Lũ lụt Miền Trung có những nét ựặc trưng cơ bản: tần suất lớn, trung bình hàng năm có khoảng 3 - 4 trận lũ xuất hiện trên các sông; thời gian truyền lũ rất nhanh, ngập lụt xẩy ra khi có
Trang 1ðẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ðẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN NGỌC ANH
Hà Nội – 2009
Trang 2Lời cảm ơn
sông Nhật Lệ (Mỹ Trung Ờ Tám Lu Ờ đồng Hới) Ợ hoàn thành tại Khoa Khắ
tượng-Thủy văn-Hải dương học thuộc trường đại học Khoa học Tự nhiên, đại
học Quốc gia Hà Nội vào tháng 12 năm 2009, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của
TS Trần Ngọc Anh Tác giả xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới thầy giáo TS
Trần Ngọc Anh ựã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu Luận
văn
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, Cô giáo Khoa Khắ
tượng Thủy văn và Hải dương học ựã giúp ựỡ, tạo ựiều kiện tốt cho tác giả trong
quá trình học tập và nghiên cứu luận văn Tác giả xin chân thành cảm ơn những
ý kiến ựóng góp quý báu của TS Nguyễn Thanh Sơn, chủ nhiệm khoa Khắ
tượng, Thủy văn và Hải dương học
Tác giả cũng xin cám ơn các ựồng nghiệp tại phòng Tài nguyên nước cửa
sông và biển, Viện địa lý và CN đặng đình Khá ựã giúp ựỡ trong quá trình thực
hiện luận văn
Trong khuôn khổ luận văn không tránh khỏi những sai sót, tác giả mong
nhận ựược các ý kiến ựóng góp từ phắa ựộc giả và các bạn ựồng nghiệp
MỤC LỤC
Mở ựầu 1
CHƯƠNG 1 đẶC đIỂM đỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN đẾN VẤN đỀ NGẬP LỤT 3
1.1 đặc ựiểm ựịa lý tự nhiên 3
1.2 đặc ựiểm kinh tế xã hội 12
1.3 Tình hình lũ lụt trên hệ thống sông Nhật Lệ 15
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT XÂY DỰNG BẢN đỒ NGẬP LỤT 19
2.1 Tổng quan chung 19
2.2 Tổng quan về các mô hình thủy văn, thủy lực tắnh toán ngập lụt 21
2.3 Cơ sở lý thuyết mô hình MIKE FLOOD 27
2.4 Giới thiệu quy trình xây dựng bản ựồ ngập lụt kết hợp công cụ GIS 38
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG BẢN đỒ NGẬP LỤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU 43
3.1 Xây dựng cơ sở dữ liệu 43
3.2 Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD 45
3.3 Tắnh toán ngập lụt theo kịch bản ứng với tần suất 1%, 5% và 10% 58
3.4 Xây dựng bản ựồ ngập lụt 61
3.5 Nhận xét 62
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 3MỞ đẦU
Lũ lụt miền Trung nói chung và lưu vực sông Nhật Lệ nói riêng là một
trong những tai biến tự nhiên, thường xuyên ựe dọa cuộc sống của người dân
và sự phát triển kinh tế xã hội trong vùng
Vào những năm cuối thế kỷ XX, ựầu thế kỷ XXI thiên tai lũ lụt ựã liên
tiếp xảy ra ở lưu vực sông Nhật Lệ đặc biệt các trận lũ lịch sử vào tháng XI
và tháng XII/1999 ước tắnh tổn thất nhiều tỷ ựồng, làm chết hàng trăm
người [3, 10] Lũ lụt ựã ựể lại hậu quả hết sức nặng nề, hàng ngàn hộ dân
phải di dời khỏi các vùng sạt lở, ngập lụt, hệ sinh thái môi trường các vùng
cửa sông ven biển bị hủy hoại nghiêm trọng [10]
Lũ lụt Miền Trung có những nét ựặc trưng cơ bản: tần suất lớn, trung
bình hàng năm có khoảng 3 - 4 trận lũ xuất hiện trên các sông; thời gian
truyền lũ rất nhanh, ngập lụt xẩy ra khi có mưa lớn chỉ sau từ 2 ựến 8 giờ; thời
gian duy trì ngập lụt ngắn; cường suất lũ rất lớn và rất bất ổn ựịnh, thay ựổi
theo từng ựoạn sông và từng trận lũ; biên ựộ lũ cao, trung bình từ 2 ựến 3m,
trong một số trận lũ ựặc biệt lớn biên lũ có thể lên ựến 4-5m; thời gian lũ lên
rất ngắn từ 1 ựến 3 ngày [3,5, 7] gây ra ngập lụt nghiêm trọng ở vùng hạ lưu
Sông Nhật Lệcó diện tắch lưu vực 2.650 km2, nằm trong vùng trũng
của duyên hải Trung bộ địa hình lưu vực sông Nhật Lệchủ yếu là ựồi núi
thấp, ựộ cao bình quân lưu vực ựạt 234 m và ựộ dốc ựạt 20,1% Lưu vực có
dạng hình tròn, là tập hợp của 2 nhánh sông Kiến Giang và Long đại Nhánh
sông Kiến Giang có chiều dài 96 km chảy theo hướng Tây Nam - đông Bắc ở
phần thượng du, sau ựó chuyển sang hướng đông Nam - Tây Bắc ở phần hạ
lưu, chạy song song với ựường bờ biển và ựược ngăn cách với biển bằng dãy
ựụn cát cao Nhánh Long đại chảy theo hướng Tây Nam - đông Bắc với
chiều dài 93 km Bề mặt lưu vực bị chia cắt mạnh nên mạng lưới sông suối
khá phát triển với mật ựộ lưới sông 0,84 km/km2 Phần hạ lưu sông thuận lợi
cho việc tập trung nước nên dễ bị úng ngập trong mùa mưa Hàng năm khu vực vẫn chịu ảnh hưởng của các trận lũ gây úng ngập, gây thiệt hại về nhiều mặt kinh tế xã hội cho dân cư trong vùng và uy hiếp thành phố đồng Hới Nhằm mục tiêu giảm thiểu các thiệt hại do lũ lụt gây ra, ựề xuất các phương án phòng chống thông qua các cảnh báo về khả năng và diện tắch
ngập lụt ứng với các trận lũ khác nhau, nghiên cứu này tiến hành ỘXây dựng bản ựồ ngập lụt hạ lưu hệ thống sông Nhật Lệ (Mỹ Trung Ờ Tám Lu Ờ
đồ ng Hới)Ợ Kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở quy hoạch phòng chống lũ
cho khu vực cũng như là tài liệu tham khảo tốt cho các nhà hoạch ựịnh chắnh sách và ra quyết ựịnh ở ựịa phương
Bố cục của luận văn bao gồm:
Mở ựầu Chương 1 đặc ựiểm ựịa lý tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu liên quan ựến vấn ựề ngập lụt
Chương 2 Cơ sở lý thuyết xây dựng bản ựồ ngập lụt Chương 3 Xây dựng bản ựồ ngập lụt khu vực nghiên cứu
Kết luận Tài liệu tham khảo
Trang 4CHƯƠNG 1 - đẶC đIỂM đỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN đẾN VẤN đỀ NGẬP LỤT
1.1 đặc ựiểm ựịa lý tự nhiên
a Vị trắ ựịa lý
Quảng Bình là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ, dựa lưng vào dãy
Trường Sơn hùng vĩ và trông ra Biển đông rộng lớn Lãnh thổ của tỉnh nằm
trong khoảng từ 16o55'08'' ựến 18o05'12'' vĩ ựộ Bắc và từ 105o36'55'' ựến
106o59'37'' kinh ựộ đông Về phắa Bắc, Quảng Bình giáp Hà Tĩnh (136,5 km),
phắa Nam giáp Quảng Trị (78,8 km), phắa đông giáp Biển đông với ựường
bờ biển dài 126 km và phắa Tây giáp với tỉnh Khăm Muộn của CHDCND Lào
với ựường biên giới dài 201,9 km (hình 1.1) Nét ựặc biệt là Quảng Bình ở
vào nơi hẹp nhất của lãnh thổ nước ta Tại đồng Hới, chiều ngang từ Tây
sang đông không vượt quá 50 km
Diện tắch tự nhiên của Quảng Bình là 8.051 km2, chiếm hơn 2,4% diện
tắch toàn quốc với số dân trung bình năm 1999 ở mức 797.176 người, bằng
1,04% dân số Việt Nam
Về phương diện vị trắ, có thể coi Quảng Bình như một bản lề trong
không gian ựất nước cũng như trong thời gian của lịch sử dân tộc, là nơi giao
thoa của các ựiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội giữa miền Bắc và miền Nam
Về mặt tự nhiên, vùng ựất này là nơi kết thúc của sự phân bố ựại trà ựá
vôi và là nơi bắt ựầu của sự phân bố ựá granit theo diện rộng Dọc theo duyên
hải, ựây cũng là nơi chấm dứt kiểu bờ biển phẳng, thấp và bắt ựầu kiểu bờ
biển của miền Trung với những cồn cát cao chạy dài theo bờ biển Nhiều loại
cây phương Nam không phân bố quá ựèo Ngang và một số loài cây phương
Bắc (như lim) không vượt quá lãnh thổ Quảng Bình
Về mặt nhân văn, Quảng Bình là nơi tiếp giáp giữa hai ựịa vực cư trú của các dân tộc ắt người phắa Bắc (Thái, Mường, Tày, Nùng) và phắa Nam (Ba Na, Ê
đê, Mnông) Văn hoá Bàu Tró ở Quảng Bình dường như là sự trung gian giữa văn hoá đông Sơn ở miền Bắc và văn hoá Sa Huỳnh ở miền Trung
Về mặt lịch sử, mảnh ựất này ựã từng là ựịa ựầu phắa Nam của nước đại Việt từ năm 1069, sông Gianh là nơi chứng kiến sự tranh chấp trong gần
200 năm giữa hai họ Trịnh - Nguyễn Quảng Bình là ựầu mút của vùng "cán soong" trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ và cũng là ựiểm xuất phát của con ựường "xẻ dọc Trường Sơn ựi cứu nước"
Trang 5Về mặt kinh tế, với các tuyến giao thông ựường bộ (mà quan trọng nhất
là ựường quốc lộ 1 A, rồi ựến quốc lộ 15 và các nhánh chạy sang phắa Tây)
cũng như các tuyến ựường sắt, ựường thuỷ, Quảng Bình có nhiều thuận lợi ựể
mở rộng việc giao lưu kinh tế hàng hoá với các tỉnh trong nước và quốc tế,
sớm hội nhập vào xu thế chung của cả nước
Cửa Nhật Lệ thuộc ựịa phận thành phố đồng Hới, tỉnh Quảng Bình có
toạ ựộ ựịa lý 17029' vĩ ựộ Bắc và 106038' kinh ựộ đông Trước khi ựổ ra biển,
ựoạn cửa sông Nhật Lệ từ Quán Hầu cho tới thành phố đồng Hới, có hướng
gần như á kinh tuyến và khi ựổ ra biển, cửa sông có hướng đông Bắc, còn
ựường bờ biển khu vực cửa sông có hướng Tây Bắc - đông Nam Vùng hạ
lưu của lưu vực sông Kiến Giang là ựồng bằng duyên hải, chủ yếu là các cồn
cát, bậc thềm, ựồi thấp và xen lẫn giữa chúng là các ựồng bằng nhỏ hẹp kéo
dài theo thung lũng sông
b địa hình, ựịa mạo
địa hình khu vực nghiên cứu nhìn chung thấp dần từ Tây sang đông,
bởi ựây là chân sườn phắa đông của dãy Trường Sơn tiếp giáp với biển đông
đồi núi chiếm 85% diện tắch toàn tỉnh và bị chia cắt mạnh
Chạy dần về phắa đông là các bề mặt nghiêng thấp dần ra phắa biển có
ựộ cao trên 15 m, ựó là các ựịa hình ựồi thấp, các bậc thềm sông, thềm biển ,
ựược thành tạo bởi các trầm tắch cuội, sạn, cát, sét, sét bột tiếp theo là ựồng
bằng duyên hải nhỏ và hẹp của khu vực thành phố đồng Hới có nguồn gốc
sông, sông biển phân bố ở ựộ cao từ 15 m trở xuống Sau cùng là những trảng
cát ven biển có dạng lưỡi liềm hoặc dẻ quạt, các cồn cát này có nguồn gốc
biển gió chạy dọc ven bờ ở ựộ cao thay ựổi từ 2m, 3m ựến 30m Bờ biển khu
vực vùng cửa sông Nhật Lệ thuộc kiểu bờ biển xói lở - tắch tụ, hiện ựang bị
các quá trình sóng biển tác ựộng mạnh
Về mặt cấu trúc, có thể chia thành 4 khu vực ựịa hình:
- địa hình núi cao và ựồi trung du chiếm khoảng 85% lãnh thổ của tỉnh Khu vực núi cao thuộc sườn đông Trường Sơn có ựộ cao từ 250m ựến 2000
m, thấp dần từ Tây sang đông và từ Bắc vào Nam độ dốc bình quân ở ựây là
25o và mức ựộ chia cắt sâu trung bình: 250 - 500 m Khu vực ựồi núi trung du chỉ cao 50 - 250 m, với ựộ dốc trên 3o
- Dải ựồng bằng ven biển chiếm 11% diện tắch tự nhiên của tỉnh độ cao từ 10 m trở xuống, có nơi còn thấp hơn mực nước biển Phân bố chủ yếu
ở các huyện Lệ Thuỷ, Quảng Ninh, Bố Trạch và Quảng Trạch Nơi ựây thuận lợi cho việc phát triển các cây lương thực nhất là lúa
- Dải cát nội ựồng, ven biển có dạng lưỡi liềm hay dẻ quạt với ựộ cao từ
2 - 3 m ựến 50 m, ựộ dốc lớn, nhiều khi tới 50o điều ựó gây ra nhiều khó khăn ựối với sản xuất cũng như ựời sống, nhất là nạn cát bay và sự bành trướng của các cồn cát vào ựồng ruộng, do chúng có ựộ cao lớn và cấu tạo kém bền vững
- địa hình bờ biển của Quảng Bình chủ yếu là kiểu bờ biển bồi tụ và mài mòn xen kẽ với nhau Xa xa ngoài khơi là 5 ựảo nhỏ (Hòn La, Hòn Gió, Hòn Nầm, Hòn Cọ, Hòn Chùa)
Nhìn chung, Quảng Bình có nhiều cảnh quan ựẹp (ựộng Phong Nha, bãi
đá Nhảy), chứa ựựng tiềm năng ựể phát triển du lịch và ven biển có thể xây dựng ựược cảng nước sâu (khu vực Hòn La) Trên một phạm vi nhỏ, theo chiều Tây - đông vừa có ựồi núi, ựồng bằng và ven biển là một thuận lợi trong việc ựa dạng hoá nền kinh tế theo hướng kết hợp giữa ựất liền với vùng biển và ven biển Tuy nhiên, sự xuất hiện của ựịa hình cồn cát là yếu tố bất lợi ựáng kể và cùng với nó là vấn ựề bảo vệ môi trường [10]
c địa chất, thổ nhưỡng
Trầm tắch hiện ựại ở dải ven biển cửa sông Nhật Lệ phân bố ở diện hẹp, kéo dài cùng phương với ựường bờ biển Trầm tắch cát trung, cát nhỏ, bột có
Trang 6chiếm từ 50 - 90%, các trầm tích chuyển tiếp cát thô - cát trung, cát trung - cát
nhỏ, cát - bột mỗi cấp hạt chỉ chiếm từ 30 - 40% Trầm tích tầng mặt hiện ñại
ña phần có ñộ chọn lọc (So) tốt, giá trị So ñạt từ 1 - 2, riêng ñối với các trầm
tích sét bột ñộ chọn lọc kém hơn với giá trị So ñạt từ 2,7 - 5 Trầm tích ở dải
ven biển có ñường kính trung bình (Md) thay ñổi từ 0,1 - 1,1 mm, có màu
trắng, trắng xám, trắng nhạt và vàng trắng ðối với các trầm tích trong sông
do có lẫn thành phần hữu cơ nên thường có màu xám xanh hoặc nâu xám, giá
trị Md thay ñổi từ 0,003 - 0,1 mm Dưới ñây là các ñặc trưng cơ học của từng
loại trầm tích
Quảng Bình có 2 hệ ñất chính là hệ phù sa (ở ñồng bằng) và hệ feralit
(ở vùng ñồi núi) với 15 loại thuộc 5 nhóm khác nhau:
- Nhóm ñất cát có hơn 4,7 vạn ha, bao gồm các cồn cát dọc bờ biển từ
Quảng Trạch ñến Lệ Thuỷ và ñất cát biển phân bố chủ yếu ở Lệ Thuỷ, Quảng
Ninh, Quảng Trạch Nhìn chung, ñất xấu, ít dinh dưỡng, thành phần cơ giới
rời rạc ở các cồn cát thường xuất hiện nạn cát bay, cát chảy, cát di ñộng với
lượng cát di chuyển trung bình năm là 3,2 triệu m3, làm mất ñi 20 - 30 ha ñất
canh tác Vùng ñất cát ven biển chủ yếu ñược sử dụng vào mục ñích lâm
nghiệp
- Nhóm ñất mặn với hơn 9,3 nghìn ha, phân bố phần lớn ở các cửa sông
(sông Gianh, sông Nhật Lệ, sông Dinh) Diện tích ñất mặn có chiều hướng gia
tăng do nước biển tràn sâu vào ñất liền dưới tác ñộng của bão hoặc triều
cường
- Nhóm ñất phù sa chủ yếu là loại ñất ñược bồi hằng năm, với diện tích
khoảng 2,3 vạn ha, phân bố ở dải ñồng bằng và các thung lũng sông Nhóm
này bao gồm các loại ñất ñược bồi ñắp hằng năm (ngoài ñê), không ñược bồi
hằng năm (trong ñê) và ñất phù sa glây Nhìn chung, ñây là nhóm ñất chính ñể
trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày
- Nhóm ñất lầy thụt và ñất than bùn phân bố ở các vùng trũng, ñọng nước thuộc các huyện Lệ Thuỷ, Quảng Ninh, Quảng Trạch
- Nhóm ñất ñỏ vàng chiếm hơn 80% diện tích cả tỉnh, tập trung chủ yếu
ở những nơi có ñộ cao từ 25 m ñến 1 000 m thuộc các huyện Minh Hoá, Tuyên Hoá và phần phía Tây của các huyện Bố Trạch, Quảng Ninh và Lệ Thuỷ
Nhìn chung, ñất ở Quảng Bình nghèo dinh dưỡng, tầng ñất mỏng và chua ðất phù sa ít, nhiều ñụn cát và ñất lầy thụt than bùn Tuy nhiên, khả năng sử dụng ñất còn lớn, chủ yếu tập trung vào việc phát triển cây công nghiệp lâu năm, cây công nghiệp theo hướng nông - lâm kết hợp
Bảng 1.1 Cơ cấu sử dụng ñất, năm 1999
Các nhóm ñất Diện tích (ha) % so với DT cả tỉnh
Trang 7Ngoài ra, tại vùng cát ven biển thuộc Quảng Ninh- Lệ Thủy có ựộ che
phủ thực vật từ 20-40% Trên vùng cát người ta còn trồng rừng (chủ yếu là cây
thân gỗ- phi lao) ựể ngăn chặn tình trạng cát bay Tại đồng Hới có diện tắch
trồng rừng lớn nhất, chưa kể rừng tự nhiên- phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp
Tắnh ựến 31/12/1999, diện tắch rừng của tỉnh là 486,7 nghìn ha Trữ
lượng gỗ của rừng tự nhiên khoảng 30,9 triệu m3 (riêng rừng giàu chiếm 13,4
triệu m3, chủ yếu phân bố ở vùng núi cao) Trong rừng có nhiều loài gỗ quý
như mun, lim, lát hoa Dưới tán rừng có nhiều loài có giá trị kinh tế như song,
mây, các dược liệu quý
Theo ước tắnh, không kể các loài thực vật bậc thấp, tảo, nấm thì khu hệ
thực vật bậc cao của Quảng Bình gồm 134 họ, 285 chi và 577 loài, chiếm hơn
1/2 số loài phân bố trong vùng Trường Sơn Bắc Về ựộng vật có 38 loài thú,
34 loài bò sát và 120 loài chim
e Khắ hậu
Nằm trong ựới khắ hậu gió mùa chắ tuyến, á ựới nóng ẩm, Quảng Bình
có khắ hậu mang tắnh chất chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam với nét
ựặc trưng là vào tháng lạnh nhất, nhiệt ựộ ựã vượt quá 18oC Tuy nhiên, do
front cực ựới vẫn còn ảnh hưởng tương ựối mạnh, nên vào mùa ựông có ngày
nhiệt ựộ xuống khá thấp
Nhiệt ựộ trung bình năm của Quảng Bình là 24 - 25oC, tăng dần từ Bắc
vào Nam, từ Tây sang đông Cân bằng bức xạ năm ựạt 70 - 80 kcal/cm2 Số
giờ nắng trung bình quân năm khoảng 1.700 - 2000 giờ Do ựịa hình phức tạp
nên khắ hậu có sự phân hoá rõ theo không gian
Khắ hậu Quảng Bình chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng
IX ựến tháng XII, với lượng mưa trung bình năm là 2.315 mm So với các
tỉnh phắa Bắc, mùa mưa ựến muộn hơn, cực ựại vào tháng X và thường tập
trung vào 3 tháng ( IX - X - XI) Vì thế, lũ lụt thường xảy ra trên diện rộng
Trung bình cứ 10 năm thì 9 năm có bão lụt lớn Mùa khô từ tháng I ựến tháng VIII, với 5 tháng có nhiệt ựộ trung bình trên 25oC Nóng nhất là các tháng VI, VII Nhiệt ựộ tối cao tuyệt ựối lên ựến 42,2oC, xảy ra vào tháng VII Mùa khô nắng gắt, có gió Tây (gió Lào), xuất hiện từ tháng III ựến tháng VIII, nhiều nhất là vào tháng VII, trung bình mỗi ựợt kéo dài hơn 10 ngày, thời tiết khô nóng, lượng bốc hơi lớn, gây ra hạn hán nghiêm trọng
Khắ hậu của Quảng Bình, nhìn chung khắc nghiệt điều ựó ựược thể hiện qua chế ựộ nhiệt, ẩm và tắnh chất chuyển tiếp của khắ hậu Mùa mưa trùng với mùa bão Tần suất bão nhiều nhất là vào tháng IX (37%) Bão thường xuất hiện từ tháng VII và kết thúc vào tháng XI Bão kèm theo mưa lớn trong khi lãnh thổ lại hẹp ngang, ựộ dốc lớn nên thường gây ra lũ lụt ựột ngột, ảnh hưởng rất nhiều ựến hoạt ựộng sản xuất và ựời sống
Rõ ràng thời kỳ ẩm ướt trùng với mùa mưa bão ựã hạn chế nhiều ựến khả năng tăng vụ và tăng năng suất mùa màng Còn thời kỳ khô ựến sớm, lại
có gió Tây khô nóng ựã tác ựộng mạnh ựến sự trổ bông của cây lúa và sự phát triển của cây công nghiệp và cây ăn quả
f Mạng lưới thủy văn
Mạng lưới sông ngòi Quảng Bình nhìn chung khá phong phú Mật ựộ trung bình ựạt 0,8 - 1,1 km/km2, trong ựó ở vùng núi là 1 km/km2, ở ven biển
là 0,6 - 0,8 km/km2
Do lãnh thổ hẹp ngang, ựộ dốc lớn nên sông ngòi thường ngắn, dốc, có hiện tượng ựào lòng mạnh Hướng chảy từ Tây sang đông Lượng dòng chảy trong năm tương ựối phong phú với môựun dòng chảy bình quân là 57 lắt/s.km2 (tương ựương với 4 tỷ m3/năm) Thuỷ chế có 2 mùa rõ rệt, tương ứng với mùa và mùa khô Trong mùa mưa, ở vùng ựồi núi, sông suối có khả năng tập trung nước rất nhanh, nhưng lũ không kéo dài nhờ khả năng thoát nước tốt Mùa lũ tập trung vào các tháng X, XI, XII và chiếm 60 - 80% tổng lượng
Trang 8dòng chảy cả năm Vào mùa này, sông ngòi thường có lũ ựột ngột, gây úng
trầm trọng ở vùng cửa sông
Trong mùa khô, nhiều ựoạn suối bị cạn dòng, ở vùng cửa sông, thuỷ
triều tăng cường xâm nhập vào ựất liền Dòng chảy kiệt kéo dài trung bình tới
8 - 9 tháng (dài nhất là 10 tháng, ngắn nhất là 7 tháng) Trong mùa kiệt vẫn có
mưa và lũ tiểu mãn
Bảng 1.2 Sông và hệ thống sông ở Quảng Bình
Chiều dài T
Diện tắch (km 2 )
bình quân lưu vực
Phụ lưu Mật ựộ sông suối (km/km 2 )
Nguồn: Sách: "Phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền Tây Quảng Bình làm luận cứ ựịnh hướng
và quy hoạch phát triển sau khi hoàn thành ựường Hồ Chắ Minh" - Sở Khoa học và Công Nghệ
Quảng Bình xuất bản -2004
Trên lãnh thổ Quảng Bình có 5 hệ thống sông chắnh Từ Bắc xuống
Nam có sông Ròn (dài 30 km, diện tắch lưu vực là 261 km2), sông Gianh (158
km và 4.680 km2), sông Lý Hoà (22 km và 177 km2), sông Dinh (37 km và
212 km2) và sông Nhật Lệ (96 km và 2.647 km2) Lớn nhất là sông Gianh và
sông Nhật Lệ
- Hệ thống sông Nhật Lệ
đây là hệ thống sông lớn thứ 2 của tỉnh, sau hệ thống sông Gianh Sông
Nhật Lệ nhận nước từ 2 con sông chắnh là sông Kiến Giang và sông Long
đại đoạn sông mang tên Nhật Lệ ựược tắnh từ ngã 3 sông Long đại (cách
cầu Long đại 1,5 km) về ựến cửa Nhật Lệ (đồng Hới) dài 17 km Nếu tắnh từ
nguồn Kiến Giang về ựến cửa Nhật Lệ có chiều dài 96 km Hệ thống sông
Nhật Lệ có lưu vực rộng 2.647 km Hệ thống sông bao gồm 24 phụ lưu vực
45 km2, bình quân sông, suối trong lưu vựa có chiều dài 0,84 km/km2.[6, 16]
- Sông Kiến Giang
Là hợp lưu của nhiều nguồn sông suối phát nguyên từ vùng núi phắa Tây -Nam huyện Lệ Thủy ựổ về phường Luật Sơn (xã Trường Thủy, Lệ Thủy) chảy theo hướng Nam Bắc Từ ựây, sông chảy theo hướng Tây Nam-đông Bắc, về ựến ngã ba Thượng Phong, sông chảy theo hướng đông Nam- Tây Bắc, ựến ựoạn ngã ba Phú Thọ (An Thủy, Lệ Thủy), sông ựón nhận thêm nước của sông Cẩm Ly (chảy từ hướng Tây ựổ về), tiếp tục chảy theo hướng trên, băng qua cánh ựồng trũng huyện Lệ Thủy (ựoạn này sông rất hẹp) Sắp hết ựoạn ựồng trũng huyện Lệ Thủy ựể vào ựịa phận huyện Quảng Ninh, sông ựược mở rộng và chảy băng qua phá Hạc Hải (có chiều dài gần 2km) về ựến
xã Duy Ninh (Quảng Ninh), sông tiếp tục chảy ngược về hướng Tây ựến ngã
ba Trần Xá thì hợp lưu với sông Long đại ựổ nước vào sông Nhật Lệ Sông kiến Giang có ựộ dốc nhỏ.[6, 16]
- Sông Long đại
đây là hợp lưu của 3 phụ lưu chắnh Nhánh phắa Bắc phát nguyên từ vùng núi Cô-Ta-Rum trên biến giới Việt Lào, chảy trọn trong vùng ựịa hình Karst của Bố Trạch và ựến ựộng Hiềm (gần bến Tiêm huyện Quảng Ninh) thì gặp sông Long đại Trước khi ựổ nước vào sông Nhật Lệ, sông Long đại còn ựón thêm nước ở hai phụ lưu là Rào Trù và Rào đá (xã Trường Xuân, Quảng Ninh) Ba nhánh sông ựầu nguồn của sông Long đại nằm trong một vùng núi
có lượng mưa khá lớn, nên về mùa lũ con sông này nước lên rất lớn và dữ Sông Long đại không lớn bằng sông Gianh nhưng cường ựộ cấp nước lũ ngang với sông Gianh (70-85m3/s/km2).[6, 16]
1.2 đặc ựiểm kinh tế xã hội
a Dân số, dân cư
Trang 9Dân số của Quảng Bình tăng tương ñối nhanh Trong cuộc tổng ñiều tra
dân số năm 1979, số dân của tỉnh là 530.800 người 10 năm sau, vào thời
ñiểm 1 - 4 - 1989, số dân ñã tăng lên 646.972 người Sau khi Quảng Bình
ñược tái lập, số dân nhiều ít có sự biến ñộng do chủ trương phân chia lại ñịa
giới hành chính Dân số tăng từ trên 67,5 vạn - năm 1990 lên gần 74,6 vạn -
năm 1995 và hơn 79,7 vạn - năm 1999 Theo số liệu thống kê năm 2007
(Bảng 1.3) thì dân số tỉnh Quảng Bình là 854.918 người với mật ñộ là 106
người/km2, trong ñó mật ñộ dân số cao nhất tỉnh là tại TP ðồng Hới là 687
người/km2 cao gấp 6 lần so với mật ñộ chung của tỉnh, còn tại Quảng Ninh và
Lệ Thủy thì mật ñộ dân số ở ñây là trung bình (do diện tích ñất rộng) nhưng
dân số tập trung ở ñây tương ñối cao, ñây là 3 trong số 4 huyện có dân số cao
nhất tỉnh
Bảng 1.3 Diện tích và mật ñộ dân số tỉnh Quảng Bình năm 2007
Huyện,TP Diện tích (km 2 ) Dân số (ng) Mật ñộ Dân số
Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2007
Tuy nhiên dân cư phân bố không ñều tập trung ở khu vực ven biển và
ñồng bằng, ở khu vực miền núi và gò ñồi dân cư thưa thớt Khu vực ven biển,
ñiển hình là TP ðồng Hới có mật ñộ dân số gấp 6 lần của tỉnh, Các huyện ven biển và ñồng bằng chiếm 85% dân cư của cả tỉnh, ñặc biệt là vùng ven sông, 2 bên bờ sông Nhật Lệ có mật ñộ và dân số cao nhất vì gần nguồn nước, gần nơi sản xuất, ñiều kiện quần cư thuận lợi Trong ñó có ñến 86% là sống ở nông thôn, ñặc biệt ở Quảng Ninh- Lệ Thủy là hơn 90% Mật ñộ dân số cao
và tỷ lệ gia tăng tự nhiên nhanh về dân số ñặc biệt là ở nông thôn ñang gây sức ảnh hưởng ñến môi trường khu vực nghiên cứu mà cụ thể là vấn ñề ngập lụt tại Nhật Lệ Tại TP ðồng Hới thì phần lớn là dân thành thị có nghĩa là ở ñây nông nghiệp chỉ chiếm số nhỏ, chủ yếu ở ñây tập trung kinh doanh và sản xuất công nghiệp
- Lớp 2: Cát hạt nhỏ - trung màu xám vàng, nâu vàng, hơi ẩm - bão hoà nước, chặt vừa Lớp ñất này phân bố rộng khắp khu vực khảo sát Bề dày của lớp cát này biến ñổi rất mạnh từ 1,4 m ñến > 10,0 m Có lỗ khoan ở ñộ sâu 10,0 m duy nhất chỉ có lớp cát này vẫn chưa dứt lớp Lớp cát này có cường ñộ chịu tải và tính kháng biến cao, biến dạng nhỏ, mức ñộ thẩm thấu cao
- Lớp 3: ðất cát pha màu xám tro, xám ghi, xám ñen, trạng thải dẻo - chảy Lớp ñất này phân bố hạn chế trong khu vực nghiên cứu Bề dày lớp biến
Trang 10ựổi từ 1,4 - 3,6 m Lớp ựất này có cường ựộ chịu tải và tắnh kháng biến trung
bình, biến dạng vừa, mức ựộ thẩm thấu cao
- Lớp 4: Cát hạt trung bình màu xám trắng, xám ghi, xám ựen, bão hoà
nước, chặt vừa Lớp ựất này phân bố hạn chế trong khu vực khảo sát Bề dày
lớp biến ựổi từ 1,1 ựến > 5,8 m Lớp cát này có cường ựộ chịu tải và tắnh
kháng biến cao, biến dạng nhỏ, mức ựộ thẩm thấu lớn
- Lớp 5: đất dăm sạn lẫn sét pha màu nâu xám, cứng đây là sản phẩm
phong hoá của ựá gốc Lớp 5 ta mới gặp ở một số lỗ khoan Bề dày của lớp
lớn > 5,0 m Lớp ựất này có cường ựộ chịu tải và tắnh kháng biến cao, biến
dạng nhỏ.[6]
1.3 Tình hình lũ lụt trên hệ thống sông Nhật Lệ
Tại hạ lưu sông Nhật Lệ mỗi khi ựến mùa mưa lũ thì việc tiêu thoát lũ
tại ựây xảy ra rất chậm và gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân kết hợp
với nhau tạo nên Mùa mưa chắnh lệch về cuối hè sang thu và kéo ựến ựầu
ựông với lượng mưa rất lớn là do ảnh hưởng của các hình thái gây mưa như
gió mùa ựông bắc kết hợp với các nhiễu ựộng gây mưa lớn trên diện rộng như
bão, áp thấp nhiệt ựới, hội tụ nhiệt ựới, (do có vị trắ gần biển nên chịu ảnh
hưởng rất lớn của các cơn bão) dẫn ựến thừa nước, thậm chắ gây lũ lụt, úng
ngập tại hạ lưu Lượng mưa chiếm 65-70% lượng mưa cả năm nên lưu lượng
nước trong mùa mưa này chiếm 70-80% lượng nước cả năm Hơn nữa mùa
mưa lại trùng vào với thời kỳ không khắ ẩm và thời gian hoạt ựộng các khối
không khắ lạnh cực ựối biến tắnh, trong các tháng này ựộ ẩm tháng ựạt 85
-90% nên bầu trời lãnh thổ ựầy mây và mưa Những tháng mùa đông là thời
kỳ ẩm do khối không khắ lạnh biến tắnh khi ựi qua biển ựã mang theo hơi
nước gây mưa
Với một lượng nước lớn gây nên những cơn lũ lớn như vậy, thì tại khu
vực nghiên cứu (KVNC) lại có ựịa hình bề ngang khá hẹp, nơi hẹp nhất là
khoảng 45km bên phắa tây lại có vùng núi trung bình thấp nên sông ở ựây vừa ngắn lại vừa dốc ựã tạo ựiều kiện ựể tập trung nhanh lượng nước hình thành những cơn lũ nhanh chóng ựổ về hạ lưu Còn tại hạ lưu nơi cuối nguồn của con sông, như tại các nơi khác sau khi nhận nước từ thượng nguồn thì sẽ chảy thẳng ra biển bằng nhiều cửa sông (sông Cửu Long ) Nhưng tại ựây, sau khi nhận ựược 1 lượng nước khổng lồ tại thượng nguồn ựổ về với tốc ựộ khá nhanh thì nó không thể ựổ thẳng ra biển vì gặp phải một dãy cồn cát khá cao (30- 40m) chạy song song với bờ biển như một con ựê chắn lũ ựã ngăn dòng chảy ựổ thẳng ra biển mà buộc nó uốn khúc chảy dọc theo dãy cồn cát, và chỉ
có một cửa thoát duy nhất là cửa Nhật Lệ Sự xuất hiện của hệ thống cồn cát này là một yếu tố ựịa hình bất lợi nhiều mặt Dưới tác ựộng của gió, hiện tượng cát bay, cát chảy ựã làm cho các cồn cát tiến dần về phắa lục ựịa, thu hẹp ựồng bằng, làm tăng tình trạng úng lụt vùng cửa sông Nhật Lệ
Như vậy sau khi nước tập trung ở hạ lưu gây ra ngập lụt thì thời gian tiêu thoát nước, ngập úng trở nên khó khăn hơn Mưa lớn gây ngập úng ngập thì tại cửa thoát lũ duy nhất của KVNC, tại cửa biển Nhật Lệ thì khi bão về còn kèm theo nước dâng sinh do cơ chế hiệu ứng nước dồn khi gió thổi mạnh (trong mùa này sóng dâng cao từ 4,5- 6.0m ựo tại Cồn Cỏ) Khi mùa lũ ựến, dòng chảy sông lấn át dòng triều, nhưng khi triều lên thì dòng lũ và dòng triều ngược nhau sẽ gây ra hiện tượng nước dồn ứ trong khu vực cửa sông Trong mùa lũ, dòng chảy sông ngòi tăng lên nhanh, tỷ lệ giữa thời gian chảy ngược
và chảy xuôi giảm mạnh và biến mất hoàn toàn khi có dòng lũ lớn Ngoài ra khi bão ựổ bộ vào ựất liền thường kèm theo hiện tượng nước dâng, mùa mưa trùng với mùa bão, dòng lũ từ sông chảy ra va nước dâng từ biển chảy vào gây dồn ứ nước tại cửa sông, làm cho việc tiêu thoát lũ càng khó khăn và chậm trễ
Trang 11Ngoài ra, thời gian tiêu thoát lũ chậm gây rất nhiều thiệt hại không chỉ
bị quyết ñịnh bởi ñiều kiện ñịa lý tự nhiên mà còn do ñiều kiện kinh tế xã hội
cũng ảnh hưởng tới nó Khi nước lũ tràn về và gây ngập úng thì chính những
ñiều kiện kinh tế này cũng góp phần làm tăng thêm tình trang ngập úng Ở các
huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy và thành phố ðồng Hới có mật ñộ dân số khá
lớn và tập trung nhiều dân cư Họ sinh sống ở 2 bên bờ sông Nhật Lệ, ñặc biệt
là ở ðồng Hới tập trung mật ñộ dân số cao nhất tỉnh Việc tập trung dân cư
ñông ñúc với mật ñộ cao ở hai bên bờ sông Nhật Lệ cũng gây khó khăn cho
việc thoát lũ của Nhật Lệ Những công trình xây dựng như nhà cửa, ñê ñiều
làm cản dòng chảy khi lũ về
Dân cư sinh sống hai bên bờ sông ñã phát triển nghế nuôi trồng thủy
sản khá mạnh, hoạt ñông kinh tế này trực tiếp làm biến ñổi, thay ñổi dòng
sông, lấy nước, xây các hồ nuôi tôm cá trên sông ðặc biệt tại ðồng Hới, các
khu công nghiệp, dân số, các cơ sở kinh doanh tập trung dày ñặc hai bên bờ
sông cũng gây cản trở rất lớn cho dòng chảy vì bị ngăn cản khá nhiều, làm
cho dòng chảy chậm hơn, tăng thời gian úng ngập tại ñồng bằng Mặt khác
ñời sống dân cư ở ñây còn nghèo làm cho các công trình phục vụ dân sinh và
sản xuất kém chất lượng không ñủ ñộ bền vững, và rất sơ sài dễ bị phá huỷ
khi có thiên tai bão - lũ Chính các vật liệu từ các công trình dân sinh này ñã
làm gia tăng, thậm chí trực tiếp gây ra bồi lấp luồng lạch sông Nhật Lệ
Hệ thống ñường giao thông vận tải ñường bộ, ñường sắt và ñường thủy
nội ñịa có hướng vuông góc với dòng chảy của sông nên làm giảm khả năng
tiêu thoát nước, nhất là tuyến ñường Quốc lộ 1A và ñường sắt Bắc - Nam,
chúng trở thành các tuyến ñê ngăn cản ñường tiêu thoát lũ Nếu như không có
các tuyến ñường này thì dòng chảy không bị ngăn cản nhưng giờ dòng chảy
phải vượt qua những tuyến ñường có tác ñộng như những con ñê chắn lũ, và
một phần nước bị chúng giữ lại làm cho tình trạng úng ngập càng thêm trầm
trọng Tại ñây cũng có rất nhiều công trình thủy lợi ñược xây dựng ñể phục vụ ñời sống cũng như sản xuất nông nghiệp
Cụ thể ñầu tiên là ñập Mỹ Trung sau khi ñi vào hoạt ñộng ñã làm xuất hiện khá nhiều bãi nổi, bãi cạn nằm so le, những bãi này cũng làm cho dòng chảy bị ngăn cản chậm lại Các hồ chứa khá nhiều nhưng ña số là với dung tích nhỏ chỉ chủ yếu nhằm phục vụ cho việc tưới tiêu vào mùa khô còn ñể phòng chống lũ thì với dung tích nhỏ như vậy lại ñứng trươc những cơn lũ lớn, trong khi ñó hai hồ chứa lớn là An Mã và Cẩm Ly lại nằm ở ñầu nguồn nên việc làm giảm lượng nước, tiêu thoát lũ không có tác dụng ở hạ lưu Ngoài ra hệ thống ñê ñiều hệ thống ñê của KVNC nằm trong vùng trũng của dải ñịa hình hẹp nhất Trung bộ và cả nước, lượng mưa lớn và lượng dòng chảy tập trung nhanh nên khu vực ñồng bằng hạ du sông Nhật Lệ thường bị ngập úng Khi lũ tiểu mãn xuất hiện hay những khi lũ ít thì việc chống ngập úng là hoàn toàn ñược Nhưng khi lũ lớn thì hệ thống ñê này lại hoàn toàn ngập trong nước và cũng góp phần làm cho việc tiêu thoát lũ trở nên khó khăn, tăng tình trạng ngập úng tại hạ lưu sông Nhật Lệ
Trang 12Chương 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT XÂY DỰNG BẢN ðỒ NGẬP LỤT
Thế giới thường xuyên phải ñối diện với các thảm họa về lũ lụt, ñiển
hình như Ấn ðộ, Srilanca, Hoa Kỳ, Việc nghiên cứu các giải pháp phòng lũ
lụt ñược ñặc biệt quan tâm và hướng tiếp cận là sự kết hợp giữa các giải pháp
công trình và phi công trình Các giải pháp công trình thường ñược sử dụng
như hồ chứa, ñê ñiều, cải tạo lòng sông trong khi các giải pháp phi công
trình có thể là xây dựng bản ñồ nguy cơ ngập lụt, quy hoạch trồng rừng và
bảo vệ rừng, xây dựng và vận hành các phương án phòng tránh lũ lụt và di
dân khi cần thiết và khi ñó thông tin dự báo, cảnh báo lũ và khu vực ngập lụt
chính xác là rất quan trọng Mặt khác, trong quá trình quy hoạch phát triển
kinh tế xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh thiên tai ngày càng gia tăng kết hợp
với tác ñộng biến ñổi khí hậu thì nhu cầu sử dụng các bản ñồ ngập lụt phục vụ
quy hoạch và xác ñịnh nguy cơ rủi ro do lũ càng trở nên bức thiết hơn
2.1 Tổng quan chung
2.1.1 Khái niệm về bản ñồ ngập lụt
Bản ñồ nguy cơ ngập lụt là tài liệu cơ bản, làm cơ sở khoa học cho việc
quy hoạch phòng tránh lũ lụt, lựa chọn các biện pháp, thiết kế các công trình
khống chế lũ, là thông tin cần thiết ñể thông báo cho nhân dân về nguy cơ
thiệt hại do lũ lụt ở nơi họ cư trú và hoạt ñộng
Bản ñồ ngập lụt thường thể hiện các nội dung sau:
Vùng úng ngập thường xuyên
Vùng ngập lụt ứng với tần suất mưa - lũ khác nhau
Khu vực nguy hiểm khi có lũ lớn
Khu vực có nguy cơ bị trượt lở, sạt lở ñất
Vết xói lở bờ sông, sạt lở bờ biển, trượt lở sườn
Ngoài ra còn thể hiện hệ thống thuỷ lợi: hồ chứa, trạm bơm, ñập dâng,
cống ñê… và các yếu tố nền ñịa lý
Bản ñồ ngập lụt phải xác ñịnh rõ ranh giới những vùng bị ngập do một trận mưa lũ nào ñó gây ra trên bản ñồ Ranh giới vùng ngập lụt phụ thuộc vào các yếu tố mực nước lũ và ñịa hình ,ñịa mạo của khu vực ñó; trong khi nhân
tố ñịa hình ít thay ñổi nên ranh giới ngập lụt chỉ còn phụ thuộc vào sự thay ñổi của mực nước lũ
Mỗi một phương pháp trên ñây ñều có các ưu nhược ñiểm riêng trong
việc xây dựng và ước lượng diện tích ngập lụt Bản ñồ ngập lụt xây dựng theo
phương pháp truyền thống chỉ tái hiện lại hiện trạng ngập lụt, chưa mang tính
dự báo nhưng nó vẫn mang ý nghĩa to lớn về nhiều mặt trong công tác chỉ huy phòng chống lũ lụt cũng như làm cơ sở ñể ñánh giá, so sánh các nghiên cứu tiếp theo Tuy vậy phương pháp này tốn công, mất nhiều thời gian, không ñáp ứng nhu cầu thực tế và có những ñiểm người nghiên cứu không thể ño ñạc ñược hoặc không thu thập ñược số liệu ño ñạc
Việc xây dựng bản ñồ ngập lụt dựa vào số liệu ñiều tra, thu thập từ nhiều trận lũ ñã xảy ra là ñáng tin cậy nhất, tuy nhiên dữ liệu và thông tin ñiều tra cho các trận lũ lớn là rất ít lại không có tính dự báo trong tương lai,
do vậy hạn chế nhiều ưu ñiểm và tính ứng dụng của bản ñồ ngập lụt trong thực tế
Trang 13Sử dụng công cụ mô phỏng, mô hình hóa bằng các mô hình thủy văn,
thủy lực là rất cần thiết và có hiệu quả hơn rất nhiều và cũng là cách tiếp cận
hiện ñại và ñang ñược sử dụng rộng rãi trong thời gian gần ñây cả trên thế
giới và ở Việt Nam trong sự kết hợp với cả các lợi thế của phương pháp
truyền thống
Mặt khác, với sự phát triển của máy tính và các hệ thống thông tin, cơ
sở dữ liệu, ngày càng có nhiều ứng dụng phát triển dựa trên nền hệ thông tin
ñịa lý (GIS), mà xây dựng bản ñồ ngập lụt là một trong những ứng dụng quan
trọng, mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong thực tiễn công tác phòng chống
lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Do vậy luận văn này sẽ tập trung giới thiệu và phân tích các nhóm mô
hình thủy văn, thủy lực có khả năng ứng dụng trong xây dựng bản ñồ ngập
lụt, nhằm làm cơ sở lựa chọn phương pháp sử dụng cho khu vực nghiên cứu
cùng với việc giới thiệu các quy trình và công cụ xây dựng bản ñồ ngập lụt
tích hợp kết quả mô phỏng bằng mô hình thủy ñộng lực với hệ thống cơ sở dữ
liệu GIS
2.2 Tổng quan về các mô hình thủy văn, thủy lực tính toán ngập lụt
2.2.1 Các mô hình mưa - dòng chảy:
Mô hình Ltank: do PGS.TS Nguyễn Văn Lai ñề xuất năm 1986 và ThS
Nghiêm Tiến Lam chuyển về giao diện máy vi tính trên ngôn ngữ
VisualBasic, là một phiên bản cải tiến từ mô hình Tank gốc của tác giả
Sugawara (1956) Mô hình toán mưa rào dòng chảy dựa trên quá trình
trao ñổi lượng ẩm giữa các tầng mặt, ngầm lưu vực, và bốc hơi Ứng
dụng tốt cho lưu vực vừa và nhỏ
Mô hình HEC-HMS: là mô hình mưa dòng chảy của Trung tâm Thủy
văn kỹ thuật quân ñội Hoa Kỳ ñược phát triển từ mô hình HEC-1, mô
hình có những cải tiến ñáng kể cả về kỹ thuật tính toán và khoa học
thuỷ văn thích hợp với các lưu vực sông vừa và nhỏ Là dạng mô hình tính toán thủy văn ñược dùng ñể tính dòng chảy từ số liệu ño mưa trên lưu vực Trong ñó các thành phần mô tả lưu vực sông gồm các công trình thủy lợi, các nhánh sông
Kết quả của Hec-HMS ñược biểu diễn dưới dạng sơ ñồ, biểu bảng tường minh rất thuận tiện cho người sử dụng Ngoài ra, chương trình có thể liên kết với cơ sở dữ liệu dạng DSS của mô hình thủy lực Hec-RAS
Mô hình NAM: ñược xây dựng 1982 tại khoa thủy văn viện kỹ thuật thủy ñộng lực và thủy lực thuộc ñại học kỹ thuật ðan Mạch Mô hình dựa trên nguyên tắc các bể chứa theo chiều thẳng ñứng và hồ chứa tuyến tính Mô hình tính quá trình mưa - dòng chảy theo cách tính liên tục hàm lượng ẩm trong năm bể chứa riêng biệt tương tác lẫn nhau Các mô hình thủy văn trên ñây cho kết quả là các quá trình dòng chảy tại các ñiểm khống chế (cửa ra lưu vực) vì vậy tự thân chúng ñứng ñộc lập chưa ñủ khả năng ñể ñưa ra các thông tin về diện tích và mức ñộ ngập lụt mà phải kết hợp với một số các công cụ khác như GIS, hoặc là biên cho các mô hình thủy ñộng lực 1-2 chiều khác
b Mô hình thủy lực:
- Mô hình VRSAP: tiền thân là mô hình KRSAL do cố PGS.TS Nguyễn Như Khuê xây dựng và ñược sử dụng rộng rãi ở nước ta trong vòng
25 năm trở lại ñây
ðây là mô hình toán thuỷ văn-thuỷ lực của dòng chảy một chiều trên hệ thống sông ngòi có nối với ñồng ruộng và các khu chứa khác Dòng chảy trong các ñoạn sông ñược mô tả bằng hệ phương trình Saint-Venant ñầy ñủ Các khu chứa nước và các ô ñồng ruộng trao ñổi nước với sông qua cống ñiều tiết Do ñó, mô hình ñã chia các khu chứa và các ô ñồng ruộng thành hai loại chính Loại kín trao ñổi nước với sông qua cống ñiều tiết, loại hở trao ñổi
Trang 14nước với sông qua tràn mặt hay trực tiếp gắn với sông như các khu chứa
thông thường
Tuy nhiên mô hình VRSAP không phải là một mô hình thương mại, mà
là mô hình có mã nguồn mở chỉ thích hợp với những người có sự am hiểu sâu
rộng về kiến thức mô hình; Còn ñối với công tác dự báo, cảnh báo nhanh cho
một khu vực cụ thể, nhất là khu vực miền Trung thì mô hình tỏ ra chưa phù
hợp
- Mô hình KOD-01 và KOD-02 của GS.TSKH Nguyễn Ân Niên phát
triển dựa trên kết quả giải hệ phương trình Saint-Venant dạng rút gọn, phục
vụ tính toán thủy lực, dự báo lũ
- Mô hình WENDY: do Viện thủy lực Hà Lan (DELFT) xây dựng cho
phép tính thủy lực dòng chảy hở, xói lan truyền, chuyển tải phù sa và xâm
nhập mặn
- Mô hình HEC-RAS: do Trung tâm Thủy văn kỹ thuật quân ñội Hoa
Kỳ xây dựng ñược áp dụng ñể tính toán thủy lực cho hệ thống sông Phiên
bản mới hiện nay ñã ñược bổ sung thêm modul tính vận chuyển bùn cát và tải
khuếch tán Mô hình HEC-RAS ñược xây dựng ñể tính toán dòng chảy trong
hệ thống sông có sự tương tác 2 chiều giữa dòng chảy trong sông và dòng
chảy vùng ñồng bằng lũ Khi mực nước trong sông dâng cao, nước sẽ tràn qua
bãi gây ngập vùng ñồng bằng, khi mực nước trong sông hạ thấp nước sẽ chảy
lại vào trong sông
- Họ mô hình MIKE: do Viện thủy lực ðan mạch (DHI) xây dựng ñược
tích hợp rất nhiều các công cụ mạnh, có thể giải quyết các bài toán cơ bản
trong lĩnh vực tài nguyên nước Tuy nhiên ñây là mô hình thương mại, phí
bản quyền rất cao nên không phải cơ quan nào cũng có ñiều kiện sử dụng
+ MIKE 11: là mô hình một chiều trên kênh hở, bãi ven sông, vùng
ngập lũ, trên sông kênh có kết hợp mô phỏng các ô ruộng mà kết quả thuỷ lực
trong các ô ruộng là “giả 2 chiều” MIKE 11 có một số ưu ñiểm nổi trội so với các mô hình khác như: (i) liên kết với GIS, (ii) kết nối với các mô hình thành phần khác của bộ MIKE ví dụ như mô hình mưa rào-dòng chảy NAM, mô hình thuỷ ñộng lực học 2 chiều MIKE 21, mô hình dòng chảy nước dưới ñất, dòng chảy tràn bề mặt và dòng bốc thoát hơi thảm phủ (MIKE SHE), (iii) tính toán chuyển tải chất khuyếch tán, (iv) vận hành công trình, (v) tính toán quá trình phú dưỡng…
Hệ phương trình sử dụng trong mô hình là hệ phương trình Venant một chiều không gian, với mục ñích tìm quy luật diễn biến của mực nước và lưu lượng dọc theo chiều dài sông hoặc kênh dẫn và theo thời gian
Saint-Mô hình MIKE 11 ñã ñược ứng dụng tính toán rộng rãi tại Việt Nam
và trên phạm vi toàn thế giới Tuy nhiên MIKE 11 không có khả năng mô phỏng tràn bãi nên trong các bài toán ngập lụt MIKE 11 chưa mô phỏng một cách ñầy ñủ quá trình nước dâng từ sông tràn bãi vào ruộng và ngược lại ðể cải thiện vấn ñề này bộ mô hình MIKE có thêm mô hình thủy lực hai chiều MIKE 21 và bộ kết nối MIKE FLOOD
+ MIKE 21 & MIKE FLOOD: Là mô hình thuỷ ñộng lực học dòng chảy 2 chiều trên vùng ngập lũ ñã ñược ứng dụng tính toán rộng rãi tại Việt Nam và trên phạm vi toàn thế giới Mô hình MIKE21 HD là mô hình thuỷ ñộng lực học mô phỏng mực nước và dòng chảy trên sông, vùng cửa sông, vịnh và ven biển Mô hình mô phỏng dòng chảy không ổn ñịnh hai chiều ngang ñối với một lớp dòng chảy
MIKE21 HD có thể mô hình hóa dòng chảy tràn với nhiều ñiều kiện ñược tính ñến, bao gồm:
o Ngập và tiêu nước cho vùng tràn
o Tràn bờ
o Dòng qua công trình thuỷ lợi
Trang 15o Thuỷ triều
o Nước dâng do mưa bão
Phương trình mô phỏng bao gồm phương trình liên tục kết hợp với
phương trình ựộng lượng mô tả sự biến ựổi của mực nước và lưu lượng Lưới
tắnh toán sử dụng trong mô hình là lưới hình chữ nhật
Tuy nhiên MIKE 21 nếu ựộc lập cũng khó có thể mô phỏng tốt quá
trình ngập lụt tại một lưu vực sông với các ựiều kiện ngập thấp để có thể tận
dụng tốt các ưu ựiểm và hạn chế những khuyết ựiểm của cả hai mô hình một
chiều và hai chiều trên, DHI ựã cho ra ựời một công cụ nhằm tắch hợp
(coupling) cả hai mô hình trên; ựó là công cụ MIKE FLOOD
MIKE FLOOD là một công cụ tổng hợp cho việc nghiên cứu các ứng
dụng về vùng bãi tràn và các nghiên cứu về dâng nước do mưa bão Ngoài ra,
MIKE FLOOD còn có thể nghiên cứu về tiêu thoát nước ựô thị, các hiện
tượng vỡ ựập, thiết kế công trình thuỷ lợi và ứng dụng tắnh toán cho các vùng
cửa sông lớn
MIKE FLOOD ựược sử dụng khi cần có sự mô tả hai chiều ở một số
khu vực (MIKE 21) và tại những nơi cần kết hợp mô hình một chiều (MIKE
11) Trường hợp cần kết nối một chiều và hai chiều là khi cần có một mô
hình vận tốc chi tiết cục bộ (MIKE21) trong khi sự thay ựổi dòng chảy của
sông ựược ựiều tiết bởi các công trình phức tạp (cửa van, cống ựiều tiết, các
công trình thuỷ lợi ựặc biệt ) mô phỏng theo mô hình MIKE11 Khi ựó mô
hình một chiều MIKE11 có thể cung cấp ựều kiện biên cho mô hình MIKE21
(và ngược lại)
- Bộ mô hình MIKE11 và MIKE11- GIS của viện thuỷ lực đan Mạch
(DHI) sử dụng ựể xây dựng bản ựồ ngập lụt cho vùng hạ lưu sông
MIKE11-GIS là bộ công cụ mạnh trong trình bày và biểu diễn về mặt không gian và
thắch hợp công nghệ mô hình bãi ngập và sông của MIKE11 cùng với khả
năng phân tắch không gian của hệ thống thông tin ựịa lý trên môi trường ArcGIS 9.1
Mike11-GIS có thể mô phỏng diện ngập lớn nhất, nhỏ nhất hay diễn biến từ lúc nước lên cho tới lúc nước xuống trong một trận lũ độ chắnh xác của kết quả tắnh từ mô hình và thời gian tắnh toán phụ thuộc rất nhiều vào ựộ chắnh xác của DEM Nó cho biết diện ngập và ựộ sâu tương ứng từng vùng nhưng không xác ựịnh ựược hướng dòng chảy trên ựó
- Mô hình MIKE SHE: Mô hình toán vật lý thông số phân bổ mô phỏng
hệ thống tổng hợp dòng chảy mặt- dòng chảy ngầm lưu vực sông Mô phỏng biến ựổi về lượng và chất hệ thống tài nguyên nước Bao gồm dòng chảy trong lòng dẫn, dòng chảy tràn bề mặt, dòng chảy ngầm tầng không áp, dòng chảy ngầm tầng có áp, dòng chảy tầng ngầm chuyển tiếp giữa tầng có áp và tầng không áp, bốc thoát hơi từ tầng thảm phủ, truyền chất, vận chuyển bùn cát Ứng dụng thực tiễn: đã ựược ứng dụng tắnh toán rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới Ở Việt Nam MIKE SHE ựược ứng dụng mô phỏng dòng hệ thống dòng chảy ngầm mặt lưu vực
Qua thực tế của việc sử dụng các mô hình thủy văn và thủy lực hiện nay trên thế giới và tại Việt nam; với mong muốn mô phỏng một cách chắnh xác nhất quá trình ngập lụt trong khu vực nghiên cứu, tác giả nhận thấy bộ mô hình MIKE - FLOOD của Viện thủy lực Hà Lan có thể ựáp ứng ựược yêu cầu xây dựng bản ựồ ngập lụt cho khu vực nghiên cứu do các lý do sau ựây:
Bộ mô hình MIKE bao gồm: mô hình thủy văn MIKE NAM, dùng ựể tắnh toán các biên ựầu vào cho mô hình thủy lực một chiều MIKE 11, cũng như biên gia nhập khu giữa cho mô hình thủy lực hai chiều MIKE 21 Mô hình thủy lực một chiều MIKE 11 mô phỏng dòng chảy một chiều trong sông và mô hình hai chiều MIKE 21 mô phỏng dòng chảy hai chiều ngang tràn bãi Bộ mô hình này rất phù hợp ựể mô
Trang 16phỏng ngập lụt tại lưu vực sông Nhật Lệ nơi thường xuyên xảy ra các
trận lũ từ nhỏ ñến lớn
ðiều kiện số liệu ño ñạc trong khu vực rất hạn chế do nhiều nguyên
nhân khác nhau nên việc sử dụng mô hình MIKE - NAM ñể tính toán
dòng chảy từ mưa làm biên ñầu vào cho mô hình thủy lực là cần thiết
Mô hình MIKE FLOOD là một công cụ tổng hợp cho việc nghiên cứu
các ứng dụng về vùng bãi tràn phù hợp cho vùng trũng nghiên cứu, có
thể thể hiện ñược cả mức ñộ ngập lụt lẫn tốc ñộ và hướng dòng chảy lũ
trong vùng ngập lụt
Do vậy, trong luận văn này tác giả quyết ñịnh sử dụng mô hình Mike –
FLOOD trong bộ mô hình MIKE của Viện thủy lực ðan Mạch ñể liên kết mô
hình 1D và 2D diễn toán mô phỏng quá trình lũ trên lưu vực sông Nhật Lệ
ñoạn khu vực nghiên cứu
2.3 Cơ sở lý thuyết mô hình MIKE FLOOD
2.3.1 Mô hình mưa – dòng chảy MIKE – NAM
- Giới thiệu mô hình NAM
ðể tính toán quá trình hình thành dòng chảy từ mưa trên các lưu vực
sông thì mô hình NAM là một công cụ khá mạnh Mô hình quan niệm lưu vực
là các bể chứa xếp chồng nhau, trong ñó mỗi bể chứa ñặc trưng cho một môi
trường có chứa các yếu tố gây ảnh hưởng ñến quá trình hình thành dòng chảy
trên lưu vực, và các bể chứa ñược liên kết với nhau bằng các biểu thức toán
học Trong mô hình NAM, mỗi một lưu vực ñược xem như một ñơn vị xử lý
với các thông số là ñại diện cho các giá trị ñược trung bình hóa trên toàn lưu
vực Mô hình NAM tính toán quá trình mưa dòng chảy theo cách tính liên tục
hàm lượng ẩm trong các bể chứa riêng biệt tương tác lẫn nhau (hình 2.1)
Mô hình NAM có tổng cộng 19 thông số gồm các thông số về dòng
chảy mặt, thông số bốc hơi, thông số tưới Và theo thực tế tính toán cho thấy
chỉ có 5 thông số chính ảnh hưởng mạnh ñến quá trình hình thành dòng chảy,
ñó là Umax; Lmax; CK1,2; CQOF; CQIF [21]
Hình 2.1: Cấu trúc mô hình NAM
Bể chứa tuyết
Bể chứa mặt
Umax
CQIF
Mực nước ngầm
Dòngchảy ngầm Khai thác nước ngầm
Mưa
CK12
Dòng chảy mặt (CQIF)
Trang 17- ðầu vào của mô hình NAM
Mô hình NAM là một mô hình mưa rào – dòng chảy nên dữ liệu ñầu
vào của mô hình sẽ là số liệu mưa giờ hoặc mưa ngày thực ño của trạm khí
tượng và số liệu bốc hơi trung bình cùng với diện tích của lưu vực mà mưa rơi
xuống
- ðầu ra của mô hình
Kết quả của mô hình ñược biểu diễn qua ñường quá trình lưu lượng
theo thời gian (thời gian có thể tính bằng giờ hoặc bằng ngày tùy thuộc vào
thời gian của mưa thực ño)
2.3.2 Mô hình MIKE 11
Mô hình MIKE 11 là mô hình tính toán mạng sông dựa trên việc giải hệ
phương trình một chiều Saint -Venant:
Phương trình liên tục:
q
t
A x
∂
∂+
∂
∂+
∂
∂ (2.2) Phương trình chuyển ñộng:
0 2
2
= +
∂
∂ +
h gA x
trong ñó: A là diện tích mặt cắt ngang (m 2 ); t là thời gian (s); Q là lưu
lượng nước (m 3 /s); x là biến không gian; g là gia tốc trọng trường (m/s 2); ρ là
mật ñộ của nước (kg/m 3 ); b là ñộ rộng của lòng dẫn (m) và R là bán kính thủy
lực (m) [20, 21]
Phương pháp giải
Hệ phương trình Saint – Venant về nguyên lý là không giải ñược bằng
các phương pháp giải tích, vì thế trong thực tế tính toán người ta phải giải gần
ñúng bằng cách rời rạc hóa hệ phương trình Có nhiều phương pháp rời rạc hóa hệ phương trình, và trong mô hình MIKE 11, tác giả ñã sử dụng phương pháp sai phân hữu hạn 6 ñiểm ẩn Abbott Dưới ñây mô tả các cách bố trí sơ
ñồ Abbott 6 ñiểm với các phương trình (hình 2.2), và các biến trong mặt phẳng x~t (hình 2.3)
Trong phương pháp này, mực nước và lưu lượng dọc theo các nhánh sông ñược tính trong hệ thống các ñiểm lưới xen kẽ như dưới ñây (hình 2.4) ðối với mạng lưới sông phức tạp, mô hình cho phép giải hệ phương trình cho nhiều nhánh sông và các ñiểm tại các phân lưu/nhập lưu Cấu trúc của các nút lưới ở nhập lưu, tại ñó ba nhánh gặp nhau, thể hiện trong hình sau (hình 2.5)
Hình 2.2: Sơ ñồ sai phân hữu hạn 6 ñiểm ẩn Abbott
Hình 2.3: Sơ ñồ sai phân 6 ñiểm ẩn Abbott trong mặt phẳng x~t
Trang 18Cấu trúc các ñiểm lưới trong mạng vòng (hình 2.6) Tại một ñiểm lưới,
mối quan hệ giữa biến số Zj (cả mực nước hj và lưu lượng Qj) tại chính ñiểm
ñó và tại các ñiểm lân cận ñược thể hiện bằng phương trình tuyến tính sau:
j n j j n
Hình 2.4 : Nhánh sông với các ñiểm lưới xen kẽ
Hình 2.5 : Cấu trúc các ñiểm lưới xung quanh ñiểm nhập lưu
Hình 2.6 : Cấu trúc các ñiểm lưới trong mạng vòng
Ta quy ước các chỉ số dưới của các thành phần trong phương trình biểu thị vị trí dọc theo nhánh, và chỉ số trên chỉ khoảng thời gian Các hệ số α, β, γ
và δ trong phương trình (2.4) tại các ñiểm h và tại các ñiểm Q ñược tính bằng sai phân hiện ñối với phương trình liên tục và với phương trình ñộng lượng Tất cả các ñiểm lưới theo phương trình (2.4) ñược thiết lập Giả sử một nhánh có n ñiểm lưới; nếu n là số lẻ, ñiểm ñầu và cuối trong một nhánh luôn luôn là ñiểm h ðiều này làm cho n phương trình tuyến tính có n+2 ẩn số Hai
ẩn số chưa biết là do các phương trình ñược ñặt tại ñiểm ñầu và ñiểm cuối h, tại ñó Zj-1và Zj+1 là mực nước, theo ñó phần ñầu/cuối của nhánh phân/nhập lưu ñược liên kết với nhau [20, 21]
ðiều kiện biên và ñiều kiện ban ñầu
Hệ phương trình (2.1-2.3) khi ñược rời rạc theo không gian và thời gian
sẽ gồm có số lượng phương trình luôn ít hơn số biến số, vì thế ñể khép kín hệ phương trình này cần phải có các ñiều kiện biên và ñiều kiện ban ñầu Trong mô hình MIKE 11, ñiều kiện biên của mô hình khá linh hoạt, có thể là ñiều kiện biên hở hoặc ñiều kiện biên kín ðiều kiện biên kín là ñiều kiện tại biên ñó không có trao ñổi nước với bên ngoài ðiều kiện biên hở có thể là ñường quá trình của mực nước theo thời gian hoặc của lưu lượng theo thời gian, hoặc có thể là hằng số [21]
Các ñiều kiện ban ñầu bao gồm mực nước và lưu lượng trên khu vực nghiên cứu Thường lấy lưu lượng xấp xỉ bằng 0 còn mực nước lấy bằng mực nước trung bình