Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật, thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là sinh lợi và phát
Trang 1-
TĂNG ANH TRƯỜNG
XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN ĐẢM BẢO TÀI CHÍNH
CHO CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số 60 - 34 - 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ QUANG QUÝ
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đã được ghi trong lời cảm
ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
của những cá nhân và tập thể Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các
cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu Trước hết tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đối với Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Sau đại học và các thầy, cô giáo Trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh thuộc Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện về tinh thần và vật chất giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cám ơn Thầy giáo - PGS, TS Đỗ Quang Quý đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ về mặt khoa học để hoàn thành cuốn luận văn này Tôi xin trân trọng cám ơn các Cơ quan, Ban, Ngành tỉnh Thái nguyên, Ban giám đốc và các phòng ban, đơn vị thuộc Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã chia sẻ những khó khăn và động viên tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Tuy nhiên, vì những lý do về trình độ và thời gian, luận văn này không tránh khỏi có những hạn chế, rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy hướng dẫn, các thầy cô giáo và các đồng nghiệp để luận văn này được hoàn thiện hơn
Tác giả luận văn
Tăng Anh Trường
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vii
Danh mục các biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đảm bảo tài chính đối với hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường 4
1.1.1 Cơ sở lý luận của đảm bảo tài chính đối với hoạt động của doanh nghiệp 4
1.1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp 4
1.1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp 5
1.1.1.3 Nội dung chủ yếu của đảm bảo tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp 7
1.1.1.4 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến nhu cầu tài chính của doanh nghiệp 9
1.1.1.5 Nội dung và phương pháp đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của doanh nghiệp 12
1.1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về công tác huy động đảm bảo nguồn vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt nam và Nhật Bản 28
1.1.2.1 Thực tiễn công tác huy động vốn của các doanh nghiệp Việt nam hiện nay 28
1.1.2.2 Kinh nghiệm hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhật bản 32
1.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài 34
1.2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 34
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
1.2.2.1 Thu thập, tổng hợp dữ liệu 34
1.2.2.2 Phương pháp phân tích 35
1.2.2.3 Phương pháp dự báo 36
1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36
Chương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẢM BẢO TÀI CHÍNH CHO CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG VÀCÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ THÁI NGUYÊN 38
2.1 Đặc điểm và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên 38
2.1.1 Đặc điểm tình hình chung của công ty 38
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên 41
2.1.2.1 Nhân tố sản phẩm, dịch vụ, khách hàng và môi trường cạnh tranh 41
2.1.2.2 Đặc điểm về công nghệ 44
2.1.2.3 Đặc điểm về vật tư 45
2.1.2.4 Đặc điểm về nhân lực 46
2.1.2.5 Đặc điểm về vốn kinh doanh 48
2.1.3 Tình hình hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên trong 3 năm 2008 - 2010 50
2.2 Phân tích thực trạng công tác đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên 53
Trang 42.2.1 Phương pháp xác định nhu cầu tài chính cho hoạt động kinh doanh của
Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên 53
2.2.1.1 Các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu năm 2010 54
2.2.1.2 Cách xác định 54
2.2.1.3 Đánh giá mức độ chính xác của xác định nhu cầu vốn năm 2010 của công ty và phân tích các nguyên nhân 55
2.2.2 Phân tích tình hình các chính sách đảm bảo tài chính cho hoạt động của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên 57
2.2.2.1 Phân tích tình hình đảm bảo nhu cầu vốn cố định 58
2.2.2.2 Phân tích tình hình quản lý và sử dụng máy móc thiết bị 59
2.2.2.3 Phân tích tình hình thanh toán thu hồi vốn 60
2.2.2.4 Phân tích tình hình huy động các nguồn vốn 61
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO TÀI CHÍNH CHO CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ THÁI NGUYÊN 63
3.1 Định hướng chiến lược phát triển của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên giai đoạn 2011 - 2015 63
3.1.1 Mục tiêu chiến lược phát triển của Công ty 63
3.1.2 Một số chỉ tiêu dự kiến chiến lược phát triển của công ty giai đoạn 2011 - 2015 64
3.1.3 Một số chủ trương định hướng cho chiến lược phát triển của Công ty giai đoạn 2011 - 2015 66
3.2 Xác định phương án đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của Công ty giai đoạn 2011 - 2015 68
3.2.1 Xác định phương án đảm bảo tài chính cho hoạt động của Công ty năm 2011 68
3.2.2 Xác định phương án tài chính cho hoạt động của Công ty năm 2012 - 2015 72
3.3 Các giải pháp nhằm đảm bảo tài chính để thực hiện thành công chiến lược phát triển của công ty giai đoạn 2011 - 2015 73
3.3.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 73
3.3.2 Giảm chi phí đầu vào 75
3.3.3 Tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng tỷ lệ cổ tức 75
3.3.4 Nâng cao chất lượng sản phẩm và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng 77
3.3.5 Đổi mới, nâng cao công nghệ 78
3.3.6 Thu hút các nguồn vốn đảm bảo nhu cầu tài chính cho chiến lược kinh doanh của Công ty 79
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp máy móc thiết bị chủ yếu của công ty thời điểm
31/12/2010 44
Bảng 2.2: Thống kê đội ngũ lao động hiện có thời điểm 31/12/2010 46
Bảng 2.3: Bảng kê tình hình vốn của Công ty năm 2008-2010 49
Bảng 2.4: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của Công ty từ năm 2008-2010 53 Bảng 2.5: Bảng kết cấu vốn lưu động thời điểm 31/12/2010 60
Bảng 3.1: Bảng các chỉ tiêu đặt ra từ năm 2011- 2015 65
Bảng 3.2: Dự án dự kiến đầu tư chiều sâu từ năm 2011-2015 65
Bảng 3.3: Bảng cân đối kế toán dự báo năm 2011 70
Bảng 3.4: Các chỉ tiêu dự báo năm 2011 so sánh với năm trước và với lãi suất ngân hàng 71
Bảng: 3.5: Các chỉ tiêu dự báo năm 2012 - 2015 so sánh với năm trước và với lãi suất ngân hàng 72
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1: 3 nguồn huy động vốn chính của doanh nghiệp 30
Biểu đồ 1.2: 3 yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến việc tiếp cận các kênh vay vốn của doanh nghiệp Error! Bookmark not defined Biểu đồ 1.3: 3 khó khăn lớn nhất doanh nghiệp phải đối mặt trong việc huy động vốn thời gian qua 31
Biểu đồ 1.4: Các biện pháp doanh nghiệp sử dụng để đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh 31
Biểu đồ 1.5: 3 giải pháp được doanh nghiệp ưu tiên hàng đầu để tái cấu trúc lại cơ cấu vốn hiện tại 32
Biểu đồ 1.6: Xu hướng thay đổi cơ cấu vốn trong 1 năm tới 32
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật, thực
hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là sinh lợi và phát
triển, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần có một lượng vốn tối thiểu nhất định
Quá trình sản xuất kinh doanh từ góc độ tài chính cũng là quá trình phân phối
để tạo lập và sử dụng vốn của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trong quá trình đó, luôn
diễn ra sự chuyển hoá biến đổi liên tục của các nguồn tài chính Muốn tồn tại
và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt và khốc liệt như hiện nay,
mỗi doanh nghiệp phải có một năng lực tài chính nhất định
Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt
tới các mục tiêu của doanh nghiệp đề ra Các hoạt động gắn liền với việc tạo
lập, phân phối, sử dụng và vận động chuyển hóa của quỹ tiền tệ thuộc hoạt
động tài chính của doanh nghiệp
Tình hình tài chính doanh nghiệp là sự quan tâm không chỉ của chủ
doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng như các nhà
đầu tư, người cho vay, Nhà nước và người lao động Qua đó họ sẽ thấy được
thực tế của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh Thông qua tình hình tài
chính doanh nghiệp họ có thể rút ra được những quyết định đúng đắn liên
quan đến hiệu quả doanh nghiệp và có các giải pháp nâng cao khả năng tài
chính của doanh nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của việc đảm bảo tài chính đối với sự
phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung, bằng
những kiến thức lý luận đã học được qua nhà trường, tài liệu tham khảo kết
hợp với kiến thức thực tế tại nơi công tác, bản thân với nhiệm vụ là một cán
bộ quản lý tài chính của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên Tôi mạnh dạn đi sâu và nghiên cứu đề tài:
“Xây dựng phương án đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên”
2 Ý nghĩa khoa học
Hiện nay, việc đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh chưa được các doanh nghiệp quan tâm và hiểu biết đúng mức, rất nhiều các doanh nghiệp hết sức thụ động và lúng túng trong xây dựng và hoạch định chính sách đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển doanh nghiệp Các căn cứ, phương pháp, quy trình để xây dựng phương án đảm bảo tài chính còn có nhiều sai lệch, thiếu cơ sở do vậy dẫn đến phương án không đảm bảo và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng, nhiều doanh nghiệp không đạt được các mục tiêu của chiến lược kinh doanh của mình
Có nhiều biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, một trong các biện pháp quan trọng là xác định chính xác, đầy đủ lượng vốn bỏ ra, đảm bảo cung cấp đầy đủ lượng vốn này một cách có kế hoạch cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong trước mắt và trong một thời kỳ lâu dài Khi thực hiện các công việc trên, tức là thực hiện đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Việc nghiên cứu thực hiện đề tài không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận
mà còn mang tính thực tiễn cao đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hy vọng sự thành công của đề tài sẽ có ý nghĩa tiền đề cho sự thành công trong việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty cổ phần môi trường và công trình
đô thị Thái Nguyên trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ đô thị và xây dựng, là cơ
sở cho các doanh nghiệp khác tham khảo, xây dựng phương án đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình được tốt hơn
Trang 73 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu và hệ thống hóa những lý luận và thực tiễn về công tác
đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng tình hình đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh
của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên hiện nay
- Xác định nhu cầu tài chính, đưa ra các chính sách, giải pháp đảm bảo
tài chính cho chiến lược phát triển của Công ty cổ phần môi trường và công
trình đô thị Thái Nguyên giai đoạn năm 2011 - 2015
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Kế hoạch, chiến lược phát triển SXKD của công ty cổ phần môi trường
và công trình đô thị Thái Nguyên trước và trong giai đoạn 2011 - 2015;
- Thực trạng, giải pháp xây dựng phương án đảm bảo tài chính cho
Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi Công
ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên;
4.2.2 Phạm vi về nội dung: Xây dựng phương án đảm bảo tài chính
cho chiến lược phát triển của công ty;
4.2.3 Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thực trạng công tác tài chính
của công ty qua 3 năm, từ năm 2008 - 2010; xây dựng phương án đảm bảo tài
chính cho Công ty từ năm 2011 đến 2015;
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Kết quả nghiên cứu đảm bảo tài chính cho chiến lược phát
triển của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên
Chương 3: Các giải pháp nhằm đảm bảo tài chính cho chiến lược phát
triển của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đảm bảo tài chính đối với hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường
1.1.1 Cơ sở lý luận của đảm bảo tài chính đối với hoạt động của doanh nghiệp
1.1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm hoạt động, cung ứng các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trên thị trường với mục đích sinh lời Trong nền kinh tế thị trường tiền đề để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh là phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định Quá trình hoạt động của doanh nghiệp là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Trong quá trình đó phát sinh các luồng tiền tệ gắn với hoạt động đầu tư và các hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp, các luồng tiền tệ bao hàm các luồng tiền tệ đi vào doanh nghiệp và các luồng tiền tệ xuất ra khỏi doanh nghiệp tạo thành sự vận động các luồng tài chính của doanh nghiệp
Gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế hợp thành các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu sau:
- Quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà nước: Quan hệ này được thể hiện trong việc Nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp và doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác: Quan hệ này được biểu hiện cụ thể trong các quan hệ:
+ Quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác phát sinh trong việc mua bán tài sản, vật tư, hàng hóa dịch vụ
Trang 8+ Quan hệ thanh toán giữa các doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế
khác trong việc vay hoặc cho vay vốn hay đầu tư vốn
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với công nhân viên trong doanh nghiệp:
quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán tiền lương,
thưởng , phạt với công nhân viên của doanh nghiệp
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: được thể hiện trong việc quan hệ
thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, trong việc phân phối lợi
nhuận sau thuế của doanh nghiệp
Từ những vấn đề nêu trên có thể rút ra:
- Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình
tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh
nghiệp Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới
hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của
doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp [ 9,7]
- Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt
tới các mục tiêu của doanh nghiệp đề ra Các hoạt động gắn liền với việc tạo
lập, phân phối, sử dụng và vận động chuyển hóa của quỹ tiền tệ thuộc hoạt
động tài chính của doanh nghiệp [ 9,7]
1.1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Trước đây trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, do cơ chế quản lý
tài chính bao cấp dẫn đến tình trạng tài chính của các doanh nghiệp Nhà nước
chỉ giữ một vai trò hết sức thụ động và yếu ớt
Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp chuyển sang hoạt động
theo cơ chế thị trường, hoạt động tài chính của doanh nghiệp ngày càng trở
nên quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại, phát triển và hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp, bởi những lẽ chủ yếu sau:
- Hoạt động tài chính của doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng tới tất
cả các hoạt động của một doanh nghiệp
- Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng lớn Do vậy, sự lựa chọn và sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn và việc sử dụng vốn hiện có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình và hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp
- Các thông tin về tình hình tài chính doanh nghiệp càng trở nên hết sức quan trọng và cần thiết cho người lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp
để kiểm soát và chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, tài chính doanh nghiệp giữ những vai trò chủ yếu sau:
- Tài chính doanh nghiệp huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục [ 9,9]
Vốn tiền tệ là tiền đề cho các hoạt động của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn
và dài hạn cho hoạt động kinh thường xuyên cũng như cho đầu tư phát triển của doanh nghiệp Việc thiếu vốn sẽ làm cho các hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không triển khai được Do vậy, việc đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức huy động vốn của tài chính doanh nghiệp
- Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp [ 9,10]
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng vào việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời
và mức độ rủi ro của dự án từ đó góp phần chọn ra dự án đầu tư tối ưu Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp chớp được các cơ hội kinh doanh Mặt khác việc huy động tối đa số vốn hiện
có vào hoạt động kinh doanh có thể làm giảm bớt và tránh được những thiệt
Trang 9hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt được nhu cầu vay vốn, từ đó
giảm được tiền trả lãi vay
- Tài chính doanh nghiệp là công cụ rất hữu ích để kiểm soát tình hình
kinh doanh của doanh nghiệp [ 9,10]
Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và
thực hiện các chỉ tiêu tài chính, người lãnh đạo và các nhà quản lý doanh
nghiệp có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của
doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời các tồn tại, vướng mắc trong kinh
doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp
với diễn biến thực tế kinh doanh
1.1.1.3 Nội dung chủ yếu của đảm bảo tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp
Đảm bảo tài chính doanh nghiệp thường bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Tham gia đánh giá lựa chọn các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh
Việc xây dựng đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư do nhiều bộ phận
trong doanh nghiệp cùng phối hợp thực hiện Trên góc độ tài chính, điều chủ
yếu là phải xem xét là hiệu quả tài chính của dự án tức là cần xem xét, cân
nhắc giữa chi phí bỏ ra, rủi ro có thể gặp phải và khả năng thu lời khi thực
hiện dự án Việc đánh giá phân tích bằng thước đo tài chính nhằm lựa chọn
các dự án có mức sinh lời cao Vấn đề quan trọng ở đây là tài chính cần xem
xét sử dụng vốn như thế nào? Trên cơ sở tham gia đánh giá và lựa chọn dự án
đầu tư, tài chính doanh nghiệp tham gia định hướng phát triển doanh nghiệp
Trong đó khi xem xét việc bỏ vốn đầu tư thực hiện dự án cần chú ý tới việc
tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo hiệu quả kinh
tế cao trước mắt cũng như lâu dài
- Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động các nguồn vốn đảm bảo
đáp ứng cho hoạt động của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho các
hoạt động của doanh nghiệp ở trong kỳ hay nói cách khác phải trả lời câu hỏi
cần bao nhiêu vốn? Bao hàm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn Và điều cực kỳ quan trong đối với tài chính doanh nghiệp là tổ chức huy động các nguồn vốn đảm bảo kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp Điều
đó có nghĩa là phải trả lời câu hỏi lấy vốn từ đâu Để đi đến việc quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp cần xem xét, cân nhắc trên nhiều mặt Trong đó cần chú ý đến một số vấn đề chủ yếu như: Kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc sử dụng các nguồn vốn
- Tổ chức sử dụng tốt vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi
và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp phải thường xuyên tìm biện pháp góp phần huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn bị ứ đọng Theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán thu hồi tiền bán hàng và các khoản thu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chi tiêu phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Thường xuyên tìm biện pháp thiết lập sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán Đây là một vấn đề hết sức quan trọng trong công tác đảm bảo tài chính của doanh nghiệp
- Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
- Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp và thực hiện tốt việc phân tích tài chính
Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép thường xuyên kiểm soát được tình hình hoạt động của doanh nghiệp Mặt khác định kỳ phải tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp
Trang 10- Thực hiện tốt việc kế hoạch hóa tài chính
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước
thông qua việc lập kế hoạch đảm bảo tài chính Thực hiện tốt việc lập kế
hoạch tài chính là công việc cần thiết giúp cho doanh nghiệp có thể chủ động
đưa ra các giải pháp kịp thời khi có sự biến động của thị trường Quá trình
thực hiện kế hoạnh tài chính cũng là quá trình ra các quyết định tài chính
thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp
1.1.1.4 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến nhu cầu tài chính của doanh nghiệp
Nhu cầu tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi
nhiều nhân tố, sau đây ta xem xét một số nhân tố chủ yếu dưới đây
a) Đặc điểm kinh tế của ngành
Mỗi ngành kinh tế có đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh không
giống nhau Sự không giống nhau đó được phản ánh qua những dấu ấn khác
nhau về mặt tài chính và cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp trong
mỗi ngành
- Doanh nghiệp ngành công nghiệp
Đặc điểm tài chính của doanh nghiệp ngành công nghiệp là: Toàn bộ có
thể chia thành nhiều xí nghiệp đồng thời có thể hạch toán kết quả kinh doanh
trong phạm vi từng xí nghiệp Vì là ngành có năng suất lao động cao, không
những có thể trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác, nên nói chung các
doanh nghiệp công nghiệp có kỹ thuật hiện đại Chu kỳ sản xuất của hầu hết
các doanh nghiệp công nghiệp đều ngắn (trừ ngành đóng tàu và một vài ngành
cơ khí khác ra) Do đó vốn sản phẩm dở dang không nhiều Việc sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm được tiến hành thường xuyên Bởi vậy doanh nghiệp có
mối quan hệ chặt chẽ với thị trường hàng hóa và thị trường vốn [ 10,13]
- Các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng
Đây là ngành công nghiệp đặc biệt, tài chính ngành xây dựng có những
đặc điểm sau đây:
+ Vì thời gian thi công dài, nên phải tổ chức nghiệm thu và thanh toán theo từng phần khối lượng công trình chứ không phải chờ đến khi công trình hoàn tất mới thanh toán như trong công nghiệp
+ Phần lớn số vốn của ngành xây dựng bỏ vào những công trình chưa hoàn thành Vì vậy phải cố gắng tập trung tiền vốn để rút ngắn thời gian thi công xây dựng Việc rút ngắn kỳ hạn thi công xây dựng có ý nghĩa rất lớn đối với việc tiết kiệm vốn, tăng thêm lợi nhuận cho ngành xây dựng [10,13]
- Các doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp
Quá trình tăng trưởng sản phẩm của ngành nông nghiệp là quá trình tăng trưởng tự nhiên của cây trồng hoặc vật nuôi, vì vậy chúng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Khi điều kiện tự nhiên thuận lợi thì được mùa, bội thu Ngược lại khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi thì mất mùa, có khi mất trắng Do đó hiệu quả của tiền vốn bỏ ra trong nông nghiệp không ổn định như các ngành kinh tế khác
Tài sản cố định của ngành nông nghiệp ngoài máy móc thiết bị, nhà xưởng còn có cả cây, con Vì thế tài sản cố định của ngành nông nghiệp có thể tăng giá sau quá trình sử dụng Đòi hỏi chính sách quản lý tài chính của doanh nghiệp nông nghiệp có những đặc thù riêng [ 10,14]
- Các doanh nghiệp thương mại dịch vụ
Chu kỳ kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp thương mại dịch vụ thường rất ngắn Vốn lưu động trong doanh nghiệp thương mại là bộ phận vốn quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ vốn kinh doanh, chủ yếu là vốn hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu, vì thế vốn vay ngắn hạn của doanh nghiệp thường cao hơn các ngành khác
b) Chính sách của Nhà nước
Các chính sách kinh tế của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến tài chính của các doanh nghiệp như chính sách thuế, khấu hao, lãi vay
Trang 11- Thuế: Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp phải nộp nhiều
khoản thuế cho Nhà nước Các chính sách thuế của nhà nước đều ảnh hưởng
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Hầu hết các quyết định trong quản
lý tài chính đều trực tiếp hoặc gián tiếp có ảnh hưởng đến thuế thu nhập
doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng đến đảm bảo tài chính cho hoạt động của
doanh nghiệp
- Khấu hao tài sản cố định: Khấu hao được xem như là một khoản chi phí
được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế doanh nghiệp, do đó nó được xem như là
một yếu tố giúp doanh nghiệp tiết kiệm thuế Chính sách khấu hao tài sản cố
định của nhà nước thay đổi sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp
- Lãi vay: Về nguyên tắc, các doanh nghiệp chỉ vay khi hoạt động có
hiệu quả cao, số lãi đạt được do sử dụng vốn vay phải lớn hơn lãi tiền vay
phải trả Tuy nhiên theo quy định của nhà nước, cho phép các doanh nghiệp
được tính khấu trừ lãi vay vào thu nhập chịu thuế làm giảm thuế thu nhập
doanh nghiệp phải nộp, cho nên nó là yếu tố giúp công ty tiết kiệm thuế
[10,18]
c) Hệ thống tài chính
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có lúc tạm thời thừa vốn,
nhưng cũng có lúc tạm thời thiếu hụt vốn Việc giải quyết những nhu cầu thừa
thiếu trên được thông qua hệ thống tài chính Tùy theo mức độ khác nhau
nhưng hầu hết các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động đều gắn liền với hệ
thống tài chính bao gồm: Thị trường tài chính, các tổ chức tài chính và các
công cụ tài chính
Khi doanh nghiệp thừa vốn, lãnh đạo doanh nghiệp cần quyết định nên
đầu tư số vốn tạm thời dư ra vào thị trường tài chính hay vào các tổ chức tài
chính nhằm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Khi doanh nghiệp tạm thời
thiếu hụt vốn, cần quyết định nên tìm nguồn tài trợ từ thị trường tài chính hay
từ các tổ chức tài chính Ngoài ra doanh nghiệp còn phải quyết định xem xét nên đầu tư hay nên phát hành loại công cụ tài chính nào cho phù hợp Vì vậy đảm bảo tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp luôn gắn liền với hệ thống tài chính [ 10,19]
1.1.1.5 Nội dung và phương pháp đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của doanh nghiệp
Để các mục tiêu chiến lược phát triển của doanh nghiệp thực hiện thành công, doanh nghiệp cần phải sử dụng đồng bộ một loạt các chính sách, trong
đó chính sách đảm bảo nhu cầu tài chính cho hoạt động kinh doanh là một chính sách hết sức quan trọng Để xây dựng chính sách đảm bảo tài chính cho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp chính xác, đầy đủ, có tính thực thi ta phải dựa trên các căn cứ, cơ sở phù hợp đáng tin cậy, và có phương pháp tiên tiến tuân thủ theo quy trình
Vấn đề đầu tiên được đặt ra trong xây dựng chính sách đảm bảo tài chính là phải xác định nhu cầu tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở nhu cầu tài chính ta xây dựng phương án để đáp ứng nhu cầu theo một cơ cấu hợp lý
a) Xác định nhu cầu vốn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
* Vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời [ 9,57]
Các đặc trưng của vốn kinh doanh bao gồm:
- Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định, có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp
- Vốn phải vận động để sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 12- Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có
thể phát huy tác dụng để đầu tư vào kinh doanh
- Vốn phải có giá trị về mặt thời gian, điều này rất có ý nghĩa khi bỏ
vốn vào đầu tư và tính hiệu quả của đồng vốn
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn
vô chủ và không ai quản lý
- Vốn được quan niệm như là một hàng hóa và là hàng hóa đặc biệt, có
thể mua hoặc bán quyền sử dụng vốn trên thị trường, tạo nên sự giao lưu sôi
động trên thị trường vốn, thị trường tài chính
- Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của các tài sản hữu hình mà còn
được biểu hiện bằng tiền của các tài sản vô hình
Nội dung của vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định
và vốn lưu động
- Vốn cố định
Khi đầu tư thành lập một doanh nghiệp, bao gồm việc xây dựng nhà
xưởng, nhà làm việc và quản lý, lắp đặt hệ thống máy móc thiết bị, mua sắm
xe cộ, phương tiện, chuyển giao công nghệ, bí quyết kinh doanh đến khi
các công việc hoàn thành được bàn giao và doanh nghiệp bắt đầu tiến hành
sản xuất được Như vậy từ việc vốn đầu tư đó đã chuyển sang vốn cố định của
doanh nghiệp
Vậy: Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng
trước về tài sản cố định; đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần từng
phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng chu
chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị [ 9,64]
Vốn cố định của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong kinh
doanh Việc đầu tư đúng hướng vào vốn cố định sẽ mang lại hiệu quả và năng
suất cao trong kinh doanh, góp cho doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn và phát
triển bền vững trong kinh tế thị trường
- Vốn lưu động
Trước khi bước vào kinh doanh, doanh nghiệp nào cũng cần một số vốn
để đầu tư vào các tài sản trên, số tiền ứng trước về các tài sản đó được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn lưu động được chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu
từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư - hành hóa và quay lại hình thái tiền
tệ Vì trong quá trình hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục cho nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ thành sự chu chuyển của tiền vốn
Do sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các
bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong kinh doanh
Tóm lại: Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình
thành lên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục [ 9,85]
Căn cứ vào công dụng của các loại tài sản lưu động của doanh nghiệp thì vốn lưu động bao gồm các khoản vốn sau:
+ Vốn lưu động trong quá trình dự trữ
+ Vốn lưu động nằm trực tiếp trong quá trình sản xuất - kinh doanh + Vốn lưu động trong quá trình tiêu thụ
Dựa theo hình thái biểu hiện và chức năng của các thành phần vốn lưu động có thể chia thành:
+ Vốn vật tư, hàng hóa
+ Vốn tiền tệ
Kết cấu vốn lưu động là tỷ trọng của từng loại vốn lưu động trong tổng
số vốn lưu động Nghiên cứu kết cấu vốn lưu động sẽ giúp chúng ta thấy được tình hình phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản vốn chiếm trong mỗi giai đoạn luân chuyển, từ đó xác định được trọng điểm quản lý vốn lưu động
Trang 13* Phương pháp xác định nhu cầu vốn kinh doanh cho hoạt động của
doanh nghiệp
- Căn cứ xác định nhu cầu vốn kinh doanh
Xác định vốn kinh doanh cho hoạt động của doanh nghiệp tức là xác
định mức tài sản, nhu cầu tài sản bổ sung để đáp ứng thực hiện chỉ tiêu doanh
thu và các tỷ số tài chính mục tiêu của kỳ kế hoạch Như vậy căn cứ để xác
định nhu cầu vốn kinh doanh cho hoạt động của doanh nghiệp được thông qua
các chỉ tiêu sau:
+ Doanh thu kỳ kế hoạch
+ Các tỷ số tài chính kỳ kế hoạch
Các tỷ số khả năng thanh toán
Các chỉ số quản lý tài sản
Vòng quay Doanh thu
Hàng tồn kho Hàng tồn kho trong kỳ
thu nợ Doanh thu/360
thanh toán lãi vay Lãi vay
Các chỉ số khả năng sinh lợi
thuế trên doanh thu Doanh thu
thuế trên tài sản Tổng tài sản
thuế trên vốn cổ phần Tổng vốn góp cổ phần Dựa trên chỉ tiêu doanh thu và các tỷ số tài chính nêu trên chúng ta xây dựng phương pháp xác định nhu cầu vốn cho kinh doanh của doanh nghiệp
- Phương pháp xác định nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp
Phương pháp xác định nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện qua các bước sau đây:
Bước1: Xác định chỉ tiêu doanh thu kỳ kế hoạch (DTKH) cho các loại sản phẩm, dịch vụ
Ta biết doanh thu tiêu thụ đòi hỏi phải có sự cân bằng nhất định với nhu cầu vốn của doanh nghiệp Do đó khi tăng doanh thu đòi hỏi phải có sự tăng nhu cầu vốn Tuy nhiên sự gia tăng doanh thu không nhất thiết dòi hỏi sự gia tăng cùng tỷ lệ của nhu cầu vốn mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và khả năng quản trị của doanh nghiệp
Trang 14Căn cứ vào hiệu quả kinh doanh, môi trường kinh doanh, đối thủ cạnh
tranh, các sản phẩm thay thế của từng loại sản phẩm để xác định doanh thu
của từng loại sản phẩm, dịch vụ trong kỳ kế hoạch
Bước 2: Xây dựng chỉ tiêu doanh thu trên tổng nhu cầu vốn cho từng
loại sản phẩm (vòng quay của tổng tài sản)
Ta có chỉ số:
tài sản (VQTTS) Tổng tài sản (Tổng nhu cầu vốn)
Căn cứ vào chỉ tiêu vòng quay tổng tài sản kỳ trước để xây dựng các
chỉ tiêu vòng quay tổng tài sản kỳ kế hoạch của từng loại sản phẩm ở mức độ
tin cậy nhất
Bước 3 Tính toán sự gia tăng của các khoản phải thu của kỳ kế hoạnh
so với kỳ trước của từng loại sản phẩm
Căn cứ vào các chỉ tiêu kỳ thu nợ kỳ trước, tính toán và dự báo khả
năng thu nợ của từng loại sản phẩm để xây dựng các chỉ tiêu kỳ thu nợ kỳ kế
hoạch
Sự gia tăng Kỳ thu nợ Kỳ thu nợ Doanh thu
khoản phải = kỳ kế hoạnh - kỳ trước x kỳ kế hoạch 360
thu (GTKPT) (KTN KH) (KTN KT) (DT KH)
Đây là khoản chênh lệch gia tăng khoản phải thu giữa kỳ kế hoạch và
kỳ trước Nói cách khác đây là khoản chênh lệch vốn gia tăng bị khách hàng
chiếm dụng của kỳ kế hoạch so với kỳ trước
Bước 4 Xác định nhu cầu vốn để đầu tư đổi mới tài sản cố định: Căn
cứ vào dây chuyền công nghệ hiện có, phân tích khả năng đáp ứng các mục
tiêu của kế hoạch kỳ tới và chiến lược phát triển của doanh nghiệp, xác định
=
=
có phải sửa chữa, đầu tư mở rộng hay thay đổi dây chuyền công nghệ hay không Nếu có sự thay đổi phải tính toán xem xét các phương án hợp lý giữa mua mới hoặc thuê tài sản Nếu đầu tư mới, ta căn cứ vào nhu cầu cần thiết phải đổi mới các loại tài sản cố định của doanh nghiệp, giá bán dự báo của các tài sản đó và sau khi trừ đi phần giá trị thanh lý tài sản cũ thu hồi (nếu có) Nhu cầu vốn Giá trị mua Giá trị thu
tài sản cố định = mới của tài - hồi của tài sản cố đầu tư (VTSCĐĐT) sản cố định định thanh lý + Tính toán nhu cầu vốn cố định kỳ kế hoạch
Nhu cầu vốn Doanh thu Vòng quay
cố định kỳ = dự kiến của : vốn cố định
kế hoạch (VCĐKH) kỳ kế hoạch kỳ kế hoạch
Ta biết nhu cầu vốn cố định năm kế hoạch do phần vốn cố định còn lại sau khi đã thanh lý một số tài sản và một phần vốn cố định mới đầu tư tài sản đáp ứng do đó:
Phần vốn cố định Nhu cầu Phần vốn cố định đầu tư mới đáp ứng = vốn cố định - kỳ trước còn lại sau cho nhu cầu vốn cố định kỳ kế hoạch khi đã thanh lý tài sản
kỳ kế hoạch (VCĐBS) Bước 5 Xác định tổng nhu cầu vốn
+ Nhu cầu vốn cần cho kinh doanh các loại sản phẩm (VKD) VKD = DTKH / VQTTS + GTKPT
Ta tính toán cho từng loại sản phẩm, dịch vụ sau đó tổng hợp nhu cầu vốn của tất cả các loại sản phẩm
+ Tổng nhu cầu vốn cần cho kinh doanh kỳ kế hoạch (TNCV), được xác định như sau:
Trang 15Bước 6: Xác định nhu cầu vốn bổ sung
Sau khi đã xác định được tổng nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp kỳ kế hoạch, ta phải xác định được nhu cầu vốn
bổ sung là bao nhiêu? và nhu cầu vốn bổ sung này được đảm bảo bằng các
nguồn như thế nào Vấn đề đặt ra là khi sử dụng vốn doanh nghiệp phải trả
một khoản chi phí và khoản chi phí này sẽ ảnh hưởng đến lãi của doanh
nghiệp Mặt khác ta cũng cần phải xem xét khi sử dụng nguồn vốn bổ sung
này nó ảnh hưởng như thế nào, có đảm bảo được các tỷ số tài chính mục tiêu
hay không? các tỷ số tài chính này cho thấy doanh nghiệp đang ở mức nào?
Để giải quyết các vấn đề trên ta phải thiết lập được báo cáo tài chính
cho kỳ kế hoạch của doanh nghiệp Thông thường người ta sử dụng phương
pháp bảng cân đối dự toán để lập báo cáo tài chính cho kỳ kế hoạch
Phương pháp bảng cân đối dự toán được thực hiện qua các bước như sau:
+ Lập báo cáo thu nhập cho kỳ kế hoạch
Mục đích của việc lập báo cáo thu nhập là để xác định phần lợi nhuận
giữ lại mà doanh nghiệp có thể có trong kỳ hoạt động tới
Ta biết khi doanh thu tăng lên thì cần được hỗ trợ bởi mức tài sản cao
hơn, hoặc nói cách khác khi doanh thu tăng thì tài sản của doanh nghiệp nhất
thiết phải tăng lên Doanh nghiệp cần nhiều tiền mặt hơn cho các nghiệp vụ,
doanh thu tăng dẫn tới mở rộng diện và quy mô bán chịu làm khoản phải thu
tăng lên, đồng thời hàng lưu kho sẽ tăng
Mặt khác một khi tài sản tăng lên thì phần tài sản gia tăng cũng phải
được cung cấp tài chính tương ứng, tức nguồn vốn của doanh nghiệp phải
được đáp ứng
Trước hết ta dự kiến tỷ lệ tăng giá thành, khấu hao, thuế, tăng cùng
với tỷ lệ tăng doanh thu
Tỷ lệ cổ tức được xác định theo mục tiêu kế hoạch
Vì chưa biết vốn vay cần bổ xung, nên ta giả định lãi vay không tăng Trên cơ sở các dự kiến trên ta xác định được khoản lợi nhuận giữ lại để
bổ sung vốn (chưa tính đến yếu tố tăng lãi vay)
+ Lập bảng cân đối dự toán cho kỳ kế hoạch
Theo đẳng thức kế toán:
Tổng tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu
Khi doanh thu tăng lên thì các tài sản của doanh nghiệp như: tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản cố định cũng phải tăng lên; do đó phần nguồn vốn của doanh nghiệp cũng phải tăng tương ứng Ta xác định mức tăng của các nguồn vốn này
Một số khoản mục có xu hướng tăng cùng với tỷ lệ tăng doanh thu:
phải trả tăng lên
Doanh thu tăng làm cho các khoản nợ định mức (nợ định kỳ) cũng tăng lên
Một số khoản mục có xu hướng tăng không cùng tăng tỷ lệ với doanh thu:
thu vì:
Lợi nhuận giữ lại mới = Lợi nhuận giữ lại cũ + Gia số
Tương tự các khoản vay ngắn hạn, dài hạn, vốn cổ phần sẽ tăng nhưng không tăng cùng với tỷ lệ tăng doanh thu, sự thay đổi của chúng phụ thuộc vào quyết định của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp
Ở bước này, các khoản mục phía nguồn vốn có xu hướng tăng cùng với
tỷ lệ tăng doanh thu được xác định tăng tương ứng; còn các khoản có xu hướng không tăng cùng với tỷ lệ tăng doanh thu thì tạm giữ nguyên như kỳ trước (sẽ điều chỉnh ở các bước sau)
Trang 16Như vậy ở bước này, ta xác định được nhu cầu vốn bổ sung bằng sự
chênh lệch giữa nhu cầu tài sản và vốn tự phát; phần vốn này sẽ được trang
trải bằng các nguồn vốn huy động từ bên ngoài
+ Dự kiến huy động vốn bổ sung
Việc huy động vốn bổ sung từ bên ngoài có nhiều hình thức, lựa chọn
hình thức nào, Mỗi hình thức là bao nhiêu phải căn cứ dựa trên:
Cơ cấu vốn mục tiêu
Thực trạng thị trường vốn vay
Các quy chế vay nợ hiện hành
Vấn đề nảy sinh khi doanh nghiệp vay thêm vốn, lãi vay sẽ tăng, đồng
thời nếu phát hành thêm cổ phiếu, tổng cổ tức sẽ tăng Điều này phải được
phản ánh vào báo cáo thu nhập trong quá trình kế hoạch
+ Điều chỉnh phản hồi
Từ các bước trên ta nhận thấy:
Tăng doanh thu dẫn tới tài sản tăng
Tăng tài sản dẫn tới cần thiết huy động vốn bổ sung
Huy động vốn bổ sung làm tăng thêm chi phí
Các chi phí tăng dẫn đến gia số lợi nhuận giữ lại giảm
Để giải quyết các vấn đề trên được gọi là quá trình điều chỉnh phản hồi
Quá trình được tiến hành như sau:
Tính lãi vay cho phần vốn bổ sung Khi lãi vay tăng lên sẽ làm thuế
thu nhập giảm xuống
Phản ánh các thay đổi và xem xét ảnh hưởng:
lợi nhuận giữ lại mới giảm bao nhiêu?
Khi lợi nhuận giữ lại giảm sẽ làm cho nguồn vốn giảm đi và mất cân bằng với tài sản Khoản chênh lệch này lại là phần vốn cần bổ sung thêm
Tiếp tục phản ánh các thay đổi và xem xét ảnh hưởng
Quá trình điều chỉnh được tiếp tục thực hiện với phần vốn bổ sung mới sau một số lần điều chỉnh sự chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn nhỏ ở mức doanh nghiệp chấp nhận được thì kết thúc quá trình điều chỉnh Sau khi kết thúc quá trình điều chỉnh, xác định nhu cầu vốn bổ sung
Nhu cầu vốn bổ sung (NCVBS) = Tổng nhu cầu vốn kỳ kế hoạch (TNCV) - Tổng vốn hiện có(VHC) - Vốn tự phát gia tăng (VTPGT) - gia số lợi nhuận giữ lại (GSLNGL)
nhờ các nghiệp vụ thường kỳ của hoạt động kinh doanh, bao gồm: Khoản phải trả khách hàng khi mua chịu, nợ tích lũy (tiền lương, thuế giữa các kỳ thanh toán)
lại nhằm tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh [ 13,37]
+ Phân tích kết quả dự báo
Từ kết quả của việc lập báo cáo thu nhập, báo cáo kế toán, ta tiến hành phân tích các chỉ số tài chính chủ yếu như:
Chỉ số lưu động
Kỳ thu nợ
Vòng quay tổng tài sản
Lợi nhuận sau thuế trên doanh thu
Lợi nhuận trước thuế trên tài sản
Lợi nhuận trước thuế trên vốn cổ phần
Trang 17So sánh các chỉ số tài chính của doanh nghiệp với các chỉ số năm trước,
chỉ số mục tiêu Từ đó nhận định về vị thế tài chính của doanh nghiệp và cần
phải có biện pháp, phương hướng, chính sách quản lý để thay đổi các chỉ số
tài chính không tốt, không phù hợp mục tiêu
Ngoài việc xác định tổng nhu cầu vốn và nhu cầu vốn bổ sung cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp nói trên, nhiều khi các nhà lãnh đạo doanh
nghiệp cần những thông tin nhanh chóng về nhu cầu vốn để có những quyết
định phù hợp, các doanh nghiệp có thể xác định thêm nhu cầu vốn cố định và
vốn lưu động đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh
b) Cơ cấu nguồn vốn và phương pháp đảm bảo nhu cầu tài chính cho
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Cơ cấu nguồn vốn
Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn chủ sở
hữu và nợ phải trả (nguồn vốn huy động ngoài doanh nghiệp)
Tỷ trọng giữa nguồn vốn huy động ngoài doanh nghiệp so với tổng số
nguồn vốn gọi là cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp Nghiên cứu cơ cấu
nguồn vốn cho ta biết trong tổng số vốn đang sử dụng có bao nhiêu phần là
vốn được huy động từ bên ngoài qua đó thấy được mức độ tham gia của vốn
chủ sở hữu Một cơ cấu nguồn vốn hợp lý phản ánh được sự kết hợp hài hòa
giữa các khoản vay nợ dài hạn, nợ ngắn hạn với các khoản vốn hình thành từ
vốn góp (hoặc ngân sách), từ khấu hao và lợi nhuận để lại Vậy xem xét cơ
cấu nguồn vốn cho ta biết nghệ thuật điều hành, sử dụng các khoản nợ đi vay
của doanh nghiệp để làm tăng lợi nhuận Thông qua cơ cấu nguồn vốn, có thể
đo được sự đóng góp của vốn chủ sở hữu so với số nợ đi vay thông qua cơ
cấu nguồn vốn cao hay thấp có thể biết được mức độ đảm bảo cho các khoản
nợ đi vay có khả năng hoàn trả đúng hạn hay không
- Các chính sách tài chính của doanh nghiệp
Tùy theo tình hình tài chính cụ thể của từng doanh nghiệp, các chỉ số mục tiêu kỳ kế hoạch; doanh nghiệp chọn chính sách tài chính cho phù hợp + Đối với vốn cố định
Để cung cấp vốn cố định cho nhu cầu vốn bổ sung của doanh nghiệp, ta
có thể lựa chọn hai hình thức là mua tài sản và thuê tài sản
Thông thường, người ta so sánh giá trị hiện tại của chi phí mua với giá trị hiện tại của chi phí thuê tài sản trên cơ sở xác định dòng tiền của dự án mua và dòng tiền của dự án thuê tài sản để quyết định Nếu hình thức nào có giá trị hiện tại lớn hơn sẽ là hình thức để doanh nghiệp quyết định
+ Đối với vốn lưu động
Chính sách vốn lưu động là tập hợp các chủ trương và biện pháp cơ bản của doanh nghiệp liên quan đến: Mức tài sản lưu động mục tiêu, tức là tổng giá trị của mỗi loại tài sản lưu động mà doanh nghiệp cần duy trì và cách thức cung cấp tài chính cho các tài sản lưu động đó
Căn cứ vào chu kỳ vận động của tiền và các chỉ số tài chính mục tiêu
để xác định giá trị của mỗi loại tài sản lưu động doanh nghiệp cần duy trì
Các chính sách đầu tư vốn lưu động:
Chính sách vốn lưu động “lỏng lẻo”: Là một chính sách theo đó người ta duy trì một khối lượng lớn tiền mặt, chứng khoán dễ bán và hàng lưu kho, đồng thời doanh thu bán ra được khuyến khích bằng các điều khoản bán chịu rộng rãi, do đó các khoản phải thu cũng tăng lên
Đây là một chính sách an toàn cho công ty trước khả năng nhu cầu thị trường tăng lên đột ngột, tuy nhiên hiệu quả kinh doanh thấp [ 13, tr.49]
gắng duy trì một khối lượng hạn chế về tiền mặt, chứng khoán và hàng lưu kho, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các điều khoản bán chịu để giảm tới mức thấp nhất khoản phải thu
Trang 18Đây là một chính sách có thể mang lại lợi nhuận cao cho công ty,
nhưng đồng thời cũng là một chính sách rủi ro nếu có những biến động bất
thường [ 13,50]
người ta cố gắng duy trì mức đầu tư trung bình vào vốn lưu động, do đó lợi
nhuận và rủi ro ở mức trung bình [ 13,50]
Các doanh nghiệp phải căn cứ vào thực tế năng lực tài chính, vào môi
trường kinh doanh, đặc điểm ngành nghề kinh doanh và dặc biệt là các tỷ
số tài chính mục tiêu để lựa chọn chính sách đầu tư hợp lý
Các chính sách tài trợ vốn lưu động (chính sách cung cấp tài chính
cho các tài sản lưu động)
Tài sản lưu động thường xuyên là các tài sản doanh nghiệp vẫn duy trì
ngay cả trong một thời kỳ không cao điểm của hoạt động kinh doanh
Tài sản lưu động tạm thời là những tài sản thường biến đổi theo các
biến động mang tính thời vụ hoặc chu kỳ của hoạt động kinh doanh
nhận rủi ro bằng cách dùng các nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản lưu
động tạm thời và một phần tài sản lưu động thường xuyên
các nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho toàn bộ tài sản thường xuyên và một
phần tài sản lưu động tạm thời Đây là một chính sách an toàn cho các hoạt
động của các doanh nghiệp
Chính sách phối hợp kỳ hạn: Là một chính sách theo đó doanh
nghiệp cố gắng đến mức cao nhất nhằm phối hợp kỳ hạn của tài sản và nguồn
vốn, sao cho: Tài sản lưu động lâm thời được tài trợ bằng nợ ngắn hạn không
tự phát và tài sản lưu động thường xuyên, tài sản cố định được tài trợ bởi nợ
dài hạn hoặc vốn cổ phần cộng nợ tự phát [ 13,50-51]
Việc doanh nghiệp lựa chọn chính sách tài trợ nào phải tuỳ thuộc và điều kiện tài chính cụ thể của từng doanh nghiệp và trong các thời kỳ nhất định để đạt được hiệu quả cao nhất
- Phương pháp huy động nguồn vốn đảm bảo nhu cầu tài chính cho doanh nghiệp
Trên cơ sở xác định được nhu cầu vốn bổ sung cần thiết cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh này
Huy động vốn để đảm bảo nhu cầu tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp có thể thực hiện từ hai nguồn: Nguồn vốn từ bên trong và nguồn vốn
từ bên ngoài
+ Huy động nguồn vốn từ bên trong doanh nghiệp
Nhìn nhận về cơ bản lâu dài, nguồn vốn từ bên trong là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển vững chắc của một doanh nghiệp và cũng chính là sự thể hiện phát huy nội lực của doanh nghiệp Nguồn vốn bên trong bao gồm các nguồn sau:
Tiền khấu hao cơ bản tài sản cố định
Lợi nhuận để lại tái đầu tư
Tăng vốn điều lệ bằng cách phát hành thêm cổ phiếu
Giải phóng thu hồi nhanh vốn các tài sản vật tư ứ đọng không cần dùng + Huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp
Nhìn chung huy động vốn bên trong của phần lớn các doanh nghiệp hiện nay còn hạn chế Để đáp ứng nhu cầu về vốn doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài
Những điểm lợi và bất lợi của hình thức huy động vốn: Thông thường mỗi hình thức huy động vốn đều đưa lại những lợi ích nhất định
Trang 19cho doanh nghiệp, đồng thời nó cũng có những hạn chế và đưa lại những
điểm bất lợi
bên ngoài doanh nghiệp phải trả chi phí cho việc sử dụng vốn Điều đó đòi
hỏi phải tính toán chi phí sử dụng vốn huy động từ các nguồn khác nhau Điều
quan trọng là đánh giá được hiệu quả của đồng vốn huy động bỏ vào kinh
doanh, cần tính đến yếu tố rủi ro có thể gặp phải Vấn đề chủ yếu để quyết
định lựa chọn nguồn vốn huy động kinh doanh là so sánh chi phí sử dụng vốn
và hiệu quả vốn đầu tư mang lại Trong đó, cần tính đến chi phí cơ hội đầu tư
dụng Đây là hình thức huy động vốn từ bên ngoài có tính chất truyền thống
của các doanh nghiệp
Mua thiết bị trả chậm của các hãng cung cấp thiết bị
Thực hiện liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế khác
Thuê tài sản
Trong hoạt động kinh doanh, thuê tài sản là một phương thức giúp cho
doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động
kinh doanh của mình Có hai phương thức giao dịch chủ yếu: Thuê vận hành
và thuê tài chính
Trái phiếu doanh nghiệp là chứng chỉ vay vốn do doanh nghiệp phát
hành, thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của doanh nghiệp thanh toán số lợi tức
và tiền vay vào những thời hạn đã xác định cho người nắm giữ trái phiếu
Doanh nghiệp là người phát hành và với tư cách là người đi vay Thông
qua việc bán trái phiếu ra công chúng doanh nghiệp có thể thực hiện vốn vay
trung hạn và dài hạn để đầu tư phát triển Người mua trái phiếu với tư cách là người cho vay
Việc huy động vốn bằng phát hành trái phiếu của doanh nghiệp còn rất hạn chế Tuy nhiên khi thị trường chứng khoán phát triển thì trái phiếu sẽ trở thành công
cụ quan trọng để doanh nghiệp huy động thêm vốn đầu tư qua thị trường
1.1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về công tác huy động đảm bảo nguồn vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt nam và Nhật Bản
1.1.2.1 Thực tiễn công tác huy động vốn của các doanh nghiệp Việt nam hiện nay
Dù kinh tế vĩ mô đã có chuyển biến theo hướng tích cực, một số lĩnh vực có dấu hiệu trở lại quỹ đạo ổn định, nhưng tình hình kinh tế 6 tháng cuối năm 2011 được dự đoán còn nhiều khó khăn, thách thức Đặc biệt là tăng trưởng kinh doanh của doanh nghiệp sẽ giảm trong thời gian tới Bởi lãi suất cho vay cao, trong khi giá nguyên nhiên liệu có nhiều biến động đã khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp tục sản xuất, thậm chí là phá sản Trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất (bao gồm
cả nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu và sản xuất trong nước) tăng 18,32%, trong đó có một số loại còn tăng cao hơn, như giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp - thủy sản tăng tới 26,2%, cho sản xuất thực phẩm, đồ uống và thuốc lá tăng 19,8%, cho sản xuất than cốc, sản phẩm dầu
mỏ tinh chế tăng 19,6%
Theo tổng hợp của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt nam (VCCI), trong sáu tháng đầu năm có 39.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động Nhưng điều quan trọng là số lượng doanh nghiệp đang thực sự hoạt động không nhiều như số liệu đăng ký, do có khoảng 30% doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động hoặc chưa hoạt độ
Lãi suất vay ngân hàng ở mức cao và kéo dài, nhiều doanh nghiệp đã phải thu hẹp sản xuất, lao động phải ngừng nghỉ việc do khó tiếp cận được
Trang 20nguồn vốn này, hoặc vay được nhưng với lãi suất vượt xa so với khả năng
sinh lời của doanh nghiệp Tăng trưởng tín dụng của ngân hàng vì thế cũng
thấp và nợ xấu của ngân hàng vì thế mà tăng lên
Theo kết quả khảo sát tại Hội nghị Thường niên Việt Nam CFO năm
2011 với 300 doanh nghiệp tham dự, 32% doanh nghiệp được hỏi cho biết
vay vốn ngân hàng vẫn là nguồn huy động vốn chính trong thời gian qua Hai
hình thức huy động vốn phổ biến tiếp theo là huy động vốn trong nội bộ
doanh nghiệp (21%) và vốn đối ứng của khách hàng (17%)
Mặc dù tín dụng ngân hàng vẫn là kênh truyền thông được ưa chuộng,
nhưng các doanh nghiệp cho rằng lạm phát và lãi suất cao, cộng với tỷ giá
không ổn định và thắt chặt cho vay và hạn mức tín dụng quá khắt khe của các
ngân hàng đang là những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới khả năng huy động
vốn của doanh nghiệp
Có tới 40% doanh nghiệp cho rằng khó khăn lớn nhất mà họ phải đối
mặt là lãi suất và các loại phí đi vay quá cao, đồng thời, khó đáp ứng điều
kiện cho vay của các nhà đầu tư hay bên cung ứng vốn
Trong bối cảnh siết tín dụng và thị trường chứng khoán ảm đạm như
hiện nay, doanh nghiệp cho rằng quan trọng nhất là phải tái cấu trúc nguồn
vốn để sử dụng hiệu quả đồng vốn hiện có của doanh nghiệp, tối ưu hóa các
nguồn vốn nhàn rỗi và thu hẹp danh mục đầu tư với những dự án chưa cần
thiết để tiết kiệm chi phí
Dưới đây là một số kết quả khảo sát được thực hiện tại Hội nghị thường
niên Vietnam CFO Summit 2011 được tổ chức ngày 10/06/2011 tại Khách
sạn Sheraton (Hà Nội) với chủ đề: "Tối ưu hóa cấu trúc vốn và Hiệu quả huy
động vốn - Tận dụng cơ hội bứt phá trong giai đoạn bất ổn":
Biểu đồ 1.1: 3 nguồn huy động vốn chính của doanh nghiệp
Biểu đồ 1.2: 3 yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến việc tiếp cận các kênh vay vốn
của doanh nghiệp
Những yếu tố liên quan đến quản trị DN
Những yêu cầu từ phía nhà đầu tư
Thắt chặt cho vay và hạn mức tín dụng khắt khe của các NH
Tỷ giá không ổn định
Sự suy giảm của thị trường chứng khoán
Lạm phát và lãi suất cao
16%
27%
4%
7%
Trang 21Biểu đồ 1.3: 3 khó khăn lớn nhất doanh nghiệp phải đối mặt trong việc huy
động vốn thời gian qua
Biểu đồ 1.4: Các biện pháp doanh nghiệp sử dụng để đảm bảo vốn cho hoạt
động sản xuất kinh doanh
Khác
Chưa đủ uy tín đối với nhà đầu tư hay bên cung ứng vốn
Thiếu thông tin về các nguồn huy động vốn phù hợp
Thời gian giải ngân chậm
Lãi suất và các loại phí đi vay quá cao
Khó đáp ứng điều kiện cho vay của nhà đầu tư hay bên cungứng vốn
Tìm kiếm vốn từ hoạt động M&A
Tái cấu trúc nguồn vốn để sử dụng hiệu quả đồng vốn hiện
có của doanh nghiệp
Phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Tối ưu hoá các nguồn vốn nhàn rỗi
Thu hẹp danh mục đầu tư đối với những dự án
Biểu đồ 1.5: 3 giải pháp được doanh nghiệp ưu tiên hàng đầu để tái cấu trúc lại
cơ cấu vốn hiện tại
Biểu đồ 1.6: Xu hướng thay đổi cơ cấu vốn trong 1 năm tới
1.1.2.2 Kinh nghiệm hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhật bản
Doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhật Bản có thể được hỗ trợ vốn ngân hàng qua việc chứng minh khả năng phát triển trong tương lai
Nâng cao công tác quản trị của DN
Thường xuyên đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Tổ chức tốt việc tiêu thụ, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển VLĐ
Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu, hạn chế tối đa lượng vốn bị
Không thay đổi do cấu trúc vốn hiện tại đã đáp ứng yêu cầu
của doanh nghiệp
Tăng tỉ lệ vốn cổ phần - giữ nguyên tỉ lệ nợ
Trang 22Tại Hội thảo “Giới thiệu về tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”, do
Viện nghiên cứu Đào tạo và Nghiên cứu quốc tế (IIST) phối hợp với Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa tổ chức tại TP Hồ Chí Minh,
các chuyên gia Nhật Bản đã nêu ra nhiều kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc hỗ
trợ vốn cho khối doanh nghiệp này Trên cơ sở đó, Việt Nam có thể học hỏi, vận
dụng để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tồn tại và phát triển…
Theo ông Võ Tân Thành, Giám đốc Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam Chi nhánh TP Hồ Chí Minh, hiện nay, 98% doanh nghiệp
Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa Các doanh nghiệp này rất năng động, góp
phần không nhỏ giúp nền kinh tế vượt qua khó khăn trong khủng hoảng vừa
qua Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn đang đối mặt với nhiều khó
khăn về tài chính do không có nhiều tài sản thế chấp, khó vay vốn ngân hàng
Trên thực tế, dù có được những phương án kinh doanh tốt, nhưng
không có tài sản thế chấp, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam vẫn rất khó
vay được vốn của ngân hàng Ông Tatsuya Hoshino - Giám đốc Viện Nghiên
cứu kinh tế Việt Nam cho biết, trong trường hợp như vậy, vẫn có cách hỗ trợ
doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua việc chứng minh khả năng phát triển
trong tương lai của doanh nghiệp
“Ví dụ, một doanh nghiệp xe hơi không có vốn, nhưng họ có điểm
mạnh về mặt kỹ thuật, chúng tôi đã đề nghị Chính phủ hỗ trợ vốn cho họ Đây
là một cách rất thực tế Nếu doanh nghiệp nhỏ và vừa không có tiền, không có
thế chấp, nhưng có ý tưởng và kỹ thuật tốt, thì cần giải thích cho Chính phủ
và ngân hàng để được hỗ trợ Mặt khác, doanh nghiệp nhỏ và vừa không có
vốn cũng có thể kết hợp với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để được
hỗ trợ”, ông Tatsuya Hoshino cho biết thêm
Cũng theo ông Tatsuya Hoshino, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Nhật Bản
thậm chí có thể tận dụng quyền sở hữu trí tuệ để tiếp cận nguồn vốn, mà
không cần tài sản thế chấp
Ở góc độ khác, hiện nay, mức lãi suất cho vay của Nhật Bản rất thấp, chỉ 2,5%/năm, do lạm phát ở Nhật rất thấp (có khi còn giảm phát), nên nhiều doanh nghiệp Việt Nam rất muốn tiếp cận để vay vốn từ các quỹ tài chính của nước này
(Nguồn: Baodautu.vn, số ra ngày thứ sáu, 21/01/2011)
1.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài
1.2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
Để thực hiện được các mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các câu hỏi chủ yếu sau đây:
- Cơ sở khoa học của công tác nghiên cứu đảm bảo tài chính đối với hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
- Thực trạng công tác đảm bảo tài chính đối với hoạt động của Công ty
cổ phần Môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên như thế nào?
- Xây dựng phương án và các giải pháp nhằm đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của Công ty cổ phần Môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên?
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
1.2.2.1 Thu thập, tổng hợp dữ liệu
Sử dụng phương pháp thu thập mọi nguồn thông tin, dữ liệu có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình phân tích, dự báo tài chính Bao gồm từ những nguồn cung cấp sau:
- Thông tin, dữ liệu từ bên ngoài: Báo cáo của UBND tỉnh, Ban đổi mới
và phát triển Doanh nghiệp Nhà nước tỉnh Thái nguyên; Sở Tài chính; Cục thống kê, từ nguồn sách, báo, tạp chí, trang tin điện tử…
- Thông tin, dữ liệu nội bộ: Báo cáo tài chính, các báo cáo quản trị, báo cáo chiến lược phát triển của công ty… trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong báo cáo tài chính doanh nghiệp năm 2008, 2009, 2010 là những nguồn thông tin chủ yếu và đặc biệt quan trọng
Trang 23Các thông tin, tài liệu thu thập được tiến hành chọn lọc, hệ thống hóa
để phù hợp cho tổng hợp, tính toán, phân tích
1.2.2.2 Phương pháp phân tích
Về lý thuyết, có rất nhiều phương pháp nhưng trên thực tế ta dùng
phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ lệ
- Phương pháp so sánh:
+ Về nguyên tắc cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được
của các chỉ tiêu (thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất, đơn
vị tính toán…)
+ Gốc so sánh được lựa chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian
+ Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch
+ Giá trị so sánh có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối
hoặc số bình quân
Nội dung so sánh bao gồm:
So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ
xu hướng thay đổi
So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số kế hoạch để thấy mức độ phát triển
mại cùng thời điểm để xác định được hiệu quả của chỉ tiêu
So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với
tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả
về số tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó thông qua các kỳ
- Phương pháp phân tích tỷ lệ: Phương pháp này dựa trên ý nghĩa
chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Sự
biến đổi các tỷ lệ là sự biến đổi các đại lượng tài chính Về nguyên tắc
phương pháp tỷ lệ yêu cầu cần phải xác định được các ngưỡng, các định mức
để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các
tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu
Trong phân tích đề tài, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ
lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
1.2.2.3 Phương pháp dự báo
Từ việc phân tích thực trạng tài chính cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiện tại và 3 năm gần đây 2008 - 2010, kết hợp với chiến lược phát triển trung hạn của công ty 2011 - 2015, thực trạng và xu thế phát triển kinh tế xã hội của địa phương để dự báo cho công tác đảm bảo tài chính trong tương lai của doanh nghiệp
Để nâng cao mức độ chính xác của dự báo, thông thường ta kết hợp cả hai phương pháp dự báo định tính và định lượng Bên cạnh đó, vấn đề cần dự báo đôi khi không thể thực hiện được thông qua một phương pháp dự báo đơn
lẻ mà đòi hỏi kết hợp nhiều hơn một phương pháp nhằm mô tả đúng bản chất
sự việc cần dự báo
1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài được trình bày chi tiết ở phần lý luận trên, bao gồm các nhóm chỉ tiêu chính như:
+ Các tỷ số về khả năng thanh toán:
Chỉ số lưu động: Tính bằng tài sản lưu động trên tổng nợ ngắn hạn
nợ ngắn hạn,…
+ Các chỉ số về quản lý tài sản:
Vòng quay hàng tồn kho: Tính bằng doanh thu trên hàng tồn kho trong kỳ
Vòng quay tài sản cố định: Doanh thu trên tài sản cố định bình quân
Vòng quay tổng tài sản: Doanh thu trên tổng tài sản bình quân, …
Trang 24+ Nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời: Lợi nhuận sau thuế trên doanh thu,
lợi nhuận trước thuế trên tài sản, lợi nhuận sau thuế trên vốn cổ phần…
Nhận xét chương
Nội dung của chương này đã trình bày và làm rõ cơ sở lý luận về tài
chính doanh nghiệp, qua đó thấy rõ được bản chất, vai trò và tầm quan trọng
của công tác tài chính doanh nghiệp Nội dung của chương cũng nêu lên
những nhân tố ảnh hưởng, cách xác định, phương pháp đảm bảo tài chính cho
chiến lược phát triển của doanh nghiệp Trong chương này có trình bày một
số kinh nghiệm, số liệu khảo sát thực tế của công tác huy động vốn cho sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam (năm 2011), kinh nghiệm trong
công tác huy động vốn của doanh nghiệp Nhật Bản cũng là một bài học
chúng ta nên học tập Chương này cũng đã trình bày phương pháp nghiên
cứu, hệ thống một số chỉ tiêu nghiên cứu nội dung đề tài
Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẢM BẢO TÀI CHÍNH CHO CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1 Đặc điểm và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên
2.1.1 Đặc điểm tình hình chung của công ty
Công ty cổ phần Môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, xây lắp đóng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, quá trình hình thành và phát triển qua các mốc thời kỳ như sau:
- Trước năm 1997 là đơn vị sự nghiệp Nhà nước thuộc UBND thành phố Thái nguyên
- Từ năm 1997, UBND tỉnh Thái nguyên ký quyết định chuyển đổi tên thành Công ty quản lý đô thị Thái nguyên, là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích
- Năm 2006, công ty chuyển hình thức hoạt động với tên gọi là: Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên, vốn 100% Nhà nước, đại diện chủ sở hữu là Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên
- Thực hiện chủ trương sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp Nhà nước của Chính phủ Công ty đã chuyển đổi hình thức sở hữu từ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sang công ty cổ phần và bắt đầu đi vào hoạt động theo mô hình mới từ ngày 01/01/2010 với tên gọi: Công ty cổ phần Môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên theo giấy phép kinh doanh đăng
ký lần đầu số 4600123233 ngày 29/12/2009 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái nguyên cấp