~ Để bhảc họa chân dung người lính, Quang Dũng đã sử dụng những chỉ tiết, hình ảnh thực của đoàn quân Tây Tiến nhưng những hình ảnh đó lại được diễn tả bằng bút pháp lãng mạn để tô đậm c
Trang 21 TUYEN NGON BOC LAP COA CHU TICH HO CHi MINH
ĐỀ 56
Độc lập của Chủ: tịch Hồ Chi Minh ngay 2 - 9 - 1946 Nâu van tét hoàn cảnh ra đời uà ý nghĩa lịch sử trọng đại của bản Tuyên ngôn
BÀI LÀM
Khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh, nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành
chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngày 19-8-1945, Hà Nội giành
chính quyến vẻ tay nhân dân Ngày 26-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu cách mạng Việt Bác về tới Hà Nội, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập
trước hàng chục vạn đồng bào
Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta và mở ra một ki nguyên mới cho đất nước: kỉ nguyên của Độc lập, Tự do và Chủ nghĩa xã hội Tuyên ngôn Độc lập là một bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chè, đanh thép, lời lề hùng hồn và đây sức thuyết phục
Tuyên ngôn Độc lập được công bố trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: nhần dan
ta vừa tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyển thắng lợi, lập nên một nước Việt Nam mới, nhưng bọn để quốc, thực dân lại đang ám mưu chuẩn bị chiếm lại nước
ta, Chúng nấp sau quán Đồng Minh vào tước khí giới quân đội Nhật: tiến vào từ phía Bắc là quân đội Quốc dan đảng Trung Quốc, đằng sau là để quốc Mỹ; tiển vào từ phía Nam là quân đội Anh, đằng sau là lính viễn chính Pháp Thực dân Pháp lại trắng trợn tuyên bố: Đông Dương là đất "bảo hộ" của người Pháp bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên phải thuộc quyển của người Pháp Trong bối cảnh đó, Tuyên ngôn Độc lập không phải chỉ được đọc trước quốc dân đổng bào mà còn
để nói với thế giới, đặc biệt là với bọn đế quốc, thực dân nhằm bác bỏ đứt khoát những luận điệu đó
Tuyên ngôn Độc lập ngày 3-9-1945 của Chủ tịch Hỗổ Chí Minh là sự nổi tiếp - nắng co của lịch sử đân tộc trong thời đại mới: không chỉ giải quyết được yêu cầu Độc lập cho dân tộc như hai bản Tuyên ngôn Độc lập thời kì phong kiến (Thơ thần ở thé ki
XI và Bình Ngô đại cáo ở thể kí XV) mà còn giải quyết thêm một yêu cầu nữa hết sức quan trọng là Dán ckl cho nhân dân Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 đã khẳng định một sự thật lịch sử chưa từng có của Cách mạng Việt Nam: "Dân ta đã đánh đồ các xiểng xích thực đân gắn 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam đặc lập Dân La lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế ki mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa" Như vậy, cũng có nghĩa là cùng với chữ Độc !áp, Tuyên ngón đã có thêm chữ Tự do Đó
là tư tưởng lớn, chăn lí của thời đại mà sau này Bác đã đúc kết trong câu nói nổi tiếng:
*Không có gì quý hơn Độc lập Tự do"
Tuyên ngôn Độc lập phản ánh khát vọng, sức mạnh và ý chí quyết tâm giành
và giữ vững Độc lập, Tự do của đán tộc Việt Nam Nỏ là áng thiên cổ hùng văn của
thời đại mới
187
Trang 3DE 57
Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hổ Chí Minh được xem như là mẫu mực của
loại văn nghị luận Điều đó thể hiện rõ trong đoạn mở đầu được viết rất cao Lay: vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc
' HE THÂN BÀI:
1 Nhiệm vụ của phần mở đầu một bản Tuyên ngôn là nêu nguyên lí làm cơ sở tư tưởng cho toàn bài Nguyên lí của Tuyên ngôn độc lập là khẳng định quyển tự do độc lập của dân tộc Nhưng ở đây Bác không nêu trực tiếp nguyên lí ấy mà lại dựa vào hai bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền oà Dân quyền của Pháp năm 1791 để khẳng định "quyển sống, quyển sung sướng và quyền tự do" của tất cả các dân tộc trên thế giới Đây chính là nghệ thuật "lấy gậy
2 Bác đã khẳng định quyển độc lập, tự do của đân tộc ta bằng chính những lời lẽ của tổ tiên người MI, người Pháp đã ghi trong hai bản Tuyên ngôn từng làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng và văn hóa của những dân tộc ấy Cách viết như thế là vừa khéo léo vừa kiên quyết:
« Khéo léo vì tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mi để "khóa miệng" bọn đế quốc Pháp, Mi đang âm mưu xâm lược và can thiệp vào nước ta (sự thực lịch sử đã chứng tỏ điều này)
«© Kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng có phần bội tổ tiên mình, đừng có làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mĩ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam
3 Đoạn mở đấu còn hàm chứa nhiễu ý nghĩa sâu sắc:
« Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam mà nhắc đến hai bán Tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử của nhân loại của hai nước lớn như thế, thì cũng có nghĩa là đặt ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau, ba nẻn độc lập ngang hàng nhau, ba bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau (và sự thực, cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 đã giải quyết đúng nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng của Mi (1776) và của Pháp (1789))
«Sau khi nhắc đến những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của MI, Bác viết: "Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các đân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đắng; đân tộc nào cũng có quyển sống, quyền sung sướng và quyển tự do" Ý kiến
"suy rộng ra" ấy quả là một đóng góp đẩy ý nghĩa của Bác đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, nó như phát súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau thế kí XX (lịch sử cùng đã chứng tỏ điểu này)
Ill KẾT BÀI:
Đoạn mở đấu Tuyên ngôn Độc lập của Bác chứa đựng một tư tướng lớn với nhiều ý nghĩa sâu sắc, lại được viết bằng một nghệ thuật cao tay, mang sức thuyết phục mạnh mẽ Đó là một đoạn mở đầu mẫu mực trong một bản Tuyên ngôn bất hủ
188
Trang 4DE 58
Phan tich "phan tuyén ngôn” trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tích Hé Chị Minh (từ °Pháp chạy, Nhật hàng, 0ua Bảo Đại thoái 0Ÿ" eho đến hểU, nêu rõ:
¡ Ý nghĩa sâu sắc eủa "phần tuyên ngôn”,
2 Lé&p luận chặt chẽ, giọng uan hùng biên đây sức thuyết phục
DÀN BÀI CHI TIẾT
1 Ÿ aghĩa sâu sắc của “phẩn tuyên ngôn" trong bản "Tuyên ngôn Độc lập"
a) Y nghĩa lịch sử của Tuyên ngôn độc lập tất sâu sắc và tiến bộ:
« Đánh đổ các xiếng xích thực dân gắn 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt lập
« - Đánh để chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ đân chủ cộng hòa
Như vậy là, cùng một lúc, Cách mạng tháng Tám 1945 đã giải quyết cả hai nhiệm vụ: độc lập cho dan tộc và dân chủ cho nhân dân để đưa nước Việt Nam sang một
kí nguyên mới ~ kỉ nguyên của Độc lập Tự do và Chú nghĩa xả hội (Bình Ngô đại cáo
xưa kia, do lịch sử, chỉ mới giải quyết được độc lặp dân tộc)
bị Nội dung tuyên ngôn: đẩy đủ, toàn điện, chặt chè, đứt khoát
« Tuyên bố thoát li và xóa bỏ mọi điều với Pháp (về quan hệ, hiệp ước, đặc quyền)
© Tuyên bở với thế giới về độc lập và tự do của nước Việt Nam và dân tộc Việt
Nam trên cả ba phương diện:
+ Có quyển hưởng tự do và độc lập
+ Sự thật đã thành một nước tự đo độc lập,
+ Quyết giữ vững quyển tự do và độc lập ấy
9 Lập luận chặt chẽ, giọng uăn hùng biện đẩy sức thuyết phục:
a) Lập luận chặt chẽ:
«© Lời tổng kết tình hình trong một câu ngắn gọn, hàm súc: "Pháp chạy, Nhật
hàng, uua Bảo Đại thoái UỆ`
«- Nêu ý nghĩa lịch sử của Tuyên ngôn độc lập bằng hai câu gọn, rõ
® - Tuyên bổ với Pháp: "thoát li ẩn quan hệ với Pháp, xóa bỏ ðết những hiệp ước
mà Pháp đã kí uể nước Việt Nam (uể chứ không phải mới), xóa bỏ tất cả mọi đặc quyển của Pháp trên đất Việt Nam (chữ dùng chính xác và dứt khoát)
* Tranh thủ các nước Đông minh (iin rằng" "quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam"
« Khang định quyển tự do độc lập của đán tộc Việt Nam một cách mạnh mẽ
bằng những điệp ngữ được láy đi láy lại ("Một dân tộc đá gan góe ; dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!")
Những điều trên đây là tiền để vả lí luận đồng thời cũng là để tạo không khí đưa bài văn đến cao trào, đến lời tuyên bố cuối cùng, iời tuyên bổ trịnh trọng uới thế giới về
ba phương diện của một nước Việt Nam tự do, độc lập
b) Giọng văn hùng biện: ở phần lập luận trên đây cũng đã cho ta thấy rõ giọng văn hùng biện qua cách dùng từ, qua điệp ngữ, qua lời văn trang trọng và giọng văn đanh thép, dứt khoát, khẳng định
Tất cả đã làm nên sức thuyết phục mạnh mẽ của “phản tuyên ngôn” trong bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử này Đó là do tài nghệ của tác giả, nhưng nguồn gốc sâu
xa lại chính là ở tấm lòng yêu nước nồng nàn, tha thiết và ý chí độc lập tự do đã trở thành máu thịt, tâm hỗn của người viết
Nam
189
Trang 52 THO CA 1945 - 1975
DE 59
Bình giảng đoạn thở sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:
Tây Tiến đoàn bình không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiểu thơm Rải rác biên cương mô uiễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh vé dat
Sông Mã gầm lén khúc độc hành!
YÊU CẦU
Qua uiệc bình giảng đoạn thơ, nêu rõ:
~ Hình ảnh phi thường - tai hoa của người linh Tây Tiển khi các anh còn sống uà
cả khi các anh đã hì sinh uì Tổ quốc (qua điện mạo ngoại hình, qua mộng - mơ, qua cải
chết bất từ)
~ Để bhảc họa chân dung người lính, Quang Dũng đã sử dụng những chỉ tiết, hình ảnh thực của đoàn quân Tây Tiến nhưng những hình ảnh đó lại được diễn tả bằng bút pháp lãng mạn để tô đậm cái phì thường - tài hoa, đem đến cho người đọc một uẻ đẹp độc đáo hiểm có của người lính trong một thời bì lịch sử
BÀI LÀM
"Tây Tiến" là bài thơ hay nhất của đời thơ Quang Dùng và cũng là thành tựu xuất sắc của nền văn học kháng chiến Có thể nói, nếu chọn năm tác giả tiêu biểu của giai đoạn văn học này, có thể không có Quang Dũng nhưng nếu chọn năm bài thơ tiêu biểu, nhất định “T4y Tiến” phải được nhắc tên, đứng ở hàng danh dự Đọc ”T4y Tiến", chúng ta sống lại một thời lửa cháy cùng đoàn quân lừng tiếng đã đi vào lịch sử, và chúng ta có thể quên một số cầu thơ trong bài, nhưng không thể quên được hình ảnh
Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hàm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đềm mơ Hà Nội dáng kiểu thơm
tải rác biên cương mô uiễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Ao bao thay chiếu anh uễ đất
Sông Mã gâm lên khúc độc hành!
Nếu như ở những đoạn thơ đầu, hình ảnh đoàn quân mới hiện lên qua nét vẽ gián tiếp - nói đến gian khổ, hi sinh và địa bàn hoạt động - thì ở đây, đoàn quân ấy đã hiện 190
Trang 6lên với những nét vẽ cụ thể, gân guốc, rạch rồi Đã thành khuôn sáo khí để cập đến sự
can trường của các chiến bình Ở đây, ta tướng như gặp một mô típ như thé:
Tây Tiến đoàn bình không mọc túc Quận xanh màu lá đữ oai hàm
Nhưng, trước hết, đây là những câu thơ tả thực - thực một cách trần trụi: chiến sĩ
Tay Tiến hỏi ấy hoạt động ở những vùng núi rừng hiểm trở, ma thiêng nước độc, chết
trận thì ít mã chết vì bệnh tật thì nhiễu, có những con suối rửa chắn rụng lông, gội đầu rụng tóc "Quân xanh" ở đây có thể hiểu là xanh màu áo, xanh lá ngụy trang và xanh
làn da vì thiếu máu Những hình ảnh rất thực đó, vào bài thơ, với giọng điệu và cách
điển tả lãng mạn của Quang Dũng đã như mang nghĩa tượng trưng, rất có khí phách Mười bốn chữ thơ mà chạm khắc vào lịch sử hình ảnh một đoàn quân phi thường, độc
đáo, cô một không hai trong cuộc đời cũng như trong thợ ca Đoàn quản của một thuở
"xếp bút nghiêng lên đường chỉnh chiến" của các chàng trai Hà Nội kiêu hùng hào hoa
Vì vậy, khó khăn, gian khổ là thế, nhưng các chiến binh Tây Tiến vẫn không
nguôi, vơi đi những tình cảm lãng mạn:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Dém ma Ha Noi dang kiéu thom
"Mộng" và "mơ" của người lính được gửi vẻ hai phương trời: biên cương, nơi còn đẩy bóng giặc - mộng giết giặc lập công, và Hà Nội, quê hương yêu đấu - mơ những
bóng đáng thân yêu "Dáng kiểu thơm", ấy là vắng ` sáng lung linh trong kí ức, "tổ cáo” nét đa tình của người lính Nhưng với các chiến sĩ Tây Tiến, nỗi nhớ ấy là sự cân bằng, thư thái trong tâm hồn sau mỗi chặng hành binh vất vả, chứ không phải để thối chỉ nản lòng Vậy mà một thời, câu thơ "đẹp một cách lãng mạn" này đã khiển cho tác giả của
nó và chính bài thơ phải “trải bao gió đập, sóng đồi"
"C6 lai chính chiến kỷ nhân hồi” - xưa nay đi chiến trận, mấy ai trở về, các chiến
sĩ Tây Tiển cũng không khỏi tránh phải những mất mát, hi sinh:
Rải rác biên cương mồ uiễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Sau những câu thơ rắn rỏi, đẹp đề, đến đây, âm điệu câu thơ chợt trầm và trùng xuống để độc giả thấy rõ hơn bản chất của sự việc Dường như đây là một cảnh phim được cố ý quay chậm Còn gì thiêng liêng và cao cả hon sy hi sinh, chấp nhận gian khổ của người lính Trên đường hành quân người chiến sĩ Tây Tiến gập biết bao ngôi mổ viễn xứ của những kẻ chết xa quê Nhưng các chiến sĩ ta nhìn thấy với đôi mắt bình thản, bởi họ đã chấp nhận điều đó Một trong những động cơ thôi thúc họ lên đường là hình ảnh người anh hùng da ngựa bọc thây mà họ tiếp nhận được trong văn chương sách
vớ, Một niễm đam mẽ trong sáng pha chút lăng mạn
Hai câu thơ cuối tiếp tục âm hưởng bỉ tráng, tô đậm thêm sự mất mát hi sinh nhưng đó lại là một cái chết cao đẹp - cái chết bất tử của người lính Tây Tiến:
Áo bào thay chiếu anh uễ đất Sông Mã gắm lên khúc độc hành Hai câu mới đọc qua tưởng như chỉ làm nhiệm vụ miêu tả, thông báo bình thường nhưng sức gợi thật lớn Đâu đây vẫn như còn thấy những giọt nước mắt đọng sau hàng chữ Hai câu thơ rấn rỏi mà cảm khái, thương cảm thật sâu xa Làm sao có thể ding
191
Trang 7
đưng trước cảnh "anh về đất"? "Anh về đất" là hóa thân cho dáng hình xứ sở, thực hiện
xong nghĩa vụ quang vinh của mình Tiếng gắm của sông Mã về xuôi như loạt đai bác
rên vang, vĩnh biệt những người con yêu của giống nồi
"Trước đây, khí nhắc đến những đòng thơ này, người ta chỉ thấy những biểu hiện nào là "mộng rớt”, "buổn r‹ nhưng thời gian đã khiến chúng ta nhìn đúng hơn vào bản chất, có thời đại ấy mdi cé van chương ấy
"Tay Tiến” là bài thơ, là tấc lòng của những người chiến binh Tây Tiến Bài thơ
có nhạc, họa; bên cạnh cái bỉ là cái hùng, bên cạnh mất mát, đau thương là anh hùng
Nửa thế ki đã qua, bài thơ ngày một thêm sáng giá và đoạn thơ khắc họa đoàn quân
Tay Tiến đã trở thành một hoài niệm khó quên của một thời ki lịch sử hào hùng trong
buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp
Hà Thanh PTTH Hàm Rồng
DE 60
Phân tích để làm nổi bật cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
YÊU CẦU Bài làm phải tập trung phân tích để nêu bật được càm hứng lăng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Cụ thể có thể như sau:
trong hiện thực hình mẫu lí tưởng của người tráng sĩ thời xưa một đi không uẻ (có thể
phân tích những biểu hiện của cảm hứng lãng mạn đỏ qua nỗi nhé Tây Tiến của Quang Dũng, qua cách miêu tả thiên nhiên Tây Bắc uà chiến trường miễn Tây hùng uĩ uà thơ mộng, uà nhất là qua uiệc miêu tả chân dung người lính Tây Tiến phí thường - tải hoa
~ khi anh còn sống uà cả khi anh đã hì sinh vi Tổ quốc )
3 Đánh giá cảm hứng lãng mạn đó bằng con mắt nhìn của người hôm nay: một cầm lửng đẹp, giàu chất nhân uăn, thẩm đẫm tình người mà rực sáng lí tường thời đại, tạo nên tượng đài người linh Tây Tiến với uẻ đẹp bì tráng khó quên
BÀI LÀM
Vào một đêm cuối năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, cái làng nhỏ nằm ven bờ con sông Đáy hiển hòa thơ mộng, Quang Dũng bỏi hồi nhớ lại những kỉ niệm còn như tươi nguyên Hình ảnh những ngày Tây Tiến sống đậy trong tâm trí ông Bấy giờ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân dân ta mới bước sang năm thứ hai nhưng đã liên tiếp ghỉ được những chiến công vang dội, bẻ gẫy cuộc tiến công lên căn cứ địa Việt Bắc, thu đông 1947 Năm ấy Quang Dũng trong đoàn quân Tây Tiến làm nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt - Lào, đánh địch trên tuyến rừng núi Tây Bắc từ Lai Châu đến phía bắc Thanh Hóa Đời lính chống Pháp vốn vô cùng thiếu thốn khổ cực Người lính của trung đoàn Tây Tiến còn thiếu thỡn khổ cực hơn Vì 'rừng thiêng nước độc”, sốt rét hoành hành, thuốc men ít ôi; vì đường hành quản là trập trùng núi
192
Trang 8rừng Táy Bắc - Thượng Lào hoang vu, hiểm trở Củng như tất cả những người lính Cụ
Hồ lúc ây, bèn tai còn văng vắng lời thế "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, lời hát hào
hùng: "Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường", những chàng trai Tây
"Tiển chiến đấu bằng phẩm chất anh hùng Có điểu lính Tây Tiến hầu hết là thanh niên
Hà Nội, trong đó phần đông học sinh, tiểu tư sản trí thức nên chất anh hùng của người
linh Tây Tiến có phong thái và mảu sắc riêng - màu sắc lãng mạn ~ hào hoa
"Trước hết cám hứng lãng mạn Tây Tiên được nuôi dưỡng bằng "nỗi nhớ" thật tha thiết, mảnh liệt nhưng cũng thật "chơi vơi" như sự diễn tả của Quang Dũng:
Sông Mà xa rồi Táy Tiển ơi
Nhớ uẻ rừng núi nhớ chơi uơi
Nỗi nhớ vốn là trạng thái đơn thuần của đời sống tình cảm con người Được sống trong cảm hứng lãng mạn, nỗi nhớ ấy mới như giăng mắc một màn sương, rất khó định hình, rất khó gọi tên Cũng tử môi trường tình cảm này mà cả một cuộc sống gian khổ
chiến đấu, với chiến trường ~ người lính như đấm chìm trong một thể giới phi thưởng có
gì bí ần nhưng cũng thật hào hùng, tha thiết và gắn gui
Chiến trường trong bài thơ gian khổ, khẩc nghiệt nhưng đồng thời cũng là thiên
nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ ấm áp và mềm mại Có lúc thật hiển hòa thơ mộng Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc có núi cao, vực sâu, đốc đứng, thác gầm, cổn mây heo hút Lại có cả hương hoa, sương trắng trôi; duyên dáng một bông hoa đung đưa theo dong nước lũ, mot cd gái trên con thuyển độc mộc
Trên cái nến thiên nhiên ki vi, dữ đội, trữ tình ấy nổi bật'lên hình ánh đoàn
quân Tây Tiển khi thì như bị ngập hút đi, khi thì như người đi tìm cảm giác mạnh và
đẹp giữa núi rừng Sự đối chọi và hòa hợp này đã làm tăng khí phách anh hùng, vẻ hào hoa của người lính kháng chiến, tạo cho họ sự hấp dẫn và vẻ đẹp khó quên
Phải vậy chăng mà càng qua thời gian vẻ đẹp Tây Tiến càng đẹp hơn, lúc nào cũng lôi cuốn làm say mê người đọc
Hình ảnh người lính that ki di, khác thường “Da xanh màu lá", “đầu trụi tóc” do thiêu thốn, bệnh tật, Những hình ảnh rất thực đó vào bài thơ, với giọng và cách diễn tả lang man của Quang Dũng thành ra như mang nghĩa tượng trưng, rất có khí phách
Tây Tiển đoàn bình không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hàm Hoặc "cái chết” cũng vậy Những cái chết "hàng loạt" bay những cái chết đau thương - chết mà không biết chết - cũng đều thật hào hùng
Rai rác biên cương mỗ uiễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh:
Áo bào thay chiếu anh vé đất
193
Trang 9€ó thể nói, nét độc đáo của thơ Quang Dũng thường lộ rõ khi thơ ôöng chen giữa
hai thái cực: đã hiện thực thì hiện thực đến dữ dội, đã lãng mạn thì lãng mạn đến mộng
mơ Bút pháp nảy thể hiện rất rõ khi miêu tả thiên nhiên Tây Bắc Ấy là những câu thơ hấu hết là vấn bằng được nằm xen kẽ, bên cạnh những câu chắc, khỏe tạo sự đối lập trong âm hưởng Những câu thơ đó, vì thế mà rất giàu chất tạo hình và gợi cảm Thiên nhiên vốn đã đẹp và thơ mộng, giờ đây tựa như huyền thoại:
Mường Lat hoa vé trong dém hơi Nếu như "sương lấp" lạnh lùng, nặng né de doa bao nhiéu thi "hoa vé" lại nhẹ nhõm, tươi tắn ấm áp bấy nhiêu "Hoa về trong đêm hơi" - điền tả một trạng thái lãng lâng Dĩ nhiên là cái lãng lâng vừa đến trong một chặng đường mỏi mệt Khung cảnh rừng núi mà đoàn quãn Tây Tiến bước chân qua, vừa thơ mộng lại vừa hùng vi Tất cả đều được tác giả thể hiện ở khoảng cách xa xa, hư ảo với kích thước có phần phóng đại khác thường Nói về cái hiểm trở, tác giả đã dùng những hình ảnh thật độc đáo:
Đốc lên khúc khuỷu, đốc thăm thẳm Heo lút cồn mây, súng ngửi trời
“Tác giả không viết súng chạm trời mà là "súng ngửi trời" đây là thủ pháp cường điệu hóa (đạc trưng của bút pháp lãng mạn), ngoài ra còn thể hiện chất hém hinh nghịch ngợm của người lính Không những thế, khi nói về độ cao, tác giả lại ding tinh
từ chí độ sâu: "Heo hút cổn máy" và có những câu thơ như bẻ gãy làm đôi:
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Ngòi bút Quang Dũng thật độc đáo, đẩy ấn tượng, nếu "thơ là nơi thể hiện đẩy đủ nhất, sâu sắc nhất ma lực kì ảo của ngôn ngữ" thì những câu thơ này quả đúng như vậy
Tuy nhiên bút pháp lăng mạn không chỉ thể hiện ở việc miêu tả thiên nhiên mà còn thể hiện rất rõ trong việc miêu tả phong thái sống của người chiến sĩ Tây Tiến Đọc hai câu thơ:
Tây Tiến đoàn bình không mọc tóc Quân xanh mau la di oai him
ta thấy rất rõ sự hiện diện của gian khổ khốc liệt Nhưng điểu đặc biệt là những gian khổ khốc liệt này lại dường như lẫn vào bên trong, còn cái hiện ra bên ngoài lại rất
lãng mạn Câu thơ tạo nên hình ảnh đối lập: bên ngoài thì xanh như lá, trụi trọc đầu,
nhưng bên trong người chiến sĩ thể hiện một phong độ anh hùng, đữ và oai như hùm nơi Từng thiêng nước độc Quang Dũng đã không hể che giấu những gian khổ, thiếu thốn ghê gớm mà những người lính phải chịu đựng Chỉ có điều, cái nhìn lãng mạn của ông
da thấy ho không ổm yếu, không bị lụy mà chứa đựng một sức mạnh phi thường, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng Hình tượng người lính vì thế mang dáng vẻ anh hùng kiểu chỉnh
phu một đi không trở lại:
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Không những thế, bằng ngòi bút lãng mạn của mình, Quang Dũng đã tạo nên một bức tượng đài tập thể không chỉ bằng những đường nét khắc họa dáng vé bèn ngoài ma còn thể hiện được cả thế giới tâm hốn bên trong đẩy mộng mơ của họ;
Mất trừng gửi mộng qua biên giới Đềm mơ Hà Nội dáng hiểu thơm 194
Trang 10Gita nui riing Tay Bac, ho nhé vé mot “dang kiéu thom”, mot bong héng thướt tha Trong bài thơ “Mhớ" của Hồng Nguyên, người chiến sĩ trong bài thơ cũng nhớ về quê hương nhưng đây là nỗi nhớ của người lính xuất thân từ nông dân, bởi thế, nỗi nhớ
ấy cũng rất thiết tha nhưng vẫn mộc mạc, chân thành và gần liền với những công việc
thường ngày
Ba năm rồi gửi lại quê hương
Mái lễu tranh Tiếng mồ đêm trường
Luống cây đất đỏ
It nhiều người uợ trẻ
Mòn chân bên cối gạo cảnh khuya
Những chiến sĩ Tây Tiến vốn là những chàng trai Hà Nội cho nên họ nhớ vẻ một dáng kiếu thơm đẹp quyến rũ Hỏi Quang Dũng viết Tây Tiến, chỉ tiết này bị phê phán nhiều, nhưng thật là lạ, vì sao người ta lại muốn nỗi nhớ của mọi người phải giống nhau Cũng là nỗi nhớ nhưng nổi nhớ này được khen là tốt, nỗi nhớ kía lại chê là dở Cũng may là cái hẹp hòi, ấu tri ấy không tổn tại lâu
Hơn một lần, trong bài thơ, tác giả nói về cái chết:
“Rai rac biên cương mô uiễn xử Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bảo thay chiếu anh uễ đất Séng MG gam lên khúc độc hành”
Đã có một thời, người ta tránh nói về cái chết và về cái mất mát nhưng Quang Dũng đã không từ chối điểu đó, bởi lẽ có chiến thắng nào mà không trả giá bằng máu
và nước mắt Và "không có gì cao cả hơn một nỗi đau buốn lớn" (An-phrét đơ Muýt-xê)
Nét đặc sắc của Táy Tiển là nói về chiến tranh mà không có một chữ nào về
“trận đánh”, về "tiếng súng" Và ba lẩn nói đến cái chết thì đểu miễu tả một cách rất giản dị "bó quên đời", "về đất", "hồn về" để bình thường hóa cái chết Cảm hứng lãng mạn, khiến ngòi bút của ông nói nhiễu tới cái buồn, cái chết như là những chất liệu thẩm mĩ tạo nên cái đẹp mang chất bi hùng
Cảm hứng của Quang Dũng mỗi khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bởi đôi cánh của lí tưởng, của tỉnh thắn lãng mạn Chính vì vậy mà hình ảnh những nấm
mổ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mỡ đi trước lí tưởng quên mình
vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến Cái sự thật bi thảm những người linh Tây Tiến gục ngà bên đường không có đến cả manh chiếu che thân qua cái nhìn của nhà thơ, lại được bọc trong những tấm áo bào sang trọng Và rồi cái bi thương ay bi at han đi trong tiếng gầm thét dữ đội cla dong song Ma
Nita thé ki da trôi qua, kể từ ngày "7y Tiến” ra đời Vượt qua sức cản phá của thời gian, "T4y Tiến” vẫn còn sức quyến rũ với chúng ta hôm nay, gợi nhớ về "những năm tháng không quên" trong lịch sử dân tộc Có thể nói, "4y Tiển” là "một tượng đài bất tử' về người lính vô danh mà Quang Dũng đã dựng lên bằng cá tâm hồn và cảm hứng lâng mạn mang chất tiểu tư sản học sinh của mình đã tưởng niệm một thế hệ thanh niên đã hãng hái, anh dũng ra đi và nhiều người trong số họ không về nữa
Cùng với “Táy Tiến”, những bài thơ tiêu biểu của thời kì kháng chiến như “Đẳng
195
Trang 11ĐỂ 61
Phân tích uẻ đẹp hào hàng, hào hoa, bì trảng trong bài tha "Tây Tiến” của
YÊU CẦU Phân tích bài thơ làm nổi rõ uẻ đẹp hào hùng, hào hoa, bị trắng của cảnh thiên nhién Tay Bae, chiến trường Tây Tiến uà người lính Tây Tiến (qua cảm hứng lãng mạn 0à bút pháp lãng mạn - tài hoa của Quang Dàng)
BÀI LÀM
Ra đời trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chong Pháp gian khổ, "Tây Tiến"
là một hổi tưởng rất đẹp, những kỉ niệm đẩy sống động về n„uui chiến sĩ trong đoàn quân “Táy Tiến” Hỏi tưởng của một anh lính tài hoa có tính thần xả thân vì nghĩa lớn
~ Quang Dũng Cho nên, khác với vẻ đẹp của các bài thơ cùng thời, vẻ đẹp cua "Tay
Tiến” là vẻ đẹp hài hòa, hào hoa, bi tráng Bài thơ mở đầu với một tiếng gọi đồn chứa tâm trạng, thoạt đầu đọc lên có vẻ lạ lùng:
"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ uẻ rừng nui nhé choi voi"
Hai câu thơ xác định rõ hai khoáng không gian khác nhau Không gian thực tại
và không gian hồi tưởng Tuy nhiên, chí có độc giá mới nhận ra rành rõ điểu đó, còn đối với nhà thơ, khi ông nói “xa rồi” là khi những hình ánh của một quá khứ chưa xa đang
ập tới; nhấc bổng óng khỏi mảnh đất thực tại, để hồn thơ lơ lửng, “chơi uơi trong cõi nhớ” cùng "xa rồi" chứ đâu chỉ "Sông Mã”
Vậy là, chẳng cắn đến sự dẫn dắt dễnh dàng nhằm chuyển vùng không gian cho người đọc, một thời “7áy Tiến" đã hiện lên tức khắc trước mắt ta Trong kí ức nhà thơ, các ấn tượng hãy còn nóng hổi, tươi nguyên và cái nặng nhọc, vất vá ngày nào dường như còn chưa tan hẳn, ta thấy các địa danh được hiện lên, tất cả hãy còn đây ranh rành
lâng Dĩ nhiên là cái lâng lâng vừa đến sau một chặng đường mỏi mệt Khung cảnh rừng
196
Trang 12núi ma đồn quan Tay Tiến đã bước chân qua, vừa thơ mộng lại vừa hùng vĩ Một bức
tranh làm xao đĩng lịng ta như một bức tranh thủy mặc hiện đạ lhà ai pha luậng mua xe khơi” Lại cĩ những nét về thật táo bạo, câu thơ như bẻ gây làm đơi: "Ngàn
thước lên cao, ngàn thước xuống”, Cĩ lúc, hình ảnh núi rừng rộn lên bởi tiếng ho gam
thét, lại cĩ lúc hình ảnh nên thơ duyên đáng về một cũ gái cùng con thuyền độc mộc
trên dịng sơng chảy xiết Cảm hứng lãng mạn của Quang Dang khéng lam han hep dé tài, trái lại, qua cảm hứng này, tâm hồn õng rộng mở với toan cảnh của núi rừng Tây
Bắc, khiến tâm hẳn ta đẹp một cách phĩng khống
Kết thúc đoạn thơ, đợt sĩng cổn của kí ức bị đánh thức đột ngột hình như tan
dẫn Đợt sĩng mới chưa được hình thành nên lúc này kỉ ức duge kéo dan ra, nhe nhang
lan toa dé các hình ảnh tươi tắn hơn Độc giả lại được dịp "nghỉ ngai” để cĩ thể nghiêng ngả theo điệu múa trong đêm liên hoan văn nghệ với "Doanh trại bừng lên hội đuốc
hoa” và được thả hồn "đong đưa" theo cánh hoa tươi trên dịng nước lũ
Thiên nhiên trong “Tây Tiến” bao giờ cũng là một nhân vật quan trọng, tràn đẩy sinh lực và thẩm đượm tình người Hồn thơ tỉnh tế của tác gid “bdt” rất nhạy một làn sương chiêu mỏng, một dáng hòa lau núi phất phơ đơn sơ bất chợt Rồi nhà thơ thổi hồn mình vào đĩ và để lại mãi trong ta một niễm báng khuâng, thương mến Và một áng thơ đẹp xuất hiện như máy chiều biên ải:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Cá thấy hỗn lau néo bến bờ
“Tây Tiến” hiện lên khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, kì vĩ với đủ cá núi cao, vực thẩm, dốc đứng, thác gầm cùng cổn mây heo hút, dịng lũ hoa trõi với khĩi lên, sương lấp, mưa xa khơi Trên cái nên thiên nhiên kì vi, dữ đội ấy, nổi bật lên hình ảnh đồn quân Tây Tiến “nhỏ bé” như bị ngập hút đi Nhưng chính sự đối chọi, tương phản đĩ
càng tăng thêm khi phách anh hùng của đồn quân Cách mạng, mà kẻ thù, cũng như
gian khổ khơng thể khuất phục nổi Hình ảnh những người lính qua nét vẽ của Quang Dũng thật khác thường Khác thường ở sự gian khổ cùng cực: ăn đĩi, mặc rét, bệnh tật, sốt rét đến xanh da, trụi tĩc Khác thường ở chỗ tác giả cố ý khơng miêu tả một gương mặt chiến sĩ riêng biệt với tên tuổi cụ thể nào, ơng đã dổn các phẩm chất tốt đẹp của những tráng sĩ Tây Tiến thành gương mặt chung của cả một đồn quân:
Tay Tién dồn bình khơng mọc lốc
Quán xanh mau la di? oai him Mất trừng gi mộng qua biên giới
Dém mơ Hà Nội dang kiểu thơm
Ta cĩ thể hiểu, đây là hình ảnh khá chân thật vẻ điện mạo bên ngồi người lính mù cài lá ngụy trang, thân thể xanh xao vì sốt rét Nhưng cảm hứng ở đây lại tran day một nỗi niềm thân quen, Từ thân quen mà thấy cái anh hùng của họ Câu thơ tạo nên hình ảnh đối lập, bể ngồi thì xanh như lá, thiếu sức sống, nhưng hên trong người chiến sỉ thể hiện một phong độ anh hùng, oai như hùm nơi “rừng thiêng nước độc” Câu thơ "Quản xanh mau la d@ oat him” da ggi duge ding khi của người chiến bình thuớ ấy Nĩ mang cái dáng dấp kiêu hùng của người coi thường gian khơ, „
hi sinh đế giữ cải thế hiên ngang của đồn quân Tây Tiến Hiên ngang và thật lãng mạn Với bút pháp lãng mạn và cảm hứng say nổng, Quang Dũng đã dựng nên cái tương phản trong hình ảnh để rồi hịa hợp với tâm hồn làm cho ta thấu hiểu và cảm thơng, tìm thấy ở đây một hình ảnh đẹp
197
Trang 13Người Hà Nội trở thành người chiến binh thì cái oai phong cũng rất Hà Nội
Quang Dũng đã viết đúng hình ảnh người lính Tây Tiến từ Hà Nội chiến tranh mà ra đi:
“Mat trừng gửi mộng qua biền giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiểu thơm”, Thực ra hai câu thơ ấy chỉ là nỗi lòng của nhà thơ muốn bộc lộ thật đậm, thật rõ
chất lính của người thanh niên Hà Nội tài hoa lãng mạn Lại có người nói: thời chiến
chinh ác liệt nói về giấc mơ “dáng kiều thơm” là xa rời tình thần chiến đấu Thực ra cuộc đời con người vỏ cùng phong phú, tâm trạng của chảng trai Hà Nội lại cảng có những nét hào hoa và tình cảm riêng Cho nên nói người lính Tây Tiến “Đêm mơ Hà Nội dáng kiểu thơm”, chỉ tô đậm cái đẹp của những con người ấy mà thôi Hơn nữa, vẻ đẹp chân thực khöng bao giờ làm cho con người giảm sút lòng chiến đấu Phẩm chất người lính qua hổi tưởng của Quang Dũng đã hiện lên vừa hào hùng, hào hoa và cũng vừa bi tráng Nhà thơ đã nhìn thẳng vào những tổn thất hi sinh để viết những câu thơ:
Rai rac biên cương mô uiễn xứ Chiến trường đì chẳng tiếc đời xanlL Câu thơ có cái gì xót xa gợi niềm cảm thương trong lòng người đọc Miễn đất biên
ải xa xôi đã yên nghỉ bao cuộc đời người lính Nơi đó có chút gì hoang vắng ghế rợn trước những nấm mỏ viễn xứ Nhưng rồi sau đó cảm hứng thơ lại bừng lên những suy nghĩ thật hào hùng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, thể hiện một sự quên mình của lớp trẻ thanh niên đẩy nghĩa khí Phương châm sống của họ cao đẹp mà giản dị
“Thời ấy không ít thơ viết vểẻ người chiến sĩ, nhưng chỉ có “Táy Tiển” của Quang Dũng mạnh đạn nói đến cái chết Cái chết tạo nên vính quang của tuổi xanh thẩm lặng mà cao cá hiến mình cho dân tộc
Nét đặc sắc của Quang Dũng trong “Táy Tiến” còn thể hiện ở một ngòi bút sắc sảo tỉnh tế Viết về chiến tranh, nhưng cả bài thơ không có một chữ nảo về trận đánh,
vẻ tiếng súng, vế máu đổ hay về kẻ thù Người đọc vẫn hình dung rất rõ gương mật và không khí của chiến tranh Điều lạ lùng là bài thơ có ba lần nói đến cái chết của người chiến sĩ trong các trường hợp khác nhau, nhưng không một lấn nhà thơ nhắc tới từ
"chết" hoặc "hi sinh" Nhà thơ đã thay thế từ "ch" bằng các cụm từ giản đị "ouế đất",
"bỏ quền đời", "hồn uế" Đến đoạn thơ cuối lí tường cách mạng và tuổi trẻ đã truyền cho các chàng trai Tây Tiến chất anh hùng ngang tàng và cả chất men say lãng mạn đáng yêu Ngay cả khi họ chết cũng pháng phất vẻ nghệ sĩ - tài tử, cái đẹp bi tráng chứ khong bi luy
Để tiễn người lính Tây Tiến hi sinh, Quang Dũng không cần đến một lài ngợi ca
sáo mòn nào, cũng không cẩn đến một giọt nước mắt Ông chỉ để cho trời đất chứng
giám, thu nhận thể xác và linh hổn người lính vào lòng: "Sông Ma gdm lên khúc độc hành" tiếc thương đưa người lính Tây Tiến vào côi bất tử Bởi vì, kế từ đây hồn các anh
đã hòa quyện vào cả cây, sông núi để trở thành "hồn thiêng đất nước”
Nhà phê bình Phong Lan nhận định: "Táy Tiến một tượng đài bất tử uễ người lính uô danh" Bất tử bởi chính vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, bi tráng này Và do vậy, người lính Tây Tiến qua bài thơ cùng tên của Quang Dũng sẽ sống mãi trong cõi vĩnh hằng và trong thế giới nhân sinh
Đỗ Thị Tuyết Lớp 13, PTTH Lê Hoan 198
Trang 14ĐỀ 62
Võ đẹp độc đảo đẳng thời căng là đạc sắc buo trùm bài thơ Tây Tiến của Quang |
Đăng là cảm hung lang man va tinh than bi trang
— Hãy giải thích uì sao có điểu đỏ va phan tich bai thơ để làm sảng tỏ
DAN BAI CHI TIET
1 Mở bài
€ó những bài thơ đã sống cuộc đời đấy thăng trầm và cùng khá truân chuyên
nhưng cuối cùng vẫn định hình trong lòng độc giá và khẳng định giá trị đích thực của minh trong the ca 7Táy Tiển của Quang Dũng là một tác phẩm như thế Bải thơ được nhớ lại như một kí niệm đẹp của kháng chiến bởi đó là một tiếng thơ tràn đấy cảm hứng
lang man va tinh than bi trắng của một thời anh hùng rực lửa không thể nào quên
Il Thân bài
Cảm hứng lãng mạn và tỉnh thần bi tráng là đặc sắc bao trùm bài thơ, làm nên
về đẹp riêng của Tây Tiến, Những điểu đó đo đâu mà có và nó đã được thể hiện trong bài thơ như thế nào?
A Lí giải oễ cảm hứng lãng mạn oà tình thần bì tráng của Tây Tiến
1 Ở đây có sự gặp gỡ cùng một lúc giữa hỏn thơ thi nhân ~ nhân uật trữ tình trong
tác phẩm - cái thời anh hùng rực lửa hồi đầu kháng chiến chống Pháp - cải chiến trường Tây Tiến dửữ dội uà ác liệt nhưng lại rất thơ mộng, trữ tình - cả 4 yếu tổ (chủ quan và khách quan) này dường như đã hội tụ mãnh liệt va da diét trong "nỗi nhớ” của
Quang Dũng để trào ra cảm hứng lãng mạn và bật lên tỉnh thần bí tráng trong cái phút
"xuát thần" sinh ra "đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện" Tây Tiến
% Quang Dũng là một hồn thơ hào hoa và lãng mạn Lính Tây Tiến cũng là những con người như thế, phần lớn là người Hà Nội, mang đậm chất hào hoa, lãng mạn của những chàng trai kinh thành Khung cảnh chiến trường Tây Tiến tuy đữ dội, ác liệt nhưng lại rất thơ mộng, trữ tình Cuộc Ty Tiển đánh giậc của họ lại càng đep theo phong vị lãng mạn của những tráng sĩ "vung gươm ra sa trường" thời ấy Hồn thơ lãng man Quang Ding da gap một "mảnh đất thơ" lãng mạn, được một "bầu trời thơ” lãng mạn bao quanh - làm sao có thể không trào ra cảm hứng lãng mạn bay bổng trong bài
thơ này?
8 Còn tính thần bí tráng thì do đâu mà có? Chiến trường Tây Tiển ác liệt, hoang
vu, nhiều thú đữ, bệnh sốt rét rừng gây nhiều tử vong, nhiều chiến si đã ngã xuống trên đường hành quân Đó là cái bí, là hiện thực khốc liệt của cuộc chiến Quang Dũng
không lần tránh cái bi, nhưng đem đến cho cái bỉ màu sắc và âm hưởng tráng lệ, hào
hùng để thành chất b¡ tráng Đó là nhờ cái “tráng” rất khỏe của thi sĩ đã át được, thắng được cái "bỉ" Cái "tráng" này là của Quang Dũng và cả một lớp trai trẻ như ong thoi ay, mang trong lòng một bầu máu nóng" thể quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, "một ra đi là không trở vẻ" như hình mẫu những tráng sĩ anh hùng trong truyện cổ mà họ từng õm ấp; lại được luồng gió yêu nước của cái thời anh hùng rực lửa lúc bấy giờ thổi vào, nên lại càng hào hùng, rực rở Đúng là "bài thơ này đ&được khí phách của cả một thời đại
ủa vào, chấp cánh"' để cho cái chất bi tráng ấy bay lên như một nét đẹp hiếm có của
Trang 154 Như vậy, cảm hứng lãng man và tỉnh thần bì tráng luôn gắn hó với nhau, nâng
đỡ nhau, cộng hưởng với nhau để làm nên linh hôn, sắc điện của bài thơ và tạo ra vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm
B Cảm hứng lãng mạn uà tỉnh thần bì tráng được thể hiện qua bài thơ như thế nào?
1, Cảm hứng lãng mạn thể hiện cái tôi đầy tình cảm cảm xúc và phát huy cao độ trí tưởng tượng Cái tôi của Quang Dũng trong Táy Tiến là một cái tôi như thế Nó trào ra ngay dau bai the, day ap và mãnh liệt trong một nỗi "nhớ chơi vơi" rất lạ, “hình như nhẹ tênh tênh mà nặng võ cùng'?), để rồi sau đó cứ tuôn chảy ào ạt như một dòng suối trong suốt bài thơ Cái tôi ấy có mặt khắp mọi nơi, lắng đọng từng chỗ, từ cánh chiến
trường hiểm trở, hoang sơ đến cảnh sông nước thanh bình, thơ mộng, đến một hội đuốc
hoa đẩy sắc màu của xứ lạ phương xa; từ nỗi nhớ một bản làng Mai Châu "cơm lên khói" đến một “đêm mơ Hà Nội đáng kiểu thơm" thật hào hoa lãng mạn Nhà thơ đã tô đậm cái phi thường, gây ấn tượng mạnh vẻ cái hùng vi, đữ đội và cái thơ mộng, tuyệt mĩ băng cách sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập (chẳng hạn, trong hai câu thơ: Ngắn thước lên cao, ngàn thước xuống ! Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi; 0.0 ) Trí tưởng tượng bay bổng khiến thì nhân hình dung ra một "đêm hơi", cảm được cái oai linh của Thần Núi, thấy được "hổn lau nẻo bến bờ" và nghe được cả tiếng "sông Mã gảm lên khúc độc hành"
38 Tỉnh thần bì tráng thể hiện ở chỗ không lấn tránh cái bi, thường để cập đến cái chết, nhưng đó không phải là cái chết bi lụy mà là cái chết hào hùng, lắm liệt cia người chiến sĩ đi vào cõi bất tử Bài thơ ba lần nói đến cái chết, cái chết nào cũng đẹp, nhưng đẹp nhất là cái chết sang trọng này:
Áo bào thay chiểu anh uẻ đất Sông Mã gằm lên khúc độc hành
Sang trọng vì được bọc trong những tấm chiến bào, được về tựu nghìa cùng với Đất Mẹ, và nhất là được thiên nhiên tấu lên khúc nhạc dữ dội và oai hùng để đưa tiễn hương hồn người chiến sĩ Ở đây thủ pháp cường điệu đã đẩy chất bi tráng lên đến đỉnh cao diệu kì của nó
Chất bi tráng làm nên sắc điện bài thơ, có mặt trong cả tác phẩm, nhưng nổi rõ
và in dấu đậm nhất ở đoạn thứ ba khi Quang Dũng miêu tả chắn dung người lính Tây
“Tiển, đồng đội của ông, trong các cập hình ánh đối lập: giữa ngoại hình tiầu tụy với thần thai “di oai him", giữa "mắt trừng gửi mộng qua biên giới" với "đêm mơ Hà Nội dáng kiểu thơm", và nhất là giữa hình ánh của cái chết "rải rác biên cương mồ viễn xứ"
với lí tưởng đánh giặc thanh thản đến lạ lùng của người chiến sĩ "chiến trường đi chẳng
tiếc đời xanh”! Một tư thế ra đi như thế thì cải chết cồn có nghĩa lí gì đối với họ?
Ill Kết bài
Cảm hứng lãng man và tinh thần bi tráng đã làm nên vẻ đẹp riêng và giá trị bên vững của bài thơ Táy Tiển Đó là vẻ đẹp của một thời hào hùng rực lửa một đi không trở lại, nhưng tiếng thơ bí tráng của hồn thơ lãng mạn hào hoa Quang Dũng đã kịp ghỉ lại
và giữ lại cho đời một khung cảnh chiến trường đã đi vào lịch sử và một “tượng đài bất
tử về người lính vô danh"?!
'' Chữ dùng của Lương Duy Cán
'#' Chữ dùng của Phong Lan
200
Trang 16DE 63
Nét sting tao độc đáo thể hiện bản tĩnh của Chính Hữu trong bài thơ Đồng chí là
ở mấy câu thơ cuổi củng:
Đầm nay rừng hoang sương muổi
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Dau sing trang treo
Phan tich ba céu tha trén (dée biét di sau vao hinh ảnh “Đầu súng trăng treo”) để
nêu rõ uẻ đẹp uừa luện thuc vita lang man của người lính
YÊU CẦU Phân tích bạ câu thơ làm rõ uẻ đẹp uừa hiện thực uừa lãng mạn của người lính
~ Vẻ đẹp hiện thực: sự gian khổ của người lính trong những giờ phút cảng thẳng chờ giác tới trong đêm giá lạnh của rừng hoang sương muổi,
~ Vẻ đẹp lãng mạn đẩy chất thơ trong hình ảnh "đầu súng trăng treo” Đây là hình ảnh tha đa nghĩa, hàm súc uới ngôn ngữ thơ chất lọc — một sáng tạo nghệ thuật eda Chính Hữu để nắng hình tượng người lính lên độ tỏa sảng rực rỡ
BÀI LÀM Hình tượng văn học nghệ thuật là một hiện tượng thẩm mí đa nghĩa độc đáo Vì vậy, nó không chỉ phản ánh hiện thực cuộc sống, mà hơn nữa, vẻ đẹp lãng mạn cũng
chiếm một vị trí quan trọng ở lĩnh vực nghệ thuật này Ra đời năm 1948, giữa lúc cuộc
kháng chiến chống Pháp của dân tộc đang bước sang giai đoạn khó khăn, gian khổ nhất,
*Đồng chỉ" (Chỉnh Hữu) nhanh chóng gây được ấn tượng thẩm mĩ đối với người đọc Chúng ta hãy một lấn nữa đọc lại khổ thơ cuối để hiểu rõ cội nguồn vẻ đẹp vừa hiện thực vừa lãng mạn của người linh và sự hấp dẫn của thi phẩm:
Đêm nay rừng houng sương muối Đừng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo
Đặt ba câu thơ trên trong hệ thống toàn bài, ta mới thấy hết cái hay cái đẹp của
nó, bới người chiến sĩ chi lam thi sĩ khi tâm hồn có sự hòa quyện, đan xen giữa vẻ đẹp hiện thực và vẻ đẹp lãng mạn Đọc ba câu thơ, độc gid khong thấy sự hiện diện trực tiếp của người lính Nhưng tư thể đừng chờ giặc tới giữa không gian thiên nhiên “rừng hoang sương muới” và lí tướng cao dep “ddu sting trang treo" cũng làm cho hình tượng các anh càng đẹp và thiêng liêng hơn Nét sáng tạo độc đáo thể hiện bản lĩnh nghệ thuật cúa Chính Hữu là chỗ đó
Toàp bộ bài thơ, Chính Hữu tập trung ca ngợi tình đồng chí, đồng đội, lý tướng cao đẹp của người lính cụ Hồ Tuy nhiên, ở mỗi khổ thơ, vẻ đẹp chiến sĩ hiện lên không giống nhau Từ hoàn cảnh xuất thân khác nhau, gặp gữ, trải qua cuộc sống chiến đấu gian khổ đến cùng chung một lí tướng, họ đã cảm thông, gắn bố với nhau như những người tri kỷ Nếu ở các khổ thơ đầu, vẻ đẹp đã quyện hòa cuộc sống hiện thực thì đến ba câu thơ cuối, người chiến sĩ và lí tưởng đã chấp cánh cho nhau tạo nén vé đẹp vừa hiện
thực vừa lãng mạn:
201
Trang 17Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bền nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo
Con người và cảnh vật đường như đang quấn quýt, củng sẻ chia những gian khổ trong chiến đấu Đến đáy, cuộc sống của người lính không phải gặp khó khăn riêng:
Ao anh rach vai
Quan t6i cd vai manh va Miệng cười buốt giá
Chân không giày
mà nó đã trở thành sự khắc nghiệt chung cả dân tộc "Rừng hoang sương muối” không chỉ là một hiện thực, hơn nữa, đó còn là điểu kiện thiên nhiên thứ thách người lính Nó
gợi cho độc giả nhớ đến hình ảnh đoàn quân Tây Tiến đi trong sương giữa núi rừng phía
Tây của Tổ quốc: "Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi" Trước hiện thực đẩy khó khăn
ấy, người đồng chí, đồng đội của Chính Hữu vẫn vững vàng cây súng trong tay chờ giặc tới: "Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới” như một hành động sẵn sàng chiến đấu vì lí tưởng cao đẹp, vì độc lập tự đo, hạnh phúc cho đần tộc Với cây súng, các anh trở thành hồn linh của đất nước, của không gian và thời gian Người lính Cụ Hỏ đã nhận chìm mọi khó khăn gian khổ quên đi cảnh “rừng hoang sương muối” trước mặt để đoàn kết, cùng sẵn sàng "đem thân xơ xác giữ sơn hà” Hình dáng các anh giữa thiên nhiên núi rừng trong tư thế đứng bình tĩnh, tự tin, chủ động là hình ảnh của những chiến sĩ ra đi Lữ "áo
vải chân không" Người lính không cô đơn, lạnh lẽo vì bên anh đã có đồng đội và cây
súng, là những người bạn tin cậy nhất, tình đồng chí đã sưởi ấm lòng anh Người chiến
sĩ toàn tâm toàn ý hướng theo mũi súng Lúc ấy, các anh bắt gặp một hiện tượng kì lạ;
hàm cả cái tình, cái ý và đặc biệt là sự cám nhận tỉnh tế của Chính Hữu Nhờ sự liên
tưởng thông minh tài tình, tâm hồn giàu cảm xúc, Chính Hữu đã gợi lên một không gian bát ngát giữa vũ trụ bao la, nó có cái gì đó rất bỏng bênh, huyển bí, khó tả Nhưng không phải là sự mơ hồ ảo não như "Trăng huyết dụ xuống bên đài kỉ niệm" (Đỉnh Hùng
~ Mê hồn ca) Hình ảnh đó gây được ấn tượng thẩm mi sâu sắc đối với người đọc, ding thời, nó trở thành hình tượng đa nghĩa độc đáo của thi ca "Đầu súng trăng treo" được xây dựng bằng bút pháp hiện thực, nhưng không gian "Đầu súng trăng treo” là không gian làng mạn, siêu thực, đẩy chất thơ Tại sao vậy? Chúng ta thực sự đánh giá cao không gian nghệ thuật hiện thực của "nước mặn đồng chua”, "dat cày lên sói đá” và đặc biệt là không gian "rừng hoang sương muổi”; nó đã góp phản tô đẹp thêm hình tượng vắng trăng, cây súng Hai hình ảnh này đối lập nhau Vắng trăng muôn thuở vẫn gây sự hấp dẫn và sức gợi kì lạ đối với thi ca Nhưng ở đây, trảng lại được đật trong mỗi quan
hệ với súng Nó biểu tượng cho cuộc sống tươi đẹp, hòa bình, hạnh phúc của nhân loại, 202
Trang 18
đồng thời, đó cũng là ước mơ muốn vươn tới của con người Ngược lại súng xuất hiên
biểu tượng cho chiến tranh và cái chết, nhưng súng cũng trở thành lí tưởng cao đẹp, tỉnh
thần chiến đấu vì cuộc sống hòa bình dân tộc của ngưỡi chiến sỉ Trăng là vẻ dep lang mạn súng là hiện thực Tuy đổi láp, nhưng hai hình tượng nay đã ton thêm vé đẹp cho nhau, tạo nên vẻ đẹp hoàn mi nhất: VẺ ĐẸP NGƯỜI LÌNH Không phải ngẫu nhiên khi
Chinh Hữu đưa hai hình ảnh ngược nhau trong một câu thơ Qua đó, ông muốn khẳng
định cái khát vọng về một cuộc sống yên lành đầy chất thơ: để cho vắng trăng kia sáng
mãi, trong hoàn canh đất nước lúc bấy giờ, mọi người phải cầm súng chiến đấu Có thể
nói, hình ảnh "Đầu súng trăng treo" là một phát hiện mới lạ, độc đáo của Chính Hữu,
tài hoa như Quang Dũng, cũng chỉ cảm nhận được "súng ngứi trời" bằng bút pháp lãng mạn Chính Hữu đã sử dụng bút pháp hiện thực để tạo nên hình ảnh thơ vừa hiện thực
vừa lãng man Bao trùm lên "Đầu súng trăng treo” là một không gian tưởng tượng lãng mạn, tuy nhiên, nó được bắt nguồn từ cuộc sống hiện thực được chất lọc dưới ngòi bút đa
tài của Chính Hữu Trước mũi súng của mình, người lính thấy trăng lặn xuống thấp đần giữa đêm khuya yên tình Chính Hữu đã trưởng thành và gắn bó với hình tượng độc đáo
“đầu súng trăng treo” Chính Hữu không dựng lên một tượng đài bi tráng về người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp và ông đã tạo nên một cặp "đồng chí” giữa súng
và trăng Nhằm khẳng định thêm vẻ đẹp giữa tình "đồng chí” con người với con người,
vé đẹp của những tâm hỗn người lính
Tuy trước mắt, người lính vẫn gặp phải những gian khổ khác nghiệt, nhưng lòng kiên trì sẽ giúp các anh chiến thắng Hình tượng tráng - súng biểu tượng cho tính thần đũng cảm, hảo hoa muôn thuở của đân tộc nói chung và người lính nói riêng Trăng và súng kết thành một không gian thơ trữ tình vừa hiện thực vừa lãng mạn Vì là đó, nó
chiểm một vị trí đặc biệt trong thi ca thời kì kháng chiến chống Pháp."
Nguyễn Thị Thu Hà PTTH Hàm Rồng
DE 64
Để dụng lên hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến uà Đồng chí, Quang
Dũng nà Chính Hữu đã có những cảm hùng uà bút pháp nghệ thuật không giống nhau,
nhưng cá hai đều thành công Hãy lí giải øì sao như uậy uà phân tích, chứng minh: qua hat bai tho
YÊU CẦU
1 Bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng: Cảm húng lãng mạn va but pháp
lang man (t6 dam cái đặc biệt, cái phì thường, cái đẹp của xứ lạ phương xa ) rất phủ hợp uới người lính tiểu tư sản học sinh Hà Nội biêu hing hao hoa ð chiến trường Tây Tiến ác liệt
9 Bài thơ "Đồng chí" của Chính Hữu: Cảm hứng hiện thực uà búi pháp hiện thực (tô đậm cúi bình thường, cái thường thấy, cái có thật ) rất phù hợp uới người lính nông đân mộc mạc, giản dị, gần bó tự nhiên trong tình đồng chi, đồng đội thiêng liêng
Trang 19khí thế của đân tộc ta trong cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Mi vi đại Và xây lên những bản tình ca không thể nào quên ấy là những người lính ~ con người đẹp nhất của
thời đại, người con trung hiếu cúa nhân dan Cho nên đừng ngạc nhiên vi sao van học giai đoạn 194 - 1975 lại có nhiều tác phẩm viết về người linh đến vậy Nhưng có lẽ để
lai An tượng sâu nhất trong lòng người đọc là hình tượng người linh trong kháng chiến chống Phap 6 hai bai tho “Tay Tién* cua Quang Dang va “Déng chi” cua Chinh Hou, Béi l@ hai nhà thơ đó đều khắc họa thành công những con người cao đẹp ấy Song mỗi người lại có những cảm hứng của riêng mình, bút pháp của riêng mình, khác hẳn nhau,
€ó một nhà văn nào đó đã nói rất đúng: "Nghệ thuật là tôi — Khoa học là chung t4” Đó là lí do rất xác đáng để lí giải sự khác nhau giữa hai bài thơ này Nếu như
Quang Dũng bắt gặp vẻ đẹp người lính ở điểm này thì Chính Hữu lại thấy vẻ đẹp anh
bộ đội ở điểm khác Thơ ca là những rung động của nghệ sĩ, là con đẻ của trạng thái tỉnh thần Nó chỉ trảo ra khi cảm xúc đã ngập tràn trong tim Chúng ta, ai mà không biết, cảm xúc và rung động trong thế giới con người không bao giờ giống nhau cả Nó ở những vương quốc riêng đầy bí ẩn Ngay cả ở một con người, có thể trong một phút rung động thơ ca cứ tự nhiên trào ra, nhưng khi để nó trôi qua rồi thì không thể lặp lại những rung động ấy Nói như nhà thơ Xuân Diệu thì "sáng tác thơ là một việc do cá nhân thi sĩ làm" không thể có "chúng ta" trong nghệ thuật
Với Quang Dũng, ông bất gặp vẻ đẹp tài hoa nhưng cũng rất đổi phi thường ữ người lính Tây Tiến Cũng chẳng có gì là lạ cả bởi phần đông đoàn quân Tây Tiến là những học sinh Hà Nội vừa "xếp bút nghiên lên đường chỉnh chiến" Họ mang trong mình lí tưởng của Đảng, chút mộng mơ của thời cắp sách, sức mạnh của tuổi trẻ và chất con người Hà Nội vốn (ừ lâu đã nổi tiếng là thanh lịch, tài hoa Chính tác giả cũng là người lính Tây Tiển Nét tải hoa ông đã thẩm sâu vào máu thịt và đã theo ông đi vào thơ ca Có lẽ vì thế “Táy Tiến" tràn ngập một cảm hứng lãng mạn, một ngòi bút lãng mạn Và thực sự chi với bút pháp này mới làm nổi bật, làm thăng hoa vẻ đẹp can trường đũng cảm nhưng cũng rất đỗi hào hoa phong nhã của đoàn quán Tay Tién ay
Chính Hữu thì lại khác, öng xúc động trước tình đồng chí, đồng đội cao cả thiêng liêng của những người lính nông dân Họ vốn xuất thân từ giếng nước, gốc đa, sân đình sau lũy tre làng và mang trong mình chất hiển lành như hạt lúa, củ khoai của xóm làng Nhà thơ cũng là người lính nông dân Gái chân chất, tình nghĩa ấy đã tạo ra bút pháp hiện thực trong tác phẩm “Đẳng chí” Nhưng đó chính là điều làm nên thành 'công cho tác phẩm Nếu ở đây Chính Hữu dùng bút pháp lãng mạn hay một bút pháp nào khác thì tinh déng đội kia không thể chắn thành cảm động mà ngược lại rất sáo rỗng với bút pháp hiện thực tình đổng chí mới thực chân chất, hiển lành, mộc mạc và cao
Cả hai nhà thơ đều đáp ứng được yêu cấu của -nghệ thuật Và mỗi người đã có những phong cách nổi bật của riêng mình Ho viết về người lính đâu chỉ bằng trái tim mẫn cảm của nghệ sĩ, bằng tài năng của mỗi người mà còn có cả tấm lòng mến thương, kính yêu và biết ơn đồng đội mình, Tất cả những điểu đó đã làm bất tử tác phẩm "Tay
Tiến" của Quang Dũng và “Đồng chí" của Chính Hữu
Ở bài thơ "Táy Tiến", tác giả luôn lôi cuổn người đọc theo những đợt sóng trào của tưởng tượng và cám xúc, đồng thai bai tho mang ám điệu của thể hành và rất gợi không khí Thục đạo nan Những câu thơ của "Táy Tiển” giàu chất tạo hình, tạo nhạc thật khác thường Qua ngòi bút lãng mạn, người lính hiện lên rất đổi can trường nhưng
cũng rất mực tài hoa
Trong đoạn đấu nhiều người cho rằng: Quang Dũng chỉ đặc tả thiên nhiên Tây 204
Trang 20Bắc Nêu chỉ hiểu như vậy thì chưa sâu, mà phải hiểu thiên nhiên và con người hòa
quyên với nhau Nói thiên nhiên thì tức là ám chỉ con người và ngược lại Ở đây khung
cảnh chiến trường Tây Bắc hiện lên võ cùng áe liệt và dữ đội không chỉ ớ độ cao, độ sâu,
ở đương khúc khủy gập ghếnh "Đốc lên khúc khuỷu, đốc thám thẩm” mà thú đữ luôn trêu gan người chiến sĩ, "Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” Nhưng trên tất cả, người lính vấn làm chủ thiên nhiên vượt qua khó khân để đến tận cùng của độ cao “Heo
hút cần mây súng ngửi trời", Hình ảnh các anh bé nhỏ nhưng thật hùng vi, sánh ngang
trời đất Những bước đi trong mây của các anh đẹp và kì vĩ chắng khác nào Thánh
Gióng ở huyền thoại mẹ kể ngày xưa Ngồi bút của Quang Dũng thật khéo léo tài tinh: nói cái gian khó để để cao chiến thắng, nói cải "bi" nhung 1a dé edi “trang” đẹp hơn lên
tựa như lối “ve may, nay trăng" vậy:
“Tây Tiên đoàn bình không mọc tóc
Quan xanh máu lá đữ oai hàm”
Diện mạo người lính thật khác thường: rụng tóc vì sốt rét rừng, đói ăn thiếu thốn nên da xanh màu lá Thế nhưng nó không nhụt đi ý chí của người chiến sĩ mà ngược lại cảng làm họ chiến đấu dũng cảm hơn, kiên cường bất khuất hơn "Không mọc tóc",
"quân xanh màu lá” nhưng "đữ oai ham", Ý thơ có sự tương phản giữa hình thức xanh
xao tiểu tụy về bệnh tật với sức mạnh tỉnh thần và nội tâm vững vàng của người lính Câu thơ sau nâng đỡ câu thơ trước cùng vút bay lên để tôn thêm ánh hào quang của phẩm chất người lĩnh Tây Tiến
Họ sống đã phi thường, chết lại càng phi thường hơn:
“Áo bảo thay chiếu anh vé dat
Sông Mã gâm lên Ehiúc độc bănh"
Ở đây Quang Dũng đã bất tử hóa cái chết của người linh Anh "vẻ đất' là hóa thân vào non sông đất nước để tiếp thêm truyền thống cha ông "Đêm đêm rÌ rằm trong tiếng đát" Càn người lính anh khoác trên mình tấm áo bào sang trọng cổ kính thay vì manh chiếu rách và từ từ ngã vào vòng tay đất Mẹ như một đứa con thân yêu vừa làm tròn nghĩa vụ trở về, Nhà thơ đã mang đến cho đổng đội mình cái chết lầm liệt và tỏa ánh hào quang Những câu thơ nói đến mất mát hy sinh nhưng lại không hẻ bị thảm, ngược lại nó nâng hình ảnh người lính lên một tầm cao hơn của thời đại Anh ra đi, quê hương öm anh vào lòng, sông núi tấu lên "khúc độc hành" đưa anh về với đất Mẹ Thử hỏi còn cái chết nào đẹp hơn thể nữa?
Nhưng người lính Tây Tiến đâu chí có sự can trường và lòng dũng cám Mang đậm chất con người Hà Nội nên họ có một tâm hồn lãng mạn, tài hoa Sống giữa thiên nhiên dữ đội khắc nghiệt, người lính vẫn nhận ra nét hoang sơ, hùng vĩ mà rất đỗi thơ mộng ấm áp của núi rừng Tây Bắc Trên những nẻo đường hành quân vất vả, các anh phóng tầm mat nhìn xuống những thung lũng phủ kín trong mưa để ngắm nghía những ngôi nhà thấp thoáng ẩn hiện sau làn mưa mỏng "Nhà aỉ Pha Luéng mưa xa khơi" Rồi
cả những sợi khói cơm chiều những "cơm nếp xôi” của bàn tay em gái Mai Châu làm ấm lòng người chiến sĩ và để lại trong họ nhiều kỉ niệm khó quên
Đặc biệt các anh còn tổ chức những đêm hội rực rỡ đuốc hoa, thắm thiết tình
quân dân như chẳng hẻ có chiến tranh nơi đây vậy Bằng những nét vẽ mềm mại tỉnh
tế của ngòi bút lãng mạn, Quang Dũng đã nâng tâm hồn người lính bay bống trong khung cảnh Tây Bắc thơ mộng duyên đáng và tình tứ:
Trang 21"Doanh trại bừng lên héi duéc hoa
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Những người lính say sưa trong tiếng nhạc tiếng kèn mang âm điệu thiết tha Các
chàng trai Hà Thành ngỡ ngàng sung sướng trước đáng hồng sơn cước “Kia em xiém áo
tự bao giờ" Mặc dù biết rằng sẽ tiếp tục chịu đựng những gian truãn, hi sinh mất mát,
người lính Tây Tiến vẫn múa hát lạc quan Có thể hôm sau một người nào đó nằm lại nơi núi rừng Tây Bắc này, nhưng hôm nay họ vẫn say đời say cảnh mơ đến những hình
ảnh đẹp của thơ và nhạc "Nhạc uễ Viêng Chăn xây hẳn thơ" Ngay cả, những hình ảnh
bình thường như đáng người trên độc mộc hay hoa đong đưa cũng gây ấn tượng đối với người lính Tây Tiến Tâm hồn các anh lãng mạn trẻ trung và tươi mát biết bao!
Quyết tâm đánh giặc, gian khổ đói rét không làm khó héo chất lãng mạn vốn có trong từng chiến sĩ, giữa lúc chiến đấu 1o vẫn dành riêng cho mình góc tâm hỏn hướng
về quê hương và những người thân yêu
"Mất trừng gòi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dang kiéu thom”
*Mắt trừng" quắc lên vẻ đữ tợn với một khí thế quyết tâm đánh giặc Dữ đội như vậy mà không vơi lãng mạn, người linh vẫn nhớ về đáng thướt tha và mùi thơm của tóc
người bạn gái thân thương Ở các anh có con người chiến sĩ và con người nghệ sĩ cùng
tồn tại Nhưng nó không hẻ tách biệt mà luôn hài hòa quấn quýt với nhau để tạo ra nét tài hoa và vẻ kiêu hùng của đoàn quân Tây Tiến
'Tác phẩm chỉnh phục ta bởi một tám hỗn biết lăn vào thời đại, sống hết mình cùng thời đại, nhưng cũng biết luôn làm đẹp cuộc đời bằng những cảm xúc lãng mạn lớn lao
Ở bài thơ "Đồng chí" có một vẻ đẹp khác: ấy là sự chân thật giản đị và chất lọc Những câu thơ hầu như đều để mộc, không trang điểm, không gọt rũa ngôn từ Hình ảnh thơ bình dị, như được đưa thẳng từ đời thực vào thơ, không hể có dù chỉ một dấu vết của ước lệ hay điển cố Và qua ngòi bút này, Chính Hữu đã khắc họa thành công cái chất hiển lành, tình nghĩa mộc mạc mà dung đị cũng như tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng cao cả của những người nông đãn áo vải Họ là những người từ những vùng quê lam lũ đói nghèo, quanh năm chỉ biết đến con trâu mánh ruộng, theo tiếng gọi cứu nước, các anh giả từ quê hương lên đường chiến đấu:
"Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá"
Không mang vẻ kiêu hùng “một ra đi là không trở lại” giống như người lính Tây nhưng tấm lòng của họ đối với đất nước thật cảm động: khi giặc đến các anh đã
gửi lại người bạn thân mảnh ruộng chưa cày, mặc kệ những gian nhà bị gió cuốn lung
lay để ra đi kháng chiến Giản đị vậy thôi, nhưng nếu không có một tình yêu đất nước sâu nặng không thể có một thái độ ra đi như vậy:
“Ruộng nương anh giti ban than cay
Gian nhà không mặc bệ gió tung lay"
Ở nơi kháng chiến, người lính nông dân áo vải cùng có chung quê hương vất vả đói nghèo, chung tình giai cấp, chung lí tưởng và mục đích chiến đấu Cái chung ấy như 206
Trang 22một thứ keo sơn bến vững nối cuộc đời những người lính với nhau để làm nên hai tiếng
“đồng chỉ” xúc động và thiêng liêng Cũng tại nơi đây, các anh luôn bản lòng lo lắng về mảnh ruộng chưa cây, về cân nhà bị gió cuốn lung lay Nổi nhớ của các anh lâ thế: cụ
thể nhưng cảm động biết bao, Người lính luôn hiểu rằng nơi quê nhà người mẹ gia,
người vợ trẻ cùng đàn con tho dang trong ngéng anh trở về
"Giéng nước gốc đa nhớ người ra lim,"
Sống tình nghĩa, nhân hậu, hay lo toan là phẩm chất cao đẹp của người lính Với
họ vượt qua gian khổ thiểu thốn của cuộc sống là điều giản dị bình thường không có gì phi thường cả
“Anh nới tôi biết từng cơn ớn lạnh
Thuong nhau tay nắm lấy bản tay”
Chính Hữu đã khắc họa hiện thực khó khăn mà người lính gặp phải Nhưng đó
không phải là điều chủ yếu mà nhà thơ muổn nói đến Cái nói đến ở đây là vẻ đẹp tám hồn người lính mà nơi phát ra vừng ánh sáng lung linh chính là tình đồng đội, tình đồng chí Ôi ẩm áp biết mấy là cái xiết tay của đồng đội lúc gian khó Cái xiết tay đã truyền hơi ấm sức mạnh cho nhau Đặc biệt là "miệng cười buốt giá" động viên nhau lúc gian khó để xua đi cái lạnh lẽo giá rét của thời tiểu Những câu thơ hấu như rất giản dị nhưng lại có sức lay động sâu xa lòng người đọc chúng ta
Tuy nhiên từ trong sự bình thường, hình ảnh người lính của Chính Hữu vẫn ánh lên vẻ đẹp rực rỡ của lí tưởng, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, dũng cảm lạc quan:
“Đềm nay rừng houng sương muối
Đừng cạnh bên nhau chở giặc tới
Đầu súng trăng treo”
That là bức tranh đơn sơ thi vị về các anh trong một đêm chờ giặc tới giữa nơi rừng hoang sương muối Những người lính kế vai, sát cánh cùng hướng mũi súng vào kẻ thù Trong cái vắng lặng bát ngát của rừng khuya, trắng bất ngờ xuất hiện chơi vơi lơ lửng nơi đầu súng Những người lính nông đân hiện lên như những người nghệ sĩ đẩy chất thơ, bình đị nhưng vẫn đẹp lạ lùng
Ở đây, chân lí nghệ thuật "cái đẹp là sự giản di” đã được nhất quán trong tác phẩm "Đồng chí” Chinh Hữu đã thành công trong một hướng thơ mới: hướng đi vào khám phá ra cái lớn, cái đẹp đích thực của những gì gắn gũi thân quen mà ta cứ ngỡ không có gì là thơ hết cả
Với cảm hứng khác nhau, bút pháp khác nhau, Quang Dũng và Chính Hữu đã tạo vào thời gian những tượng đài người lính Cụ Hỏ Họ đều là những người con yêu nước của Tố quốc sắn sàng hiến dâng tuổi trẻ cho quê hương đất nước Nhưng mỗi bài thơ lại mang đến cho ta, những vẻ đẹp khác nhau về tâm hồn phong phú của người lính cũng
như bút pháp nghệ thuật của từng nhà thơ Và những vẻ đẹp khác nhau này không hé
tách biệt nhau mà bổ sung hỗ trợ cho nhau tạo nên vẻ đẹp chung của anh bộ đội Cụ Hỗ
và nét đẹp riêng của từng người lính, góp phần hoàn chỉnh một gương mặt đẹp trong thơ kháng chiến
Bùi Thị Thanh Hải 12A, PTTH Văn Giang
Trang 23DE 65
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài "Bên bìa sông Đuống" của Hoàng Cẩm:
"Bàn hia sông Duéng
Qué hương ta lúa nếp thơm nỗng
Bây giờ tan tác uễ đâu”
YÊU CẦU
Bình giảng làm nổi bật 2 ý: niềm tự hào 0ễ quê hương Kinh Bác giàu đẹp có
truyền thống ođn hóa lâu đời; oà nỗi xót đau cảm thủ khi quê hương bị giặc tàn pha (qua giọng thơ đẩy xúc cảm) Đó cũng là 2 biểu hiện sóng đôi, quấn quýt nhau trong cảm hứng uê quê hương đất nước của thì sĩ
BÀI LÀM
Trong sáng tác thơ, có một điều vừa tự nhiên vừa kỳ điệu, đường như mỗi nhà thơ
đều có một quê hương để mà ký thác, hoài niệm; đồng thời mỗi quê hương cũng như tìm đến và trao gới hồn vía của mình cho một vài thi nhân nào đó Thì nhân ấy mang bao suy tư, nỗi niềm đam si, chiêm nghiệm ký thác vào hình tượng quê hương, tôn vinh hình tượng quê hương, và quê hương yêu dấu gợi ý mách bảo, góp phần thăng hoa cảm xúc
thơ, làm nên gương mặt tỉnh thần của thi nhân qua những hình tượng thơ Đó là trường
hợp Tố Hữu, Hàn Mặc Tử với xứ Huế, Xuân Diệu, Nguyễn Đinh Thi với Hà Nội; và đặc
biệt là Hoàng Cảm với quê hương Kinh Bắc Thi sĩ Hoàng Cảm và thơ Hoàng Cảm thật
sự là thi sĩ của Kinh Bắc và thơ thuộc vẻ Kinh Bắc, vinh hạnh ấy Hoàng Cẩm đã đánh đổi bằng cả cuộc đời thơ của mình với tất cả niềm vui, nỗi buổn, với bao nếm trai mua nang, thang tram "nghệ sĩ thật sự ui dai trước hết phải là nghệ sĩ của một dân tộc, một
Đọc thơ Hoàng Cảm, "những uần thơ dễ làm ta chảy nước mất", thấy hiện lên cảnh vật và con người Kinh Bắc - một vùng đất trù phú, hữu tình với biết bao di tích lịch sử, đến đài, miếu mạo, biết bao hội hè gắn với những sinh hoạt văn hóa nổi tiếng:
Hội Dóng, Hội Lim, Hội Chùa Dâu, Đọng trong âm hưởng và nhịp điệu thơ ông là âm
hưởng trầm bổng của những làn điệu dân ca đất Kinh Bắc rất đổi quen thuộc với tâm hỗn Việt Nam Bài thơ “Bên kỉa sông Đuống" là một kết tính nghệ thuật tiêu biểu của tho Hoang Cam Cả bài thơ đắm trong cảm xúc đau xót, tiếc nuối, xót xa căm hận trước cảnh tượng quê hương Kinh Bắc vốn thanh bình, tươi đẹp bỗng chốc bị giặc tàn phá Mỗi khổ thơ đều được mở đầu bằng hình ảnh dòng sông Đuống - một sinh thể hữu hình tiềm
ẩn sức sống, văn hóa, tâm hồn Kinh Bắc, tạo cho bài thơ như một bản giao hưởng trầm hùng thấm đậm chất trữ tình qua từng điệp khúc tâm tình Đoạn thơ thứ hai trong bài thơ là một điệp khúc giàu sức gợi hình tượng và tạo được sự truyền cảm sâu xa:
"Ben hia song Đuổng
Quê hương tạ lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hỗ gà lợn nét tươi trong Mãu dân tộc súng bừng trên giấy điệp "
Bao nhiêu yêu dấu, ân tình đọng trong mấy tiếng “Quê hương ta" Đây quê hương Kính Bắc với những đặc sản đặc trưng của cuộc sống vật chất và tỉnh thần Hình ảnh
208
Trang 24thơ không tá mà biểu hiện, Đây là những dòng thơ được chất lọc tử dòng tâm thức cua nhà thơ, cùng là của chung những người con của Kinh Bắc mỗi khi nhớ vẻ quê hương,
chỉ bằng vải ba từ biểu eảm “thơm nóng”, "nét tươi trong", "sáng bừng" người đọc có
thé hinh dung được nét rạng rỡ trên gương mặt đấy tự hào của nhà thơ khi nghĩ về quê hương Cải hương vị thơm nồng, "đậm đà khó quên" của lúa nếp làng Văn còn gợi nên
cuộc sông của những người lao động trong cảnh ấm no hanh phúc và thanh bình Hương
vi ấy được chưng cất từ ruột đất me đo công lao chăm bẩm khó nhọc của người lao động,
huang vị ấy còn là thơm thảo của tấm tình người dân quê hương muốn đãng hiển cho cuộc đời Đến nhà thơ hương vị ấy lại được chưng cất thành thơ, đến với mọi người để cùng chia sẻ vị thơm nông với quê hương Kinh Bắc
Những bức "tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong” lại là một phương diện khác, độc đáo kết tỉnh vẻ đẹp tài hoa trong cuộc sống tỉnh thần người Kinh Bắc "Nét tươi trong” là màu sắc ưa mâu sáng, rạng rở, hốn nhiền, trong lành Những bức tranh làng Đông Há do những nghệ sĩ dân gian sáng tác bao gồm những để tài quen thuộc phản ánh tim tư khát vọng trong sảng lãng mạn và không kém phần đí đỏm của người lao
động: Đánh ghen, Hứng dừa, Xem vật, Đám cưới chuột, , không chỉ "tươi trong” bởi
được vẽ bằng mâu sấc chất lọc từ nguyên liệu thao mộc của quê hương, mà còn bởi tám hỗn bình dị sáng trong luôn mang khát vọng sống lạc quan của người lao động Nghệ sĩ dan gian da lam sống đậy được phẩm chất và tâm hồn dân tộc Nếu nói trong thơ có
“nhãn tự” thì những chữ "thơm néng”, "sáng bừng" trong những đồng thơ trên là một biểu hiện như vậy Nhà thơ đã dùng những hình thức biểu đạt giản dị và hàm súc nhất
để diễn tả vẻ đẹp đặc trưng, và thiêng liêng nhất về quê hương của mình Không có cuộc sống gắn bó máu thịt với quê hương, không tha thiết với vẻ đẹp tỉnh túy của truyền thống quê hương, không thể có được những mẫn cảm kì diệu như vậy Đọc những dòng thơ Hoàng Cấm viết về Kinh Bắc, chúng ta lại bỏi hải liên tướng đến quê hương cua
mình và cảm ơn nhà thơ Hoàng Cẩm đã nói đúng phẩn hồn linh nghiệm nhất của chúng ta mỗi khi trào đâng cảm xúc hoài niệm về quê hương
Bai qué hương xiết bao yêu dấu, tự hào sống trọn trong trái tìm nhà thơ, nên khí giặc tràn tới, cả quê hương ngập chìm trong khói lửa chiến tranh, nhà thơ đã diễn
tả nổi đau zót cảm hỡn xen lẳn tâm trạng tiếc nuối xót thương với những hình ảnh đầy ấn tượng:
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Gide héo lén ngtin ngut lita hung tan Ruộng ta khả
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Ludi dài lẽ sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẩm bở hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lia đôi ngà
Đảm cưới chuột đụng tưng bừng rộn ra
Bay giờ tan tác vé dau?
Nhịp thơ ở khổ trên, khi điển tả cuộc sống thanh bình, đều đặn dàn trải, ổn định
Trang 25Đến khổ thơ này câu tho, nhip thd déu xdo tron, dén dap nhu nhip dap cua con tim hoi hộp xúc động khi biết tin quê hương bị tàn phá Hình ảnh thư tạo nên sự tương phần đối
xứng, là dụng ý nghệ thuật của nhà thơ, phù hợp với qui luật cảm xúc Nếu ở khổ thơ trên hình ảnh "lúa nếp thơm nồng" gợi nhớ vẻ những cánh đồng quê mỗi mùa vu say
hat nang bong của cuộc sống thanh bình, thi ở khổ thơ này hình ảnh những cánh đẳng
quê khô cháy bởi "ngọn lửa hung tàn" của chiến tranh, khơi đậy lòng căm hận, xóL xa
sâu nặng Có nét đống điệu trong cảm xúc giữa hình ảnh "Ôi những cánh đồng quê cháy
máu, đây thép gai đắm nát trời chiểu" trong “Đất nước" của Nguyễn Dinh Thi với
“Ruộng ta khô, nhà ta cháy" của Hoàng Cẩm Cảm thức vé tinh yêu quê hương đất nước thường bắt đầu từ những hình ảnh chân thực đẩy gợi cảm ấy
Và đây nữa hình ánh những bức tranh Đông Hồ "gà lợn nét tươi trong” của cuộc
đ¿¡ thường nhật bình yên bỗng chết bị đảo lộn Hình tượng thơ nửa hự, nửa thực có sức
ấm ảnh lạ lùng Kẻ thù đã đến "kiệt cùng ngõ thẩm bờ hoang" những ngôi nhà bình yên
treo những bức tranh Đông Hồ quen thuộc bị xéo nát Tác giả đả hình tượng hóa thành
bức thông điệp nghệ thuật giàu giả trị gợi cảm "Mẹ con đan lựn âm dương chía lìa đôi
ngả ~ đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã, bay giờ tan tác về đâu?”
Câu thơ nhắc ta nhớ lại hình ảnh trong bài "Chạy 74y” của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu thuở nào:
“Bà nhà lũ trẻ lơ xơ chạy Mất 6 dan chim déo dae bay"
Mỗi cách diễn tả có hiệu quả biếu cảm riêng, gieo vào lòng người đọc nỗi đau xót trước cảnh trẻ thơ và tổ ấm hạnh phúc bồng "tan đàn xẻ nghé", Qùng một tư duy nghệ thuật (nói về chiến tranh, hình ánh thương tâm nhất vẫn là phụ nữ và trẻ thơ), nhưng thơ của Hoang Cầm sử dụng hình ánh ẩn dụ mang bản sắc riêng của Kinh Bắc Đây là một sáng tạo nghệ thuật thuộc về phong cách thơ Hoàng Cảm - "thực tại nơi Hoàng Cảm cơ hẻ thăng hoa tới những miễn lưu viễn của tâm linh" Nói kẻ thủ tân phá mà viết “ngùn ngụt lửa hung tàn", để rỗi đưa vào hình ảnh "mẹ con đàn lợn âm dương chia
ha đôi ngả ” quá là một tư duy nghệ thuật đậm chất nhân bản Nhà thơ Vù Cao trong
bài "Núi đối" khi điển tả nỗi đau trước cảnh quê hương bị tàn phá cùng đã có một hình
ảnh thật đáng nhớ:
"Bằng cuối mùa chiêm quân giặc đến Ngô chùa cháy đó những thân cau”, Thân cau nơi ngõ chùa bình yên cháy đỏ, thì tính chất nghiêm trọng của chiến tranh đã đến cực điểm Nếu làm một thống kê về những hình tượng độc đáo diễn tả nỗi đau trước cảnh quê hương bị xâm lược, chắc chắn sẽ có được những tư liệu bổ ích về quê hương trong chiến tranh,
Yêu thương va cam hờn là hai trạng thái cảm xúc thường đồng hành trong tam trạng con người trước nỗi đau nước mất nhà tan Vì vậy đổi lập với hình ảnh gợi tình
cảm yêu thương đầy nuối tiếc là những hình ảnh kẻ thù man rg:
“Chó ngộ một đàn Lưỡi dài lẽ sắc mau"
Trạng thái cảm xúc hờn căm quân xâm lược kết tỉnh cô đọng trong hai cầu thơ có sức điễn tả mạnh Lưỡi lê vấy máu của kẻ thù được miêu tả trong liên tưởng "lười đài lê 210
Trang 26máu” cua đản chó ngộ, giúp ta hình dung khá tường tân bộ mặt hung hân vũ (độ của
lũ giặc ngoại bang mất hết nhân tỉnh Trong bài thơ “Bên hía sống Đuống" có hai lần
tác giá nhắc đến kẻ thù, cá hai lần đều diễn tả bằng những câu thơ đấy ấn Lượng Một
ta bộ mặt hung hãn bằng sắc diện chung, lan sau miêu tả sự hung hãn qua
hành dong cướp bóc:
lần miệt
“Chợt lũ quí mắt xanh trừng trợn Khua giấy định dap gay quan gay teo
Xi xô cướp bóc Tan phiên chợ nghèo"
'Tác gia đã chớp được hình ảnh đặc trưng của lũ giặc Tây ˆxì xổ” cướp bóc lâm tan
phiên chự nghèo dân đã Văn thơ truyền thống, khi nói đến kẻ thù xâm lược thường sử dụng lối so sánh mang tính ấn dụ Kẻ thù được vật hóa với tất cả những hành động thú tính như loài dê chó đẽ hèn Nhà thư Hoàng Cám đã gúp thêm những hình tượng độc đáo vừa vẽ lại được những hình ảnh kẻ thù, vừa để hả mối cam hận đang ngùn ngụt trong long
Rết thúc đoạn thơ là một câu hỏi tu từ: "Bây giờ tan tác về đâu?" Nhịp thơ trở lại
ổn định diễn tả tâm trạng Ìo lắng, xót xa đến nghẹn ngào Trong bài thơ, những câu kết đoạn đều là một câu hỏi tu từ, chứa chất nỗi niểm của đứa con xa quê đang hình dung về qué hương bị dây xéo: “Sao xót xa như rụng bàn tay?"; "Bây giờ tan tác vẻ đâu?"; "Bay giờ di đầu vẻ đâu?" Đó là những nốt nhấn trầm tạo điệp khúc dư ba cho bán nhạc tâm tình của nhà thơ
Được biết bài thơ ra đời trong một đêm giữa tháng tư năm 1948 khi tác giả nghe tin giặc tàn phá quê hương Kinh Bắc của mình phía bên kia sông Đuổng Ông “cực kì xao xuyên, tâm tư chồng chất những nhớ thương, tiếc nuối, xót xa với cảnh với người nơi quê bị tàn phá, giết hại cùng với một niềm căm hận sâu lắng" (Dẫn theo “Dé hoc tét van 12") Hoàn cảnh đã thổi bùng cảm xúc về tình yêu tha thiết, mẽ say đối với quê hương chất chứa Liếm ẩn trong lòng nhà thơ, và đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo khơi đây những sáng tạo nghệ thuật đậm đà màu sắc dân tộc Haàng Cẩm đã dành cho qué hương những tinh cam mãnh liệt nhất, thiết tha và trong sáng nhất Chính vì vậy bài thơ tạo được sự đẳng cảm sâu sắc và có sức truyền cảm lay động tâm hồn con người, trở thành biểu tượng đẹp đề của tình yêu quê hương đất nước
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
19 Văn, Lê Hồng Phong
ĐỀ 66
Phân tích cản: hững uễ quê hương đất nước qua bài thơ Bên kia séng Duéng cua Hoang Cam
YEU CAU
Đẻ bài không yêu cầu phân tích toàn bộ bài thơ Bên kia sông Đuống mà chủ
yếu qua nâng lực tiếp nhận của học sinh uễ bài thơ này, tìm hiểu những eảm hứng của
thị sĩ uễ quê lương, đất nước, Uễ con người: tính yêu thương, nỗi nhữ nhụng, sự xót xa, lòng căm giận, niềm tin tưởng
211
Trang 27BAIL LAM
Đất nước - với những hàng tre xanh, những cánh đồng lúa, những con đường, nơi
ma chung ta đã sinh ra và lớn lên, nơi chúng ta đã bảo vệ đến hơi thở cuối cùng để giữ
lấy từng tấc đất, không quản "sáng ngăn bão đông, chiều ngăn nắng lita", noi dé mai
mãi là niễm tự hào vô biên, mãi mãi là nguồn thơ không bao giờ cạn
Nghĩ về đất nước, có biết bao nhà thơ đã từng xúc động nghẹn ngào, khí bình
yên, họ nghe lòng rộn rằng với niém vui xây dựng quê hương mình; khi giặc đến, ho
đau đớn xót thương quê hương bị gót giày xám lược tàn phá, lại cảng căm giận lù giặc tan bạo Những tình cảm yêu, căm như những đợt sóng ào ào lớn lên thành một dong
cảm hứng mạnh mê bật lên thành thơ Đó là bài “Bên kia sông Đuổng" của nhà thơ
Hoàng Cẩm
Bai thơ: "Bên kia sông Đuống" đưa ta về sống với hiện thực đau thương của vùng
Kinh Bắc quê hương của Hoàng Cẩm trong những ngày mưa bom bảo đạn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Từ cổ chí kim, đã có bao nhiều bài thơ bật lên trước cảm hứng về quê hương đất nước, đó là "Thang Long thành hoài cổ" với nỗi đau khắc sâu muôn kiếp
Da van tro gan cùng tuể nguyệt
Nước còn cau mặt uới tang thương;
Lâ sự khẳng định sự trường tồn của đất nước Việt Nam trong "Nam quốc sơn hà”
của Lỉ Thường Kiệt, là nét màu đỏ thắm của sự hỉ sinh cao cả vì tự do đân tộc trong
"Cuộc chia lỉ màu đó" của Nguyễn ML Tất cả những cảm hứng yêu nước ấy đều xuất phát từ tấm löng yêu quê hương đất nước của nhà thơ, từ truyền thống "lung deo guom, tay mài bút lửa" của dân tộc Từ mọi hoàn cánh, mọi thời đại, nhà thơ lại = cho minh
một cách biểu hiện riêng
Khác với những bậc tiến bối ngày xưa, nhà thơ Hoàng Cảm viết về "Bên kia sing Đuổng" với một tình yêu mãnh liệt, một tình yêu đã được một sự kiện làm cho bùng cháy: khi ông nghe tin giặc đánh phá quê hương mình Cái dồn nén của tình cắm vỡ rả thành những đồng chữ nghẹn ngào thẩm máu và nước mắt, những dòng chữ như cắt ra
từ trái tim nha thơ với bao nhiêu xúc động mạnh mẽ, bao nhiêu yêu thương, bao nhiêu tình yêu, trân trọng, nâng nỉu, bao nhiêu nuối tiếc, nhớ nhung, bao nhiều xót xa căm uất
trảo ra từ đầu ngọn bút Đỏ phải chăng là cảm hứng lớn để ông viết lên những dòng thơ
có sức lay động ghê gớm lòng người? "Thơ chỉ tràn trong tìm ta khi cuộc sống đã thực
đầy" Thơ Hoàng Cẩm đã tràn ra khi những yêu thương căm uất trong lòng nhà thơ đã lên tới đỉnh điểm
Em oi budn lam chi
Anh dia em vé bén kia séng Đuống Ngày xưa cải trắng phẳng lì
Nỗi đau ấy bật lên khi nghe tin quê hương bị giặc tàn phá đã khiến cho nhà thơ khóc nức nở bởi bao nhiêu tình cảm ngền ngang lẫn lộn Và khi đã tỉnh trở lại, nhà thơ nghe như đâu đây xa xôi trong tiểm thức giấc mơ hi vọng vì tiếng hát đân ca của vùng Kinh Bắc, và những câu thơ đầu tiền đã tuôn trào Hoàng Cầm đưa tay nhớ lại cái "ngày xưa" — những ngày của vùng Kinh Bắc yên bình ẩm no, hạnh phúc với tấm lòng hoài
niệm xót xa nuối tiếc, với những câu thơ khấc khoải nỗi niểễm Cái cảm hứng về nét đẹp
của quê hương là niềm tự hào ngân nga trong từng câu chữ:
212
Trang 28Sông Đuởng trõi đi Một dòng lấp lánh Nằm: nghiễng nghiêng Bên này, bên kia - Ôi sao mà đau xót! Một dòng sông mà hai khoảng trời ngăn cách - Bên kia sông Đuống, "ngô khoai biêng biếc”, "xanh xanh bờ dâu bãi mia”, vậy mà chiến tranh đã nổ ra Những cáu thơ thật đẹp nhưng đọc lên sao đau đớn, cho nên:
"Đừng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay”
Hình ảnh "sao xót xa như rụng bản tay" là nỗi đau đã cụ thể hóa, nỗi đau của chết chóc, chia lìa Mấy câu đầu bài thơ đã nói lên hai luỗng cảm hứng chủ đạo sẽ xuyên suốt bãi thơ “Bên ha sông Đuống", đó là: yêu thương, nuối tiếc và đau thương, căm uất Những câu thơ nhói giữa từm tạ bà tan ra trong một biển tính cảm mênh mông Cả mấy đoán thơ kế tiếp nhau với một cảm hứng hoài niệm tự hào đã dựng lên trước mắt ta một thế giới vùng quê, thế giới Kinh Bắc với những nét đẹp của truyền thống văn hóa với sự
cổ kính ngàn đời, thế giới ấy với nỗi đau bị tản phá lại càng nhân lên trong lòng nhà thơ những tình cảm gắn bó, yêu quê hương mặn mà, sâu sắc
Nếu như phần đầu tiền, Hoàng Cắm hay nhắc đến những hình ảnh bình yên thơ mộng của lảng quê trù phú vùng quan họ thì đến phần sau, ông lại hoài nhớ vẻ những nét văn hóa của quê Kinh Bắc, những nét truyển thống đặc sắc, bắt rễ sáu kín trong hồn ông
Phải chăng, khi nhớ về đất nước, lan déu tiên đã nghĩ đến “giọt đàn bầu" "xoa dịu nỗi đau của mẹ” và sau đó mới nhớ đến mình là vì vậy? Nhớ đầu tiên phải nhớ tới hương vị quê hương Việt Nam: đó là lúa nếp thơm nồng, là tranh Đông Hô nét bút tươi
trong, là tấm the đen may áo mẹ già, là hội hè đình đám, là bến chợ người đãng tơ
nghẹn lối tất cả mang màu sắc đãn tộc rõ nét, rất đổi tự hào
Rất là tự nhiên, tác giả lỗổng hình ảnh quê hương vào trong hình ảnh những truyền thống văn học, những hình ảnh con người xứ Kinh Bắc duyên đáng, dễ thương, những có hàng xén răng đen, cắn chỉ mỗi trầu, những cụ giả tóc trắng những khuôn mặt búp sen, "cười như mùa thu tỏa nấng" - Dưới ngòi bút nhớ thương, trăn trọng của Hoàng Cẩm, lại nhiều hình ánh vẻ con người và xứ sở Kinh Bắc hiện lên duyên dáng
đến kì áo, thơ mộng đến ngọt ngào và không phái chỉ là nét thơ mà trở thành nét
họa Ta yếu sao những khuôn mật của thiếu nữ ngây thơ trong trắng, kiểu điểm ẩn đưới những chiếc khăn trùm đầu, như những búp sen, ta yêu sao cái cười trong sáng, hồn nhiên, trẻ trung như "mùa thu tỏa nắng"! Xứ sở Kinh Bắc đẹp đến thế, say đắm lông người đến thế! Đúng là nét họa, "màu đân tộc sáng bừng trên giấy điệp"!
Vừa nhớ vẻ những ngày thanh bình xưa kia, đau với cái hiện thực phũ phàng, tan nát lòng người, Hoàng Cẩm đã đưa ta sống trong bể cảm hờn ngùn ngụt của ông, ngày giặc tới Có thể nói cảm hứng yêu thương đã đan vào cảm hứng cảm uất khiến cho mỗi lời thơ có sức cuốn hút mãnh liệt, nhà thơ lap di lap lại: "Bên kia sông Đuống, Ai uễ bền khía sông Đuống” ~ những câu hỏi như có một tiếng vọng vang trong lòng người, có nỗi đau xót xa của đứa con xa quê hương về quê mẹ
Giặc béo lên ngùn ngụt lita hung tan Ruộng ta khô
Nhà ta chảy
Trang 29Ai đã từng lớn lên từ những vùng quê xanh xanh bãi mía bờ dâu, ngô khoai biếng biếc thì mới càng thấy đau đớn trước màu xám xịt, toàn khói biếc ngút trời của vùng quê Kinh Bắc Đau xót biết bao khi những làng đãn ca quan họ đã bị át đi và ruộng khoai biêng biếc cũng cháy khô với bom đạn chiến tranh-công sức, mổ hồi nước mất của người lao động cháy theo ngõ khoai Tác giả chọn những hình ảnh đặc trưng của vùng qué Kinh Bắc với sự chia lìa, ngần cách: "mẹ con đàn lợn âm dương”, "đám cưới chuột”, gửi the đen không biết may áo cho ai Những điệp khúc lại được nhắc di nhấc lại:
đi đầu về đâu", "Bay git tan tac về đâu?", đầy nhức nhối thương đau
Dùng thủ pháp tương phản, tác giả đã tạo nên sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại, xưa và nay để nỗi đau càng thêm giằng xé, để yêu thương cảng mãnh liệt và nhữ thế căm hận cũng ngút trời, căm hận "lũ quỹ mắt xanh trừng trợn, đạp gảy quán gẩy teo", thương mẹ già "bước cao thấp bên bờ tre hun hút" Một hình ảnh loang trước mất
ta báo hiệu sự chết chóc, sự thảm khốc của chiến tranh:
“Lá đa lác đác trước lễu
Vải ba uết máu loang chiều màa đông"
Cái vết máu loang ấy đập vào mắt €a với một lòng căm hờn tột độ Vết máu ấy là của ai? Đó là của những khuôn mặt búp sen, những em thơ "sột soạt quản nâu", những
mẹ, những cụ giả, những con người của xứ sở Kinh Bắc! Đau đớn bao nhiêu, cảm giận
Cả một đoạn thơ dài tuôn trào lai láng những xúc cảm mãnh liệt Bao trùm là những cung bậc tình cảm thiết tha, sâu lắng về nỗi đau quê hương bị giặc tàn phá, tan phá những truyền thống văn hóa cổ truyền, đảo lộn tất cả những sinh hoạt bình dị của côn người Kinh Bắc Phải chăng, cái đau của "đàn lợn âm dương chía lìa trâm ngả", của
đám cưới chuột tan tác trên bức tranh Đông Hồ xưa đã thôi thúc những người con của
quê hương cẩm lấy súng
*Bộ đội bên sông đã trở uê Con đến giờ xuất kích Trại giạc bắt đầu run trong sương"
Cái khát khao muốn giữ gin sy sum hợp của đám cưới chuột, của đàn lợn âm đương, giữ gìn quê hương nghìn năm văn hiến, giữ gìn truyển thống nghìn đời của dân tộc phải trả lời bằng tiếng súng giết giặc ngoại xâm Ta phải chiến đấu để giành lại cho ta tất cả
Khi quê hương có bóng giặc thù là lúc ấy ta hiểu con người đúng nhất Ta sẵn sàng đứng lên cẩm súng đuổi giặc, mặc dù có thể đổ máu mình để được độc lập tự do, Hoàng Cầm ước mơ một ngày:
Sông Đuống cuỗn cuộn trôi
Để nó cuốn phãng ra biển Bao nhiều đồn giặc tơi bời Bao nhiều nước mắt
Baa nhiêu mô hôi
Ba nhiều bỏng tối
Bao nhiêu cuộc đời
314
Trang 30
thị “Ta lại vé bên kia sông Đuống" Một ước mư chân thành và giản dị như người Kinh
Bác nhưng đau đáu một nỗi niềm và lấp lánh niểm tin vào sự tháng lợi của dân tộc với
kế thụ hung bạo nhất, Tình yêu đất nước của Hoàng Cám hòa vào luỗng ánh sáng cua niêm tìn và hị vong - Ta phải chiến thắng, phải được trở về bèn kía sông Đuống, tìm
em, em lại thất lụa hóng, mặc yếm thăm như những cô gái Kinh Bắc ngày xưa cùng
"tray hai non song"
Bài thơ "Bân hỉa sông Đuống" khép lại trong nụ cười của cô gái Kinh Bắc duyên
dáng "cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh" nhưng lại mở ra bằng chan trời của mơ ước, của niềm tin yêu mãnh liệt
Cảm hứng, đối với thơ còn mạnh hơn nhiều, đỏi khi là thần hứng (Platôn) Cảm hứng của bài thơ "Bền kia sông Đưổng” của Hoảng Cầm là tình cám bật ra từ một trái tìm yêu quê hương đất nước mặn nồng, tha thiết, một tình cảm lắng đọng, trào lên
mãnh liệt, nó không có nét hoài cổ tâm đắc như trong "Tháng Long thành hoài cổ",
cũng không có nét thực tại, cái đau trước mặt rõ như “Quê hương” của Giang Nam, nó là
su dan cai, xen lẫn của quá khứ và hiện tại, của nhớ nhung và tiếc nuối, của yêu thương
và cảm giận, của quê hương và kẻ thù, nó bàng bạc như huyền thoại, nó tuôn ra như thác lũ với những điệp từ, điệp ngữ dội vào lòng ta đau nhói "đi đâu, về đâu”
Đất nước luôn là thị hứng, là để tải muôn thuở cúa nhà thơ Nhưng môi khí có những sự kiện vi đại, cam hứng ấy vụt lớn lên và nhờ thể sẽ biển tác phẩm của nhà thơ thánh những kiệt tác, như bài "Binh Ngà Đại Cáo” của Nguyền Trải Ta đừng để cho thơ thành ngẫu hứng; thản hứng khởi nguồn tự đáy lòng mình, là tiếng nói bay cao, rít lên
từ nhịp tim xúc động đập gấp gáp, từ con tim đã tràn đầy những tình yêu
Œó được thành công ấy ở bài thơ "Bên hỉa sông Đuổng”", phải chăng Hoàng Cắm
da co su chin mudi vể cảm xúc, có sư tỉnh tế sảu sắc hiểu biết quê hương mình và cao hơn, có một tình yêu quê hương sâu sắc
“Em ơi buồn làm chỉ
Sao xót xa nh rụng ban tay"
DÀN BÀI CHI TIẾT
1 Mở bài
Hồn thơ Hoàng Cảm gắn chặt đến mức máu thịt với quê hương Kinh Bắc đã làm nên sắc điệu riêng cho cảm hứng về quê hương đất nước trong bài thơ Bên kia sông Đuổng Cảm hứng ấy được bộc lộ khá rö ngay trong đoạn mở đầu bài thơ, khi người con của quả hương đứng ở "bên này" nhìn về “bên kia sông Đuống”:
215
Trang 31"Em oi budn lam chi
Sao xdt xo nhu rung ban tay,
I Thân bài
1 Một cái nhìn toàn cảnh "bên bía sông Đuống" từ "bền này"
~ "Em ơi buồn lam chi" Em là ai? Là một con người không xác định Chỉ biết là
một người cùng quê bên kia sông Đuống Và trong thơ Hoàng Cẩm thi bao gid "em" cing
là một cô gái Kinh Bắc của ngày xưa - ở đoạn kết, cô gái ấy đã hiện ra với hình ảnh ấy:
Bao giờ uẻ bèn kia sông Duéng
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường hì
' Bao lại nằm “nghiêng nghiêng" ? Điều này thật khó giải thích Nhưng có lê phải
có cái dáng "nằm nghiêng nghiêng" ấy con sông mới như một sinh thể có hồn, có tám trạng hơn Cùng với "bãi mía bờ dâu, ngô khoai biêng biếc", hình ảnh nằm nép mình
“nghiêng nghiêng" của con sông Đuống dường như gợi không khí lo âu, vắng lãng hơn chăng, vì giặc đã về
2 Một nỗi đau "xót xa như rụng bàn tay"
Nhưng quê hương Kinh Bắc đẹp cổ kính ấy đã bị giặc chiếm đóng Còn đầu dòng sông Đuống lấp lánh trôi giữa hai bờ cát trắng phẳng lì, còn đâu màu xanh mượt mà, biêng biếc của dáu mía ngô khoai ? Chỉ còn lại nỗi đau của một con người "đứng bên này sông sao nhớ tiếc" - một nỗi đau thật cụ thể, như là có thể cảm giác được:
Sao xót xa như nụng bàn tay
Phải là người trong cuộc, phải là chính quê hương thân yêu của mình bị giặc
chiếm đóng thì mới có nỗi đau như vậy Hoàng Cảm đã thức trắng đêm để viết nên bài thơ này khi ông nghe tin quê hương bị giặc tàn phá và nỗi đau đã trào ngay trong những dòng thơ đầu bằng một hình ảnh đầy ấn tượng
~ Nỗi đau ấy đã khép lại đoạn mở đầu để mở ra những nỗi đau cụ thể khác liên tiếp trong suốt bài thơ, Nó là điểm xuất phát, sự bùng nổ cho cảm hứng về quê hương Kinh Bắc tuôn chảy đào đạt trong mạch tho Bén kia sng Dudng cia ong
Til Két bai
Đoạn thơ là một bức tranh đẹp được được khúc xạ qua tâm trạng đau xót của nhà thơ khi quê hương Kinh Bắc thân yêu đã bị giặc chiếm đóng Đoạn thơ in đậm chat Kinh Bắc và giọng điệu thơ Hoàng Cẩm, dù chỉ là một đoạn mở đầu ngắn trong cả một
bài thơ đài
216
Trang 32BÀI LÀM
Minh vé minh cé nha ta
Việt Bắc tràn đẩy nỗi nhớ của người kháng chiến về xuôi với quê hương cách mạng trong mười lãm nâm “thiết tha mặn nồng" tình nghĩa Biết bao nhiêu chữ "nhớ” vang lên trong bài thơ cùng với bao nhiêu nỗi nhớ của người ra đi với người ở lại Nhớ chiến khu, nhớ "mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào", nhớ những đêm “quân đi điệp điệp trùng trùng”, nhớ "ngọn cờ đỏ thắm gió lỗng cửa hang”, và cả “nhớ gì như nhớ người yêu" Giữa rất nhiều nỗi nhớ ấy, hiện lên một nỗi nhớ vừa đảm thẩm thiết tha Jai vita bang khuảng man mác:
Tú 0ễ, mình có nhớ tạ
Nhớ at tiếng hát ân tình thủy chung
Mười câu thơ trên là đoạn thơ thứ năm của bài thơ "Việt Bác”, tự nó đã có tính hoàn chỉnh Đó là bức tranh toàn cảnh và tiêu biểu của Việt Bắc qua bốn mùa trong năm Bức tranh ấy hiện lên thật sinh động trong âm điệu nhịp nhàng, tha thiết yêu
thương Bức tranh ấy rực rở, tươi tắn nhưng cũng bãng khuâng, man mắc vì nó được lọc
qua nỗi nhớ của người về xuôi Nỗi nhớ được bộc lộ tha thiết trong buổi chia tay:
Ta uễ, mình có nhớ ta
Ta uễ, ta nhớ những hoa củng người Hai lan "ta về" lấy lại ở đầu eãu - cùng một thời điểm chia tay, nhưng câu trên là
hỏi người, câu đưới là giải bày lòng mình Cái giọng thơ tâm tình của Tổ Hữu ở đây that
ngọt ngào dễ thương Cuộc chia tay giữa người kháng chiến và người Việt Bắc, giữa miễn ngược với miễn xuôi đã trớ thành một cuộc "gid ban" đổi lứa (fœ - minh), Nỗi nhớ về những ngày gian nan gấn bó với cảnh và người Việt Bắc cứ hiện dan trong tam tri người
đi Cảnh vật, con người Việt Bắc, cái gi cũng đáng yêu, đáng nhớ Nhớ trước nhất là ñoœ cùng người Hoa và người hòa quyện trong nỗi nhớ Nhớ hoa là nhớ tới cái đẹp của thiên nhiên Việt Bắc, mà cái đẹp của Việt Bắc không thể tách rời với cái đẹp của những con người Việt Bắc đã từng cưu mang, gắn bó với người đi, với cách mạng Vẻ đẹp của bức tranh Việt Bắc, trước tiên, là vẻ đẹp của Sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người
217
Trang 33Bức tranh đó được điển tả bằng những câu thơ êm ả, nhẹ nhàng Có màu sắc tươi tấn rực rở, có ánh sáng lung linh chan hòa, có âm thanh vui tươi đẩm ẩm Cảnh và người hòa quyện vào nhau: bốn cặp lục bát tả bổn mùa, thì câu trên nhớ cảnh, câu dưới nhớ người Mà cảnh nào, người nảo được nhắc tới cũng đểu có cái riêng đê nhớ Tất cả
đã hiện lên trước mất ta một bức tranh Việt Bắc tuyệt diệu, nên thơ qua nét bút cham
phá tài tình của tác giả
Mỗi mùa được nhà thơ nhớ lại bằng một nét tiêu biểu nhất, với cách điễn tả tỉnh
tế gợi cảm Nhớ mùa đông Việt Bắc là nhớ tới "rừng xanli hoa chuối đỏ tươi" Giữa cái
bạt ngàn của màu xanh, biển hiện một màu sắc ấm nóng (tươi đỏ), bức tranh mùa dong của Việt Bắc đâu còn cái lạnh lẽo, hoang vu nữa Xuân sang sắc màu lại đổi khác, tràn ngập sinh sôi một màu trắng tỉnh khiết, thơ mộng: "Ngáy xuân mơ nở trắng rừng" Cảnh này có gì đó giống như cảnh Bác về nước năm 1941:
Ôi sáng xuân nay, Xuân 41
Trắng rừng biền giới nở hoa mơ
Bắc uề Im lặng Cón chim hot Thánh thỏt bờ lau, uui ngẩn ngơ
(Tổ Hữu - Theo chán Bác) Bốn cặp lục bát sau Tố Hữu dùng để tả cảnh hè đến và cảnh mùa thu Nếu như sắc màu chủ đạo của cảnh đông là màu xanh điểm vào đó có sắc hoa tươi đỏ, của cảnh
xuân là màu trắng hoa mơ, thì của mùa hè là màu vàng tươi đẹp của rừng phách: Ve hêu
rừng phách đổ uàng Đãy là một câu thơ vào loại hay nhất của bài thơ "Việt Bấc" Câu thơ sáu chữ mà thấy được sự chuyển đổi của thời gian, sự biến đổi của cảnh sắc thiên nhiên Câu thơ ấy ran lên một tiếng ve kêu không dứt trong màu vàng chói chang cúa rừng phách đưới nắng hạ Cuối cùng, cảnh thu hiện ra với màu sắc dịu hiển của ánh
trăng, màu của mơ ước về cuộc sống hòa bình giữa những ngày gian khó Cảnh nào cũng
đẹp, mùa nào cũng đáng yêu, và mỗi mùa là một bức tranh nên thơ, kì thú
Bức tranh bốn mùa ấy còn ánh lên vẻ đẹp đầm thẩm cúa con người Việt Bắc Cảnh làm nến cho người và người gắn với cảnh, chúng quyện hỏa vào nhau và tô điểm cho nhau Dường như những cảnh ấy phải có những con người này, và nhà thơ đã đưa
vào bức tranh Việt Bắc những con người thật bình dị đáng yêu: hình ảnh người lên núi
với lưỡi dao lấp lánh ánh nắng cạnh sườn, bàn tay “chuốt từng sợi giang" của người đan nón, và "cô em gái hái mảng một mình” giữa khúc nhạc ve ran và sắc vàng rững phách
Cả “tiếng hát ân tình” nữa cũng làm cho rừng thu êm dịu và ánh trâng hòa bình tỏa sáng lung linh
Không hiểu Việt Bắc sâu sắc, không yêu Việt Bắc nống nàn và nhớ Việt Bắc tha thiết, thì không thể dựng lên bức tranh quê hương cách mạng đẹp tuyệt điệu và ấm tình người đến thế Nhưng để có bức tranh này, còn cỏ quan điểm đúng đấn và cách nhìn tiến hộ của nhà thơ cách mạng Khác với những cách nhìn sai lệch trong văn học trước đây về miễn núi và con người miễn núi (là nơi "ma thiêng nước độc" với những con người
dữ tợn, kém vân minh ,), Tố Hữu đã có một cách nhìn đầy thông cảm, thương yêu và ưu
ái với quê hương cách mạng Bức tranh thơ này chính là bắt nguồn từ sự gắn bó thủy chung, từ lòng nhớ thương sâu nặng của nhà thơ đối với cảnh và người Việt Bắc
Tình cảm nhớ thương tha thiết ấy là âm hưởng bao trùm cá đoạn thơ - và nhạc điệu dịu dàng trắm bổng của thể thơ lục bát làm cho âm hưởng đó bâng khuâng, tha thiết Kết cấu của bài thơ "Việt Bác” là kết cấu đối đáp, có ta và mình, có người đi, ké 6, 218
Trang 34nhưng thực ra đó chỉ là sự phần thân của mật chủ thể trữ tình Đoạn thư trên là lời đáp
li giải bay cúa người đi; nhưng không hẩn là thế Nhớ cảnh, nhớ người, nhứ đến từng chỉ tiết sông động như vậy là nỗi nhớ chung của những người đã cùng gần bó với nhau, đồng cam cộng khổ trong Tnưởi lãm nam thiết tha ân tỉnh” Không phải ngẫu nhiên mà
Tổ Hữu khép lại đoạn thơ bằng “ trếng hát ân tình thủy chưng”
Tiéng hát án tình ấy vấn vương trong người đi kẻ ở, vấn vương trong tâm hẳn
Những đường Việt Bác của ta
Đền pha bật sảng như ngày mi lên,
3 Hai cu 5, 6 là hình ảnh những đoàn dân công phục vụ tiển tuyển:
Dân công dé dude từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lừa bay,
Trang 35"Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ban ngày là của địch nhưng ban dém là của
ta Hình ảnh những đoàn đân công đỏ đuốc đi trong đêm là đúng với hiện thực Nhưng với ánh đuốc đó rực ấy cùng với "muôn tàn lứa bay" thì lại lãng mạn biết bao Có khác
gì một hội hoa đãng ! Còn "bước chán nát đá” là bước chản của những con người đạp bằng mọi chông gai để đi tới Lấy ý từ câu ca dao "trông cho chân cứng đá mềm", Tố Hữu đã sáng tạo nên một hình ảnh thơ vừa quen thuộc vừa mới lạ để ngợi ca sức mạnh của những con người chiến thắng
4 Hai câu cuối là hình ảnh những đoàn xe ra trận mà đèn pha bật sáng quét sạch màn sương đêm dày thăm thẩm của núi rừng Việt Bắc Rất hiện thực mà cũng rất lãng
mạn Đảng sau cái nghĩa thực, câu thơ còn mang nghĩa bóng - nghĩa tượng trưng ~ trong
một hình ảnh lạc quan phơi phới:
Đền pha bật sáng như ngày mai lên
Ngày mai đã lên từ trong đêm dày thăm thẩm nhờ đèn pha bật sáng, nhờ sức con người tỏa sáng Bởi họ đã cầm chắc chiến thắng trong tay ngay từ khi mới xuất quân Câu thơ để lại nhiều dư vị, đư vang về một cảnh ra quán hoành tráng, đầy hào khí
HH Kết bài
Chỉ 8 câu thơ, Tổ Hữu đã dựng lên bức tranh "Việt Bắc ra quân" thật đẹp Bức tranh không chỉ làm sống dậy những ngày tháng hào hùng của quân dân ta trên cần cứ địa thần thánh mà còn đem đến cho ta niềm tin yêu quê hương cách mang anh hùng Nó xứng đáng là một trong những đoạn thơ hay nhất của bài thơ Việt Bác
ĐỀ 70
1 Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết của Tố Hữu trong "Việt Bảc" (phan dau)
~ Bài thơ nói đến nghĩa tình cách mạng nhưng thi sĩ lại dùng giọng của tình: thương, lời của người yêu để trò truyện, giải bày tâm sự Ca bài thơ được viết theo /đi đối đúp giao duyên của nem nữ trong ca dao dân ea và phẫn đầu này cũng thế - nó là lời giải bày tâm sự giữa người đi (người về xuôi) với người ở lại là đổng bảo Việt Bắc Mười lăm năm cách mạng thành Mười lắm nam dy thiết tha mận nỗng, người đi người ở thanh minh - ta, ta - mình quấn quít bền nhau trong một mối ân tình sâu nặng:
Nhìn cây nhớ múi, nhìn sông nhớ nguồn — y
220
Trang 36~ Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết ấy tạo nên ám hưởng trữ tình sâu đậm của khúc hát án tình cách mạng Việt Bắc: từ khúc hát đạo đầu Minh 0é đình có nhớ
tạ đến những lời nhắn gửi, giải bây Minh đi có nhớ những ngày Minh uÄ rừng nải
nhữ at Ta chỉ tạ nhớ những ngày - Minh dây tà đá, đẳng cay ngọt bái đến những nỗi
nhớ da diết sâu năng:
- Nhớ gì như nhớ người yêu
Trang lên đầu nải, nổng chiều lưng nương Nhớ từng bản khải cùng sương
Sờm khuya bếp lừa người thương đi uễ
= Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Diu con lén rẫy bé từng bắp ngõ
2 Nghệ thuật biểu liện giàu tính dân tộc trọng “Việt Bác" (phan dau)
= Thế thơ: Trong phản đầu (cũng như ca bài thơ) Tổ Hữu đã sử dụng thể thơ đân tộc nhất là thể thơ lục bát, Thì sĩ đã sử dụng rất nhuần nhuyễn thể thơ này và có những biến hóa, sánh tạo cho phù hợp với nội dung, tình ý câu thơ Có câu tha thiết, sâu lắng như bốn cáu mở đầu, có câu nhẹ nhàng thơ mộng (Nhớ gì như nhớ người yêu ), lại có đoạn hùng tráng như một khúc anh hùng ca (Những đường Việt Bắc của ta Đèn pha bật sáng như ngày mai lên)
~ Kết cấu: Kết cấu theo lối đối đáp giao duyên của nam nữ trong ca dao đân ca là kết cấu mang đậm tính dân tộc, và nhờ hình thức kết cấu này mà bài thơ có thể đi suốt
150 câu lục bát không bị nhằm chan,
— Hình ảnh: Tổ Hữu cỏ tài sứ dụng hình ánh đân tộc một cách tự nhiên và sáng tạo
trong bài thơ: Nhin cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn; mưa nguồn suối lũ; bước chân nát
đá (sáng tạo từ câu ca dao: trông cho chân cứng đá mắm) Có những hinh anh chat loc tir cuộc sông thực cũng đậm tính dân tộc: miếng cơm chẩm muối, mối thit nang vai; hat hiu
lưu xám, đậm đà lòng son và đặc biệt là hình ảnh đậm đà của tình giai cấp:
Thương nhau, chía củ sắn (iti
Bát cơm sẽ nữa, chăn sui đẩp cùng
= Mgân ngữ: Tính dân tộc được thể hiện rõ nhất trong cập đại từ nhân xưng "ư ~ mình, mình ~ ta” quấn quít với nhau và đại từ phiểm chỉ “ø¿" (dẫn chứng) Đây là một sáng tạo độc đáo và cũng là một thành công trong ngôn ngữ thơ ca của Tố Hữu
— Nhạc điệu: trong bài thơ là nhạc điệu dân tộc từ thể thơ lục bát: nhịp nhàng,
tha thiết, ngọt ngào, sâu lắng nhưng biển hóa, sáng tạo, không đơn điệu (có lúc hùng tráng như cảnh "Việt Bắc ra quân”, trang nghiêm như cảnh buổi họp của “Trung ương, Chính phủ )
HI Kết bài
Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết và nghệ thuật biểu hiện giàu tính đân tộc của Tổ Hữu đã góp phần quan trọng vào thành công của bài thơ Việt Bđc làm cho nó nhanh cháng đến với người đọc và sống lâu bần trong lòng nhân dân ta từ khi ra đời cho đến hôm nay
221
Trang 37ĐỂ 71
Binh giảng đoạn thơ trong "Đất nước" của Nguyễn Đình Thí:
“Mua thu nay khác rồi
Những buổi ngày xưa uọng nói oễ"
YÊU CẦU Doan tha la hinh dnh cô đúc đẹp đề uê Đất nước: có niềm oui phơi phái của mùa thu kháng chiến hôm nay, có đất nước đẹp giàu mà ta làm chủ, lại có cá tiểng nói cha ông từ buổi ngày xưa uọng uễ đẩy biêu hãnh tự hào Cảm nhận của thì sĩ uẻ Đất nước
khá toàn diện uà sâu sắc: có xưa có nay, có cánh đẳng dòng sông va truyền thống dân
tộc, có niễm bui của con người kháng chiến Tết cả đều được nói lên bằng một cảm ®tứng dat dao, manh ligt va thiết tha uễ Đất nước, một giọng thơ đẩy xúc cảm của Nguyễn Dinh Thi Bài bình giảng phải nên lên được những ý cơ bản trên đây
BÀI LÀM Đất nước là chủ để quan trọng nhất trong thơ Nguyễn Đình Thi Ông viết về đất nước với niểm cảm hứng mãnh liệt, tha thiết; say đắm trước vẻ đẹp của đất trời quê hương có "Cánh cò bay la dap don, may mù che đỉnh Trường sơn sớm chiều”; đau xế lòng khi phải chứng kiến cảnh "dây thép gai đảm nát trời chiếu”; tự hào kiêu hãnh khi nước Việt Nam, "rũ bùn đứng dậy sáng lòa" Vì thế thơ về đất nước của Nguyễn Đình Thi thường giàu tính sử thi, giàu cảm xúc, có nhiều bài, nhiều đoạn sâu sắc “Đất nước” là một bài như thế
Bài thơ khởi nguồn từ 1948 và hoàn thành năm 1955, nghĩa là đã trải dọc gắn
suốt cuộc kháng chiến chống Pháp cúa dân tộc Nhưng đây không phải là thơ tự sự, mà
là thơ cảm xúc, trữ tình Vì thế mạch cảm xúc phát triển theo tiếng nói bên trong cua con người Bài thơ là sự liên kết các mảng tâm trạng trong một chủ để chung hướng về
đất nước
Đoạn thơ trích nằm trong phẩn một của bài thơ, tiếp ngay sau những hoài niệm về mùa thu đẹp và buổn của Hà Nội xưa, một nỗi buổn man mác bảng khuảng trải đài theo các đây phố "xao xác hơi may”; hay đọng lại trên những bậc "thểm nắng lá rơi đầy”
Nhưng rồi ngay sau đó, tác giả dường như chợt bừng tính, để quay trở lại điểm nhìn ban đầu là một buổi "sáng mát trong” thoang thoảng "hương cốm mới" giữa chiến khu Việt Bắc Và từ đó mạch xúc cảm của tác giả lại chuyển từ mùa thu của thiên nhiên vềể với mùa thu của đất nước để cất lên một tiếng reo vui:
Maa thụ nay khác rồi
“Mùa thu nay" là mùa thu năm 1948, một thời điểm đáng ghi nhớ của cuộc kháng
chiến chống Pháp Sau thắng lợi của chiến dịch Thu đông Việt Bắc 1947, cân cứ kháng chiến được củng cố vững chấc, khí thế của quân và dân ta đang đi lên, niềm tin cũng theo đó mà đâng đẩy, con người có thể "đứng vui nghe" kiêu hãnh giữa đất trời cao rộng với một niềm tin vui hổ hởi, phấn chấn, khỏe khoắn Và tất cá những gì nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy cũng đều cộng hưởng niểm vui ấy: trời như cao xanh hơn, nắng như trong trẻo vàng tươi hơn, không khí như nhẹ hơn, dịu hơn, cây cỏ như sinh động hơn
Cả đất trời dường như đã được "thay áo mới" Trong cái thanh, cái nhẹ, cái cao ấy thi
222
Trang 38các âm thanh đường như cũng vang ngắn hơn “trong biếc nói cười thiết tha” Nhịp thơ đi
là nhịp đập gấp gáp cúa con tim đang xúc đông, năm chữ sáu chữ xen kê nhau Nhạc thư
nhiều nốt bồng - những thanh sắc có âm cao - liên tiếp, "phấp phới”, "áo mới”, "trong
“Một thứ nhịp điệu của hình ảnh tình ý, nói chung là của tâm hỗn” (Nguyễn Dinh Thi), mi tam hén nhà thơ thì như dang hòa nhập vào niềm vui của cuộc đời, của đất nước đối thay:
Trời xanh: đây là của ching ta Núi rững dây là của chủng ta
Cùng một cam hứng như thế, ngày xưa Lý Thưởng Kiệt từng lên tiếng khẳng định
chủ quyền của "Nam quốc sơn hà", Nguyễn Trải từng hào hứng tuyên bố địa giới của nước Đại Việt "Núi sông bờ côi đã chia", và đương thời Tố Hữu cũng viết:
Của ta trời đất đêm ngày Núi bìa đổi nạ sông này của ta,
(Hoan hồ chiến sĩ Điện Biên)
Đố la tư thế của con người chiến thắng đã làm chú non sông gẩm vóc (khi thất bại, ông Nguyễn Khuyến đã phải than “Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn trời") Khát vọng ngân đời của dân tộc giờ đây đang là hiện thực “Trửi xanh" và "núi rừng" được kết hợp với một từ đây - xác định một cách cụ thể rõ ràng được nhắc lại hai lần - vả cũng hai lần vang ngân điệp khúc "của chúng ta”, Tự hào biết mấy! Có cảm giác như nhà thơ
đang muốn ôm ghi ca dat trời để cảm nhận cho hết cái hạnh phúc được làm chủ đất trời
tự do của mình, Mà đất nước lại đẹp và giầu đến nhường nào:
Những cánh đồng thơm mát Những ngá đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phi sa
Khó thơ dày đặc những âm vang ngân nga và bay bống, vẫn những điệp từ, vẫn
những hình ánh thân quen của đất mẹ theo nhau xuất hiện như không bao giờ hết, thêm
vào đó lại là những tỉnh từ và danh từ gợi tả "thơm mát”, "bát ngát”, "đồ nặng phù sa”
Nó nhân lên gấp bôi niễm tự hào và cũng nhân lên gấp bội tình yêu sâu nâng thiết tha cua con người lam chủ đối với cái tài sản vô giá này
Hồi từ những cái hữu hình cụ thể ấy, cảm hứng suy tướng của tác giả lại vươn tới cái vô hình, cái hồn của đất nước vọng về từ trong thầm sâu lịch sứ, mạch cảm hứng lại một lắn nữa trở về quá khứ xa xăm:
Nước chủng tạ
Nước những người chưa bạo giờ bhuất Đềm đêm rÌ rẩm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa oọng nói vé
Không phải là quá khứ đau khổ buốổn mà là quá khứ đầy tự hào của một dân tộc bất khuất, quá khứ được nhắc đến trong một bối cảnh thiêng liêng trang trọng, một tiếng nói vọng về từ làng đất giữa đêm sâu, ấy là tiếng nói của lịch sứ, của cha ông;
tiếng nói ấy được đón nhận tận trong thẩm sâu cúa tâm hẳn con người hôm nay Nó
tram lắng thiết tha, nó không hướng tới cái bên ngoài nữa mà hướng thẳng vào nội tam, vào những suy tư sáu lắng của nhà thơ Và đây cũng lại là một nét quen thuộc nữa của
223
Trang 39
phong cách thơ Nguyễn Dinh Thi: kết hợp cảm xúc với chính luận
Bài thơ còn nhiễu câu hay, nhưng theo ý tôi, đây là đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất *
và sâu lắng nhất Nó đúng là "tiếng nói chuyện của tâm hồn với chính nó” như Lác giả
BÀI LÀM
Người Hà Nội, và cả những ai không phải người Hà Nội nhưng biết và yêu Hà Nội,
phải cám ơn Nguyễn Đình Thi vì trong bài thơ "Đất nước" viết thời kháng chiến chống Pháp, öng đã dành riêng cho Hà Nội một khổ thơ đẩy cảm xúc và ấn tượng sau đầy:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may Người ra di đu không ngoành lại Sau lưng thêm nắng lả roi day
Đây là Hà Nội trong mắt nhìn của hoài niệm Vì là hoài niệm nên chỉ có những
gì là đọng nhất, sâu nhất Hà Nội mùa thu, có biết bao điều đáng nói Nhưng nói gì đây
để vẫn rất chung mà lại rất riêng cho Hà Nội? Nói gì đây để vẫn là Hà Nội của mọi người vẫn của riêng mình, cho ai cũng nhận ra nhưng lại vẫn không phải là những điều
mà trước mình người ta đã nói? Và, Nguyễn Đình Thi đã chọn:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phổ dài xao xác hơi may
Một từ "chớm" đứng trước từ "lạnh" thật gợi rất đúng một ngày thu Hà Nội
*Chớm lạnh" là mới bắt đầu trở lạnh, là đã lạnh nhưng chưa phải thật sự lạnh, là cái lạnh tuy đã đến nhưng còn e ấp, sẽ sàng, chỉ như một báo hiệu ban đầu của thiên nhiên; mùa thu rồi đó Đó là cái lạnh không phải thuộc loại "dao hàn cắt da” như một khổ ải
đọa đày, mà là một loại ân sủng của thiên nhiên ban cho con người, đặc biệt là cho
224
Trang 40người nghệ sĩ Trách chỉ mà trong thơ Việt Nam có nhiều thơ vẻ mùa thu đến thé! Cai chớm lạnh ấy thật hoàn toàn ngang giá với "một lá ngõ đổng rụng" mà các nhà thơ
Trung Quốc xưa vẫn rất tâm đắc:
Ngé déng nhdt diép lạc Thiên hạ cộng trí thu (Một lá ngõ đồng rụng
Ai cũng biét thu vé) Cái "chớm lạnh" có giá trị như thế càng khiến cho cụm từ ngữ tiép theo that day
ý nghĩa sinh động: trong lòng Hà Nội, trong không gian, trong cây cỏ, trong phố phường hay trong cả lòng người Hà Nội? Cái chớm lạnh đầu thu quả đã gây nhiều cảm
xúc cho lòng con người Gió thổi trên những phố đài như càng dải thêm ra vì vắng lặng
Chí có gió chạy trên phố vắng Mà hình như cũng chưa thật là gió, đẩy chỉ là "hơi may", hơi thở nhẹ của mùa thu Từ “hơi may” tiếp sau từ “xao xác" là một kết hợp tỉnh tế Nếu khong phải "hơi may” mà là "gió may", thì cũng sẽ khóng là "xao xác" mà phải là "xào xạc", rõ rét hon, nang né hon "Xao xác” gợi lên một âm thanh thoáng nhẹ như một nghỉ ngờ, có lẽ âm thanh ấy vang lên tự lòng người là chính Phép đảo ngữ ở đây cũng đầy tác dụng: "xao xác" đứng trước, "hơi may” đứng sau; nghe “xao xác” để rồi mới nhận biết
Sau lưng thâm nắng lá rơi đây
Một bức tranh tuyệt đẹp của mùa thu: một thêm nhà ngập nắng thu, im lặng và
cô độc giữa mùa thu vì không còn vang tiếng bước của người đã ra đi, lá thu vàng đang rơi, chẩm chậm, từng chiếc, từng chiếc, dân phủ đầy thểm Tiết tấu trong câu thơ này thật lạ: không biết nên ngắt nhịp ở đâu Bảy tiếng cứ gieo xuống chậm rãi, đều đặn như nhịp bước của người ra đi, quả quyết mà lưu luyến, lặng lẽ mà xao động, đầu không ngoảnh lại mà lòng vẫn hướng về, lá rơi, hay nắng nữa cũng đang rơi? Và cả thếm nữa, cũng đang rơi xuống trong khoảng nhớ của người đi?
(Rút trong Những bài làm uan chọn lọc tập 2 - Nhà xuất bản Giáo dục, 1995)
225