… Ngược lại, người caotuổi ở khu vực nông thôn, ở nhóm tuổi trên 70, trình độ học vấn thấp, mức sốngthấp, sức khoẻ kém tham gia ít hơn hoặc chủ yếu tham gia vào các hình thức tổchức phi chính thức như đám cưới hỏi, lễ giỗ…

Trang 17

Đặc biệt, bài viết “Cần có hình thức dịch vụ nào trong chính sách đối

với người cao tuổi” của Phạm Kiên Cường đưa ra quan điểm hạn chế đưa

người cao tuổi đến sống trong các nhà dưỡng lão, các trung tâm bảo trợ xã hộitheo phương châm xã hội hoá là một phương án lý tưởng vì nó vừa phù hợp vớiđặc điểm tâm lý của người cao tuổi nước ta, đồng thời tiết kiệm được kinh phíđầu tư xây dựng cơ sở nuôi dưỡng tập trung, bộ máy phục vụ các cụ và chi phíhành chính khác

Luận văn thạc sỹ “Thực trạng việc làm của người già đồng bằng sông

Hồng và các nhân tố tác động” (2001) của tác giả Nguyễn Thị Phương nêu lên

vấn đề nan giải của người già đồng bằng sông Hồng là phần lớn người già vẫncòn tham gia lao động, thậm chí lao động nặng nhọc để kiếm ăn, nhưng thu nhậprất thấp, không thể đảm bảo cho một mức sống được cho là bình thường Thôngqua phân tích tài liệu thứ cấp, từ kết quả 2 cuộc nghiên cứu tại đồng bằng sôngHồng, luận văn mô tả bức tranh về các hoạt động việc làm của người già vànhững nguyên nhân dẫn tới việc người già vẫn còn lao động; phân tích các dạnghoạt động của người cao tuổi trong lĩnh vực việc làm của họ, những lý do làmviệc của người cao tuổi, tìm hiểu những hoạt động của người cao tuổi nhằm mụcđích gì, từ hệ quả việc làm hằng ngày của người cao tuổi, tìm hiểu vai trò củangười cao tuổi trong gia đình Trong các phân tích của mình, tác giả đưa ra nhậnđịnh về cuộc sống của những người goá, đặc biệt là những phụ nữ goá (thực tếphụ nữ goá cao hơn nam giới goá khi về già) thường bị chi phối bởi những yếu

tố tâm lý, tinh thần, tình cảm khi họ phải sống cùng với con cháu trong vài giađình gặp nhiều khó khăn về kinh tế Họ cũng không được thoải mái như khisống và ăn cùng người bạn đời

Luận án tiến sỹ “Đời sống văn hoá người cao tuổi” (2003) của Nguyễn

Phương Lan, tiếp cận từ góc độ văn hoá, qua đó phân tích đời sống văn hoá của

người già, môi trường văn hoá của người già, đời sống của họ trong xã hội cổtruyền… đồng thời sử dụng số liệu từ một số nghiên cứu xã hội học làm rõthực trạng người cao tuổi hiện nay và đi sâu phân tích nhu cầu văn hoá cơ bảncủa người cao tuổi như nhu cầu giao tiếp, nhu cầu rèn luyện nhân cách, nhu cầu

Trang 18

tâm linh… Tác giả đưa ra một nhận định mới mẻ trong quan niệm của ngườicao tuổi về số con: nhiều con nhiều cháu không còn là mong muốn của ngườicao tuổi vì ngoài lý do đất chật người đông, còn là thực tế sự nhờ vả con cáicủa người cao tuổi đã giảm đi rất nhiều, không mấy người còn trông chờ “giàcậy con” như trước nữa Nhận định này có mâu thuẫn với các quan điểm trướcđây về người cao tuổi Tuy nhiên nếu xét trên khía cạnh vai trò của gia đìnhtrong việc chăm sóc người cao tuổi thì quan điểm trên có thể đúng trong một sốtrường hợp những gia đình đông con nhưng người cao tuổi không nhận được

sự chăm sóc chu đáo từ con cái so với những gia đình có ít con

Luận án tiến sỹ “Già hoá dân số Việt Nam, Mô hình chăm sóc sức khoẻ

người già ở một số xã vùng đồng bằng sông Hồng” (2004) của tác giả Nguyễn

Văn Tiến tập trung phân tích quá trình, nguyên nhân già hoá dân số Việt Namqua các thời kỳ, dự báo quá trình già hoá dân số trong tương lai, trên cơ sở đóđánh giá thực trạng và chính sách liên quan đến chăm sóc vật chất, tinh thần, sứckhoẻ của người già hiện nay ở Việt Nam nhằm đưa ra mô hình chăm sóc sứckhoẻ người già tại cộng đồng Nghiên cứu chỉ ra rằng cuộc sống của đa số ngườigià còn khó khăn, điều kiện vật chất còn thiếu thốn, sức khoẻ kém và có mongmuốn được nhà nước hỗ trợ về mặt chăm sóc sức khoẻ

Cuốn sách “Người cao tuổi và các mô hình chăm sóc người cao tuổi

ở Việt Nam” của tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh và các cộng sự là một công

trình nghiên cứu phối hợp giữa Ủy Ban Dân số, Gia đình và Trẻ trong giaiđoạn 2006-2007 và của Viện Nghiên cứu truyền thống và phát triển năm2008-2009 Trong cuốn sách này nhóm đã đi khảo sát tìm ra một số quanđiểm, phải chăm sóc người cao tuổi coi họ là một nhóm cần được quan tâm từgóc độ công tác xã hội bao gồm các hoạt động chăm sóc sức khoẻ, đời sốngvật chất và tinh thần cho nhóm người cao tuổi trong xã hội, đảm bảo cho họnhững quyền lợi cơ bản như quyền được nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, quyềnđược tiếp cận các dịch vụ y tế, văn hóa xã hội, có môi trường sống tốt đẹptrong gia đình và xã hội

Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách, bài viết đã đề cậpđến nhiều vấn đề của người cao tuổi như vai trò của người cao tuổi đối với gia

Trang 19

đình và xã hội, hệ thống an sinh xã hội đối với người cao tuổi, sự tham gia cáchoạt động, tổ chức xã hội của họ… Trong số đó, đã có một số bài viết, nghiêncứu ít nhiều đề cập gián tiếp tới vấn đề công tác xã hội đối với người cao tuổi,tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống về công tác xã hộiđối với người cao tuổi, thông qua các mô hình thực tế như câu lạc bộ và từ đóđưa ra những giải pháp can thiệp CTXH nhằm giúp đỡ, phát huy vai trò củangười cao tuổi.

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Luận văn tổng hợp khá đầy đủ và có tính hệ thống các công trình nghiêncứu Việt Nam và thế giới về công tác xã hội đối với việc phát huy vai trò ngườicao tuổi trong cộng đồng, mối quan hệ với lao động, cống hiến của người caotuổi trong từng lĩnh vực nói riêng, vận dụng các lý thuyết ngành công tác xã hội

và lý thuyết khoa học liên ngành, bước đầu xây dựng khung cơ sở lý luận chonghiên cứu, đề xuất giải pháp thực tiễn về phát huy vai trò tích cực của cán bộhưu trí cao tuổi thông qua mô hình câu lạc bộ Thăng Long

Từ phân tích tổng quát về lý luận, luận văn cho thấy nhiều mảng vấn đềnghiên cứu về hoạt động nghiên cứu nghiên cứu vai trò người cao tuổi, khảnăng lao động, cống hiến của người cao tuổi vẫn còn chưa được nghiên cứusâu, thậm chí còn bỏ ngỏ Điều đó khiến cho những nhận thức của chúng ta vềvấn đề quan trọng này còn nhiều hạn chế

Trên cơ sở phân tích số liệu, kết quả phỏng vấn trực tiếp người cao tuổi

và các nhóm xã hội liên quan, luận văn cố gắng tập trung phân tích nhữngphát hiện trong thực tiễn, làm rõ hai mảng vấn đề về lý luận nêu trên, kiểmđịnh, giải thích các giả thuyết nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác xã hộiđối với việc phát huy vai trò người cao tuổi, tiềm năng lao động ,cống hiếncủa cán bộ hưu trí cao tuổi tại câu lạc bộ Thăng Long, dựa trên các kết quảnghiên cứu và tiếp cận vấn đề, luận văn đề xuất các giải pháp về cơ chế, chínhsách, nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý và phát huy vai trò củangành công tác xã hội trong việc hỗ trợ phát huy vai trò người cao tuổi trongcộng đồng

Trang 20

5 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội đối với việc phát huy vai trò tích cực của cán bộ hưu trícao tuổi

6 Khách thể nghiên cứu

Nhóm khách thể nghiên cứu chính là 25 cán bộ hưu trí cao tuổi (trên 60tuổi) đang sinh hoạt tại câu lạc bộ Thăng Long

Ngoài ra, luận văn sẽ nghiên cứu các nhóm khách thể nghiên cứu khác

có liên quan đến chủ đề nghiên cứu như nhóm các nhà quản lý, hoạch địnhchính sách đối với người cao tuổi, nhóm lãnh đạo chính quyền, đoàn thể địaphương, nhóm quản lý câu lạc bộ, nhóm những người làm công tác xã hội đốivới người cao tuổi

7 Câu hỏi nghiên cứu

Người cao tuổi là cán bộ hưu trí sinh hoạt tại câu lạc bộ Thăng Longhiện nay đang có vai trò gì, đóng góp gì trong các hoạt động cộng đồng

Công tác xã hội đối với việc phát huy vai trò tích cực của cán bộ hưu trícao tuổi tại câu lạc bộ Thăng Long hiện nay đang được triển khai, thực hiệnnhư thế nào

Cần những giải pháp gì để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác

xã hội đối với việc phát huy vai trò tích cực của cán bộ hưu trí cao tuổi tại câulạc bộ Thăng Long

8 Giả thuyết nghiên cứu

Vai trò cán bộ hưu trí cao tuổi biểu hiện qua hoạt động xã hội tiếp tụclao động, cống hiến, hoạt động vui chơi giải trí, sinh hoạt cộng đồng, hoạtđộng tuyên truyền, vận động tạo ra sự đồng thuận của nhân dânvới các chínhsách của Đảng, nhà nước là hiện tượng khá phổ biến của người cao tuổi tạicâu lạc bộ Thăng Long

Hoạt động xã hội của cán bộ hưu trí cao tuổi là hoạt động có tổ chức,phong phú, đa dạng theo nhiều lĩnh vực, nhiều cấp độ khác nhau, phụ thuộc vàokhả năng, điều kiện, mong muốn bản thân người cao tuổi, phụ thuộc vào môhình tổ chức, hoạt động của câu lạc bộ Thăng Long và đơn đặt hàng của xã hội

Trang 21

Điểm mạnh và hạn chế trong hoạt động xã hội của cán bộ hưu trí caotuổi mang tính đặc thù về lứa tuổi, ngành nghề đào tạo, công việc chuyên môntrước đây, năng lực, trình độ và điều kiện cá nhân, gia đình hiện tại Điểmmạnh của cán bộ hưu trí cao tuổi trong hoạt động lao động, cống hiến, khẳngđịnh vai trò của họ biểu hiện ở khả năng sáng tạo, sự chín chắn về kinhnghiệm, tính không ràng buộc, chịu chi phối của sự thúc ép công việc nhưtrước khi họ nghỉ hưu Điểm yếu của lao động, cống hiến cán bộ hưu trí caotuổi là tâm lý làm việc tùy hứng, làm theo ý thích, chưa có nhiều cơ chế pháthuy, ghi nhận sự sáng tạo của họ, đưa các sản phẩm lao động vào thực tiễn

Công tác xã hội đối với việc phát huy vai trò tích cực của cán bộ hưu trícao tuổi trong cộng đồng còn chưa được quan tâm đúng mức, còn có nhữnghạn chế, bất cập, phụ thuộc vào nhận thức của các chủ thể quản lý, môitrường và điều kiện đặc thù của các cộng đồng địa phương

9 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: từ năm 2015 - 2016

Về không gian: địa bàn thành phố Hà Nội

10 Phương pháp nghiên cứu

10.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Luận văn cố gắng tiếp cận và khảo cứu các nguồn tư liệu, các côngtrình nghiên cứu có sẵn tại các cơ quan lưu trữ như thư viện quốc gia; thưviện khoa học xã hội; Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Trường Đại học vănhóa…Truy cập và khai thác các nguồn tư liệu từ các viện nghiên cứu, trườngđại học, một số tổ chức khoa học và công nghệ khác, truy cập các nguồnthông tin, tài liệu từ các bài viết trên mạng internet…

Luận văn cũng sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, tập trung phântích các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của Thành Ủy, Ủy Bannhân dân thành phố Hà Nội…liên quan chính sách người cao tuổi Chú trọng thuthập các tài liệu, số liệu thống kê, qua các báo cáo của các ban, bộ, ngành, đoànthể, chú ý các luận điểm, các phát hiện quan trọng từ các công trình khoa học cóliên quan đến đề tài trước đây ở Việt Nam và các nước trên thế giới

Trang 22

Để tìm hiểu về quá trình thực hiện vai trò người cao tuổi hiện nay, học

viên tiến hành thu thập và phân tích sơ yếu lyc lịch của 25 cán bộ hưu trí caotuổi

Do các mẫu lý lịch thu thập được của các cán bộ hưu trí cao tuổi tuyphong phú về nội dung nhưng không thống nhất và đồng đều nên học viênkhông có điều kiện thống kê hay tiến hành phân tích định lượng trong cácnhóm chỉ báo Học viên lựa chọn phân tích những dữ liệu thu được này theophương pháp định tính, có tính chất bổ sung, tham chiếu cho các phương phápkhác để đánh gia năng lực, trình độ, cơ hội tham gia hoạt động của người caotuổi trong cộng đồng

10.2 Phương pháp điều tra Xã hội học

Luận văn sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn sâu (định tính) làphương pháp thu thập thông tin cơ bản, phục vụ nghiên cứu đề tài Đề tài tiếnhành phỏng vấn sâu 25 trường hợp trong đó bao gồm 20 cán bộ hưu trí đangcao tuổi đang sinh hoạt tại câu lạc bộ Thăng Long, có vai trò hoạt động laođộng, cống hiến trong cộng đồng theo lĩnh vực hoạt động của họ trước đây;

05 nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu về người cao tuổi, một số người cóchuyên môn tốt về công tác xã hội…nhằm nghiên cứu, giải thích một số nộidung nghiên cứu được đặt ra trong luận văn

Để thực hiện phương pháp phỏng vấn sâu, học viên xây dựng bộ tiêu chíphỏng vấn sâu cơ bản, một số câu hỏi linh hoạt phù hợp với các đối tượng đượcmời tham gia trả lời phỏng vấn Học viên sử dụng 2 hình thức phỏng vấn trực tiếp,phỏng vấn điện thoại có ghi âm và hình thức gửi câu hỏi, thu thập ý kiến người trảlời qua email và các mạng xã hội như facebook, twitter, google +

Các câu hỏi phỏng vấn sâu đều được xây dựng trên tinh thần khai thácthông tin khách quan, tôn trọng người trả lời, hoàn toàn không đưa ra gợi ý,chụp mũ hay quy kết của người thực hiện nghiên cứu

10.3 Phương pháp công tác xã hội

Vận dụng lý thuyết, phương pháp tiếp cận công tác xã hội để phântích các dữ liệu thu thập được trong quá trình thực hiện nghiên cứu, địnhhướng cho việc nghiên cứu, xây dựng các giải pháp, mô hình hiệu quả cho

Trang 23

các hoạt động công tác xã hội hướng đến phát huy vai trò tích cực của cán

bộ hưu trí cao tuổi tại câu lạc bộ Thăng Long nói riêng và cán bộ hưu trícao tuổi nói chung

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG

1 Khái niệm nghiên cứu

1.1 Công tác xã hội

Xuất phát từ nhiều quan niệm về CTXH đã dẫn đến nhiều định nghĩa

về CTXH, tuy không đối lập nhưng cũng chưa có được một định nghĩa nhấtthống nhất

Theo Foundation of Social Work Practice (Cơ sở thực hành CTXH):CTXH là một môn khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua khókhăn của họ và đạt được một vị trí ở mức độ phù hợp trong xã hội CTXHđược coi như một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học

và những nghiên cứu đã được chứng minh Nó cung cấp một lượng kiến thức

có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hóa

Theo JoanRobertson – Chủ nhiệm khoa CTXH Trường Đại họcWisconsin, Hoa Kỳ: CTXH là một quá trình giải trình giải quyết các vấn đềhợp lý nhằm thay đổi theo kế hoạch, hướng tới mục tiêu đã đề ra ở các cấp độ

cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức, cộng đồng và chính sách xã hội

Theo NASW – Hiệp hội nhân viên xã hội quốc gia: CTXH là nhữnghoạt động chuyên nghiệp nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm và cộngđồng trong hoàn cảnh khó khăn, để họ tự phục hồi chức năng hoạt động trong

xã hội và để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đíchcủa cá nhân

Theo IFSW – Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội Quốc tế (tại Đại hộiMontreal – tháng 7/2000): CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội,việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyềnlực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải

Trang 24

mái dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội.CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề theođịnh nghĩa này thì CTXH sẽ không được công nhận tại các nước, chưa có nềngiáo dục phát triển cao về CTXH.

Theo quan niệm của các học giả Trung Quốc (“Trung Quốc đại báchkhoa toàn thư, xã hội học quyển” bản 1, trang 291, xuất bản 1991): CTXH làmột sự nghiệp và môn khoa học chuyên ngành của nhà nước và xã hội để giảiquyết và dự phòng những vấn đề xã hội nảy sinh do thành viên xã hội thiếukhả năng thích ứng với cuộc sống xã hội hay mất thăng bằng chức năng xãhội Tính năng của nó là điều chỉnh quan hệ xã hội, cải thiện chế độ xã hội,đẩy mạnh xây dựng xã hội, thúc đẩy sự phát triển của xã hội thông qua phục

vụ xã hội và quản lý xã hội” (theo Trịnh Hàng Sinh, 2008, 28)

Định nghĩa của Crouch.R.C “Social Work Defined” (1979): CTXH là

sự cố gắng hỗ trợ những người không làm chủ các phương tiện sinh tồn tiếpcận được với chúng và đạt được mức độ độc lập cao nhất có thể có được”

Theo Từ điển XHH (G.Endruweit và G.Trommsdorff – NXB Thế giới,

Hà Nội, 2001): CTXH là một dịch vụ đã chuyên môn hóa – một việc giúp đỡ

có tính cá nhân – để giải quyết những vấn đề xã hội đặc biệt

CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao, được thực hiệntheo các nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhómngười trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ; qua đó CTXH theođuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội CTXH làhoạt động thực tiễn bởi họ luôn làm việc trực tiếp với đối tượng, với nhómngười cụ thể và mang tính tổng hợp cao, bởi người làm CTXH phải làm việcvới nhiều vấn đề khác nhau như: Tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề giađình CTXH không giải quyết mọi vấn đề của con người và xã hội mà chỉnhằm vào những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hang ngày của con người

Đó là: An sinh xã hội hay phúc lợi xã hội, đồng thời hỗ trợ con người giải

Trang 25

quyết vấn đề đời sống cụ thể của họ nhằm đem lại sự ổn định, hạnh phúc chomọi người và phát triển cộng cho cộng đồng, xã hội.

Từ việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của CTXH; từ các quanniệm, các định nghĩa được trình bày với nhiều cách tiếp cận khác nhau, theochúng tôi (tác giả) có thể đưa ra một định nghĩa chung mang 2 khía cạnh nộidung sau:

CTXH là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vi con người và

hệ thống xã hội và thúc đẩy sự thay đổi lieen quan đến vị trí, địa vị, vai tròcủa cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế nhằm tới sự bình đẳng và tiến bộ

xã hội

CTXH còn là một dịch vụ chuyên môn hóa, góp phần giải quyết nhữngvấn đề xã hội liên quan đến con người nhằm thỏa mãn các nhu cầu căn bảncủa những cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội; mặt khác, góp phần giúp cánhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của chính mình

1.2 Công tác xã hội nhóm

Trong Từ điển Công tác xã hội của Barker (1995), công tác xã hộinhóm được định nghĩa là: “Một định hướng và phương pháp can thiệp côngtác xã hội, trong đó các thành viên chia sẻ những mối quan tâm và nhữngvấn đề chung họp mặt thường xuyên và tham gia vào các hoạt động đượcđưa ra nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể Đối lập với trị liệu tâm lýnhóm, mục tiêu của CTXH không chỉ là trị liệu những vấn đề về tâm lý,tình cảm mà còn là trao đổi thông tin, phát triển các kỹ năng xã hội và laođộng, thay đổi các định hướng giá trị và làm chuyển biến các hành vichống lại xã hội thành các nguồn lực hiệu quả Các kỹ thuật can thiệp đềuđược dưa vào quá trình công tác xã hội nhóm nhưng không hạn chế kiểmsoát những trao đổi về trị liệu”

Khái niệm trên có đưa ra sự khác biệt giữa công tác xã hội nhóm và trịliệu tâm lý nhóm ở việc “phát triển các kỹ năng xã hội và lao động, thay đổiđịnh hướng giá trị và làm chuyển biến hành vi chống lại xã hội”.Để kiểmchứng cho những khác nhau trên, chúng ta tìm hiểu khái niệm về trị liệu tâm

Trang 26

lý, trong đó bao gồm cả trị liệu tâm lý nhóm Từ điển Công tác xã hội(Barker, 1991) nêu: “Trị liệu tâm lý là một hoạt động tương tác đặc biệt vàchính thức giữa một nhân viên xã hội hay các nhà chuyên môn về sức khoẻtâm thần khác với thân chủ (cá nhân, hai người, gia đình hay nhóm) ở đó mốiquan hệ trị liệu được thiết lập để giúp giải quyết những biểu hiện của rốinhiễu tâm thần, căng thẳng tâm lý xã hội, các vấn đề về quan hệ và những khókhăn gặp phải trong môi trường xã hội” Như vậy, có thể thấy sự khác biệt lớncủa trị liệu tâm lý nhóm và công tác xã hội nhóm là ở những hoạt động mangtính chuyên sâu hơn và thường được các nhà tâm lý học hay tâm thần học sửdụng trong quá trình hỗ trợ, trị liệu thân chủ có những tổn thương sức khoẻtâm thần và rối nhiễu tâm lý nghiêm trọng hơn.

Tuy nhiên, thuật ngữ “Trị liệu nhóm – group theorapy” cũng thườngđược nhắc đến trong chuyên môn công tác xã hội Theo Reid, (1997) “Trị liệunhóm là một chiến lược can thiệp giúp các cá nhân có những rối nhiễu tìnhcảm và những vấn đề xã hội không điều chỉnh được bằng việc nhóm hai nhiềucác nhân lại dưới sự chỉ dẫn của nhân viên xã hội hay các nhà trị liệu chuyênnghiệp khác Cá nhân được chia sẻ vấn đề của mình với các thành viên kháctrong nhóm, thảo luận các cách thức giải quyết vấn đề, trao đổi thông tin vàxem xét nguồn lực, kỹ thuật giải quyết vấn đề và chia sẻ những trải nghiệmcảm xúc trong một môi trường được kiểm soát nhằm giúp các cá nhân vượtqua được những khó khăn” (tr.5) Theo sách bách khoa về kiến thức chung yhọc, “Trị liệu nhóm là một hình thức trị liệu tâm lý xã hội nơi một nhóm nhỏcác thân chủ (bệnh nhân) thường xuyên gặp gỡ để nói chuyện, tương tác vàthảo luận các vấn đề với nhau và với người trưởng nhóm” Nhà chuyên môntrong trị liệu nhóm được xác đinh khá rộng từ các nhà tâm lý, nhà tâm thầnhọc, các nhân viên xã hội đến cả các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ khác

Tác giả Nguyễn Thị Oanh (1998) đưa ra khái niệm trị liệu nhóm mô tả

rõ nét hơn thân chủ và yêu cầu của cán bộ chuyên môn trong trị liệu nhóm.Theo bà, “Trị liệu nhóm nhằm trị liệu cá nhân các bệnh nhân tâm thần, nhữngngười bị rối loạn, ức chế tâm lý khá sâu Mối tương tác giữa bệnh nhân được

Trang 27

sử dụng để hỗ trợ quá trình trị liệu nhưng công tác này đòi hỏi kiến thứcchuyên sâu về tâm lý, tâm lý trị liệu và tâm thần học” (tr.54).

Theo các khái niệm trên, không phải có nhiều điểm khác biệt giữa côngtác xã hội nhóm và trị liệu nhóm.Trị liệu nhóm nhần mạnh nhiều hơn vàocách thức thực hiện trị liệu, độ chuyên sâu của các hình thức trị liệu, còn côngtác xã hội nhóm đề cập đến phương pháp tiếp cận ở mức tổng thể Và cũngtheo nhiều tài liệu khác, thuật ngữ công tác xã hội nhóm và trị liệu nhómnhiều lần được sử dụng thay thế cho nhau, đặc biệt là trong các trung tâm, cơ

sở cung cấp các dịch vụ tham vấn Ngay cả trong quá trình phát triển củacông tác xã hội nhóm, cũng có giai đoạn trị liệu nhóm thường được nhắc đếnnhư là thuật ngữ thay thế Mặc dù vậy, cũng đồng quan điểm với tác giảOanh, nhiều tác giả đề cập đến điểm khác biệt lớn nhất của hai thuật ngữ trênchính là mức độ chuyên sâu của các kỹ thuật trị liệu hay của các bài trắcnghiệm (test) hỗ trợ quá trình chuẩn đoán những rối nhiễu của các thành viên.Những kỹ thuật hay các bài trắc nghiệm này được sử dụng nhiều trong ngànhtâm lý học

Dù được định nghĩa trên phương diện nào thì công tác xã hội nhómtrước hết phải được coi là một phương pháp can thiệp của công tác xã hội.Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong nhóm đượctạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ nhữngmối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhómnhằm đạt tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mụcđích của cá nhân thành viên giải tỏa những vấn đề khó khăn Trong hoạt độngcông tác xã hội nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường

kỳ dưới sự điều phối của người trưởng nhóm (có thể là nhân viên xã hội và cóthể là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp, điều phối của nhân viên

xã hội (trong trường hợp trưởng nhóm là thành viên của nhóm)

1.3 Khái niệm người cao tuổi

Người cao tuổi là một khái niệm lịch sử, gây nhiều tranh cãi trên bìnhdiện tiếp cận của các khoa học, trình độ phát triển của xã hội và các nền vănhóa Trong Nho giáo truyền thống, Khổng Tử quan niệm 50 tuổi hiểu thấu

Trang 28

quy luật trời đất (Ngũ thập nhi thiên mệnh), 60 tuổi cái gì cũng thuận theo(Lục thập nhi nhĩ thuận), 70 tuổi xưa nay hiếm (thất thập cổ lai hi), có nghĩa

là người cao tuổi được xác định trong độ tuổi từ 50 tuổi trở lên

Sách "An Nam Chí Lược" của tác giả Lê Tắc có chép về lịch sử nước ta

từ thời Trần về trước, những người từ trên 50 tuổi đã được miễn mọi loại sưudịch và gia đình, làng xã đã có thể tổ chức lễ thượng thọ cho các cụ khi đến

độ tuổi này Nhiều Hương ước nhiều Làng xã còn lại cũng cho thấy nhữngquy định Lên lão và có thể tham gia vào Hội đồng Kỳ Lão của làng

Ngày nay, trên thế giới và Việt Nam việc xác định độ tuổi của ngườicao tuổi vẫn là vấn đề gây tranh cãi và nhiều quan niệm khác nhau Trongcuốn Từ điển Xã hội học của G.Endrweit và G.Trommsdorff (Nhà xuất bảnThế giới) trang 727 phần “Xã hội học người cao tuổi – hay còn gọi là lão học

xã hội nghiên cứu những người cao tuổi trên 65, nhưng tuy nhiên nhiềutrường hợp những người từ 50 – 60 tuổi” cũng được coi là đối tượng nghiêncứu của chuyên ngành này

Trong cuốn Bách khoa quốc tế về xã hội học (Internationalencyclopedia of sociology) phần Người cao tuổi và sự quan tâm của các tổchức xã hội khi đưa ra khái niệm về người cao tuổi (the elderly), các tác giả

có phân chia theo độ tuổi như sau: từ 65 đến 74 tuổi gọi là nhóm người caotuổi trẻ (Young-old), từ 75 - 84 tuổi gọi là nhóm người trung cao tuổi(Middle-old) và từ 84 tuổi trở lên gọi là nhóm già (Versy-old)

Ở Việt Nam, theo định nghĩa của các nhà Dân số học, những người trên

60 tuổi, không phân biệt nam nữ, gọi là người cao tuổi Trong các cuộc điềutra dân số, các chuyên gia phân loại dân số theo lứa tuổi, người cao tuổi thuộcnhóm tuổi bằng hoặc trên 60 Điều này khác với nhiều nước trên thế giới nhất

là những nước phát triển, tuổi thọ trung bình trên dưới 70 tuổi, bởi vậy người

ta cho rằng cao tuổi là những người trên 65 tuổi.1

1 Đặng Vũ Cảnh Linh,Người cao tuổi và các mô hình chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam, NXB Dân trí,

2009, tr.12 và tr.13

Trang 29

Theo Luật người cao tuổi năm 2009 thì người cao tuổi được quy định làcông dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên Như vậy, trong luận văn, tác giả sẽ

sử dụng định nghĩa này đảm bảo được tính khách quan và tin cậy

1.4 Khái niệm nhóm cán bộ cao tuổi

Theo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức của Quốc hội nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày

13 tháng 11 năm 2008 Khoản 1 Điều 4 quy định về cán bộ: “Cán bộ là công

dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.

Theo Luật người cao tuổi thì người cao tuổi được quy định là công dânViệt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên

Như vậy, chúng ta có thể hiểu chung khái niệm nhóm cán bộ cao tuổi lànhóm công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn để đảm nhiệm vào các tổchức chính trị trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước, hưởng lương từ Nhànước Nhóm cán bộ này đủ từ 60 trở lên đã hoặc chuẩn bị nghỉ hưu

2 Phương pháp luận

2.1 Chủ nghĩa Duy vật biện chứng

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mọi sự vật, hiệntượng trong thế giới biểu hiện rất đa dạng, phong phú nhưng đều có chungbản chất vật chất Vậy, vật chất là gì? V.I Lênin định nghĩa: "Vật chất là mộtphạm trù triết học, dùng để chỉ thực tế khách quan, được đem lại cho conngười trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh

và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"'

Với định nghĩa trên đã cho thấy, cái căn cứ cơ bản nhất để phân biệt cáchiện tượng vật chất với hiện tượng ý thức chính là ở thuộc tính tồn tại kháchquan của vật chất, còn ý thức chí là sự phản ánh đối với vật chất, nó phụ thuộc

Trang 30

vào vật chất Với quan niệm đó về vật chất thì khái niệm vật chất trong chủnghĩa duy vật biện chứng không chỉ bao gồm các sự vật, hiện tượng vật lý nhưđiện, từ trường, nguyên tử, vật thể, v.v mà còn bao gồm cả những tồn tạikhách quan của đời sống xã hội - đó là các quan hệ kinh tế trong đời sống xãhội loài người, các quan hệ này cũng tồn tại khách quan, độc lập với ý chí củacon người Cũng do vậy, với quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng đã xác lập cơ sở lý luận triết học để nghiên cứu trên lập trường duyvật không chỉ về giới tự nhiên mà còn là về đời sống xã hội loài người.

- Phương thức và hình thức tồn tại cơ bản của vật chất:

Ph Ăngghen đã chia vận động thành năm hình thức cơ bản là vận động

cơ học, lý học, hoá học, sinh học và vận động xã hội Các hình thức vận động

đó khác nhau về chất Không được quy gộp hay so sánh hình thức vận độngnày với hình thức vận động khác Các hình thức vận động có mối liên hệ nhấtđịnh, có thể chuyển hoá cho nhau và luôn được bảo toàn Hình thức vận độngcao ra đời từ hình thức vận động thấp Vận động xã hội là hình thức vận độngcao nhất, vì nó là sự vận động các chế độ xã hội thông qua con người Vậnđộng xã hội bao hàm mọi hình thức vận động khác

Vận động là tuyệt đối, đứng im là tương đối là một trong những nguyên

lý cơ bản của phép biện chứng duy vật Vận động là tuyệt đối vì vận động làphương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất Không ởđâu, không lúc nào có vật chất mà lại không có sự vận động

Đứng im là tương đối vì nó chỉ xảy ra với một hình thức vận động, cótính chất cá biệt, chỉ xảy ra trong một quan hệ nhất định Không có đứng im

Trang 31

tương đối thì không thể có những sự vật cụ thể, xác định và con người khôngthể nhận thức được bất cứ cái gì Trong đứng im vẫn có vận động, nên đứng

im là tương đối

Ý nghĩa phương pháp luận: cho ta cách nhìn sự vật, hiện tượng trongtrạng thái động; không cứng nhắc, cố định khi tình hình đã thay đổi

+ Không gian và thời gian:

Khái niệm không gian dùng để chỉ vị trí tồn tại của sự vật, hiện tượng

và kết cấu hình dạng của chúng; còn khái niệm thời gian dùng để chỉ quá trìnhvận động, biến đổi của các sự vật, hiện tượng

Ý nghĩa phương pháp luận: Muốn nhận thức đúng sự vật, hiện tượng,nhất thiết phải có quan điểm lịch sử cụ thể, xem xét nó trong không gian, thờigian nhất định, đồng thời phải dự báo dự đoán sự vận động của sự vật, hiệntượng trong tương lai

- Tính thống nhất của thế giới:

Tính thống nhất của thế giới là ở tính vật chất của nó Tính chất ấy tồntại khách quan, độc lập với ý thức Thế giới vật chất là vô tận, vận động,chuyển hoá lẫn nhau Tất cả đều là nguyên nhân, đều là kết quả của nhau, đều

có nguồn gốc vật chất Mỗi lĩnh vực của giới tự nhiên hay xã hội dù hình thứcbiểu hiện ở những dạng cụ thể khác nhau chúng đều là vật chất, có nguồn gốcvật chất; đều có liên hệ, kết cấu và đều chịu chi phối bởi những quy luậtchung, khách quan của thế giới vật chất

Các học thuyết về khoa học tự nhiên như thuyết tiến hóa của các loài,học thuyết về tế bào, học thuyết tiến hóa và bảo toàn năng lượng đã chứngminh thế giới có các mối liên hệ với nhau và thống nhất với nhau ở tính vậtchất Sự ra đời chủ nghĩa duy vật biện chứng; phép biện chứng duy vật, đặcbiệt là chủ nghĩa duy vật lịch sử chứng minh xã hội loài người ra đời từ tựnhiên, là sự phát triển liên tục của tự nhiên đã khẳng định tính thống nhất củathế giới ở tính vật chất của nó không chỉ trong tự nhiên, mà cả trong xã hội

Ý nghĩa phương pháp luận: trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, mỗingười phải từ bản thân sự vật, hiện thực khách quan mà phân tích, xem xét nó

Trang 32

đồng thời để hiểu sâu sắc hơn về sự vật, hiện tượng ta phải đặt nó trong mốiquan hệ với các sự vật, hiện tượng có liên quan kể cả trực tiếp và gián tiếp,không được chủ quan kết luận.

- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức:

+ Nguồn gốc và bản chất của ý thức:

Với nghĩa bao quát nhất, khái niệm ý thức dùng để chỉ toàn bộ đời sốngtinh thần, là sự phản ánh năng động sáng tạo hiện thực khách quan của conngười, trong đó gồm ba yếu tố cơ bản nhất là tri thức, tình cảm và ý chí củacon người

Ý thức ra đời từ hai nguồn gốc: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội:Nguồn gốc tự nhiên của ý thức từ hai yếu tố là bộ óc người và thế giớikhách quan Khoa học tự nhiên đã chứng minh con người là kết quả của quátrình phát triển lâu dài của giới tự nhiên, là sản phẩm cao nhất của giới tựnhiên, con người với bộ não phát triển cao, từ đó ra đời ý thức Ý thức làthuộc tính của vật chất, nhưng không phải là thuộc tính của mọi dạng vật chất,

mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất đặc biệt, được tổ chức cao là bộ ócngười Thế giới khách quan (tự nhiên, xã hội) tồn tại bên ngoài con người làđối tượng phản ánh, là nguồn gốc tự nhiên của ý thức

Nguồn gốc xã hội của ý thức do hai yếu tố là lao động và ngôn ngữ Bộnão người càng phát triển, khả năng sáng tạo và chinh phục tự nhiên ngàycàng cao hơn Nguồn gốc xã hội có ý nghĩa quyết định sự ra đời của ý thức.Nguồn gốc trực tiếp cho sự ra đời của ý thức là thực tiễn hoạt động sản xuất,hoạt động xã hội và thực nghiệm khoa học

Bản chất của ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào óc người vàcải biến đi; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Do tâm, sinh lý,mục đích, yêu cầu, động cơ và điều kiện hoàn cảnh chủ quan của con ngườikhác nhau nên dù cùng hiện thực khách quan nhưng ý thức con người có thểkhác nhau

Ý nghĩa phương pháp luận: không ngừng nâng cao đời sống vật chất,tạo điều kiện cung cấp các dưỡng chất cần thiết cho bộ não hoạt động, đồngthời trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải biết phát huy tính năng động

Trang 33

sáng tạo của ý thức để cải biến hiện thực khách quan hiện có, bằng cáchkhông ngừng rèn luyện, nâng cao trình độ thông qua tích lũy kinh nghiệmtrong lao động sản xuất và trong cuộc sống.

Ý thức tác động trở lại vật chất: Ý thức do vật chất sinh ra và quyếtđịnh nhưng ý thức có tác động to lớn đối với vật chất Ý thức giúp con ngườihiểu được bản chất, quy luật vận động phát triển của sự vật, hiện tượng đểhình thành phương hướng, mục tiêu và những phương pháp, cách thức thựchiện phương hướng, mục tiêu đó Nhờ có ý thức, con người biết lựa chọnnhững khả năng phù hợp thúc đẩy sự vật phát triển Vai trò của ý thức đối vớivật chất, thực chất là vai trò hoạt động thực tiễn của con người

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất được thể hiện qua sựđịnh hướng của ý thức đối với hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên và xã hội.Đồng thời, từ ý thức, con người xây dựng nên các phương pháp cho hoạt độngthực tiễn để cải tạo hoàn cảnh khách quan Có thể khẳng định ý thức, đặc biệt

là yếu tố tri thức có vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của một hoạtđộng thực tiễn

Ý nghĩa phương pháp luận: Để đảm bảo sự thành công của hoạt độngnhận thức hay thực tiễn, con người phải luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọngquy luật khách quan Không được lấy mong muốn chủ quan của mình để hànhđộng, dễ dẫn đến sai lầm và thất bại Mặt khác, cần phải phát huy : năng độngchủ quan, tính sáng tạo của con người, phát huy tác động tích cực của ý thức,không trông chờ, ỷ lại trong nhận thức và hành động cải tạo thế giới

Trang 34

* Vai trò của sản xuất và phương thức sản xuất trong đời sống xã hội:

- Vai trò của sản xuất:

Theo quan điểm duy vật lịch sử, con người sáng tạo ra lịch sử và là chủthể cùa lịch sử Con người có ba hoạt động sản xuất cơ bản: sản xuất ra của cảivật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra chính bản thân con người Để tồn tại

và phát triển, trước tiên con người phải ăn, uống, ở và mặc trước khi có thể lochuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo (sản xuất tinh thần), sinhcon đẻ cái Muốn vậy, họ phải lao động sản xuất ra của cải vật chất

Sản xuất vật chất là yêu cầu khách quan, là cơ sở của sự tồn tại, vậnđộng và phát triển của xã hội; từ đó mới hình thành các quan điểm tưtưởng,quan hệ xã hội và các thiết chế xã hội khác nhau

Sản xuất vật chất là cơ sở của mọi sự tiến bộ xã hội Trong các giaiđoạn lịch sử khác nhau, con người tiến hành sản xuất vật chất với cách thứckhác nhau Yếu tố để xem xét sản xuất vật chất ở một giai đoạn nhất định củalịch sử xã hội là phương thức sản xuất

- Vai trò của phương thức sản xuất:

Phương thức sản xuất là cách thức tiến hành sản xuất vật chất trongmột giai đoạn nhất định của lịch sử Mỗi phương thức sản xuất gồm hai mặtcấu thành là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, làtrình độ chinh phục tự nhiên của con người, là mặt tự nhiên của phương thứcsản xuất Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động.Người lao động với thể lực và trí lực của mình tích cực tham gia vào quá trìnhsản xuất, đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất Tư liệu sản xuấtbao gồm đối tượng lao động và công cụ lao động, trong đó công cụ lao động

Trang 35

là yếu tố động nhất, luôn đổi mới theo tiến trình phát triển khách quan của sảnxuất vật chất.

Ý nghĩa phương pháp luận để phát huy hiệu quả của phương thức sảnxuất mới, bên cạnh việc đầu tư, trang bị máy móc công cụ hiện đại, phảikhông ngừng nâng cao trình độ tay nghề, ý thức tổ chức kỷ luật của người laođộng phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của quá trình sản xuất hiện nay

Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trìnhsản xuất, là mặt xã hội của phương thức sản xuất Quan hệ sản xuất bao gồmquan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong quá trình tổ chức, quản

lý và phân công lao động; quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động Bamặt đó có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệusản xuất đóng vai trò quyết định các mối quan hệ khác

Ý nghĩa phương pháp luận: quá trình sản xuất hiện nay đang biến đổinhanh chóng, vì vậy cần chú ý đổi mới quá trình tổ chức, quản lý, phân cônglao động phù hợp, công khai minh bạch trong phân phối là những động lựcthúc đẩy sản xuất phát triển

Phương thức sản xuất quyết định tính chất của xã hội Xã hội là donhững con người với các hoạt động của mình tạo ra Nhưng con người khôngthể tuỳ ý lựa chọn chế độ xã hội cho mình Những vĩ nhân hay nhà nuớc,những tư tưởng, học thuyết khoa học không thể áp đặt được chế độ xã hội Sự

ra đời một chế độ xã hội trong lịch sử do yếu tố hoàn toàn khách quan làphương thức sản xuất quyết định Phương thức sản xuất phong kiến quyếtđịnh tính chất của xã hội phong kiến Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩaquyết định tính chất của chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa vv

Phương thức sản xuất quyết định tổ chức kết cấu của xã hội Tổ chứckết cấu của xã hội bao gồm các tổ chức kinh tế, quan điểm tư tưởng, giai cấp,đảng phái, nhà nước, thiết chế xã hội và các tổ chức chính trị - xã hội khác

Tổ chức kết cấu ấy không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người mà

do phương thức sản xuất quyết định Mỗi phương thức sản xuất khác nhausinh ra một kiểu tổ chức kết cấu xã hội khác nhau

Trang 36

Phương thức sản xuất quyết định sự chuyển hoá của xã hội loài ngườiqua các giai đoạn lịch sử khác nhau Lịch sử xã hội loài người là lịch sử pháttriển của sản xuất, thực chất là sự phát triển của các phương thức sản xuất.

Khi phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đờithì chế độ xã hội cũ mất theo và chế độ xã hội mới sẽ ra đời Loài người đãtrải qua năm phương thức sản xuất, tương ứng với nó là năm chế độ xã hội làchế độ cộng sản nguyên thuỷ, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế

độ tư bản chủ nghĩa và cuối cùng là chế độ cộng sản chủ nghĩa (giai đoạn thấpcủa nó là xã hội chủ nghĩa)

Ý nghĩa phương pháp luận: Khi nghiên cứu mọi hiện tượng xã hội phải

đi tìm nguồn gốc phát sinh từ phương thức sản xuất, từ tất yếu kinh tế Nhậnthức đúng vai trò của phương thức sản xuất trong thời kỳ đổi mới, Đảng tachủ trương phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước gắn với kinh tế tri thức

Những quy luật cơ bản của sự vận động và phát triển xã hội:

- Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của mỗi quá trình sản xuất, baogồm các yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động, trong đó người lao động làyếu tố cơ bản nhất, giữ vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất; còn quan

hệ sản xuất là mối quan hệ xã hội giữa con người với nhau trong quá trình sảnxuất, đóng vai trò là hình thức kinh tế của quá trình ấy, bao gồm các quan hệ

sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức - quản lý quá trình sản xuất vàquan hệ phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất:

Trong mỗi phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất gắn bó hữu cơ với nhau Lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, quan

hệ sản xuất là hình thức xã hội của phương thức sản xuất Mối quan hệ giữalực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ nội dung và hình thứccủa quá trình sản xuất Lực lượng sản xuất như thế nào về trình độ thì quan hệ

Trang 37

sản xuất phù hợp như thế ấy Trình độ lực lượng sản xuất thủ công, với công

cụ thô sơ có tính chất cá nhân thì phù hợp với nó là quan hệ sản xuất cá thể.Khi trình độ lực lượng sản xuất thay đổi thì quan hệ sản xuất cũng thay đổitheo Do con người luôn tích luỹ sáng kiến và kinh nghiệm, luôn cải tiến công

cụ và phương pháp sản xuất nên lực lượng sản xuất luôn phát triển

Ngày nay, khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức phát triển đã trởthành lực lượng sản xuất trực tiếp Lực lượng sản xuất phát triển đến mức độnào đó mà quan hệ sản xuất cũ không còn phù hợp nữa nó sẽ cản trở, hoặcmâu thuẫn gay gắt với lực lượng sản xuất Để tiếp tục phát triển, lực lượngsản xuất phải phá vì quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới, phùhợp với trình độ mới của lực lượng sản xuất

Vai trò tác động trở lại cùa quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất:

Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì

nó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Quan hệ sản xuất không phù hợpthì nó kìm hãm, thậm chí phá vì lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất là phùhợp với trình độ của lực lượng sản xuất khi nó tạo ra những tiền đề, nhữngđiều kiện cho các yếu tố của lực lượng sản xuất (người lao động, công cụ, đốitượng lao động) kết hợp với nhau một cách hài hoà để sản xuất phát triển vàđưa lại năng suất lao động cao

Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất không phảichỉ thực hiện một lần là xong mà diễn ra cả một quá trình Mỗi khi sự phù hợpgiữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất bị phá vì là mỗi lần điều chỉnh,thay bằng sự phù hợp khác cao hơn

Ý nghĩa phương pháp luận: Muốn xã hội phát triển, tiến bộ phải pháttriển sản xuất ra của cải vật chất Để phát triển sản xuất phải thúc đẩy lựclượng sản xuất phát triển Phải ứng dụng những công cụ lao động tiên tiếnvào sản xuất, không ngừng nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động.Phải làm rõ các quan hệ sở hữu, cách thức tổ chức quản lý quá trình sảnxuất và các hình thức phân phối phù hợp thúc đẩy lực lượng sản xuất pháttriển không ngừng

Trang 38

- Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng:

Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh

tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, bao gồm quan hệ sản xuấtthống trị, quan hệ sản xuất còn lại của hình thái kinh tế - xã hội trước và quan

hệ sản xuất của hình thái kinh tế - xã hội tương lai Trong ba loại quan hệ sảnxuất đó thì quan hệ sản xuất thống trị là chủ đạo, chi phối các quan hệ sảnxuất khác và là đặc trưng của cơ sở hạ tầng đó Cơ sở hạ tầng có tính giai cấp

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm tư tưởng chính trị,pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, triết học và những thiết chếtương ứng như Nhà nước, đảng phái, giáo hội, các tổ chức quần chúng ,được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định và phản ánh cơ sở hạ tầng đó

Mỗi bộ phận của kiến trúc thượng tầng có đặc trưng, quy luật vận động

và mối liên hệ riêng với cơ sở hạ tầng và liên hệ tác động lẫn nhau Trong xãhội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng có tính chất giai cấp

Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:

Cơ sở hạ tầng thế nào thì kiến trúc thượng tầng được xác lập tương ứngnhư thế Quan hệ sản xuất nào thống trị thì cũng tạo ra kiến trúc thượng tầngchính trị tương ứng như vậy Khi cơ sở hạ tầng biến đổi, kiến trúc thượngtầng biến đổi theo Biến đổi cơ sở hạ tầng, sớm hay muộn cùng dẫn tới sựbiến đổi của kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng cũ mất đi, cơ sở hạ tầng mới

ra đời, sớm hay muộn kiến trúc thượng tầng cũ cũng mất đi và kiến trúcthượng tầng mới ra đời Kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối Khi

cơ sở hạ tầng mất đi nhưng các bộ phận của kiến trúc thượng tầng mất theokhông đều, có bộ phận vẫn tồn tại, thậm chí nó còn được sử dụng

Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại, bảo vệ cơ sở hạ tầng đã sinh ra

nó Kiến trúc thượng tầng là tiên tiến khi nó bảo vệ cơ sở hạ tầng tiến bộ vàtác động thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển Kiến trúc thượng tầng bảo thủ, lạchậu sẽ tác động kìm hãm nhất thời sự phát triển cơ sở hạ tầng

Mỗi bộ phận của kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầngtheo hình thức và mức độ khác nhau, trong đó Nhà nước có vai trò quan trọng

Trang 39

và có hiệu lực mạnh nhất vì Nhà nước là công cụ bạo lực, hiệu quả của giaicấp thống trị xã hội.

Ý nghĩa phương pháp luận: Vì kinh tế quyết định chính trị, do vậymuốn hiểu đúng các hiện tượng chính trị, văn hóa, xã hội thì phải xem xétchúng từ cơ sở kinh tế đã làm này sinh các hiện tượng đó; nhưng chính trị,vănhóa, xã hội lại có khả năng tác động trở lại kinh tế, vì vậy cần phải phát huyvai trò tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của chúng tới cơ

để lại những hậu quả xã hội theo những dạng khác nhau, dới nhiều hình thức

và ở mức độ khác nhau Bởi vậy xã hội học phải quan tâm tới ảnh hưởng tácđộng giữa xã hội và bệnh tật theo cả hai chiều tương tác nói trên

Toàn bộ những tác dụng hai chiều này rất phức hợp và phân tán Để cóthể tạo ra được một “hình mẫu” mô tả được, y học xã hội đã xây dựng hai loại

mô hình: Thứ nhất, mô hình có thể mô tả được mối tơng quan đã nêu của cáchiện tợng, dựa trên giả thiết về các mối quan hệ “nguyên nhân”, “điều kiện”,

“hậu quả” và “tác dụng”, để sao cho trong mô hình này, có thể tranh luận,biện luận một cách hợp lý và thậm chí có thể tính toán được Thứ hai, môhình sắp xếp chính những hiện tượng của mối quan hệ tác dụng đã nêu theo

đề mục “tính xác thực”, “có ý kiến” thành những kiều mẫu có thể mô tả được

Vận dụng lý thuyết này để lý giải về các loại hình dịch vụ chăm sócngười cao tuổi: chúng ta thấy tình trạng sức khoẻ của người cao tuổi và bệnhtật của người cao tuổi ngoài những nguyên nhân về mặt thể chất, chế độ sinhhoạt còn có những nguyên nhân từ phía xã hội Một trong những nguyên nhân

Trang 40

mang tính xã hội là tình hình chăm sóc người cao tuổi, mà trong đề tài nàychủ yếu đề cấp đến Ngược lại, sức khoẻ và bệnh tật ở người cao tuổi cũng cónhững tác động và ảnh hưởng đến xã hội Vấn đề đặt ra là: Làm thế nào đểđảm bảo đời sống vật chất tinh thần cho người cao tuổi? Làm thế nào để chămsóc sức khoẻ cho người cao tuổi? Vai trò của Nhà nước, cộng đồng, gia đình

và bản thân người cao tuổi trong hệ thống an sinh xã hội đối với người caotuổi như thế nào?

2.3.2 Tiếp cận truyền thông

Trong xã hội học, thuật ngữ truyền thông chỉ quá trình tiếp nhận, duytrì và trung chuyển nhận thức và hành vi giữa con người với con người trong

xã hội Như vậy, có thể hiểu truyền thông như là phơng diện tương tác của xãhội làm sáng tỏ các nghĩa mang ý chủ quan [M Weber] của một hành động xãhội Nói cách khác, truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viênhay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau [thôngđiệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát- người mang nội dungthông tin đến với ngừơi nhận- người nhận thông tin]

Các lý thuyết truyền thông [mô hình truyền thông]:

- Mô hình truyền thông đầu tiên là của Claude shannon (Mỹ) Mô hìnhnày thể hiện truyền thông theo kiểu đơn tuyến Shannon đa ra 3 vấn đề:

+ Những kí hiệu truyền đi có đúng mẫu hay không [vấn đề kỹ thuật].+ Những kí hiệu truyền đi có mang đầy đủ ý nghĩa hay không [mặtnội dung]

+ Thông tin tác động thế nào lên ứng xử của đối tợng [vấn đề hiệu lực]

- Mô hình truyền thông của Lasswell tập trung về thu thập và phân tíchcác yếu tố:

+ Ai nói: Địa vị của người nói trong xã hội, vị thế, vai trò của anh tahay một cộng đồng dân cư, đặc điểm nhân khẩu học xã hội

+ Nói gì: Nội dung thông tin, thông điệp chứa đựng những gì, nhữngnội dung cần truyền đến đối tượng và nhu cầu của người tiếp nhận thông tin],

từ đó lựa chọn khái niệm -> mã hoá ->qui chiếu về văn bản nội dung dó

Ngày đăng: 16/10/2016, 21:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Mai Anh, Dương Huy Lương, Khương Anh Tuấn, Đánh giá tình hình chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi Việt Nam, Nxb Y học 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Mai Anh, Dương Huy Lương, Khương Anh Tuấn, "Đánh giátình hình chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Y học 2007
3. Trương Bách, 2005. Nghệ thuật sống vui cho người cao tuổi Nxb TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Bách, 2005. "Nghệ thuật sống vui cho người cao tuổi
Nhà XB: Nxb TP.Hồ Chí Minh
4. Nguyễn Đình Cao, 2004. Cẩm nang chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Cao, 2004. "Cẩm nang chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi
Nhà XB: NXB Hà Nội
5. Vũ Đình Cao, 2006. Chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi Nxb Hà Nội 6. Bùi Thế Cường, 1997. Khảo sát về người cao tuổi đồng bằng sônghồng. Tập 1,2, Viện Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Đình Cao, 2006. "Chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi" Nxb Hà Nội "6." Bùi Thế Cường, 1997. "Khảo sát về người cao tuổi đồng bằng sông"hồng
Nhà XB: Nxb Hà Nội "6." Bùi Thế Cường
7. Bùi Thế Cường, 1999. Nghiên cứu xã hội về người cao tuổi Việt Nam;nhìn lại một chặng đường. Viện xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Thế Cường, 1999. "Nghiên cứu xã hội về người cao tuổi Việt Nam;"nhìn lại một chặng đường
8. Phạm Kiên Cường, 2005. Cần có hình thức dịch vụ nào trong chính sách đối với người cao tuổi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Kiên Cường, 2005
9. Nguyễn Thị Hằng, 1999. Người cao tuổi Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Nxb Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Hằng, 1999. "Người cao tuổi Việt Nam – Thực trạng và giảipháp
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
10. Lê Thúy Hằng, 2000. Con cái chăm sóc cha mẹ già ở Đồng bằng sông hang. Luận văn cao học khóa 2 Viện xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thúy Hằng, 2000. "Con cái chăm sóc cha mẹ già ở Đồng bằng sônghang
11. Nguyễn Ngoc Huyên, 2005. Chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi những điều nên biết NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngoc Huyên, 2005. "Chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi nhữngđiều nên biết
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
12. Phạm Khuyên, 1999. Chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại cộng đồng, Nxb Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Khuyên, 1999. "Chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại cộngđồng
Nhà XB: Nxb Y học
13. Nguyễn Kim Lân, 2005. Ứng sử với người cao tuổi trong gia đình, Nxb Phụ Nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Kim Lân, 2005. "Ứng sử với người cao tuổi trong gia đình
Nhà XB: Nxb Phụ Nữ
14. Nguyễn Thị Phương Lan, 2003. Đời sống văn hóa người cao tuổi trong xã hội Việt đồng bằng bắc bộ từ truyền thống đến hiện đại, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Phương Lan, 2003." Đời sống văn hóa người cao tuổitrong xã hội Việt đồng bằng bắc bộ từ truyền thống đến hiện đại
15. Ma Xiao Lian – Hà Sơn (dịch), 2004. Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ người già Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ma Xiao Lian – Hà Sơn (dịch), 2004
Nhà XB: Nxb Hà Nội
16. Tuệ Minh, Dương Thiêng, 2005. Sức khoẻ và hạnh phúc cho người cao tuổi Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuệ Minh, Dương Thiêng, 2005. "Sức khoẻ và hạnh phúc cho ngườicao tuổi
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
17. Nguyễn Văn Nhương, 2004. Cẩm nang chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Nhương, 2004. "Cẩm nang chăm sóc sức khoẻ người caotuổi
Nhà XB: NXB Thanh Niên
18. Nhóm tác giả Viện xã hội học, 2003. Chiến lược sống của người cao tuổi nông thôn trước những biến đổi của gia đình hiện nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhóm tác giả Viện xã hội học, 2003
19. Đặng Vũ Cảnh Linh, 2008. Thực trạng các loại hình chăm sóc người cao tuổi ở nước ta hiện nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Vũ Cảnh Linh, 2008
20. Nguyễn Phương Lan, 2003. Đời sống văn hoá người cao tuổi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phương Lan, 2003
21. Nhóm tác giả: Tương Lai, Trịnh Duy Luân, Lê Truyền, 1994. Người cao tuổi và an sinh xã hội, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhóm tác giả: Tương Lai, Trịnh Duy Luân, Lê Truyền, 1994. "Ngườicao tuổi và an sinh xã hội
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
22. Lê Văn Nhẫn, Nguyễn Thế Huệ, 2004. Người cao tuổi trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Văn Nhẫn, Nguyễn Thế Huệ, 2004. "Người cao tuổi trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Người cao tuổi Việt Nam qua các cuộc tổng điều tra - Công tác xã hội đối với việc phát huy vai trò tích cực của nhóm cán bộ cao tuổi hưu trí tại câu lạc bộ thăng long hà nội
Bảng 2.1. Người cao tuổi Việt Nam qua các cuộc tổng điều tra (Trang 51)
Hình ảnh bác sĩ đang khám bệnh cho người cao tuổi - Công tác xã hội đối với việc phát huy vai trò tích cực của nhóm cán bộ cao tuổi hưu trí tại câu lạc bộ thăng long hà nội
nh ảnh bác sĩ đang khám bệnh cho người cao tuổi (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w