Sự nghiệp đổi mới, phát triển của đất nước ta đã làm cho xã hội thay đổi toàn diện trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, xã hội và lối sống. Xã hội phát triển một mặt đem đến cho con người những thuận lợi và cơ hội để phát huy tiềm năng của bản thân. Mặt khác, mang lại cho con người những khó khăn, thách thức đòi hỏi con người phải trang bị cho mình cả kiến thức và những kỹ năng hành động cần thiết để giải quyết và nỗ lực vượt qua. Trong những kỹ năng hành động đó, KNS có vai trò rất quan trọng, nó góp phần bảo đảm thành công cho mọi hoạt động mà con người tham gia vào đó. Khả năng càng cao, cơ hội thành công của con người chủ thể xã hội càng lớn, sự nghiệp xây dựng và bảo về Tổ quốc càng phát triển. Đảng ta khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp”
Trang 1BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ KIM THOA
HÌNH THÀNH KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC VIÊN
HỌC VIỆN KĨ THUẬT QUÂN SỰ
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ : 60 31 04 01
HÌNH THÀNH KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC VIÊN
HỌC VIỆN KĨ THUẬT QUÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
HÌNH THÀNH KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC VIÊN
HỌC VIỆN KĨ THUẬT QUÂN SỰ
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ : 60 31 04 01
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SỐNG CỦA
HỌC VIÊN HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ
13
1.2 Những kỹ năng sống cần hình thành cho học viên và
các tiêu chí đánh giá kỹ năng sống của học viên Họcviện Kỹ thuật Quân sự
29
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hình thành kỹ năng sống của
học viên Học viện Kỹ thuật Quân sự
37
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP TÂM LÝ XÃ
HỘI HÌNH THÀNH KỸ NĂNG SỐNG CHO
HỌC VIÊN HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ
46
2.1 Thực trạng kỹ năng sống của học viên Học viện Kỹ
thuật Quân sự
46
2.2 Biện pháp tâm lý xã hội hình thành kỹ năng sống cho
học viên Học viện Kỹ thuật Quân sự
61
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp đổi mới, phát triển của đất nước ta đã làm cho xã hội thay đổitoàn diện trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, xã hội và lối sống Xã hội pháttriển một mặt đem đến cho con người những thuận lợi và cơ hội để phát huytiềm năng của bản thân Mặt khác, mang lại cho con người những khó khăn,thách thức đòi hỏi con người phải trang bị cho mình cả kiến thức và những kỹnăng hành động cần thiết để giải quyết và nỗ lực vượt qua Trong những kỹnăng hành động đó, KNS có vai trò rất quan trọng, nó góp phần bảo đảm thànhcông cho mọi hoạt động mà con người tham gia vào đó Khả năng càng cao, cơhội thành công của con người - chủ thể xã hội càng lớn, sự nghiệp xây dựng vàbảo về Tổ quốc càng phát triển Đảng ta khẳng định: “Phát triển giáo dục làquốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theohướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế,trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán
bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục - đàotạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thựchành, khả năng lập nghiệp” [22, tr.130-131]
Trong quá trình học tập và rèn luyện, học viên phải tiếp xúc, xử lí rấtnhiều tình huống, giải quyết nhiều mối quan hệ đa dạng phong phú, tinh tế, nhạycảm của con người trong một môi trường nghiêm ngặt về điều lệnh và kỷ luật
Vì thế có KNS tốt, giao tiếp, ứng xử đúng chuẩn mực, có văn hóa là nhân tố hếtsức quan trọng để học viên hình thành hoàn thiện các phẩm chất nhân cách,hoàn thành nhiệm vụ học tập, rèn luyện xứng đáng là người sỹ quan mẫu mựctrong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ cũng như trong lối sống ở đơn vị cơ sở
Sự hình thành KNS của người học viên sĩ quan là quá trình phức tạp lâudài, thông qua hoạt động bồi dưỡng, giáo dục và tự bồi dưỡng, giáo dục, rènluyện ở mỗi người Tuy nhiên, nếu sớm được quan tâm, nhận thức và có các giảipháp hữu hiệu để hình thành KNS ngay trong quá trình đào tạo, người học sẽ cónền tảng vững chắc về phương thức sống, cách ứng xử, xử sự đúng, và hiệu quảtrong các mối quan hệ để khi ra trường họ có đủ khả năng đáp ứng ngay chohoạt động nghề nghiệp quân sự, một hoạt động đòi hỏi rất cao về KNS
Trang 6Hiện nay, cùng với quá trình đổi mới nội dung, chương trình, phương phápđào tạo, HVKTQS đã quan tâm, chú ý đến việc hình thành, bồi dưỡng KNS cho
học viên Các KNS cơ bản được gắn kết với các cuộc vận động: “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, “Dạy thực chất, học thực chất, chính qui, mẫu mực”, “Phát huy truyền thống cống hiến tài năng”, “Thanh niên với văn hóa và
kỷ luật của quân đội” Từ đó, đã phát huy được tính tích cực, năng động, sáng
tạo của học viên, kết quả học tập, rèn luyện không ngừng được nâng cao, tinhthần, trách nhiệm, ý chí quyết tâm, cách xử sự các mối quan hệ có nhiều chuyểnbiến tích cực KNS của học viên từ sự nhận thức và chuyển hoá hệ thống kiếnthức thành các hành vi cụ thể trong giải quyết các mối quan hệ trên thực tế đãhiệu quả hơn, đã xuất hiện nhiều nhân tố mới phù hợp với những biến đổi của môitrường sống hiện nay
Trong những năm qua, lãnh đạo, chỉ huy HVKTQS đã thường xuyên quantâm, chỉ đạo, hướng dẫn, bồi dưỡng, phát triển phẩm chất, năng lực, KNS chohọc viên Học viên tốt nghiệp ra trường công tác tại các đơn vị đã biết vận dụngnhững tri thức, kinh nghiệm, kỹ xảo vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt
ra Tuy nhiên, trong thực tế KNS của học viên vẫn còn nhiều hạn chế bất cập.Khả năng ứng xử, giao tiếp, giải quyết các mối quan hệ chưa thực sự linh hoạt,dập khuôn, máy móc Trước những tác động tiêu cực và sự suy thoái về đạo đứclối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, học viên chưa đượcchuẩn bị chu đáo, toàn diện các KNS cơ bản Trên các bình diện của cuộc sống
họ còn biểu hiện lúng túng, hời hợt về nội dung, cứng nhắc về phương pháp.Nghiên cứu KNS là một vấn đề phức tạp, cho đến nay còn nhiều quan điểmkhác nhau KNS, các hướng khai thác nó trong thực tiễn và cuộc sống KNS chủyếu được nghiên cứu ở góc độ giáo dục, quản lý giáo dục, còn ở góc độ tâm lýhọc, KNS ít được quan tâm, nghiên cứu, đặc biệt trong thời gian qua và hiện naychưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống vấn đề KNScủa học viên ở HVKTQS Xuất phát từ những lí do nêu trên, tác giả lựa chọn đề
tài: “Hình thành kỹ năng sống cho học viên Học viện Kỹ thuật Quân sự” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp
Trang 72 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề kỹ năng, kỹ năng sống đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước tậptrung nghiên cứu
* Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Có thể nhận định rằng trong những thập kỷ qua, vấn đề kỹ năng sống đãđược nhiều nước trên thế giới quan tâm Kỹ năng sống bắt đầu xuất hiện trongmột số chương trình giáo dục của UNICEF Trước tiên là chương trình “giáodục những giá trị sống” (Living values) Chương trình này được UNESCO, Ủyban UNICEF của Tây Ban Nha và Hiệp hội hành tinh, tổ chức Brahma và cácchuyên gia giáo dục UNICEF (New York) tham gia Tập hợp các tài liệu, chúng
tôi nhận thấy các kỹ năng sống được quan tâm trong lao động, công việc, trong
hành nghề Theo hướng này có thể kể đến các công trình nghiên cứu về kỹ năng
sống được đặc biệt chú ý Cụ thể là:
Năm 1989, Bộ lao động Mỹ thành lập một Ủy ban thư ký về rèn luyện các
kỹ năng cần thiết Thành viên của Ủy ban đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như:giáo dục, kinh doanh, người lao động nhằm mục đích thúc đẩy nền kinh tếbằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao [58, tr.1]
Nghiên cứu của Bộ phát triển Nguồn Nhân lực và Kỹ năng Canada(Human Resources and Skills Development Canada - HRSDC) với nhiệm vụxây dựng nguồn nhân lực mạnh và có năng lực cạnh tranh, giúp người Canadanâng cao năng lực ra quyết định và năng suất làm việc để nâng cao chất lượng cuộcsống Bộ này cũng có những nghiên cứu để đưa ra danh sách các kỹ năng cần thiếtđối với người lao động Conference Board of Canada là một tổ chức phi lợi nhuậncủa Canada dành riêng cho nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế cũng nhưnăng lực hoạt động các tổ chức và các vấn đề chính sách
Tổ chức này đã nghiên cứu và đưa ra danh sách các kỹ năng hành nghềcho thế kỉ 21 (employability skills 2000) bao gồm các kỹ năng như: Kỹ nănggiao tiếp; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng tư duy và hành vi tích cực; kỹnăng thích ứng; kỹ năng làm việc với con người; kỹ năng nghiên cứu khoa học,công nghệ và toán [58, tr.3]
Trang 8Tác giả Stephen R.Covey đã viết cuốn “7 habits of Highly Effective
People” (7 thói quen của người thành đạt) Đây là một cuốn sách đã nổi tiếng từ
hàng chục năm nay trên khắp thế giới Tác giả muốn giới thiệu một phươngpháp kết hợp toàn diện và thực tiễn để giải quyết các vấn đề về tính cách conngười và sự nghiệp Tác giả cho thấy từng bước của con đường phải đi để sốngmột cuộc đời trung thực, nhất quán, lương thiện và xứng với nhân phẩm Gồm 7thói quen: 1- Luôn chủ động; 2- Bắt đầu bằng định hướng tương lai; 3- Việcquan trọng làm trước; 4- Lợi người - lợi ta; 5- Hiểu rồi được hiểu; 6- Cùng hiệpđồng; 7- Sự tương hỗ lẫn nhau Như vậy, nội dung cuốn sách cho người đọc thấyđược những giá trị sống cơ bản để sống thành công
Năm 2002, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia BCA) và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (The Australian Chamber ofCommerce and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo vàKhoa học (the Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồnggiáo dục quốc gia Úc (the Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất
-bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và
kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có Kỹ năng hành nghề(employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà cònđể tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vàođịnh hướng chiến lược của tổ chức
Các kỹ năng hành nghề bao gồm có 8 kỹ năng như sau: kỹ năng giao tiếp;
kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng sáng tạo và mạohiểm; kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc; kỹ năng quản lý bản thân; kỹnăng học tập; kỹ năng công nghệ [58, tr.2]
Một nghiên cứu gần đây của Bộ Lao động Mỹ (The U.S Department of Labor)cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training andDevelopment) đã nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc Kết luận đượcđưa ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc:
1 Kỹ năng học và tự học (learning to learn)
2 Kỹ năng lắng nghe (Listening skills)
Trang 93 Kỹ năng thuyết trình (Oral communication skills)
4 Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
5 Kỹ năng tư duy sáng tạo (Creative thinking skills)
6 Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn (Self esteem)
7 Kỹ năng đặt mục tiêu hoặc tạo động lực làm việc (Goal setting/motivation skills)
8 Kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp (Personal and careerdevelopment skills)
9 Kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ (Interpersonal skills)
10 Kỹ năng làm việc nhóm (Teamwork)
11 Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)
12 Kỹ năng tổ chức công việc (Organizational effectiveness)
13 Kỹ năng lãnh đạo bản thân (Leadership skills) [57, tr.15]
Như vậy, những nghiên cứu trên chú trọng đến việc hình thành và pháttriển những kỹ năng sống cơ bản trong công việc, trong lao động để có thể đemlại hiệu quả cao, còn các lĩnh vực khác như trong giáo dục, sức khỏe ít đượcquan tâm và nghiên cứu
Chính phủ Anh có cơ quan chuyên trách về phát triển kỹ năng cho ngườilao động Cơ quan chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn (Qualification andCurriculum Authority) cũng đưa ra danh sách các kỹ năng quan trọng bao gồm:
kỹ năng tính toán; kỹ năng giao tiếp; kỹ năng tự học và nâng cao năng lực cánhân; kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; kỹ năng giải quyếtvấn đề; kỹ năng làm việc với con người [58, tr.3]
Cục phát triển lao động WDA (Workforce Development Agency) củaSinggapore đã nghiên cứu và thiết lập hệ thống các kỹ năng hành nghề ESS(Singgapore Employability Skills System) gồm 10 kỹ năng: kỹ năng công sở vàtính toán; kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; kỹ năng giảiquyết vấn đề và ra quyết định; kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm; kỹ năng giao tiếp
và quản lý quan hệ; kỹ năng học tập suốt đời; kỹ năng tư duy mở toàn cầu; kỹ
Trang 10năng tự quản lý bản thân; kỹ năng tổ chức công việc; kỹ năng an toàn lao động
và vệ sinh sức khỏe [58, tr.4]
Nhìn chung, các nước trên đã quan tâm đến việc hình thành các kỹ năngcần thiết cho người lao động, giúp họ có khả năng làm việc tốt và nâng cao chấtlượng cuộc sống Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến việc phát triển kỹ năng sống
cơ bản cho người lao động thì chưa đủ mà cần quan tâm đến việc phát triển KNScho các lứa tuổi khác nhau, trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống
* Các công trình nghiên cứu trong nước về kĩ năng sống
Thuật ngữ kỹ năng sống được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chươngtrình của UNICEF năm 1996 “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe vàphòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Quanniệm về kỹ năng sống được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồmnhững kỹ năng cốt lõi như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xácđịnh giá trị, kỹ năng ra quyết định nhằm vào những chủ đề giáo dục sức khỏe
do các chuyên gia Úc tập huấn Tham gia chương trình này đầu tiên có ngànhGiáo dục và Hội Chữ thập đỏ Tập hợp các tài liệu, chúng tôi nhận thấy kỹ năngsống được thể hiện ở một số điểm nổi bật sau:
Dự án VIE 01/009: “Nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi cho thanh
niên Việt Nam trong phòng chống HIV/ AIDS dựa trên cơ sở cộng đồng” triển
khai từ tháng 8/2001 tại 8 xã, phường, 4 huyện, thị của tỉnh Cần Thơ và Hà Tĩnhvới mục tiêu nâng cao năng lực quản lý và chuyên môn cho cán bộ Đoàn Thanhniên các cấp trong việc xây dựng các hoạt động phòng tránh AIDS dựa trên cơ
sở cộng đồng, thực hiện các hoạt động giáo dục phòng chống AIDS và kỹ năngsống dựa vào cộng đồng để nâng cao nhận thức và khuyến khích thay đổi hành
vi cho nhóm có nguy cơ cao [8, tr.86]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn đã xuất bản cuốn: “Bạn trẻ và kỹ năng sống”
(2009) Nội dung cuốn sách bàn đến vấn đề hành trang cần có của thanh niênhiện đại đó là kỹ năng sống Tác giả đưa ra những kỹ năng sống cần thiết chothanh niên là: Tự đánh giá mình, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng tác động đếntâm lý của người khác, kỹ năng hợp tác, lắng nghe, kỹ năng biết chấp nhậnngười khác [42]
Trang 11Tác giả Nguyễn Thị Oanh đã xuất bản cuốn “Kỹ năng sống cho tuổi vị
thành niên” (2005) Cuốn sách đề cập đến những kỹ năng tâm lí xã hội cơ bản
và tuổi vị thành niên (sống có mục đích, các mối quan hệ và giao tiếp, làm chủcảm xúc và quản lý stress ) [38]
Bài viết của tác giả Nguyễn Quang Uẩn bàn về: “Khái niệm kỹ năng sống
xét dưới góc độ tâm lý học” (2008) Tác giả đã đưa ra khái niệm “Kỹ năng sống
là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và quan hệ với bản thân, với xã hội có kết quả trong những điều kiện xác định của cuộc sống” và cách phân loại
kỹ năng sống gồm: nhóm kỹ năng sống hướng vào bản thân, nhóm kỹ năng sốnghướng vào các quan hệ, nhóm kỹ năng sống hướng vào công việc [55]
Tác giả Nguyễn Thị Oanh đã xuất bản cuốn: “10 cách thức rèn kỹ năng sống
cho tuổi vị thành niên” (2008) Cuốn sách đã nêu lên một số vấn đề chung về kỹ
năng sống và 10 cách thức rèn kỹ năng sống cho lứa tuổi vị thành niên [39]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn đã viết cuốn “Nhập môn kỹ năng sống” (2009) Tác
giả đã chỉ ra khái niệm kỹ năng sống, những kỹ năng sống cơ bản gồm 24 kỹ năng:
kỹ năng tự đánh giá; kỹ năng xác lập mục đích cuộc sống; kỹ năng phán đoán cảmxúc của người khác; kỹ năng kiềm chế cảm xúc [44]
Luận án tiến sĩ Tâm lý học của Nguyễn Thị Huệ: “Kỹ năng sống của học
sinh trung học cơ sở”, (2012) Tác giả đề cập đến hệ thống cơ sở lý luận kỹ
năng sống của học sinh trung học cở sở; phân loại kỹ năng sống thành 3 nhóm:nhóm kỹ năng sống hướng vào bản thân, nhóm kỹ năng sống hướng vào cácquan hệ, nhóm kỹ năng hướng vào công việc; biểu hiện kỹ năng sống cơ bản củahọc sinh trung học cơ sở; xác định các tiêu chí đánh giá kỹ năng sống Trên cớ
sở đó, đề xuất biện pháp tâm lý sư phạm giáo dục kỹ năng sống cho học sinhtrung học cơ sở [29]
Đề tài khoa học: “Thực trạng biểu hiện của một số xúc cảm và kỹ năng
đương đầu với cảm xúc tiêu cực ở thiếu niên” do trường Đại học Sư phạm Hà
Nội thực hiện năm 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện tượng bạo lực họcđường, hành vi xâm kích, gây rối trật tự xã hội của thanh thiếu niên gia tăng do
Trang 12nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do trẻ thiếu khả năng chế ngự các cảm xúccủa bản thân
Một nghiên cứu đáng chú ý là Luận văn thạc sĩ Tâm lý học của Lò Vũ
Điệp: “Kỹ năng sống của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú huyện Mai
Sơn” (2010) Tác giả tập trung nghiên cứu kỹ năng sống, biểu hiện một số kỹ
năng sống cơ bản: Kỹ năng tự nhận thức bản thân, kỹ năng giao tiếp, kỹ năngứng phó với căng thẳng và vai trò của kỹ năng sống đối với sự hình thành, pháttriển nhan cách của học sinh trung học cơ sở dân tộc ít người
Luận văn thạc sĩ Tâm lý học của Nguyễn Thị Thanh Nhàn: “Kỹ năng
sống của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội”, (2010) Tác giả tập trung nghiên
cứu kỹ năng sống, phân loại kỹ năng sống và biểu hiện cụ thể của một số kỹnăng sống cơ bản như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng phó với căng thẳng, kỹnăng tự nhận thức bản thân, kỹ năng thiết lập mục tiêu,…
Luận văn thạc sĩ Tâm lý học của Nguyễn Hữu Long: “Kỹ năng sống của học
sinh trung học cơ sở thành phố Hồ Chí Minh” (2011) Tác giả tập trung nghiên cứu
4 nhóm kỹ năng: Nhóm kỹ năng tự nhận thức bản thân; Nhóm kỹ năng giao tiếpứng xử; kỹ năng hợp tác và chia sẻ; Nhóm kỹ năng phân biệt hành vi hợp lý vàchưa hợp lý Kết quả nghiên cứu cho thấy các em bước đầu hình thành những quanniệm cơ bản về kỹ năng sống, đồng thời nhận thức được kỹ năng sống là hành vicon người thể hiện khi ứng phó với những tình huống diễn ra trong cuộc sống, dựatrên những phẩm chất tâm lý và kinh nghiệm cá nhân Bên cạnh đó, các em nhậnđịnh được những nguyên nhân chính dẫn đến việc thiếu kỹ năng sống là do chưa có
sự hòa hợp trong giao tiếp giữa các em với cha mẹ, thầy cô Đồng thời, cũng bị ảnhhưởng bởi lối sống, quan niệm sống từ bạn bè cùng lớp, từ phương tiện thông tinđại chúng
Luận văn thạc sĩ Tâm lý học của Nguyễn Kim Anh: “Kỹ năng sống của
học sinh tiểu học ở Hà Nội, 2012 Tác giả tập trung nghiên cứu 6 kỹ năng sống
cơ bản của học sinh tiểu học như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức bảnthân, kỹ năng hợp tác, kỹ năng kiềm chế cảm xúc, kỹ năng lắng nghe, kỹ năngquản lý thời gian Đồng thời, tác giả phân chia mức độ kỹ năng sống, đưa ra một
số tác động tâm lý nhằm hình thành KNS cho học sinh tiểu học ở Hà Nội
Trang 13Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về KNS trên thế giới và ở ViệtNam Trên thực tế những nghiên cứu về KNS ở Việt Nam mới chỉ được nghiêncứu, tìm hiểu trong thời gian gần đây với số lượng còn hạn chế Những nghiêncứu tập trung chủ yếu vào mặt giáo dục KNS cho học sinh, sinh viên, còn việctìm hiểu KNS dưới góc độ tâm lý học lại rất ít nghiên cứu Như vậy, ở góc độtâm lý học, KNS vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ Vì vậy, theo chúng tôinghiên cứu KNS dưới góc độ tâm lý học trong môi trường hoạt động quân sự nóichung, ở HVKTQS nói riêng vẫn là một lĩnh vực đầy tiềm năng cần khai phá vàquan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lí luận và thực tiễn về KNS của học viên
ở HVKTQS, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp hình thành KNS cho học viên ở
HVKTQS hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lí luận về KNS của học viên ở HVKTQS
- Phân tích, đánh giá thực trạng KNS và hình thành KNS của học viên ở
HVKTQS hiện nay.
- Đề xuất các biện pháp hình thành KNS cho học viên ở HVKTQS
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Kỹ năng sống của học viên HVKTQS.
* Khách thể nghiên cứu: Giảng viên, cán bộ quản lý, học viên quân sự ở
HVKTQS
* Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biểu hiện KNS
và các yếu tố ảnh hưởng đến KNS của học viên đào tạo kĩ sư quân sự ởHVKTQS
Thời gian nghiên cứu và các số liệu điều tra, khảo sát được tính trong 5năm (từ 2011-2015)
Trang 145 Giả thuyết khoa học
KNS của học viên quân sự ở HVKTQS là một phẩm chất tâm lý đặc biệtquan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện củahọc viên Nếu làm rõ được những vấn đề lí luận về KNS của học viên, phân tích,đánh giá được thực trạng KNS của học viên ở HVKTQS, đồng thời tiến hành
đồng bộ các biện pháp tâm lí - xã hội thì sẽ hình thành được các KNS cần thiết cho
học viên góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, rèn luyện của học viên
ở HVKTQS
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận vàphương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quanđiểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; Nghị quyết của Quân ủy Trungương; các Chỉ thị hướng dẫn của Cục nhà trường về công tác giáo dục và đào tạo;Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện Kỹ thuật quân sự lần thứ 8 (2010 -2015); các nguyên tắc phương pháp luận của Tâm lý học Mác-xít như: nguyên tắcquyết định luận duy vật các hiện tượng tâm lý, nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý
- ý thức và hoạt động, nguyên tắc phát triển tâm lí, nguyên tắc tiếp cận nhân cách.Các phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng kết hợp các phương phápcủa tâm lý học Mác-xít, bao gồm: Phương pháp điều tra; phương pháp trắcnghiệm; phương pháp quan sát; phương pháp tọa đàm, phỏng vấn; phương phápphân tích kết quả hoạt động; phương pháp chuyên gia và phương pháp xử lý sốliệu bằng thống kê toán học
7 Ý nghĩa của đề tài
Luận văn góp phần luận giải một cách hệ thống những vấn đề lý luận vàthực tiễn về KNS của học viên quân sự ở HVKTQS
Đề xuất được các biện pháp nhằm hình thành KNS cho học viên ởHVKTQS hiện nay Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ giảngviên và những người lãnh đạo, quản lý trong các nhà trường quân đội
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (5 tiết), kết luận, kiến nghị, danhmục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 15Quan niệm thứ nhất: coi kỹ năng là mặt kỹ thuật thao tác hành động hay
hoạt động Đại diện cho quan niệm này là các tác giả như: Ph.N.Gônôbôlin,V.A.Cruchetxki, V.X.Cudin, A.G.Côvaliôv Các tác giả này cho rằng, muốnthực hiện được một hành động cá nhân phải có tri thức về hành động đó, tức làphải hiểu được mục đích, phương thức và các điều kiện để thực hiện nó Vì vậy,nếu ta nắm được các tri thức về hành động, thực hiện được nó trong thực tiễn là
ta đã có kỹ năng hành động
Ph.N.Gônôbôlin (1973) cho rằng: Kỹ năng là những phương thức tương
đối hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kì nào đó Các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo-những cái được con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động [Dẫn theo 29].
V.A.Cruchetxki (1980) cho rằng: “Kỹ năng là phương thức thực hiện
hoạt động- cái mà con người lĩnh hội được” [Dẫn theo 29]
A.G Covaliov quan niệm: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động
phù hợp với mục đích và điều kiện hành động” [15].
Như vậy, các quan niệm nói trên nhấn mạnh mặt kỹ thuật của kỹ năng, coi
kỹ năng như là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điềukiện hành động, họ chưa nói tới kết quả hành động
Trang 16Quan niệm thứ hai: coi kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành
động mà nó còn là khả năng của cá nhân trong hoạt động Kỹ năng theo quanniệm này vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tínhmục đích Đại diện cho quan niệm này là các tác giả: N.D.Lêvitôv,V.V.Bôgôvlovxki, X.I.Kixegof, K.K.Platônôv, A.V.Barabasicoov
A.V.Barabasicov cho rằng: Kỹ năng là khả năng sử dụng tri thức và các
kỹ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo trong quá trình của hoạtđộng thực tiễn Khả năng này là khả năng tự tạo của con người Vì vậy, kỹ năngchỉ có ở con người (con vật hoàn toàn không có kỹ năng mà chỉ có kỹ xảo)
Theo K.K.Platônôv thì người có kỹ năng không chỉ hành động có kết quả
trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt được kết quả tương tự trong những
điều kiện khác nhau Do vậy, theo ông “Kỹ năng là khả năng của con người
thực hiện một hành động bất kì nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm- những cái đã được lĩnh hội từ trước Hay nói cách khác kỹ năng được hình thành trên cơ sở của tri thức và kỹ xảo” [Dẫn theo 29, tr.20].
A.V.Pêtrôvski quan niệm: “Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức
hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định, được gọi là các kỹ năng” [Dẫn theo 29, tr.20].
Quan niệm của các nhà giáo dục Việt Nam như: Nguyễn Ánh Tuyết, NgôCông Hoàn, Lê Văn Hồng, Nguyễn Quang Uẩn cũng tương tự như quan niệmcủa các tác giả nói trên
Tác giả Lê Văn Hồng có viết: Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái
niệm, cách thức, phương pháp) để giải quyết một nhiệm vụ mới [28, tr.68].
Trong Từ điển tiếng Việt, kỹ năng được định nghĩa theo quan điểm thứ
hai như sau: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được
trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [Dẫn theo 29].
Tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có
kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm
đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ
Trang 17đơn thuần về mặt kỹ thuật mà còn là biểu hiện năng lực của con người” [44,
tr.7]
Trong Từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên đã định nghĩa, kỹ năng
là năng lực vận dụng vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã đực chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng [18,
tr.131]
Giáo trình Tâm lý học quân sự (1998) xác định kỹ năng là trình độ vận
dụng đúng đắn các kiến thức và kỹ xảo đã có một cách sáng tạo để giải quyết nhiệm vụ trong mọi tình huống [53, tr.454].
Trong Từ điển Tâm lý học quân sự (2006) đã định nghĩa kỹ năng là năng
lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng [60, tr.166] Đồng thời còn
phân chia kỹ năng thành hai cấp độ là kỹ năng bậc thấp và kỹ năng bậc cao, mà
sự khác biệt giữa chúng là mức độ vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong nhữnghoàn cảnh, điều kiện biến đổi phức tạp
Như vậy theo khuynh hướng này, kỹ năng không chỉ được hiểu là kỹ thuật
mà còn đem lại kết quả cho hoạt động Đây là quan niệm tương đối toàn diện vàkhái quát về kỹ năng
Quan niệm thứ ba: coi kỹ năng là hành vi ứng xử.
Trong vài năm gần đây, một cách tiếp cận khá mới mẻ về kỹ năng đượcnhiều nhà nghiên cứu chú ý Kỹ năng được coi là hành vi ứng xử của cá nhân.Chẳng hạn, S.A.Morales & W.Sheator (1987) đã nhấn mạnh ảnh hưởng của thái
độ, niềm tin của cá nhân trong kỹ năng [Dẫn theo 29] Còn J.N.Richard (2003)coi kỹ năng là hành vi thể hiện ra hành động bên ngoài và chịu sự chi phối củacách cảm nhận và suy nghĩ của cá nhân [Dẫn theo 29] Kỹ năng không chỉ là kỹthuật hành động, là kết quả của hành động mà còn là thái độ, giá trị của cá nhânđối với hoạt động Cách tiếp cận này tương đối toàn diện, xem xét kỹ năng trong
sự liên kết giữa tri thức, kinh nghiệm, phương thức hành động với các giá trị thái
độ, chuẩn mực, động cơ hành động của cá nhân Đây là một quan niệm đángquan tâm và phù hợp với kỹ năng nghề nghiệp Tuy nhiên, coi kỹ năng là hành
Trang 18vi, các tác giả chưa quan tâm nhiều đến mặt kỹ thuật của nó Hiểu kỹ năng theocách này có thể sẽ gặp khó khăn trong việc đào tạo kỹ năng và thiết kế các công
cụ đo lường đánh giá chúng
Bất kỳ kỹ năng về một hoạt động nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết
Cơ sở lý thuyết đó là kiến thức Sở dĩ như vậy là vì xuất phát từ cấu trúc của kỹnăng (phải hiểu mục đích, biết cách thức đi đến kết quả và hiểu những điều kiệncần thiết để triển khai các cách thức đó) Nói cách khác có kỹ năng con ngườimới sử dụng được tri thức một cách tự giác và có chủ định, mới biết lựa chọncác biện pháp cần thiết, phù hợp với từng hoàn cảnh và vận dụng các biện đóvào hoạt động để đạt mục đích
Như vậy, có thể rút ra nhận xét chung về kỹ năng như sau: Kỹ năng là
khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có vào việc thực hiện có hiệu quả những hành động, hoạt động khác tương tự.
Xem xét kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật hành động mà còn
là khả năng của chủ thể hành động Như vậy, người có kỹ năng hành động trong mộtlĩnh vực hoạt động nào đó được biểu hiện ở những dấu hiệu sau:
- Kỹ năng được biểu hiện trong hành động và hoạt động của cá nhân
- Kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm và các giá trị phùhợp với điều kiện hoạt động
- Sự vận dụng kỹ năng phải đem lại kết quả cho hoạt động
- Có thể thực hiện hành động, hoạt động có kết quả trong những điều kiện
đã thay đổi Nghĩa là, kỹ năng đòi hỏi con người phải có tri thức, kinh nghiệmcần thiết về hành động Kỹ năng chỉ có được khi con người vận dụng những trithức kinh nghiệm đó vào hoạt động thực tiễn một cách có kết quả
* Kỹ năng sống
Khi quan niệm về KNS có rất nhiều quan niệm khác nhau, một số tổ chứcquốc tế đã định nghĩa khái niệm KNS như sau:
UNESCO cho rằng: KNS là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy
đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày.
Trang 19Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) coi kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý
xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày
để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả nhữngvấn đề, những tình huống trong cuộc sống hàng ngày
Một số nhà nghiên cứu có quan điểm gần tương đồng với quan niệm của
WTO cho rằng, KNS là những kỹ năng tâm lí xã hội liên quan đến những tri
thức, những giá trị và thái độ, được thể hiện bằng những hành vi giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả các yêu cầu, các thách thức đặt ra của cuộc sống và thích nghi với cuộc sống.
Bốn trụ cột trong giáo dục tiếp cận KNS đó chính là sự kết hợp các KN tâm
lý xã hội: học để biết là KN sống liên quan đến tri thức; học để tự khẳng định là
kỹ năng sống liên quan đến giá trị; học để chung sống là kỹ năng liên quan đếnthái độ KNS, theo đó là những năng lực đáp ứng và những hành vi tích cực giúpcho cá nhân có thể giải quyết có hiệu quả những vấn đề những tình huống củacuộc sống KNS là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợpvới cách ứng xử tích cực, giúp cho con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệuquả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày Quan niệm chorằng, KNS là năng lực để thực hiện đầy đủ các chức năng của cuộc sống có nộihàm rộng hơn, đây là cơ sở để tiếp cận điểm riêng trong phân loại KNS
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến nhiều từ chương trình củaUNICEF “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS chothanh niên trong và ngoài nhà trường” Khái niệm KNS được giới thiệu trongchương trình này bao gồm những KNS cốt lõi như: kỹ năng tự nhận thức, kỹnăng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiênđịnh và kỹ năng đạt mục tiêu Tham gia chương trình đầu tiên này có ngànhGiáo dục và Hội chữ thập đỏ Sang giai đoạn 2 chương trình này mang tên:
“Giáo dục sống khoẻ mạnh và KNS” Ngoài ngành giáo dục còn có Trung ươngĐoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam Hộiliên hiệp phụ nữ đã định nghĩa như sau: KNS là các kỹ năng thiết thực mà conngười cần đến để có cuộc sống an toàn, khoẻ mạnh và hiệu quả Theo họ những
kỹ năng cơ bản như: kỹ năng ra quyết định, kỹ năng từ chối, kỹ năng thương
Trang 20thuyết, đàm phán, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng nhận biết…ở đây kỹ năng giaotiếp được phân nhỏ để chị em phụ nữ dễ hiểu hơn Khái niệm KNS được hiểuvới nội hàm đầy đủ và đa dạng hơn sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS”được tổ chức từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội Đó là:Năng lực thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàngngày
Hành vi làm cho cá nhân thích ứng và giải quyết có hiệu quả các tháchthức của cuộc sống
Những kỹ năng liên quan đến tri thức, những giá trị
Năng lực đáp ứng và những hành vi tích cực giúp con người có thể giảiquyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống
Từ những quan niệm trên có thể thấy các quốc gia đều dựa trên quan niệm
về KNS của các tổ chức quốc tế (WHO, UNESCO, UNICEF) nhưng có tínhkhác biệt do điều kiện chính trị, kinh tế văn hoá của từng quốc gia Nội dunggiáo dục KNS vừa đáp ứng những cái chung có tính chất toàn cầu vừa có tínhđặc thù quốc gia Một số quốc gia coi trọng một số kỹ năng như: kỹ năng tư duy,
kỹ năng thích ứng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác và cạnh tranh, kỹ năngluân chuyển công việc Một số nước khác lại chú trọng đến kỹ năng xoá đóigiảm nghèo, kỹ năng phòng chống HIV/AIDS
KNS từ quan điểm giáo dục là tất cả những kỹ năng cần thiết trực tiếp giúp
cá nhân sống thành công và hiệu quả, trong đó tích hợp những khả năng, phẩmchất, hành vi tâm lý, xã hội và văn hoá phù hợp và đương đầu được với nhữngtác động của môi trường Những KNS cốt lõi cần nhấn mạnh là kỹ năng tư duy,
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng hợp tác và cạnh tranh, kỹ năngthích ứng cao, kỹ năng làm chủ bản thân, kỹ năng tự nhận thức …
Tiếp thu và kế thừa các quan điểm của các tổ chức quốc tế, ở Việt Namtrong một số tài liệu viết về KNS, một số tác giả quan niệm về KNS như sau:
Tác giả Nguyễn Thanh Bình quan niệm “KNS nhằm giúp chúng ta
chuyển dịch kiến thức “cái chúng ta biết” và thái độ, các giá trị “cái chúng ta
Trang 21nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành vi thực tế “làm gì và làm cách nào” là
tích cực nhất và mang tính chất xã hội [5, tr.10]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn trong tài liệu “Nhập môn kỹ năng sống” quan niệm: Hiểu một cách đơn giản, “KNS chính là n hững kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý-xã hội cơ bản giúp cho
cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống Những kỹ năng này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển KNS còn được xem như một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lý-xã hội, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống vốn chứa đựng nhiều thách thức nhưng cũng không thiếu các cơ hội” [44, tr.8].
Đứng trên phương diện tâm lý học, tác giả Nguyễn Quang Uẩn quan niệmcuộc sống của con người diễn ra bằng hoạt động sống Hoạt động sống diễn ravới sự đan xen của dòng “hoạt động có đối tượng” và mối quan hệ “giao tiếpứng xử” giữa con người với con người Hai mặt, hai phương diện nói trên đanxen, nương tựa hòa quyện vào nhau, chi phối, tác động qua lại lẫn nhau, tạo nêncuộc sống đích thực của mỗi con người trong cộng đồng Trong hệ thống các kỹnăng cơ bản có tính tổng hợp và phức tạp của hoạt động sống của con người có
KNS Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “KNS là một tổ hợp phức tạp của
một hệ thống các kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và quan hệ với bản thân, với người khác, với xã hội có kết quả trong những điều kiện xác định của cuộc sống” [55, tr.3].
Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về khái niệm
“kỹ năng sống” Vì thế ở mỗi quốc gia, mỗi ngành trong xã hội có thể hiểu kháiniệm “kỹ năng sống” theo nhiều cách khác nhau Lâu nay người ta bàn đến kháiniệm KNS từ các phương diện y tế, xã hội và giáo dục Tuy nhiên, ở góc độtâm lí học, chúng ta không thể không quan tâm tới khái niệm KNS có tính khoahọc và tính ứng dụng thực tiễn cao
Cuộc sống của con người diễn ra bằng hoạt động sống Hoạt động sốngdiễn ra với sự đan xen của dòng “hoạt động có đối tượng” và “mối quan hệ giaotiếp “ứng xử” giữa con người với con người Hai mặt, hai phương diện nói trên
Trang 22đan xen vào nhau, nương tựa vào nhau, chi phối, tác động qua lại lẫn nhau, tạo
nên cuộc sống đích thực của mỗi con người Trong hệ thống các kỹ năng cơ bản
có tính tổng hợp và phức tạp của hoạt động sống của con người có các KNS Từ
đó tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “KNS là một tổ hợp phức tạp của một
hệ thống các kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thựchiện công việc và tham gia vào cuộc sống hàng ngày có kết quả, trong nhữngđiều kiện xác định của cuộc sống ([55])
KNS vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội KNS mang tính cá nhân
vì đó là năng lực của từng cá nhân; KNS mang tính xã hội vì trong mỗi giaiđoạn phát triển của lịch sử xã hội, ở mỗi vùng miền khác nhau đòi hỏi cá nhâncần xác lập KNS phù hợp KNS không phải chỉ để giải quyết những vấn đề về tệnạn xã hội mà cơ bản giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
Tuy cách tiếp cận và diễn đạt về KNS có nhiều quan điểm ý kiến khácnhau cũng như nội hàm của khái niệm theo nghĩa rộng hẹp khác nhau, nhưng cóthể nhận thấy sự thống nhất hiểu KNS thuộc về phạm trù năng lực (hiểu kỹ năngtheo nghĩa rộng) Theo đó, KNS là năng lực bao hàm cả tri thức, thái độ và hành
vi, hành động trên lĩnh vực đó Đó là khả năng áp dụng những hiểu biết và kỹnăng để thực hiện, giải quyết có hiệu quả các vấn đề, kể cả trong những tìnhhuống mới của cuộc sống
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về KNS, trong nghiên cứu này chúng
tôi cho rằng: Kỹ năng sống là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các kỹ
năng nói lên khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện
công việc và các mối quan hệ xã hội trong những điều kiện xác định của cuộc sống.
Ở khái niệm này, nội hàm của KNS gồm các nội dung sau:
KNS là một tổ hợp các kỹ năng được hình thành trên cơ sở vận dụng nhữnghiểu biết, tri thức, kinh nghiệm và các giá trị phù hợp với điều kiện xác định củacuộc sống Đó là các hiểu biết về mục đích hành động, nắm được cách thức thựchiện hành động và các điều kiện thực hiện hành động
Trang 23KNS được biểu hiện trong hành động và hoạt động sống của cá nhân.Hoạt động sống có đặc điểm sau: mang tính tâm lý xã hội; tính xã hội, cộngđồng; tính giao tiếp liên nhân cách; tính nghề nghiệp, chuyên môn.
Kết quả của việc thực hiện KNS là giúp cá nhân có khả năng tự quyếtđịnh và lựa chọn phương thức thực hiện có hiệu quả nhất
KNS vừa mang tính cá nhân vừa mang tình xã hội KNS mang tính cánhân vì đó là khả năng của cá nhân KNS mang tính xã hội vì trong mỗi giaiđoạn phát triển của lich sử xã hội, ở mỗi vùng miền lại đòi hỏi mỗi cá nhân cónhững KNS thích hợp
Phân loại kỹ năng sống
Có nhiều quan niệm khác nhau về cách phân loại KNS:
- Cách phân loại theo Tổ chức Y tế thế giới WHO: phân thành 3 nhómKNS: Nhóm kỹ năng nhận thức; Nhóm kỹ năng cảm xúc; Nhóm kỹ năng xã hội
- Cách phân loại của Tổ chức Quĩ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF):Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình
Nhóm kỹ năng nhận thức và sống với người khác
Các kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả
- Cách phân loại của UNESCO: Chia KNS thành 2 nhóm kỹ năng lớn:Nhóm 1: Bao gồm các kỹ năng chung: Kỹ năng nhận thức, kỹ năng cảmxúc, kỹ năng xã hội
Nhóm 2: Gồm các kỹ năng sống được thể hiện trong các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội, như: Các vấn đề về sức khỏe và dinh dưỡng; Các vấn
đề về giới, giới tính; Các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS, chống ma túy,rượu, thuốc lá; Các vấn đề về thiên nhiên, môi trường, rủi ro, bạo lực; Các vấn
đề về gia đình, cộng đồng …
- Dựa theo khái niệm KNS ở góc độ Tâm lí học, tác giả Nguyễn QuangUẩn cho rằng, có thể nêu lên 3 nhóm KNS cơ bản sau đây:
Trang 24Nhóm kỹ năng về cuộc sống cá nhân, gồm các kỹ năng: Kỹ năng thực hiệncác chức năng cơ bản của đời sống hàng ngày của cá nhân như: Sinh hoạt cánhân, rèn luyện giữ gìn sức khỏe thể chất và tinh thần của cá nhân; Kỹ năng tựnhận thức về bản thân; Kỹ năng tự ý thức và có trách nhiệm với bản thân; Kỹnăng tự điều khiển, tự điều chỉnh, tự đánh giá hành vi bản thân; Kỹ năng tự rútkinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày của bản thân; Kỹ năng tự xác định mụcđích, kế hoạch phấn đấu về đường đời bản thân mình…
Nhóm kỹ năng quan hệ với người khác, với cộng đồng và với xã hội, cóthể là: Kỹ năng giao tiếp, ứng xử; Kỹ năng thiết lập và duy trì các mối quan hệliên nhân cách, các mối quan hệ tương tác trong cộng đồng và trong xã hội; Kỹnăng thực hiện các hành vi văn hóa xã hội, hành vi theo chuẩn mực xã hội; Kỹnăng thích ứng xã hội
Nhóm kỹ năng công việc, có thể là: Kỹ năng xác định mục tiêu công việc;
Kỹ năng lựa chọn và xác định các giá trị; Kỹ năng hoạch định công việc (Đề raquyết định và quyết định); Kỹ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong côngviệc; Kỹ năng tổ chức thực hiện công việc có hiệu quả; Kỹ năng đánh giá côngviệc, rút kinh nghiệm về công việc; Kỹ năng chuẩn bị cho công việc tiếp theo
Như vậy, có nhiều cách phân loại khác nhau về KNS Điều đó càng nói lên tính đa dạng, phức tạp, phong phú về các biểu hiện cụ thể của các KNS ở con người Việc phân loại các KNS chỉ mang tính tương đối, tùy thuộc vào khía cạnh xem xét, nghiên cứu, hoặc góc độ nhìn nhận mà một KNS có thể xếp vào các nhóm KNS mang các tên gọi khác nhau.
1.1.2 Kĩ năng sống của học viên ở Học viện Kĩ thuật Quân sự
* Đặc điểm của học viên ở HVKTQS
Học viên HVKTQS có một số đặc điểm nổi bật có liên quan đến tổ chứchoạt động của đơn vị quân đội và nhà trường quân đội
Học viên tại HVKTQS được tuyển chọn chặt chẽ, có chất lượng cao vàđược quản lý, giáo dục, học tập, rèn luyện trong môi trường sư phạm quân sự
Họ là những người tuổi đời còn trẻ, năng động, sáng tạo, nhạy cảm với cái mới,bản lĩnh, nhân cách đang được hình thành và phát triển
Trang 25Là những thanh niên và quân nhân xuất thân đa phần từ nông thôn, thànhphần gia đình chủ yếu là nông dân và công nhân Bản thân đã sớm chịu đựngnhững khó khăn nhọc nhằn của người làm nông nghiệp.
Có kiến thức nền khá vững chắc, tốt nghiệp loại khá ở phổ thông trung học,
có nguyện vọng phục vụ quân đội lâu dài Có đủ các tiêu chí về lý lịch bản thân
rõ ràng, phẩm chất chính trị tốt, đạo đức trong sáng, có sức khỏe tốt và trong đọtuổi quy định của Bộ Quốc phòng Đây chính là nét đặc thù khác biệt về tuyểnchọn so với sinh viên trường ngoài quân đội Các thí sinh phải trải qua các kỳ thituyển sinh quân sự nghiêm túc, chặt chẽ, công khai, bình đẳng, theo đúng quychế của Bộ Quốc phòng, Bộ giáo dục
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại các nhà trường Quân đội, ngoài tưcách và quyền lợi của công dân, họ còn có tư cách quyền lợi và nghĩa vụ củamột quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam Được hưởng các chế độchính sách theo quy định chung của Nhà nước và quân đội, chịu sự quản lý vàgiáo dục chặt chẽ, nghiêm túc theo đúng điều lệnh, điều lệ của Quân đội
Ở các nhà trường ngoài quân đội, sinh viên được quản lý theo phương thức
tự quản là chính, sau khi hết giờ lên giảng đường về sống ở gia đình, nhà trọhoặc kí túc xá Trong khi học viên sĩ quan được quản lý theo hệ thống chặt chẽ,khoa học theo đơn vị quản lý học viên từ cấp tiểu đội, trung đội, đại đội đến cấptiểu đoàn; việc ăn ở, học tập, sinh hoạt theo chế độ tập trung, thống nhất và đượcquản lý 24/24 giờ tại đơn vị; được duy trì theo 11 chế độ trong ngày, 3 chế độtrong tuần Họ có nhiệm vụ chấp hành kế hoạch học tập, rèn luyện theo mục tiêuyêu cầu đào tạo; thực hiện chức trách quân nhân, nội quy và quy chế học tập,đạo đức, tác phong quân nhân; tác phong chỉ huy, tham gia mọi hoạt động củađơn vị quản lý học viên Học viên được nghỉ hè và các ngày Lễ, Tết theo đúngchế độ chung của Nhà nước và Quân đội Việc xác định rõ nhiệm vụ quyền lợi
và các chế độ đối với học viên là cần thiết cho việc giáo dục động cơ, xu hướngnghề nghiệp Quân sự
Học viên HVKTQS ở độ tuổi từ 18-25 Thuộc lớp người trẻ, đang ở độ tuổiphát triển về thể lực, trưởng thành về nhân cách, học viên trong các trường đàotạo sĩ quan trong quân đội có đặc điểm chung Đó là lớp người có nhiều hoài bão
Trang 26ước mơ, giàu nghị lực, nhạy cảm với cái mới, cái sáng tạo, biết hi sinh lợi ích cánhân, phấn đấu cho lợi ích quốc gia dân tộc Đại bộ phận có xu hướng nghềnghiệp Quân sự, tự nguyện phục vụ lâu dài trong quân đội Nhưng ở lứa tuổi nàycòn thiếu trải nghiệm trong cuộc sống nên khả năng tự kiềm chế, tự nhận biết, tựđịnh hướng các nhu cầu về vật chất, tinh thần hay bị dao động, thiếu tự tin trongcuộc sống Tính kiên trì, sức chịu đựng, khả năng phân biệt đúng sai trước cáchiện tượng phức tạp, tiêu cực trong đời sống - xã hội còn hạn chế, dễ bị lôi cuốnbởi những cám dỗ vật chất tầm thường.
Tóm lại, những đặc điểm trên đây vừa tạo ra những điều kiện thuận lợi,vừa đặt ra không ít khó khăn, thách thức cho nhiệm vụ giáo dục đào tạo ởHVKTQS, trong đó, hình thành, phát triển KNS cho học viên đào tạo kỹ sư quân
sự phải nghiên cứu nắm vững các đặc điểm trên, từ đó có biện pháp phát huynhững điều kiện thuận lợi, khắc phục những khó khăn
* Quan niệm về kỹ năng sống của học viên ở Học viện Kỹ thuật Quân sự
Trên cơ sở quan niệm về KNS và căn cứ vào đặc điểm của học viên ởHVKTQS cần nhận thấy rằng: những yêu cầu KNS của mỗi người phụ thuộcmôi trường xã hội Sống trong môi trường nào thì yêu cầu có những KNS phùhợp với môi trường đó Môi trường xã hội càng có những thách thức đặc biệtbao nhiêu thì càng đòi hỏi KNS của con người càng đặc biệt bấy nhiêu
Với mục tiêu yêu cầu đào tạo và môi trường sống cụ thể của mỗi nhà
trường, người học viên ở HVKTQS cần phải có năng lực để lựa chọn và thực
hiện cách thức hành động giải quyết những vấn đề trong cuộc sống sau đây:
Thứ nhất, học viên cần có năng lực và thực hiện các hoạt động thích nghi môi trường đặc thù có nhiều thách thức của cuộc sống.
Học tập, rèn luyện trong môi trường đặc thù - môi trường quân sự Khi tốt
nghiệp ra trường sẽ được phân công, bổ nhiệm một chức vụ công tác ở một đơn
vị theo nhu cầu thực tiễn xây dựng quân đội, của từng đơn vị và nhu cầu biênchế tổ chức mà không được tự lựa chọn hay thay đổi vị trí, môi trường công táctheo ý muốn cá nhân Áp lực từ môi trường đặc thù hoạt động khắc nghiệt đòihỏi phải có năng lực lựa chọn thực hiện cách thức hành động thích nghi với môi
Trang 27trường quân sự.
Thứ hai, trong quá trình học tập, rèn luyện theo mục tiêu yêu cầu đào tạo học
viên với tư cách là một quân nhân, chịu sự chi phối của mối quan hệ chỉ huy phụctùng theo điều lệnh, quy định của quân đội và đơn vị, đào tạo là người lãnh đạo, chỉhuy chịu trách nhiệm về cuộc sống của những cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền Do vậy,
học viên còn cần có năng lực để lựa chọn và thực hiện các hành động hòa nhập
cộng đồng tập thể quân nhân trong đơn vị để tạo nên một cuộc sống có hiệu quả Thứ ba, sống trong cộng đồng xã hội, học viên không chỉ tương tác với tập
thể quân nhân để thực hiện mục tiêu, yêu cầu của quá trình đào tạo mà còn thamgia vào rất nhiều mối quan hệ xã hội khác, đóng nhiều vai trò khác nhau trongcuộc sống như: người con, người yêu, người bạn.v.v Như vậy, đòi hỏi người
học viên phải có năng lực tự chủ cao, thích nghi với sự chuyển đổi nhanh chóng
môi trường quan hệ và những vai trò đa dạng phong phú của cuộc sống
Thứ tư, trong xã hội hiện đại, cuộc sống luôn có sự biến đổi nhanh chóng
trên mọi lĩnh vực Những giá trị truyền thống trong quan hệ xã hội cũng đang vậnđộng biến đổi dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường Cuộc sống của ngườihọc viên, người cán bộ, sĩ quan quân đội cũng chịu tác động nhiều chiều, với
nhiều thách thức và nhiều cơ hội phát triển hơn Một mặt học viên phải có khả
năng thích nghi cuộc sống hiện tại, một mặt phải có khả năng hoạch định mục tiêu cuộc sống, tự hoàn thiện bản thân để đạt những mục tiêu mới cho sự phát
triển không ngừng
Như thế quá trình học tập, rèn luyện để trở thành người sĩ quan quân đội,cần tạo lập cho người học những năng lực để lựa chọn và thực hiện cách thứchành động có hiệu quả thực chất là học viên có KNS cần thiết thực hiện có hiệuquả nhiệm vụ chức trách, ứng phó giải quyết thành công những tình huống đadạng trong cuộc sống
Trên cơ sở đó có thể quan niệm:
Kỹ năng sống của học viên HVKTQS là tổ hợp phức tạp của một hệ thống các kĩ năng nói lên năng lực vận dụng những tri thức, kiến thức được trang bị
từ quá trình đào tạo sĩ quan và kinh nghiệm sống của bản thân để lựa chọn và
Trang 28thực hiện cách thức hành động phù hợp để giải quyết các nhiệm vụ, các mối quan hệ trong các hoạt động quân sự và trong cuộc sống.
Từ định nghĩa trên, chúng ta thấy nổi lên một số vấn đề cần chú ý sau:
Kỹ năng sống của học viên HVKTQS là một tổ hợp phức tạp của một hệthống các kỹ năng được hình thành trên cơ sở vận dụng những tri thức, kinhnghiệm và các giá trị phù hợp với điều kiện cuộc sống của học viên Để có kỹnăng sống học viên cần có tri thức, kinh nghiệm và những cách thức hành độngđúng đắn trong các điều kiện khác nhau của cuộc sống (cấu trúc tâm lý kỹ năngsống của học viên)
Nội dung cơ bản của KNS của học viên gồm các nhóm: Nhóm kỹ năngsống hướng vào bản thân; nhóm kỹ năng sống hướng vào các quan hệ; nhóm kỹnăng sống hướng vào công việc
Sự vận dụng các nhóm KNS cơ bản sẽ giúp học viên có khả năng ứng phómột cách có hiệu quả và thích nghi với các điều kiện khác nhau của cuộc sống
* Vai trò của kỹ năng sống đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của học viên HVKTQS
Với quan niệm trên đây, KNS có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sốngcủa người học viên trong quá trình đào tạo cũng như khi trở thành người kĩ sưquân sự Xác định đúng vai trò của KNS là cơ sở để thấy rõ tính cấp thiết, nộidung, tính chất, phương thức bồi dưỡng KNS cho học viên đào tạo kĩ sư quân
sự hiện nay Chúng tôi nhận thấy KNS góp phần tạo lập và nâng cao những giátrị cuộc sống của người học viên trong nhà trường trên các lĩnh vực sau đây:
Có KNS tốt người học viên sẽ phát huy cao nhất phẩm chất, năng lực vốn
có của bản thân để hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo từngchuyên ngành thực hiệncó hiệu quả mục tiêu yêu cầu đào tạo đã xác định
Có KNS tốt, người học viên đào tạo kĩ sư quân sự sẽ có khả năng thích ứngcao và hòa nhập thành công vào một cộng đồng xã hội đa dạng và đang vậnđộng biến đổi phát triển không ngừng
Có KNS tốt, học viên đào tạo kĩ sư quân sự ở HVKTQS sẽ luôn tự chủcao, sáng suốt trong ra quyết định, hoạch định tốt mục tiêu cuộc sống và kế
Trang 29hoạch tự hoàn thiện phát triển suốt đời
Mặt khác, cuộc sống luôn vận động biến đổi, đòi hỏi chủ thể của nó cũngphải luôn biến đổi, làm mới bản thân Sự thành công trong cuộc sống không cógiá trị vĩnh viễn mà chỉ có giá trị nhất thời Nếu dừng lại thì giá trị sẽ dần mất đi,chất lượng cuộc sống sẽ tụt hậu Vì vậy, việc hoạch định mục tiêu cuộc sống và
kế hoạch hoàn thiện bản thân để đạt đến mục tiêu đó luôn là KN quan trọng, cầnthiết của người học viên Có năng lực hoạch định mục tiêu và kế hoạch hoàn thiệnbản thân, học viên sẽ học tập, phấn đấu suốt đời để luôn làm mới cuộc sống,không ngừng nâng cao giá trị cuộc sống
1.1.3 Hình thành kỹ năng sống cho học viên Học viện
Hình thành KNS là làm thay đổi hành vi của con người từ sống với thóiquen thụ động chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực và cóhiệu quả để góp phần phát triển bền vững cho xã hội
Hình thành KNS cho học viên cũng có thể được hiểu là hoạt động có mụcđích, có tổ chức của các lực lượng giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhữngnăng lực hay phẩm chất cá nhân học viên
Từ quan niệm về hình thành, KNS và căn cứ vào đặc điểm của học viên ởHVKTQS, chúng tôi cho rằng:
Hình thành KNS cho học viên HVKTQS là tổng hợp cách thức, biện pháp
của các chủ thể nhằm hình thành, phát triển năng lực cá nhân trong mối quan
Trang 30hệ tương tác với bản thân, xã hội Xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng thích hợp trong cuộc sống và hoạt động.
Mục đích hình thành KNS cho học viên nhằm làm cho học viên biết vận
dụng hệ thống tri thức, kiến thức, kinh nghiệm sống để hình thành, phát triểncách thức giải quyết có hiệu quả các mối quan hệ của cuộc sống, góp phần xâydựng phẩm chất nhân cách theo mục tiêu yêu cầu đào tạo, bảo đảm cho học viên
có trình độ, năng lực chuyên ngành thực tế và KNS cần thiết gắn với chức trách,nhiệm vụ được giao; ứng phó, giải quyết có hiệu quả những tình huống, các mốiquan hệ của cuộc sống đang thường xuyên tác động đến mỗi học viên
Chủ thể hình thành KNS cho học viên là hệ thống tổ chức đảng, chỉ huy, cơ
quan chức năng, các khoa giáo viên, đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý học viên,đội ngũ quân nhân chuyên nghiệp, viên chức quốc phòng phục vụ quá trình giáodục, đào tạo Trong đó: Chủ thể lãnh đạo là hệ thống tổ chức đảng; chủ thể quản lý,chỉ đạo là Ban Giám đốc, Ban Giám hiệu, các cơ quan chức năng, các đơn vị quản
lý học viên; chủ thể thực hiện là đội ngũ giảng viên,cán bộ quản lý học viên
Dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, sự chỉ đạo, điều hành của chỉ huycác cấp, các cơ quan chức năng, khoa, hệ, lớp, đội ngũ giảng viên và cán bộquản lý học viên tiến hành các hoạt động bồi dưỡng và chịu trách nhiệm trướccấp uỷ, tổ chức đảng, chỉ huy, cấp trên về chất lượng, hiệu quả quá trìn hìnhthành KNS cho học viên
Người học viên vừa là khách thể, vừa là chủ thể trong quá trình bồi dưỡng.Với tư cách là khách thể: người học viên chịu sự điều khiển, chỉ đạo của chủ thể,chịu sự chi phối của mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức của quá trình bồidưỡng KNS Với tư cách là chủ thể trong quá trình tự bồi dưỡng, người học viên
có vai trò năng động, tích cực, độc lập, sáng tạo trong tiếp nhận tác động của nhàgiáo dục để chuyển thành các yếu tố tự bồi dưỡng, trở thành nhân tố quyết địnhtrình độ biến đổi, phát triển và hoàn thiện KNS của chính mình
Lực lượng tham gia hình thành KNS cho học viên là toàn thể cán bộ, giảng
viên, quân nhân chuyên nghiệp, viên chức quốc phòng trong các nhà trường, tổchức đoàn, Hội đồng quân nhân ở đơn vị học viên, đơn vị cơ sở nơi học viên
Trang 31thực tập, gia đình, bạn bè, người thân của học viên Tuỳ theo vị trí, vai trò,nhiệm vụ, chức năng của từng tổ chức, con người mà góp phần hình thành KNScho học viên ở những mối quan hệ, những khía cạnh khác nhau của cuộc sống.
Đối tượng hình thành KNS là toàn bộ học viên từ học sinh tốt nghiệp phổ
thông trung học, hạ sĩ quan, chiến sĩ, cán bộ chuyên môn kỹ thuật đã trúng tuyển
kỳ thi tuyển sinh quân sự hoặc cử tuyển theo quy chế hiện hành
Nhận thức rõ chủ thể, lực lượng tham gia, đối tượng hình thành KNS chohọc viên có ý nghĩa quan trọng để phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức,các lực lượng, qui rõ trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức trong quá trình bồidưỡng KNS
Nội dung bồi dưỡng KNS: toàn bộ những tri thức, kiến thức trong ứng phó,
giải quyết những tình huống các mối quan hệ của cuộc sống; hệ thống cách thứchành động mang lại hiệu quả cao nhất
Hình thức, biện pháp hình thành KNS cho học viên: là toàn bộ các hình
thức dạy học, huấn luyện các môn học, trực tiếp là các hình thức huấn luyệnthực hành, tập bài, học tập ngoại khoá, bổ trợ, thực tập, diễn tập; thông qua hoạtđộng xử lý các mối quan hệ, các hoạt động ở đơn vị học viên, như: sinh hoạt chi
bộ, đảng bộ, sinh hoạt chi đoàn, liên chi đoàn, học tập chuyên đề, tập huấn, hộithi, hội thao, thi tìm hiểu, tọa đàm, trao đổi, phổ biến kinh nghiệm, hành quân dãngoại làm công tác dân vận, các phong trào thi đua, xây dựng nếp sống chínhqui, rèn luyện kỷ luật, sơ kết, tổng kết… thông qua tự bồi dưỡng của học viên
1.2 Những kỹ năng sống cần hình thành cho học viên và tiêu chí đánh giá kỹ năng sống của học viên ở Học viện Kỹ thuật quân sự
1.2.1 Những kỹ năng sống cần hình cho học viên
Dựa trên yêu cầu thực hành chức trách, nhiệm vụ học viên cần có “kỹ năngcứng” với tính chất là “ điều kiện cần” không thể thiếu để thực hiện chức trách,nhiệm vụ được giao như: Kỹ năng chuyên môn theo chuyên ngành đào tạo; KNchỉ huy, quản lý Cán bộ, giảng viên ở HVKTQS hiện nay đều cho rằng cần phảibồi dưỡng KNS cho học viên vì tính chất nhiệm vụ, yêu cầu năng lực công tác.Tuy nhiên, nhóm KN này đã được đào tạo theo chương trình xác định, được đánh
Trang 32giá bằng kết quả quá trình đào tạo và thi tốt nghiệp, làm cơ sở bổ nhiệm vị trícông tác Bởi vậy đề tài chỉ nghiên cứu, đề cập sự tác động của nó đến KNS củahọc viên
Để xác định những KNS cần thiết đối với học viên đào tạo kỹ sư quân sựhiện nay tác giả đã tiến hành tổng hợp các kết quả nghiên cứu về kỹ năng, KNScủa các nghiên cứu đã có, đặc biệt là các nghiên cứu của các tác giả trong lĩnhvực hoạt động quân sự, kết hợp với việc trưng cầu ý kiến và xin ý kiến chuyêngia Chúng tôi tiến hành tổng hợp, kết quả có 10 kỹ năng cơ bản nhất được các
khách thể lựa chọn và phân chia thành ba nhóm: 1) Nhóm kỹ năng thuộc về cuộc
sống cá nhân gồm kỹ năng tự nhận thức về bản thân; kỹ năng hoạch định kế
hoạch và mục tiêu cuộc sống; kỹ năng tự điều khiển, điều chỉnh và đánh giá hành
vi bản thân; 2) Nhóm kỹ năng quan hệ với mọi người gồm kỹ năng giao tiếp và
ứng xử; kỹ năng thích ứng xã hội; kỹ năng chấp hành và duy trì kỷ luật; kỹ năng
hợp tác và chia sẻ; 3) Nhóm kỹ năng công việc gồm kỹ năng học và nghe giảng
trên lớp; kỹ năng tự học và kỹ năng tư duy sáng tạo Kết quả thứ hạng của cácKNS của học viên HVKTQS được thể hiện trong bảng sau (Bảng 1.1)
Bảng 1.1: Bảng các kỹ năng cần thiết của học viên ở HVKTQS
6 Kỹ năng chấp hành và duy trì kỷ luật 4.44 6
9 Kỹ năng hoạch định kế hoạch và mục 4.10 9
Trang 33tiêu cuộc sống
10 Kỹ năng tự điều khiển-điều chỉnh và
Kết quả bảng 1.1 cho thấy hai kỹ năng thuộc về nhóm kỹ năng công việc là
kỹ năng tự học và kỹ năng học-nghe giảng trên lớp được đánh giá ở mức cầnthiết cao nhất, tiếp đến là nhóm kỹ năng quan hệ với mọi người Mặc dù khôngđược đánh giá cao như các kỹ năng khác nhưng các kỹ năng hoạch định kếhoạch và mục tiêu cuộc sống và kỹ năng tự điều chỉnh và đánh giá hành vi bảnthân đều được đánh giá ở điểm trung bình tương đối cao (4.08) Như vậy có thểthấy các kỹ năng được nêu ra là phù hợp và cần thiết đối với đối tượng học viênđào tạo kỹ sư quân sự ở Học viện Kỹ thuật Quân sự trong giai đoạn hiện nay.Căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu đào tạo ở HVKTQS, chức trách nhiệm vụcủa học viên khi ra trường đảm nhiệm; yêu cầu xây dựng quân đội, bảo vệ Tổquốc Việt Nam XHCN cũng như kết quả khảo sát của các chuyên gia đã nêu ởbảng 1.1 Phần này tác giả tập trung phân tích những biểu hiện của kỹ năng sốngcần thiết đã nêu trên
* Kỹ năng tự học của học viên.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, lượng thông tin ngày cànggia tăng, theo tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực xã hội học, thì lượngthông tin tăng gấp đôi cứ sau khoảng 5-6 năm Trong khi đó nhiệm vụ của ngườihọc là lĩnh hội hệ thống tri thức, rèn luyện kỹ năng - kỹ xảo gắn với nghề nghiệptương lai, phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực tư duy nghề nghiệp, trên cơ sở
đó hình thành thế giới quan khoa học, lý tưởng, tác phong của người cán bộkhoa học kỹ thuật Để làm được điều đó, ngoài việc phải đảm bảo nội dungchương trình, phương pháp giảng dạy của giáo viên thì tự học đóng một vai tròđặc biệt quan trọng Tự học giúp người học thu nhận và củng cố kiến thức mộtcách vững chắc, sâu sắc, tạo ra cơ sở để vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn Vìvai trò quan trọng của tự học mà Luật Giáo dục đã nêu “Phương pháp giáo dụcphải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học;bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành …”
* Kỹ năng học và nghe giảng trên lớp.
Trang 34Quá trình học tập ở nhà trường, người học luôn là chủ thể của hoạt độngnhận thức Với chức năng vừa là chủ thể, vừa là khách thể của hoạt động nhậnthức, người học giữ vai trò quyết định đến kết quả học tập và kết quả của quátrình đào tạo Để đạt hiệu quả cao trong học tập, đòi hỏi người học phải có động
cơ học tập và những kỹ năng lĩnh hội kiến thức một cách khoa học Trong đó rènluyện kỹ năng nghe, ghi chép là phương pháp học tập có ý nghĩa quan trọng đốivới người học, đặc biệt là sinh viên Với học viên đào tạo kỹ sư quân sự, khốilượng kiến thức trong chương trình tương đối lớn, bao quát nhiều vấn đề từ lýthuyết đến thực tế, điều đó càng đòi hỏi người học phải có kỹ năng nghe và ghichép tốt để tận dụng thời gian học trên lớp một cách hiệu quả
* Kỹ năng tự nhận thức bản thân.
Tự nhận thức là cảm nhận rõ ràng về nhân cách, điểm mạnh, điểm yếu,
tư duy, niềm tin, động lực và cảm xúc Tự nhận thức cũng cho phép bạn hiểu
về người khác, cách họ cảm nhận về bạn cũng như thái độ và phản hồi của bạn
Sự tự nhận thức là cơ sở - nền tảng - nền móng - hỗ trợ tất cả các năng lực
tư duy cảm xúc Sự tự nhận thức giúp chúng ta biết được cái gì thúc đẩy mình
và mình say mê cái gì Điều này hướng chúng ta đến những công việc yêu thích,khiến chúng ta làm việc vui vẻ, hiệu quả Nó dẫn tới những mối quan hệ,
cả trong công việc lẫn quan hệ cá nhân, ở đó chúng ta sẽ đóng góp có tính xâydựng và tích cực hơn Và nó cũng dẫn đến cuộc sống chân thật hơn cũngnhư làm cho chúng ta hài lòng hơn Sự tự nhận thức được phát triển thông quathực hành việc tập trung sự chú ý vào các chi tiết của cảm xúc, nhân cách vàhành vi
* Kỹ năng giao tiếp và ứng xử.
Kỹ năng giao tiếp và ứng xử là khả năng vận dụng tri thức khoa học vàoquá trình giao tiếp có hiệu quả Môi trường quân đội luôn có sự đòi hỏi cao,chuẩn mực về quan hệ giao tiếp, trong khi đó đời sống xã hội luôn vận độngphát triển đòi hỏi mỗi cán bộ quân đội, mỗi học viên cần có sự mẫu mực trongquan hệ giao tiếp Đây là một trong những kĩ năng quan trọng giúp học viênnâng cao trình độ chuyên môn, giải quyết tốt các mối quan hệ giao tiếp trongcuộc sống và hoạt động học tập Kĩ năng này bao gồm các ứng xử và giải quyết
Trang 35mối quan hệ với cấp trên, đồng nghiệp, với bạn bè, người thân Trong đó kĩnăng giao tiếp học tập là kĩ năng nổi trội của học viên, bởi mỗi học viên khôngchỉ học tập trên lớp mà còn phải học tập cả ngoài giờ lên lớp, trong cuộc sốnghàng ngày.
Mặt khác, mỗi người chúng ta đều cần đến năng lực giao tiếp, ứng xử vớingười khác Đó là thể hiện sự tồn tại của chúng ta và sự tương hỗ của chúng tatrên thế giới này Thể hiện kỹ năng giao tiếp và ứng xử với các mối quan hệxung quanh chúng ta còn giúp mỗi cá nhân tự đánh giá và để lại chiều sâu conngười trong lòng người đối diện để từ đó có thể kiểm tra lại chính mình, soimình trong người khác để nhận ra giá trị của bản thân và giá trị của cuộc sống
* Kỹ năng thích ứng xã hội.
Trong môi trường xã hội có nhiều chuyển biến, đa chiều ngày nay, nó đemlại cả những mặt thuận lợi và khó khăn, đòi hỏi con người phải trang bị chomình cả kiến thức và những kỹ năng hành động cần thiết để giải quyết và nỗ lựcvượt qua những thách thức đó Trong đó, kỹ năng thích ứng xã hội có vai tròrất quan trọng, nó góp phần đảm bảo thành công cho mọi hoạt động màcon người tham gia vào Kỹ năng thích ứng xã hội là thành phần quan trọngtrong nhân cách con người trong xã hội hiện đại, giúp con người đáp ứng đượcvới những thay đổi lớn trong hoạt động cũng như trong cuộc sống để có đượcthành công
* Kỹ năng chấp hành và duy trì kỷ luật.
Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật là nội dung quan trọng trong toànquân nói chung và Học viện Kỹ thuật Quân sự nói riêng Là yếu tố quan trọng
để đào tạo ra các thế hệ học viên vừa “hồng”, vừa “chuyên”, góp phần tiếp tục
nâng cao vị thế của nhà trường, xứng đáng là trung tâm đào tạo kỹ sư và các nhàkhoa học kỹ thuật quân sự chất lượng cao, có uy tín của Quân đội Môi trườngvăn hóa pháp luật lành mạnh là điều kiện tốt cho học viên học tập, rèn luyện,nâng cao ý thức pháp luật và phát triển nhân cách của người sỹ quan Quân độinhân dân Việt Nam
* Kỹ năng tư duy sáng tạo.
Trang 36Có thể không quá lời khi nói rằng, nếu không có tư duy sáng tạo thì khôngthể có một xã hội phát triển như ngày nay Chính nhờ có sáng tạo mà con ngườiqua từng thời đại chế tạo ra biết bao nhiêu thiết bị để “nối dài” khả năng của conngười Kính viễn vọng chính là sự nối dài của đôi mắt, cần cẩu là sự nối dài củađôi tay và máy bay là sự nối dài của đôi chân Tư duy sáng tạo là một kỹ năngcực kỳ quan trọng với mỗi người chúng ta trong cuộc sống vì chính nó sẽ đápứng những thách thức luôn xảy ra Tư duy sáng tạo là thanh công cụ cực kỳquan trọng để mỗi người dù ở vị trí nào, đẳng cấp nào cũng có thể vượt qua lốimòn trong suy nghĩ, hành động để hướng đến những giải pháp mới mẻ Đókhông chỉ là yêu cầu của cuộc sống mà còn là những phương pháp để bạn chinhphục những khó khăn của cuộc đời.
* Kỹ năng hợp tác và chia sẻ.
Khi mỗi người luôn luôn chú ý đến kỹ năng hợp tác và chia sẻ trong khisống và làm việc cùng với người khác thì tính khả thi của vấn đề được giải quyếtmột cách nhanh nhất Mỗi người sẽ học được nhiều điều từ người khác Đó cũngchính là xu thế trong thời buổi của “nền kinh tế tri thức” và sự phát triển ngàycao của xã hội
* Kỹ năng hoạch định kế hoạch và mục tiêu cuộc sống.
Xác lập được mục tiêu sẽ là điều kiện phát huy hết được những điểm
mạnh và những điểm yếu của bản thân từ đó sẽ dần bước lên những nấc thangthành công trong cuộc sống Xác lập mục tiêu cuộc đời là cách giúp mỗi cá nhânđịnh hướng được cuộc đời của mỗi người Giúp cá nhân sống có mục đích, lýtưởng và sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội
* Kỹ năng tự điều khiển-điều chỉnh và đánh giá hành vi bản thân.
Những thông điệp này được giải mã sẽ làm cho cái tôi được “hoạt hóa”một cách đích thực và chính xác trong từng hoàn cảnh cũng như trong từng mốiquan hệ, để từ đó mỗi cá nhân sẽ biết cách ứng xử sao cho thật sự phù hợp vàhiệu quả Hãy tự đánh giá về mình một cách chính xác, cá nhân sẽ cảm thấythật rõ ràng những gì mình cần phải làm cho cuộc đời Nhận thức đúng sẽ giúp
cá nhân đánh giá đúng thực lực của mình để phấn đấu nhiều hơn nữa trong cuộc
Trang 37sống Sự phấn đấu này có kế hoạch và có chiến lược chứ không phải là sự liềulĩnh và mạo hiểm quá mức Sự rèn luyện năng lực nhận thức bản thân, để chútâm vào công việc trong cuộc sống hàng ngày, sẽ giúp chúng ta tận dụng thờigian hiệu quả hơn và chuẩn bị tinh thần để chúng ta bước vào những trải nghiệmmới Việc rèn luyện này dựa trên sự quan sát tâm trí mình và quan sát nhữngcảm nhận xuất hiện trong đó như: suy nghĩ, cảm xúc, mong cầu và sợ hãi.
1.2.2 Tiêu chí đánh giá kỹ năng sống của học viên
KNS là loại kỹ năng bậc cao được hình thành và phát triển trong suốt cuộcđời con người KNS của học viên đào tạo kỹ sư quân sự được hình thành và pháttriển trong hoạt động học tập, rèn luyện và các hoạt động xã hội khác Đó là tổhợp các kỹ năng nói lên khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm vànhững cách thức hành động đúng đắn vào thực tiễn, giúp học viên thực hiệncông việc và quan hệ với bản thân, với người khác, với xã hội có kết quả trongcác điều kiện xác định của cuộc sống Vì thế khó có thể đánh giá một cách chínhxác đầy đủ về các mức độ cao thấp của KNS của học viên
Tuy nhiên, dựa trên cơ sở cấu trúc, phân loại KNS, đặc biệt là căn cứ vàocác biểu hiện và mức độ đánh giá KNS của học viên ở HVKTQS hiện nay, chúngtôi cho rằng, trên phương diện chung nhất khi đánh giá một KNS nào đó ở học
viên xét trên sự tổ hợp của ba mặt: Biết làm, làm được trong điều kiện xác định
và có kết quả Nghĩa là biết cách làm (nhận thức về cách làm), làm một cách có
kết quả trong điều kiện xác định (thực hiện cách làm và có kết quả) Để đánh giáchính xác biểu hiện và mức độ kỹ năng sống của học viên ở HVKTQS hiện nay,
chúng tôi kết hợp các tiêu chí định lượng là điểm trung bình và định tính là tính
đúng đắn, tính thành thục và tính linh hoạt của KNS
- Căn cứ vào điểm trung bình: Đây là tiêu chí đánh giá định lượng biểu
hiện và mức độ các nhóm KNS của học viên chúng tôi căn cứ vào kết quả thuđược từ các công cụ điều tra chính là phiếu trưng cầu ý kiến, tình huống dànhcho học viên và phiếu trưng cầu ý kiến dành cho cán bộ quản lý và giáo viên
- Căn cứ vào các tiêu chí của kỹ năng sống: Để đánh giá định tính thực
trạng biểu hiện và mức độ kỹ năng sống của học viên, mỗi nhóm kỹ năng sốngđược đánh giá theo ba tiêu chí là tính đúng đắn, tính thành thục và tính linh hoạt
Trang 38Những tiêu chí này được dùng để đánh giá kết quả thu được từ điều tra bằngphiếu trưng cầu ý kiến, quan sát, phỏng vấn sâu.
Kỹ năng sống của học viên được đánh giá qua ba tiêu chí là tính đúng đắn,
tính thành thục, tính linh hoạt và theo ba mức độ:
+ Tính đúng đắn của KNS được đánh giá theo 3 mức độ như sau:
Mức độ cao: Đây là mức độ cao nhất Tính đúng đắn tốt Học viên có hiểu
biết đúng về biểu hiện các nhóm kỹ năng sống cơ bản Học viên biết sử dụngđúng lời nói, hành động, thái độ trong quan hệ giao tiếp, quan hệ công việc, cóđầy đủ các thao tác của kỹ năng sống
Mức độ trung bình: Là mức độ có tính đúng đắn tương đối tốt Học viên có
hiểu biết tương đối đúng về biểu hiện các nhóm kỹ năng sống cơ bản Học viênbiết sử dụng tương đối đúng lời nói, thái độ, hành động trong quan hệ giao tiếp,công việc, có được các thao tác thiết yếu nhất của kỹ năng sống
Mức độ thấp: Ở mức này tính đúng đắn bị hạn chế Học viên có hiểu biết
chưa đúng về biểu hiện các nhóm kỹ năng sống cơ bản Học viên sử dụng chưađúng lời nói, thái độ, hành động trong quan hệ giao tiếp, quan hệ công việc và
đã có một ít thao tác của kỹ năng sống
+ Tính thành thục của KNS được đánh giá theo 3 mức độ như sau:
Mức độ cao: Tính thành thục thể hiện tốt Học viên có sự thành thạo trong
các thao tác kết hợp các thao tác thành tổ hợp hợp lý và phù hợp với điều kiệnhoạt động sống hầu như không mắc lỗi
Mức độ trung bình: Đã có tính thành thục của kỹ năng sống Về cơ bản là
học viên đã có sự thành thạo trong các thao tác riêng lẻ, sự kết hợp giữa các thaotác đã có sự hợp lý trong các điều kiện hoạt động ổn định và đơn giản, nhưngchưa thực sự hợp lý trong các điều kiện hoạt động mới lạ, phức tạp, vẫn mắc lỗi
Mức độ thấp: Tính thành thục hạn chế Học viên còn lúng túng khi thực
hiện thao tác, sự kết hợp thao tác còn ít hợp lý, còn mắc nhiều lỗi
+ Tính linh hoạt của KNS được đánh giá theo 3 mức độ như sau:
Trang 39Mức độ cao: Đây là mức cao nhất Tính linh hoạt của kỹ năng sống cao.
Học viên đã vận dụng ổn định và bền vững kỹ năng sống trong mọi điều kiệnhoạt động, có sự sáng tạo cao trong kỹ năng sống
Mức độ trung bình: Đã có tính linh hoạt cần thiết Kỹ năng sống của học
viên thể hiện ổn định trong điều kiện hoạt động đơn giản tuy nhiên, trong điềukiện hoạt động mới lạ và phức tạp thì kỹ năng sống còn thể hiện chưa thực ổnđịnh và bền vững Tính sáng tạo còn rất hạn chế
Mức độ thấp: Tính linh hoạt hạn chế Học viên mới chỉ thể hiện sự ổn định
của kỹ năng sống trong điều kiện hoạt động đơn giản nhưng còn chưa có sự ổnđịnh và bền vững của kỹ năng sống trong các điều kiện khác nhau của hoạtđộng Chưa có sự sáng tạo trong các kỹ năng sống
- Nguyên tắc đánh giá kỹ năng sống: Ba tiêu chí nói trên có vai trò quan trọng
như nhau trong đánh giá kỹ năng sống Vì vậy, việc đánh giá kỹ năng sống dựa trên
sự tích hợp của ba tiêu chí này theo nguyên tắc sau:
Nếu trong KNS có cả ba tiêu chí cùng ở mức độ nào đó thì KNS được đánhgiá ở mức độ đó
Nếu KNS có hai tiêu chí cùng một mức độ nào đó và tiêu chí còn lại ở mức
độ liền kề thì KNS được đánh giá ở mức độ của hai tiêu chí có cùng mức
- Nếu 3 tiêu chí của kỹ năng sống ở ba mức độ khác nhau thì KNS đượcđánh giá theo mức của tiêu chí ở mức giữa của hai tiêu chí còn lại
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hình thành kỹ năng sống của học viên ở Học viện Kỹ thuật Quân sự
1.3.1 Các yếu tố chủ quan
* Phẩm chất sinh học của học viên
Quá trình hình thành KNS luôn phụ thuộc vào các phẩm chất sinh học củahọc viên trong quá trình đào tạo Sự phát triển các phẩm chất sinh học trong sựthống nhất với các phẩm chất xã hội của mỗi học viên là tiền đề cơ bản mang lạihiệu quả quá trình bồi dưỡng KNS cho học viên Quá trình đào tạo người kĩ sưquân sự có những đặc thù riêng, hệ thống phẩm chất sinh học của người học
Trang 40viên trong sự thống nhất với các phẩm chất xã hội là nhân tố được quan tâm hơnbao giờ hết
Những phẩm chất sinh học chính là những mặt vật chất tự nhiên, nhục thểtức là con người bằng xương, bằng thịt, tất nhiên các phẩm chất này đã được xãhội hoá, nhân văn hoá Do đó, phẩm chất sinh học của cá nhân là sản phẩm củacái vốn có của điều kiện khách quan và của sự rèn luyện của bản thân người họcviên Quả thật nếu không có “tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy” thì các KNS
sẽ hình thành, phát triển rất khó khăn Các phẩm chất sinh học của học viên lànơi dung chứa hệ thống tri thức, cách thức hoạt động từ đào tạo, từ thực tiễncuộc sống, cố định nó để hình thành kỹ năng Sự trưởng thành, phát triển nhữngphẩm chất sinh học của học viên có ảnh hưởng tương ứng với việc hình thànhnhân cách của họ Sự tăng giảm trương lực sống và sức khoẻ của cơ thể liênquan đến sự mạnh yếu của cảm xúc, ý chí và các trải nghiệm tâm lý
Những thanh niên quân nhân được tuyển chọn để đào tạo trở thành kĩ sưquân sự phải bảo đảm những yêu cầu chung về sức khoẻ, thể chất Trong đó cónhững yếu tố thuộc về di truyền Nhờ cơ chế di truyền, những tư chất có sẵn trongnão, trong các giác quan trong các cơ quan vận động, ngôn ngữ sẽ trở thànhnhững điều kiện quan trọng giúp học viên có được KNS cần thiết Sự thông minhcủa bộ óc, khí chất, sự cân bằng của hệ thần kinh, sự nhạy cảm của các cơ quancảm giác do cơ chế di truyền ở mỗi người sẽ khác nhau nó biểu hiện những thiênhướng, năng khiếu của từng người khác nhau Trong khi chúng ta không tuyệt đốihoá thiên hướng, năng khiếu của từng người thì chúng ta cũng phải thừa nhận mộtvấn đề lý luận, thực tiễn là: học viên có năng khiếu của người sĩ quan như: ócquan sát, sự nhạy cảm, tính quả quyết cứng rắn, kiên trì theo đuổi mục đích, tưtưởng mềm dẻo sâu sắc, trí tưởng tượng, sáng tạo cao, xử lý tốt các tình huốngcuộc sống đặt ra đó là những khả năng to lớn, thuận lợi cho việc hình thành hệthống KNS cho họ Ngược lại, không có được những thiên hướng, năng khiếu đóthì việc đào tạo, rèn luyện, phát triển KNS sẽ diễn ra chậm chạp, lâu dài hơn Họcviên đào tạo kĩ sư quân sự với tuổi đời từ 18 đến 25 là giai đoạn đang trong quátrình hoàn thiện về thể chất, có thể nói là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của mộtcon người Gắn liền với giai đoạn phát triển về thể chất là sự nhanh nhẹn, tháo