1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà

48 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng công ty Sông Đà là một doanh nghiệp lớn trong ngành xây dựng, để đẩy mạnh quá trình phát triển của mình, nhằm mở rộng quy mô, ngành nghề kinh doanh, tăng sản lượng và hiệu quả, nâng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

***************************

TRẦN THỊ PHƯƠNG NGA

XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TY CẤU TRÚC MẠNG

PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH

CỦA TỔNG CÔNG TY SÔNG ĐÀ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2006

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

***************************

TRẦN THỊ PHƯƠNG NGA

XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TY CẤU TRÚC MẠNG PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH

CỦA TỔNG CÔNG TY SÔNG ĐÀ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Chuyên ngành : Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế

Mã số : 60.31.07 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thanh Cường

HÀ NỘI - 2006

Trang 2

1.1 Tổng quan về mô hình công ty cấu trúc mạng 5

1.1.1 Khái niệm về cấu trúc của doanh nghiệp 5

1.1.2 Khái niệm chung về mô hình công ty cấu trúc mạng 6

1.1.2.1 Thế nào là mô hình công ty cấu trúc mạng 6

1.1.2.2 Căn cứ thực tiễn của mô hình công ty cấu trúc mạng 6

1.1.2.3 Nguyên tắc xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng 9

1.1.2.4 Phương pháp xây dựng mô hình 11

1.1.3 Các mô hình công ty cấu trúc mạng 12

1.1.3.1 Mô hình mạng nội bộ 12

1.1.3.2 Mô hình mạng ổn định 13

1.1.3.3 Mô hình mạng năng động 14

1.1.4 Một số đặc điểm của công ty cấu trúc mạng 15

1.2 Những điều kiện cần thiết để áp dụng mô hình công ty cấu

trúc mạng

17

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của mô

1.3.2 Xu thế phát triển của công ty cấu trúc mạng 22

1.4 Mối quan hệ giữa mô hình công ty cấu trúc mạng và mô hình

công ty mẹ công ty con, mô hình tập đoàn kinh tế

2.3 Khả năng áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng tại Tổng công ty Sông Đà

44

2.3.1 Những điều kiện áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng 44

2.3.2 Xác định mô hình phù hợp với Tổng công ty Sông Đà 50

Chương 3: Một số giải pháp áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng tại Tổng công ty Sông Đà

Trang 3

3.2 Những giải pháp áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng tại

Tổng công ty Sông Đà

58

3.2.1.1 Hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô 58

3.2.1.2 Xác định phương hướng phát triển khoa học công

nghệ

63

3.2.1.3 Đổi mới về tổ chức và quản lý nhà nước 63

3.2.1.4 Quy hoạch lại các ngành kinh tế kỹ thuật 65

3.2.2.1 Phân biệt và tích hợp cơ cấu cơ bản và cơ chế vận

hành

66

3.2.2.2 Xây dựng liên kết mạng trên cơ sở cấu trúc truyền

thống dựa theo hoạt động chủ yếu của Tổng công ty

68

3.2.2.3 Đổi mới cơ chế hoạt động và phương thức tổ chức 71

3.2.2.4 Tiếp tục xây dựng và phát triển nguồn nhân lực 71

3.2.2.5 Tăng cường chiếm lĩnh thị trường, sẵn sàng hội nhập

kinh tế khu vực, châu lục và thế giới

72

3.2.2.6 Hoàn chỉnh chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh

của Tổng công ty giai đoạn đến năm 2010, có tính đến năm

2020

73

3.2.2.7 Tăng cường hạch toán kinh doanh 73

3.2.2.8 Thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp gắn với niêm

yết trên thị trường chứng khoán

sự góp ý quý báu của độc giả

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cơ quan, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình, những người đã tạo điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần để giúp đỡ

em hoàn thành tốt Luận văn tốt nghiệp này Đặc biệt, em xin chân thành cảm

ơn thầy giáo hướng dẫn PGS TS Lê Thanh Cường đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1/ Tính cấp thiết của đề tài:

Bước sang nền kinh tế thị trường, cùng với xu hướng hội nhập và phát

triển của nền kinh tế, môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt do có sự xuất

hiện không chỉ là các đối thủ cạnh tranh trong nước mà cả ngoài nước Một

doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải tiến hành chuyên môn hóa và đa

dạng hóa các ngành nghề

Quá trình này đối với các doanh nghiệp nhỏ thì phải mở rộng các mặt

hàng, các lĩnh vực dịch vụ; phải đầu tư chiều sâu vào khoa học công nghệ,

vào con người, thương hiệu, năng lực tài chính … Đối với các doanh nghiệp

lớn, đặc biệt là các Tổng công ty Nhà nước, quá trình này được thực hiện

bằng cách đầu tư chiều sâu chuyên môn cho các đơn vị thành viên của mình

Mỗi đơn vị này sẽ được ưu tiên phát triển một thế mạnh nhất định, được đầu

tư công nghệ tiên tiến, được tập trung những cán bộ có trình độ chuyên môn

cao nhất… để có thể chiếm lĩnh được mảng ngành nghề, thị trường riêng biệt

Một Tổng công ty lớn sẽ có nhiều doanh nghiệp như vậy hoạt động trên nhiều

lĩnh vực khác nhau Các đơn vị này, có mối liên kết với nhau và với Tổng

công ty theo mô hình cấu trúc mạng Hiệu quả của Tổng công ty bằng tổng

hợp hiệu quả của các doanh nghiệp thành viên như vậy Ưu điểm lớn nhất của

mô hình công ty cấu trúc mạng là tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường, giảm

thiểu tối đa rủi ro, tăng sản lượng, lợi nhuận, từ đó giá trị của doanh nghiệp

không ngừng tăng lên Việc phát triển mô hình công ty theo cấu trúc mạng

như vậy đã được các tập đoàn khổng lồ của các nước công nghiệp phát triển

hình thành và tồn tại từ rất lâu như tập đoàn Mitsubishi, Samsung, Phillip

Tổng công ty Sông Đà là một doanh nghiệp lớn trong ngành xây dựng,

để đẩy mạnh quá trình phát triển của mình, nhằm mở rộng quy mô, ngành

nghề kinh doanh, tăng sản lượng và hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh

với các đơn vị trong nước và quốc tế, tiến tới mục tiêu trở thành tập đoàn kinh

tế mạnh thì nhu cầu xây dựng Tổng công ty theo mô hình cấu trúc mạng là một nhu cầu cấp thiết

Do đó, đề tài “Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ họat động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Sông Đà” được chọn để nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề ra một số giải pháp đối với việc xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ sản xuất kinh doanh tại Tổng công ty Sông Đà

2 Tình hình nghiên cứu:

Mô hình công ty cấu trúc mạng là một lĩnh vực nghiên cứu mới và chưa

có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này Trong thời gian gần đây, có một số bài viết, công trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứu về mô hình công ty cấu trúc mạng và mô hình công ty mẹ – công ty con (một dạng phức hợp của công ty cấu trúc mạng), trong đó tiêu biểu là tác giả Nguyễn Anh Dũng với các bài viết: “Công ty cấu trúc mạng – Một kinh nghiệm hữu ích cho đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam”, Tạp chí Những vấn kinh tế thế giới số

3 (71) tháng 6/2001; “Công ty mạng – Công ty của thế kỷ 21”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế tháng 6/2001; tác giả GS.TS Vũ Huy Từ với tác phẩm “Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2002) và một số ấn phẩm nước ngoài như “The New Corporate Architecture” – của Gregory G.Dess, Academy of Management Executive 9,no.3;

Tuy nhiên, các đề tài trên chủ yếu nghiên cứu tổng quát về mô hình công ty cấu trúc mạng nói chung, hay các dạng phức hợp của mô hình công

ty cấu trúc mạng như mô hình tập đoàn kinh tế, mô hình công ty mẹ – công ty con Các công trình nghiên cứu này chưa phân tích về khả năng áp dụng mô hình vào một doanh nghiệp cụ thể

Trang 5

Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện các chính sách về đổi mới các

doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt là các Tổng công ty Trọng tâm của công tác

đổi mới các Tổng công ty Nhà nước là chuyển đổi sang mô hình tập đoàn

kinh tế, một phức hợp liên kết mạng Mỗi một doanh nghiệp lại có những đặc

điểm khác nhau về thành phần sở hữu, lĩnh vực hoạt động, quy mô, năng lực

tài chính, nhân lực Do vậy việc áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng vào

từng doanh nghiệp là rất đa dạng và đòi hỏi phải có những sáng tạo nhất định

Vì vậy có thể khẳng định, đây là luận văn thạc sỹ đã tiến hành nghiên

cứu một cách tương đối hệ thống và toàn điện về vấn đề xây dựng mô hình

công ty cấu trúc mạng ở một doanh nghiệp cụ thể là Tổng công ty Sông Đà,

một doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

* Mục tiêu:

Nghiên cứu những điều kiện và những giải pháp cần thiết để áp dụng

mô hình công ty cấu trúc mạng của Tổng công ty Sông Đà

* Nhiệm vụ:

- Luận giải những vấn đề cơ bản mô hình công ty cấu trúc mạng

- Phân tích và đáng giá thực trạng cấu trúc của Tổng công ty Sông Đà và

khả năng áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động

sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Sông Đà

- Đề xuất một số giải pháp nhằm áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng

tại Tổng công ty Sông Đà

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn

của mô hình công ty cấu trúc mạng và khả năng áp dụng tại Tổng công

- Thời gian nghiên cứu từ năm 2001 đến năm 2005

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng

- Phương pháp diễn giải, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh,

- Phương pháp mô phỏng hệ thống

- Lập các bảng biểu, đồ thị để chứng minh phân tích

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 03 chương:

Chương I: Cơ sở khoa học và căn cứ thực tiễn của mô hình công ty cấu trúc mạng

Chương II: Thực trạng cấu trúc của Tổng công ty Sông Đà và khả năng

áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng

Chương III: Một số giải pháp áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng tại Tổng công ty Sông Đà

Trang 6

CHƯƠNG I

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CĂN CỨ THỰC TIỄN

CỦA MÔ HÌNH CÔNG TY CẤU TRÚC MẠNG

1.1 Tổng quan về mô hình công ty cấu trúc mạng

1.1.1 Khái niệm về cấu trúc của doanh nghiệp

Khái niệm về cơ cấu (cấu trúc) tương ứng với sự mô tả kết hợp các yếu

tố hợp thành của doanh nghiệp Nó xác định các đặc trưng riêng biệt và bền

vững của doanh nghiệp như sau: phân phối nhiệm vụ, phân phối quyền lực,

truyền đạt thông tin và những cơ chế phối hợp

Cơ cấu tổ chức được hiểu là hệ thống các phần tử với mối quan hệ

trong hoạt động chung bao gồm nhiều công việc riêng rẽ, cũng như những

công việc phức hợp Sự phân chia công việc thành những phần việc cụ thể và

sự kết hợp các công việc này là nhằm làm rõ hiệu quả của sự liên kết các công

việc trong tổ chức Mạng công việc được liên thông hợp lý nếu đảm bảo được

sự nề nếp, quy củ, kỷ cương, tính tổ chức và tính khoa học Ngược lại, khi bộ

máy tổ chức không khoa học, không mang tính hệ thống, không đủ năng lực

chuyên môn có thể làm cho các hoạt động quản trị kém hiệu quả, lúng túng, bị

động, lãng phí các nguồn lực, từ đó dẫn đến tổ chức bị suy yếu

Như vậy, cơ cấu (cấu trúc) tổ chức của doanh nghiệp có thể hiểu là các

dạng thức biểu hiện mối liên hệ giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện

nhiệm vụ, mục tiêu chung của doanh nghiệp Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các

bộ phận khác nhau được chuyên môn hoá và có những trách nhiệm, quyền

hạn nhất định, được bố trí theo những cấp nhằm đảm bảo thực hiện các chức

năng quản trị và phục vụ mục tiêu chung đã được xác định Cơ cấu tổ chức

càng hoàn hảo thì hoạt động sản xuất kinh doanh càng có hiệu quả, từ đó làm

gia tăng lợi nhuận Ngược lại, nếu cơ cấu tổ chức công kềnh, bố trí nguồn

nhân lực không hợp lý thì nó sẽ kìm hãm sản xuất kinh doanh và giảm lợi nhuận, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Vì vậy, việc luôn luôn phát triển và hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản trị

sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp phản ứng nhanh chóng trước những biến động xảy ra trong sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp

1.1.2 Khái niệm chung về mô hình công ty cấu trúc mạng

1.1.2.1 Khái niệm về mô hình công ty cấu trúc mạng

Để hiểu được thế nào là mô hình công ty cấu trúc mạng, chúng ta cần hiểu thế nào là mạng

Theo Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì “Mạng hay mạng lưới là hệ thống những đường, những mạch có cùng chức năng, là hệ thống các tổ chức, cá nhân có cùng chức năng”{21] hay nói cách khác khi nói đến mạng là nói đến cách thức liên kết các yếu tố, bộ phận có cùng chức năng trong một quá trình nhất định Khi có rất nhiều quá trình lớn nhỏ khác nhau đan xen nhau thì sẽ có kết quả là các mạng tương ứng khác nhau: mạng trong mạng, mạng đan xen mạng để trở thành mạng phức hợp

Như vậy, liên kết mạng trong doanh nghiệp bao gồm việc liên kết các

bộ phận chức năng khác nhau trong một đơn vị kinh doanh và giữa các đơn vị kinh doanh với nhau Công ty cấu trúc mạng là công ty có mô hình tổ chức theo kiểu liên kết mạng

1.1.2.2 Căn cứ thực tiễn của mô hình công ty cấu trúc mạng

Công nghệ thông tin:

Sự phát triển của cách mạng khoa học – công nghệ đặc biệt là những tiến bộ lớn trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin đã hình thành nền kinh tế mới có nhiều đặc điểm cơ bản khác biệt so với các nền kinh tế trước đó Một trong những đặc trưng cơ bản có đó là cấu trúc mạng– toàn cầu Nền kinh tế thế giới đang được cấu trúc thành một mạng lưới toàn cầu

Trang 7

Nền kinh tế mới là một nền kinh tế được nối mạng, tích hợp các phần

tử thành các cụm được nối mạng với các cụm khác để tạo ra của cải Cách

mạng khoa học, công nghệ đã giúp các công ty nhỏ vượt qua ưu thế chính của

công ty lớn đó là việc tiết kiệm nhờ mở rộng quy mô và có khả năng tiếp cận

với các nguồn tài nguyên Đồng thời các công ty nhỏ này không bị đè nặng

bởi các bất lợi mà các công ty lớn chịu là tính ỳ, khó có khả năng thay đổi,

cấu trúc công kềnh

Nền kinh tế tổng thể sẽ hoạt động trên mạng của các mạng, và cùng với

sự hỗ trợ hữu hiệu của Internet sự ngăn cách giữa các công ty, các nhà cung

cấp, các khách hàng, các nhóm liên kết và các đối thủ cạnh tranh sẽ bị phá vỡ

Công nghệ thông tin đang làm thay đổi mạnh mẽ toàn bộ thế giới Bước

nhảy vọt này thể hiện trên lĩnh vực kinh tế là sự xuất hiện liên tục những sản

phẩm mới, thị trường mới, cạnh tranh và độc quyền mới, tức là từng bước làm

thay đổi những quan niệm cũ về nền kinh tế thị trường Đứng trước trào lưu

này, sức cạnh tranh của nhiều công ty lớn đã bị giảm sút, những cung cách

quản lý công ty kiểu truyền thống đã bị lung lay Sức mạnh to lớn của thông

tin đã và đang tác động mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới và làm thay đổi tất

cả Khái niệm “kinh tế quy mô” truyền thống đang đứng trước sự thách thức

to lớn

Trong xã hội thông tin, công ty nhỏ chỉ có nghĩa là ít về số lượng người,

nhưng nghiệp vụ của nó lại có thể triển khai rất rộng, có thể làm nên kỳ tích

lớn Đó chính là vì nó có thể gia nhập vào mạng lưới tin tức để thu thập được

bất kỳ thông tin và kỳ thuật nào mà nó mong muốn, nhờ đó có thể phát huy

được tối đa các nguồn lực hơn hẳn các công ty trước đây bởi tính năng động,

linh hoạt trong tác nghiệp

Đương nhiên, một số công ty có quy mô lớn vẫn có thể tiếp tục vận

hành một cách có hiệu quả nhưng các công ty này sẽ phải thay đổi cơ cấu tổ

chức một cách mạnh mẽ Các công ty lớn trong tương lai sẽ là một hình thức

tập hợp những công ty nhỏ kinh doanh năng động trong một quan hệ tổ chức kiểu mới

Khách hàng;

Hiện nay, không còn khái niệm khách hàng chung chung nữa mà đã được định nghĩa lại hết sức cụ thể Khách hàng là người mua mà người bán đang tiến hành giao dịch tại một thời điểm cụ thể và trong quan hệ này người mua là người có quyền lựa chọn theo sở thích và nhu cầu của mình Trong thị trường đại trà trước đây, các công ty đã coi toàn bộ khách hàng chỉ là một nhóm nhỏ, thậm chí chỉ còn là một khách hàng Nhưng ngày nay, từng khách hàng cụ thể đòi hỏi và có quyền yêu cầu ứng xử theo cách thức riêng biệt phù hợp với các nhu cầu riêng của họ Họ muốn các sản phẩm mang dấu ấn đặc định và cảm tính cả về chất lượng sản phẩm, thời gian giao hàng, phương thức thanh toán và các dịch vụ tiện ích khác Mặt khác, một nguyên nhân rất quan trọng là khách hàng đã chiếm ưu thế trong quan hệ mua bán vì bây giờ

họ được tiếp cận và dễ dàng tiếp cận với các ngân hàng dữ liệu thông tin khổng lồ về hàng hoá, sản phẩm dịch vụ, các nhà cung cấp và tình hình cạnh tranh trên thị trường

Thế giới đang vận động và thay đổi từng ngày, khả năng sản xuất những lô hàng nhỏ trong phạm vi nhỏ đã được cải tiến rõ rệt Trong hầu hết các ngành công nghiệp, các nhà sản xuất lớn sẽ không thật sự được hưởng nhiều lợi ích từ việc sản xuất hàng loạt hay sản xuất với quy mô lớn với các nhà sản xuất nhỏ

Công nghệ thông tin làm thay đổi khái niệm thị trường truyền thống

Do kỹ thuật thông tin phát triển và trình độ tự động hoá ngày càng nâng cao, các doanh nghiệp có điều kiện cung cấp kịp thời các sản phẩm mang tính chuyên dụng, đa dạng cho mọi nhu cầu, thói quen và sở thích của khách hàng Trong tương lai không xa, bất kỳ sản phẩm nào cũng không thể có giai đoạn

Trang 8

chín muồi, vòng đời của bất kỳ sản phẩm nào cũng luôn luôn bị xác định lại

Còn thị trường xét theo nghĩa phân loại sản phẩm cũng bị phân rã tương ứng

Cạnh tranh:

Trong thời đại ngày này các công ty phải có một chương trình cạnh

tranh để đáp ứng hai mục tiêu đối lập nhau sau:

Một là cung cấp sản phẩm và dịch vụ mang tính cá nhân cho người tiêu

dùng

Hai là phải duy trì khối lượng hàng lớn để tạo tính kinh tế của quy mô

và giá cả cạnh tranh

Ngoài ra, một điều quan trọng hơn là nếu như trước đây công cụ cạnh

tranh chủ yếu của các doanh nghiệp là bằng giá cả thì hiện nay là bằng việc

gia tăng các loại hình dịch vụ sáng tạo không ngừng và khả năng định hướng

sáng tạo để từ đó thiết lập các tiêu chuẩn của các ngành, các lĩnh vực, hoặc

phân đoạn thị trường đặc định Chẳng hạn như Công ty Sony và JVC của

Nhật Bản phát minh ra máy Video trước các công ty của Âu Mỹ và kết quả là

các tiêu chuẩn cạnh tranh của ngành công nghiệp này được hai hãng thiết lập

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin cũng làm thay đổi

mối quan hệ giữa các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Trước đây, khi một

công ty mua hàng của một công ty khác, việc đầu tiên giữa hai bên là trao đổi,

thương lượng Điều mà hai bên quan tâm là lợi ích trực tiếp của công ty mình,

ít nghĩ đến những mặt khó khăn và vận mệnh của đối phương, càng không có

sự hợp tác Hiện nay, mạng lưới hợp tác, liên minh giữa các công ty bắt đầu

hình thành Hợp tác giữa các nhà sản xuất và người phân phối trong một tế

bào kinh tế đơn nhất, liên minh từng phần giữa các đối thủ để sử dụng chung

ưu thế của nhau và giảm bớt sự gay gắt của cạnh tranh Đây là một mối quan

hệ kinh tế kiểu mới mà lợi ích của bản thân công ty liên quan đến sự thành

công của bạn hàng Chất lượng sản phẩm của bạn hàng được nâng lên, hoạt

động sản xuất kinh doanh được phát triển, lãi được tăng thêm thì nguồn vật tư

của công ty mình cũng được đảm bảo, ngược lại thì lợi ích của bản thân công

ty sẽ bị ảnh hưởng và bất lợi Cho nên, các thành viên trong mạng lưới liên kết, hợp tác, quan tâm lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển dựa trên việc bổ sung cho nhau những ưu thế và cùng chia sẻ những khó khăn

1.1.2.3 Nguyên tắc xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng:

Các quan điểm xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng:

 Quan điểm thứ nhất:

Việc hình thành cơ cấu tổ chức bao giờ cũng xuất phát từ việc xác định mục tiêu và phương hướng phát triển Trên cơ sở này, tiến hành tập hợp cụ thể các yếu tố của cơ cấu tổ chức và xác định mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó Đây là quan điểm theo phương pháp diễn giải đi từ tổng hợp đến chi tiết được ứng dụng đối với các cơ cấu tổ chức quản trị đang hoạt động

 Quan điểm thứ hai:

Việc hình thành cơ cấu tổ chức trước hết phải được bắt đầu từ việc mô

tả chi tiết hoạt động của các đối tượng quản trị và xác lập tất cả các mối liên

hệ thông tin, rồi sau đó mới hình thành cơ cấu tổ chức quản trị Quan điểm này đi theo phương pháp quy nạp từ chi tiết đến tổng hợp và được ứng dụng trong trường hợp hình thành cơ cấu tổ chức quản trị mới

 Quan điểm thứ ba:

Hình thành cơ cấu tổ chức mạng theo phương pháp hỗn hợp, nghĩa là

có sự kết hợp một cách hợp lý cả quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ hai nhằm hoàn thiện hoặc hình thành cơ cấu tổ chức quản trị, sau đó mới tổ chức công việc nghiên cứu chi tiết cho các bộ phận trong cơ cấu, soạn thảo các điều

lệ, quy chế, nội quy cho các bộ phận của cơ cấu ấy, đồng thời xác lập các kênh thông tin cần thiết

Các nguyên tắc xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng:

Liên kết mạng được thực hiện từ trên xuống dưới chứ không phải theo chiều ngược lại tức là phải đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất, lãnh đạo

Trang 9

và thực hiện theo đường lối đã vạch ra Doanh nghiệp là một chỉnh thể thống

nhất hoạt động theo tầm nhìn và sứ mệnh đã xác định Thiết kế lại mô hình là

một nỗ lực từ trên xuống dưới, đòi hỏi phải có sự tham gia và ủng hộ không

ngừng của ban lãnh đạo cao nhất và toàn thể người lao động trong doanh

nghiệp Liên kết mạng phải được thực hiện từ ngoài vào trong, từ tổng hợp

đến chi tiết Cấu trúc mạng được áp dụng ở hoạt động lớn nhất của toàn doanh

nghiệp sau đó áp dụng dần cho các hoạt động nhỏ hơn

1.1.2.4 Phương pháp xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng:

Phương pháp xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng về cơ bản dựa

trên phương pháp phân tích theo yếu tố gồm ba giai đoạn như sau:

Xác định các thành phần cho các bộ phận của cơ cấu

Xác định mối liên hệ giữa các bộ phận

Xác định những đặc trưng

bộ phận (chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn)

Quy định hoạt động của

Hình 1.1: Các giai đoạn xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng

Ngoài ra, chúng ta có thể kết hợp với phương pháp tương tự để qua đó

kế thừa những kinh nghiệm thành công và gạt bỏ những yếu tố bất hợp lý của các cơ cấu tổ chức có sẵn và lựa chọn các mô hình cấu trúc chuẩn từ các doanh nghiệp có tính đồng nhất về sản phẩm, tính đồng nhất về các chức năng quản trị, tính gần nhau về lãnh thổ, đặc điểm ngành kinh tế- kỹ thuật đang áp dụng Vì vậy, quá trình hình thành cơ cấu nhanh, chi phí để thiết kế lại cơ cấu nhỏ, thừa kế những kinh nghiệm hữu ích của quá khứ

1.1.3 Các mô hình công ty cấu trúc mạng:

1.1.3.1 Mô hình mạng nội bộ:

Một doanh nghiệp được cấu trúc theo hình thức này bao gồm công ty gốc và các công ty vệ tinh trực thuộc liên kết với nhau để thực hiện hầu hết các công đoạn trong quá trình sản xuất và cung ứng sản phẩm Các công ty liên kết với nhau theo các hình thức sở hữu đa dạng và công ty gốc sở hữu phần lớn hoặc toàn bộ các tài sản có liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty vệ tinh và là khách hàng của nhau trong dây chuyền cung cấp sản phẩm hay dịch vụ và vì vậy có tính chất “nội bộ”

Trang 10

Hình 1.2: Mô hình mạng nội bộ

Ngoài ra, doanh nghiệp còn đưa vào nội bộ các tiêu chuẩn của thị

trường có được thông qua sự hợp tác giữa các công ty vệ tinh với các công ty

bên ngoài

Một vấn đề cơ bản của mạng nội bộ là các đơn vị sẽ phải áp dụng các

tiêu chuẩn và giá cả của hàng hoá và dịch vụ được thiết lập bởi thị trường

thông qua các hình thức hợp tác đan chéo nhau trong và ngoài tập đoàn thay

vì cơ chế giá nội bộ được quy định ước chừng và giả tạo thông qua các giao

dịch nội bộ Và chỉ bằng cách đó các công ty mới liên tục và không ngừng tìm

kiếm các giải pháp đổi mới để nâng cao hiệu quả hoạt động

Một mạng nội bộ được chấp nhận sẽ giúp tối ưu hoá việc sử dụng và

khai thác các nguồn lực, rút ngắn thời gian phản hồi với các cơ hội thị trường

Công ty gốc sẽ trở thành một công ty đầu tư nắm giữ và duy trì một mảng

thống nhất và đầy đủ hệ thống các tổ hợp chuyên môn hoá Mỗi bộ phận trong

tổ hợp được gọi là một nút mạng sở hữu khả năng hoàn thành hoàn chỉnh sản

Liên kết môi giới

Cung cấp

Thiết

kế

Sản xuất

Phân phối

phẩm chuyên môn hoá trên thị trường Công ty gốc thông qua các công ty vệ tinh để triển khai các dự án và kế hoạch đầu tư,

1.1.3.2 Mô hình mạng ổn định

Khi nói đến mạng ổn định người ta thường nói đến cấu trúc mạng theo

đó một phần hoạt động kinh doanh của công ty được đưa ra ngoài Công ty chỉ giữ lại các yếu tố cốt lõi nhất tạo nên giá trị của công ty và đưa ra bên ngoài các yếu tố khác mà các công ty bên ngoài làm tốt hơn để tạo nên sự linh hoạt và mềm dẻo trong quá trình tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp sau

đó liên kết với các công ty bên ngoài bằng các hợp đồng hợp tác chiến lược hoặc qua các quan hệ tài chính đầu tư Vì vậy, tài sản của doanh nghiệp có thể được sở hữu bởi nhiều công ty khác nhau nhưng tất cả các tài sản đó đều chỉ tập trung cho các hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp này thôi Thông thường rất nhiều các nhà cung cấp tập trung xung quanh một công ty gốc có quan hệ hoặc là để cung cấp đầu vào hoặc là để phân phối đầu

ra cho doanh nghiệp đó

Ưu điểm lớn nhất của mô hình công ty mạng ổn định chính là sự linh hoạt, đa dạng của nguồn cung cấp và phân phối cũng như sự hợp tác chặt chẽ trong tiến độ và chất lượng giao hàng Các doanh nghiệp có đặc điểm tập trung vào các cơ hội lớn hơn là nguồn lực thường lựa chọn hình thức này

Trang 11

Hình 1.3: Mô hình mạng ổn định

1.1.3.3 Mô hình mạng năng động

Trong bối cảnh thị trường luôn thay đổi, khách hàng có nhu cầu ngày

càng đa dạng và khác biệt, cạnh tranh khốc liệt thì nhiều doanh nghiệp (nổi

lên là các hãng thời trang, sản xuất đồ chơi, xuất bản, phim ảnh và công nghệ

sinh học ) áp dụng chiến lược đưa ra ngoài một cách mạnh mẽ các hoạt động

mà các công ty khác có thể làm tốt hơn

Theo phương pháp này, các doanh nghiệp chỉ tập trung vào các hoạt

động chủ chốt tạo ra năng lực chiến lược, còn lại đưa ra ngoài tất cả hoạt động

ít tạo ra giá trị và không phải là điểm mạnh của doanh nghiệp Như vậy, mạng

năng động cung cấp cả hai ưu điểm: sự chuyên môn hoá của mạng nội bộ và

sự linh hoạt, mềm dẻo của mạng ổn định

Trong mạng năng động, mỗi một công ty vệ tinh hoặc công ty bên

ngoài trở nên một điểm nút và thể hiện một kỹ năng cực kỳ chuyên sâu để khi

Cung cấp

Doanh nghiệp gốc

Cung cấp Cung cấp

Cung cấp

công ty gốc và với thị trường Tất nhiên, trong mạng năng động, khi thực hiện

sự phối hợp vì phải trải qua nhiều công ty (công ty vệ tinh và công ty bên ngoài) nên có nhiều rủi ro về sự cam kết thực hiện hợp đồng, về chất lượng hàng hoá và dịch vụ, rủi ro các nhà cung cấp/ bán hàng không có đủ các bộ phận/chuyên gia chuyên môn hoá sâu và khả năng ứng dụng công nghệ và kiến thức thích hợp tại doanh nghiệp

tổ chức rất nhanh chóng và hiệu quả

Trên thế giới đang diễn ra quá trình chuyển đổi các công ty quốc tế, công ty đa quốc gia thành các công ty toàn cầu Tính chất toàn cầu không thể hiện là phải có mặt ở khắp nơi trên thế giới mà thể hiện ở tầm nhìn toàn cầu

để phát triển công ty Các công ty tổ chức theo hình thức mạng cũng có thể coi là công ty toàn cầu bởi vì theo cách liên kết mạng nó có thể tập trung mọi nguồn lực trên thế giới phân phối các sản phẩm và dịch vụ với giá cả và chất lượng tốt nhất trên toàn thế giới

Cung cấp

Môi giới

Phân phối

Trang 12

Ưu điểm thứ hai là lực lượng lao động năng động và chịu thử thách

Việc tuyển dụng lao động của công ty được thực hiện rất linh hoạt, năng động

và mềm dẻo bởi vì công ty có thể tuyển dụng đa dạng nhân viên do các yêu

cầu công việc phát sinh và cũng có thể thay đổi trong thời gian ngắn

Lực lượng lao động có thể nhanh chóng được thay đổi để phù hợp với

cơ hội của thị trường Đối với các nhân viên làm việc lâu dài thì sự thử thách

do các công việc đa dạng hơn theo hướng chuyên sâu trong một cấu trúc gọn

nhẹ đòi hỏi phải tập trung học hỏi và nâng cao trình độ

1.1.4.2 Hạn chế của công ty cấu trúc mạng

- Thiếu sự điều khiển và quản lý trực tiếp Các giám đốc không điều

khiển và giám sát tất cả các hoạt động chi tiết mà phần lớn tập trung

vào các hợp đồng, sự hợp tác và hệ thống thông tin để phối hợp thực

hiện công việc

- Thiếu sự chặt chẽ về công tác tổ chức và giám sát Nếu một nhà thầu

phụ không giao hàng đúng hạn, hoặc bị phá sản hay nhà máy có sự cố

thì công ty gốc khó có thể điều chỉnh để khắc phục

- Thiếu sự trung thành của nhân viên Người lao động có cảm giác rằng

họ có thể dễ dàng bị thay thế bằng những hợp đồng hợp tác kinh doanh

doanh và những dịch vụ thay thế lao động mới phát sinh

Bảng 1.1: So sánh công ty cấu trúc mạng và công ty truyền thống

Stt Tiêu thức Công ty

truyền thống Công ty cấu trúc mạng

1 Cấu trúc Hình tháp, thứ bậc Mạng

2 Phạm vi Nội bộ, khép kín Bên ngoài, mở rộng

3 Chuyên môn hoá Công ty lớn đa lĩnh

vực

Tổ hợp công ty, công

ty chuyên sâu

4 Liên kết Khi cần thiết Là chủ đạo

5 Bí quyết công Phân tán Được chia sẻ

nghiệp

6 Phương thức kinh doanh

Truyền thống Thương mại điện tử

7 Đổi mới Những chỗ cần thiết Liên tục đổi mới

8 Nguồn lực được tập trung

Vốn Con người, thông tin

9 Trạng thái Tĩnh, ổn định Năng động, thay đổi

10 Người được chú ý Giám đốc Chuyên gia

11 Động lực chính Thưởng và phạt Sự cam kết

12 Cơ sở hành động Chỉ huy Uỷ quyền

13 Động lực cá nhân Thoả mãn cấp trên Đạt mục tiêu của nhóm

14 Quan hệ Cạnh tranh, sự sống

của tôi

Hợp tác, thử thách của chúng ta

1.2 Các điều kiện cần thiết để áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng

1.2.1 Điều kiện vĩ mô

Công ty cấu trúc mạng chỉ phát triển và có hiệu quả khi hội đủ những điều kiện cần thiết về môi trường kinh tế, khoa học công nghệ và trình độ tổ chức quản lý Nhà nước, đó là:

- Hạ tầng cơ sở phục vụ lưu thông hàng hoá, các công cụ và tổ chức phục

vụ lưu chuyển hàng hoá bao gồm giao thông, bưu chính, viễn thông, thương mại tài chính và bảo hiểm v.v phải được ổn định theo xu hướng chi phí ngày càng giảm tạo các điều kiện an toàn và ưu đãi để giữ gìn các lợi thế so sánh

- Đối với thể chế và cơ chế trao đổi trên thị trường thì yêu cầu tối thiểu là phải có các nguyên tắc và luật lệ về bảo hộ quyền sở hữu tài sản, về hợp đồng và thực hiện hợp đồng

- Công ty cấu trúc mạng chỉ được ra đời và có điều kiện phát triển dựa trên các mối liên kết chặt chẽ về pháp lý như các cơ cấu sở hữu khác

Trang 13

nhau được thừa nhận, các hình thức hợp đồng liên doanh và hợp tác

chiến lược được luật pháp bảo hộ

- Công nghệ thông tin phải phát triển đến mức có thể hình thành nên

mạng thông tin đa dạng, phong phú và luôn được cập nhật giữa các

ngành có quan hệ mật thiết về kinh tế với nhau (thị trường cung cấp,

tiêu thụ, về mức độ chặt chẽ trong hoạt động cung cấp các nguồn lực)

- Hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước phải được củng cố để hỗ trợ việc

chuyển đổi mô hình tổ chức của doanh nghiệp và giải quyết các khía

cạnh trọng yếu trong kinh doanh như các chính sách về thị trường vốn,

chính sách thuế, chính sách đầu tư và đặc biệt là việc triển khai giải

quyết các vấn đề pháp lý về các liên kết (công ty mẹ, công ty con, công

ty liên kết, liên minh chiến lược, đối tác hợp tác, hợp đồng liên kết

cung cấp nguyên liệu, hợp đồng liên kết phân chia sản phẩm và thị

trường)

1.2.2 Điều kiện vi mô

 Về quy mô:

Công ty cấu trúc mạng thường được áp dụng với các công ty có quy mô

lớn xét về cơ hội thị trường, nguồn lực và các yếu tố quản lý Khi lực lượng

sản xuất phát triển nhanh chóng, phân công lao động diễn ra sâu sắc trong

ngành công nghiệp và bản thân doanh nghiệp đòi hỏi các mối quan hệ giữa

các đơn vị trong doanh nghiệp phải tổ chức lại Mức độ phát triển của phân

công lao động xã hội được xác định bằng trình độ chuyên môn hoá và hợp tác

hoá trong quá trình sản xuất Khi số lượng các sản phẩm và dịch vụ cũng như

các yếu tố sản xuất được trao đổi trên thị trường đầu vào và đầu ra của doanh

nghiệp nhiều hơn thì sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế trong thị

trường các sản phẩm và dịch vụ đòi hỏi phải được thể chế hoá tuỳ thuộc vào

tính chất, đặc điểm của từng loại sản phẩm thông qua các mối liên kết

 Về phạm vi và tính chất hoạt động:

Công ty cấu trúc mạng được áp dụng cho doanh nghiệp có tầm hoạt động rộng trên nhiều vùng địa lý khác nhau và thường được áp dụng nhiều đối với các công ty kinh doanh có các sản phẩm đầu ra gần nhau, tương tự nhau hoặc tính chuyên môn hoá của ngành cao Liên kết mạng xuất hiện bắt đầu và chủ yếu thông qua mối liên kết ngang giữa ít nhất hai công ty lớn kinh doanh độc lập, có tư cách pháp nhân độc lập trong cùng một ngành hoặc giữa các ngành có mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế – kỹ thuật

 Về sở hữu:

Các công ty áp dụng mô hình mạng thông thường có đặc điểm đa sở hữu và sở hữu hỗn hợp Mặc dù tương đối độc lập nhưng các công ty vệ tinh luôn có mục tiêu phù hợp với mục tiêu của công ty gốc và lựa chọn các chương trình tác nghiệp gần gũi với chương trình sản xuất – kinh doanh của công ty gốc thông qua sự phân công theo chiều dọc hay chiều ngang trong nội

bộ tập đoàn bằng các hợp đồng kinh tế hoặc các cam kết tài chính, tín dụng Trong mô hình mạng nội bộ, sự phụ thuộc về tài chính giữa các công ty vệ tinh và công ty gốc rất sâu sắc Do đó, việc kiểm tra, kiểm soát của công ty gốc với các công ty vệ tinh được triển khai rất chặt chẽ

 Về các cơ chế tổ chức và quản lý nội bộ trong doanh nghiệp

Cơ cấu tổ chức mạng đòi hỏi tính linh hoạt và hợp tác tại tất cả các cấp của tổ chức Do đó, tính hiệu quả của cơ cấu mạng tuỳ thuộc vào mạng lưới truyền đạt thông tin trong tổ chức Như chúng ta đã biết, thông tin là công cụ của quản trị sản xuất kinh doanh Nếu có một hệ thống thông tin hoạt động hiệu quả sẽ giúp cho bộ máy lãnh đạo ra được các quyết định đúng đắn, kịp thời, đảm bảo cho người lãnh đạo nhanh chóng nắm được những thông tin chính xác về thị trường, về đối tượng quản trị để có thể tăng cường tính linh hoạt trong công tác điều hành

 Về tình hình thị trường:

Trang 14

Các doanh nghiệp sử dụng cơ cấu này khi đang hoạt động trong một

môi trường có mức độ cạnh tranh mạnh mẽ đòi hỏi phải đưa ra những sản

phẩm và dịch vụ đổi mới, đa dạng hoá và khác biệt Dưới những áp lực này,

các nhà quản trị phải phối hợp nhiều nguồn lực để đạt được các giá trị gia

tăng mới

Ngoài ra, Các nhà quản trị phải xử lý những khối lượng thông tin lớn

do sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và thị trường

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của mô hình

Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ

khoa học kỹ thuật và liên kết kinh tế quốc tế đã dẫn đến sự phát triển sâu rộng

của phân công lao động xã hội, của quy mô sản xuất và tiêu thụ Sản xuất

kinh doanh không còn mang tính manh mún, rời rạc và sở hữu không còn là

sở hữu cá thể nữa mà đã đi vào xã hội hóa, hợp tác hóa, phân công lao động

và sở hữu hỗn hợp Công ty cấu trúc mạng với tư cách là một loại hình tổ

chức kinh doanh, tổ chức liên kết kinh tế, hay nói cách khác là một hình thức

biểu hiện của quan hệ sản xuất phù hợp cần phải ra đời để đáp ứng yêu cầu và

thúc đẩy sự phát triển trở lại của lực lượng sản xuất

 Quy luật tích tụ và tập trung vốn, tài sản

Mỗi doanh nghiệp trong cơ chế thị trường là một tế bào sống của nền

kinh tế Để tồn tại, phát triển trong quy luật cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp

phải tái sản xuất mở rộng không ngừng Quá trình đó là quá trình tích tụ, tập

trung vốn vào sản xuất Trong quá trình này, doanh nghiệp phải tích luỹ vốn

từ lợi nhuận đem lại và tăng thêm từ nguồn vốn khác như đi vay vốn, liên

doanh liên kết, gọi vốn cổ phần… hoặc doanh nghiệp lớn thôn tính, nhận sự sáp nhập của các doanh nghiệp yếu và nhỏ hơn do đó vốn và khả năng sản xuất của doanh nghiệp đều được tăng lên Trong quá trình vận động như vậy,

sự ra đời và phát triển của các công ty cấu trúc mạng trở thành một tất yếu khách quan

 Quy luật cạnh tranh, liên kết và tối đa hóa lợi nhuận Đấu tranh để giành ưu thế trong cạnh tranh là quy luật hoạt động tất yếu của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, cuộc cạnh tranh khốc liệt đó không bao giờ chấm dứt và tất yếu dẫn đến hai xu thế chính:

 Những doanh nghiệp đứng vững và chiến thắng trong cuộc cạnh tranh sẽ thôn tính các doanh nghiệp bị thất bại từ đó có thêm nguồn lực

để mở rộng quy mô hoạt động của mình, bành trướng để mở rộng thị trường

 Nếu cuộc cạnh tranh kéo dài bất phân thắng bại thì các doanh nghiệp

có xu hướng thoả hiệp với nhau để chấm dứt cạnh tranh, liên kết lại thành những tổ chức lớn hơn nhằm khống chế thị trường, thu lợi nhuận siêu ngạch

Như vậy, theo xu hướng nào đi nữa thì đều dẫn tới sự ra đời của các công ty cấu trúc mạng

 Tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ Yếu tố quyết định cho sự thành bại của doanh nghiệp trong cuộc cạnh tranh là việc nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ Muốn đổi mới công nghệ cần phải có nhiều vốn, tiến hành trong thời gian nhiều năm nhưng

độ rủi ro rất cao và cần phải có lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật đủ mạnh Một doanh nghiệp nhỏ, mạnh mún biệt lập không đủ sức làm được việc trên Điều này đòi hỏi phải có doanh nghiệp lớn mà công ty cấu trúc mạng là loại hình tiêu biểu

 Do ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng và suy thoái

Trang 15

Nền kinh tế các nước không tránh khỏi những thời kỳ khủng hoảng và

suy thoái Đó là thời kỳ vô cùng khó khăn cho các doanh nghiệp và chỉ có

những doanh nghiệp có vốn và tiềm lực mạnh mới có thể vượt qua những

biến động mang tính chu kỳ đó Do vậy, nhằm tránh những rủi ro và thiệt hại

này các doanh nghiệp có xu hướng liên kết lại với nhau thành các công ty cấu

trúc mạng có quy mô lớn để cùng tồn tại và phát triển

 Trình độ khu vực hóa và toàn cầu hóa về kinh tế

Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một

trong những xu hướng chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại Toàn cầu

hoá kinh tế tạo ra những quan hệ gắn bó, sự phụ thuộc lẫn nhau và những tác

động qua lại hết sức nhanh nhạy giữa các nền kinh tế Thông qua quá trình tự

do hoá, thuận lợi hoá thương mại, dịch vụ, đầu tư, toàn cầu hoá tạo ra những

lợi thế mới thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy mạnh giao lưu kinh tế

giữa các nước, góp phần khai thác tối đa lợi thế so sánh của các nước tham

gia vào nền kinh tế toàn cầu

Quá trình toàn cầu hoá thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các nước vào

nền kinh tế thế giới và khu vực Có thể nói hiện nay hầu như không có một

quốc gia nào đứng ngoài quá trình hội nhập quốc tế nếu không muốn tự cô lập

mình và rơi vào nguy cơ tụt hậu Hầu hết các nước trên thế giới đều điều

chỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế

quan và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ; luân chuyển

các nhân tố sản xuất như vốn, lao động kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông

thoáng hơn Để khỏi bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, các nước, nhất là các

nước đang phát triển, đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung đó

Thông qua quá trình tự do hoá thương mại và dịch vụ, một lực lượng

lớn các công ty đa quốc gia, các công ty xuyên quốc gia đã được hình thành

Đây là các công ty, tập đoàn có mô hình mạng toàn cầu

Như vậy, có thể nói trình độ khu vực hoá và toàn cầu hoá có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của của các công ty có mô hình cấu trúc mạng Tự do hoá thương mại hàng hoá và dịch vụ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xây dựng và phát triển mô hình cấu trúc mạng, đặc biệt là mạng toàn cầu

1.3.2 Xu thế phát triển của công ty cấu trúc mạng:

Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp cần phải độc lập,

tự chủ để năng động trong cạnh tranh Hơn nữa cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và phân công lao động xã hội, để tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp nghiệp phải tăng cường sự tích tụ, tập trung vốn trên cơ sở tích lũy nội bộ và liên doanh liên kết để đổi mới công nghệ, thiết bị, đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng sản phẩm với chi phí thấp nhất, cùng với sự thay đổi của môi trường đầu tư kinh doanh, để giải phóng được sức sản xuất thì việc không ngừng đổi mới mô hình sản xuất kinh doanh đã trở thành một nhu cầu cầu thường xuyên của doanh nghiệp Kinh nghiệm của nước có nền kinh tế thị trường phát triển cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã rất thành công trong việc sử dụng cơ chế góp vốn để hoàn thiện cơ chế quản lý và tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Bằng việc hạn chế mức vốn góp ở nhiều mức độ khác nhau, từ đó hình thành mối quan

hệ nhiều tầng giữa công ty gốc và các công ty vệ tinh để thực hiện mục tieue phát triển nhất định trên cơ sở lợi ích kinh tế

Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, công ty cấu trúc mạng thể hiện rõ

ưu điểm của mình đó là công ty gốc không chỉ chi phối công ty vệ tinh bằng vốn mà còn bằng cả uy tín, thị phần, sở hữu công nghệ, Công ty gốc đã tạo dựng được việc làm, thu nhập cho các công ty con, do đó càng tạo cơ sở vững chắc để củng cố, tăng cường sự quản lý hợp tác và lợi ích kinh tế giữa công ty gốc và công ty vệ tinh

Trang 16

Mặc khác bằng cơ chế góp vốn để hình thành nên các công ty vệ tinh,

công ty gốc còn sử dụng được lợi thế của các công ty vệ tinh về các mặt: lao

động, tài nguyên, thị trường tiêu thụ sản phẩm

Như vậy, nhờ cơ chế góp vốn linh hoạt thông qua hình thành mối quan

hệ giữa công ty mẹ và các công ty con như trên đã tạo điều kiện cho doanh

nghiệp phát triển với quy mô và năng lực ngày càng lớn mạnh và vượt phạm

vi một ngành, một lĩnh vực, quốc gia để trở thành những công ty, những tập

đoàn lớn mạnh như Tập đoàn Sam Sung hoạt động sản xuất kinh doanh trên 7

lĩnh vực chính như xây dựng cơ bản và kết cấu hạ tầng, vật liệu xây dựng,

đóng tàu, cơ khí chế tạo các máy công cụ (thiết bị cơ khí, máy xây dựng, động

cơ ) và sản phẩm gia dụng (máy giặt, điều hoà, tủ lạnh ), hoá chất, lọc dầu,

điện tử và tin học Tập đoàn Huyndai, LG, DAEWOO sản xuất trên khoảng

5- 6 lĩnh vực công nghiệp quan trọng với khoảng 20, 30 công ty; 40- 50 chi

nhánh trong và ngoài nước, hàng chục cơ sở nghiên cứu và đào tạo, thậm chí

có cả một hệ thống điều dưỡng, bệnh viện, khu văn hoá thể thao gắn với các

khu tập thể của công nhân tại các cơ sở sản xuất tập trung của tập đoàn

Chính sự phát triển thành công của các mô hình công ty cấu trúc mạng

đã tạo ra sự quan tâm của nhà nghiên cứu quản lý và doanh nghiệp Việt Nam

khi đang trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện các mô hình tổ chức của mình,

trong đó có Tổng công ty Sông Đà

1.4 Mối quan hệ giữa mô hình công ty cấu trúc mạng và mô hình công ty

mẹ công ty con, mô hình tập đoàn kinh tế

Tập đoàn kinh tế đã xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ XX ở các

nước tư bản phát triển Nhưng cho đến nay, các nhà kinh tế vẫn chưa cùng

nhau đưa ra một tên gọi cũng như một khái niệm chính xác và thống nhất về

tập đoàn kinh tế Ở các nước tư bản phương Tây, Tập đoàn kinh tế thường

được gọi là Cartel, Syndiacate, Conglomerate, Incorporation, Concern ,

trong khi đó ở Nhật Bản lại được gọi bằng Zaibatsu trước đây hay Keiretsu

hiện nay, còn ở Hàn Quốc lại được gọi là Chaebol Điểm khác nhau chủ yếu trong quan niệm về tập đoàn kinh tế là việc xác định tư cách pháp nhân của tập đoàn kinh tế Một số nhà kinh tế cho rằng tập đoàn kinh tế là pháp nhân kinh tế do Nhà nước thành lập gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và tài chính trên qui mô lớn

Ở nhiều nước, tập đoàn kinh tế không phải là một định chế pháp lý, tuy tập đoàn kinh tế bao gồm nhiều doanh nghiệp có mối quan hệ sở hữu và khế ước với nhau, hoạt động trong một hay nhiều ngành kinh doanh khác nhau trên một hoặc nhiều quốc gia Mặc dù có sự khác nhau nhất định về quan niệm và tên gọi nhưng tập đoàn kinh tế vẫn có một số đặc điểm chung Tập đoàn không phải là một doanh nghiệp mà là một tổ hợp các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong đó các doanh nghiệp có mối liên kết với nhau bằng tài chính, công nghệ, thị trường và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các doanh nghiệp tham gia liên kết Các doanh nghiệp này kinh doanh trong cùng một ngành, một lĩnh vực hay trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau, trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia, nhưng có định hướng vào ngành sản phẩm, dịch vụ chủ đạo, lĩnh vực kinh doanh chính vượt trội trong quá trình cạnh tranh hoặc độc quyền mà có Mức độ liên kết chặt chẽ hay lỏng lẻo là tuỳ thuộc khả năng, trong đó chủ yếu là năng lực tài chính, lợi ích kinh tế, ý chí của các doanh nghiệp, kể cả ý chí của Nhà nước (đối với một số trường hợp) trong quan hệ kinh doanh Tuỳ thuộc mức độ liên kết mà tạo ra các loại hình tổ chức tập đoàn

Về mặt sở hữu thông thường các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu hỗn hợp của nhiều chủ (dưới hình thức công ty cổ phần), hoặc của gia đình (tập đoàn gia đình ở các chaebol Hàn Quốc) hoặc cũng có thể là một chủ tại công ty mẹ

Tổ chức liên kết trong tập đoàn đều thông qua môi liên kết chủ yếu là mối liên kết công ty mẹ – công ty con Đặc điểm của mối liên kết này là:

Trang 17

- Công ty mẹ tiến hành đầu tư vốn vào các công ty con và chi phối các công

ty con qua vốn đầu tư; các công ty con đầu tư tiếp vào các công ty cháu,

các công ty con hoặc các công ty cháu có thể đầu tư lẫn nhau

- Công ty con hạch toán độc lập với công ty mẹ

- Công ty mẹ thường là người đầu tư lớn nhất với mức chi phối công ty con

- Mối liên kết được duy trì hoặc chấm dứt bằng cách công ty mẹ đầu tư vốn

hoặc rút vốn khỏi công ty con

- Quyền của công ty mẹ, trong đó quyền chi phối và mức độ chi phối của

công ty mẹ được quy định trong điều lệ của công ty con phù hợp với luật

pháp về loại hình công ty con của quốc gia mà công ty con đăng ký; quyền

lợi kinh tế của công ty mẹ được đảm bảo thông qua chế độ phân chia lợi

nhuận theo phần vốn góp

Các liên kết khác của mối quan hệ tập đoàn bao gồm liên kết về tài

chính nhưng chưa ở mức độ quan hệ dạng công ty mẹ – công ty con (mức vốn

đầu tư cổ phần nhỏ hơn 50% chưa đủ mức chi phối các công ty khác cùng

tham gia liên kết)

Ngoài ra, tập đoàn không chỉ liên kết bằng vốn thông qua mối quan hệ

công ty mẹ – công ty con mà còn thu hút cả những doanh nghiệp độc lập,

không có liên kết về vốn vào quan hệ kinh doanh với các doanh nghiệp trong

tập đoàn Liên kết này thực hiện dưới nhiều hình thức vệ tinh như: gia công,

cung cấp bán thành phẩm, cung cấp đầu vào, phân phối và tiêu thụ đầu ra Đối

tác tham gia làm vệ tinh không chỉ là các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể

trong nước mà còn là các doanh nghiệp, thậm chí cả các thành viên của các

tập đoàn khác thuộc nhiều quốc gia

Như vậy, trong mô hình tập đoàn nếu xét về mặt sở hữu và đầu tư tài

chính thì sự liên kết giữa công ty mẹ – công ty con là hình thức mạng nội bộ,

trong đó công ty con thực hiện tất cả các khâu của quá trình sản xuất

Trong trường hợp công ty mẹ đưa ra ngoài doanh nghiệp các khâu mà các công ty khác thực hiện tốt hơn bằng cách chuyển các công ty con thành các công ty liên kết hoặc có thể không tham gia đầu tư sở hữu nữa mà chuyển sang hình thức liên kết chiến lược thì đó là hình thức mạng hướng ngoại Trong trường hợp công ty mẹ chỉ thực hiện một vài khâu cơ bản nhất còn lại phần lớn là do công ty vệ tinh – công ty không có mối liên kết sở hữu

và công ty liên kết thực hiện thì đó là hình thức mạng năng động

Mối quan hệ giữa công ty mẹ với công ty con được xác định trong quy định của pháp luật và điều lệ của công ty tương đối ổn định Tuy nhiên, việc liên kết mạng thì lại rất linh hoạt Một công ty hôm nay còn là công ty con của công ty khác, ngày mai có thể chỉ là công ty liên kết hoặc hoàn toàn độc lập với công ty mẹ nếu công ty mẹ bán một phần hoặc toàn bộ số cổ phần ở công ty con cho công ty khác Ngược lại, một công ty có thể trở thành công ty

mẹ của công ty khác nếu nó mua lại được số cổ phần đủ để chi phối công ty

đó Mô hình công ty cấu trúc mạng và mô hình công ty mẹ – công ty con có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau Hay nói một cách khác, mô hình công ty mẹ – công ty con là một công ty cấu trúc mạng phức hợp Mặc dù có các cách định nghĩa khác nhau về tập đoàn kinh tế, nhưng tất cả đều thống nhất rằng tập đoàn kinh tế là một tổ hợp công ty mẹ và các công ty con Tập đoàn có thể có quy mô nhỏ, vừa, lớn thậm chí rất lớn Tập đoàn có thể hoạt động trong một vùng, một nước hoặc xuyên quốc gia Việc hình thành công ty mẹ – công ty con đương nhiên sẽ hình thành tập đoàn kinh

tế Việc hình thành tập đoàn kinh tế dựa trên mô hình công ty mẹ – công

ty con với các liên kết mạng là hoàn toàn khả thi

Trang 18

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CẤU TRÚC CỦA TỔNG CÔNG TY SÔNG ĐÀ VÀ

KHẢ NĂNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH CÔNG TY CẤU TRÚC MẠNG

2.1 Giới thiệu về Tổng công ty Sông Đà

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty Sông Đà

Tổng công ty Sông Đà là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ

Xây dựng được thành lập từ năm 1960, tên giao dịch quốc tế là Song Da

Corporation Hoạt động kinh doanh chính của Tổng công ty thuộc các lĩnh

vực xây lắp như xây dựng công trình thuỷ điện, cơ sở hạ tầng, các công trình

giao thông, xây dựng công nghiệp, dân dụng, đường dây và trạm ; đầu tư

kinh doanh các dự án sản xuất công nghiệp như: điện, thép, xi măng, sản

phẩm may xuất khẩu và vật liệu xây dựng khác; đầu tư kinh doanh các khu

công nghiệp, đô thị, hạ tầng và hoạt động tư vấn xây dựng, xuất nhập khẩu

vật tư, thiết bị, công nghệ xây dựng; xuất khẩu lao động; liên doanh, liên kết

với các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài phù hợp với luật pháp và

chính sách của Nhà nước

Tổng công ty Sông Đà là đơn vị duy nhất ở Việt Nam có lực lượng

thiết bị thi công chuyên ngành thuỷ điện tiên tiến và hiện đại Tổng công ty

Sông Đà đã tham gia xây dựng hầu hết các công trình thủy điện lớn của đất

nước Đó là Nhà máy thủy điện Thác Bà - 108MW, Thủy điện Hòa Bình -

1.920MW, Thủy điện Trị An - 400MW, Thủy điện Vĩnh Sơn - 66MW, Thủy

điện Yaly - 720MW, Thủy điện Sông Hinh - 66MW Các công trình này đã

cung cấp 70% sản lượng điện của toàn quốc, góp phần đáng kể vào sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tổng công ty được Nhà nước giao làm tổng thầu EPC thực hiện dự án

đầu tư Nhà máy thủy điện Sê San 3- 273MW, Nhà máy thủy điện Tuyên

Quang- 342MW theo phương thức hợp đồng chìa khóa trao tay và làm chủ

đầu tư nhiều công trình thủy điện vừa và nhỏ như: Nhà máy BOT thủy điện Cần Đơn, Nhà máy thủy điện Ryninh 2, Nà Lơi, Sê San 3A, Nậm Mu theo phương thức BO

Tổng công ty đã xây dựng nhiều công trình đường dây và trạm biến áp cao thế như Đường dây 220kV Phả Lại - Bắc Giang, 500kV Bắc - Nam, 500KV Phú Lâm - Pleiku, Trạm biến áp 500KV Hòa Bình - Pleiku, Trạm biến

áp 220KV Việt Trì, Tràng Bạch, Bắc Giang, Sóc Sơn và nhiều công trình hạ thế phục vụ phát triển dân sinh khác

Bên cạnh đó, Tổng công ty đã thực hiện nhiều hợp đồng lớn thuộc lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng và cải tạo các đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10, Đường Hồ Chí Minh đặc biệt là xây dựng Hầm đường bộ qua đèo Hải Vân theo công nghệ đào hầm mới của Áo (NATM), các công trình công nghiệp yêu cầu kỹ thuật cao như: Nhà máy giấy Bãi Bằng, Dệt Minh Sơn, Nhà máy xi măng Bút Sơn, Nghi Sơn, Hoàng Mai và các công trình xây dựng lớn như khách sạn Thủ Đô, Tòa nhà Khách sạn Mặt trời Sông Hồng, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Trung tâm Bưu chính Viễn thông Tổng công ty là Chủ đầu tư các Nhà máy xi măng Hòa Bình, Nhà máy xi măng Sông Đà - Yaly, Nhà máy xi măng Hạ Long, Nhà máy thép Việt- Ý, Khu đô thị Mỹ Đình - Mễ Trì, Khu công nghiệp Phố Nối A Hưng Yên, cùng nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp khác

Trong quá trình trên 40 năm phát triển và trưởng thành, Tổng công ty Sông Đà đã tích luỹ được rất nhiều kinh nghiệm trong quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh các công trình trọng điểm lớn của đất nước Hiện nay,Tổng công ty có 67 đơn vị thành viên bao gồm các công ty 100% vốn Nhà nước, các công ty TNHH một thành viên, các công ty cổ phần , với một đội ngũ hơn 30.000 cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề (trong đó có hơn 6.000 cán bộ kỹ thuật, quản lý có trình độ Đại học và trên Đại học), có lực lượng xe máy thiết bị thi công hiện đại với giá trị trên 500 triệu USD Các công trình

Trang 19

của Tổng công ty thi công luôn luôn đảm bảo chất lượng và nhiều công trình

được cấp giấy chứng nhận đạt chất lượng cao

Năm 2005, tổng giá trị sản xuất kinh doanh đạt 7.375 tỷ đồng, dự kiến

kế hoạch năm 2006 là 8.100 tỷ đồng Đạt được thành quả đó là nhờ có đường

lối, chính sách đúng đắn của Đảng uỷ, Hội đồng quản trị Tổng công ty, với

phương châm tích cực, chủ động, sáng tạo trong mọi công việc, phát huy cao

độ mọi nội lực và tiềm năng sẵn có đã đề ra được kế hoạch định hướng chiến

lược sát thực, trên cơ sở đó chỉ đạo, quản lý, điều hành thực hiện đúng mục

tiêu đề ra

Tổng công ty Sông Đà đã cùng với các doanh nghiệp Nhà nước khẳng

định được vai trò then chốt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Với

những thành tích đã đạt được, Tổng công ty Sông Đà đã được nhận nhiều

danh hiệu và phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và của

ngành Xây dựng Mười một cán bộ, công nhân của Tổng công ty đã được

phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động

Ngày nay, với uy tín, chất lượng xây dựng công trình cũng như việc

quản lý chỉ đạo điều hành, Tổng công ty đã được Thủ tướng Chính phủ giao

làm tổng thầu xây lắp công trình thuỷ điện Sơn La Đây là công trình thuỷ

điện lớn nhất Đông Nam Á với tổng số vốn đầu tư 36.933 tỷ đồng (chưa kể lãi

vay trong thời gian xây dựng)

Với đặc thù ngành nghề của một Tổng công ty thực hiện thi công

những công trình thuỷ điện lớn nhất của cả nước, thường là ở những vùng

rừng núi, Tổng công ty Sông Đà còn hoàn thành tốt những nhiệm vụ chính trị

- kinh tế - xã hội quan trọng Để làm thuỷ điện, phải huy động lực lượng lao

động lớn trong đó một phần là nhân công địa phương tại mỗi công trình Thời

gian thi công kéo dài trong nhiều năm tại vùng sâu vùng xa nên vấn đề ổn

định cuộc sống cho người lao động được Tổng công ty quan tâm, chú trọng

Tuy nhiên khi mỗi công trình lớn được hoàn thành lại đặt ra những bài toán nan giải trong việc giải quyết công ăn việc làm mới và những vấn đề xã hội cho cán bộ công nhân viên Vào những năm cuối của thập kỷ 90, trước khi được nhận nhiều dự án với những tiềm năng việc làm dồi dào kéo dài trong hàng chục năm như hiện nay, Tổng công ty đã trải qua thử thách “hậu Hoà Bình” và sự đe doạ của “hậu Yaly” Những khó khăn chính của thời điểm đó

là khi lực lượng lao động lớn dư thừa, chưa thích nghi với đa dạng hoá ngành nghề nên năng lực đấu thầu chưa cao trong các dự án dân dụng và công nghiệp ngoài chuyên ngành Với những nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên, Tổng công ty đã vượt qua những khó khăn trên và vươn tới tầm cao mới như hôm nay

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước, nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, đồng thời tăng cường tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII của Tổng công ty Sông Đà khẳng định “Tổ chức sắp xếp lại Tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên theo hướng đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo của Tổng công ty; Tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị thành viên về kết quả sản xuất kinh doanh trước Tổng công ty và pháp luật; ổn định, phát triển, nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh, xây dựng Tổng công ty thành

tập đoàn kinh tế”[33] Nghị quyết nêu rõ định hướng và mục tiêu phát triển

Tổng công ty trong giai đoạn 10 năm 2001-2010 là:

- Xây dựng và phát triển Tổng công ty thành tập đoàn kinh tế mạnh đa dạng hoá ngành nghề, đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở duy trì và phát triển ngành nghề xây dựng truyền thống để đảm bảo Tổng công ty Sông Đà là một nhà thầu mạnh có khả năng làm tổng thầu các công trình lớn ở trong nước và quốc tế

Trang 20

- Phát huy cao độ mọi nguồn lực để nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần

quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Với dự

án thuỷ điện Sơn La đang được triển khai, đây được coi là công trình

xương sống đảm bảo thực hiện kế hoạch phát triển trên, đảm bảo công ăn

việc làm cho số lượng lớn cán bộ công nhân viên của Tổng công ty trong

giai đoạn chuyển đổi then chốt

2.1.2 Ngành nghề và lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty Sông Đà

* Xây dựng thuỷ điện là một lĩnh vực hoạt động chuyên ngành của Tổng

công ty Sông Đà Tổng công ty đã xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện lớn của

đất nước như: Thuỷ điện Hoà Bình, Yaly

* Xây dựng hầm và các công trình ngầm là một trong nhiều lĩnh vực hoạt

động thế mạnh của Tổng công ty Sông Đà Tổng công ty luôn không ngừng

đầu tư đổi mới thiết bị thi công hầm, ứng dụng các công nghệ thi công mới

của các nước tiến tiến

* Xây lắp đường dây và trạm biến áp là một trong những lĩnh vực hoạt

động chính của Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty có khả năng về nhân lực,

thiết bị thi công xây lắp các công trình thủy điện như: trạm biến áp, đường

dây cao thế và hạ thế, cải tạo lưới điện, hệ thống điện công nghiệp và dân

dụng

* Xây dựng công nghiệp: Với hơn 40 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực xây

dựng công nghiệp, Tổng công ty Sông Đà đã xây dựng nhiều nhà máy, công

trình công nghiệp quan trọng góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước

* Xây dựng dân dụng là lĩnh vực mà Tổng công ty Sông Đà đã có nhiều năm

kinh nghiệm xây dựng, lắp đặt thiết bị, trang trí nội thất tại các công trình với

quy mô lớn như trụ sở làm việc, tòa nhà cao tầng, khách sạn theo tiêu chuẩn

quốc tế Các công trình dân dụng do Tổng công ty xây dựng đều đạt được

chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật cao

* Xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình giao thông: Xây dựng mới, cải

tạo và nâng cấp đường bộ là lĩnh vực hoạt động mạnh của Tổng công ty Sông

Đà Lực lượng xây dựng đường của Tổng công ty không ngừng lớn mạnh, đã phối hợp thi công nhiều loại đường với tiêu chuẩn kỹ thuật cao

* Sản xuất công nghiệp: Tổng công ty Sông Đà luôn chú trọng đầu tư phát

triển lĩnh vực sản xuất công nghiệp Các sản phẩm chính của Tổng công ty là: thép, xi măng, cát, đá xây dựng, bê tông thương phẩm, gia công cơ khí và hàng may mặc xuất khẩu Hiện nay, các nhà máy công nghiệp đang hoạt động hiệu quả, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất kinh doanh của Tổng công ty và cung cấp mạnh sản phẩm ra thị trường bên ngoài

* Lĩnh vực đầu tư: Từ khi thành lập Tổng công ty Sông Đà đã chú trọng tích

lũy nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư và quản lý dự án Ngày nay, Tổng công ty đang đầu tư xây dựng và làm Chủ đầu tư các dự án lớn như nhà máy thuỷ điện Sê San 3A, thuỷ điện Cần Đơn, Nhà máy Xi măng Hạ Long, Nhà máy thép Việt - Ý, Khu đô thị mới Mỹ Đình - Mễ Trì

* Tư vấn xây dựng: lĩnh vực hoạt động tư vấn, khảo sát và thiết kế của công

ty bao gồm các công trình thủy điện vừa và nhỏ, công trình công nghiệp, công trình dân dụng, khảo sát thiết kế các khu công nghiệp, khu chế xuất, tư vấn lập dự án, báo cáo nghiên cứu khả thi các dự án, tư vấn đấu thầu công trình Ngoài ra, Tổng công ty còn liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài thành lập các công ty chuyên về tư vấn đầu tư như Công ty Sông Đà- Ukrin, Công ty Sông Đà - SMC

* Xuất nhập khẩu: Tổng công ty Sông Đà trực tiếp tham gia hoạt động xuất

nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của Tổng công ty và cung cấp cho thị trường bên ngoài như các sản phẩm như máy móc, thiết bị xây dựng hiện đại, vật liệu xây dựng, xuất khẩu lao động

* Vận tải: Tổng công ty Sông Đà có lực lượng vận tải mạnh, đủ khả năng vận

chuyển mọi loại hàng hóa, bao gồm cả hàng siêu trường, siêu trọng bằng

Trang 21

đường bộ hay đường thủy Hiện nay, Tổng công ty có lực lượng vận chuyển

với tải trọng 5.000 tấn phương tiện vận tải đường thủy và 1.500 tấn phương

tiện vận chuyển, bốc dỡ đường bộ

* Cơ khí, chế tạo và lắp máy: Tổng công ty đã trực tiếp gia công, lắp đặt

hàng trăm tấn thiết bị cơ khí, chế tạo các chi tiết phụ tùng thay thế của các

loại máy xây dựng, gia công chế tạo các loại chi tiết cơ khí phi tiêu chuẩn

phục vụ công tác lắp đặt thiết bị tại các công trình

* Nghiên cứu, đào tạo: Công tác đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật không

ngừng được đầu tư, nâng cao về chất lượng, nội dung đào tạo Tổng công ty

Sông Đà liên tục tổ chức các khóa đào tạo do các chuyên gia nước ngoài trực

tiếp truyền đạt cho các kỹ sư Sông Đà

2.1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh trong trong thời gian qua của Tổng

công ty Sông Đà

Có thể nói trong những năm vừa qua, Tổng công ty Sông Đà đã có

những bước phát triển vượt bậc, hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ kế hoạch

đặt ra trong từng năm Các công trình giao thầu đã được gấp rút triển khai thi

công đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng Các cơ sở sản xuất công nghiệp của

Tổng công ty đảm bảo công suất, chất lượng sản phẩm được nâng cao, đang

dần khẳng định được thương hiệu sản phẩm và chiếm lĩnh thị trường Năng

lực thi công, năng lực tư vấn ngày càng được tăng cường Tổng công ty đã

vinh dự được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu “Đơn vị anh hùng thời kỳ đổi

mới”

Có được kết quả đáng tự hào đó là nhờ sự chỉ đạo sát sao của Hội đồng

quản trị, Tổng giám đốc và các bộ phận tham mưu cho lãnh đạo Tổng công ty

với phương châm “Đoàn kết thực sự, đổi mới triệt để, chủ động sáng tạo, bám

sát đường lối, bám việc đến cùng, dám chịu trách nhiệm, quyết định kịp thời”

nhằm mục tiêu “Năng suất cao hơn, chất lượng cao hơn, hiệu quả cao hơn, thu

nhập cao hơn” Bên cạnh đó là sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước, Bộ Xây

dựng, các Bộ – Ngành có liên quan, các địa phương, cùng với tinh thần đoàn kết và sự nỗ lực phấn đấu của toàn toàn thể cán bộ công nhân viên toàn Tổng công ty Các kết quả cụ thể như sau:

- Tất cả các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh đều có mức tăng trưởng cao qua các năm Cụ thể: giá trị sản xuất kinh doanh năm 2005 đạt 7.375 tỷ đồng tăng 119,9% so với năm 2004, tăng 171,5% so với năm 2003, tăng 254,8%

so với năm 2002, tăng 348,6% so với năm 2001; doanh thu năm 2005 đạt 6.100,1 tỷ đồng tăng 102,8% so với năm 2004, tăng 151,5% so với năm

2003, tăng 259,2% so với năm 2002 và tăng 328% so với năm 2001 Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế của Tổng công ty Sông Đà đạt ở mức cao, năm

2005 đạt 260 tỷ, năm 2004 là 231,8 tỷ, năm 2003 là 86,5 tỷ và năm 2002 là 46,5 tỷ đồng

- Hoàn thành các mục tiêu tiến độ các công trình trọng điểm của Nhà nước cũng như các công trình đầu tư của Tổng công ty như Nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang, Sê San 3, Sê San 3A, Plêikrông, hầm đường bộ qua đèo Ngang, hầm Hải Vân, đường Hồ Chí Minh,

- Các cơ sở sản xuất công nghiệp mới đã đi vào sản xuất ổn định, đảm bảo chất lượng và phát huy hiệu quả vốn đầu tư như Nhà máy thủy điện Ry Ninh 2,

Nà Lơi, Cần Đơn, Nhà máy thép Việt – Ý Giá trị sản xuất công nghiệp đạt mức tăng cao, năm 2005 đạt 1778,5 tỷ đồng bằng 107,4% so với năm 2004 (1655 tỷ đồng), năm 2003 là 993,7 tỷ, năm 2002 là 287 tỷ đồng, còn năm

Trang 22

- Công tác sắp xếp, đổi mới phát triển doanh nghiệp ở Tổng công ty thực

hiên được kế hoạch đề ra: sắp xếp, định biên và bổ sung chức năng nhiệm

vụ cho các phòng ban Tổng công ty phù hợp với tình hình mới; hoàn chỉnh

phương án cơ cấu và sắp xếp lại các đơn vị yếu kém, làm ăn thua lỗ; bộ

máy các Ban điều hành, Ban quản lý đã được sắp xếp ổn định và cơ bản

đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh; tiến hành cổ phần hoá được

hầu hết các đơn vị thành viên, hoàn thành chương trình quản lý chất lượng

theo ISO 9001-2000 ở Tổng công ty và một số đơn vị thành viên

- Đảm bảo việc làm cho 27.332 người với thu nhập bình quân 1,844 triệu đồng/

tháng

Bảng 2.1 : Các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh chủ yếu

của Tổng công ty Sông Đà từ 2001 – 2005

3.000 1.517

287 47,6

195 626,3 76,3

251 7.489

4.300 2.145 993,7 76,3 347,6 232,5 157,3 347,6 13,8

6.150 2.772 1.655

1779

120

600 237,5

486 967,5 15,03

2 Lao động, tiền lương

26,36 1.540

27,21 1.723

27,33 1.844

30 126,5

531 15,5 8,9

622

41,6 157,9 619,5

26 94,7 3.494

435

187 552,5 15,33

41

140 3.603

421

192 873,9 22,77

65

148

1085 Nguồn: Tổng công ty Sông Đà (Báo cáo tổng kết năm 2001-2005)

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh Năm

Nội dung

Nguồn: Tồng công ty Sông Đà (Báo cáo thực hiện kế hoạch tài chính 2001-2005)

2.2 Thực trạng cấu trúc của Tổng công ty Sông Đà:

2.2.1 Mô hình hoạt động của Tổng công ty hiện nay

Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Sông Đà bao gồm: Hội đồng quản trị

- Tổng giám đốc Tổng công ty - Các phòng ban chức năng và các đơn vị thành viên trực thuộc:

Hội đồng Quản trị, thực hiện chức năng quản lý hoạt động của Tổng công ty, chịu trách nhiệm về sự phát triển của Tổng công ty theo nhiệm vụ

Trang 23

của Nhà nước giao và yêu cầu của thị trường Hội đồng quản trị Tổng công ty

có quyền nhận vốn (kể cả nợ), đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do

Nhà nước giao cho Tổng công ty; xem xét phê duyệt các vấn đề quan trọng do

Tổng giám đốc đề nghị, kiểm tra giám sát việc thực hiện

Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của Tổng công ty và chịu trách

nhiệm trước Hội đồng quản trị, trước Bộ trưởng Bộ Xây dựng và trước pháp

luật về điều hành hoạt động của Tổng công ty Tổng giám đốc là người điều

hành cao nhất trong Tổng công ty

Các phòng ban chức năng Tổng công ty có chức năng tham mưu, giúp

việc Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong quản lý và điều hành công

việc

Tổng công ty có 72 đơn vị thành viên bao gồm (theo phụ lục 1):

- Doanh nghiệp hạch toán độc lập: 12 đơn vị

- Doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc: 08 đơn vị

- Đơn vị hành chính sự nghiệp: 03 đơn vị

- Các văn phòng đại diện: 05 đơn vị

- Các công ty liên doanh với nước ngoài: 03 đơn vị

- Các công ty cổ phần do Tổng công ty có cổ phần chi phối: 18 đơn vị

- Các công ty cổ phần do các đơn vị thành viên Tổng công ty giữ cổ phần

chi phối: 16 đơn vị

- Các công ty cổ phần do Tổng công ty hoặc đơn vị thành viên Tổng công ty

giữ cổ phần không chi phối: 07 đơn vị

- Các công ty cổ phần Đơn vị thành viên Tổng công ty có cổ phần không chi

phối

Các đơn vị thành viên Tổng công ty có con dấu, được mở tài khoản tại

ngân hàng phù hợp với phương thức hạch toán của mình, có Điều lệ tổ chức

và hoạt động riêng Các Điều lệ và quy chế này đều do Hội đồng quản trị phê

chuẩn phù hợp với pháp luật và Điều lệ của Tổng công ty

Các đơn vị thành viên hạch toán độc lập là những đơn vị có tư cách pháp nhân đầy đủ, có quyền tự chủ kinh doanh và tự chủ tài chính từ việc huy động vốn đến việc quản lý doanh thu, chi phí, công nợ , chịu sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ đối với Tổng công ty theo luật doanh nghiệp Nhà nước

và Điều lệ của Tổng công ty Tuy nhiên các đơn vị này phụ thuộc chặt chẽ với Tổng công ty thông qua chiến lược phát triển của Tổng công ty, kế hoạch sản xuất kinh doanh của Tổng công ty, kế hoạch đầu tư và phân cấp thực hiện đầu

tư, quy chế tài chính, Do đó việc tự chủ kinh doanh và tài chính không thực

sự đầy đủ như đúng nghĩa của nó

Các đơn vị hạch toán phụ thuộc là những đơn vị có tư cách pháp nhân không đầy đủ, không chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của mình mà trách nhiệm hoàn toàn thuộc về Tổng công

ty Cũng vì không có tư cách pháp nhân nên quyền tự chủ của đon vị cũng bị hạn chế và chỉ thực hiện trên phần được Tổng công ty phân cấp theo quy đinh trong Điều lệ của Tổng công ty

Với quy trình quản lý mang tính mệnh lệnh hành chính như vậy, thì mô hình hiện nay chỉ phù hợp với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ với số lượng đầu mối quản lý ít Khi chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp phát triển với quy mô, năng lực sản xuất lớn hơn, phạm vi hoạt động rộng hơn, ngành nghề kinh doanh đa dạng hơn, số lượng đầu mối quản

lý lớn hơn thì mô hình quản lý hiện nay càng bộc lộ nhiều mặt hạn chế và kìm hãm sự phát triển của Tổng công ty

Trang 24

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Sông Đà

2.2.2 Những ưu điểm và hạn chế của mô hình hiện nay

2.2.2.1 Những ưu điểm:

Tổng công ty Sông Đà là một doanh nghiệp Nhà nước độc lập Mô hình

Tổng công ty rất phù hợp trong những năm bắt đầu đổi mới của đất nước Với

hơn 40 năm thành lập và phát triển, Tổng công ty thường xuyên tổ chức sắp

xếp lại cho phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh, phù hợp với trình độ

CÁC PHÒNG BAN CHỨC NĂNG TỔNG CÔNG TY

CÁC XÍ NGHIỆP, NHÀ MÁY, BAN QUẢN LÝ

DỰ ÁN TRỰC THUỘC

quản lý và năng lực tài chính của Tổng công ty thông qua các biện pháp: phân chia, tách, sáp nhập, chuyển cấp quản lý

Để hội nhập khu vực và quốc tế, phù hợp với sự phát triển của nền kinh

tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước, việc chuyển các Tổng công ty Nhà nước theo các mô hình công ty hiện đại như mô hình công ty cấu trúc mạng (đặc biệt là mô hình công ty mẹ- công ty con) có năng lực đủ mạnh là điều kiện cần thiết trong đó có Tổng công ty Sông Đà

- Qua những năm hoạt động Tổng công ty đã thực hiện được sự tích tụ tập trung vốn để nhanh chóng đổi mới công nghệ, thiết bị, đa dạng hoá ngành nghề, sản phẩm, ; chuyển hướng kinh doanh từ vị trí người sản xuất theo đơn đặt hàng (xây dựng theo đặt hàng của chủ đầu tư) sang vị trí người đặt hàng (chủ đầu tư) Tạo tính tự chủ cho Tổng công ty cũng như các đơn vị thành viên

- Trong sản xuất kinh doanh tỷ trọng về xây lắp, và các dịch vụ truyền thống của Tổng công ty chiếm giá trị đáng kể nên vẫn phát huy được tiềm năng, kinh nghiệm sẵn có của đơn vị

- Với việc thực hiện các chủ trương cổ phần hoá, giao bán, cho thuê, khoán, Tổng công ty đã tạo được sự chuyển dịch cơ cấu của các doanh nghiệp thành viên theo hướng có lợi như: loại bỏ dần các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, làm ăn kém hiệu quả, tập trung đầu tư vào các doanh nghiệp làm ăn

có lãi và những lĩnh vực kinh doanh khác cần thiết hơn

- Các đơn vị thành viên một mặt đang được đa dạng hoá ngành nghề, mặt khác được chuyên môn hoá trong những hoạt động chính như Công ty Sông Đà 10 được chuyên môn hoá trong lĩnh vực thi công hầm, Công ty Sông Đà 6 được chuyên môn hoá trong lĩnh vực sản xuất bê tông, Công ty Sông Đà 12 được chuyên môn hoá trong lĩnh vực vận tải, chuyên chở vật

tư, thiết bị phục vụ thi công các công trình Các đơn vị này dưới sự điều tiết của Tổng công ty cùng phối hợp với nhau cùng thực hiện

Ngày đăng: 15/10/2016, 23:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng (2001), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Khoá IX về việc tiếp tục, sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Khoá IX về việc tiếp tục, sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
33. Tổng công ty Sông Đà, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tổng công ty Sông Đà nhiệm kỳ VIII (2001-2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng công ty Sông Đà
34. GS.TS Vũ Huy Từ (2002), Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hoá - hiện đại hoá, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Tác giả: GS.TS Vũ Huy Từ
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
44. Gregory G.Dess, Abdul M.A.Rasheed, Kevin.J.McLaughlin and Richard L.Prien (1995), “The New Architecture, Academy of Management Excutive”, no 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The New Architecture, Academy of Management Excutive
Tác giả: Gregory G.Dess, Abdul M.A.Rasheed, Kevin.J.McLaughlin and Richard L.Prien
Năm: 1995
45. Raymond E. Miles and Charles C.Snow (1992), Causes of Failure in Network Organisation, California Management Review Sách, tạp chí
Tiêu đề: Causes of Failure in Network Organisation
Tác giả: Raymond E. Miles and Charles C.Snow
Năm: 1992
28. Tổng công ty Sông Đà, Báo cáo thực hiện kế hoạch tài chính năm 2001 Khác
29. Tổng công ty Sông Đà, Báo cáo thực hiện kế hoạch tài chính năm 2002 Khác
30. Tổng công ty Sông Đà, Báo cáo thực hiện kế hoạch tài chính năm 2003 Khác
31. Tổng công ty Sông Đà, Báo cáo thực hiện kế hoạch tài chính năm 2004 Khác
32. Tổng công ty Sông Đà, Báo cáo thực hiện kế hoạch tài chính năm 2005 Khác
41. A joint project by Booz, Allen anh Hamilton (May 1999), Competing in the Digital Age and How the Internet will transform Business Khác
43. G.D Huber anh W.M. Glick (1993), Organizational Change For Improving Performance, Oxford University Press Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình công ty cấu trúc mạng - Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà
Hình c ông ty cấu trúc mạng (Trang 2)
Hình 1.1: Các giai đoạn xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng - Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà
Hình 1.1 Các giai đoạn xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng (Trang 9)
Hình 1.2: Mô hình mạng nội bộ - Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà
Hình 1.2 Mô hình mạng nội bộ (Trang 10)
Hình 1.3: Mô hình mạng ổn định - Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà
Hình 1.3 Mô hình mạng ổn định (Trang 11)
Hình 1.4: Mô hình mạng năng động - Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà
Hình 1.4 Mô hình mạng năng động (Trang 11)
Bảng 1.1: So sánh công ty cấu trúc mạng và công ty truyền thống - Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà
Bảng 1.1 So sánh công ty cấu trúc mạng và công ty truyền thống (Trang 12)
Bảng 2.1 : Các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh chủ yếu - Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh chủ yếu (Trang 22)
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh                            Năm - Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà
Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh Năm (Trang 22)
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Sông Đà - Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Sông Đà (Trang 24)
Bảng 3.1: Tổng hợp quy hoạch thuỷ điện theo bậc thang - Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà
Bảng 3.1 Tổng hợp quy hoạch thuỷ điện theo bậc thang (Trang 33)
Hình 3.1: Sơ đồ các quá trình cơ bản trong hoạt động chính - Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà
Hình 3.1 Sơ đồ các quá trình cơ bản trong hoạt động chính (Trang 39)
Hình 3.2: Mô hình cơ cấu tổ chức mạng nội bộ của Tổng công ty Sông Đà - Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà
Hình 3.2 Mô hình cơ cấu tổ chức mạng nội bộ của Tổng công ty Sông Đà (Trang 40)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w