1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam

110 451 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ tầm quan trọng của vấn đề, từ chỗ số lượng nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều ; nó là vấn đề mới, còn khoảng trống trong nghiên cứu tại môi trường Việt Nam, luận án chọn đề tài « Xác

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



NGUYỄN BÍCH LIÊN

XÁC ĐỊNH VÀ KIỂM SOÁT CÁC NHÂN TỐ

ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN

TRONG MÔI TRƯỜNG ỨNG DỤNG HỆ THỐNG

TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

NGUYỄN BÍCH LIÊN

Trang 2

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục viết tắt

Danh mục bảng biểu

Danh mục hình vẽ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG MÔI TRƯỜNG ERP 13

1.1 HỆ THỐNG HOẠCH ĐỊNH NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP ERP 13

1.1.1 Qúa trình hình thành, phát triển và định nghĩa hệ thống ERP 13

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của hệ thống ERP 15

1.1.3 Lợi ích ERP 20

1.1.4 Hạn chế của ERP 23

1.1.5 Phân loại phần mềm ERP 24

1.2 CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG MÔI TRƯỜNG ERP 26

1.2.1 Chất lượng thông tin 26

1.2.2 Chất lượng thông tin kế toán 32

1.2.2.1 Quan điểm hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa kỳ FASB 34 1.2.2.2 Quan điểm hội đồngchuẩn mực kế toán quốc tế IASB 35

1.2.2.3 Quan điểm hội tụ IASB- FASB 37

1.2.2.4 Quan điểm chuẩn mực kế toán Việt Nam 38

1.2.2.5 Theo tiêu chuẩn của COBIT 39

1.2.3 Lựa chọn của luận án về tiêu chuẩn chất lượng thông tin thông tin kế toán trong môi trường ERP 40

1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA ERP TỚI CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN 43

1.3.1 Ảnh hưởng của ERP tới hệ thống thông tin kế toán 43

1.3.2 Ảnh hưởng của ERP tới chất lượng thông tin kế toán 47

CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG MÔI TRƯỜNG ERP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 51

2.1 CÁC QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN 51

2.1.1 Quan điểm sản phẩm cần phù hợp với người sử dụng 51

2.1.2 Quan điểm thông tin là một sản phẩm và bị ảnh hưởng bởi qui trình tạo sản phẩm 52

2.1.3 Quan điểm TQM và mô hình PSP/IP 52

2.1.4 Mô hình hệ thống hoạt động – quan điểm kết hợp kỹ thuật và xã hội 54

2.1.5 Nhận xét các quan điểm ảnh hưởng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán 57

2.2 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH HỆ THỐNG HOẠT ĐỘNG ĐỂ XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 60

2.2.1 Lý do chọn mô hình hệ thống hoạt động để xây dựng mô hình nghiên cứu

60

2.2.2 Hệ thống ERP dưới góc nhìn của hệ thống hoạt động 64

2.2.3 Ứng dụng mô hình hệ thống hoạt động trong phân tích nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP 68

2.3 ĐẶC ĐIỂM ỨNG DỤNG ERP TẠI VIỆT NAM 91

2.3.1 Đặc điểm phần mềm ERP tại Việt Nam 91

2.3.2 Đặc điểm qui mô các doanh nghiệp ứng dụng ERP 93

2.3.3 Đặc điểm nhà tư vấn và triển khai ERP tại Việt Nam 94

2.3.4 Đặc điểm quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam 96

2.3.5 Đặc điểm xử lý thông tin và hoạt động kế toán tại Việt Nam 98

2.3.6 Đặc điểm con người và văn hóa doanh nghiệp Việt Nam 99

2.3.7 Đặc điểm quản lý nhà nước và giám sát 100

2.3.8 Kết luận chung đặc điểm ứng dụng ERP tại ViệtNam ảnh hưởng tới nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán 101

2.4 NHẬN DIỆN CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG MÔI TRƯỜNG ERP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 102

Trang 3

ERP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 105

2.5.1 Thiết kế câu hỏi khảo sát 105

2.5.2 Câu hỏi và giả thiết nghiên cứu 107

2.5.3 Phân tích kết quả khảo sát 108

2.5.3.1 Phân tích độ tin cậy thang đo và dữ liệu khảo sát 108

2.5.3.2 Phân tích sự khác biệt quan niệm giữa các đối tượng khảo sát về nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP tại các doanh nghiệp Việt Nam 112

2.5.3.3 Đánh giá tổng quát trung bình các thành phần nhân tố 117

2.5.3.4 Phân tích khám phá nhân tố mới 121

2.5.4 Kết luận và bài học từ kết quả nghiên cứu 131

CHƯƠNG 3 KIỂM SOÁT CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG MÔI TRƯỜNG ERP TẠI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 136

3.1 KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ MÔ HÌNH KIỂM SOÁT 136

3.2 QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ COBIT 140

3.2.1 Quản lý công nghệ thông tin 140

3.2.2 Khuôn mẫu CobiT 143

3.2.3 Qui trình ứng dụng CobiT vào quản lý hệ thống thông tin 151

3.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG TRIỂN KHAI VÀ SỬ DỤNG ERP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 155

3.4 XÂY DỰNG KIỂM SOÁT CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG MÔI TRƯỜNG ERP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 165

3.4.1 Quan điểm chung về xây dựng giải pháp kiểm soát nhân tố 165

3.4.2 Kiểm soát nhân tố “Năng lực Ban quản lý và kiến thức nhà tư vấn triển khai ERP 167

3.4.3 Kiểm soát nhân tố “Kinh nghiệm, phương pháp của nhà tư vấn triển khai và chất lượng dữ liệu” 170

3.4.4 Kiểm soát nhân tố “Chất lượng phần mềm ERP” 181

3.4.6 Kiểm soát nhân tố “Đảm bảo hệ thống ERP tin cậy” 190

3.4.7 Kiểm soát nhân tố “Chính sách nhân sự và quản lý thông tin cá nhân”.193 3.5 CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẢM BẢO DUY TRÌ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT ……… 194

3.5.1 Điều kiện xây dựng và duy trì hệ thống kiểm soát 195

3.5.2 Vấn đề đào tạo giáo dục 197

KẾT LUẬN……… 200

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC Phụ lục 1 Câu hỏi khảo sát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán tại các doanh nghiệp việt nam trong môi trường ứng dụng ERP……….i

Phụ lục 2 Câu hỏi khảo sát tình hình thực tế kiểm soát ERP tại các doanh nghiệp Việt Nam……… xii

Phụ lục 3 Kết quả xử lý đánh giá độ tin cậy thang đo và dữ liệu …………xvii

Phụ lục 4 Kết quả phân tích Kruskal – Wallis cho các biến có sự khác biệt giữa các đối tượng khảo sát……….xxv

Phụ lục 5 Kết quả xử lý one way –ANOVA các biến có sự khác biệt giữa các đối tượng khảo sát……… xxxi Phụ lục 6 Trung bình thành phần nhân tố………xLvi Phụ lục 7 Phân tích khám phá nhân tố……… L Phụ lục 8 Tổng hợp kết quả khảo sát tình hình thực tế kiểm soát ERP tại các doanh nghiệp Việt Nam……… Lxi Phụ lục 9 Các vùng xử lý CNTT của CobiT ………Lxvi Phụ lục 10 Liên kết mục tiêu CNTT và xử lý CNTT……….Lxviii Phụ lục 11 Danh sách các doanh nghiệp khảo sát vấn đề liên quan ERP…Lxx

Trang 4

AICPA: Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ

CEO: Giám đốc điều hành doanh nghiệp

CICA (Canadian Institute of Chartered Accountants) Hiệp hội kế toán viên công

chứng Canada

CIO: Giám đốc/ quản lý CNTT

COBIT: (Control Objectives for Information and related Technology): Kiểm

soát các vấn đề đối với thông tin và kỹ thuật liên quan

COSO (the Committee of Sponsoring Organizations of Treadway

Commission): Ủy ban chống gian lận báo cáo tài chính

CNTT: Công nghệ thông tin

FASB (Financial Accounting Standards Board): Hội đồng chuẩn mực kế toán

tài chính Hoa Kỳ

IASB (International Accounting Standards Board): Hội đồng chuẩn mực kế

toán quốc tế

IT (Information Technology): Công nghệ thông tin

ERP Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp

MRP (Materials Requirement Planning): Hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên

vật liệu

MRP II (Manufacturing Requirement Planning): Hệ thống hoạch định sản xuất

PMO (Project Management Officer): Quản lý dự án

PSP/IP (Product and Service Performance Model for Information Quality) : Mô hình

thực hiện sản phẩm và dịch vụ cho chất lượng thông tin

WS (work system): Hệ thống hoạt động Các vùng mục tiêu của CobiT

• R (Responsible): Người có trách nhiệm thực hiện

• A (Accountable): Người có trách nhiệm giải trình, xét duyệt

• C (Consulted): Người được tư vấn

• I (Informed): Người được thông báo

Trang 5

Bảng 1.1 Đặc tính chất lượng thông tin theo tổng hợp của Knight và Burn

Bảng 1.2 Mô hình PSP/IP của Kahn and Strong, 1998

Bảng 1.3 Ảnh hưởng ERP tới hệ thống thông tin kế toán và chất lượng thông tin kế

toán

Bảng 2.1 Nhận xét các quan điểm về quan hệ chất lượng thông tin và hệ thống thông

tin ảnh hưởng nghiên cứu “các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong

môi trường ERP”

Bảng 2.2 Các thành phần hệ thống ERP theo góc nhìn Hệ thống hoạt động

Bảng 2.3 Kết quả kiểm định khác biệt quan điểm giữa các đối tượng khảo sát

Bảng 2.4 Mô tả thống kê các thành phần nhân tố

Bảng 3.3 Trách nhiệm thực hiện kiểm soát chất lượng dữ liệu

Bảng 3.4 Trách nhiệm thực hiện kiểm soát chất lượng phần mềm ERP

Bảng 3.5 Trách nhiệm thực hiện kiểm soát Thử nghiệm hệ thống

Bảng 3.6 Trách nhiệm thực hiện kiểm soát Huấn luyện, đào tạo nhân viên

Bảng 3.7 Trách nhiệm thực hiện kiểm soát Đảm bảo hệ thống ERP tin cậy

Bảng 3.8 Trách nhiệm thực hiện kiểm soát nhân tố Chính sách và quản lý nhân sự

Hình 2.1 Mô hình hệ thống hoạt động (Alter 2002) Hình 2.2 Qui trình phân loại rủi ro của Alter (Alter, 2002) Hình 3.1 Kiểm soát và quản lý CNTT (Trích từ IT Control Objectives for Sarbanes – Oxley)

Hình 3.2 Các chiều của CobiT (Trích từ IT Control Objectives for Sarbanes – Oxley) Hình 3.3 Mô hình thác đổ xác định mục tiêu quản lý hệ thống thông tin ((Trích từ CobiT 4.1)

Hình 3.4 Mô hình “trưởng thành” của hệ thống thông tin (Trích từ CobiT 4.1) Hình 3.5 Quan hệ giữa các thành phần CobiT (Trích từ CobiT 4.1)

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thông tin kế toán, mô tả vấn đề tài chính doanh nghiệp, là kết quả của hệ thống

thông tin kế toán Nó được cung cấp cho nhà quản lý các cấp trong doanh nghiệp,

hội đồng quản trị và người sử dụng bên ngoài doanh nghiệp để họ ra quyết định phù

hợp Chất lượng thông tin kế toán là vấn đề cực kỳ quan trọng vì nó ảnh hưởng trực

tiếp tới chất lượng và hiệu quả quyết định của người sử dụng thông tin

Trong những năm gần đây, có rất nhiều gian lận trong báo cáo tài chính được công

bố ví dụ Enron, WorldCom, Tyco, Xerox v.v Sự gian lận này đã dẫn tới thiệt hại tài

chính rất lớn đối với các nhà đầu tư, và đặc biệt nó có thể dẫn tới sự phá sản của

công ty Vì vậy vấn đề chất lượng thông tin kế toán được quan tâm hàng đầu trong

hoạt động quản trị, chẳng hạn như ở Mỹ đã ban hành đạo luật Sarbanes Oxley để

đảm chất lượng thông tin tài chính, hoặc các tổ chức nghề nghiệp có hàng loạt các

nghiên cứu và báo cáo về các khuôn mẫu, chuẩn mực để đảm bảo chất lượng thông

tin kế toán

Hệ thống hoạch định các nguồn lực doanh nghiệp ERP (enterprise resource planing

–ERP) là thuật ngữ được Gartner Group of Stamford, CT, USA sử dụng từ những

năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ trước (1970s) nhằm mô tả hệ thống phần mềm

doanh nghiệp được hình thành và phát triển từ những hệ thống quản lý và kiểm soát

kinh doanh giúp doanh nghiệp hoạch định và quản lý các nguồn lực bên trong và

bên ngoài doanh nghiệp Mức độ hiệu quả trong hoạt động của hệ thống ERP là dựa

chủ yếu vào các thông tin thu thập, xử lý về các nguồn lực, trong đó có nguồn lực

tài chính Ngược lại, quá trình thực hiện hoạt động ERP cũng chính là quá trình xử

lý thông tin, tiền đề tạo thông tin tài chính, kế toán Vì vậy chất lượng thông tin kế

toán là một trong những nhân tố tác động tới chất lượng hoạt động của hệ thống

ERP, và đồng thời là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống ERP

Ứng dụng EPR là tất yếu vì những lợi ích không thể chối cãi được Theo thống kê, tới thời điểm 02-2010 có 102 doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện thành công ERP (1Thttp://eac.vnU1T) và danh sách này càng ngày càng dài đã chứng tỏ xu thế ứng dụng ERP ngày càng nhiều tại Việt Nam là không thể quay ngược Hơn ai hết, các doanh nghiệp, nhất là các tập đoàn, công ty lớn phải chịu sức ép cạnh tranh từ gia nhập WTO và niêm yết trên thị trường chứng khoán cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ (cũng bị áp lực tồn tại trong thế giới kinh doanh đầy cạnh tranh) đều hiểu rõ sự cần thiết phải ứng dụng ERP do nó giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động,

tăng sức cạnh tranh trên thị trường

Vì tầm quan trọng như vậy nên có nhiều nghiên cứu liên quan tới vấn đề chất lượng thông tin kế toán, nhất là trong môi trường ERP

Chất lượng thông tin kế toán ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng quản lý cũng như hoạt động của ERP Để ứng dụng được ERP, doanh nghiệp cần xây dựng lại cấu trúc tổ chức và qui trình kinh doanh, các yêu cầu xử lý cũng như thay đổi thông tin

và dữ liệu qua các vùng chức năng của doanh nghiệp, xây dựng cơ sở dữ liệu gồm

dữ liệu tập tin nghiệp vụ và dữ liệu tập tin chính (Saharia et al., 2008) Vậy thì sự thay đổi này có làm ảnh hưởng tới chất lượng thông tin kế toán hay không? Nhân tố nào ảnh hưởng tới chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP; kiểm soát chúng như thế nào? Đây là những câu hỏi rất quan trọng đặt ra cho các nhà quản lý trong doanh nghiệp ứng dụng ERP

Đã có nhiều nghiên cứu về ERP trên thế giới Theo tổng kết của Moon (Moon, 2007) về các bài nghiên cứu được đăng trên tạp chí từ 2000 đến 31/05/2006, có 313 bài liên quan ERP được đăng trên 79 tạp chí Các bài nghiên cứu này có thể phân thành các nhóm sau (1) Triển khai hệ thống ERP 135 bài, (2) Sử dụng ERP 44 bài, (3) Mở rộng chức năng ERP 37 bài, (4) Giá trị ERP 24 bài, (5) Khuynh hướng và

kỳ vọng 55 bài, (6) Đào tạo, huấn luyện 18 bài Cụ thể:

• Triển khai hệ thống ERP yêu cầu sự cam kết và thay đổi trong toàn doanh nghiệp cũng như yêu cầu về rất nhiều nguồn lực trong doanh nghiệp và dự án ERP là dự án lớn nhất đối với một doanh nghiệp Có rất nhiều thất bại và

Trang 7

nhiều thành công liên quan tới triển khai ERP Vì vậy có 135 bài, chiếm hơn

40% các bài nghiên cứu liên quan tới triển khai ERP Các nghiên cứu về

triển khai có thể phân thành các nhóm nhỏ hơn:

o Nghiên cứu tình huống Các nghiên cứu này tập trung vào khảo sát

các kinh nghiệm triển khai tại một hoặc nhiều công ty và cung cấp

được số liệu và quan sát thực

o Nghiên cứu các nhân tố thành công chủ yếu Đây là nhóm nghiên cứu

phổ biến nhất để tìm hiểu xem nhân tố nào được xác định là thành

công hay thất bại của việc triển khai ERP Một số nghiên cứu tập

trung vào việc tạo một danh sách liệt kê các nhân tố, một số nghiên

cứu khác thì thực hiện phân tích dữ liệu liên quan tới các nhân tố này

o Nghiên cứu quản trị thay đổi Triển khai ERP tác động tới tất cả các

hoạt động, các bộ phận chức năng của doanh nghiệp và doanh nghiệp

cần tái cấu trúc quản lý Vì vậy, các thay đổi trong doanh nghiệp diễn

ra rất mạnh mẽ Một loạt các nghiên cứu liên quan tới quản trị thay

đổi, chẳng hạn như giải thích tại sao quản trị thay đổi là quan trọng

trong triển khai ERP, hoặc là làm sao để quản trị hiệu quả các thay đổi

này, các bài học thu hái được và các chiến lược để quản trị thay đổi

o Nghiên cứu các giai đoạn cần chú trọng Vì triển khai ERP là một chu

kỳ phát triển dài từ khi doanh nghiệp quyết định sẽ triển khai ERP cho

tới khi đưa ERP vào sử dụng Các nghiên cứu xem xét từng giai đoạn

riêng biệt trong quá trình triển khai như lựa chọn hệ thống, tùy chỉnh

hệ thống, v.v

o Nghiên cứu các vấn đề về văn hóa Các nghiên cứu tập trung tìm hiểu

sự giống và khác nhau giữa văn hóa và quốc gia trong triển khai ERP

và nó tác động thế nào tới sự thành công của ERP

• Sử dụng ERP là các nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề liên quan trong quá trình

sau triển khai, chẳng hạn như ảnh hưởng của nguồn lực tới quá trình sử dụng

ERP, việc chấp thuận hay hài lòng của người sử dụng, tới việc tái cấu trúc

sau triển khai ERP, tới quản trị sự thay đổi, thiết kế các xử lý trả lại nguyên

vật liệu, hoặc các vấn đề để phù hợp với yêu cầu của đạo luật Sarbanes- Oxley Ngoài ra các vấn đề rất được quan tâm là nâng cấp ERP, quản trị dữ liệu bẩn, tác động của công ty tư vấn và vai trò chính trị của hệ thống ERP

44 bài nghiên cứu này có thể được phân thành các nhóm chi tiết :

o Nghiên cứu chung : 21 bài là các nghiên cứu chung tất cả vấn đề về giai đoạn sử sụng ERP

o Hỗ trợ quyết định : 4 bài

o Các vùng chức năng trong hệ thống ERP 11 bài

o Bảo dưỡng hệ thống : 8 bài

• Nghiên cứu sự mở rộng các chức năng ERP có 37 bài Các công ty sau khi triển khai, hài lòng với việc sử dụng ERP hiện hành sẽ nghĩ tới việc mở rộng các chức năng của hệ thống ERP ví dụ như kinh doanh điện tử, quản trị chuỗi cung ứng, quản trị khách hàng, thông minh kinh doanh, hệ thống điều hành sản xuất v.v Các nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về kỹ thuật, công nghiệp liên quan tới việc mở rộng Một số nghiên cứu giải thích khả năng công nghệ với việc mở rộng và tích hợp hoặc làm sao để mở rộng các chức năng ERP hiện hành Một số nghiên cứu khác đưa ra viễn cảnh tốt cho việc tích hợp giữa hệ thống ERP nhà cung cấp và khách hàng

• Nghiên cứu giá trị ERP Bởi vì việc đầu tư và cố gắng trong việc triển khai

và sử dụng ERP là quan trọng với tổ chức do đó câu hỏi đặt ra là hệ thống ERP đã đem lại những giá trị gì cho tổ chức? làm sao để đo lường những giá trị này Các giá trị ERP đem lại cho tổ chức rất đa dạng như lợi ích hoạt động, lợi ích tài chính, lợi cho nhà đầu tư, hài lòng của người sử dụng Giá trị của ERP còn có thể đo lường dựa trên quan sát sự phản ứng của thị trường

• Khuynh hướng và triển vọng Các nghiên cứu này thường liên quan tới giới thiệu ERP, định nghĩa và các vấn đề ERP, khuynh hướng hiện nay của ERP Các nghiên cứu này cung cấp thông tin hướng dẫn cho người quản lý và các người bắt đầu tìm hiểu ERP Các nghiên cứu này có thể phân thành các loại :

o Tổng quan về ERP như các nghiên cứu mô hình khái niệm ERP, các thành phần của phần mềm ERP

Trang 8

o Các nghiên cứu chung về ERP trong các vùng lĩnh vực hoạt động như

các tổ chức công, các tổ chức giáo dục, công nghiệp sản xuất, dịch vụ

• Giáo dục ERP được chấp nhận rộng rãi trong thực tế và do đó là vấn đề

nghiên cứu quan trọng và phổ biến trong các trường đại học Tuy nhiên các

bài báo liên quan chỉ chiếm khoảng 5% (18 bài) Có 1 nghiên cứu mô tả kinh

nghiệm việc thực hiện một phiên bản hệ thống ERP trong giáo dục Một vài

bài cố gắng nghiên cứu xa hơn bằng cách áp dụng các lý thuyết thay đổi

Ở Việt Nam các nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí về ERP không nhiều, chủ

yếu là các bài viết có tính chất đúc kết các kinh nghiệm triển khai ERP, các nhân tố

thành công hay thất bại ERP tại Việt Nam

Vấn đề chất lượng thông tin, kiểm soát chất lượng thông tin trong ERP là quan

trọng nhưng theo như các tổng kết về nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam thì có

nhiều nghiên cứu về các nhân tố thành công chủ yếu tới triển khai ERP nhưng

nghiên cứu về giai đoạn sử dụng ERP không nhiều (44 bài) mà đặc biệt có rất ít

nghiên cứu đề cập tới chất lượng thông tin kế toán và kiểm soát chất lượng thông tin

kế toán trong môi trường ERP

Liên quan trực tiếp tới vấn đề các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán,

một nghiên cứu đã được công bố trong luận án tiến sĩ 2003 của đại học Southern

Queensland « “Critical Success Factors for Accounting Information Systems Data

Quality” Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ dừng trong phạm vi hệ thống kế toán nói

chung chứ không phải hệ thống ERP Ngoài ra luận án trên sử dụng cách tiếp cận

xây dựng mô hình nghiên cứu trên quan điểm quản lý chất lượng tổng thể chứ

không sử dụng mô hình hệ thống thông tin, hệ thống hoạt động khi phân tích

Từ tầm quan trọng của vấn đề, từ chỗ số lượng nghiên cứu về vấn đề này chưa

nhiều ; nó là vấn đề mới, còn khoảng trống trong nghiên cứu tại môi trường Việt

Nam, luận án chọn đề tài « Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất

lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định

nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam »

Luận án tiếp cận giải quyết vấn đề chất lượng thông tin trên góc độ của qui trình tạo lập thông tin chứ không phải góc độ của người sử dụng thông tin ra quyết định Điều này nghĩa là dựa vào các phương pháp kế toán hay chuẩn mực kế toán đã xây dựng, hệ thống thông tin sẽ tạo ra các thông tin phù hợp và chính xác theo phương pháp hay chuẩn mực này và đảm bảo sự an toàn, chính xác dữ liệu tin học Các nghiên cứu liên quan tới việc thay đổi phương pháp kế toán hay thay đổi các chuẩn mực kế toán để gia tăng chất lượng trên báo cáo tài chính phục vụ việc ra quyết định kinh tế sẽ nằm ngoài phạm vi của luận án

Về phạm vi hệ thống ERP, luận án chỉ dừng lại nghiên cứu môi trường ERP được ứng dụng tại cùng một vùng lãnh thổ địa lý là cùng một quốc gia Như vậy, luận án

sẽ loại trừ các nhân tố ảnh hưởng bởi sự khác nhau về vùng địa lý, về múi giờ hay

về chính sách thuế của doanh nghiệp đa quốc gia khi ứng dụng ERP

Về phạm vi các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin, luận án không nghiên cứu vấn đề liên quan tài chính vì để hệ thống hoạt động thì chắc chắn là cần chi phí, nhưng đặc điểm ERP là khi ban quản lý cấp cao doanh nghiệp chấp nhận ứng dụng ERP thì trong kế hoạch phát triển đã phải tính tới yếu tố chi phí (chi phí bản quyền, chi phí triển khai, chi phí bảo trì hàng năm trả nhà tư vấn triển khai) và chấp nhận

nó như một điều kiện cơ bản bắt buộc ban đầu Luận án chỉ tập trung vào các nhân

tố liên quan tới bản thân hệ thống, các nhân tố liên quan qui trình tạo lập và sử dụng

hệ thống Vấn đề tài chính được coi nằm ngoài phạm vi luận án

MỤC TIÊU LUẬN ÁN

Liên quan tới đề tài của luận án, 3 câu hỏi được đặt ra cần giải quyết là :

• Quan điểm của 3 nhóm: người tư vấn, triển khai ERP; doanh nghiệp sử dụng ERP ; và nhóm người nghiên cứu giảng dạy ERP về các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán giống nhau hay khác nhau?

• Trong môi trường ERP tại các doanh nghiệp Việt Nam thì nhân tố nào ảnh hưởng tới chất lượng thông tin kế toán? Xếp hạng các nhân tố này thế nào?

Trang 9

• Các thủ tục kiểm soát nào cần thiết để kiểm soát những nhân tố ảnh hưởng

này nhằm làm gia tăng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP

tại các doanh nghiệp Việt Nam?

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu đã đặt ra, luận án cần giải quyết 3 vấn đề chính có quan hệ

chặt chẽ với nhau, đó là : (1) Chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP

Mục đích của phần này là tìm ra các tiêu chuẩn của chất lượng thông tin kế toán

trong môi trường ERP hay nói cách khác nó chính là các thang đo chất lượng thông

tin kế toán trong môi trường ERP; (2) Các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin

kế toán trong môi trường ERP tại doanh nghiệp Việt Nam Mục đích của phần này

là tìm ra những nhân tố nào ảnh hưởng tới chất lượng thông tin kế toán và các thang

đo nhân tố ảnh hưởng này trong môi trường ERP tại doanh nghiệp Việt Nam ; và

(3) Kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng đã nhận diện ở trên nhằm nâng cao chất

lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP Mục đích của phần này là xây dựng

các kiểm soát cần thiết để kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế

toán trong môi trường ERP tại các doanh nghiệp Việt Nam

Để giải quyết vấn đề (1) « Chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP » ,

luận án sử dụng phương pháp so sánh các lý thuyết nền về chất lượng thông tin, các

quan điểm của các tổ chức nghề nghiệp có tính quốc tế hay các cơ quan quản lý nhà

nước có tính pháp lý về vấn đề liên quan để chọn ra một quan điểm chất lượng

thông tin kế toán phù hợp trong môi trường ERP

Để giải quyết vấn đề (2) « Các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán

trong môi trường ERP », luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu suy diễn- định

lượng Do hiện nay các nghiên cứu trực tiếp xác định các nhân tố ảnh hưởng chất

lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP chưa nhiều nên luận án phải sử dụng

việc suy diễn để nhận diện nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong

môi trường ERP Cụ thể, luận án thực hiện qua 2 bước cơ bản Bước 1, sử dụng

phương pháp suy diễn để xác định ban đầu các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông

tin kế toán trong môi trường ERP Suy diễn này được bắt đầu từ lý thuyết nền về

(a) Sản phẩm có chất lượng là sản phẩm cần phù hợp với người sử dụng của J.M.Juran; (b) Thông tin là một sản phẩm bị ảnh hưởng bởi qui trình tạo thông tin; (c) Quan điểm quản lý chất lượng toàn diện (TQM) và mô hình của Kahn và Strong năm 1998: mô hình thực hiện sản phẩm và dịch vụ cho chất lượng thông tin (PSP/IQ) ; (d) quan điểm nếu hệ thống thông tin ERP thành công, tin cậy để đảm bảo chức năng xử lý thông tin thì sẽ tạo ra sản phẩm thông tin chất lượng (Romney and Steinbart, 2006) ; và (e) dựa trên các nguyên lý trên, luận án tiếp tục dựa vào

mô hình « hệ thống hoạt động » và dựa trên các kết quả nghiên cứu được công bố trên thế giới về vấn đề chất lượng thông tin kế toán và các nhân tố thành công hay các rủi ro liên quan tới việc thành công của dự án ERP; luận án điều chỉnh cho phù hợp với các đặc điểm doanh nghiệp Việt Nam để xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán tại doanh nghiệp Việt Nam ứng dụng ERP Bước 2, luận án sử dụng phương pháp kiểm định phi tham số Kruskal- Wallis kết hợp với phân tích ANOVA và phương pháp phân tích khám phá nhân tố EFA để trả lời câu hỏi nghiên cứu thứ 1 và thứ 2 Luận án sử dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát thuận tiện kết hợp phương pháp phát triển mầm (Nguyễn Đình Thọ, 2011) để thực hiện khảo sát Phạm vi nghiên cứu là doanh nghiệp Việt Nam Đối tượng nghiên cứu là những người tạo hệ thống, tạo thông tin và sử dụng thông tin, đối tượng nghiên cứu giảng dây ERP Phương pháp nghiên cứu được tóm tắt trên sơ đồ nghiên cứu sau:

Trang 10

Để giải quyết vấn đề (3) « Kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng đã nhận diện nhằm

nâng cao chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP », luận án sử dụng mô

hình kiểm soát CobiT P

1 CobiT –Control Objectives for Information and related Technology- do Viện quản lý công nghệ thông tin

(IT Governance Institute) thuộc Hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA-Information

System Audit and Control Association) ban hành năm 1996 COBIT nhấn mạnh đến kiểm soát trong môi

trường tin học

Chất lượng sản phẩm phụ thuộc

vào người sử dụng

(J.M Jura & Wang)

• Thông tin là sản phẩm của hệ

thống thông tin

• Chất lượng thông tin phụ

thuộc chất lượng hệ thống tạo

sản phẩm thông tin và cung

cấp dịch vụ thông tin (mô

hình PSP/IQ Kahn &Strong)

Hệ thống thông tin tin cậy sẽ tạo

thông tin có chất lượng

(Marshall Romney & Paul

Mô hình “hệ thống hoạt động”

Nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP – thang đo nhân tố Điều chỉnh và xác định mô hình nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP trong các doanh nghiệp Việt Nam

• Phân tích Kruskall- Wallis kết hợp Anova

• Phân tích EFA

PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

• Phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp Việt Nam - không phải các doanh nghiệp đa quốc gia ở Việt Nam - ở tất cả các lĩnh vực ứng dụng ERP

• Đối tượng nghiên cứu

o Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán, luận án sẽ chọn đối tượng nghiên cứu là 3 nhóm người, bao gồm (1) các nhà tư vấn triển khai có kinh nghiệm về kế toán trong môi trường ERP; (2) doanh nghiệp sử dụng ERP gồm: ban quản lý doanh nghiệp các cấp, kiểm toán viên nội bộ và kế toán; (3) và các nhà giáo dục, đào tạo liên quan vấn đề ERP Ngoài ra, kiểm toán viên độc lập cũng là đối tượng được khảo sát Đây là các nhóm người có trách nhiệm chính hoặc quyền lợi liên quan tới hệ thống ERP doanh nghiệp hoặc có kiến thức vững chắc về hệ thống ERP

o Tìm hiểu thực trạng kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam, luận án chọn đối tượng nghiên cứu là quản lý công nghệ thông tin (CNTT) hoặc kế toán trưởng của các doanh nghiệp sử dụng ERP vì họ là một trong những người chủ chốt theo suốt dự án từ khi lập kế hoạch cho tới khi hoàn thành và sử dụng ERP

CÁC ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

Về mặt lý thuyết, luận án đã kết nối, phân tích các khái niệm chất lượng thông tin, quản lý chất lượng toàn bộ và mô hình “thực hiện sản phẩm và dịch vụ cho chất lượng thông tin” PSP/IQ, mô hình liên quan hệ thống thông tin để giải quyết các lý luận về phương pháp xác định các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP Luận án đã sử dụng cách tiếp cận mới trong xác định nhân

tố ảnh hưởng, đó là phân tích dựa trên mô hình “hệ thống hoạt động” để có một cái nhìn toàn diện, logic, rõ ràng vấn đề nghiên cứu Kết quả phân tích EFA xác định được các nhân tố mới và thang đo nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng ERP tại doanh nghiệp Việt Nam Kết quả này là nền

Trang 11

tảng giúp phát triển các mô hình nghiên cứu tác động qua lại giữa các nhân tố dễ

dàng hơn

ERP là môi trường quản lý mới tại Việt Nam nên rất nhiều doanh nghiệp lúng túng

trong việc quản lý, kiểm soát cũng như kiểm toán để đảm bảo và nâng cao chất

lượng thông tin kế toán trong môi trường này Luận án đã phát triển từ CobiT để

xây dựng các kiểm soát các nhân tố mới Do đó, về mặt thực tiễn, kết quả nghiên

cứu của luận án sẽ là một tham khảo hữu ích giúp các nhà quản lý doanh nghiệp sử

dụng ERP cũng như các nhà tư vấn triển khai ERP lập kế hoạch triển khai và sử

dụng cũng như giám sát, kiểm soát hệ thống ERP của doanh nghiệp phù hợp và hiệu

quả nhất

Kết quả nghiên cứu của luận án cũng là một tham khảo rất có giá trị đối với các

kiểm toán viên trong việc xây dựng kế hoạch kiểm toán các doanh nghiệp sử dụng

ERP tại Việt Nam

Ngoài ra, kết luận của luận án cũng giúp các nhà nghiên cứu, giảng dạy xây dựng

chương trình và nội dung đào tạo liên quan ERP phù hợp hơn và chất lượng hơn

TRÌNH BÀY VÀ KẾT CẤU LUẬN ÁN

Để đạt mục tiêu đề ra, luận án cần giải quyết 3 vấn đề vừa mang tính độc lập vừa

mang tính kế thừa chặt chẽ Đó là (1) vấn đề chất lượng thông tin kế toán trong môi

trường ERP; (2) vấn đề xác định nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán

trong môi trường ERP; và (3) xây dựng kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng

thông tin đã nhận diện Do mỗi vấn đề cần một phương pháp nghiên cứu riêng trên

những nền tảng lý thuyết riêng, nên luận án không chọn cách trình bày truyền thống

mà chọn cách trình bày theo từng vấn đề ở từng chương khác nhau nhưng có mối

liên hệ chặt chẽ với nhau Kết quả nghiên cứu chương trước sẽ là tiền đề cho việc

giải quyết vấn đề ở chương sau Mỗi vấn đề đều bao gồm cơ sở lý thuyết và các

nghiên cứu liên quan, thực trạng Việt Nam về vấn đề nghiên cứu để từ đó xây dựng

mô hình nghiên cứu và xử lý kiểm nghiệm mô hình phù hợp

Luận án được kết cấu thành các nội dung như sau;

• Phần mở đầu: giới thiệu về các lý do chọn lựa đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài

• Chương 1 Chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP

• Chương 2 Xác định các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng ERP tại các doanh nghiệp Việt Nam

• Chương 3 Kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP tại các doanh nghiệp Việt Nam

• Kết luận chung luận án

Trang 12

CHƯƠNG 1 CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG MÔI

TRƯỜNG HỆ THỐNG HOẠCH ĐỊNH NGUỒN LỰC DOANH

NGHIỆP – ERP

1.1 HỆ THỐNG HOẠCH ĐỊNH NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP ERP

1.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và định nghĩa hệ thống ERP

Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (EPR) phát triển cùng phương pháp

quản lý kinh doanh và các nguồn lực doanh nghiệp ERP có thể được diễn tả khác

nhau tùy theo những góc độ khác nhau Trước khi xem xét các khái niệm, chúng ta

cùng điểm sơ quá trình hình thành và phát triển của ERP (Shehab et al., 2004)

Vào những năm 1960, hệ thống phần mềm đặt hàng (Reoder Point System) ra đời

đáp ứng yêu cầu quản lý hàng tồn kho nhằm xác định yêu cầu bổ sung hàng tồn

kho; quản lý việc đặt hàng tồn kho và cũng như việc sử dụng hàng trong kho và báo

cáo hàng tồn kho

Những năm 1970s, phần mềm hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP) giúp

doanh nghiệp lập kế hoạch sản xuất và mua nguyên vật liệu về mặt thời gian, nhu

cầu Đây là cách tiếp cận lập kế hoạch dựa trên nhu cầu Lợi ích của MRP giúp

doanh nghiệp giảm mức dự trữ hàng tồn kho, gia tăng dịch vụ khách hàng, tăng tính

hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động

Những năm 1980s, phần mềm hoạch định sản xuất (MRP II) được phát triển từ

MRP Mục tiêu chính của MRP II là tích hợp các chức năng chủ yếu như sản xuất,

marketing và tài chính với các chức năng khác như nhân sự, kỹ thuật và mua hàng

vào hệ thống lập kế hoạch để gia tăng hiệu quả cho doanh nghiệp sản xuất MRP II

đã bổ sung thêm việc qui hoạch năng lực và xây dựng lịch trình cũng như đôn đốc,

giám sát việc thực hiện kế hoạch sản xuất

Giữa những năm 1990s là giai đoạn chín muồi của hệ thống phần mềm lập kế hoạch

nguồn lực doanh nghiệp Hệ thống đã tích hợp các hoạt động kinh doanh của nhiều

vùng hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp thành một hệ thống chung với một cơ sở

dữ liệu chung Nó bao gồm các phân hệ cơ bản nhằm hỗ trợ các hoạt động marketing, tài chính, kế toán, sản xuất và quản trị nguồn nhân lực

Trong khi MRP II chỉ tập trung chủ yếu vào lập kế hoạch và lịch trình cho các nguồn lực nội bộ doanh nghiệp thì ERP hướng tới lập kế hoạch và lịch trình tới cả người cung cấp nguồn lực cho doanh nghiệp trên cơ sở lập kế hoạch nhu cầu và lịch trình khách hàng một cách năng động Đây chính là điểm khác nhau cơ bản giữa MRP II và ERP

Từ sau năm 2000, cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, một thế hệ mới của ERP còn gọi ERP II, là phần mềm cho phép doanh nghiệp trao đổi thông tin và hoạt động xử lý qua mạng cũng như cho các đối tượng bên ngoài truy cập vào hệ thống cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp

Như vậy hệ thống ERP được hình thành và phát triển từ những hệ thống quản lý và kiểm soát kinh doanh hay nói cách khác là từ các phương pháp quản lý kinh doanh

Sự phát triển của ERP cũng gắn đồng thời với sự phát triển của công nghệ máy tính,

từ những giai đoạn phần mềm được chạy trên những máy tính lớn, sau đó trên các máy tính PC với giải pháp khách chủP

2

và hiện nay là thời kỳ mạng Internet cho các

xử lý kinh doanh điện tử

Có nhiều định nghĩa khác nhau về ERP, tùy theo quan điểm tiếp cận

Đứng ở góc độ quản lý, ERP là “một giải pháp quản lý và tổ chức dựa trên nền tảng

kỹ thuật thông tin đối với những thách thức do môi trường tạo ra” (Laudon and Laudon, 1995) Hệ thống ERP là một phương thức quản lý dùng giải pháp kỹ thuật

và tổ chức để giúp doanh nghiệp gia tăng và làm gọn nhẹ một cách hiệu quả xử lý kinh doanh nội bộ vì nó đòi hỏi phải tái cấu trúc qui trình hoạt động kinh doanh và

tổ chức doanh nghiệp cũng như thay đổi phong cách quản lý doanh nghiệp, nghĩa là

nó tác động thay đổi qui trình quản lý, ảnh hưởng cả chiến lược, tổ chức và văn hóa của doanh nghiệp

2 Môi trường khách chủ (client/server) là môi trường mà máy chủ lưu trữ dữ liệu, duy trì sự toàn vẹn, nhất quán và xử lý các yêu cầu của người sử dụng từ các máy người sử dụng Việc xử lý dữ liệu và các ứng dụng được phân chia giữa máy chủ và máy người sử dụng

Trang 13

Theo quan điểm hệ thống thông tin, hệ thống ERP là các gói phần mềm cho phép

doanh nghiệp tự động và tích hợp phần lớn các xử lý kinh doanh, chia sẻ dữ liệu

chung cho các hoạt động toàn doanh nghiệp, tạo ra và cho phép truy cập thông tin

trong môi trường thời gian thực (Marnewick and Labuschagne, 2005)

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của hệ thống ERP

Nói tới hệ thống ERP, người ta nói tới hệ thống quản lý với sự hỗ trợ của công nghệ

thông tin Một hệ thống ERP bao giờ cũng bao gồm các thành phần cơ bản:

• Qui trình quản lý Đây là qui trình thực hiện và xử lý các hoạt động kinh tế

trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh Chúng ta đã biết, một hoạt

động kinh doanh muốn thực hiện cần kết hợp đồng thời cả hoạt động xử lý

kinh doanh và xử lý thông tin Ví dụ nhân viên bán hàng muốn thực hiện

hoạt động bán hàng cần xử lý những thông tin liên quan tới yêu cầu khách

hàng, thông tin hàng tồn trong kho và thông tin liên quan tới giá bán, điều

kiện bán hàng Dựa vào kết qủa xử lý này, nhân viên bán hàng quyết định

chấp thuận hay không yêu cầu của khách hàng Như vậy việc thực hiện hoạt

động xử lý kinh doanh liên quan tới đặt hàng này cũng đồng thời là qui trình

xử lý thông tin về đặt hàng của khách hàng Vì lý do này, qui trình quản lý

và qui trình xử lý của phần mềm ERP cần phù hợp và gắn chặt với nhau

• Phần mềm xử lý là phần mềm ERP

• Hệ thống thiết bị là hệ thống gồm các máy tính đơn lẻ nối với nhau thành

một hệ thống mạng và hệ thống truyền thông nội bộ

• Cơ sở dữ liệu toàn doanh nghiệp là tất cả các dữ liệu của toàn bộ doanh

nghiệp được lưu trữ chung

• Con người tham gia trong qui trình xử lý của hệ thống ERP

Tất cả các thành phần cơ bản này trong hệ thống ERP kết hợp với nhau, cùng hoạt

động theo một nguyên tắc nhất định theo những đặc điểm sau:

Tính phân hệ và tích hợp Phần mềm ERP là tích hợp nhiều phân hệ để xử các

hoạt động kinh doanh, chia sẻ và chuyển thông tin thông qua một cơ sở dữ liệu

chung mà các phân hệ này đều có thể truy cập được Ở mức độ cơ bản, một phần mềm ERP thường bao gồm các phân hệ để xử lý hoạt động (Marnewick and Labuschagne, 2005)

Tài chính, kế toán: bao gồm hệ thống quản lý chính, hệ thống sổ cái của

doanh nghiệp Phân hệ tài chính là phân hệ xương sống, không thể thiếu của bất cứ phần mềm ERP nào

Nguồn nhân lực Dùng để quản trị nguồn nhân lực bao gồm tính, trả

lương; tuyển dụng; huấn luyện và kiểm soát sử dụng nhân lực Phân hệ này sẽ tích hợp với phân hệ tài chính về vấn đề tính lương, chi phí sử dụng nhân lực, phát hành SEC thanh toán lương

Lập kế hoạch và kiểm soát sản xuất Phân hệ này quản lý các hoạt động

sản xuất gồm kế hoạch sản xuất, kế hoạch yêu cầu nguyên liệu, theo dõi hoạt động sản xuất

Quản trị chuỗi cung ứng Phân hệ này quản lý toàn bộ các hoạt động và

các thông tin liên quan việc chuyển hàng hóa trong quá trình mua hàng từ người bán tới nhà máy hoặc kho của doanh nghiệp cũng như chuyển thành phẩm hay hàng hóa trong quá trình bán hàng từ doanh nghiệp tới khách hàng Các thông tin được quản lý liên quan thường là các đặt hàng, cập nhật tình trạng giao nhận hàng

Quản trị quan hệ người cung cấp Liên quan tới hoạt động mua hàng,

doanh nghiệp cần lựa chọn và quyết định nhanh nhà cung cấp, thiết lập các chính sách quan hệ với người bán Phân hệ này giúp doanh nghiệp có đầy đủ thông tin để hỗ trợ doanh nghiệp đạt các mục tiêu liên quan dễ dàng

Quản trị quan hệ với khách hàng Đây là phần mềm với sự hỗ trợ của

Internet để quản lý quan hệ khách hàng với doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp biết tốt nhất nhu cầu và phản hồi thông tin của khách hàng

về dịch vụ và hàng hóa yêu cầu; giúp doanh nghiệp kết nối nhu cầu khách hàng với kế hoạch sản xuất và bán hàng của doanh nghiệp; giúp doanh

Trang 14

nghiệp và cả khách hàng kiểm tra việc thực hiện đặt hàng và cung cấp

dịch vụ khách hàng, biết lịch sử giao dịch của doanh nghiệp với khách

hàng Phân hệ này giúp doanh nghiệp đưa ra chính sách, thực hiện kiểm

soát tốt nhất và hiệu quả nhất việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng

• Thông minh kinh doanh Đây là công cụ hỗ trợ quyết định thông qua việc

phân tích, đánh giá nhiều chiều thông tin với các dữ liệu cập nhật kịp thời

nhất Chẳng hạn như thông tin quá khứ, hiện tại, dự đoán tương lai theo

nhiều góc nhìn và so sánh khác nhau Nhờ công cụ này việc ra quyết định

sẽ hiệu quả, kịp thời và nhanh nhạy hơn rất nhiều

Tuy nhiên tên và số lượng các phân hệ cụ thể trong một phần mềm ERP rất khác

nhau tùy theo nhà cung cấp phần mềm Ví dụ như SAP đặt tên là phân hệ “kế toán

tài chính” trong khi đó Oracle lại gọi nó là “tài chính” Đứng từ phía doanh nghiệp,

tùy theo nhu cầu và khả năng tài chính có thể lựa chọn và cài đặt nhiều hay ít hơn

các phân hệ trong phần mềm ERP nhưng vẫn phải đảm bảo ở mức cơ bản những

phân hệ về tài chính, bán hàng, kiểm soát kho hàng, quản lý người bán và khách

hàng

Cơ sở dữ liệu quản lý tập trung và chia sẻ thông tin Tất cả các dữ liệu của các

phân hệ tích hợp được quản lý tập trung và tổ chức theo kiểu hệ quản trị cơ sở dữ

liệu (database management system) Các phân hệ đều có thể truy cập và sử dụng

chung nguồn dữ liệu này Cách tổ chức dữ liệu tập trung này giúp việc thu thập và

lưu trữ dữ liệu không bị trùng lắp, không mâu thuẫn với nhau, các dữ liệu được sử

dụng hiệu quả cao

Hoạch định toàn bộ nguồn lực của doanh nghiệp Đây chính là điểm cốt lõi, cơ

bản trong hệ thống ERP Nguồn lực của doanh nghiệp có thể chia thành 3 loại chính

là tài chính, nhân lực và vật lực Liên quan tới một nguồn lực sẽ có nhiều bộ phận

tham gia từ khi yêu cầu, hình thành cho tới khi sử dụng và thông tin về chúng được

luân chuyển qua các bộ phận trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh Ví dụ,

khi nguyên vật liệu được bộ phận sản xuất yêu cầu sẽ được mua bởi bộ phận mua

hàng, được trả tiền bởi bộ phận tài chính và được sử dụng bởi bộ phận sản xuất

Như vậy thông tin liên quan nguyên vật liệu được luân chuyển từ khi bắt đầu có nhu cầu (tại nơi yêu cầu) tới khi hình thành (tại bộ phận mua hàng) và tới khi được sử dụng (tại bộ phận sản xuất) Kết thúc quá trình luân chuyển này là thông tin về việc

sử dụng nguồn lực ảnh hưởng tới tình hình tài chính Tương tự như vậy cho nguồn nhân lực Vậy ERP đã hỗ trợ gì trong việc hoạch định các nguồn lực này? Qui trình xử lý và luân chuyển thông tin của ERP được thực hiện như sau: (Salim and Ferran, 2008)

• Hệ thống ghi nhận kế hoạch hay yêu cầu hoạt động kinh doanh sẽ diễn ra, ví

dụ nhận đặt hàng từ khách hàng

• Hệ thống kiểm tra kế hoạch trong cơ sở dữ liệu trước khi bắt đầu hay cho phép thực hiện các hoạt động kinh tế ảnh hưởng tới nguồn lực liên quan (ví

dụ kiểm tra hàng tồn kho trước khi chấp nhận đặt hàng của khách hàng)

• Trong trường hợp những nguồn lực này sẵn sàng cho hoạt động kinh tế thì ERP sẽ cập nhật thông tin để đánh dấu nguồn lực sẽ được sử dụng cho hoạt động kinh tế sẽ diễn ra

• Nếu trường hợp nguồn lực không có hoặc không đủ để đáp ứng cho hoạt động kinh tế thì ERP sẽ tạo ra một kế hoạch yêu cầu bổ sung nguồn lực để phục vụ hoạt động kinh tế bao gồm kế hoạch mua hay sản xuất bổ sung nguồn lực, kế hoạch chuẩn bị tài chính cho việc mua hoặc kế hoạch sản xuất

Từ đó ERP sẽ tính toán và lập kế hoạch sản xuất cụ thể như nhân lực, máy móc thiết bị, yêu cầu nguyên vật liệu phục vụ kế hoạch sản xuất này Và các

kế hoạch liên quan cứ thế được xây dựng

• Điều chỉnh kế hoạch hiện hành cho phù hợp với các khả năng đáp ứng nguồn lực

• Thông báo cho các bộ phận liên quan về các kế hoạch yêu cầu hoặc kế hoạch điều chỉnh

• Ghi nhận việc thực hiện kế hoạch đặt ra và thông báo các bộ phận liên quan

về việc thực hiện này Dữ liệu này chính là dữ liệu về hoạt động kinh tế thực

sự phát sinh và sẽ làm thay đổi tình hình tài chính thực tế của doanh nghiệp

Trang 15

ERP ghi nhận và xử lý thông tin theo qui trình hoạt động kinh doanh Hệ thống

ERP ghi nhận và xử lý thông tin theo nguyên tắc: nếu bước hoạt động trước chưa

được ghi nhận dữ liệu vào hệ thống thì sẽ không có căn cứ để hệ thống cho phép

bước hoạt động sau thực hiện Ví dụ khi nhân viên bán hàng nhập dữ liệu đặt hàng

của khách hàng, hệ thống tìm kiếm thông tin xét duyệt tín dụng tự động, kiểm tra

hàng tồn kho tự động v.v và tạo lệnh bán hàng Tuy nhiên lệnh bán hàng này phải

được người quản lý xét duyệt bằng cách bấm nút cho phép chuyển trạng thái đặt

hàng chờ xét duyệt sang trạng thái đặt hàng được duyệt Lúc đó thông tin về lệnh

bán hàng mới được chuyển sang các bộ phận kho hàng và gửi hàng; kế toán và các

bộ phận liên quan mới biết mình được phép thực hiện điều gì và thế nào

Đặc điểm này giúp dữ liệu được kiểm soát chặt chẽ trong suốt quá trình thu thập dữ

liệu theo qui trình hoạt động kinh doanh và gia tăng cập nhật kịp thời của dữ liệu

ERP tạo những thay đổi xử lý kinh doanh hay tái cấu trúc quản lý và qui trình

kinh doanh Đây là hệ quả của đặc điểm xử lý kinh doanh theo qui trình Muốn ứng

dụng ERP thì điều rất quan trọng là chuỗi qui trình hoạt động kinh doanh gồm xử lý

quản lý (xét duyệt, ra quyết định); xử lý hoạt động (thực hiện hoạt động theo xét

duyệt); và xử lý thông tin (thu thập và xử lý dữ liệu về xét duyệt và thực hiện hoạt

động) phải được xây dựng thành qui trình hoàn chỉnh và ổn định

Tuy nhiên, hiện nay do vấn đề về chi phí, kinh nghiệm tạo lập và triển khai ERP

nên thông thường các doanh nghiệp sử dụng phần mềm ERP “đóng gói” được viết

theo một qui trình chuẩn về hoạt động kinh doanh Phần lớn các doanh nghiệp khi

triển khai ERP sẽ đồng ý thay đổi quy trình quản lý, cắt giảm những qui trình xử lý

kinh doanh hay xử lý thông tin không hợp lý của doanh nghiệp để phù hợp với ERP

nhằm đạt chất lượng phục vụ khách hàng tốt nhất

Vì lý do này, người ta nói ERP giúp doanh nghiệp tái cấu trúc quản lý và hoạt động

kinh doanh Do đó, ERP không chỉ là phần mềm quản lý mà còn là một phương

pháp quản lý

1.1.3 Lợi ích của ERP

Việc ứng dụng hệ thống ERP đem lại các lợi ích đối với doanh nghiệp như sau (Mishra Alok, 2008):

Lợi ích về mặt hoạt động, cụ thể gồm:

o Tăng hiệu quả hoạt động Vì ERP đòi hỏi phải tích hợp và chuẩn hóa các qui trình hoạt động của doanh nghiệp nên nó giúp doanh nghiệp giảm chu trình thời gian thực hiện mỗi hoạt động của các vùng hoạt động liên quan, gia tăng khối lượng công việc được xử lý trong một khoản thời gian và giảm thời gian chết không hiệu quả Đó đó, nó giúp doanh nghiệp giảm chi phí lao động trong tất cả các vùng hoạt động dịch vụ khách hàng, tài chính, quản lý nguồn lực, mua hàng, dịch vụ công nghệ thông tin và huấn luyện

o Ngoài chi phí nhân công, ERP còn giúp doanh nghiệp hoạch định dự trữ, luân chuyển hàng tồn kho tốt hơn nên giảm chi phí lưu kho bằng cách giảm

số lượng hàng tồn, giảm chi phí quản lý kho hàng Do tăng luân chuyển thông tin nên doanh nghiệp cũng giảm được chi phí quản lý, in ấn tài liệu, chứng từ liên quan

o Gia tăng chất lượng hoạt động kinh doanh, hoạt động xử lý thông tin Do ERP là hoạt động có đặc điểm kết hợp nhiều giai đoạn, cùng kiểm tra lẫn nhau nên khi thực hiện hoạt động, việc sai sót sẽ bị phát hiện ngay và đòi hỏi sự sửa chữa kịp thời Nhờ vậy nó giúp doanh nghiệp giảm tỷ lệ sai sót, gia tăng tính chính xác của dữ liệu

o Gia tăng dịch vụ khách hàng do người thực hiện hoạt động dịch vụ khách hàng dễ dàng truy cập dữ liệu và các yêu cầu liên quan tới dịch vụ mình thực hiện

Lợi ích về mặt quản lý

o Quản trị nguồn lực của doanh nghiệp tốt hơn Các nguồn lực được quản

lý tốt về mặt hiện vật, chất lượng cũng như các ghi chép về các nguồn lực này Chẳng hạn như việc luân chuyển hàng tồn kho sẽ được quản lý dễ dàng hơn nhất là doanh nghiệp có nhiều chi nhánh ở nhiều vùng địa lý

Trang 16

khác nhau Doanh nghiệp còn dễ dàng kết hợp việc cung ứng và nhu cầu,

do đó thực hiện sản xuất và kinh doanh với chi phí thấp hơn

o Gia tăng việc lập kế hoạch và ra quyết định Nhờ việc được cung cấp

thông tin kịp thời và phong phú về tất cả các vùng hoạt động của doanh

nghiệp cũng như việc kiểm soát chi phí chặt chẽ hơn, việc đưa ra các quyết

định cũng nhanh chóng và dễ dàng hơn Nhờ các thông tin đầy đủ, kịp thời

nên việc ứng phó với các thay đổi môi trường kinh doanh cũng tốt hơn,

nhanh hơn

o Gia tăng hiệu quả việc thực hiện quản lý ở tất cả các cấp quản lý Thông

tin hữu ích giúp người quản lý thực hiện hoạt động tốt hơn, hiệu quả

hơn

o ERP là công cụ giúp doanh nghiệp tái cấu trúc hiệu quả hơn

Lợi ích về mặt chiến lược ERP giúp doanh nghiệp thực hiện dễ dàng và hiệu

quả các chiến lược bằng cách tăng cường việc cạnh tranh lành mạnh Nó được

thể hiện thông qua việc:

o Hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh doanh

o Hỗ trợ doanh nghiệp liên kết các hoạt động phù hợp với chiến lược phát

triển chung toàn doanh nghiệp

o Hỗ trợ việc tạo các dòng sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường

o ERP cũng giúp doanh nghiệp thực hiện các hoạt động thương mại điện tử

một cách hiệu quả và do đó có thể mở rộng hoạt động cũng như gia tăng

cạnh tranh trong phạm vi toàn cầu

Lợi ích về mặt tổ chức

ERP đòi hỏi các cá nhân hợp tác và tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu cũng như

kỷ luật doanh nghiệp Kết quả hoạt động mỗi cá nhân sẽ ảnh hưởng quan trọng

tới kết quả hoạt động của các cá nhân khác trong toàn doanh nghiệp, ảnh hưởng

tới tiến độ thực hiện hoạt động của cả doanh nghiệp và như thế lợi ích mỗi cá

nhân sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của toàn doanh nghiệp và ngược lại Lợi ích về

mặt tổ chức được thể hiện qua quan điểm, đạo đức và động lực mỗi cá nhân

cũng như những giao tiếp, hợp tác giữa các nhân viên trong doanh nghiệp Điều này tạo nên văn hóa chung toàn doanh nghiệp là tất cả hướng tới mục tiêu chung của doanh nghiệp, phong cách làm việc mới: kỷ luật, hợp tác và chịu trách nhiệm

Lợi ích cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin

Đặc điểm ERP là tích hợp và tránh dư thừa, trùng lặp Vì vậy ứng dụng ERP sẽ giúp doanh nghiệp loại bớt các trung tâm dữ liệu riêng lẻ, tách biệt và do đó giảm bớt các chi phí liên quan tới hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin như thiết bị lưu trữ, tránh trùng lắp chương trình xử lý Ngoài ra nhờ tích hợp hệ thống một cách khoa học và chuẩn mực nên hiệu quả hoạt động của các hệ thống tăng lên, chẳng hạn như hạn chế được sự không đồng bộ cơ sở hạ tầng dẫn tới các tắc nghẽn xử lý thông tin, tiếp nhận và truyền thông tin

Lợi ích về cung cấp thông tin

Về phương diện thông tin, ERP có thể cung cấp các lợi ích sau (Brazel and Li, 2005)

o Thu thập dữ liệu kịp thời, giảm thời gian lập báo cáo nên ERP cung cấp cho người sử dụng thông tin kịp thời hơn Vì ERP là hệ thống tích hợp thông tin và các hoạt động xử lý trên cơ sở thông tin cho tất cả các vùng hoạt động của doanh nghiệp nên ERP không những tích hợp thông tin từ các bộ phận, các vùng hoạt động khác nhau mà nó còn cho phép chia sẻ thông tin, dữ liệu

o ERP sử dụng thông tin tích hợp nên nó cũng giúp người quản lý có nhiều thông tin phong phú, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp một cách tổng hợp, đầy đủ, toàn diện hơn

o ERP loại trừ được các rào cản giữa các vùng chức năng của doanh nghiệp nên nó cho phép người quản lý truy cập thông tin kịp thời và do đó tăng tính sẵn sàng của thông tin

Trang 17

Trong nghiên cứu thực nghiệm của mình, Spathis (Spathis and Constantinides,

2004) đưa ra kết luận về lợi ích mà hệ thống kế toán nhận được từ một hệ thống

thông tin doanh nghiệp Nó cũng gồm các lợi ích chi tiết liên quan tới 5 phân nhóm

như trên Cụ thể :

• Lợi ích về mặt tổ chức:

o Gia tăng quyết định dựa trên cơ sở thông tin kế toán tin cậy và kịp thời

o Gia tăng chức năng kiểm toán nội bộ

• Lợi ích về mặt hoạt động:

o Giảm thời gian khóa sổ

o Gia tăng kiểm soát vốn lưu động

o Giảm nhân sự bộ phận kế toán

• Lợi ích về quản lý

o Gia tăng việc sử dụng phân tích tỷ số tài chính

o Gia tăng tính linh hoạt trong tạo thông tin

o Gia tăng chất lượng báo cáo kế toán

1.1.4 Hạn chế của ERP

Vấn đề gì cũng có hai mặt Việc ứng dụng ERP thường đem lại lợi ích cho các

doanh nghiệp lớn nhiều hơn và gây một số hạn chế đối với doanh nghiệp qui mô

nhỏ (Shehab et al., 2004) như chi phí cho ERP quá lớn, thời gian thực hiện dự án

lâu dài (từ 2-5 năm) và đòi hỏi doanh nghiệp chuẩn bị đủ các điều kiện về công

nghệ, về huấn luyện khả năng quản lý và thay đổi văn hóa doanh nghiệp nên nhiều

khi ứng dụng ERP làm xáo trộn và thậm chí gây lỗ, thiệt hại tài chính cho doanh

nghiệp Chẳng hạn, các nhà cung cấp phần mềm ERP như Baan, PeopleSoft cũng

như SAP đã tính toán rằng khách hàng cần tiêu tốn chi phí cho việc triển khai ERP

gấp từ 3-7 lần so với mua phần mềm ERP (Theo Scheer và Habermann, 2000 –

trích từ nghiên cứu của Shehab và cộng sự 2004)

Một khó khăn khác liên quan tới ứng dụng ERP là chưa có một chuẩn đầy đủ cho

các phần mềm ERP Tùy nhà cung cấp, các phân hệ của ERP có thể thay đổi và do

đó sẽ có những khó khăn khi tích hợp các ứng dụng khác nhau của các nhà cung cấp khác nhau

Một khó khăn nổi bật khác của việc ứng dụng ERP là sự không phù hợp hay nói cách khác là khoảng cách giữa các chức năng được cung cấp bởi phần mềm ERP và yêu cầu của tổ chức sử dụng ERP về các vấn đề tổ chức dữ liệu, xử lý và nội dung cũng như hình thức thông tin

Khó khăn khác cũng rất quan trọng trong việc thực hiện ERP là tỷ lệ giữa tái cấu trúc doanh nghiệp và mục tiêu tùy chỉnh (sửa chữa theo yêu cầu khách hàng) Không phải qui trình xử lý và kinh doanh nào của ERP viết sẵn nào cũng phù hợp với doanh nghiệp sử dụng nó Tuy vậy, nếu việc sửa chữa theo yêu cầu tùy chỉnh sẽ mất rất nhiều thời gian, chi phí và thậm chí làm mất luôn mục tiêu ban đầu của phần mềm ERP là nâng cao chất lượng cho xử lý kinh doanh

Ngoài ra trong môi trường ERP, người sử dụng có thể lợi dụng kỹ thuật công nghệ cao để thực hiện các hoạt động gian lận đối với thông tin, với tài sản của doanh nghiệp

1.1.5 Phân loại phần mềm ERP

Nói tới hệ thống ERP là nói tới 3 vấn đề: phương pháp quản lý và qui trình hoạt động; phần mềm xử lý ERP và hệ thống thiết bị và mạng phục vụ tính toán và giao tiếp người và máy

Phần mềm ERP không chỉ là phần mềm xử lý dữ liệu đơn thuần mà nó là công cụ tích hợp qui trình quản lý vào các xử lý tự động được lập trình trong phần mềm Vì vậy nhiều người gọi nó là giải pháp ERP Trong phần này chúng ta cùng xem xét các phân loại giải pháp và ứng dụng các giải pháp này trên thế giới và Việt Nam

Phân loại theo qui mô của phần mềm

• Phần mềm ERP nước ngoài cấp thấp Đây là các phần mềm bán trên thế giới

và được dành cho các doanh nghiệp nhỏ do gia đình làm chủ và chỉ hoạt động ở một địa điểm Nó chỉ hiệu quả đối với các hoạt động kế toán đơn giản Thuộc loại này có Quickbooks, Peach Tree và MyOB Ở Việt Nam

Trang 18

hiện nay các phần mềm này không được các doanh nghiệp sử dụng nữa mà

thay vào đó nếu là doanh nghiệp nhỏ, áp dụng phần mềm kế toán từ sớm và

bước đầu bổ sung 1 số phân hệ quản lý khác thì họ thường chọn giải pháp

các phần mềm có nguồn gốc nội địa

• Phần mềm ERP nước ngoài cấp trung bình với mức chi phí không quá lớn có

giá trị trung bình từ 20.000 USD đến 150.000USD kể cả chi phí triển khai

(Mekong Capital 2004), chẳng hạn như SunSystems, Exact Globe 2000, MS

Solomon, Navision, Scala, Accpac, Intuitive ERP, Marcam… Tuy nhiên,

tùy nhu cầu và mức sử dụng, giá trị của phần mềm có thể tăng thêm Các

phần mềm này đều hỗ trợ hầu hết các qui trình kinh doanh như mua hàng,

bán hàng, sản xuất, kế toán, nhân sự, kho hàng và được thiết kế cho việc sử

dụng trên hệ thống mạng với cấu trúc khách/chủ, trong đó phần mềm chính

chạy trên một máy chủ và cho phép máy khách truy cập từ mạng cục bộ

• Phần mềm ERP nước ngoài cao cấp với giá trị trung bình hàng trăm ngàn

cho tới cả triệu dollas Mỹ Đây là các phần mềm được thiết kế cho mục đích

chính là các công ty đa quốc gia có nhiều địa điểm hoạt động, nhiều chi

nhánh và nhiều người sử dụng cùng một lúc nhằm phục vụ các qui trình kinh

doanh phức tạp với các yêu cầu hoạt động khắt khe Ví dụ bao gồm: Oracle

Financials, SAP, PeopleSoft, Baan

Phân loại ERP theo thị phần tương ứng qui mô doanh nghiệp triển khai ERP

Theo báo cáo của Tập đoàn tư vấn Panorama khi thực hiện nghiên cứu “Tình

hình ứng dụng ERP 2008″ SAP chiếm 35% thị phần chung toàn thế giới,

Oracle 28%, Microsoft 14% và còn lại 23% cho các giải pháp khác như Baan,

Epicor, Exact, IFS, Infor, Lawson, Netsuite, Sage, Syspro và nhiều giải pháp

khác Phân loại theo qui mô doanh nghiệp sử dụng ERP thì SAP chiếm 30%

(doanh nghiệp nhỏ), 43% doanh nghiệp lớn Oracle 30% doanh nghiệp nhỏ, 33%

doanh nghiệp lớn Phần còn lại chia cho các giải pháp Microsoft và các giải

pháp khác như đã mô tả trên

Phân loại phần mềm ERP theo ngành nghề ứng dụng

Cũng theo số liệu thống kê của Tập đoàn tư vấn Panorama (Panorama 2008), thị phần phần mềm ERP theo các ngành nghề được phân bổ như sau Tất cả các giải pháp ERP đều áp dụng ở tất cả các ngành, cụ thể SAP được sử dụng cho ngành bán

lẻ 30% (bằng với Microsoft), 39% cho các ngành sản xuất hàng tiêu dùng (lớn nhất trong ngành tiêu dùng), lên đến 44% ngành công nghiệp nặng khác Oracle được ứng dụng 25% trong doanh nghiệp bán lẻ, 32% trong sản xuất tiêu dùng và 29% trong sản xuất công ngiệp nặng Microsoft được ứng dụng chủ yếu trong bán lẻ 30%

và doanh nghiệp sản xuất tiêu dùng 16%, sản xuất công nghiệp nặng 6%

Tóm lại trên thế giới, giải pháp SAP và Oracle được sử dụng rất phổ biến, kế đến là Microsoft

1.2 CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG MÔI TRƯỜNG ERP 1.2.1 Chất lượng thông tin

Thông tin là những sự kiện, con số được thể hiện trong một hình thức hữu ích với người sử dụng để phục vụ việc ra quyết định Thông tin có ích với việc ra quyết định vì nó giảm sự không chắc chắn và tăng tri thức về vấn đề được đề cập (Gelinas and Dull, 2008)

Có rất nhiều quan điểm và tiêu chuẩn khác nhau về chất lượng thông tin Chẳng hạn, theo Wang và cộng sự năm1999 “chất lượng thông tin có thể định nghĩa là thông tin phù hợp cho việc sử dụng của người sử dụng thông tin” (đây là quan điểm phổ biến nhất về chất lượng thông tin vì nó xuất phát từ các nghiên cứu có tính kinh điển về chất lượng của Deming năm 1986, Juran and Gryna năm1988, Figenbaum 1991(Khalil et al., 1999)); hoặc theo Kahn, Strong năm 1998 “chất lượng thông tin

là đặc tính của thông tin để giúp đạt được các yêu cầu hay sự mong đợi của người

sử dụng thông tin”; hoặc theo Lesca, Lesca năm 1995 “ chất lượng thông tin được định nghĩa là sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu được xác định bởi mục tiêu và thông tin đạt được Trong một tình huống lý tưởng sẽ không có sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt được Việc đo lường chất lượng thông tin có tính

Trang 19

cảm tính và sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt được càng nhỏ thì

chất lượng thông tin càng cao” (Eppler and Wittig, 2000)

Tuy các định nghĩa và quan điểm của các nhà nghiên cứu về chất lượng thông tin có

sự khác nhau, nhưng chúng đều có 1 số đặc điểm chung, đó là: Chất lượng thông tin

hay chất lượng dữ liệu tùy thuộc cảm nhận của người sử dụng thông tin Nó có

nhiều đặc tính (hay tính chất) khác nhau tùy thuộc vào quan điểm triết lý của người

sử dụng hay nghiên cứu và nó cần được xem xét trong bối cảnh (hay ngữ cảnh) cụ

thể của người sử dụng thông tin (Knight and Burn, 2005) Điều này có thể được lý

giải rõ ràng rằng cùng một thông tin như nhau nhưng với người này cho rằng thế là

tốt nhưng với người khác lại không phù hợp Hoặc cùng một thông tin như nhau,

nếu được lấy từ nguồn là giấy tờ, báo chí thì người sử dụng có thể cảm thấy tin

tưởng hơn là lấy từ trên mạng vì khó kiểm chứng nguồn gốc dữ liệu

Eppler và Wittig (Eppler and Wittig, 2000) đã thực hiện một tổng hợp về các nghiên

cứu chất lượng thông tin trong khoảng thời gian 10 năm từ 1989- 1999 Những

nghiên cứu về chất lượng thông tin mà các tác giả trên lựa chọn cần đảm bảo 4 mục

tiêu: (1) Cung cấp một bộ các tiêu chuẩn chất lượng thông tin ngắn gọn, súc tích và

có thể đánh giá được; (2) Cung cấp một mô tả đầy đủ mối quan hệ giữa các tiêu

chuẩn để giúp việc phân tích và giải quyết vấn đề chất lượng thông tin; (3) Cung

cấp cơ sở cho việc đo lường và quản lý chất lượng thông tin; (4) Có thể cung cấp

cho giới nghiên cứu một bản đồ có tính logic để cấu trúc được (hay sắp xếp, giải

thích được một cách logic) các cách tiếp cận khác nhau, những lý thuyết khác nhau

và các hiện tượng liên quan tới chất lượng thông tin Kết quả tổng hợp và phân tích

từ 7 trong số 20 nghiên cứu chất lượng thông tin cho thấy các tiêu chuẩn chất lượng

thông tin thường bao gồm:

• Kịp thời hoặc hiện hành Một số nghiên cứu mô tả kịp thời là khái niệm

thông tin được cập nhật kịp thời, mô tả được tính hiện hành của thông tin

Một số khác định nghĩa kịp thời là việc giao kết quả xử lý nhanh, kịp thời tới

Knight và Burn cũng thực hiện một tổng hợp từ 12 nghiên cứu chất lượng thông tin được chấp nhận rộng rãi trong khoảng thời gian từ 1996- 2002 Kết quả cho thấy có tới 20 tiêu chuẩn chất lượng thông tin được đề cập tới trong bảng 1.1 sau đây:

Bảng 1.1 Đặc tính chất lượng thông tin theo tổng hợp của Knight và Burn Đặc tính Số lần được đề

cập trong các nghiên cứu

Giải thích

1 Chính xác 8 Thông tin được tính toán chính xác, không

sai sót từ những dữ liệu tin cậy

2 Nhất quán 7 Thông tin được thể hiện trong cùng một

cách trình bày và phù hợp với những dữ liệu trước đó

3 An ninh 7 Giới hạn đúng các truy cập để duy trì an

ninh

4 Kịp thời 7 Thông tin được cập nhật một cách đầy đủ

cho mục tiêu đang thực hiện

5 Đầy đủ 5 Thông tin không bị bỏ sót, đủ rộng và sâu

cho mục tiêu đang thực hiện

6 Súc tích 5 Thông tin được thể hiện cô đọng, rõ ràng

nhưng đầy đủ

7 Tin cậy 5 Thông tin chính xác, tin cậy

8 Có thể truy cập 4 Thông tin sẵn sàng hoặc việc truy cập dễ dàng và nhanh chóng

9 Sẵn sàng 4 Thông tin có thể truy cập được

Trang 20

10 Khách quan 4 Thông tin trung lập, không bị thành kiến,

có nội dung tốt nhưng được thực hiện trong ngôn ngữ mà người đọc không thể hiểu thì thông tin đó cũng không chất lượng

kiếm 3 Thông tin được tìm thấy dễ dàng và liên kết dễ dàng (trường hợp này cho bối cảnh tìm

kiếm thông tin trên mạng)

17 Thông dụng 3 Thông tin dễ dàng tìm kiếm từ các nguồn dữ

liệu

18 Hữu ích 3 Thông tin nội dung hữu ích và có thể sử

dụng được cho mục tiêu đang thực hiện

19 Hiệu quả 3 Thông tin được tạo nhanh và hiệu quả từ các

dữ liệu cho mục đích đang thực hiện

20 Giá trị gia

tăng 3 Thông tin cung cấp những dự đoán tốt cho mục tiêu đang thực hiện

Nguồn: trích từ (Knight and Burn, 2005)

Giai đoạn 1996-2001 là giai đoạn chín muồi và phát triển mạnh mẽ của việc ứng

dụng công nghệ thông tin trong quản lý Công nghệ, phương pháp quản lý phát triển

cao và kèm theo đó là kỹ thuật của các “tin tặc” (Hacker) cũng rất phát triển Rõ

ràng, giai đoạn này đã có rất nhiều đặc tính về chất lượng thông tin được bổ sung và

đề cập nhiều hơn trong các nghiên cứu so với giai đoạn trước, chẳng hạn như “an

ninh”, “hiệu quả”, “truy cập”, “tìm kiếm” v.v phù hợp hơn với bối cảnh sử dụng

mới của người sử dụng thông tin Tuy vậy, các đặc tính đo lường chất lượng thông

tin như mô tả trên có nhiều sự trùng lắp, chồng chéo với nhau

Việc nghiên cứu, xem xét các đặc tính của chất lượng thông tin và phân loại nó

thành các chiều (dimensions) tiêu chuẩn do cả những nhà nghiên cứu học thuật và

cả những người hay tổ chức ứng dụng thực tế thực hiện Để có thể dễ dàng xây dựng các khái niệm về chất lượng, các chiều tiêu chuẩn phân loại đặc tính thông tin được khởi xướng đầu tiên bởi Ballou and Pazer 1982,1985,1987 và Ballou et all 1987,1993 (Xu et al., 2002), và cho đến hiện nay được chấp nhận và sử dụng bởi nhiều nhà nghiên cứu chất lượng thông tin, chất lượng dữ liệu (Lee et al., 2002)

Đó là, thông tin chất lượng là thông tin đảm bảo được:

• B ản chất bên trong của thông tin (Intrinsic IQ) Chiều phân loại này đề cập

tới những đặc tính cơ bản nhất của chất lượng thông tin Nó thường mô tả về tính chính xác của thông tin, dữ liệu; tính đầy đủ (theo nghĩa thông tin không

bị bỏ sót hay không được phép xử lý từ những nguồn dữ liệu không đầy đủ), nhất quán của tính toán, xử lý thông tin; tính khách quan của thông tin; và sự tin cậy của nguồn gốc dữ liệu tạo thông tin

• B ối cảnh của thông tin (Contextual IQ) Chiều phân loại này nhấn mạnh yêu

cầu chất lượng thông tin cần xem xét trong bối cảnh của mục tiêu và hoạt động đang thực hiện Nó cần đảm bảo tính thích hợp, kịp thời, đầy đủ (đầy

đủ theo nghĩa là các thông tin chi tiết cần đủ và phù hợp với mục tiêu đang thực hiện), thích hợp về mặt số lượng thông tin để có thể gia tăng giá trị thông tin

• Bi ểu hiện của thông tin (Representational IQ) Chiều phân loại này nhấn

mạnh tới yêu cầu thông tin cần được thể hiện trong một hình thức có thể giải thích được, hiểu được, rõ ràng, súc tích, nhất quán, so sánh được đối với người sử dụng thông tin Trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin, vì

dữ liệu lưu trữ trong hệ thống theo ngôn ngữ nhị phân, nên chiều phân loại này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thông tin cần diễn đạt và thể hiện trong cách thức có thể diễn đạt được, dễ hiễu, và có thể dễ dàng tiếp tục xử

lý đối với người sử dụng

• Có thể truy cập được của thông tin (Accessibility IQ) Chiều phân loại này

nhấn mạnh trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin các dữ liệu, thông tin cần được lưu trữ trong cách thức để người sử dụng có thể truy cập

Trang 21

được, kết nối được để tìm kiếm và truy cập thông tin nhưng phải đảm bảo an

toàn, an ninh

Bốn chiều phân loại đặc tính của thông tin rất hữu ích cho việc phát triển các khái

niệm về chất lượng thông tin vì nó bao phủ hoàn toàn các khái niệm của chất lượng

thông tin Tuy nhiên, các phân loại này không hữu ích trong việc xác định cái gì cần

để gia tăng chất lượng thông tin Mô hình thực hiện sản phẩm và dịch vụ cho chất

lượng thông tin PSP/IQ (Product and Service Performance Model for Information

Quality) của Kahn and Strong 1998 giúp trả lời được câu hỏi này dễ dàng hơn

(Khalil et al., 1999)

Mô hình PSP/IQ được xây dựng trên 2 nguyên tắc cơ bản là: (1) Quản lý chất lượng

toàn bộ (Total Quality Management –TQM) nghĩa là chất lượng ngoài được đánh

giá dựa trên bản thân nội dung như thiết kế hay các tiêu chuẩn của chính sản phẩm

thông tin, chất lượng còn được đánh giá trên sự đạt được mong đợi hay cảm nhận

của người sử dụng sản phẩm thông tin; và (2) Theo nguyên tắc của thị trường thì có

sự phân biệt giữa chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ Dựa vào 2 nguyên tắc

này mô hình PSP/IP mô tả chất lượng thông tin gồm 2 phần và chia thành 4 chiều

chất lượng thông tin, và được mô tả ở bảng 1.2 sau đây

Bảng 1.2 Mô hình PSP/IQ của Kahn and Strong, 1998

Đạt yêu cầu như thiết kế sản

phẩm Đạt sự mong đợi của người sử dụng

Chiều chất lượng thông tin:

Thông tin hữu ích

• Số lượng phù hợp với mục đích đang thực hiện

• Thích hợp, phù hợp với mục đích đang thực hiện

• Có thể hiều được

• Có thể diễn đạt được

• Khách quan Chất lượng dịch

vụ

Chiều chất lượng thông tin:

Thông tin tin cậy

• Kịp thời

• An toàn

Chiều chất lượng thông tin:

Thông tin có thể sử dụng được

• Sản phẩm thông tin muốn tới tay người sử dụng cần có dịch vụ cung cấp thông tin Một dịch vụ thông tin tin cậy chỉ có thể hữu ích nếu người sử dụng có thể sử dụng được dịch vụ này một cách dễ dàng và thuận tiện

Tóm lại, chất lượng thông tin là một khái niệm rộng bao trùm nhiều đặc tính cụ thể

tùy thuộc vào nhu cầu và bối cảnh cụ thể của người sử dụng Đánh giá chất lượng thông tin tùy thuộc vào cảm nhận của người sử dụng Thông tin đảm bảo chất lượng

là thông tin đáp ứng được bản chất bên trong của thông tin; phù hợp với bối cảnh thông tin theo mục tiêu sử dụng; hình thức thể hiện thông tin phù hợp và sử dụng được; và thông tin có thể truy cập được, tìm kiếm được Các đặc tính đảm bảo thông tin chất lượng thay đổi tùy người sử dụng và bối cảnh sử dụng và thường được đề cập là chính xác, kịp thời, đầy đủ, khách quan, dễ hiểu, có thể dùng được, có thể truy cập được và an toàn Một cách nhìn khác, chất lượng thông tin bao gồm chất lượng sản phẩm thông tin và chất lượng dịch vụ thông tin Cách nhìn này giúp người nghiên cứu cũng như người làm thực tế dễ dàng xác định cái gì hay làm thế nào để gia tăng chất lượng thông tin

1.2.2 Chất lượng thông tin kế toán

Thông tin kế toán về bản chất là thông tin nên khái niệm chất lượng thông tin kế toán cũng được xây dựng và phát triển trên nền tảng của chất lượng thông tin Hiện nay, có nhiều quan điểm và tiêu chuẩn chất lượng thông tin kế toán

Tuy nhiên, luận án sẽ chọn các tiêu chuẩn chất lượng thông tin kế toán theo các quan điểm hay khuôn mẫu nào đạt được 5 mục tiêu, bao gồm 4 mục tiêu như Eppler

Trang 22

và Wittig đã mô tả (Eppler and Wittig, 2000), đó là (1) Cung cấp một bộ các tiêu

chuẩn chất lượng thông tin ngắn gọn, súc tích và có thể đánh giá được; (2) Cung cấp

một mô tả đầy đủ mối quan hệ giữa các tiêu chuẩn để giúp việc phân tích và giải

quyết vấn đề chất lượng thông tin; (3) Cung cấp cơ sở cho việc đo lường và quản lý

chất lượng thông tin; (4) Có thể cung cấp cho giới nghiên cứu một bản đồ có tính

logic để cấu trúc được (hay sắp xếp, giải thích được một cách logic) các cách tiếp

cận khác nhau, những lý thuyết khác nhau và các hiện tượng liên quan tới chất

lượng thông tin; Và mục tiêu thứ 5 là (5) tiêu chuẩn này phải được công nhận và

ứng dụng rộng rãi bởi các tổ chức nghề nghiệp, các người làm thực tế và cộng đồng

nghiên cứu về tiêu chuẩn chất lượng thông tin

Vì lý do trên nên luận án chọn các quan điểm chất lượng thông tin kế toán của các

tổ chức nghề nghiệp kế toán như Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế; Hội đồng

chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ, theo chuẩn mực kế toán Việt nam và COBiT

để so sánh, phân tích và lựa chọn tiêu chuẩn chất lượng thông tin kế toán phù hợp

nhất cho luận án

Theo nhóm tổ chức nghề nghiệp kế toán như Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế;

Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ hoặc theo chuẩn mực kế toán Việt

nam, chất lượng thông tin kế toán được đánh giá qua chất lượng báo cáo tài chính

với mục tiêu giải thích tình hình tài chính của doanh nghiệp cho nhiều đối tượng sử

dụng khác nhau với những mục đích khác nhau Mục đích của nó là tăng tính so

sánh được của thông tin tài chính giữa các doanh nghiệp tại các quốc gia khác nhau

Trên cơ sở này các phương pháp ghi chép, hạch toán kế toán được xác định phù

hợp

Trong khi đó, theo quan điểm của công nghệ thông tin, do đặc thù xử lý và truy cập

thông tin, vai trò của dịch vụ cung cấp thông tin rất quan trọng và nếu dịch vụ cung

cấp thông tin này không đảm bảo sự tin cậy thì chất lượng thông tin cũng không

đảm bảo Vì vậy ngoài các tiêu chuẩn đảm bảo nội dung thông tin chính xác, đầy đủ

thì tiêu chuẩn chất lượng thông tin còn tập trung chủ yếu vào các tiêu chuẩn đảm

bảo sự an toàn, bảo mật và sẵn sàng sử dụng của thông tin đối với người sử dụng

Để có một nhìn tổng quát nhằm lựa chọn được tiêu chuẩn chất lượng thông tin kế toán cho luận án, chúng ta cùng xem xét các nhóm quan điểm này

FASB

Theo quan điểm của FASB, chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính được chia làm 2 nhóm đặc điểm bao gồm: (1) Đặc điểm cơ bản gồm thích hợp và đáng tin cậy; và (2) nhóm các đặc điểm thứ yếu là nhất quán và có thể so sánh được FASB cũng đưa ra các hạn chế của chất lượng thông tin là vấn đề: cân nhắc chi phí – hiệu quả; trọng yếu và thận trọng

• Thích h ợp Thông tin kế toán thích hợp là thông tin giúp người ra quyết định

(người sử dụng) có thể thay đổi quyết định của mình Nó phải bao gồm:

o Có giá trị dự đoán hay đánh giá Thông qua việc dự đoán hay đánh giá lại các dự đoán trong quá khứ, người ra quyết định có thể thay đổi các tiên đoán trước đó và do đó có thể thay đổi quyết định của mình

o Kịp thời Kịp thời là một đặc tính hỗ trợ cho tính thích hợp của thông tin Kịp thời được hiểu là thông tin phải sẵn sàng cho người quyết định trước khi thông tin này bị mất khả năng ảnh hưởng tới việc ra quyết định

Đáng tin cậy Thông tin kế toán đáng tin cậy là thông tin trình bày trung

thực, không có sai sót hoặc thiên lệch và trong phạm vi có khả năng kiểm chứng

o Trình bày trung thực Việc đánh giá để tạo thông tin và việc diễn đạt thông tin kế toán phải phù hợp với nghiệp vụ hoặc sự kiện muốn trình bày

o Có thể kiểm chứng Có thể kiểm chứng là khả năng đồng thuận giữa những người đánh giá có đủ năng lực và độc lập để đảm bảo thông tin tài chính phù hợp với với nghiệp vụ hoặc sự kiện muốn trình bày hoặc phương pháp đánh giá tạo thông tin không có sai sót hoặc thiên lệch

Trang 23

o Trung lập hay khách quan Yêu cầu thông tin phải khách quan, không

được thiên lệch để tạo ra một kết quả đã định trước hay chịu ảnh

hưởng của một tác động cá biệt nào đó nhằm tô vẽ hình ảnh thông tin

để tác động lên quyết định theo một hướng đặc biệt nào đó

• Kh ả năng so sánh được và nhất quán

o So sánh được So sánh được là yêu cầu thông tin giúp người sử dụng

có thể nhận thấy sự khác biệt và tương tự giữa hai hiện tượng kinh tế

Các hiện tượng giống nhau phải được phản ánh giống nhau; các hiện

tượng khác nhau phải được phản ánh khác nhau

o Nhất quán đòi hỏi sự thống nhất giữa các kỳ báo cáo thông qua việc

không thay đổi thủ tục và chính sách kế toán Khi cần áp dụng phương

pháp kế toán mới, để đảm bảo khả năng so sánh được thì thông tin cần

có thêm phần thuyết minh giải trình thích hợp

Các đặc điểm chất lượng trong nhiều tình huống không thể thực hiện đầy đủ FASB

đưa ra các hạn chế liên quan tới chất lượng thông tin, bao gồm:

• Quan h ệ chi phí – lợi ích Lợi ích có được từ việc sử dụng thông tin cần

được xem xét trong mối quan hệ với chi phí để cung cấp thông tin đó Quan

hệ lợi ích và chi phí là giới hạn có ảnh hưởng rộng tới chất lượng thông tin

• Tr ọng yếu Trọng yếu là tầm quan trọng của việc bỏ sót hay trình bày sai

thông tin mà trong một hoàn cảnh nhất định nào đó, sự sai sót này ảnh hưởng

tới việc xét đoán làm thay đổi quyết định của người sử dụng thông tin đó

• Th ận trọng Là phản ứng thận trọng với các tình huống chưa rõ ràng để đảm

bảo các tình huống chưa rõ ràng và các rủi ro tiềm tàng được xem xét mợt

cách đầy đủ

Theo quan điểm của IASB, các đặc điểm chất lượng của thông tin trên báo cáo tài

chính gồm: có thể hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh được IASB

cũng đưa ra các hạn chế của chất lượng thông tin là cân đối giữa lợi ích- chi phí; sự

kịp thời và sự cân đối giữa các đặc điểm chất lượng

• Có th ể hiểu được Người sử dụng phải hiểu được báo cáo tài chính thì thông

tin mới hữu ích Người sử dụng báo cáo tài chính được giả thiết là có một kiến thức nhất định về kinh tế, kinh doanh và kế toán cũng như phải có thiện chí và nỗ lực đọc báo cáo tài chính Tuy nhiên thông tin về một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết cho việc ra quyết định thì không được loại trừ ra khỏi báo cáo tài chính dù nó khó hiểu đối với một số đối tượng sử dụng báo cáo tài chính

• Thích h ợp Thông tin được coi là thích hợp khi nó giúp người đọc đánh giá quá

khứ, hiện tại (tính xác nhận), tương lai (tính dự đoán) hoặc xác nhận hay điều chỉnh các đánh giá trước đây Tính thích hợp chịu ảnh hưởng của nội dung và tính trọng yếu thông tin

Đáng tin cậy Đáng tin cậy là đặc điểm chất lượng yêu cầu:

o Phản ánh trung thực các sự kiện hay nghiệp vụ cần trình bày

o Thông tin cần xem trọng nội dung hơn là hình thức, nghĩa là phải trình bày phù hợp với bản chất kinh tế chứ không chỉ căn cứ và hình thức pháp lý

o Thông tin phải trung lập, khách quan

o Thận trọng Khi thực hiện một sự xét đoán hay ước tính trong điều kiện chưa rõ ràng phải đảm bảo sao cho tài sản và thu nhập không bị thổi phồng, nợ phải trả không bị giấu bớt

o Thông tin phải đầy đủ trong phạm vi của trọng yếu và chi phí Một sự bỏ sót có thể làm thông tin bị hiểu lầm hay sai lệch và do đó sẽ ảnh hưởng đến tính đáng tin cậy

• Có th ể so sánh được Muốn thông tin so sánh được cần sử dụng nhất quán

phương pháp và thủ tục kế toán qua các kỳ Việc thuyết minh là cần thiết trong trường hợp doanh nghiệp thay đổi chính sách kế toán hoặc theo yêu cầu của chuẩn mực

IASB cũng đưa ra các hạn chế liên quan tới các đặc tính chất lượng thông tin Nó

bao gồm:

Trang 24

• Sự kịp thời Thông tin được báo cáo chận trễ sẽ mất đi tính thích hợp nhưng

ngược lại việc cung cấp thông tin đáng tin cậy phải có thời gian Vì vậy cần

phải cân đối giữa yêu cầu kịp thời và tính đáng tin cậy của thông tin

• Cân đối giữa lợi ích và chi phí Lợi ích tmang lại từ thông tin cần cân đối với

chi phí để cung cấp chúng

• Cân đối giữa các đặc điểm chất lượng

Dự án hội tụ IASB và FASB được tiến hành năm 2004 đã xác định hai đặc điểm

chất lượng cơ bản, bốn đặc điểm chất lượng bổ sung và hai hạn chế

Đặc điểm chất lượng cơ bản

• Thích hợp Thông tin thích hợp là thông tin giúp người sử dụng có thể thay

đổi quyết định thông qua việc giúp họ:

o Cung cấp đầu vào cho quá trình dự đoán triển vọng tương lai

o Xác nhận hoặc điều chỉnh các đánh giá trước đó

• Trình bày trung thực Thông tin trên báo cáo tài chính phải trung thực về

các hiện tượng kinh tế muốn trình bày Cụ thể:

o Đầy đủ: Nghĩa là phải bao gồm mọi thông tin cần thiết để trình bày

trung thực mọi hiện tượng kinh tế muốn trình bày

o Trung lập Nghĩa là không bị sai lệch một cách có chủ đích để đạt một

kết quả dự định trước hoặc ảnh hưởng lên quyết định theo một hướng

đặc biệt nào đó

o Không có sai lệch trọng yếu

Các đặc điểm chất lượng bổ sung

• Có th ể so sánh Là yêu cầu thông tin phải giúp người sử dụng có thể nhận

thất sự khác biệt và tương tự giữa hai hiện tượng kinh tế Muốn vậy, phải

sử dụng nhất quán phương pháp và thủ tục kế toán qua các kỳ và trong

• Tính k ịp thời Thông tin có được cho người ra quyết định trước khi nó mất

khả năng ảnh hưởng với quyết định

• Có th ể hiểu được Liên quan tới việc, phân loại, diễn giải và trình bày một

cách rõ ràng và súc tích

Các hạn chế hay giới hạn của chất lượng thông tin

• Tr ọng yếu Thông tin nếu có sai sót hoặc trình bày sai nếu ảnh hưởng tới

quyết định của người ra quyết định thì sẽ được coi là thông tin trọng yếu Trọng yếu được xem là giới hạn vì nó ảnh hưởng tới tất cả các đặc điểm chất lượng thông tin

• Chi phí Lợi ích của báo cáo tài chính phải biện minh được cho các chi phí

của việc lập báo cáo tài chính trên cả hai phương diện định lượng và định tính

Theo chuẩn mực kế toán Việt nam, chất lượng thông tin được trình bày ở nội dung

“các yêu cầu cơ bản đối với kế toán”, bao gồm: (Bộ tài chính, 2002)

• Trung th ực Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo

trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh

• Khách quan Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo

cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo

Đầy đủ Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan tới kỳ kế toán

phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót

• K ịp thời Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo

kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn qui định, không được chậm trễ

Trang 25

• D ễ hiểu Các thông tin và số liệu kết toán trình bày trong báo cáo tài chính

phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Thông tin về những vấn đề

phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết

minh

• Có th ể so sánh Các thông tin và số liệu kế toán cần được tính toán và trình

bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần

thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh và đánh giá

3

Trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin, chất lượng thông tin kế toán trước

hết cần đáp ứng yêu cầu chất lượng thông tin trong môi trường ứng dụng công nghệ

thông tin Theo quan điểm của kiểm soát công nghệ thông tin (CNTT), chất lượng

thông tin đề cập tới các khía cạnh liên quan tới nội dung thông tin chẳng hạn như

vấn đề về tin cậy của thông tin hay vấn đề gian lận thông tin, an toàn thông tin, sẵn

sàng của thông tin Theo định nghĩa của CobiT, chất lượng thông tin được đánh giá

qua 7 tiêu chuẩn như sau (IT Governance Institute, 2006)

• Hữu hiệu Thông tin được coi là hữu hiệu nếu phù hợp với yêu cầu xử lý

kinh doanh của người sử dụng; đáp ứng kịp thời, chính xác trong tính toán

số học, nhất quán phương pháp tính toán theo những phương pháp kế toán

đã chọn lựa và hữu ích cho việc ra quyết định kinh tế theo đúng các phương

pháp kế toán lựa chọn Như vậy nó đáp ứng việc tuân thủ các qui định, yêu

cầu kế toán quản trị, chuẩn mực kế toán tài chính Nó đảm bảo chiều bản

chất thông tin và bối cảnh sử dụng thông tin

• Hiệu quả Là tiêu chuẩn liên quan tới đảm bảo sử dụng các nguồn lực (con

người, thiết bị, cơ sở hạ tầng, phần mềm v.v ) trong quá trình thu thập, xử

lý, tạo thông tin nhằm đảm bảo hiệu quả và kinh tế nhất

3 COBIT –Control Objectives for Information and related Technology- do Viện quản lý công nghệ thông tin

(IT Governance Institute) thuộc Hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA-Information

System Audit and Control Association) ban hành năm 1996 COBIT nhấn mạnh đến kiểm soát trong môi

trường tin học, được chia thành 4 vùng lĩnh vực (domain): hoạch định và tổ chức, hình thành và triển khai,

phân phối và hỗ trợ; và giám sát hệ thống thông tin (KSNB bộ môn kiểm toán)

• Bảo mật Đảm bảo thông tin được bảo vệ nhằm tránh việc truy cập (xem, sửa, thêm vào, hủy) hay công bố sử dụng không được phép Nó đảm bảo an toàn cho thông tin Đây là tiêu chuẩn liên quan tới chất lượng dịch vụ cung cấp thông tin

• Toàn vẹn Là tiêu chuẩn liên quan tới tính chính xác và đầy đủ cũng như hợp lệ của thông tin phù hợp với nghiệp vụ kinh tế nhằm đảm bảo các dữ liệu lưu trữ trong cơ sở dữ liệu chính xác và tin cậy được Nó được đánh giá qua 2 nội dung: (a).Đảm bảo các thông tin đúng, đủ, không bị trùng lắp tại các điểm phát sinh dữ liệu; và (b) Không bị làm khác biệt trên qui trình khai thác Điều này đảm bảo thông tin được tạo ra từ những dữ liệu phù hợp với nhau và không bị sửa chữa trong cơ sở dữ liệu Ví dụ ở bất cứ phân hệ nào thì tên hay mã khách hàng đều giống nhau để có thể thực hiện các hoạt động xử lý, khai thác thông tin giống nhau

• Sẵn sàng Đây là đặc tính thể hiện thông tin sẵn sàng đáp ứng phục vụ cho xử

lý kinh doanh hiện tại và tương lai Như vậy để sẵn sàng thông tin cung cấp,

nó đòi hỏi tính an toàn của các nguồn lực cần thiết liên quan Đây là tiêu chuẩn liên quan chiều chất lượng dịch vụ cung cấp thông tin

• Tuân thủ Đây là tiêu chuẩn yêu cầu thông tin phải phù hợp luật pháp công, chính sách hoặc các tiêu chuẩn xử lý kinh doanh

• Đáng tin cậy Đáng tin cậy là tiêu chuẩn yêu cầu cung cấp đủ thông tin thích hợp cho quản lý điều hành hoạt động doanh nghiệp và thực thi các trách nhiệm liên quan trong lập báo cáo

1.2.3 Lựa chọn của luận án về tiêu chuẩn chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP

Các tiêu chuẩn chất lượng thông tin hay thông tin kế toán khác nhau giữa các quan điểm xuất phát từ các mục tiêu khác nhau trong bối cảnh sử dụng khác nhau FASB, IASB và chuẩn mực kế toán Việt Nam đều dựa trên quan điểm chính là chất lượng thông tin kế toán đồng nghĩa với chất lượng báo cáo tài chính, nghĩa là làm sao để giải thích tình hình tài chính doanh nghiệp rõ ràng, phù hợp, tin cậy dễ hiểu

Trang 26

với người sử dụng nhằm giúp họ đưa ra các đánh giá và dự đoán tình hình tài chính

doanh nghiệp về các vấn đề nguồn lực doanh nghiệp, kết quả hoạt động kinh doanh

hay dự đoán về thời gian và tính không chắc chắn của dòng tiền và các nghĩa vụ với

các nguồn lực doanh nghiệp Từ đó các đối tượng sử dụng này đưa ra các quyết

định kinh tế phù hợp Các tiêu chuẩn chất lượng thông tin chủ yếu tập trung:

• Liên quan tới nội dung thông tin gồm: Chính xác; Đầy đủ; Có thực; Kịp

thời; Thích hợp

• Liên quan tới phương pháp ghi nhận và xử lý thông tin: Nhất quán; Khách

quan

• Liên quan tới trình bày thông tin: Có thể hiểu được

Nếu xét theo các chiều chất lượng thông tin thì nó thỏa mãn đủ 3 chiều là bản chất

của thông tin, bối cảnh của thông tin và biểu hiện hay trình bày của thông tin Chiều

thứ 4 không được đề cập ở đây vì xuất phát điểm ban đầu là tập trung vào chất

lượng báo cáo tài chính và khởi điểm là môi trường xử lý bằng tay

Trong khi đó, trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin, chất lượng thông tin

không chỉ dừng ở việc đáp ứng bản chất của thông tin, bối cảnh của thông tin và

biểu hiện của thông tin mà vấn đề truy cập an toàn thông tin rất quan trọng Nếu

thông tin không thể truy cập và không an toàn thì bản chất thông tin cũng không thể

đáp ứng được hay nói cách khác nếu chất lượng cung cấp dịch vụ thông tin không

tin cậy và không thực hiện được thì sản phẩm thông tin cũng trở thành vô ích vì

không thể thực hiện được Vì vậy quan điểm chất lượng sản phẩm thông tin khi ứng

dụng công nghệ thông tin là sử dụng công nghệ thông tin trong xử lý thông tin để

đạt được tính chính xác về mặt số học và chính xác theo phương pháp tính toán đã

chọn lựa, an toàn bảo mật và sẵn sàng đối với người sử dụng Điều này nghĩa là

quan điểm của công nghệ thông tin chỉ chú trọng tới khía cạnh thế nào là phương

pháp tính toán phù hợp, chính xác để tạo ra thông tin người sử dụng mong muốn

Nội dung thông tin thế nào là phù hợp với đối tượng sử dụng thì không phải là vấn

đề quan tâm trong quan điểm này, nghĩa là những vấn đề về phương pháp kế toán,

về chuẩn mực kế toán không nằm trong phạm vi nghiên cứu,

Do mục tiêu của luận án là tìm hiểu các tác động của môi trường ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý thông tin – môi trường sử dụng ERP – tới chất lượng thông tin kế toán nên luận án chỉ xem xét và lựa chọn các tiêu chuẩn chất lượng thông tin theo CobiT Điều này là hợp lý vì thực chất phạm vi luận án chỉ gói gọn trong vấn đề tác động ảnh hưởng của môi trường ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý thông tin tới chất lượng thông tin kế toán Các tiêu chuẩn liên quan gắn với các chuẩn mực kế toán đều không nằm trong phạm vi đề tài

Tóm lại các tiêu chuẩn chất lượng thông tin kế toán lựa chọn trong luận án sẽ là:

• Hữu hiệu Tiêu chuẩn này liên quan tới việc đảm bảo tuân thủ theo nội dung thông tin kế toán và phương pháp xử lý thông tin kế toán đã lựa chọn trước đó Nghĩa là tiêu chuẩn này giúp thực hiện theo đúng chuẩn mực kế toán hay các phương pháp kế toán được chấp nhận mà doanh nghiệp lựa chọn và cần tuân thủ cho việc lập báo cáo tài chính hoặc báo cáo quản trị Thông tin được coi là hữu hiệu nếu phù hợp với yêu cầu xử lý kinh doanh

và đáp ứng người sử dụng kịp thời, chính xác, nhất quán và phù hợp Như vậy “hữu hiệu” ở đây chính là tính phù hợp và tin cậy về các nội dung thông tin công bố

• Hiệu quả Là tiêu chuẩn liên quan tới việc sử dụng các nguồn lực tạo thông tin hiệu quả và kinh tế nhất

• Bảo mật Đảm bảo thông tin được bảo vệ nhằm tránh việc sử dụng và công

bố không được phép

• Toàn vẹn Là tiêu chuẩn đảm bảo thông tin được tạo ra chính xác và tin cậy

Nó được tạo ra từ các dữ liệu chính xác, đầy đủ và hợp lệ Tính toàn vẹn được đánh giá qua 2 nội dung: (a).Đảm bảo các thông tin đúng, đủ, không bị trùng lắp tại các điểm phát sinh dữ liệu; và (b) Không bị làm khác biệt trên qui trình khai thác Điều này đảm bảo thông tin được tạo ra từ những dữ liệu phù hợp với nhau và không bị sửa chữa trong cơ sở dữ liệu Như vậy tiêu chuẩn này đảm bảo chiều bản chất của thông tin

Trang 27

• Sẵn sàng Thể hiện thông tin sẵn sàng đáp ứng nhu cầu khi cần sử dụng của

người sử dụng

• Tuân thủ Đây là tiêu chuẩn yêu cầu thông tin phải phù hợp luật pháp, chính

sách hoặc các tiêu chuẩn xử lý kinh doanh và các thỏa thuận ràng buộc Do

đó hệ thống cần đảm bảo kiểm soát các sửa chữa hay thay đổi qui trình

không được ủy quyền và kiểm soát cách công bố và sử dụng thông tin cá

nhân của nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp

• Đáng tin cậy Đáng tin cậy là tiêu chuẩn yêu cầu cung cấp đủ thông tin thích

hợp để ban quản lý điều hành hoạt động doanh nghiệp và thực thi các trách

nhiệm liên quan

1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA ERP TỚI CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN

Trong phần này, chúng ta cùng phân tích những tác động ảnh hưởng của ERP tới

chất lượng thông tin kế toán

Thông tin kế toán là sản phẩm của hệ thống thông tin kế toán, vì vậy muốn phân

tích tác động của ERP tới chất lượng thông tin kế toán thì cần phân tích tác động

ảnh hưởng của ERP tới hệ thống thông tin kế toán Từ đây, ta mới có thể phân tích

được tác động ảnh hưởng của ERP tới chất lượng thông tin kế toán

1.3.1 Ảnh hưởng của ERP tới hệ thống thông tin kế toán

Khi xem xét ảnh hưởng tới hệ thống, có nhiều cách tiếp cận, hoặc xem xét theo qui

trình xử lý của hệ thống, hoặc xem xét theo các thành phần của hệ thống hoặc theo

mục tiêu cần đạt được của hệ thống Luận án này sẽ tiếp cận để phân tích ảnh hưởng

của ERP tới hệ thống kế toán theo những thành phần cơ bản của hệ thống và chức

năng của hệ thống

• Dữ liệu thu thập bao gồm cả dữ liệu liên quan tài chính và phi tài chính Trong

môi trường ERP, các dữ liệu thu thập về hoạt động kinh doanh không chỉ liên

quan thông tin tài chính mà còn cả những thông tin không tài chính Ví dụ,

thông tin đặt hàng của khách hàng không chỉ có thông tin liên quan tới hàng hóa

được đặt mà còn cả những thông tin về thời gian, vị trí thực hiện đặt hàng, người tiến hành giao dịch, nhận đặt hàng hoặc thậm chí thông tin về sự hài lòng của khách hàng khi tiến hành đặt hàng Vì dữ liệu nhiều hơn nên thông tin quản trị cung cấp sẽ nhiều hơn, làm tăng giá trị chuỗi thông tin kế toán (Sutton, 2006)

Dữ liệu hoạt động kinh doanh được ghi vào hệ thống do nhân viên thực hiện hoạt động kinh doanh ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ Trong hệ thống

thông tin kế toán bằng tay hay xử lý bằng phần mềm kế toán riêng biệt, các dữ liệu nghiệp vụ kinh tế phát sinh được nhân viên kế toán ghi nhận vào hệ thống bằng cách ghi vào sổ bằng giấy hay nhập liệu bằng máy Trong khi đó, trong hệ thống ERP, dữ liệu về hoạt động kinh tế phát sinh được các nhân viên thực hiện hoạt động đưa ngay vào hệ thống trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh Các dữ liệu về hoạt động kinh tế này được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu chung toàn doanh nghiệp và nhân viên kế toán chỉ việc lấy dữ liệu trong cơ sở

dữ liệu này để xử lý Đặc điểm này giúp việc thu thập dữ liệu được kịp thời và chính xác ngay tại nguồn dữ liệu

Truy lại nguồn gốc dữ liệu dễ dàng Vì hệ thống ghi nhận dữ liệu ngay khi

nghiệp vụ kinh tế phát sinh nên hệ thống có thể truy ngược lại người và nguồn gốc ghi nhận thông tin xử lý nghiệp vụ kinh doanh cũng như xử lý cập nhật thông tin đầu vào cho kế toán (Sutton, 2006) Điều này giúp việc kiểm soát tính chính xác của dữ liệu và hoạt động kinh tế thông qua việc dễ dàng tìm kiếm và kiểm chứng dữ liệu hoạt động kinh tế

Phương pháp thu thập dữ liệu đã thay đổi thông qua việc sử dụng hệ thống

truyền thông qua mạng internet giữa các hệ thống dữ liệu khách hàng và người cung cấp Điều này giúp giảm bớt sai sót về việc nhập liệu

Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các phương pháp hay các chỉ tiêu phân tích mới ERP

là hệ thống gồm nhiều phân hệ xử lý tự động tích hợp với nhau và cùng sử dụng chung cơ sở dữ liệu Vì vậy thay đổi lớn nhất khi áp dụng ERP với xử lý kế toán là doanh nghiệp đã có thể áp dụng thêm nhiều phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu

Trang 28

mà trước đó hệ thống kế toán bằng tay hay xử lý bằng phần mềm kế toán riêng biệt

đều khó thực hiện Spathis và Constantides đã thực hiện điều tra 26 doanh nghiệp

với các loại hình công nghiệp (chiếm 50%), thương mại (31%), còn lại là doanh

nghiệp dịch vụ và các loại hình doanh nghiệp khác tại Hy Lạp và kết quả cho thấy

các phương pháp và xử lý kế toán được sử dụng nhiều hơn sau khi áp dụng ERP

như: Hỗ trợ các quản lý phi tài chính (18/26 doanh nghiệp, 69%); Phân tích lợi

nhuận theo hoạt động kinh doanh hoặc vùng hoạt động (17/26 doanh nghiệp, 66%);

Phân tích lợi nhuận theo đơn vị sản phẩm (15/26, 58%); Phân tích tỷ số tài chính

(14/26, 54%); Kiểm soát tiền (13/26, 50%); Xây dựng kế hoạch chính (13/26, 50%);

Trung tâm lợi nhuận (13/26, 50%); Quản lý chi phí tiêu hao (13/26, 50%); Phân tích

lợi nhuận theo khách hàng (12/26; 46%); Phân tích chi phí theo vốn đầu tư (10/26,

39%); ABC (7/26, 27%); Chi phí theo mục tiêu (5/26, 19%); Chi phí theo biến phí,

định phí (5/26, 19%) (Spathis and Constantinides, 2004)

• ERP giúp phân tích và cung c ấp thông tin hữu ích hơn cho người sử dụng

thông tin Do đặc thù của ERP là sử dụng cơ sở dữ liệu dùng chung và dữ liệu

nghiệp vụ kinh doanh được thu thập nhiều chi tiết hơn về cả thông tin tài chính

và phi tài chính Vì vậy phân hệ thông minh kinh doanh có thể sử dụng các kỹ

thuật phân tích và tính toán OLAP và khai phá dữ liệu để phân tích và cung cấp

thông tin nhiều chiều hơn nhằm khám phá các qui luật kinh doanh

Khai phá dữ liệu là kỹ thuật tìm kiếm các thông tin tiềm ẩn dựa vào các dữ liệu

lưu trữ để phân tích tìm ra các qui luật kinh doanh phục vụ cho việc ra quyết

định Khai phá dữ liệu thường dùng các thuật toán như luật kết hợp, phân lớp,

gom cụm, dự báo v.v Một số ví dụ về việc ứng dụng các thuật toán này trong

khai phá dữ liệu kinh doanh như sau

Thông qua việc phân tích các mặt hàng từ các hóa đơn mua hàng của khách

hàng, hệ thống sẽ tìm ra các qui luật kết hợp các sản phẩm mua chẳng hạn như

nếu khách hàng mua bia thì sẽ mua kèm món nem chua v.v hoặc nếu khách

hàng mua sữa và mua khăn giấy thì sẽ mua bia Và như vậy người quản lý sẽ

quyết định cách sắp xếp các sản phẩm bày bán trên kệ hàng làm sao để thuận tiện và bán được nhiều hàng nhất cho khách hàng Hoặc thông qua việc phân tích tuần tự về mặt thời gian và sản phẩm thì có thể kết luận có 82% khách hàng mua cối xay thịt Trung Quốc thì sau đó sẽ mua phụ tùng thay thế trục quay, hay

có 96% khách mua giầy, vợt tenis thì sau đó sẽ thuê sân bãi Dựa vào thông tin chi tiết như vậy người quản lý có thể xây dựng định mức dự trữ và mua các mặt hàng tỷ lệ phù hợp với nhau

• Rút ngắn thời gian tạo thông tin và người sử dụng có thể tạo thông tin trực tiếp

từ cơ sở dữ liệu

Một số thủ tục xử lý liên quan tới kế toán được lập trình tự động trong hệ thống ERP ví dụ phân bổ, khóa sổ nên thời gian lập và truyền thông báo cáo được rút ngắn lại Một số báo cáo tài chính có thể được tạo ra từ những người sử dụng chứ không nhất thiết phải do kế toán tài chính tạo ra vì các thủ tục xử lý kế toán

cơ bản đã được mã hóa vào qui trình xử lý của hệ thống ERP

• K ỳ thời gian lập báo cáo có tính chất liên tục

Thông thường báo cáo bằng tay được lập định kỳ nhưng trong môi trường ERP

vì thông tin được cập nhật liên tục theo qúa trình thực hiện hoạt động kinh doanh và qui trình lập báo cáo tương đối tự động nên việc lập báo cáo tài chính

có thể được lập liên tục và thời gian nhận thông tin tài chính được rút ngắn lại, chẳng hạn thay vì cuối mỗi tháng báo cáo kế toán mới được lập 1 lần thì hệ thống có thể lập báo cáo sau 15 ngày hoạt động (Sutton, 2006)

• Cũng theo Sutton, ERP giúp doanh nghiệp tăng tính kiểm soát hoạt động kinh doanh và do đó tăng kiểm soát thông tin do thông tin được thu thập và đưa vào

hệ thống theo trình tự qui trình hoạt động kinh doanh Vì vậy dữ liệu thu thập được đối chiếu tự động nhằm đảm bảo tính xét duyệt, tính có thực, đầy đủ, chính xác và kịp thời về hoạt động kinh doanh

Trang 29

• Do việc tính toán và xử lý tự động theo chương trình lập sẵn nên ERP giúp hạn

chế những sai sót, nhầm lẫn trong tính toán

• Phương pháp thu thập dữ liệu đã loại bỏ nhiều chứng từ bằng giấy nên ảnh

hưởng tính kiểm soát dữ liệu thu thập Nội dung và tính chính xác của dữ liệu

trong cơ sở dữ liệu phụ thuộc duy nhất vào lần nhập dữ liệu nghiệp vụ kinh tế

Ngoài ra, do dữ liệu tập trung, nhiều người cùng truy cập vào hệ thống nên ảnh

hưởng tới phương pháp kiểm soát dữ liệu của hệ thống

• Nghiên cứu gần đây của Wright and Wright 2002; Hunton et al.2004; Brazel and

Agoglia 2007 chỉ ra rằng có sự giảm sút về hiệu quả của kiểm soát nội bộ và

chất lượng kiểm toán trong thiết lập hệ thống ERP (Sutton, 2006) Kết hợp khả

năng gia tăng truy cập của người quản lý và sự yếu kém của hệ thống kiểm tra

trong hệ thống ERP có thể tạo cơ hội cho người quản lý có thể điều chỉnh chính

sách kế toán liên quan tới lợi nhuận để đạt mục tiêu của mình hay của bộ phận

mình quản lý (Brazel and Li, 2008)

Theo Booth và cộng sự (Booth et al., 2000) ERP đã thay đổi vai trò của nhân viên

kế toán, đó là giảm bớt việc ghi chép số liệu và lập báo cáo, chuyển nhiều sang việc

phân tích thông tin để hỗ trợ cho người ra quyết định

1.3.2 Ảnh hưởng của ERP tới chất lượng thông tin kế toán

Qua các phân tích ở 1.3.1, ta thấy rõ ràng ERP đã ảnh hưởng nhiều tới hệ thống

thông tin kế toán và do đó sẽ ảnh hưởng tới chất lượng thông tin kế toán Bảng 1.3

sau đây tóm tắt các ảnh hưởng của ERP tới hệ thống thông tin kế toán và do đó ảnh

hưởng tới chất lượng thông tin kế toán

Bảng 1.3 Ảnh hưởng ERP tới hệ thống và chất lượng thông tin kế toán

ERP ảnh hưởng tới hệ thống thông tin kế toán ERP tác động ảnh hưởng tới chất lượng thông tin kế toán

Nội dung

dữ liệu

Thu thập nhiều dữ liệu liên quan tới vấn đề tài chính và phi tài chính

Nội dung thông tin sẽ phong phú hơn, tăng chất lượng hữu hiệu và hiệu quả của thông tin

Thời điểm

và phương pháp thu thập dữ liệu

Thực hiện thu thập dữ liệu ngay khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng các thiết bị ghi nhận dữ liệu tự động và do bộ phận thực hiện hoạt động kinh doanh thực hiện ERP giúp truy nguyên lại nguồn gốc dữ liệu thu thập

Gia tăng chất lượng hữu hiệu, hiệu quả và sẵn sàng thông tin vì dữ liệu đảm bảo kịp thời, chính xác và đầy đủ hơn Tuy nhiên, do ERP loại bỏ nhiều hoạt động thu thập

dữ liệu bằng chứng từ nên nếu không kiểm soát tốt sẽ giảm tính hữu hiệu, toàn vẹn của thông tin Phương

pháp xử lý

dữ liệu được lập trình

• Xử lý dữ liệu tự động theo chương trình được lập sẵn

• Quá trình xử lý thông tin gắn kèm cùng quá trình

xử lý kinh doanh và thu thập dữ liệu

• Qui trình khóa sổ được lập trình tự động khá cao

• Giảm sai sót, tăng tính chính xác thông tin

• Giảm sự sai sót dữ liệu và gia tăng kiểm soát dữ liệu nhờ tính đối chiếu theo qui trình thực hiện kinh doanh

• Giảm thời gian khóa sổ

Từ đó ảnh hưởng tới chất lượng hữu hiệu, hiệu quả và sẵn sàng, toàn vẹn, bảo mật của thông tin Tăng thêm

các phương pháp kế toán quản trị

ERP giúp người sử dụng áp dụng tăng nhiều phương pháp

kế toán quản trị như ABC, các tỷ số phân tích

Gia tăng chất lượng hữu hiệu, tin cậy của thông tin

Trang 30

ERP ảnh hưởng tới hệ

thống thông tin kế toán ERP tác động ảnh hưởng tới chất lượng thông tin kế toán

ERP giúp áp dụng phương

pháp phân tích, khai phá kho

dữ liệu trong phân hệ thông

minh kinh doanh

Thông tin hữu ích hơn Như vậy

nó ảnh hưởng tới chất lượng hữu hiệu và hiệu quả của thông tin

ERP có thể truy cập trực tiếp

vào cơ sở dữ liệu dùng chung

để lấy thông tin tùy theo nhu

cầu

Tăng tính kịp thời theo thời gian thực của thông tin, ảnh hưởng tới chất lượng sẵn sàng của thông tin

Tuy nhiên mặt trái của nó là do người sử dụng có thể truy cập dữ liệu, dự đoán tương đối chính xác lợi nhuận hay kết quả phân tích nào đó nên có thể can thiệp bằng những thủ thuật điều chỉnh cuối kỳ

kế toán đối với dữ liệu kế toán hoặc công bố thông tin chậm hay sớm hơn Do đó nó ảnh hưởng tới chất lượng hữu hiệu của thông tin Vai trò

nhân viên

kế toán

Vai trò của kế toán không

còn tập trung vào hoạt động

ghi chép, kết chuyển, tính

toán dữ liệu mà chuyển sang

vai trò phân tích dữ liệu,

thông tin cũng như giám sát,

kiểm soát

Việc tập trung vào chức năng phân tích, giám sát của kế toán sẽ giúp tăng sự hữu ích, phù hợp của thông tin tạo ra để hỗ trợ người quản lý doanh nghiệp Như vậy việc thay đổi vai trò của kế toán tác động tới chất lượng hữu hiệu, hiệu quả, tin cậy của chất lượng thông tin

Nguồn: Tác giả tổng hợp và phân tích

Tóm lại ERP đã ảnh hưởng tác động tới các hoạt động xử lý của hệ thống kế toán,

từ đó ảnh hưởng nhiều tới các đặc tính chất lượng thông tin kế toán

ERP ảnh hưởng tác động tăng chất lượng hữu hiệu, hiệu quả, sẵn sàng và tin cậy của thông tin, cụ thể là tăng tính chính xác, kịp thời, có thực, đầy đủ và phù hợp của chất lượng thông tin kế toán Tuy nhiên, bên cạnh tác động làm tăng chất lượng thông tin kế toán, nó lại có khả năng làm giảm sút chất lượng tin cậy thông tin: về tính chính xác và kiểm soát nếu người quản lý quá lạm dụng khả năng can thiệp của mình vào các hoạt động xử lý điều chỉnh khóa sổ cuối kỳ kế toán bằng cách sử dụng quyền linh hoạt trong ước tính kế toán nhiều hơn trong báo cáo các khoản có tính phân bổ hay ước tính

Trang 31

CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT

LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG MÔI TRƯỜNG ỨNG

DỤNG ERP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

2.1 CÁC QUAN ĐIỂM ẢNH HƯỞNG NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ ẢNH

HƯỞNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN

2.1.1 Quan điểm sản phẩm cần phù hợp với người sử dụng

J.M.Juran P3F

4

đưa ra quan điểm sản phẩm chất lượng là sản phẩm trước hết phải phù

hợp với người sử dụng Để có được sản phẩm phù hợp với người sử dụng, cần lưu ý

các nhân tố sau:

• Người sử dụng sản phẩm Người sử dụng sản phẩm ảnh hưởng tới yêu cầu

nội dung, hình thức và chất lượng sản phẩm Do đó người sử dụng sản phẩm

rất quan trọng vì nó quyết định yêu cầu liên quan những vấn đề thuộc tiêu

chuẩn chất lượng thông tin

• Nguồn lực kinh tế nào được sử dụng bởi người tạo sản phẩm sản phẩm Liên

quan tới khái niệm này còn là việc sử dụng cụ thể các nguồn lực trong việc

tạo các qui trình hay thủ tục tạo sản phẩm

• Sản phẩm được sử dụng thế nào? Cho mục đích gì

• Lợi ích kinh tế nào được đem lại từ sản phẩm đối với người sử dụng

• Mức độ an toàn của sản phẩm đối với người sử dụng

Theo quan điểm này, từ 1996- 2007 đã có 74 bài nghiên cứu về các nhân tố ảnh

hưởng chất lượng thông tin Trong đó có khoảng 30 đề cập nghiên cứu về nhân tố

người sử dụng ảnh hưởng tới chất lượng thông tin; 140 đề cập về ảnh hưởng của các

nguồn lực và cách sử dụng các nguồn lực trong hệ thống tới chất lượng thông tin;

khoảng 10 đề cập về vấn đề lợi ích của các nguồn lực này đã ảnh hưởng tới chất

4 Joseph Moses Juran (28/12/1904- 28/02/208) là nhà tư vấn quản trị thế kỷ 20, nghiên cứu và truyền bá về

vấn đề “chất lượng” và “quản trị chất lượng” Ông viết rất nhiều sách có giá trị và có tính kinh điển về lĩnh

vực này Ông cũng chính là người đã nghiên cứu và đề xuất nguyên lý Pareto (80-20 80% vấn đề bị gây ra

bởi 20% nguyên nhân) và áp dụng hiệu quả nguyên lý này trong quản lý chất lượng Ngoài ra ông chú trọng

tới vấn đề “chống đối thay đổi” hay áp dụng nguyên lý “cross- functional management” trong qui trình quản

lý: kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng và phát triển chất lượng Ông cũng là người truyền giảng

những lý thuyết quản lý Nhật bản cho phương Tây (theo Wikipedia)

lượng thông tin và chỉ khoảng 5 đề cập là nghiên cứu về vấn đề an toàn đối với người sử dụng và chất lượng thông tin (Neely and Cook, 2008)

2.1.2 Quan điểm thông tin là sản phẩm và bị ảnh hưởng bởi qui trình tạo thông tin

Wang và các cộng sự tổng hợp các nghiên cứu, đánh giá về chất lượng dữ liệu của rất nhiều nhà nghiên cứu và đã đưa ra một đề nghị là thông tin cũng được hình thành và xem xét như sản phẩm vật lý (Wang et al., 1998) Do thông tin là một sản phẩm nên hệ thống tạo thông tin và quá trình tạo sản phẩm hay quản lý hệ thống sẽ ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm Dựa vào quan điểm Wang, Neely.M.P.và Cook.J đã tổng kết 74 nghiên cứu được phát hành trong 4 tạp chí Communication

of the ACM (CACM); Information Systems (IS); Journal of Management Information Systems (JMIS) và Journal of Database Management (JDBM) từ 1996-

2007 của nhiều tác giả về 7 thành phần ảnh hưởng chất lượng thông tin: trách nhiệm quản lý; chi phí hoạt động và bảo dưỡng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu; nghiên cứu và phát triển hệ thống; sản phẩm; phân phối sản phẩm; quản trị nhân sự; và vấn

đề pháp lý (Neely and Cook, 2008)

2.1.3 Quan điểm TQM - total quality management - quản lý chất lượng toàn

bộ và mô hình PSP/IQ (Product and Service Performance Model for Information Quality)

Thuật ngữ Total Quality Management (TQM) được xuất hiện lần đầu tại Bộ tư lệnh kiểm soát hệ thống không quân của Hải quân Hoa Kỳ (US Naval Air Systems Command) vào đầu những năm 1980s dựa trên triết lý quản lý là trách nhiệm gia tăng chất lượng sản phẩm và xử lý kinh doanh thuộc về các nhóm người liên quan tới việc tạo ra và sử dụng sản phẩm do doanh nghiệp cung cấp nhằm đảm bảo đạt được sự hài lòng của khách hàng một cách ổn định, lâu dài Nhóm người này bao gồm người quản lý, tất cả các nhân viên trong doanh nghiệp, nhà cung cấp nguyên liệu, dịch vụ cho khách hàng và bản thân khách hàng

Trang 32

Triết lý quản lý này được phát triển bởi một số nhà tư vấn quản lý của Mỹ, bao gồm

W.Edward Deming, Joeseph Juran và A.V Feigenbaun Ban đầu triết lý này được sự

tán thưởng ít ỏi tại Mỹ nhưng được áp dụng vào Nhật từ những năm 1950s và

những nhà quản lý ở Nhật rất thích thú và tâm đắc với triết lý này tới mức họ đặt ra

Giải thưởng Deming trao tặng hàng năm cho những nhà quản lý sản xuất xuất sắc

Cốt lõi của TQM là mối quan hệ có tính phụ thuộc lẫn nhau giữa 2 bên nhận (được

coi như khách hàng) và bên giao (được coi như nhà cung cấp) một sản phẩm hay

một dịch vụ nào đó Nó có thể là mối quan hệ của bộ phận này giao dịch vụ cho bộ

phận khác trong cùng doanh nghiệp hoặc nhà cung cấp giao sản phẩm, dịch vụ cho

khách hàng của mình Mối quan hệ này phải được đặt trên sự cam kết đối với chất

lượng, truyền thông điệp chất lượng và văn hóa doanh nghiệp nhằm mục đích tạo

chất lượng toàn bộ Đó chính là nền tảng của TQM Nền tảng này được sự hỗ trợ

của con người, hệ thống và xử lý trong doanh nghiệp TQM có thể được áp dụng

cho tất cả các loại doanh nghiệp

Đã có rất nhiều nghiên cứu dựa trên triết lý và quan điểm của TQM để xác định các

nhân tố quan trọng trong quản lý chất lượng Chẳng hạn nghiên cứu vấn đề đo

lường quản lý của Oakland năm 1993, của Mann & Kehoe năm 1994; Vấn đề huấn

luyện chất lượng của Snell & Dean năm 1992, của Blackburn & Rosen năm 1993;

Vấn đề sự tham gia nhân viên trong gia tăng chất lượng của Oliver năm 1988, của

Bowen & Lawler năm 1992, của Flynn, Schroeder & Sakakibara năm 1995 Hoặc

nghiên cứu tiền lương và đánh giá trong quản lý chất lượng của Lawler, Mohrman

& Ledford năm 1992; Lawler năm 1994; Waldman năm 1994; Flynn, Schroeder &

Sakakibara, 1995 v.v.(Xu, 2003) Kết quả của các nghiên cứu này đã đưa ra được 8

nhân tố quan trọng ảnh hưởng quản lý chất lượng trong doanh nghiệp Đó là:

• Tầm nhìn của ban quản lý cấp cao và chính sách chất lượng

• Vai trò của quản lý chất lượng

• Huấn luyện

• Thiết kế sản phẩm hoặc dịch vụ

• Quản trị chất lượng nhà cung cấp

• Quản lý xử lý kinh doanh

• Chất lượng dữ liệu và báo cáo

• Môi quan hệ nhân viên Dựa trên nguyên tắc của TQM, Kahn và Strong năm 1998 đã xây dựng mô hình PSP/IQ (Product and Service Performance Model for Information Quality) (đã trình bày ở chương 1 của luận án) Theo mô hình này, chất lượng thông tin gồm 2 phần chất lượng bản thân sản phẩm thông tin và chất lượng dịch vụ cung cấp thông tin Mục đích của mô hình này là giúp nhà nghiên cứu hoặc người làm thực tế dễ dàng tìm ra câu trả lời cái gì và làm cách nào để gia tăng chất lượng thông tin Theo mô hình này, muốn gia tăng chất lượng thông tin thì cần gia tăng chất lượng hệ thống tạo sản phẩm thông tin và tạo dịch vụ cung cấp thông tin

2.1.4 Mô hình “hệ thống hoạt động” – quan điểm kết hợp kỹ thuật –xã hội

Thuật ngữ “hệ thống hoạt động” xuất hiện lần đầu tiên trong 2 bài báo của số đầu tiên của tạp chí MIS Quarterly, là thuật ngữ được các nhà nghiên cứu kỹ thuật –xã hội và một số người hoạt động thực tế sử dụng Sau đó nó được đề cập trong nhiều bài báo của các tác giả Bostrom và Heinen năm 1979; Mumford và Weir năm 1979; Davis va Taylor năm 1979 hoặc Tris năm 1981 với thông điệp “hệ thống hoạt động

là các hệ thống thực hiện một nhóm các hoạt động được xác định trong các hệ thống nhỏ nằm trong một tổng thể hệ thống lớn” Trong bài viết năm 2000, Momford tổng kết các cách nhìn vấn đề kết hợp kỹ thuật- xã hội về vấn đề hệ thống hoạt động: “hệ thống hoạt động nên được xem là một chuỗi các hoạt động kết hợp trong một tổng thể lớn chứ không nên xem là một nhóm các công việc riêng biệt: và “nó nên được quản lý bởi các thành viên của nó chứ không phải của các giám sát bên ngoài hệ thống” Bài viết năm 2000 của Land đề cập “phương pháp kỹ thuật –xã hội tập trung trong việc thiết kế hệ thống hoạt động nhằm gia tăng chất lượng sống cho người lao động Thiết kế lại hệ thống hoạt động nhằm chủ yếu gia tăng chất lượng hoạt động hệ thống” Như vậy quan điểm kỹ thuật –xã hội là hàm ý mô tả một hệ thống kết hợp cả vấn đề kỹ thuật và các đề liên quan tới con người, lợi ích con

Trang 33

người và hệ thống này có thể thuộc hệ thống khác lớn hơn và bao trùm nó (Alter

and Sherer, 2004, Alter, 2002, Alter, 2003)

Alter đã phát triển thuật ngữ “hệ thống hoạt động” bằng định nghĩa: “một hệ thống

hoạt động là hệ thống trong đó người tham gia và máy móc thiết bị thực hiện công

việc bằng cách sử dụng thông tin, công nghệ, và các nguồn lực khác để tạo sản

phẩm hoặc dịch vụ cho các người sử dụng trong và ngoài hệ thống” Phương pháp

hệ thống hoạt động được Alter đề cập lần đầu tiên năm 1999 và sau đó được mở

rộng và phát triển rõ ràng hơn vào năm 2002 Phương pháp hệ thống hoạt động sử

dụng khái niệm hệ thống hoạt động làm điểm trung tâm trong việc hiểu, phân tích

và gia tăng các hệ thống trong tổ chức bất kể là có hệ thống CNTT hay không

Hệ thống hoạt động mô tả được mối quan hệ giữa các thành phần kỹ thuật và các

thành phần có tính chất xã hội trong một tổ chức Hệ thống hoạt động có thể là một

dự án, một hệ thống thông tin, một hệ thống hoạt động kinh doanh (ví dụ như hệ

thống bán hàng v.v.) Hệ thống hoạt động được xác định gồm 9 thành phần có quan

hệ chặt chẽ với nhau Hình sau mô tả các thành phần của một hệ thống hoạt động

(Sherer and Alter, 2004)

Khách hàng

Sản phẩm &Dịch vụ

Thực hiện công việc

Người tham gia Thông tin

Kỹ thuật/

Công nghệ

Cơ sở hạ tầng

Hình 2.1 Mô hình Hệ thống hoạt động Nguồn (Alter, 2002)

Hệ thống hoạt động gồm 9 thành phần như sau:

• Thực hiện công việc Là một chuỗi gồm nhiều bước hoạt động theo qui trình nhất định Các hoạt động có thể là xử lý thông tin, truyền thông, ra quyết định và các hoạt động thực hiện kinh doanh

• Người tham gia Là những người thực hiện các công việc trong hoạt động xử

lý kinh doanh, hoạt động xử lý thông tin, truyền thông và ra quyết định

• Thông tin Là những thông tin hay dữ liệu cần thiết mà người tham gia cần

sử dụng để thực hiện các công việc theo nhiệm vụ của mình

• Kỹ thuật/công nghệ Là những công cụ (chẳng hạn như điện thoại di động, đèn chiếu, máy quyét v.v ) và các công cụ phần mềm mà người tham gia sử dụng trong lúc thực hiện công việc theo nhiệm vụ của mình

• Sản phẩm Là các sản phẩm hiện vật, các thông tin, dịch vụ, được xác định ở

cả 2 khía cạnh vật lý và không vật lý (chẳng hạn như sự hài lòng, thoải mái)

• Khách hàng Là người nhận lợi ích trực tiếp từ sản phẩm và dịch vụ do hệ thống cung cấp Khái niệm khách hàng còn được mở rộng không chỉ là khách hàng thực sự mà còn là những người tham gia trong hệ thống (ví dụ nhân viên, người ra quyết định)

• Môi trường Là khái niệm bao gồm tổ chức, văn hóa, luật pháp hoặc qui định, sự cạnh tranh, kỹ thuật “Hệ thống hoạt động” hoạt động trong phạm vi môi trường này

• Chiến lược Là các vấn đề liên quan tới chiến lược tổ chức và chiến lược hệ thống hoạt động

• Cơ sở hạ tầng Là khái niệm bao gồm con người, thông tin và nguồn lực kỹ thuật, cơ sở dữ liệu để hệ thống có thể hoạt động

Một “Hệ thống hoạt động” được phát triển theo các chu trình phát triển hệ thống bao gồm các giai đoạn phân tích, thiết kế, thực hiện và vận hành hệ thống Vì vậy khi đánh giá các nhân tố ảnh hưởng chất lượng sản phẩm cần xem xét mối quan hệ của các các thành phần của hệ thống cũng như cần được xem xét trong toàn bộ các giai đoạn phát triển của hệ thống

Trang 34

Phương pháp hệ thống hoạt động đã được Alter ứng dụng để xác định và phân loại

các rủi ro liên quan tới hệ thống nói chung và hệ thống thông tin cụ thể Từ đó xác

định các nhân tố thành công chủ yếu

2.1.5 Nhận xét các quan điểm ảnh hưởng nghiên cứu “các nhân tố ảnh hưởng

chất lượng thông tin kế toán”

Có nhiều quan điểm khác nhau và có tính kế thừa về vấn đề chất lượng thông tin và

các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin Mỗi quan điểm có cách tiếp cận riêng

và có ưu hoặc nhược điểm riêng Luận án phân tích những ưu, nhược của mỗi cách

tiếp cận này và kết quả phân tích được trình bày ở bảng 2.1 sau

Bảng 2.1 Nhận xét các quan điểm ảnh hưởng nghiên cứu “các nhân tố ảnh

hưởng chất lượng thông tin kế toán”

sử dụng Tuy nhiên, nếu ứng dụng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin thì sẽ bị phiến diện vì thông tin là sản phẩm đặc biệt Nếu chỉ liên quan tới tính phù hợp nhu cầu nội dung thông tin mà không quan tâm tới những vấn đề về tính chính xác, kịp thời, tính an toàn bảo mật thì nhiều khi thông tin cũng trở nên vô nghĩa với quyết định của

Quan điểm

Bản chất của quan điểm Nhận xét ưu, nhược điểm

người sử dụng

Thông tin

là sản phẩm và qui trình tạo thông tin

Quan điểm này chú trọng tới hệ thống và việc quản lý

hệ thống tạo sản phẩm thông tin

Ưu điểm là thấy được chất lượng thông tin phụ thuộc vào chất lượng quá trình hình thành và quản lý hệ thống xử lý thông tin, quá trình xử lý thông tin từ khi hình thành tới khi truy xuất, truyền thông tin Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản của quan điểm chính là chưa chỉ ra mối quan

hệ các thành phần trong cấu trúc hệ thống ảnh hưởng chất lượng sản phẩm Điều này có thể gây khó khăn khi xây dựng mô hình nghiên cứu

TQM và

mô hình PSP/IQ

Là cách tiếp cận có cấu trúc và toàn diện đối với quản trị tổ chức nhằm gia tăng chất lượng sản phẩm

Xử lý của TQM được chia thành 4 nhóm theo trình tự:

Lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, kiểm tra và xây dựng qui định thay đổi

Chất lượng thông tin gồm chất lượng sản phẩm thông tin và chất lượng dịch vụ

Ưu điểm: khắc phục nhược điểm của

cả 2 quan điểm trên Cho thấy được bản chất cấu tạo chất lượng thông tin

và nhấn mạnh vai trò quản lý và các đối tượng tham gia trong toàn bộ qui trình phát triển hệ thống để tạo và cung cấp sản phẩm thông tin Nhược điểm : Cách tiếp cận chưa thể hiện rõ các thành phần chi tiết của hệ thống và mối quan hệ rõ ràng giữa hệ thống với xử lý, con người, văn hóa, cam kết và truyền thông Ngoài ra, hệ

Trang 35

Quan

điểm

Bản chất của quan điểm Nhận xét ưu, nhược điểm

cung cấp thông tin thống theo quan điểm TQM được coi

là một thành phần tách biệt riêng với thành phần con người và thành phần

xử lý làm người đọc dễ bị nhầm lẫn với khái niệm hệ thống theo quan điểm hệ thống thông tin (hệ thống thông tin bao gồm cả vấn đề con người, xử lý, thiết bị v.v )

và chiến lược liên quan chất lượng thông tin, chiến lược hoạt động như những nhân tố riêng biệt Thêm vào

đó, việc sử dụng mô hình hoạt động giúp người nghiên cứu dễ dàng xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố thành công hay ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán

Nguồn : Tổng kết của tác giả

Tóm lại, tiếp cận theo quan điểm TQM cùng mô hình PSP/IQ hay « hệ thống hoạt động » đều giúp người nghiên cứu có cái nhìn cấu trúc và toàn diện về hệ thống doanh nghiệp hay hệ thống bất kỳ nào đó cả góc nhìn « tĩnh » cũng như « động »

Tuy nhiên, lu ận án chọn quan điểm « hệ thống hoạt động » trong nghiên cứu quan hệ giữa 3 vấn đề chất lượng sản phẩm thông tin, hệ thống thông tin và người sử dụng thông tin vì nó không những phản ánh được quan điểm « thông tin

cần phù hợp với người sử dụng » và « phụ thuộc vào chất lượng hệ thống thông tin » mà còn thể hiện rõ mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống – cả về thành phần kỹ thuật, con người, quản lý, văn hóa - theo cách nhìn « động » và

« tĩnh », cách nhìn rất gần gũi và quen thuộc về một hệ thống thông tin

2.2 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH “HỆ THỐNG HOẠT ĐỘNG” ĐỂ XÂY DỰNG

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.2.1 Lý do chọn mô hình hoạt động để xây dựng mô hình nghiên cứu

Như đã phân tích ở 2.1, mô hình hệ thống hoạt động là một cách tiếp cận có nhiều

ưu điểm nổi bật so với các quan điểm tiếp cận khác Luận án chọn lựa quan điểm

mô hình hoạt động để phân tích các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin trong môi trường ERP do những lý do sau :

1 Thông tin chỉ được coi là chất lượng khi nó phù hợp với nhu cầu người sử dụng Mô hình « hệ thống hoạt động » có đề cập tới thành phần con người trong hệ thống nên nó giúp người nghiên cứu dễ dàng xem xét vấn đề này trong quá trình phân tích

2 Thông tin là sản phẩm của hệ thống thông tin do đó chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng hệ thống thông tin – thể hiện qua việc hệ thống phải tin cậy (Romney and Steinbart, 2006) Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa

Kỳ (AICPA) và Hiệp hội kế toán viên công chứng Canada (Canadian Institute of Charterd Accountants) xác định 5 nguyên tắc cơ bản tạo hệ thống thông tin tin cậy, đó là (1) An toàn (kiểm soát được các tuy cập tới hệ thống

và dữ liệu của hệ thống), (2) Bảo mật (các thông tin quan trọng hay nhạy cảm được bảo vệ từ các công bố hay sử dụng không được ủy quyền), (3)

Trang 36

Riêng tư (thông tin cá nhân khách hàng được thu thập, sử dụng và công bố

theo mật cách thức phù hợp), (4) Xử lý chính xác (dữ liệu được thu thập

chính xác, đầy đủ, kịp thời), (5) Sẵn sàng (hệ thống sẵn sàng cho sử dụng khi

yêu cầu) Chất lượng hệ thống thông tin phụ thuộc vào chất lượng hệ thống

tạo sản phẩm thông tin và cung cấp dịch vụ sản phẩm thông tin, và chúng

phụ thuộc vào toàn bộ qui trình phát triển hệ thống từ khi hình thành cho tới

khi sử dụng, bảo dưỡng chứ không chỉ đơn thuần là giai đoạn sử dụng hệ

thống để xử lý và cung cấp thông tin Vì vậy khi phân tích các nhân tố ảnh

hưởng chất lượng thông tin cần phân tích đầy đủ tất cả các thành phần của hệ

thống thông tin cũng như toàn bộ qui trình phát triển hệ thống thông tin Mô

hình hệ thống hoạt động giúp người nghiên cứu nhìn nhận các thành phần

của hệ thống và mối quan hệ của các thành phần này một cách đầy đủ và

nhiều chiều từ khi hình thành tới khi sử dụng, nhất là trong môi trường ERP

phức tạp

3 Có nhiều điểm tương đồng giữa mô hình hệ thống hoạt động với lý thuyết hệ

thống thông tin về cấu tạo một hệ thống thông tin

Theo quan điểm lý thuyết hệ thống thông tin thì bất cứ một hệ thống thông

tin nào cũng bao gồm các thành phần:

• Con người tham gia trong hệ thống

• Thủ tục, qui trình xử lý của hệ thống: bao gồm qui trình thu thập, xử

lý, lưu trữ dữ liệu về hoạt động của tổ chức Các qui trình này còn bao

gồm cả các thủ tục kiểm soát hệ thống

• Các thành phần kỹ thuật, công nghệ và cơ sở hạ tầng phục vụ cho hệ

thống thông tin: Phần mềm, thiết bị xử lý, thiết bị thu thập, thiết bị lưu

trữ, thiết bị và mạng truyền thông

• Dữ liệu hệ thống: Tất cả các dữ liệu về tổ chức và xử lý của hệ thống

• Sản phẩm của hệ thống thông tin là thông tin được truyền thông cho

Mô hình hệ thống hoạt động cũng phản ánh được quan điểm của quan điểm TQM và mô hình PSP/IQ

4 Mô hình hệ thống hoạt động có thể ứng dụng để xác định vấn đề hay cơ hội

đối với hệ thống Khi phân tích vấn đề hay cơ hội, người ta thường nhìn vấn

đề phiến diện Nếu là hệ thống kinh doanh thì người ta thường nghĩ vấn đề là qui trình hoạt động kinh doanh; còn nếu là hệ thống thông tin thì người ta hay nghĩ tới vấn đề thiết bị hay phần mềm, chứ ít khi nhìn một cách toàn diện tới nhiều thành phần khác Vì vậy, khi xác định vấn đề hay cơ hội với

hệ thống, trước hết khoanh vùng vấn đề liên quan tới hệ thống nhỏ nhất có thể Ví dụ có sự không hài lòng về doanh thu bán hàng thì khoanh vùng xem xét trong hệ thống bán hàng Sau đó, liệt kê tất cả các thành phần hệ thống như khách hàng, sản phẩm, người tham gia, mô tả qui trình hoạt động không quá 10 hoạt động cơ bản và mô tả ngắn gọn những kỹ thuật, thông tin quan trọng nhất của hệ thống hoạt động cần xem xét nhằm xem xét các thành phần

mô tả trong một mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau một cách đầy đủ Điều này giúp xem xét hệ thống một cách toàn diện

5 Ứng dụng khái niệm hệ thống hoạt động để phân loại rủi ro hay các nhân tố thành công quan trọng trong hệ thống

Alter (tác giả của loạt bài nghiên cứu về “hệ thống hoạt động”) đã nghiên cứu và tổng hợp 46 bài báo nghiên cứu về rủi ro được đăng trong 3 tạp chí (được xếp hạng là các tạp chí tốt nhất nghiên cứu về hệ thống thông tin) là

Trang 37

MISQ, ISR và JMIS Alter nhận thấy có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau

nghiên cứu về rủi ro và ông đã tổng kết thấy có 2 phân loại lớn về rủi ro:

(Sherer and Alter, 2004)

• Nhóm 1 : Rủi ro về các khía cạnh hay phạm vi đo lường kết quả thành

công của hệ thống hay dự án, bao gồm : rủi ro về tài chính, rủi ro về

an toàn hệ thống, rủi ro kỹ thuật, rủi ro kinh doanh, rủi ro về chức

năng hệ thống, rủi ro con người v.v

• Nhóm 2 : Rủi ro được trình bày như các nhân tố ảnh hưởng tới việc

không thành công, tức là các nguyên nhân dẫn tới việc không thành

công của hệ thống hay dự án Chẳng hạn như nhân tố có ứng dụng kỹ

thuật mới, nhân tố thiếu sự cam kết hay hỗ trợ của người quản lý v.v

Alter sử dụng mô hình WS để phân loại rủi ro như sau :

Hình 2.2 Qui trình phân loại rủi ro của Alter

Nguồn (Alter, 2002)

Trước hết, dựa vào mục tiêu của hệ thống và từng thành phần của hệ thống để

xác định các nhân tố rủi ro ảnh hưởng tới mục tiêu kiểm soát Dựa các nhân tố

rủi ro này, xác định các ảnh hưởng tới các khía cạnh đánh giá sự thành công hay

mục tiêu Tất cả các vấn đề liên quan như trên đều được xem xét theo từng giai

đoạn phát triển của hệ thống

Nhân tố rủi ro

Hệ thống hoạt động: 9 thành phần hệ thống

Rủi ro: Kết quả

đo lường mục tiêu

Mục tiêu

kiểm soát

Phân tích theo từng giai đoạn phát triển hệ thống

Mô hình phân loại rủi ro trên cũng được áp dụng để phân tích các « cơ hội » hay các nhân tố thành công chủ yếu

6 Thông tin kế toán là một trong các sản phẩm của hệ thống ERP Bản thân hệ thống ERP cũng là một hệ thống thông tin kết hợp với hệ thống quản lý nên nó

đủ điều kiện để thỏa mãn khái niệm « hệ thống hoạt động »

Phương pháp nhận diện nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP được xây dựng trên nguyên tắc suy diễn là: vì chất lượng thông tin phụ thuộc chất lượng hệ thống tạo và cung cấp dịch vụ thông tin nên nếu nhân tố nào ảnh hưởng tới sự thành công của hệ thống (đảm bảo hệ thống đạt mục tiêu tin cậy,

đủ chất lượng) thì cũng chính là nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán Vì vậy trong môi trường ERP, nhân tố nào ảnh hưởng tới sự thành công và tạo chất lượng hệ thống ERP cũng chính là nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán Dựa vào nguyên tắc này, luận án sẽ dùng mô hình hệ thống hoạt động để phân tích từng thành phần của hệ thống ERP ảnh hưởng tới chất lượng ERP thế nào Từ đó, nhận diện ra nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán

2.2.2 Hệ thống ERP dưới góc nhìn hệ thống hoạt động

Theo khái niệm hệ thống hoạt động thì ERP chính là một hệ thống hoạt động Vì luận án sử dụng mô hình hệ thống hoạt động để phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP, nên chúng ta cần xem xét các thành phần hệ thống ERP theo cách nhìn hệ thống hoạt động ở bảng 2.2 sau

Bảng 2.2 Các thành phần hệ thống ERP theo góc nhìn hệ thống hoạt động Thành

Là một chuỗi gồm nhiều bước

xử lý thông tin Vì vậy, nó gồm

Trang 38

bộ phận chức năng kinh doanh và

kế toán tham gia trong qui trình của

hệ thống ERP

Người

tham gia

Là những người tham gia

trong “qui trình thực hiện” mô

tả trên

Là những người thực hiện thuần túy công việc kinh doanh như nhà quản lý hoặc nhân viên (cũng đồng thời là người đưa dữ liệu hoạt động kinh doanh vào hệ thống hay truy xuất dữ liệu từ hệ thống để thực hiện công việc) hoặc là các nhân viên kế toán, nhân viên CNTT xử

lý thông tin

Thông tin

(hay dữ

liệu)

Là những thông tin hay dữ

liệu mà “người tham gia” sử

dụng để thực hiện các công

việc theo nhiệm vụ của mình

Nó có thể là dữ liệu đầu vào được thu thập trực tiếp từ quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc từ

hệ thống khác (ví dụ bán hàng nhận

dữ liệu đặt hàng từ hệ thống đặt hàng của khách hàng) hoặc từ dữ liệu lưu trữ trong cơ sơ dữ liệu hệ thống Để rõ ràng, các phân tích sau này, luận án sẽ dùng chữ “dữ liệu” thay cho chữ “thông tin”

Thành phần

Khái niệm hệ thống hoạt động

Khái niệm hệ thống ERP theo góc nhìn hệ thống hoạt động

nghệ hiện”, thống ERP và phần mềm xử lý

thông tin ERP

Sản phẩm dịch vụ

Là sản phẩm cuối cùng của hệ thống

Tùy mức phạm vi, có thể là thông tin của từng hệ thống thông tin ví

dụ hệ thống bán hàng, mua hàng,

hệ thống kế toán Ở góc độ hệ thống ERP thì thông tin kế toán là thông tin ở lĩnh vực cuối cùng của một chu kỳ kinh doanh mà doanh nghiệp cần quan tâm

Khách hàng

Là người nhận lợi ích trực tiếp

từ sản phẩm do hệ thống cung cấp

Nếu là hệ thống thông tin phục vụ nội bộ thì khách hàng là các cá nhân trong nội bộ doanh nghiệp Nếu là hệ thống kế toán thì khách hàng là các đối tượng trong và ngoài doanh nghiệp

Môi trường

Là khái niệm bao gồm tổ chức, văn hóa, luật pháp hoặc qui định, vấn đề kỹ thuật mà

“Hệ thống hoạt động” hoạt động trong phạm vi môi trường này

Là khái niệm bao gồm tổ chức, văn hóa, luật pháp hoặc qui định mà hệ thống ERP hoạt động Vì ERP là hệ thống thông tin toàn doanh nghiệp nên vấn đề kỹ thuật không còn là môi trường hệ thống ERP nữa

Chiến lược Là các vấn đề liên quan tới

chiến lược tổ chức và hoạt động hệ thống

Chiến lược phát triển hệ thống ERP (hình thành, chất lượng, nhân sự, quản lý thay đổi v.v.)

Trang 39

Cơ sở hạ tầng bao gồm nguồn

lực con người, nguồn thông

sở dữ liệu, phần mềm, kĩ thuật mạng, nhà cửa, văn phòng…

Nguồn : tác giả tự tổng hợp

Hệ thống ERP của doanh nghiệp cũng được hình thành và phát triển theo chu trình

phát triển hệ thống

Theo lý thuyết quá trình phát triển hệ thống gồm 4 giai đoạn cơ bản là phân tích,

thiết kế, thực hiện và vận hành sử dụng hệ thống dựa trên kế hoạch phát triển hệ

thống của đơn vị Nhìn từ góc độ thực tế, đa phần doanh nghiệp sử dụng ERP đóng

gói nên giai đoạn phân tích và thiết kế bị trùng lắp và khó tách rời Trong thực tế,

người ta thường sử dụng thuật ngữ triển khai hệ thống để chỉ giai đoạn từ khi nhà

cung cấp phần mềm hoặc dịch vụ tư vấn phân tích hệ thống hoạt động của doanh

nghiệp cho đến khi cài đặt hệ thống ERP và huấn luyện sử dụng ERP Kết thúc giai

đoạn triển khai là giai đoạn vận hành sử dụng, bảo dưỡng hệ thống ERP được cài

đặt và sử dụng

Trong quá trình phát triển hệ thống ERP, các bên tham gia liên quan như sau :

Doanh nghiệp có nhu cầu thực hiện hoạt động phát triển hệ thống ERP

• Nhà cung cấp phần mềm (software vendor): là người tạo ra sản phẩm ERP,

ví dụ Oracle, SAP

• Nhà bán l ẻ với dịch vụ gia tăng: đây là hệ thống phân phối cho nhà cung cấp

phần mềm Những đơn vị này trực tiếp phát triển thị trường và bán sản phẩm

ERP Thông thường họ làm luôn việc nghiên cứu yêu cầu, tình trạng thực tế

của khách hàng và tư vấn về ERP, cũng như tư vấn về lộ trình mua và triển

khai, tức là cung cấp các dịch vụ gia tăng cho khách hàng, chẳng hạn những

hãng kiểm toán hàng đầu, như Accenture (Mỹ) được tách ra từ hãng Andersen Worldwide; Cap Gemini Ernst & Young từ sự hợp nhất của bộ phận tư vấn của Ernst & Young và công ty tư vấn tin học hàng đầu châu Âu Cap Gemini; IBM Consulting từ sự hợp nhất bộ phận tư vấn của IBM và bộ phận tư vấn của hãng kiểm toán PriceWaterhouseCoopers v.v Tại Việt Nam, các « nhà bán lẻ với dịch vụ gia tăng » này chưa chính thức hiện diện, mặc dù các hãng kiểm toán sinh ra chúng như KPMG/Arthur Andersen, Ernst & Young, Price Waterhouse Coopers đều đã có mặt từ lâu

Nhà tư vấn triển khai: Đây là người trực tiếp triển khai ERP cho khách hàng

Họ cũng thường là những người cung cấp dịch vụ hỗ trợ sau triển khai Vì vậy, trong suốt quá trình triển khai và hỗ trợ, khách hàng thường chỉ làm việc với nhà tư vấn triển khai Đa số các nhà tư vấn triển khai đều có quan hệ chặt chẽ với nhà cung cấp phần mềm và được cập nhật thường xuyên về những thay đổi trong sản phẩm, và họ cũng thường phải vượt qua các kỳ kiểm tra thường xuyên và ngặt nghèo của nhà cung cấp phần mềm

Ở Việt Nam nhà tư vấn triển khai cũng kiêm luôn là « nhà bán lẻ với dịch vụ gia tăng »

2.2.3 Ứng dụng mô hình hệ thống hoạt động trong nhận diện các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP

Vì thông tin kế toán là một sản phẩm của hệ thống ERP Để thực hiện việc phân tích các nhân tố trong môi trường ERP ảnh hưởng tới chất lượng thông tin kế toán, luận

án dựa vào từng thành phần hệ thống theo mô hình « hệ thống hoạt động » theo từng giai đoạn trong quá trình phát triển một hệ thống và các kết quả nghiên cứu về ERP đã được công bố trên các tạp chí (các nhân tố thành công, rủi ro trong triển khai, sử dụng hệ thống ERP), để nhận diện các nhân tố làm hệ thống ERP tin cậy, thành công nhằm đảm bảo sự tin cậy của hệ thống như chức năng của nó Và theo nguyên lý suy diễn bắc cầu (chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào người sử dụng và

hệ thống tạo và cung cấp sản phẩm), luận án sẽ nhận diện đó chính là các thành phần nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin ERP

Trang 40

2.2.3.1 Giai đoạn lập kế hoạch phát triển hệ thống

Doanh nghiệp muốn triển khai ERP cần lập kế hoạch phát triển hệ thống ERP gồm

xây dựng chiến lược phát triển hệ thống gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp;

lập các tiêu chuẩn trình tự phát triển và các tiêu thức lựa chọn, đánh giá dự án, kế

hoạch ngân sách, thời gian, nhân sự tham gia dự án

Sản phẩm của giai đoạn này là kế hoạch phát triển ERP bao gồm các chiến lược và

kế hoạch thực hiện chiến lược như vấn đề chiến lược chất lượng hệ thống thông tin,

lựa chọn nhà cung cấp và tư vấn triển khai; chiến lược hình thành và phát triển hệ

thống ERP; kế hoạch ngân sách, thời gian, nhân sự phát triển hệ thống; kế hoạch lựa

chọn, đánh giá nhà cung cấp và tư vấn triển khai

Chất lượng kế hoạch là nền tảng quyết định sự thành công chủ yếu của các giai

đoạn sau, do đó ảnh hưởng tới sự thành công, tới chất lượng hệ thống ERP, và là

nền tảng đảm bảo chất lượng thông tin Trong phạm vi luận án, sự thành công của

dự án ERP là đạt được hệ thống ERP chất lượng, nghĩa là tạo được thông tin chính

xác, tin cậy và các chức năng ERP hiệu quả (Wang and Chen, 2006) Ban quản lý

cấp cao doanh nghiệp và quản lý hệ thống thông tin chịu trách nhiệm chính về kế

hoạch này nên nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm là tầm nhìn của ban quản

lý cấp cao doanh nghiệp (Hội đồng quản trị doanh nghiệp và tổng giám đốc hoặc

giám đốc doanh nghiệp) và quản lý hệ thống thông tin Như vậy « tầm nhìn của

ban quản lý cấp cao doanh nghiệp » là một trong những thành phần nhân tố ảnh

hưởng chất lượng thông tin kế toán Tầm nhìn của ban quản lý cấp cao doanh

nghiệp thể hiện qua việc xây dựng được các chiến lược phát triển hệ thống ERP phù

hợp chiến lược và yêu cầu quản lý doanh nghiệp.; Biết hoạch định đúng và rõ ràng

các chỉ tiêu kết quả cần đạt được của các bộ phận trong doanh nghiệp

Dựa vào kế hoạch phát triển ERP, ban quản lý cấp cao doanh nghiệp thiết lập đội dự

án tham gia việc triển khai hệ thống Đội dự án gồm đại diện doanh nghiệp, nhân

viên các bộ phận chức năng liên quan hoạt động kinh doanh, kế toán, kiểm toán nội

bộ và bộ phận công nghệ thông tin của doanh nghiệp Đội dự án cùng nhà tư vấn triển khai tiến hành các hoạt động trong dự án triển khai ERP Ban quản lý dự án gồm tổng giám đốc, kế toán trưởng, trưởng các bộ phận chức năng liên quan Trong giai đoạn phân tích, nhà tư vấn triển khai tìm hiểu hoạt động kinh doanh và hiện trạng hệ thống thông tin của doanh nghiệp cũng như các yêu cầu của doanh nghiệp đối với hệ thống ERP

Kết thúc giai đoạn này nhà tư vấn triển khai sẽ đưa ra giải pháp cần thiết liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp để có thể ứng dụng ERP Thông thường đó là các vấn đề số lượng và trình tự các phân hệ sẽ sử dụng trong ERP của doanh nghiệp, giải pháp có tái cấu trúc qui trình xử lý kinh doanh doanh nghiệp hay không, và theo qui trình nào để làm sao dung hòa giữa nhu cầu, khả năng của doanh nghiệp và giải pháp phần mềm ERP Sau khi có chấp thuận của ban quản lý cấp cao doanh nghiệp về giải pháp đề nghị, nhà tư vấn và triển khai ERP sẽ quyết định giải pháp

kỹ thuật liên quan tới phần mềm ERP như giữ nguyên hay chỉnh sửa phần mềm Tiếp theo giai đoạn phân tích là giai đoạn cài đặt và huấn luyện sử dụng phần mềm ERP

Sau đây là phân tích các thành phần của hệ thống ERP trong giai đoạn phân tích hệ thống và tác động của thành phần phân tích tới chất lượng thông tin kế toán

Sản phẩm dịch vụ: là kết quả hoạt động phân tích hệ thống ERP Nó bao gồm :

Tình hình thực tế và yêu cầu của doanh nghiệp với hệ thống ERP; Giải pháp qui trình quản lý và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; quyết định lựa chọn phần mềm ERP và các phân hệ phù hợp; Lựa chọn hệ thống thiết bị cơ sở hạ tầng gắn kèm; và các kiểm soát hệ thống được xác định

Thực hiện công việc Là quá trình phân tích hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp, xác định các yêu cầu quản lý và thông tin từ người sử dụng, tìm hiểu hệ thống thông tin hiện hành để đưa ra quyết định tái cấu trúc qui trình kinh doanh

và quản lý phù hợp cũng như đưa ra quyết định chọn hệ thống ERP và nhà cung cấp phù hợp, xác định các chính sách kiểm soát Đây là nền tảng cốt lõi cho sự

Ngày đăng: 15/10/2016, 21:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình kiểm soát CobiT  P0F 1 P  làm nền tảng để triển khai xây dựng kiểm soát các nhân tố - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Hình ki ểm soát CobiT P0F 1 P làm nền tảng để triển khai xây dựng kiểm soát các nhân tố (Trang 10)
Bảng 1.1. Đặc tính chất lượng thông tin theo tổng hợp của Knight và Burn - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 1.1. Đặc tính chất lượng thông tin theo tổng hợp của Knight và Burn (Trang 19)
Bảng 1.3. Ảnh hưởng ERP tới hệ thống và chất lượng thông tin kế toán - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 1.3. Ảnh hưởng ERP tới hệ thống và chất lượng thông tin kế toán (Trang 29)
Hình 2.1. Mô hình Hệ thống hoạt động  Nguồn (Alter, 2002) - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Hình 2.1. Mô hình Hệ thống hoạt động Nguồn (Alter, 2002) (Trang 33)
Bảng 2.2. Các thành phần hệ thống ERP theo góc nhìn hệ thống hoạt động - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 2.2. Các thành phần hệ thống ERP theo góc nhìn hệ thống hoạt động (Trang 37)
Hình 2.2. Qui trình phân loại rủi ro của Alter - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Hình 2.2. Qui trình phân loại rủi ro của Alter (Trang 37)
Bảng 2.4. Mô tả thống kê các thành phần nhân tố - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 2.4. Mô tả thống kê các thành phần nhân tố (Trang 65)
Bảng 2.5. Kết quả xử lý xoay dữ liệu, xác định nhân tố mới - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 2.5. Kết quả xử lý xoay dữ liệu, xác định nhân tố mới (Trang 67)
Bảng 2.6. Xếp hạng nhân tố mới khám phá - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 2.6. Xếp hạng nhân tố mới khám phá (Trang 71)
Hình 3.2. Các chiều của CobiT - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Hình 3.2. Các chiều của CobiT (Trang 78)
Hình 3.5. Quan hệ giữa các thành phần CobiT - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Hình 3.5. Quan hệ giữa các thành phần CobiT (Trang 81)
Bảng 3.1. Trách nhiệm thực hiện kiểm soát nhân tố “Năng lực Ban quản lý và - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 3.1. Trách nhiệm thực hiện kiểm soát nhân tố “Năng lực Ban quản lý và (Trang 90)
Bảng 3.4. Trách nhiệm thực hiện kiểm soát “Chất lượng phần mềm ERP” - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 3.4. Trách nhiệm thực hiện kiểm soát “Chất lượng phần mềm ERP” (Trang 96)
Bảng 3.3. Trách nhiệm thực hiện kiểm soát “Chất lượng dữ liệu” - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 3.3. Trách nhiệm thực hiện kiểm soát “Chất lượng dữ liệu” (Trang 96)
Bảng 3.6. Trách nhiệm thực hiện kiểm soát “Huấn luyện, đào tạo nhân viên” - Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 3.6. Trách nhiệm thực hiện kiểm soát “Huấn luyện, đào tạo nhân viên” (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w