Xây dựng nông thôn mới là quá trình lâu dài, phải giải quyết đồng bộ, toàn diện nhiều nội dung liên quan đến vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Vấn đề đặt ra phải hình thành và phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức cộng động dân cư nông thôn mà cốt lõi là nông dân. Bởi nông dân là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò chủ thể trực tiếp thực hiện những nhiệm vụ của quá trình này như Đại hội XI của Đảng đã xác định: “Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn”
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lãnh đạo cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta luônđánh giá cao vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xác định: “Nôngnghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng
để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm anninh quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môitrường sinh thái của đất nước” [17, tr.123] Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày
05/8/2008 Hội Nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới ban
hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chínhphủ, vấn đề xây dựng NTM, đây là lần đầu tiên được đề cập một cách cơ bản,toàn diện và sâu sắc, đáp ứng mong muốn của nhân dân và yêu cầu chiến lượcxây dựng đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH Trong xu thế phát triển hiện nay,không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu vàđời sống nông dân còn thấp Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Xây dựng nông thôn mới là quá trình lâu dài, phải giải quyết đồng bộ,toàn diện nhiều nội dung liên quan đến vấn đề nông nghiệp, nông dân và nôngthôn Vấn đề đặt ra phải hình thành và phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổchức cộng động dân cư nông thôn mà cốt lõi là nông dân Bởi nông dân là lựclượng nòng cốt, giữ vai trò chủ thể trực tiếp thực hiện những nhiệm vụ củaquá trình này như Đại hội XI của Đảng đã xác định: “Xây dựng, phát huy vaitrò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nôngthôn” [19, tr.241] Trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng NTM hiện nay, nôngdân giữ vai trò là chủ thể, đây là sự khẳng định đúng đắn, cần thiết, nhằm phát
Trang 2huy nhân tố con người, khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của nông dân vàocông cuộc xây dựng nông thôn cả về kinh tế, văn hóa và xã hội đồng thời bảođảm những quyền lợi chính đáng của họ
Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Triển khai chương trình xây dựng nông thônmới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trongtừng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của nôngthôn Việt Nam” [19, tr.197 - 198] Bình Dương là một tỉnh thuộc miền ĐôngNam Bộ, hiện nay diện tích đất nông, lâm, ngư nghiệp hơn 214.547ha, chiếm79,60% diện tích đất tự nhiên; có 60 xã nông thôn, chiếm 70,05% dân số và 12%lao động của Tỉnh Trong những năm qua tỉnh Bình Dương đã có nhiều cố gắngtrong việc phát huy vai trò nông dân cùng các thế mạnh của Tỉnh trong xây dựngNTM Tuy nhiên, theo Bộ Tiêu chí Quốc gia và của Tỉnh về xây dựng NTM, chođến nay tỉnh Bình Dương chưa có xã nào đạt đầy đủ các tiêu chí NTM, một trongnhững nguyên nhân cơ bản của hạn chế đó là do chưa nhận thức đầy đủ và pháthuy tốt vai trò của nông dân Để xây dựng thành công NTM ở tỉnh Bình Dương,việc xác định đúng và phát huy tốt vai trò nông dân đang đặt ra những vấn đề thời
sự bức thiết Trong bước phát triển sắp tới, tỉnh Bình Dương cần tập trung khơidậy, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, phát huy tốt vai trò nông dântrong phát triển sản xuất hàng hóa, điều chỉnh các hình thức tổ chức sản xuất cóhiệu quả, tăng thu nhập cho nông dân, chuyển dịch cơ cấu đầu tư, tiếp tục thu hútđầu tư trong và ngoài nước để phát triển công nghiệp trên địa bàn nông thôn, đẩymạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng NTM
Từ những lý do trên, tác giả chọn và nghiên cứu đề tài: “Vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng nông thôn mới hiện nay” là mang tính
cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề xây dựng NTM ở nước ta đã thu hút nhiều nhà khoa học thamgia nghiên cứu, cho đến nay có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Trang 3Nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn:
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới của Lê Quang Phi [43]; Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam Con đường và bước đi của Nguyễn Kế Tuấn [62]; Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta của Hoàng Ngọc Hoà [23] Các tác giả tập
trung luận giải về sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, sự lãnh đạocủa Đảng, những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới cùng nhữnggiải pháp được tác giả đưa ra nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam - Hôm nay và mai sau của Đặng Kim Sơn [47]; Chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân của Hunggari trong quá trình chuyển đổi kinh tế và vận dụng cho Việt Nam do
Lê Du Phong chủ biên [42] Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễntrong nước và quốc tế, các tác giả đề cập đến mối quan hệ giữa nông nghiệp,nông dân và nông thôn trong quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội ở Việt Nam
Một số kinh nghiệm điển hình về phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Lưu Văn Sùng [52]; Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại của Nguyễn Văn Bính [3]; Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc do tập thể các tác giả Phùng Hữu Phú,
Nguyễn Viết Thông, Bùi Văn Hưng chịu trách nhiệm biên soạn [44] Những tácgiả này đi sâu nghiên cứu dưới góc độ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; từnhững kinh nghiệm xây dựng “tam nông” của Trung Quốc để tìm ra giải phápxây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử của Võ Thị Cẩm Vân (2008), Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Bình Dương, dưới góc độ lịch sử tác giả đi sâu vào nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Bình Dương.
Trang 4Nghiên cứu về nông thôn và nông thôn mới:
Bàn về một số vấn đề ở nông thôn nước ta hiện nay của Hồ Văn Thông [55]; Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình trì đô thị hoá của Nguyễn Thị Thơm [56]; Phát triển nông thôn bền vững - Những vấn
đề lý luận và kinh nghiệm thế giới do Trần Ngọc Ngoạn chủ biên [39]; Mấy vấn đề về xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa của Tăng Nghiệp Tùng [64]; Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam của Nguyễn Xuân Thảo [54]; Thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Tâm [53]; Con đường phát triển nông thôn theo định hướng xã hội chủ nghĩa
ở đồng bằng sông Cửu Long nước ta hiện nay của Nguyễn Minh Châu [7]; Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng dài lâu của Đảng và nhân dân ta của Hồ Xuân Hùng [27] Các tác giả trên đây đề cập và nghiên cứu khá
cơ bản về nông thôn Việt Nam, xây dựng được mô hình NTM, giải quyết cácvấn đề liên quan đến nông thôn như xóa đói, giảm nghèo, phát triển KT-XHnông thôn, thực hiện dân chủ ở nông thôn hướng tới xây dựng thành công
NTM xã hội chủ nghĩa ở nước ta Ảnh hưởng của đô thị hoá đến nông thôn ngoại thành Hà Nội - Thực trạng và giải pháp do tập thể tác giả Lê Du
Phong, Nguyễn Văn Áng, Hoàng Văn Hoà chủ biên [41] Công trình này đivào nghiên cứu những ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, quá trình phát triểnCNH, HĐH đến nông thôn trên một số địa phương cụ thể, đề xuất một số giảipháp nhằm khắc phục sự ảnh hưởng đó và xây dựng NTM
Xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn tỉnh Bình Dương, Luận văn thạc sĩ khoa học văn hóa của Đỗ Khắc Điệp (1997) tập trung nghiên cứu lĩnh
vực văn hóa nông thôn, nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả của việcxây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn tỉnh Bình Dương; tác giả Cao Sơn
trên báo Bình Dương (16/08/2009) có bài Nông thôn mới Bình Dương: Xây dựng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tác giả bước đầu đi vào
Trang 5nghiên cứu và chỉ ra một số thực trạng xây dựng NTM ở tỉnh Bình Dươngtheo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Nghiên cứu về nông dân và vai trò nông dân:
Tác động của tâm lý làng, xã trong việc xây dựng đời sống kinh tế - xã hội
ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ nước ta hiện nay của Lê Hữu Xanh chủ biên [69].
Đề tài này tập trung luận giải về nông dân, tâm lý, phong tục, tập quán và đời sốngkinh tế, văn hóa, xã hội làng, xã của nông dân ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ
nước ta trong việc xây dựng đời sống KT-XH Sự chuyển hướng của giai cấp nông dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Nguyễn Đức Hưởng [29]; Đặc điểm và xu hướng biến đổi của giai cấp nông dân nước ta trong giai đoạn hiện nay của Bùi Thị Thanh Hương [28]; Nông dân Tây Bắc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện nay của Đỗ Ngọc Sơn [49] Các đề tài bước
đầu đi nghiên cứu sự phân hóa giào nghèo, đặc điểm của giai cấp nông dân tronggiai đoạn đổi mới đất nước, làm rõ xu hướng biến đổi khách quan của giai cấpnông dân Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo, trình bày một số phương hướng đưagiai cấp nông dân Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Những
đề tài này tuy bàn đến đối tượng là nông dân nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứuvai trò và phát huy vai trò nông dân trong xây dựng NTM
Một vài suy nghĩ về vấn đề nông dân trong xây dựng chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Luận văn thạc sĩ triết học của Nguyễn Thị Tuyết Nhung (1995); Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nông dân trong thực hiện chính sách đối với nông dân ở ngoại thành Hà Nội hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học của Cao Văn Chính (2007); Phát huy vai trò của nông dân trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sĩ triết học của Tô Văn Song (2002); Vai trò nông dân Nam Định trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hiện nay,
Luận văn thạc sĩ triết học của Nguyễn Xuân Đại (2010) Những tác giả trên
Trang 6đây bước đầu đã đi vào nghiên cứu vai trò nông dân, thực hiện dân chủ ởnông thôn và phát huy vai trò nông dân trong sự nghiệp CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn trên một số địa phương cụ thể song lại chưa đi vào nghiêncứu vai trò nông dân trong xây dựng NTM với tư cách là một đề tài cụ thể
Như vậy, cho đến nay đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoa học
và các bài báo khoa học nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân và nông thôncùng những vấn đề liên quan được công bố Song chưa có công trình nào nghiên
cứu đề cập đến vấn đề: Vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng NTM hiện nay Vì vậy, đề tài là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả, không trùng
với các công trình khoa học, luận án, luận văn đã được công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu của luận văn
Làm rõ vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng NTM; đề xuấtphương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò nông dân tỉnhBình Dương trong xây dựng NTM hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Làm rõ quan niệm về xây dựng NTM, đặc điểm, vai trò nông dân tỉnhBình Dương trong xây dựng NTM hiện nay
Đánh giá thực trạng vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựngNTM ở tỉnh Bình Dương thời gian qua, chỉ rõ những kết quả đã đạt được, hạnchế, nguyên nhân cơ bản và một số vấn đề cần quan tâm giải quyết
Đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy hơnnữa vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng NTM hiện nay
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng NTM
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng NTM ở tỉnh BìnhDương, các số liệu điều tra, khảo sát từ năm 2006 đến nay
Trang 74 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
về giai cấp nông dân và xây dựng NTM
- Cơ sở thực tiễn của luận văn
Thông qua các số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của các cơ quan chứcnăng, kết quả nghiên cứu thực tế của tác giả về thực trạng vai trò nông dântỉnh Bình Dương trong xây dựng NTM và kết quả xây dựng NTM ở Tỉnh từnăm 2006 đến 2011
- Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được xây dựng trên cơ sở vận dụng phương pháp luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các phương pháp
lôgíc - lịch sử, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu
liên quan; các phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: điều tra xã hội học,tổng kết kinh nghiệm, chuyên gia… trong quá trình nghiên cứu
5 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp nguồn tư liệu đểcấp uỷ, chính quyền và các tổ chức CT-XH ở địa phương tham khảo trongquá trình lãnh đạo phát huy vai trò nông dân trong xây dựng NTM ở BìnhDương hiện nay, đồng thời là tài liệu cần thiết cho những địa phương khácphát huy vai trò nông dân trong xây dựng NTM hiện nay
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy môn chủ nghĩa
xã hội khoa học ở trường Chính trị của tỉnh và khu vực
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục
Trang 8Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NÔNG DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HIỆN NAY
1.1 Quan niệm về nông thôn mới và vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng nông thôn mới hiện nay
1.1.1 Quan niệm về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bình Dương hiện nay
* Quan niệm về nông thôn mới ở nước ta hiện nay
Nông thôn là địa bàn cư trú, sinh hoạt và phát triển của nông dân đồngnhất với làng, xã; nói cách khác là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nộithị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là uỷban nhân dân xã
Nông thôn đã từng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển đấtnước là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá, nuôi dưỡng nguyên khí của dân tộctrước các nguy cơ đồng hoá, nô dịch Những giá trị nói trên của nông thônluôn luôn cần thiết cho phát triển đất nước, cần và sẽ được tiếp tục trong môhình NTM Nhưng tính khép kín, tính tự cung, tự cấp của mô hình nông thôntruyền thống rõ ràng không đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước saungày độc lập, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Những ý tưởng về một NTM
đã có từ lâu trong nhân dân ta đó là mơ ước về một nông thôn không có nạn
“cường hào”, giảm sưu thuế, hạn chế các “lệ làng” và không có các “hủtục”… Một nông thôn trong đó người nông dân được làm chủ, tự do sản xuất,sống trong tình làng nghĩa xóm “là lành đùm lá rách”, “tối lửa tắt đèn cónhau”… Xây dựng NTM theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay cần chọnlọc và khai thác những mặt tích cực của nông thôn truyền thống, đồng thờikhắc phục những hạn chế, tiêu cực của nó
Sau ngày độc lập, Hồ Chí Minh đã đề xuất phong trào thi đua xây
dựng NTM ở vùng giải phóng, chú trọng xây dựng Đời sống mới, coi đó là
Trang 9biện pháp có hiệu quả nhằm xóa bỏ tàn dư lạc hậu do chế độ cũ để lại Trong xu thế phát triển hiện nay, không thể có một nước công nghiệp nếunông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và đời sống nông dân còn thấp Vì vậy,xây dựng NTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước
Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng quý báu của Hồ Chí Minh về xâydựng NTM, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương Đảng lần thứ 7 khóa X đã xác định: “Xây dựng nông thôn mới cókết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chứcsản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đôthị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dântrí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nôngthôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường” [17, tr.126] Quán triệt, triểnkhai thực hiện Nghị quyết trên của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành BộTiêu chí Quốc gia về nông thôn mới kèm theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày16/4/2009 bao gồm 19 tiêu chí với 5 nhóm nội dung [57]; Quyết định số800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xâydựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 với các mục tiêu cụ thể đến năm
2015 có 20% số xã và đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thônmới (theo Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới) Theo đó Chính phủ đã triểnkhai thực hiện xây dựng 11 xã điểm ở các vùng miền khác nhau, trên cơ sở đórút kinh nghiệm, nhân rộng mô hình trong cả nước, đồng thời phát động phongtrào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”
Đến nay, quan niệm về nông thôn mới ở nước ta về cơ bản đã được địnhhình và bước đầu được cụ thể hoá bằng các chương trình hành động cụ thể củaChính phủ Tuy nhiên, cần thống nhất nông thôn mới trước tiên phải là nôngthôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôntruyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau:
Trang 10nông thôn là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triểnbền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống về vật chất và tinh thần củangười dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc đượcgiữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.
Từ nội dung trên, đặt ra yêu cầu đối với nông thôn mới nước ta hiện nay Một là, đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây
dựng nền kinh tế nông thôn phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bềnvững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năngcạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt
và lâu dài Tăng trưởng kinh tế phải gắn với việc thực hiện công bằng xã hội
và an sinh xã hội ở nông thôn
Hai là, nông thôn được bảo đảm bằng HTCT cơ sở vững mạnh, an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội ổn định, quốc phòng vững mạnh Kết cấugiai cấp - xã hội nông thôn đa dạng, phong phú, các giai cấp, tầng lớp laođộng xã hội đoàn kết, tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng cuộc sống mới.Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - tríthức vững mạnh, tạo nền tảng KT-XH và chính trị vững chắc cho sự nghiệpCNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Ba là, đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn được nâng
cao, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng cònnhiều khó khăn; thực hiện có hiệu quả, bền vững công cuộc xóa đói, giảmnghèo; nâng cao trình độ giác ngộ và vị thế chính trị của giai cấp nông dân,tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trongquá trình CNH, HĐH đất nước; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực nông thôn,dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, đồng thời bảo đảm được mức và
cơ cấu đầu tư để xây dựng hạ tầng NTM, nông dân được đào tạo có trình độsản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chínhtrị, đóng vai trò làm chủ NTM
Trang 11Bốn là, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông
thôn được quản lý tốt và dân chủ Đời sống văn hóa lành mạnh, dân cư nôngthôn được sống trong bầu không khí dân chủ, công bằng cởi mở, đầm đà tìnhlàng nghĩa xóm, truyền thống tốt đẹp của cộng đồng làng xã được phát huy,môi trường trong sạch, lành mạnh
* Nội dung xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bình Dương hiện nay
Ngày 06/11/1996, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ra quyết định tách tỉnh Sông Bé thành 2 tỉnh Bình Dương và Bình Phước.Hiện nay, tỉnh Bình Dương có 3 thị xã (Thủ Dầu Một- trung tâm kinh tế,chính trị, văn hóa của Tỉnh và Thuận An, Dĩ An) và 4 huyện (Tân Uyên, BếnCát, Phú Giáo, Dầu Tiếng) bao gồm 60 xã và 21 phường, thị trấn
Về tự nhiên: Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh, cửangõ thông thương giữa trung tâm công nghiệp, đô thị lớn với các tỉnh miềnĐông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên Với diện tích tự nhiên 269.522ha, trong
đó đất sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp 214.547ha, chiếm 79,60%
Về kinh tế - xã hội: thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt
Nam khởi xướng (năm 1986), nhất là từ sau tái thành lập Tỉnh đến nay, kinh
tế tỉnh Bình Dương đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và tương đối toàn diện, cùng với Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu tạo thành
khu tứ giác kinh tế trọng điểm phía Nam Bắt đầu vào cuối những năm 90 củathế kỷ XX, với chính sách trải “thảm đỏ” chào đón các nhà đầu tư, tỉnh BìnhDương nhanh chóng trở thành địa phương phát triển năng động nhất của cảnước Hiện nay, dân số 1.497.117 người, có 15 dân tộc sinh sống, mật độ dân
số 555 người/km2, nhiều làng nghề truyền thống như: điêu khắc gỗ, đồ gốm,tranh sơn mài… VH-XH có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được đảm bảo, đờisống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiện; quốcphòng - an ninh được giữ vững
Trang 12Mục tiêu chủ yếu phát triển KT-XH 5 năm 2011 - 2015, do Đại hội đạibiểu Đảng bộ Tỉnh khóa IX xác định là: Nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng bộ, xây dựng HTCT vững mạnh gắn với tăngcường khối đại đoàn kết toàn dân; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và toàn diện trêncác lĩnh vực, tập trung phát triển kinh tế nhanh và bền vững Đẩy nhanhchuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng ưu tiên phát triểncông nghiệp, dịch vụ gắn với quá trình đô thị hóa, đầu tư hợp lý để phát triểnnông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao, xây dựng NTM Nâng caohiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp, thực hiện tốt cải cách hànhchính, tạo môi trường thông thoáng để thu hút đầu tư Cải thiện và khôngngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đảm bảo an sinh xãhội và bảo vệ môi trường Giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng -
an ninh, trật tự an toàn xã hội Đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng KT-XH làmđộng lực cho phát triển, sớm đưa Tỉnh thành đô thị văn minh, hiện đại
Tỉnh Bình Dương là nơi hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi, có thiên thời, địalợi, nhân hòa, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển trong giai đoạn đẩy mạnhCNH, HĐH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trên cơ sở những nội dung, tiêu chí xây dựng NTM của cả nước, xuất phát
từ đặc thù về điều kiện tự nhiên, KT-XH của Tỉnh, Tỉnh ủy Bình Dương ban hànhChương trình hành động số 77-CTHĐ/TU ngày 15/10/2008, nhằm thực hiện Nghịquyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; căn cứ Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, Uỷ ban nhân dân Tỉnh ra các Quyết định về ban hành Bộ Tiêu chí xây dựng nông thôn mới tỉnh Bình Dương [Phụ lục 2], phê duyệt
29 xã thực hiện thí điểm xây dựng NTM trên địa bàn Tỉnh, thành lập Ban Chỉ đạothực hiện Chương trình xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 định hướng đếnnăm 2030 với những nội dung cụ thể như sau:
Trang 13Thứ nhất, về quy hoạch và thực hiện quy hoạch nông thôn mới
Ủy ban nhân dân Tỉnh đã phê duyệt các quy hoạch đến năm 2020 làmcăn cứ để định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thônnhư: điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, phát triển các khu, cụm công nghiệp,điện; xây dựng quy hoạch phát triển ngành nông, lâm, ngư nghiệp; quy hoạchphát triển đô thị, dân cư nông thôn, mạng lưới chợ, ngành nghề nông thôn;quy hoạch giao thông nông thôn và giao thông nội đồng
Song song với việc triển khai thực hiện, quản lý tốt các quy hoạch đãđược phê duyệt, tập trung tiến hành quy hoạch phát triển nông thôn cấp xã,từng xã trong quy hoạch sử dụng đất, phát triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạtầng, làng nghề, cụm công nghiệp… phải tuân thủ quy hoạch phát triển KT-
XH toàn vùng đã được phê duyệt, đặc biệt khu dân cư phải được quy hoạchtrước theo vùng để cơ sở hạ tầng phát huy tác dụng, đồng thời đảm bảo đượcnét văn hóa truyền thống
Thứ hai, về phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn mới
Tiếp tục bổ sung các nội dung của đề án phát triển cơ sở hạ tầng KT-XHnông thôn giai đoạn 2007 - 2010, để thực hiện giai đoạn 2010 - 1015 và địnhhướng đến năm 2030, cho phù hợp với Chương trình mục tiêu Quốc gia về xâydựng NTM, trong đó tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu: đầu tư xây dựng hoànchỉnh hệ thống các công trình thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương đảm bảo phục vụtưới cho sản xuất nông nghiệp và tiêu thoát nước công nghiệp, đô thị; đầu tư pháttriển hệ thống đường giao thông nội đồng, tạo thuận lợi trong vận chuyển vật tưnông nghiệp và lưu thông hàng hóa nông sản, chuyển đổi cơ cấu sản xuất
Xây dựng hoàn thiện các thiết chế văn hóa, đẩy mạnh phong trào xâydựng gia đình văn hóa, khu, ấp văn hóa, nâng cao chất lượng hoạt động vănhóa ở các khu dân cư; phổ cập giáo dục trung học; tỷ lệ học sinh tốt nghiệptrung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề) đạt90% trở lên; tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 40% Có trên 40% người dân
Trang 14tham gia các hình thức bảo hiểm y tế; y tế xã đạt chuẩn quốc gia Xã có từ
90% số thôn, ấp trở lên đạt tiêu chuẩn Làng văn hoá theo quy định của Bộ
Văn hoá - Thể thao - Du lịch Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinhtheo quy chuẩn quốc gia đạt 90%; các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêuchuẩn về môi trường; không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và cócác hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp; nghĩa trang được xâydựng theo đúng quy hoạch; chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theoquy định An ninh, trật tự xã hội được giữ vững
Thứ ba, về phát triển sản xuất hàng hóa và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả để tăng thu nhập cho người dân
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn: thông qua chuyển dịchlao động sang phi nông nghiệp bằng đào tạo nghề và xúc tiến giải quyết việclàm; phát triển ngành nghề nông thôn; quản lý tốt các loại hình dịch vụ trongnông thôn; bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống nhằm góp phần giảiquyết việc làm cho khu vực nông thôn, trong đó tập trung thực hiện tốt Đề ánQuy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Bình Dương đến năm 2020
Chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng nâng cao năngsuất, chất lượng, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh trong điều kiện hội nhập.Gắn sản xuất với công nghiệp chế biến để nâng cao giá trị thu nhập trên 1hađất canh tác Tập trung phát triển, nâng cao tỷ trọng chăn nuôi theo hướngcông nghiệp gắn với vùng an toàn dịch bệnh và xử lý môi trường, để từngbước đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính trong cơ cấu ngành nôngnghiệp của Tỉnh Ổn định cơ bản quy hoạch vùng chuyên canh và đất sản xuấtnông nghiệp để nông dân an tâm sản xuất
Khuyến khích, hỗ trợ cho nông dân mở rộng sản xuất, hình thành các trangtrại, doanh nghiệp trong nông nghiệp; tiêu thụ nông sản qua hợp đồng; tạo điềukiện thuận lợi trong việc giải quyết đầu ra cho nông sản; định hình được vị thế củacác loại nông sản chủ lực trên thị trường trong và ngoài nước, thông qua việc xây
Trang 15dựng thương hiệu và quảng bá cho sản phẩm nông sản chủ lực Thu nhập bìnhquân đầu người/năm gấp 1,5 lần so với mức bình quân chung của tỉnh; tỷ lệ hộnghèo dưới 3%; tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm,ngư nghiệp dưới 20%; tổ chức hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.
Thứ tư, về chuyển dịch cơ cấu đầu tư
Tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng KT-XH theo phương châm xã hội hóa, tạo
ra bước phát triển đột phá về kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng KT-XH theohướng văn minh, hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội toàn diệntrên địa bàn Thu hút đầu tư trong và ngoài nước để phát triển công nghiệp trênđịa bàn nông thôn làm nền tảng cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn,nhất là những ngành công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp dùng nguyênliệu tại chỗ Tăng tỷ trọng đầu tư trong xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH
Xây dựng mô hình điểm truy cập công nghệ thông tin trên mạngInternet phục vụ phát triển nông thôn tỉnh Bình Dương thông qua Hội Nôngdân ở tuyến xã nhằm cung cấp thông tin về thị trường, áp dụng các tiến bộ kỹthuật, giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh
Thứ năm, về cơ chế chính sách khuyến khích để huy động nội lực
Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách thu hút đầu tư, xã hội hóa, tíndụng, thương mại và thuế… để tạo điều kiện hỗ trợ đầu vào cho các thànhphần kinh tế trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Phát triển mạng lưới tíndụng, cải tiến thủ tục cho vay, tăng cường vốn vay trung và dài hạn cho khuvực nông nghiệp, nông thôn Các chính sách thúc đẩy chăn nuôi gia súc, giacầm để từng bước đưa chăn nuôi trở thành ngành chính trong cơ cấu nôngnghiệp, như: hỗ trợ chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt; hỗ trợ phát triển hợp tác xã;khuyến khích kinh tế trang trại và kinh tế tập thể phát triển; hỗ trợ phát triểncác hình thức liên kết “4 nhà” trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
Thứ sáu, về hệ thống tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh: cán bộ xã
đạt chuẩn; có đủ các tổ chức trong HTCT cơ sở theo quy định; Đảng bộ,
Trang 16chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”; các tổ chức đoàn thểchính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên.
1.1.2 Đặc điểm và vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng nông thôn mới hiện nay
* Đặc điểm nông dân tỉnh Bình Dương hiện nay
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nông dân hay những người
“tiểu nông” là những tầng lớp xã hội đông đảo, có điều kiện sinh hoạt giốngnhau, nhưng “Phương thức sản xuất của họ không làm cho họ liên hệ với nhau
mà lại làm cho họ cô lập với nhau” [34, tr.264] Theo Lênin, đặc điểm thể hiệnbản chất của giai cấp nông dân: một mặt họ là những người lao động (đây là mặt
cơ bản); mặt khác, họ là những người tư hữu nhỏ [31, tr.175] Trong lịch sử pháttriển của xã hội, qua các phương thức sản xuất, giai cấp nông dân không có hệ tưtưởng độc lập, tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tưởng của giai cấp thống trịđương thời, trong đấu tranh họ không tự đại biểu cho lợi ích của mình với tưcách là một giai cấp xã hội
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã nhận rõ vai trò to lớn của nôngdân trong sự phát triển của xã hội cũng như trong các cuộc đấu tranh cáchmạng Giai cấp nông dân là lực lượng chủ yếu của khối liên minh công nhân -nông dân - trí thức, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân tố cơ
bản bảo đảm thắng lợi của cách mạng XHCN Tổng kết cuộc đấu tranh giai
cấp ở Pháp (1848 - 1850), C.Mác đã nhận định: “Công nhân Pháp không thểtiến lên được một bước nào và cũng không thể đụng đến một sợi tóc nào củachế độ tư sản, trước khi đông đảo nhân dân đứng giữa giai cấp vô sản và giaicấp tư sản, chống sự thống trị của tư bản chưa bị tiến trình của cách mạngbuộc phải đi theo những người vô sản, coi là đội tiên phong của mình” [33,tr.30] Phát triển tư tưởng này, V.I.Lênin chỉ rõ: “Nếu không liên minh vớinông dân thì không thể có được chính quyền của giai cấp vô sản, không thểnghĩ được đến việc duy trì chính quyền đó” [32, tr.57] Sau nội chiến,
Trang 17V.I.Lênin đã thực hiện chính sách Kinh tế mới, trong đó chọn giải pháp “bắtđầu từ nông dân”, từ khôi phục nông nghiệp, từ cải thiện đời sống nông dân
để ổn định tình hình đất nước, phát triển KT-XH
Hồ Chí Minh cho rằng: Nước ta là nước nông nghiệp, đa số là nông dân,nền kinh tế của nước ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nướcnhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phầnlớn; giai cấp nông dân là cộng đồng những người lao động, nhân tố chủ yếu củalực lượng sản xuất, là những người tư hữu nhỏ; nông dân Việt Nam rất yêunước, họ là lực lượng đông đảo, hùng hậu trong dân tộc chống đế quốc, chốngphong kiến, là bạn đồng minh chiến lược của giai cấp công nhân trong đấu tranhcách mạng dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân Người chỉ rõ: “Nông dânlao động là lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành củagiai cấp công nhân” [36, tr.710]; “Cách mạng muốn thành công thì phải lấy dânchúng (công nông) làm gốc” [35, tr.280]; “lực lượng của chúng ta là hàng chụctriệu đồng bào nông dân lao động Khéo tổ chức, khéo lãnh đạo, thì lực lượng ấy
sẽ làm xoay trời, chuyển đất, bao nhiêu thực dân và phong kiến cũng sẽ bị lựclượng to lớn ấy đánh tan” [37, tr.185] Trong xây dựng CNXH, nông dân làngười trực tiếp thực hiện và cụ thể hoá đường lối chính sách của Đảng, Nhànước, góp phần to lớn xây dựng cơ sở vật chất cho xã hội mới tốt đẹp
Cùng với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản và nền đại côngnghiệp, một bộ phận lớn nông dân chuyển thành công nhân nông nghiệp, haythoát li nông thôn thành công nhân công nghiệp Nhờ những bước tiến vượtbậc của khoa học - kĩ thuật, tính chất và vai trò của giai cấp nông dân đã cónhững thay đổi đáng kể
Việt Nam hiện nay, nông dân vẫn chiếm hơn 70% dân số, 48,2% laođộng cả nước (Tổng Cục thống kê năm 2010), là lực lượng xã hội đông đảo,trực tiếp thực hiện vai trò quan trọng của nông nghiệp, đồng thời là ngườisáng tạo, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Vốn xuất thân từ một
Trang 18nước nông nghiệp trồng lúa nước, điều kiện tự nhiên, địa lý, lịch sử vàphương thức cánh tác riêng nên họ có những đặc điểm rất cơ bản, đó là: cótính cố kết cộng đồng làng, xóm chặt chẽ; kinh nghiệm sản xuất thâm canhlúa nước kết hợp với công tác thuỷ lợi; đấu tranh chống thiên nhiên khắcnghiệt; truyền thống đoàn kết đấu tranh chống giặc ngoại xâm… Ngoài rangười nông dân nước ta có những nét đặc trưng, phản ánh bản sắc văn hoádân tộc trong lối sống, cách ứng xử, trong tư duy, tín ngưỡng, nghệ thuật,trong hoạt động văn hoá vật chất và tinh thần.
Trong công cuộc đổi mới, nông dân nước ta có các loại hình cơ bản:nông dân sản xuất nông nghiệp thuần tuý, kết hợp nông nghiệp với nghề phụ,làm dịch vụ sản xuất nông nghiệp, hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất tựchủ, được pháp luật thừa nhận; bao gồm nhiều tầng lớp: hộ nông dân cá thể,nông dân trong các tổ hợp tác, tổ liên kết sản xuất, trong các nông trường vàmột số trang trại…
Như vậy, giai cấp nông dân Việt Nam hiện nay là một lực lượng xã hội
đông đảo, gồm những người lao động sản xuất trên lĩnh vực nông nghiệp trongkhu vực kinh tế hợp tác và kinh tế cá thể, tiểu chủ Trong mối quan hệ với nôngnghiệp, nông thôn, vai trò nông dân được Đảng ta chỉ rõ: “Trong mối quan hệmật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể củaquá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở nôngnghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàndiện, hiện đại hoá nông nghiệp là then chốt” [17, tr.124]
Thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta qua các giai đoạn dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh vai trò của giai cấp nông dân là
vô cùng quan trọng Giai cấp nông dân Việt Nam - lực lượng xã hội đông đảocùng với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức là lực lượng cơ bản của cáchmạng Vai trò đó đã từng được thể hiện trong quá trình cách mạng giải phóngdân tộc, trong các cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc, vì
Trang 19độc lập dân tộc và CNXH Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đi lên xây dựngCNXH, giai cấp nông dân Việt Nam là một bộ phận rất quan trọng trong cơcấu xã hội, trong khối liên minh giai cấp, dân tộc và xã hội, góp phần to lớntạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thúc đẩy và thực hiện thắng lợi sựnghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; là lực lượngđông đảo và giữ vai trò quan trọng trong nông nghiệp, nguồn nhân lực chủyếu quyết định phát triển kinh tế nông thôn, đóng góp quan trọng trong cáchoạt động KT-XH khác của cả nước, nhất là trong việc cung cấp nguồn laođộng cho công nghiệp, đô thị hóa và xây dựng NTM
Là bộ phận hợp thành của giai cấp nông dân Việt Nam, nông dân tỉnhBình Dương có những đặc điểm chung của giai cấp nông dân cả nước; mặt khác
do điều kiện tự nhiên, KT-XH, nên có những đặc điểm riêng nổi bật sau:
Về cơ cấu và xu hướng biến đổi
Ở tỉnh Bình Dương, trước đổi mới nông dân chiếm tuyệt đại đa số, đấtruộng rất ít, nông dân chủ yếu là thuần nông, “thành phần bần nông và trungnông nhỏ chiếm đa số” [25, tr.29], tuy nhiên ngành nghề thủ công phát triểnrất mạnh; sau khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách thống trị, đất sản xuấtcủa nông dân bị chiếm đoạt để trồng cau su, theo đó một bộ phận nông dân dothiếu đất sản xuất phải làm thuê trong các đồn điền cao su và trở thành côngnhân hoặc bán công, bán nông Sau 25 năm đổi mới, nhất là từ ngày tái lậpTỉnh đến nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, dịch vụ, đô thị hoácũng như quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đã làm cho cơ cấunông dân tỉnh Bình Dương có sự biến đổi lớn
Hiện nay, nông dân vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu xã hội - giaicấp của Tỉnh, với dân số nông thôn là 1.048.772 người, chiếm 70,05% dân số, tuynhiên lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 12% cơ cấu lao động chung củaTỉnh, giảm 7,17% do với năm 2005 [Phụ lục 5, 6], điều đó cho thấy dân số nôngthôn chiếm tỉ lệ cao nhưng với sự phát triển mạnh về công nghiệp, dịch vụ trên địa
Trang 20bàn Tỉnh đã tác động ảnh hưởng rất lớn đến nông dân, lao động trong nông nghiệp
có xu hướng giảm mạnh, chuyển sang lao động trong các lĩnh vực phi nôngnghiệp, phần lớn trở thành công nhân công nghiệp, tiếp thu nhanh những thànhtựu khoa học - công nghệ, áp dụng vào trong sản xuất nông nghiệp, cung cấpnguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm trực tiếp cho các khu công nghiệp, vấn đềviệc làm được giải quyết tại địa phương, đời sống được cải thiện, cơ sở hạ tầngđược nâng lên Tuy nhiên, nông dân tỉnh Bình Dương cũng chịu những tác độngtiêu cực của quá trình đó như đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, môi trường sinhthái bị ô nhiễm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, tệ nạn xã hội gia tăng, đạođức, lối sống, tình làng, nghĩa xóm bị giảm sút, tay nghề hạn chế trong khi phảicạnh tranh gay gắt với lực lượng lao động nhập cư từ các địa phương khác đến…
Cơ cấu theo ngành ở tỉnh Bình Dương có sự chuyển dịch mạnh mẽ trongcác ngành phi nông nghiệp, nhất là công nghiệp, dịch vụ và thương nghiệprộng khắp trong toàn Tỉnh, tập trung nhất là ở 3 thị xã và huyện Bến Cát; nôngnghiệp theo hướng giảm dần tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế, chiếm tỷ trọng 4,4%
cơ cấu tổng sản phẩm theo nhóm ngành, nhưng giá trị sản xuất vẫn tăng bìnhquân hàng năm là 4,7% Riêng nông nghiệp, ngành trồng trọt tăng bình quân3,2%; chăn nuôi tăng 13,7% hàng năm; tỷ trọng trồng trọt - chăn nuôi đến năm
2010 là 70,6% - 29,4% Cây lâu năm và chăn nuôi tập trung tiếp tục là thếmạnh về nông nghiệp của Tỉnh [Phụ lục 11, 12]
Cơ cấu theo thành phần kinh tế đa dạng với nhiều hình thức khác nhaubao gồm: kinh tế hộ cá thể, hợp tác xã, trang trại, doanh nghiệp nhà nước,nông, lâm trường quốc doanh, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Giá trị sảnxuất của ngành nông nghiệp phân theo thành phần kinh tế năm 2009, khu vựckinh tế trong nước đạt 10.887.597 triệu đồng (trong đó nhà nước 2.785.156triệu, tập thể 130.283 triệu, tư nhân 26.512 triệu, cá thể 7.189.562 triệu, hỗnhợp 640 triệu đồng), khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 538.537 triệu
Trang 21đồng [Phụ lục 10] Kinh tế trang trại tiếp tục khẳng định vai trò quan trọngtrong phát triển KT-XH ở nông thôn; tổng giá trị sản lượng hàng hóa nôngnghiệp tăng gấp 2 lần so với năm 2005; các hợp tác xã nông nghiệp được củng
cố và đổi mới về phương thức hoạt động gắn với lợi ích thiết thực của xã viên
Sự đa dạng, phong phú về thành phần kinh tế trong nông dân tỉnh Bình Dương
là một xu hướng tích cực, tạo động lực phát triển kinh tế hàng hoá, mở rộng cácloại hình dịch vụ nông nghiệp, phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Về văn hoá, tâm lý, lối sống
Văn hóa truyền thống của người Bình Dương nói chung và nông dânnói riêng rất phong phú, đa dạng Ngoài những ngành nghề nổi tiếng, lâu đờinhư nghề mộc, điêu khắc, gốm sứ, sơn mài và các nghề khác như đục đẽo đá,nghề làm guốc, đan lát mây tre, hội họa, kiến trúc… còn có loại hình văn hóarất đặc sắc, đó là dân ca với các thể loại như: Hát đưa em, Lý, Hò Huê tình,Nói thơ, Hô lô tô, Nòi vè, Thơ rơi…
Nông dân tỉnh Bình Dương sớm tiếp thu sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam, tin tưởng vào sự lãnh đạo và một lòng đi theo Đảng ngay từnhững ngày đầu thành lập, ủng hộ hết sức mình cho sự nghiệp cách mạng giảiphóng dân tộc trước đây cũng như sự nghiệp đổi mới đất nước và xây dựngNTM hiện nay
Nông dân tỉnh Bình Dương có tính cách phóng khoáng, trọng nghĩakhinh tài, có lối sống chân thật Vốn là người từ các nơi đến khai hoang, lập
ấp, thiên nhiên hoang dã, lạ lẫm, đầy thách thức và nguy hiểm; song lại đầyhứa hẹn, đòi hỏi dũng khí mạo hiểm mang sắc thái ngang tàng, trọng nghĩakhinh tài của người nông dân Nam Bộ; cần cù trong lao động nhưng xét vềtính cách thì tự do phóng khoáng “kiểu Nam Bộ”, năng động, dám nghĩ, dámlàm, biết tính hiệu quả kinh tế trong làm ăn, xin thì cho, vay thì trả, đã chịu thìchơi hết mình, chí cốt, chí tình, cương trực, khảng khái, khi quyền lợi và danh
dự bị xâm phạm thì có phản ứng quyết liệt, sẵn sàng đấu tranh vì lẽ phải
Trang 22Tính đa dạng phong phú về văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc.Trong sự phát triển, nông dân tỉnh Bình Dương được tụ hợp từ nhiều vùngkhác nhau, tạo nên tính đa dạng, phong phú về văn hóa, tín ngướng, tôn giáo.Nhưng đó là tính đa dạng trọng tích hợp văn hóa, tạo nên sự cân bằng trênphương diện tâm thức tín ngưỡng xã hội, thống nhất trong đa dạng
* Biểu hiện của vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng nông thôn mới hiên nay
Vai trò của nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng NTM hiện nay
là chủ thể tích cực tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch và thực hiệnquy hoạch xây dựng NTM, chủ động và sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạtầng KT-XH ở nông thôn, trực tiếp trong phát triển kinh tế và tổ chức sản xuấtCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, tích cực, sáng tạo trong xây dựng và gìngiữ đời sống VH-XH, môi trường ở nông thôn, nhân tố góp phần quan trọngvào xây dựng HTCT vững mạnh, bảo đảm an toàn trật tự xã hội ở cơ sở
Một là, nông dân là chủ thể tích cực tham gia xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Sự chủ động sáng tạo của nông dân được định hướng đúng kết hợp với
sự chỉ đạo kịp thời sẽ tạo động lực xây dựng nông thôn giàu mạnh Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã từng nói: Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong Do vậy, trong quá trình xây dựng quy hoạch, cần phải lấy ý
kiến góp ý của cộng đồng dân cư nông thôn, mà cốt lõi là nông dân địaphương từ khâu khảo sát, lập danh mục đầu tư, xác định nguồn vốn đến khâu
hoàn thiện bộ máy quản lý điều hành theo phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân là người hưởng lợi
Hai là, nông dân là chủ thể chủ động, sáng tạo tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn
Hạ tầng KT-XH nông thôn là hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, trườnghọc, cơ sở vật chất văn hóa, chợ, bưu điện và nhà ở dân cư liên quan mật thiết
Trang 23đến đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân ở nông thôn Chính vì vậy trongquá trình xây dựng nhất thiết phải có sự tham gia của nông dân; không có sự thamgia tích cực của nông dân, chương trình xây dựng NTM khó thành công.
Xuất phát từ quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết về chính nơi họ sinh
sống có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch, khảo sát thiết kế các côngtrình xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH nông thôn Mặt khác, họ có điều kiệntham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng côngtrình; nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đíchxây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu đóng góp, trách nhiệm
và quyền lợi của chính họ
Sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế hoạch phát triển sảnxuất, các giải pháp thực hiện, như: bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới,đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phươngthức khai thác, tổ chức quản lý, các mức đóng góp, các định mức chi tiêu từcác nguồn thu… trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi Việc đóng góp của
nông dân không chỉ dừng lại ở vật chất, tiền bạc, sức lao động mà còn ở cả
nhận thức về quyền sở hữu, tinh thần trách nhiệm và trí tuệ Sự tham gia laođộng trực tiếp từ người dân vào các hoạt động phát triển nông thôn như: đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyếnlâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến tổ chức tiếpnhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào quátrình cụ thể như hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ nhữngviệc tham gia đó tạo cơ hội cho họ có việc làm và tăng thu nhập
Ba là, nông dân tỉnh Bình Dương là chủ thể trực tiếp trong phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Nông dân vẫn chiếm hơn 70% dân số, 12% lực lượng lao động toàn
Tỉnh, họ là chủ thể trực tiếp của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn, là thành phần nòng cốt trực tiếp lao động sản xuất trong lĩnh vực nông
Trang 24nghiệp và xây dựng NTM, tạo ra một khối lượng của cải vật chất to lớn cho
xã hội, làm thay đổi diện mạo nông thôn ngày càng văn minh, hiện đại Ngườinông dân với ý chí vươn lên, bản chất cần cù, sáng tạo, hăng say lao độngchính là động lực to lớn khơi dậy mọi tiền năng vốn có, mọi nguồn lực tạonên sức mạnh tổng hợp tấn công vào mặt trận sản xuất, phát triển nông nghiệptoàn diện và xây dựng NTM ngày càng giàu đẹp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là đòi hỏi kháchquan, cơ sở cho nền nông nghiệp hàng hoá, nội dung quan trọng của CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn, thực chất là từng bước thực hiện hợp lý hoá
phân công lao động xã hội, đồng thời đây cũng là biện pháp cơ bản để tạo ranhiều việc làm, cải thiện nâng cao đời sống cho nông dân Để thực hiện đượcđiều đó, trước hết và quan trọng nhất là phát huy vai trò tích cực, chủ động,sáng tạo của người nông dân Trong cơ chế mới, nông dân dần dần xoá bỏ thóiquen, an phận, trông chờ, ỷ lại chuyển sang năng động, nhạy bén tìm hướng đicho mình Bằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ngành nghề, cân đối lại chăn nuôi,trồng trọt, theo hướng đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi nhằm đạt mục tiêu tăngchất lượng và giá trị sản phẩm thay vì chạy theo số lượng đơn thuần như trướcđây Sự mở rộng sản xuất phi nông nghiệp, dịch vụ của nông dân, một mặt thúcđẩy quá trình sản xuất hàng hoá, mặt khác góp phần tích cực vào phân bố cơcấu lao động - xã hội theo hướng ngày càng giảm lao động nông nghiệp, bổsung nguồn lực lao động cho các ngành công nghiệp và dịch vụ
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nhữngđóng góp của nông dân là vô cùng quan trọng, bên cạnh bảo đảm an ninh lươngthực, tạo ra nguồn của cải to lớn đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vữngcủa đất nước, những sản phẩm của nông dân nước ta đã tạo ra những lợi thếcạnh tranh và nâng uy tín, vị thế của nước ta trên thị trường quốc tế
Bốn là, nông dân tỉnh Bình Dương là chủ thể tích cực, sáng tạo trong xây dựng và gìn giữ đời sống văn hoá - xã hội, môi trường ở nông thôn
Trang 25Việc nông dân xây dựng NTM không nên hiểu đơn thuần là tham giagóp tiền, công sức, ý kiến vào các hoạt động xây dựng Nguồn lực của nôngdân phục vụ xây dựng NTM rất phong phú, đa dạng: tự đầu tư, tăng thu nhậptrong các hoạt động kinh tế gia đình; giữ gìn nếp sống văn hóa; từ gọn nhà,sạch ngõ đến việc đóng góp, tham gia vào các hoạt động chung của thôn, xã,giữ vững an ninh trật tự… thực chất đó chính là những hoạt động thiết thựchằng ngày của mỗi người dân
Nông dân là người hưởng thụ và sáng tạo các giá trị VH-XH, trực tiếpphản biện các vấn đề liên quan đế đời sống vật chất và tinh thần của của mình
ở nông thôn Chính nông dân là những người tích cực thực hiện cuộc vậnđộng “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, thực hiện nếp sốngmới có văn hoá trong việc cưới, việc tang, bài trừ hủ tục mê tín dị đoan, xâydựng hương ước, quy ước về làng văn hoá để cùng nhau thực hiện
Năm là, nông dân tỉnh Bình Dương là nhân tố góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh, củng cố khối liên minh công - nông - trí thức, đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm an ninh, trật tự xã hội ở nông thôn
Nông dân là nhân tố quan trọng đóng góp, tham gia xây dựng hệ thốngCT-XH ở cơ sở vững mạnh, thực hiện quy chế dân chủ ở nông thôn có hiệuquả Để các cấp uỷ Đảng và chính quyền phát huy được vai trò, chức năng,hiệu lực quản lý xã hội của mình ở nông thôn đòi hỏi phải có sự ủng hộ, đoànkết của nhân dân nói chung và nông dân nói riêng
Nông dân là lực lượng quan trọng trong khối liên minh giữa giai cấpcông nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam Chính nông dân đã cung cấp một đội ngũ lao độngtrẻ, có trình độ chính trị, văn hoá, kỹ thuật và sức khoẻ, kỷ luật gắn bó chặtchẽ với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức trong liên minh tạo nền tảngvững chắc cho chế độ xã hội mới
Trang 26Nông dân có vai trò quan trọng trong tăng cường đoàn kết, giữ gìn ổnđịnh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố vững chắc quốc phòng an ninh ởnông thôn; gương mẫu chấp hành luật pháp, tham gia xây dựng thôn, ấp vữngmạnh, bình yên, động viên con em lên đường nhập ngũ thực hiện nghĩa vụquân sự bảo vệ Tổ quốc, đóng góp sức người sức của góp phần đáp ứng yêucầu củng cố quốc phòng, an ninh ở địa phương; phát hiện tố giác tội phạm,cảm hoá giáo dục người phạm tội, giữ vững an ninh nông thôn, góp phần thựchiện tốt Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia; Nghị quyết 09/CP và Chươngtrình quốc gia phòng, chống tội phạm; xây dựng, củng cố nền quốc phòngtoàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh
Hiện nay, kẻ thù đang thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạnlật đổ, trước mắt chúng tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn về vấn đề dân tộc, tôngiáo, lợi dụng những hạn chế, yếu kém của đất nước để chống phá Đảng và Nhànước ta Vì vậy, vận động nông dân tham gia xây dựng HTCT cơ sở trong sạch,vững mạnh có ý nghĩa to lớn ngăn ngừa được âm mưu phá hoại của kẻ thù nhằmchia rẽ giữa nhân dân với Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Vai trò nông dân tỉnh Bình Dương thể hiện là chủ thể trực tiếp trongxây dựng NTM ở tỉnh Bình Dương, đồng thời góp phần quan trọng cùng “Cảnước chung sức xây dựng nông thôn mới” thành công
1.2 Thực trạng vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng nông thôn mới hiện nay
1.2.1 Những ưu điểm vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng nông thôn mới hiện nay và nguyên nhân của nó
* Những ưu điểm vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng nông thôn mới hiện nay
Một là, phần lớn nông dân tỉnh Bình Dương đã tích cực tham gia xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa gắn với lợi ích thiết thân của mình từchủ trương, đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng trên lĩnh vực nông nghiệp,
Trang 27nông dân và nông thôn, nông dân tỉnh Bình Dương đã tích cực tham gia cùngcấp ủy, chính quyền, các ban ngành địa phương triển khai xây dựng các loạiquy hoạch, chương trình, đề án và dự án phát triển KT-XH, xây dựng NTM
Kết quả điều tra có 97,50% ý kiến cho rằng nông dân tỉnh Bình Dươngnhận được các thông tin về các chủ trương, chính sách phát triển KT-XH củaĐảng và chính quyền, trong đó mức độ thường xuyên là 35,00%, họ được bànbạc và tham gia ngay từ đầu; họ tích cực thảo luận, bàn bạc đề đạt, kiến nghịcác ý kiến lên các cấp ủy, chính quyền và cơ quan chức năng, trong quá trìnhtriển khai về cơ bản phù hợp với nguồn lực của chính họ, phù hợp nguồn lựccủa địa phương và của Trung ương hỗ trợ đạt kết quả cao; nhiều công trìnhnông dân tham gia thực hiện, tạo được việc làm, có thêm thu nhập, tự giácchỉnh trang nhà ở theo quy hoạch chung, đóng góp cho văn minh sạch đẹp củalàng xã Có 80,00% ý kiến trả lời cần bổ sung và hoàn thiện các chính sáchđối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn của Đảng, Nhà nước nói chung
và ở địa phương nói riêng, điều đó chứng tỏ nông dân tỉnh Bình Dương khôngthờ ơ, mà đã biết và tham gia tích cực vào quá trình này [Phụ lục 1]
Ủy ban nhân dân Tỉnh đã phê duyệt các quy hoạch tổng thể đến năm 2020làm căn cứ định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đồngthời được sự đồng thuận ủng hộ của nhân dân, đến nay 100% các xã trong tỉnh
đã hoàn thành quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuấtnông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Các Sở, ban ngành có liên quan xây dựng nhiều các Chương trình mụctiêu Quốc gia về xây dựng NTM; chương trình xóa điện kế tổng; chương trìnhgiảm nghèo và giải quyết việc làm; các chính sách thu hút đầu tư, xã hội hóa,tín dụng, thương mại và thuế… tạo điều kiện hỗ trợ đầu vào cho các thànhphần kinh tế trong khu vực nông nghiệp, nông thôn
Hai là, chủ động và sáng tạo tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội ở nông thôn
Trang 28Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” theo chủ trương
xã hội hóa, nhiều hộ nông dân đã hiến đất, tài sản trên đất và đóng góp tiền,ngày công lao động để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn Từ năm 2003 -
2008 nông dân đã đóng góp được trên 19 tỷ đồng và 63.774 ngày công laođộng, để sửa chữa và nâng cấp 1.202km đường giao thông nông thôn và 1.004cây cầu; nạo vét khai thông sông suối, cơi đắp bờ bao, kênh mương nội đồng
269km; xây và sửa chữa 110 phòng học, hạ thế điện, xóa đồng hồ tổng… [24,tr.5] Năm 2010 trong báo cáo Tổng kết hoạt động Hội và phong trào nôngdân cho thấy kết quả thực hiện được 255,74km đường, 113,2km kênh mươngnội đồng, 10.022 cầu, cống, 16 phong học, trạm xá, 03 công trình điện nôngthôn với 10.909 ngày công lao động, tiền vận động nông dân đóng góp trên8.056 tỷ đồng, góp phần đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân,làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới [26, tr.5]
Ba là, phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ
và giảm tỷ trọng nông nghiệp
Thực hiện các Nghị quyết của Trung ương và của Tỉnh về đẩy mạnhCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đến nay, lĩnh vực nông nghiệp, nông thôntỉnh Bình Dương có nhiều đổi mới, đời sống vật chất, tinh thần của dân cưnông thôn ngày càng được nâng cao Đa số hộ nông dân đã mạnh dạn chuyểnđổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sảnxuất; tự chủ trong quá trình sản xuất, tự do tìm kiếm thị trường, tìm đối tác liêndoanh liên kết; tự tổ chức quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo hướngphù hợp với nhu cầu thị trường và pháp luật nhà nước nên đã tạo ra được môitrường kinh tế sôi động, hiệu quả Cơ cấu kinh tế nông thôn tiếp tục chuyểndịch mạnh mẽ theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng
Trang 29nông nghiệp, năm 2010 công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp tương ứng là 63%
- 32,6% - 4,4% So với thời điểm 2005 thì dịch vụ tăng 4,5%, công nghiệpgiảm 0,5% và nông nghiệp giảm 4,4% [Phụ lục 15]
Từ năm 2006 đến nay đất nông nghiệp bình quân mỗi năm giảm trên2.000ha (do quá trình phát triển công nghiệp và đô thị), tỷ trọng ngành nôngnghiệp tiếp tục giảm trong cơ cấu kinh tế của Tỉnh, nhưng giá trị sản xuất vẫntiếp tục tăng, bình quân tăng 4,7%/năm Sản xuất nông nghiệp của Tỉnh tiếptục phát triển theo hướng sản xuất nông sản hàng hóa, có giá trị, hiệu quả cao,nhất là trong điều kiện kinh tế cả nước gặp nhiều khó khăn, kết quả đó khẳngđịnh sự chuyển dịch đúng hướng của nông nghiệp Tỉnh
Sự phát triển của ngành nghề nông thôn kết hợp với việc đầu tư pháttriển công nghiệp vào địa bàn nông thôn đã góp phần đẩy nhanh tốc độchuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch lao động nông nghiệp sang phinông nghiệp Năm 2010 lao động trong nông, lâm nghiệp và thủy sản còn12% trong cơ cấu lao động chung của Tỉnh, giảm 7,17% so với năm 2005,song họ vẫn là nguồn nhân lực chủ yếu trong quá trình CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn [13, tr.41] Công tác giải quyết việc làm được quan tâm,tiến hành thực hiện nhiều giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng thất nghiệp vàthời gian nông nhàn trong nông thôn, như: thành lập các trường dạy nghề,trung tâm dịch vụ việc làm, cho vay đối với người xuất khẩu lao động; hàngnăm tổ chức dạy nghề, các Trung tâm dịch vụ việc làm đã tổ chức đào tạonghề cho 82.216 lao động, giải quyết việc làm cho 149.082 lao động [26]
Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, đã góp phần nângcao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp nhândân trong Tỉnh Thu nhập bình quân đầu người toàn Tỉnh đến cuối năm 2010đạt 30,1 triệu đồng/người/năm, khu vực nông thôn đạt 19,04 triệu đồng Theotiêu chí Quốc gia quy định xã đạt NTM phải có thu nhập đạt gấp 1,5 lần sovới mức thu nhập bình quân chung khu vực nông thôn của Tỉnh, kết quả 20 xã
Trang 30đạt Hộ nghèo, theo tiêu chí Quốc gia quy định dưới 3%, có 100% xã đạt Cơcấu lao động NTM có tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vựcnông, lâm, ngư nghiệp dưới 20%, có 53,52% xã đạt Tính đến tháng 12/2009,toàn Tỉnh có 2.852 tổ hợp tác và 88 hợp tác xã Trong đó, có 60,56% xã cóhợp tác xã hoạt động có hiệu quả theo tiêu chí quy định [50]
Áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất lao động
Ý thức được vai trò của tiến bộ kỹ thuật, khoa học - công nghệ đối vớiphát triển sản xuất nông nghiệp, nông dân cùng với các ngành, đoàn thể, địaphương trong Tỉnh đã thường xuyên triển khai xây dựng và nhân rộng nhiều môhình sản xuất, nuôi trồng đạt hiệu quả kinh tế cao Trình độ kỹ thuật, ứng dụngkhoa học công nghệ trong nông nghiệp ngày càng được nâng cao rõ rệt, đến nay
tỷ lệ sử dụng giống mới các loại cây trồng chính của Tỉnh như: cây cao su đạt93%, điều đạt 58%, bắp đạt 100%, rau đạt 100%; 90% đàn gia cầm, 100% đànheo được nuôi bằng giống mới; tỷ lệ bò lai sind đạt 90%, có 77% diện tích đấtcanh tác cây lâu năm đã được cơ giới hóa trong khâu làm đất, chăm sóc, cáckhâu công việc nặng nhọc đã được cơ giới hóa, như: vận chuyển, vật tư vậnchuyển nông sản hàng hóa, gặt đập, bơm tưới; 80% trang trại chăn nuôi đã đầu
tư hệ thống máng ăn, máng uống theo hướng tự động và bán tự động [67, tr.3].Trang trại trồng trọt đã áp dụng rộng rãi vào sản xuất một số tiến bộ kỹ thuật mớitrong canh tác, như: trồng cây trong nhà lưới; trồng rau có phủ bạt, phòng trừdịch hại tổng hợp; sử dụng hệ thống tưới phun, tưới thấm cho cây ăn trái, điểnhình như Nông trang Phương Uyên, trang trại Thanh Thủy, Tân Nông, các hộchăn nuôi heo, gà với hệ thống chuồng lạnh ở Minh Hòa huyện Dầu Tiếng đãgóp phần giảm chi phí công lao động, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi từ 5-10%, chất lượng nông sản từng bước đã được nâng lên
Bốn là, tích cực, sáng tạo trong xây dựng và gìn giữ đời sống văn hoá
-xã hội, môi trường ở nông thôn
Trang 31Nông dân tỉnh Bình Dương đã phát huy được vai trò của mình, tíchcực, sáng tạo trong xây dựng đời sống VH-XH nông thôn, làm cho đời sốngvăn hóa được mở rộng, cơ sở hạ tầng văn hóa nông thôn được hoàn thiện vàphát triển, các hoạt động văn hóa phong phú hơn, bước đầu hình thành hệthống dịch vụ văn hóa công cộng nông thôn, qua đó nâng cao trình độ đạođức, tư tưởng, văn hóa, khoa học của đông đảo quần chúng nông dân, thúcđẩy KT-XH nông thôn phát triển.
Quy mô giáo dục phát triển nhanh, chất lượng các ngành học, cấp học cónhiều chuyển biến, chủ trương xã hội hóa trên lĩnh vực giáo dục được nhiều đơn
vị, cá nhân trong và ngoài Tỉnh hưởng ứng, tham gia đầu tư khá mạnh Hàng năm,
tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo đạt 100%, 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100% Cáchuyện, thị, xã đều đã duy trì phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ thôngtrung học cơ sở; có 70% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập bậc trung học; có89% xã, phường, thị trấn có Trung tâm học tập cộng đồng; 69,01% số xã đạt tỷ lệhọc sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổtúc, học nghề) Tỷ lệ trúng tuyển đại học, cao đẳng hàng năm đều tăng, năm 2010đạt 52,1% (so với 2006 tăng 33,9%) Trên địa bàn tỉnh có 14 trường đại học, caođẳng, 13 trường trung cấp và 30 cơ sở đào tạo nghề; toàn Tỉnh có 30 xã đạt chỉtiêu NTM về tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 40% [13, tr.52 - 53]
Cơ sở vật chất các ngành y tế được đầu tư nâng cấp, mở rộng ở cáctuyến; mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố, phát triển; việc chăm sócsức khỏe ban đầu cho nhân dân được đẩy mạnh, khống chế hiệu quả các dịchbệnh nguy hiểm; vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh lao động từng bước đượcquản lý Đến cuối năm 2010, toàn Tỉnh có 703 cán bộ y tế phục vụ tại cáctrạm, bình quân mỗi trạm có 7,72 cán bộ y tế, 100% trạm y tế xã, phường, thịtrấn có bác sĩ phục vụ, có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi; 100% thôn, ấp có nhânviên y tế phục vụ; 96,7% xã đạt chuẩn về y tế; thực hiện bảo hiểm y tế đạt64,5% dân số, trong đó có 100% hộ nghèo…[13, tr.54 - 55]
Trang 32Cuộc vận động: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” pháttriển sâu rộng, chú trọng chất lượng đã tác động tích cực đến đời sống tinhthân của nông dân Đến nay, toàn Tỉnh có 87,73% hộ đạt gia đình văn hóa;63,19% khu phố, ấp đạt tiêu chuẩn phố, ấp văn hóa, tiên tiến Các thiết chếvăn hóa, thể thao được quan tâm đầu tư theo từng vùng, toàn tỉnh đã xây dựngđược 10 Cụm văn hóa - thể thao liên xã, tỷ lệ xã có thiết chế văn hóa đạt21,97%, trong đó có 6 Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Vănhóa - Thể thao - Du lịch [13, tr.55 - 56].
Trong những năm qua, tỉnh Bình Dương đã tập trung tuyên truyền nângcao nhận thức pháp luật về bảo vệ môi trường trong các tầng lớp nhân dân;thường xuyên kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các vụ việc gây ô nhiễmmôi trường; kiên quyết không tiếp nhận các dự án đầu tư có nguy cơ gây ônhiễm; hạn chế các dự án ngoài khu công nghiệp, cụm công nghiệp; đẩy mạnhviệc di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra ngoài các khu dân cư, khu đôthị… Đến nay, khu vực nông thôn: có trên 90% số hộ được sử dụng nước sạchhợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia; 37/60 xã đạt tiêu chí các cơ sở sản xuất,kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường; 47/60 xã đạt chỉ tiêu không có cáchoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trườngxanh, sạch, đẹp; 58/60 xã có nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch; 39/60
xã đạt tiêu chí chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định [50]
Hội Nông dân tỉnh Bình Dương là lực lượng nòng cốt của phong tràonông dân xây dựng NTM, số hội viên chiếm 94,82% so với số hộ sản xuấtnông nghiệp, những năm qua Hội đã tích cực, chủ động, sáng tạo trong triểnkhai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và các chương trình, đề án củatrên, đồng thời trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo các phong trào Hội, góp phần to lớnvào sự nghiệp xây dựng NTM, đặc biệt là xây dựng đời sống VH-XH và bảo
vệ môi trường nông thôn của Tỉnh
Trang 33Năm là, góp phần quan trọng xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh, củng cố khối liên minh công - nông - trí thức, đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm an ninh, trật tự xã hội ở nông thôn
Hoạt động của HTCT cơ sở ở nông thôn tỉnh Bình Dương trong nhữngnăm qua, được sự tin tưởng, đồng thuận của các tầng lớp nhân dân, trong đó cónông dân, một mặt đã giữ vững ổn định CT-XH, mặt khác - mặt cơ bản đã huyđộng được mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phươngtheo mục tiêu của từng thời kỳ kế hoạch của chiến lược phát triển Một trongnhững thành tựu quan trọng trong quá trình xây dựng NTM thời gian qua ở tỉnhBình Dương đó là HTCT cơ sở nông thôn đã thực sự từng bước được củng cố,tăng cường để thích nghi với quá trình CNH, HĐH, xây dựng và phát triển KT-
XH, xây dựng NTM trong thời kỳ hội nhập Từ một hệ thống tổ chức mang nặngtính tập trung, quan liêu, hành chính qua đổi mới, toàn bộ hệ thống cũng nhưmỗi nhân tố cấu thành của HTCT tỉnh Bình Dương đã thực sự có bước chuyển đổi
về chất Ở tỉnh Bình Dương đã hình thành một bộ máy - hệ thống các cơ quanquyền lực đại diện với đội ngũ cán bộ trẻ tại các xã, thôn, ấp để có thể sát cánh vớilớp cán bộ đi trước trong sự nghiệp xây dựng, phát triển quê hương, đất nước
Sau hơn 10 năm thực hiện, Quy chế dân chủ cơ sở (năm 2007 được nânglên thành Pháp lệnh) đã thực sự đi vào cuộc sống, dân chủ ở nông thôn được
mở rộng, trình độ dân trí của nhân dân được nâng lên, ý thức trách nhiệm côngdân được khơi dậy và phát huy Trong bầu không khí dân chủ, cởi mở: đã lôicuốn nhân dân thực sự tham gia vào công việc của Đảng, chính quyền các cấp,khơi dậy mạnh mẽ tính chủ động, sáng tạo của nông dân, thông qua các đợtsinh hoạt chính trị rộng lớn như bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp vàQuốc hội, Đại hội Đảng các cấp từ chi bộ thôn, ấp cho đến Đại hội Đảng bộtoàn quốc; nông dân đã tham gia góp ý vào các Luật (Luật Bầu cử đại biểu Hộiđồng nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân ); góp ýkiến với Đảng về Dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội; học tập quán triệt,
Trang 34vận dụng Nghị quyết vào cuộc sống; hình thành được phương thức cơ bản đểnhân dân tham gia xây dựng hệ thống CT-XH ở cơ sở; thúc đẩy các cơ quan vàcán bộ hoạt động theo hướng công khai hoá, chịu sự giám sát, phê bình củangười dân từ cơ sở, góp phần củng cố và hoàn thiện HTCT ở cơ sở, thúc đẩyphát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở nông thôn
Hệ thống tổ chức Đảng ở nông thôn được Tỉnh uỷ quan tâm xuyên suốt,trong đó chú trọng việc phát huy dân chủ trong sinh hoạt tự phê bình và phêbình, tăng cường đoàn kết nội bộ, nâng cao chất lượng sinh hoạt ở từng chi bộ.Đội ngũ đảng viên ở cơ sở có năng lực khá hơn, năng động, hoạt động hiệu quảhơn, dám chịu trách nhiệm và biết tổ chức quản lý, xử lý các tình huống theoluật định Đảng viên ở xã luôn gương mẫu đi đầu trong việc phát triển kinh tế,xoá đói giảm nghèo Các tổ chức Đảng ở nông thôn đã phát huy được vai trò hạtnhân chính trị và lãnh đạo toàn diện đối với cơ sở Công tác quản lý, đào tạo, sửdụng cán bộ có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, toàn Tỉnh có 42 xã cótrên 70% cán bộ xã đạt chuẩn Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng đãtừng bước được cụ thể hoá trong hoạt động thực tiễn Phương thức hoạt độngcủa tổ chức Đảng tiếp tục được đổi mới [13, tr.73 - 76]
Tổ chức và hoạt động của chính quyền ở cơ sở nông thôn được củng
cố, kiện toàn, 100% số xã có đủ các tổ chức trong HTCT cơ sở, 100% Đảng
bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh” [50, tr.7] Chínhquyền các xã đã đưa ra các chủ trương để dân bàn, dân quyết định và xâydựng các quy định, quy ước công tác tiếp dân của Uỷ ban xã cũng dần đivào nền nếp, hoạt động có hiệu quả, giải quyết vụ việc thấu tình đạt lý, hợplòng dân, hạn chế đơn thư khiếu nại vượt cấp
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn để đã phát huy được vai trò của mình,nhất là trong việc kiểm tra, giám sát các hoạt động của chính quyền, cán bộchủ chốt Các đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lênchiếm 92,96% Chất lượng hoạt động của các tổ chức CT-XH ở cơ sở tỉnh
Trang 35Bình Dương trong phát huy vai trò nông dân trong xây dựng xây dựng NTMhiện nay, qua kết quả khảo sát về cơ bản là khá và tốt [Phụ lục 1] Tạo đượcđộng lực phát huy tiềm năng, sức sáng tạo trong nông dân thông qua việcđóng góp công sức, trí tuệ xây dựng, tham gia kiểm tra giám sát việc thựchiện các chủ trương, chính sách phát triển KT-XH địa phương góp phần xâydựng đội ngũ cán bộ, cấp uỷ, chính quyền trong sạch, vững mạnh
* Nguyên nhân của những ưu điểm
Một là, nông dân tỉnh Bình Dương có những điều kiện thuận lợi về tự nhiên và kinh tế - xã hội
Bình Dương là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tiếpgiáp với Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước Saugần 25 năm cùng với cả nước thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và sau 14năm tái lập Tỉnh, Bình Dương là một trong số ít tỉnh, thành phố của cả nướcdẫn đầu về phát triển KT-XH, đã liên tục duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh
tế ở mức cao và ổn đinh, nhất là trong 5 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và tương đối toàn diện Tình hình đó đã củng cố niềm tin đối với
Đảng, chính quyền địa phương, tạo tiền đề, điều kiện và môi trường xã hộithuận lợi, tạo nhu cầu, động lực mới để phát huy vai trò, khơi dậy mọi tiềmnăng của nông dân trong xây dựng NTM Đảng bộ và chính quyền địaphương có điều kiện quan tâm thực hiện tốt hơn đến đời sống vật chất và tinhthần của nông dân, thực hiện thắng lợi chương trình xây dựng NTM
Hai là, Đảng và Nhà nước có đường lối, quan điểm, chính sách đúng đắn đối với nông dân
Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn có quan điểm, đường lối, chínhsách đúng đắn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tiêu biểu như: Nghị
quyết Trung ương 5 khoá VII (1993), Về tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh
mẽ KT-XH nông thôn; Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX (2002), Về đẩy
Trang 36nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; Nghị quyết Trung ương 7 khoá X (2008), Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đảng ta
khẳng định giai cấp nông dân là lực lượng chủ yếu của khối liên minh côngnhân - nông dân - trí thức, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân
tố cơ bản bảo đảm thắng lợi của cách mạng CNXH; là lực lượng xã hội đôngđảo, chủ thể trực tiếp trong xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn.Nhiều chương trình hành động của Chính phủ được ban hành nhằm thực hiện
Nghị quyết của Đảng, như Chương trình mục tiêu Quốc gia Về xây dựng nông thôn mới; Về đào tạo nguồn nhân lực nông thôn thể hiện rõ sự quan
tâm của Đảng, Nhà nước đối với giai cấp nông dân; nhận thức đầy đủ, đúngđắn và toàn diện hơn về vai trò của nông dân Qua đó củng cố niềm tin vàphát huy vai trò nông dân trong xây dựng NTM
Ba là, có sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các cấp uỷ đảng, chính quyền,
sự vào cuộc của ban ngành đoàn thể ở địa phương đối với việc thực hiện vai trò nông dân; dân chủ ở cơ sở được mở rộng, quyền làm chủ của nông dân được phát huy
Đảng bộ và chính quyền các cấp đưa ra nhiều chủ trương đúng đắn, tạođược sự đồng thuận của nhân dân trong đó có nông dân Tỉnh uỷ Bình Dương
có Chương trình hành động số 14 (2002), Về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; Chương trình hành động số 77 (2008),
Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Hệ thống chính trị cơ sở được thường xuyên kiện toàn tổ chức, đổi mớiphương thức hoạt động, trong sạch vững mạnh Có sự nhận thức đúng đắn về
vị trí, vai trò của nông dân, đoàn kết thống nhất cao trong Đảng bộ và cấp uỷ,chính quyền các cấp đã huy động được sức mạnh tập thể, ý thức trách nhiệm
và sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ, đảng viên, nhân dân toàn Tỉnh
Trang 37Công tác đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề cho nông dân được thườngxuyên quan tâm, tập trung giải quyết, nhất là đối với những hộ nông dân phảichuyển đổi hình thức sản xuất do phát triển công nghiệp và đô thị hoá Thựchiện tốt các chương trình hộ trợ xoá đói giảm nghèo và chống tái nghèo theophương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”
Các ban ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương và nông dân trongTỉnh thường xuyên ứng dụng kỹ thuật, khoa học công nghệ hiện đại vào sảnxuất, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnhtranh… triển khai xây dựng và nhân rộng nhiều mô hình sản xuất, nuôi trồngđạt hiệu quả kinh tế cao
Công tác vận động quần chúng, tổ chức các phong trào nông dân như:cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở khu dân cư,
“Gia đình văn hoá”; phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kếtgiúp nhau giảm nghèo và làm giàu; phong trào nông dân tham gia xây dựngkết cấu hạ tầng nông thôn; phong trào nông dân tham gia các hoạt động VH-
XH, củng cố quốc phòng - an ninh phát triển, đi vào chiều sâu và chú trọngchất lượng được nông dân đồng tình ủng hộ Vai trò Hội Nông dân được thểhiện rõ nét đã tác động tích cực đến đời sống cộng động, góp phần nâng caođời sống vật chất và tinh thần của nông dân
Quy chế dân chủ cơ sở (năm 1998), Pháp lệnh dân chủ cơ sở (năm 2007)được tổ chức thực hiện nghiêm túc, qua đó các chương trình, dự án, đề án và cácqui định, chính sách, quyết định của chính quyền các cấp ngày càng được côngkhai, theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát vàquản lý đồng thời được hưởng lợi Do vậy, đã đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng củanhân dân nên được nông dân đồng tình ủng hộ và tích cực tham gia thực hiện
Bốn là, sự nỗ lực, phấn đấu, tích cực, chủ động, sáng tạo có ý chí vươn lên của nông dân tỉnh Bình Dương
Trang 38Phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, truyền thống cáchmạng kiên cường, bất khuất, nông dân tỉnh Bình Dương đã không ngừng nỗ lực,sáng tạo, tích cực học tập nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và côngnghệ, đặc biệt là tích cực nâng cao trình độ tay nghề, cải tiến kỹ thuật, chuyểnđổi giống cây trồng, vật nuôi có giá trị cao, áp dụng những tiến bộ của khoa học
- công nghiệp vào trong sản xuất nông nghiệp, tiết kiệm trong tiêu dùng, tậptrung vốn cho sản xuất, tham gia tích cực xây dựng NTM góp phần nâng cao đờisống của gia đình và phát triển KT-XH ở địa phương
1.2.2 Những hạn chế của vai trò nông dân tỉnh Bình Dương trong xây dựng nông thôn mới hiện nay và nguyên nhân của nó
Một là, một bộ phận nông dân tỉnh Bình Dương tham gia xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới vẫn còn chưa tích cực
Biểu hiện ở chỗ, có tới 86,67% ý kiến được hỏi cho rằng việc xâydựng và thực hiện quy hoạch, huy động các nguồn lực cho việc xây dựngNTM ở địa phương là công việc của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đó là sựđầu tư của nhà nước; chỉ có 47,50% ý kiến trả lời có đóng góp của ngườidân nông thôn [Phụ lục 1] Một số các dự án nhà nước vẫn dừng lại ở chỗ
“cầm tay chỉ việc” cho nông dân, chưa thực sự chú trọng tới vai trò chủ thểcủa nông dân, để người dân phát huy nội lực của mình Ở một vài địaphương nông dân ít tham gia bàn bạc, chưa tích cực thảo luận, đề đạt, kiếnnghị ý kiến lên các cấp ủy, chính quyền và cơ quan chức năng về các vấn đềliên quan đến xây dựng NTM, do đó trong quá trình triển khai thực hiện xâydựng các quy hoạch từ quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, quy hoạchngành, lĩnh vực, quy hoạch sử dụng đất còn chậm hoặc thực hiện chưa hoànchỉnh phải xây dựng điều chỉnh lại nhiều lần làm ảnh hưởng đến tiến độ thựchiện xây dựng cơ sở hạ tầng ở vùng nông thôn Đến nay vẫn còn một số xã
Trang 39thuộc huyện Dầu Tiếng chưa xong quy hoạch phát triển hạ tầng KT-XH, môitrường theo chuẩn mới
Hai là, trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn chưa thực sự phát huy được vai trò chủ thể của nông dân
Vai trò của nông dân chưa được phát huy cao, họ chưa thực sự chủ độngtham gia vào quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH ở nông thôn, hệ thống
hạ tầng kỹ thuật giao thông, cấp điện, hệ thống thuỷ lợi, thu gom và xử lý nướcthải… tuy đã được quan tâm đầu tư song nhìn tổng thể vẫn còn chưa tương xứngvới nhu cầu phát triển KT-XH của Tỉnh, đặc biệt là vùng nông thôn
Tính đến năm 2010, trên địa bàn Tỉnh: Giao thông: 15/60 xã chưa đạt tỷ lệ
km đường trục xã, liên xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá; 32/60 xã chưa đạt tỷ
lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộgiao thông vận tải; 47/60 xã chưa đạt tỷ lệ km đường ngõ xóm sạch và không lầylội vào mùa mưa; 59/60 xã không đạt tỷ lệ km đường trục chính nội đồng đượccứng hoá, xe cơ giới đi lại thuận tiện Thủy lợi: 4/60 xã chưa đạt hệ thống thuỷlợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; 10/60 xã chưa đạt tỷ lệ kmkênh mương do xã quản lý được kiên cố hoá Điện: tỷ lệ hộ sử dụng điện thườngxuyên, an toàn từ các nguồn, toàn Tỉnh có 45/60 xã chưa đạt Trường học, căncứ vào tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở
có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia với chỉ tiêu 100% có 53/60 xã chưa đạt Cơ
sở vật chất văn hoá, Nhà văn hoá, khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hoá Thể thao - Du lịch, có tới 91,55% số xã chưa đạt Chợ nông thôn: Trên địa bànnông thôn có 60 chợ thì có tới 37 chợ chưa đạt chuẩn của Bộ Xây dựng Nhà ởdân cư: có 24/60 xã chưa đạt tiêu chí quy định không còn nhà tạm, dột nát; tỷ lệ
-hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn Bộ Xây dựng, có 39/60 xã chưa đạt [50, tr.7]
Ba là, phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn chưa tương xứng với tiềm năng của Tỉnh
Trang 40Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển dịch chậm Các mô hình tổ chứcsản xuất trong nông nghiệp chậm được đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu pháttriển sản xuất hàng hoá; khoa học công nghệ trong nông nghiệp chưa tươngxứng với yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại; năng suất, chất lượng, giá trịgia tăng của một số sản phẩm nông nghiệp còn thấp; khả năng cạnh tranh trênthị trường hạn chế, thương hiệu nông sản chưa được chú trọng Giá vật tư,nguyên liệu đầu vào tăng nhanh hơn giá bán nông sản làm cho sản xuất nôngnghiệp còn gặp nhiều rủi ro; một số nơi đất sản xuất cây hàng năm vẫn còn bỏhoang Đời sống một số hộ nông dân còn gặp nhiều khó khăn sau khi bị thu hồiđất sản xuất Trình độ dân trí của một bộ phận nông dân còn thấp; lao độngngày càng già hoá, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôncòn cao so với khu vực thành thị Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngành nghềtruyền thống, hệ thống dịch vụ ở nông thôn phát triển chậm [60, tr.2].
Ở nhiều nơi trong quá trình chuyển đổi, nông dân lựa chọn cây trồng, vậtnuôi theo tập quán hoặc theo phong trào, thiếu quy hoạch, chưa hình thành rõvùng chuyên canh theo yêu cầu sản xuất hàng hoá Công tác quy hoạch các vùngsản xuất rau, cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu được hình thành trên cơ sở
tự phát của nông dân do thấy có hiệu quả thì làm Chăn nuôi còn phổ biến theophương pháp truyền thống, quy mô nhỏ, phân tán, năng suất, chất lượng và hiệuquả thấp Do vậy sản phẩm nông sản của nông dân không có tính cạnh tranh cao,
bị tư thương ép giá, tình trạng “được mùa, mất giá” vẫn còn diễn ra
Quá trình chuyển giao khoa học công nghệ, kỹ thuật tiến bộ cho nôngdân ở tỉnh Bình Dương hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn Nhiều mô hình,
đề tài dự án thu được kết quả chưa như mong muốn, nhiều vùng, khu vực còntồn tại tập quán canh tác, sản xuất, lạc hậu Hình thức tổ chức tập huấn,chuyển giao khoa học - kỹ thuật ở một số đơn vị còn dàn trải, chưa đáp ứngnhu cầu của từng đối tượng nông dân, nhất là nông dân các vùng sâu, vùng