Về ý nghĩa thực tiễn, luận văn góp phần xây dựng các nội dung kế toán quản trị có thể vận dụng trong các trường chuyên nghiệp chẳng hạn như vận dụng mô hình phân tích mối quan hệ giữa ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp HCM
DƯƠNG THỊ CẨM VÂN
VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
VÀO CÁC TRƯỜNG CHUYÊN NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2007
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp HCM
DƯƠNG THỊ CẨM VÂN
VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
VÀO CÁC TRƯỜNG CHUYÊN NGHIỆP
Chuyên ngành: Kế toán Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS LÊ ĐÌNH TRỰC
TP Hồ Chí Minh – Năm 2007
Trang 2MỤC LỤC
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
1.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 5
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của kế toán quản trị 7
1.1.3 Mối liên hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị 8
1.2 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG
1.2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị 14
1.2.2 Vị trí và vai trò của kế toán quản trị trong các tổ chức 14
1.2.3 Những nội dung chủ yếu của kế toán quản trị 15
1.3 VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀO
1.3.1 Đặc điểm của các trường chuyên nghiệp ảnh hưởng đến
1.3.2 Sự cần thiết thực hiện kế toán quản trị cho các
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN
TẠI CÁC TRƯỜNG CHUYÊN NGHIỆP 22
2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ NHIỆM VỤ VÀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC
2.1.1 Nhiệm vụ của các trường chuyên nghiệp 22
2.1.2 Công tác tổ chức tại các trường chuyên nghiệp 22
2.2 CÁC CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH VẬN DỤNG TẠI CÁC
2.3 THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG 27
2.3.1 Thực trạng về tình hình nhân lực và trình độ quản lý
2.3.2 Thực trạng về công tác kế toán tại các trường 31
2.3.3 Đánh giá chung về thực trạng hệ thống kế toán
và vận dụng nội dung kế toán quản trị tại các đơn vị 33
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀO
3.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀO CÁC TRƯỜNG CHUYÊN NGHIỆP 39 3.2 XÁC LẬP NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHO
3.2.1 Vận dụng phân tích chi phí và lập dự toán thu chi ngân sách 40 3.2.2 Vận dụng các công cụ đánh giá trách niệm quản lý 48 3.2.3 Thông tin kế toán cho việc ra quyết định 51
3.3 CÁC GIẢI PHÁP VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀO
3.3.1 Vận dụng chế độ kế toán quản trị doanh nghiệp
3.3.3 Các giải pháp hỗ trợ thực hiện kế toán quản trị cho
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Khảo sát tình hình tổ chức công tác kế toán tại các trường 28
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị 13
Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Kế toán là một công cụ quan trọng của mọi tổ chức, kể cả tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức phi lợi nhuận Nó có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính
Tuy nhiên, để kế toán có thể phát huy một cách tốt nhất các chức năng của mình đó là chức năng thông tin và chức năng kiểm tra thì cần phải xây dựng một hệ thống kế toán hoàn chỉnh bao gồm cả hai phân hệ là kế toán tài chính và kế toán quản trị Trong đó kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ, mang tính khách quan Còn thông tin do kế toán quản trị cung cấp mang tính linh hoạt, phản ánh xu hướng biến động, có tính dự báo, có thể phục vụ cho việc đánh giá và xây dựng kế hoạch tài chính phù hợp với mục tiêu đã được xác lập
Vì vậy có thể nói, việc xây dựng hệ thống kế toán hoàn chỉnh trong đó đề cao vai trò của kế toán quản trị là một vấn đề quan trọng cho mọi đơn vị kế toán Thế nhưng, cho đến nay ở nước ta, nhận thức và hiểu biết về kế toán quản trị vẫn còn hạn chế Việc xác định nội dung, phạm vi kế toán quản trị chủ yếu phụ thuộc vào quan điểm của các nhà quản trị Khi nói về khái niệm kế toán thì
đa phần chúng ta nghĩ ngay đến kế toán tài chính mặc dù hệ thống kế toán Việt Nam vẫn có những biểu hiện nhất định của kế toán quản trị Ngay cả luật kế toán cũng chỉ nặng về kế toán tài chính Mãi cho đến thông tư 53/2006/TT-BTC mới có hướng dẫn kế toán quản trị nhưng cũng chỉ là cho doanh nghiệp Còn các đơn vị hành chính sự nghiệp vẫn chưa thực hiện kế toán quản trị
Như chúng ta thấy, đất nước đang trong thời kỳ mở cửa hội nhập không chỉ cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà cả trong giáo dục cũng cạnh
Trang 4tranh, và giáo dục ngày nay có xu hướng thương mại hoá Nhu cầu học tập của
mọi người ngày càng cao và đòi hỏi chất lượng cũng tăng lên Người học đã có
nhiều sự lựa chọn trường hơn trước đây Rõ ràng các trường muốn đứng vững và
phát triển thì phải sử dụng nguồn tài chính của mình như thế nào để tạo ra sản
phẩm đạt chất lượng cao, đó là công việc của lãnh đạo đơn vị, mà điều này phụ
thuộc rất nhiều vào thông tin do kế toán cung cấp
Vì vậy, việc vận dụng kế toán quản trị với những nội dung phù hợp trong
điều kiện môi trường hoạt động của các trường chuyên nghiệp là một vấn đề
mang tính cấp thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn trong giai đoạn hiện nay Đặc biệt
là sau nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ về việc giao
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên
chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là vận dụng kế toán quản trị với những nội
dung phù hợp vào các trường chuyên nghiệp (các trường trung học chuyên
nghiệp và cao đẳng) và đưa ra những giải pháp tổ chức thực hiện kế toán quản
trị cho các đơn vị trên nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài
chính, nâng cao chất lượng đào tạo cho các trường chuyên nghiệp trên địa bàn
tỉnh An Giang và các tỉnh lân cận
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là những nội dung kế toán quản trị vận dụng vào các
trường chuyên nghiệp
Phạm vi nghiên cứu là kế toán các trung tâm, các trường chuyên nghiệp trên
địa bàn tỉnh An Giang và các tỉnh lân cận Qua nghiên cứu, luận văn đi vào giải
quyết ba vấn đề:
- Phân tích thực trạng hệ thống kế toán tại các đơn vị hiện nay, chỉ ra những hạn chế của hệ thống làm ảnh hưởng đến công tác quản lý của các đơn vị
- Hệ thống hoá một số nội dung cơ bản của kế toán quản trị có thể vận dụng được vào các trường chuyên nghiệp Nêu lên mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị trong đơn vị nhằm phát huy tốt nhất vai trò của kế toán trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho nhu cầu quản lý
- Đưa ra những giải pháp có thể vận dụng
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện luận văn, để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp chung là nghiên cứu lý luận về kế toán quản trị theo quan điểm phát triển kết hợp xem xét tình hình thực tiễn về kế toán tại các đơn
vị trường chuyên nghiệp để ứng dụng lý luận vào thực tiễn
5 Những đóng góp của luận văn:
Về mặt cơ sở lý luận, luận văn góp phần làm làm rõ bản chất của kế toán quản trị, khẳng định vai trò và vị trí của kế toán quản trị trong tổ chức Về ý nghĩa thực tiễn, luận văn góp phần xây dựng các nội dung kế toán quản trị có thể vận dụng trong các trường chuyên nghiệp chẳng hạn như vận dụng mô hình phân tích mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận để xác định khối lượng đào tạo hoà vốn, vận dụng nội dung kiểm soát chất lượng toàn diện trong quản lý đào tạo,… để giúp hệ thống kế toán tại các trường có thể hoạt động hiệu quả hơn nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho nhà quản lý trong quá trình điều hành và kiểm soát hoạt động đào tạo Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các trường chuyên nghiệp trong giảng dạy và trong công tác kế toán
6 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Trang 5Chương một: Giới thiệu khái quát về lý luận kế toán quản trị, đồng thời
nêu lên sự cần thiết khách quan phải thực hiện kế toán quản trị tại các
trường chuyên nghiệp
Chương hai: Nêu lên thực trạng về việc cung cấp và sử dụng thông tin kế
toán tại các trường chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang và các tỉnh
lân cận
Chương ba: Vận dụng một số nội dung kế toán quản trị vào các trường
chuyên nghiệp và đưa ra giải pháp thực hiện
Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của tiến sĩ Lê Đình Trực,
giảng viên khoa Kế toán – Kiểm toán, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ
Chí Minh Ngoài ra, tác giả còn nhận được sự đóng góp của các thầy cô khác,
đồng nghiệp và bạn bè Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến những
người đã giúp mình trong quá trình thực hiện luận văn này
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1.4 Sự hình thành và phát triển của kế toán quản trị
1.4.1 Khái niệm kế toán quản trị
Nhiều người khi nghe nói đến kế toán thì nghĩ rằng kế toán chỉ là công việc ghi chép sổ sách về tình hình tài chính diễn ra hàng ngày tại một đơn vị, tính toán chi phí, lợi nhuận,… và đến cuối kỳ (quý, năm) thì lập các báo cáo tài chính theo quy định nộp cho cơ quan chức năng Có nghĩa là kế toán chỉ cần ghi chép lại một cách chính xác những nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra là đủ Nếu vậy thì chỉ nhìn thấy kế toán như một công việc thụ động, thực ra kế toán còn là một công cụ quản lý rất quan trọng trong mọi tổ chức, hệ thống thông tin kế toán là một trong những hệ thống thông tin quản lý cần thiết cho các nhà quản lý Nó cung cấp thông tin nhằm mục đích:
- Thứ nhất: Thuyết minh rõ ràng và chính xác các chiến lược cũng như các kế
hoạch phát triển lâu dài của tổ chức
- Thứ hai: Hỗ trợ việc phân bổ các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) của tổ
chức một cách hợp lý và có hiệu quả nhất
- Thứ ba: Lập kế hoạch chi phí và kiểm soát chi phí đối với các mặt hoạt động
và các quá trình trong tổ chức
- Thứ tư: Đo lường và đánh giá trách nhiệm cá nhân
- Thứ năm: Lập các báo cáo theo quy định của chế độ báo cáo kế toán Nhà
nước
Trang 6Trong năm mục đích trên thì mục đích cuối cùng thuộc về kế toán tài chính,
còn lại là thuộc lĩnh vực nghiên cứu của kế toán quản trị 1
Như vậy có thể thấy một hệ thống kế toán đầy đủ phải bao gồm cả 2 phân
hệ là kế toán tài chính và kế toán quản trị
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị:
Chẳng hạn, theo luật kế toán Việt Nam (2003) thì kế toán quản trị được
định nghĩa như sau: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung
cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài
chính trong nội bộ đơn vị kế toán.”
Theo định nghĩa của viện kế toán viên quản trị Hoa Kỳ: “Kế toán quản trị
là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và
truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và
kiểm tra trong nội bộ tổ chức, và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách
nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó.”
Theo định nghĩa của Robert S.Kaplan và Anthony A.Atkinson: “Kế toán
quản trị là hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho những nhà quản lý trong việc
lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của đơn vị Hoạt động của kế toán quản trị
bao gồm việc thu thập, sắp xếp, phân loại, xử lý, phân tích và báo cáo thông tin
cho nhà quản trị Không như thông tin do kế toán tài chính cung cấp cho những
người sử dụng bên ngoài đơn vị như nhà đầu tư, chủ nợ, nhà cung cấp và cơ quan
thuế, thông tin kế toán quản trị giúp cho việc ra quyết định trong nội bộ đơn vị.” 2
Theo tự điển thuật ngữ kế toán của R.H Parker (1992): “Kế toán quản trị
là một bộ phận của kế toán, liên quan đến việc cung cấp các báo cáo nội bộ cho
các nhà quản trị doanh nghiệp Nó nhấn mạnh đến việc kiểm soát và ra quyết
1 PGS TS Phạm Văn Dược (2006), Kế toán quản trị, Nxb Thống kê, trang 9
2 Robert S.Kaplan & Anthony A.Atkinson, Advanced Management Accounting, Prentice Hall International,
Inc, third edition, page 1
định hơn là phục vụ cho khía cạnh về kế toán Nó không chịu sự chi phối bởi các chuẩn mực kế toán và thông lệ Nó có thể tương phản với kế toán tài chính.”3
1.4.2 Sự ra đời và phát triển của kế toán quản trị
Quá trình ra đời và phát triển của kế toán quản trị có thể chia thành những giai đoạn chính sau đây:
Giai đoạn 1:Trước năm 1950, Kế toán quản trị tồn tại dưới hình thức kế
toán chi phí Cùng với sự phát triển của sản xuất và các doanh nghiệp, kế toán chi phí cũng phát triển với nhiều nội dung khác nhau như áp dụng kỹ thuật phân bổ chi phí sản xuất chung vào giá thành sản phẩm, đánh giá sản phẩm dở dang, đánh giá hàng tồn kho,… Mục tiêu chủ yếu của kế toán quản trị là xác định chi phí và kiểm soát tài chính bằng cách sử dụng phương pháp lập dự toán và phương pháp tính giá thành sản phẩm Tuy nhiên, giá thành sản phẩm được xác định trong giai đoạn này chủ yếu phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính Trong giai đoạn này, kế toán quản trị được xem như là một hoạt động kỹ thuật cần thiết nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Giai đoạn 2: Vào những năm 1960, Các nhà kế toán nhận ra rằng các
thông tin chi phí sử dụng cho mục đích quản trị có sự khác biệt với các thông tin chi phí cho mục đích lập báo cáo tài chính Điều này dẫn đến sự chuyển hướng kế toán chi phí thành kế toán quản trị mà trọng tâm là việc cung cấp thông tin cho các mục tiêu lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị bằng cách sử dụng các phương pháp như phân tích ra quyết định, kế toán trách nhiệm quản lý
Giai đoạn 3: Vào những năm 1980, khái niệm kế toán quản trị mới chính
thức được sử dụng rộng rãi, trong giai đoạn này, kế toán quản trị tập trung vào việc giảm thiểu hao phí nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh bằng cách sử dụng kỹ thuật phân tích quá trình quản lý chi phí
3 R.H Parker, Dictionary of Accounting, second edition, 1992, page 182
Trang 7Giai đoạn 4: Vào những năm 1990, kế toán quản trị chuyển qua quan tâm
vào việc tạo ra giá trị gia tăng bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thông
qua việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị cho khách hàng
và tổ chức
Có thể nói từ giai đoạn 3 trở đi, kế toán quản trị được xem là một bộ phận
cấu thành của quá trình quản lý vì tất cả những nhà quản trị đều có thể trực tiếp
tiếp cận với thông tin
Trong từng giai đoạn của quá trình phát triển thể hiện sự thích nghi với
những điều kiện mới đặt ra cho tổ chức, thể hiện bằng sự hoà nhập, kết cấu lại
Mỗi giai đoạn là sự kết hợp giữa cái cũ và cái mới, trong đó cái cũ được kết cấu
lại để phù hợp với cái mới 4
Hiển nhiên, sự phát triển của kế toán quản trị sẽ được liên tục tiếp diễn
Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nhiều công cụ mạnh
được áp dụng vào việc xây dựng hệ thống kế toán quản trị, giúp cho hệ thống
ngày càng hoàn thiện và phát huy được hiệu quả trong điều kiện môi trường
hoạt động luôn thay đổi
1.4.3 Mối liên hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin
kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.( khoản 1
điều 4 của luật kế toán)
Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học thông tin và nhu cầu sử
dụng thông tin trong việc ra các quyết định kinh tế, yêu cầu về chất lượng, số
lượng thông tin do kế toán cung cấp đòi hỏi ngày càng cao hơn, phong phú và đa
dạng hơn, nhanh chóng và kịp thời hơn Để đáp ứng yêu cầu đó, kế toán không
ngừng phát triển về nội dung hạch toán, hình thức tổ chức và phương tiện xử lý
4 Phạm Văn Dược (2006), Kế toán quản trị, Nxb Thống Kê, trang 10
và cung cấp thông tin Nếu xét về phạm vi phục vụ chủ yếu của thông tin kế toán thì kế toán được phân chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị
Sơ đồ 1.1 : Đối tượng sử dụng thông tin kế toán
THÔNG TIN KẾ TOÁN -TÀI CHÍNH
Người sử dụng bên ngoài đơn vị
Người sử dụng bên trong đơn vị:
Các nhà quản trị
Có lợi ích trực tiếp:
Cổ đông, nhà đầu tư Khách hàng Nhà cung cấp Đối thủ cạnh tranh Chủ nợ
…
Có lợi ích gián tiếp:
Cơ quan thuế
Cơ quan thống kê
…
Mỗi đối tượng có nhu cầu khác nhau về thông tin do kế toán cung cấp Chẳng hạn, những nhà đầu tư, cổ đông thường quan tâm xem doanh nghiệp hoạt động trong kỳ có lãi là bao nhiêu, tỷ lệ lãi trên vốn đầu tư là bao nhiêu; chủ nợ, nhà cung cấp thì quan tâm xem doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ hay không, tại sao số tiền quỹ lại giảm sút so với năm trước; cơ quan thuế thì muốn biết xem doanh nghiệp đã tính và nộp thuế đúng và đủ hay chưa,… Những thông tin này được kế toán cung cấp thông qua các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ,… Lập những báo cáo này là công việc của kế toán tài chính, và nó được lập định kỳ (cuối quý, cuối năm)
Trang 8Các nhà quản trị trong đơn vị cũng cần biết được kết quả hoạt động kinh
doanh của đơn vị mình trong một giai đoạn nào đó nên họ cũng cần thông tin do
kế toán tài chính cung cấp Tuy nhiên, nhà quản trị còn cần phải lập kế hoạch và
tính toán các đường lối hành động và xem xét các đường lối nào là tốt nhất để ra
quyết định kịp thời, các quyết định sẽ tốt hơn khi dựa trên những suy luận hợp
lý, những thông tin hữu ích, kịp thời, mà những thông tin do kế toán tài chính
cung cấp không đáp ứng được điều đó vì nó được lập vào cuối kỳ (tháng, quý,
năm) Vì thế, để đáp ứng kịp thời những thông tin cho yêu cầu lập kế hoạch và
tính toán đường lối hành động thì kế toán phải cung cấp những thông tin khác
hơn những gì thể hiện trên báo cáo tài chính Những thông tin cần thiết và hữu
ích đó sẽ được cung cấp bởi kế toán quản trị
Như vậy có thể hiểu: Kế toán tài chính phản ánh các thông tin về tình
hình tài sản, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động của đơn vị Sản phẩm
của kế toán tài chính là các báo cáo tài chính Thông tin do kế toán tài chính
cung cấp ngoài việc được sử dụng cho bộ phận quản lý còn được sử dụng để
cung cấp cho những người sử dụng bên ngoài
Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của
đơn vị như: Chi phí từng bộ phận, từng công việc, sản phẩm; phân tích, đánh giá
tình hình thực hiện với kế hoạch về chi phí, doanh thu; quản lý tài sản, vật tư,
tiền vốn; phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; lựa
chọn thông tin thích hợp cho các quyết định kinh tế; lập dự toán thu chi ngân
sách, dự toán hoạt động sản xuất kinh doanh;… nhằm phục vụ việc điều hành và
ra quyết định kinh tế
Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị,
chúng ta cần phân biệt 2 khía cạnh này:
Có nhiều ý kiến khác nhau về phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị, nhưng tựu trung lại có thể thấy có những điểm khác nhau như sau:
- Kế toán quản trị nhấn mạnh việc cung cấp thông tin cho người sử dụng là nhà quản lý trong nội bộ đơn vị Để có thể điều hành các hoạt động hàng ngày của đơn vị và lập kế hoạch đường lối hoạt động cho tương lai, giải quyết các vấn đề thường xuyên xảy ra thì người quản lý đòi hỏi phải có những thông tin chi tiết, cụ thể Những thông tin này không cần cho những người bên ngoài
- Kế toán quản trị đặt trọng tâm cho tương lai nhiều hơn Nhiệm vụ của nhà quản trị là lập kế hoạch cho tương lai nên họ cần những số liệu quá khứ chủ yếu để ước đoán cho những gì sẽ xảy ra Ngược lại, kế toán tài chính chỉ trình bày những gì đã xảy ra
- Kế toán quản trị cần số liệu thích hợp và linh động Số liệu kế toán tài chính phải có tính khách quan và có thể thẩm tra được, còn số liệu của kế toán quản trị không cần phải chính xác mà cần phải thích hợp và linh động để người quản lý có thể sử dụng trong những tình huống khác nhau
- Kế toán quản trị chú trọng đến từng bộ phận trong khi kế toán tài chính thường lập báo cáo liên quan đến toàn đơn vị
- Kế toán quản trị xuất phát từ nhiều ngành khác nhau
- Kế toán quản trị không tuân thủ những nguyên tắc chung của kế toán Trong khi đó khi soạn thảo các báo cáo tài chính, người soạn thảo phải tuân thủ các nguyên tắc chung nhằm đảm bảo cho sự tin cậy về số liệu đối với người nhận báo cáo
- Kế toán quản trị không có tính pháp lệnh Kế toán tài chính có tính pháp lệnh, sổ sách kế toán tài chính phải đầy đủ số liệu để đáp ứng theo những yêu cầu của người bên ngoài Kế toán quản trị không có tính pháp lệnh và
Trang 9không có tính bắt buộc Sổ sách kế toán quản trị do đơn vị tự quyết định lấy,
họ biết cần phải làm gì và làm như thế nào
Bảng 1.1: Phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị
Tiêu thức so sánh Kế toán tài chính Kế toán quản trị
Mục đích Cung cấp thông tin cho việc
lập báo cáo tài chính
Cung cấp thông tin phục vụ điều hành hoạt động của đơn vịĐặc điểm thông tin Thông tin quá khứ, khách
quan, có thể kiểm tra
Thông tin mang tính linh hoạt, thích hợp, hướng về tương lai Thước đo Chủ yếu là thước đo giá trị Sử dụng cả 3 loại thước đo và
các đơn vị tính khác theo yêu cầu quản lý
Nguyên tắc tổ chức
hệ thống thông tin
Tuân thủ nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận
Không có những ràng buộc Phạm vi và nội
dung của thông tin
Cung cấp thông tin tổng quát về đơn vị
Cung cấp thông tin từng khâu, từng bộ phận
Kỳ báo cáo Báo cáo định kỳ Báo cáo theo yêu cầu của nhà
quản trị Tính pháp lý của
thông tin
Có tính pháp lệnh Không có tính pháp lệnh
Mặc dù có những điểm khác biệt nhau, nhưng bởi vì chúng là hai phân hệ
của hệ thống kế toán chung nên cũng có những điểm giống nhau và có mối quan
hệ mật thiết với nhau:
- Cả hai đều nằm trong hệ thống thông tin kế toán Trong đó kế toán quản trị
sử dụng số liệu ghi chép ban đầu của kế toán tài chính Chẳng hạn, nhà quản
trị sử dụng thông tin về chi phí, thu nhập để ra các quyết định kinh doanh
Tuy nhiên những thông tin này được khai thác, xử lý và sắp xếp lại cho phù
hợp với từng yêu cầu quản lý cụ thể Ví dụ: Doanh thu phân chia theo khu
vực hay theo nhóm sản phẩm từ đó có quyết định đầu tư vào khu vực nào
nhiều hơn hay nhóm sản phẩm nào nhiều hơn
- Cả hai đều có liên quan đến việc phục vụ thông tin cho quản đơn vị Trong
đó, kế toán quản trị liên quan đến điều hành và quản lý của từng bộ phận,
từng yếu tố, quá trình hoạt động của đơn vị, còn kế toán tài chính có liên quan đến hoạt động quản lý toàn đơn vị
- Các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận không chỉ thích hợp cho kế toán tài chính mà còn thích hợp cho kế toán quản trị Thật vậy, không phải toàn bộ kế toán quản trị đều không tuân theo các chuẩn mực kế toán, mà một bộ phận của kế toán quản trị là kế toán chi phí cũng tuân theo chuẩn mực kế toán vì nó cung cấp dữ liệu cho việc lập báo cáo tài chính (xác định giá trị sản phẩm tồn kho, giá vốn hàng bán ra, các phương pháp tính giá xuất hàng tồn kho)
- Cả hai đều có bản chất, nội dung và đối tượng chung của kế toán là việc phản ánh sự vận động của tài sản, nguồn vốn, đều quan tâm đến doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động, đều sử dụng bốn phương pháp kế toán: Chứng từ, tài khoản, tính giá và tổng hợp cân đối
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Người ra quyết định
Báo cáo cho nhà quản trị và các thành phần bên ngoài
KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
Báo cáo cho nhà quản trị kế hoạch hoạt động, kiểm soát kết quả hoạt động
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
Dữ liệu
HỆ THỐNG KẾ TOÁN
Đo lường:
Ghi chép dữ liệu
Xử lý:
Phân tích, tổng hợp
Truyền tin:
Báo cáo
Trang 101.5 Mục tiêu, nhiệm vụ, vai trò và nội dung của kế toán quản trị
trong các tổ chức:
1.5.1 Mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị:
Mục tiêu của kế toán quản trị:
Mục tiêu cơ bản của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho lãnh đạo
đơn vị để ra quyết định quản trị có trọng tâm, giúp lãnh đạo đơn vị chủ động
tham gia vào quá trình quản trị, điều hành hoạt động
Cung cấp thông tin: Thu thập và cung cấp thông tin cần thiết cho nhà
quản trị mọi cấp nhằm hoạch định, đánh giá và quản trị hoạt động sản xuất kinh
doanh
Tham gia vào quá trình quản trị: quá trình quản trị bao gồm ra quyết định
chiến lược, chiến thuật và tác nghiệp
Nhiệm vụ của kế toán quản trị:
- Thống kê các nguồn lực của tổ chức với mục đích kiểm soát và nâng cao
hiệu quả sử dụng các nguồn lực
- Kiểm soát và phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ
nhằm điều chỉnh các hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra
- Hoạch định: đây chính là quá trình xây dựng mục tiêu
- Dự báo và đánh giá dự báo
1.5.2 Vị trí và vai trò của kế toán quản trị trong các tổ chức
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hay thực hiện cung cấp dịch
vụ công cộng được giao, bất kỳ một tổ chức nào cũng phải lập kế hoạch cho hoạt
động của mình Từ kế hoạch chung của tổ chức, các bộ phận triển khai thành các
mục tiêu cụ thể để thực hiện và kiểm tra kết quả thực hiện các mục tiêu này
Trong quá trình thực hiện các mục tiêu đề ra, cần phải quản lý các quy trình cụ
thể, chi tiết hơn như quản lý vật tư, tài sản cố định,…
Kế toán quản trị là công cụ đánh giá việc thực hiện những mục tiêu thông qua việc phân tích chi phí, là công cụ kiểm tra quá trình thực hiện hoạt động theo kế hoạch đã đề ra, từ đó có những quyết định hợp lý để hoạt động ngày càng đạt hiệu quả cao hơn
Vai trò của kế toán quản trị là cung cấp thông tin hữu ích liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức, điều hành hoạt động, kiểm tra và ra quyết định
- Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch: Việc lập kế hoạch trong một tổ chức phụ thuộc vào 2 yếu tố là mục tiêu hoạt động của tổ chức và dự toán ngân sách Do đó kế toán quản trị phải cung cấp thông tin liên quan đến từng hoạt động về chi phí, doanh thu, hiệu quả công việc cho nhà quản trị để lập kế hoạch trong tương lai nhằm phát triển tổ chức
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức điều hành hoạt động: Kế toán quản trị phải tổ chức ghi chép, xử lý thông tin, sắp xếp thông tin phù hợp cho từng tình huống khác nhau để các nhà quản trị xem xét ra quyết định đúng đắn nhất trong quá trình điều hành hoạt động
- Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát: Để giúp các nhà quản trị có thể kiểm soát được hoạt động, kế toán quản trị sẽ cung cấp những báo cáo thực hiện và đánh giá việc thực hiện thông qua việc so sánh với dự toán
- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: Kế toán quản trị phải cung cấp thông tin linh hoạt, kịp thời cho nhà quản trị để ra các quyết định thích hợp
1.5.3 Những nội dung chủ yếu của kế toán quản trị:
Hệ thống kế toán quản trị bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Thiết lập hệ thống kế toán chi phí: hệ thống kế toán chi phí được thiết lập để
cho biết tổ chức hoạt động có hiệu quả hay không thông qua các thông tin
Trang 11quá khứ cần thiết về chi phí Ở nội dung này kế toán quản trị sử dụng kỹ
thuật nghiệp vụ như:
• Phân loại chi phí theo những tiêu thức thích hợp để đáp ứng mục tiêu
quản lý cụ thể
• Tập hợp chi phí theo quá trình hoặc theo công việc để tính giá thành sản
phẩm
• Phân bổ những chi phí mang tính chất chung
- Lập dự toán ngân sách: Lập dự toán ngân sách là công cụ quan trọng phục vụ
cho việc hoạch định và kiểm soát Thông qua dự toán nhà quản trị tiến hành
đánh giá tình hình thu, chi dựa theo kế hoạch và thực tế đạt được trong phạm
vi ngân sách đã dự toán, thấy được những thay đổi so với dự toán Kỹ thuật
nghiệp vụ sử dụng là thiết kế thông tin dưới dạng so sánh được để phân tích
chênh lệch
- Kế toán các trung tâm trách nhiệm: là công cụ đánh giá trách nhiệm của các
cấp quản lý khác nhau đối với kết quả hoạt động của chính bộ phận mình
quản lý Kế toán sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ là thiết lập các báo cáo quản lý
- Thiết lập thông tin kế toán quản trị cho việc ra quyết định và dự báo:Nội dung
cụ thể là phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận (phân
tích CVP) và phân tích điểm hoà vốn để ra các quyết định về sản xuất và
tiêu thụ; phân tích thông tin kế toán quản trị để ra các quyết định đầu tư ngắn
hạn, dài hạn Kỹ thuật nghiệp vụ sử dụng là biểu thị mối quan hệ của thông
tin bằng các phương trình đại số, bằng đồ thị
1.6 Vận dụng kế toán quản trị vào các trường chuyên nghiệp:
1.6.1 Đặc điểm của các trường chuyên nghiệp ảnh hưởng đến công
tác kế toán:
Khi nói đến kế toán quản trị chúng ta thường nghĩ ngay đến công việc của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, vì ở đó mới thực hiện mục tiêu lợi nhuận, cần phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích lời lỗ,… Còn đối với các trường học, theo quan điểm từ trước cho đến nay có khá nhiều điểm khác biệt với các doanh nghiệp (khác biệt về sản phẩm, mục tiêu, khách hàng, nguồn vốn hoạt động,…Vì vậy việc vận dụng kế toán quản trị vào các trường chuyên nghiệp không phải là điều dễ dàng Khi vận dụng kế toán quản trị vào các trường chuyên nghiệp cần phải xem xét những điểm khác biệt này
Một số điểm khác biệt cơ bản giữa trường học và doanh nghiệp:
- Quá trình tạo ra sản phẩm trong trường học khác với một doanh nghiệp đó là sự khác biệt về đối tượng và tính chất của quá trình Đối tượng của quá trình sản xuất là vật chất (nguyên vật liệu), tính chất của quá trình này là con người sử dụng công cụ lao động tác động lên vật chất tạo ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu của khách hàng Còn đối tượng của quá trình đào tạo là người học và tính chất của quá trình này là sự tác động qua lại giữa người dạy và người học thông qua các thiết bị, phương tiện và đồ dùng dạy học Môi trường học tập dù tốt cách mấy đi nữa nhưng học sinh không nỗ lực tự học, tự biến đổi mình đến mức cần thiết thì mục tiêu đào tạo mong muốn không thể nào thực hiện được
- Sản phẩm của một doanh nghiệp dù hữu hình hay vô hình đều dễ dàng nhận biết được và có những thông số kiểm định, đo đạt Còn sản phẩm của giáo dục rất khó định nghĩa và không có một tiêu chuẩn cụ thể
- Khách hàng trong nhà trường là ai? Có thể hiểu trước tiên đó là thị trường lao động, những người sử dụng và tuyển dụng lao động
- Không chấp nhận làm thử và không có cơ hội làm lại Điều khác biệt này đòi hỏi sự chu đáo trong việc chuẩn bị cho một quá trình đào tạo Tất cả các khâu
Trang 12trong quá trình cần phải có các yêu cầu và trình tự thực hiện cụ thể nhưng
phải mềm dẻo và có tính cá biệt cao
Việc cung cấp các dịch vụ giáo dục chuyên nghiệp đòi hỏi phải sử
dụng số lượng lớn các nguồn lực, và các nguồn lực sử dụng không sẵn có
để sản xuất như sản xuất các hàng hoá và dịch vụ khác Dịch vụ giáo dục
đào tạo chính là một trong những lựa chọn sử dụng nguồn lực cạnh tranh
lớn Hơn nữa giáo dục cũng là những điều thiết thực giống như phân tích
lợi ích và chi phí kinh tế Dịch vụ giáo dục cũng là một phần của tổng thu
nhập quốc dân
Giống như những đơn vị sản xuất khác trong nền kinh tế, các cơ sở
giáo dục đào tạo sử dụng nguồn lực và công nghệ để sản xuất những gì có
lợi cho xã hội và từng cá nhân Sản xuất những gì có thể được mô tả như
các dịch vụ giáo dục Để hiểu được cái gì thiết lập các dịch vụ giáo dục,
chúng ta có thể đặt câu hỏi: Tại sao chúng ta đi học một nghề nghiệp nào
đó? Có ít nhất 3 câu trả lời cho câu hỏi này Một là, chúng ta mong muốn
giáo dục nâng cao khả năng của chúng ta để sản xuất và tạo ra thu nhập,
có nghĩa là tăng chất lượng nguồn lao động Chúng ta gọi đó là sự phát
triển vốn nhân lực Hai là, ngoài nâng cao chất lượng nguồn lao động, nó
thoả mãn tức thì việc tham gia vào các quy trình và quá trình hoạt động
của trường, có nghĩa là dịch vụ tiêu dùng trực tiếp Ba là, chúng ta có thể
mong muốn sẽ có một số lợi ích cho toàn xã hội, ngoài lợi ích dành cho
chính mình từ kết quả giáo dục đào tạo của chúng ta Bây giờ hãy xem
xét những khía cạnh của giáo dục:
Đầu tư vào vốn nhân lực:
Một phần lớn các dịch vụ giáo dục phải bao gồm sự phát triển nhân
lực hoặc lực lượng lao động Điều này được coi là đầu tư vào vốn nhân
lực, xét về khía cạnh kinh tế nó rất giống với đầu tư vào máy móc, nhà
cửa và vốn nguyên liệu khác Ngoài ra chúng ta còn đầu tư thêm vào vốn
phi nhân lực khi chúng ta thấy rằng nó sẽ tạo ra đủ sản phẩm đầu ra để
trả lại cho các chi phí đầu tư mới Tương tự như vậy, nó chi trả cho cá
nhân để đầu tư vào việc đào tạo thêm nếu việc đào tạo thêm đó làm tăng
khả năng thu nhập một người được đào tạo thêm cao hơn chi phí đạo tạo thêm Điều đó góp phần đóng góp vào tổng sản phẩm quốc dân
Tiêu thụ trực tiếp
Một phần của dịch vụ giáo dục do các cơ sở đào tạo tiến hành bao gồm lợi ích tiêu dùng trực tiếp Việc tham gia vào các hoạt động của trường và liên kết với các sinh viên khác trong quá trình đi học đạt được sự thoả mãn của nhiều người Đối với hầu hết các sinh viên, lợi ích tiêu dùng là gắn chặt với các yếu tố đầu tư vốn nhân lực của các dịch vụ giáo dục Cuộc sống sinh viên, bạn bè, thầy cô, lớp học,… cùng kết hợp để mang lại sự thoả mãn cá nhân cũng như tăng khả năng của nguồn nhân lực để sản xuất hàng hoá và dịch vụ
Lợi ích tràn xã hội:
Đôi khi việc sản xuất hay tiêu dùng của một sản phẩm mang lại lợi ích cho những người không sản xuất cũng như không tiêu dùng sản phẩm đó Khi việc sản xuất và tiêu dùng của một hàng hoá hoặc dịch vụ mang lại lợi ích cho những người không trực tiếp sản xuất hoặc tiêu dùng, những lợi ích như vậy gọi là lợi ích tràn xã hội
Việc mở rộng các dịch vụ giáo dục thường mang lại lợi ích tràn xã hội Một số hiệu quả tràn thường được nhắc tới giúp thực hiện tốt hơn quá trình dân chủ từ việc nâng cao khả năng biết đọc, biết viết, nhiều người dân thoát khỏi sự ngu dốt, và có những người tạo ra một xã hội có cuộc sống tốt hơn, dịch vụ của chính phủ tốt hơn đối với cộng đồng, tăng trưởng công nghệ nhanh hơn, nâng cao điều kiện vật chất và kỹ thuật vệ sinh cho cộng đồng, giảm tỷ lệ tội phạm
Phạm vi tác động của lợi ích:
Khi những cá nhân theo học một nghề nào đó ai sẽ được hưởng những lợi ích sau này? Trước hết là mang laị lợi ích cho cá nhân và gia đình họ Những cá nhân phát triển kỹ năng nghề nghiệp làm tăng khả năng thu nhập đồng thời góp phần làm tăng đóng góp của họ vào tổng sản phẩm quốc dân Phần thu nhập tăng thêm mà họ kiếm được sẽ tương đương với giá trị của phần sản lượng tăng thêm qua công việc Xã hội có lợi từ phần sản lượng tăng thêm này nhiều hơn một số hàng hoá và dịch
Trang 13vụ tiêu dùng khác Chúng thể hiện sự tăng lên tương tự trong năng suất
của những nguồn lực kinh tế xảy ra khi đầu tư thêm vào máy móc thiết bị
mới cho năng suất cao hơn Người sở hữu nguồn lực được chi trả cho sự
tăng năng suất của mình Từ đó xã hội nhận được lợi ích tiếp theo dưới
hình thức tổng sản phẩm thu nhập quốc dân cao hơn Lợi ích mà xã hội có
được từ giáo dục rất khó có thể định lượng và tính toán được những lợi ích
đó
Chi phí cho dịch vụ giáo dục chuyên nghiệp:
Nhìn từ góc độ toàn xã hội, dịch vụ giáo dục chuyên nghiệp không
miễn phí Các nguồn lực sử dụng cho giáo dục đã không thể sử dụng để
sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ khác, giá trị của hàng hoá và dịch vụ dự
tính đó chính là chi phí kinh tế của giáo dục chuyên nghiệp Chúng ta hãy
xét xem ai sẽ là người trả những chi phí này
Chi phí hữu hình:
Chi phí hữu hình đối với trường học: là chi phí của các nguồn lực
mà trường đó mua và thuê để cung cấp dịch vụ giáo dục Đó là chi phí về
vốn và lao động như nhà trường sử dụng đất, nhà, trang thiết bị, sử dụng
cán bộ, giáo viên, công nhân viên hành chính
Chi phí hữu hình đối với sinh viên: ngoài những chi phí phải nộp
cho nhà trường sinh viên còn phải tốn thêm những khoản chi phí khác như
sách vở, máy tính, và một số đồ dùng học tập khác
Chi phí vô hình: Chi phí thực tế để cung cấp dịch vụ giáo dục chuyên
nghiệp cao hơn nhiều so với các khoản chi phí có thể nhìn thấy được Để
sử dụng các dịch vụ giáo dục, hầu hết các sinh viên phải tạm dừng một
phần hoặc hoàn toàn công việc của mình, do vậy làm giảm khối lượng
hàng hoá và dịch vụ khác cho xã hội
Các nguồn hỗ trợ:
Học phí và lệ phí
Ngân sách nhà nước
Các nguồn khác 5
5 Ansel M.Sharp, Charles A Register và Paul W Grimes (1996), Economics of social issues (Kinh tế học
trong các vấn đề xã hội), Nxb Lao động, Hà Nội, 2004
1.6.2 Sự cần thiết thực hiện kế toán quản trị cho các trường chuyên nghiệp:
Kế toán quản trị áp dụng cho mọi thành phần kinh tế và mọi lĩnh vực kinh doanh, kể cả các tổ chức phi lợi nhuận bởi vì bất cứ một tổ chức nào, dù mục đích của họ là lợi nhuận hay phi lợi nhuận cũng đều tiến hành các hoạt động nhằm cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng Mọi tổ chức đều có khách hàng và không tổ chức nào có thể tồn tại lâu dài nếu không đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng Có thể nói mọi tổ chức đều mong muốn tối thiểu hoá chi phí đầu vào và tối đa hoá kết quả đầu ra để đạt hiệu quả cao nhất Các trường chuyên nghiệp cũng không phải là ngoại lệ, họ cũng cần phải hoạch định, kiểm soát chi phí, đánh giá trách nhiệm cá nhân, đánh giá việc hoàn thành mục tiêu đề ra và ra các quyết định thích hợp Hơn nữa, trong giai đoạn nền kinh tế mở cửa hội nhập, sự cạnh tranh cũng đã, đang diễn ra trong lĩnh vực đào tạo, do đó, để thu hút được học sinh, sinh viên và thu hút được nguồn tài trợ, buộc các nhà quản lý tại các trường phải xây dựng được thương hiệu của trường mình, nghĩa là phải làm sao để sản phẩm giáo dục đạt chất lượng toàn diện, chứng tỏ được khả năng quản lý của mình thật sự hiệu quả Mặt khác, cũng do sự cạnh tranh ngày càng cao trong giáo dục nên chi phí cho giáo dục ngày càng tăng, đến một lúc nào đó ngân sách Nhà nước không thể cấp phát nữa thì buộc các trường chuyên nghiệp công lập phải tự chủ hoàn toàn về mặt tài chính cũng như tất cả các mặt khác Điều này đặt ra cho các nhà quản lý ở các trường phải tiến hành phân tích chi phí, phân tích hiệu quả hoạt động và khai thác mọi tiềm năng của đơn vị để thu được thặng dư cao nhất Kế toán quản trị là một công cụ quan trọng để thực hiện được những điều đó
Như vậy, có thể nói việc vận dụng kế toán quản trị vào các trường chuyên nghiệp với những nội dung thích hợp là một tất yếu khách quan tuy nó diễn ra có hơi chậm hơn so với lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này là do giáo
Trang 14dục đào tạo có đặc thù riêng là không vì mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên có thể
khẳng định lại rằng dù chậm nhưng nó vẫn phải diễn ra cho phù hợp với xu thế
hiện nay
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Kế toán là công việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp
thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động
Nếu xét về phạm vi phục vụ chủ yếu của thông tin kế toán thì kế toán được
phân thành kế toán tài chính và kế toán quản trị Giữa kế toán tài chính và kế
toán quản trị có mối quan hệ với nhau
Mục tiêu cơ bản của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho lãnh đạo
đơn vị trong quá trình ra quyết định, điều hành và kiểm soát hoạt động
Nội dung chủ yếu của kế toán quản trị là thiết lập hệ thống kế toán chi
phí, lập dự toán ngân sách, kế toán các trung tâm trách nhiệm và thiết lập thông
tin kế toán cho việc ra quyết định và dự báo
Luận văn cũng nêu lên được đặc điểm của các trường chuyên nghiệp ảnh
hưởng đến công tác kế toán như thế nào và nói lên sự cần thiết phải thực hiện
kế toán quản trị tại các trường chuyên nghiệp
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG CHUYÊN NGHIỆP 2.4 Giới thiệu sơ lược về nhiệm vụ và công tác tổ chức của các trường chuyên nghiệp:
2.4.1 Nhiệm vụ của các trường chuyên nghiệp:
Các trường chuyên nghiệp có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ quản lý kinh tế – xã hội, công nhân kỹ thuật với yêu cầu có tư tưởng đạo đức, chính trị tốt, có trình độ chuyên môn, tay nghề giỏi và có sức khoẻ tốt Đó là những con người phát triển toàn diện để về các vị trí công tác phục vụ công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước
2.4.2 Công tác tổ chức tại các trường chuyên nghiệp:
Tổ chức bộ máy trong các trường chuyên nghiệp gồm các bộ phận sau:
- Ban giám hiệu
- Phòng quản lý đào tạo
- Phòng công tác sinh viên học sinh
- Phòng tổ chức hành chính
- Phòng tài chính kế toán
- Bộ phận kế hoạch vật tư
- Các khoa, tổ bộ môn Mỗi bộ phận, khoa, phòng đều có chức năng và nhiệm vụ cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu chung của trường
2.5 Các chế độ tài chính vận dụng tại các trường chuyên nghiệp:
Trang 15Cho đến nay, ở nước ta, khái niệm về kế toán quản trị vẫn còn khá mới
mẻ đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp, mặc dù những nội dung của nó cũng
đã được vận dụng nhưng chưa được hệ thống Vì vậy, để thấy rõ thực trạng về
hệ thống kế toán tại các trường chuyên nghiệp cần phải biết được toàn bộ hệ
thống cung cấp và sử dụng thông tin kế toán tại các đơn vị này
Hệ thống cung cấp và sử dụng thông tin kế toán trong các trường chuyên
nghiệp bao gồm hai phần chính là chế độ kế toán và chế độ quản lý tài chính
2.5.1 Chế độ kế toán:
Hệ thống kế toán trong các trường chuyên nghiệp hiện nay được thực hiện
theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp, ban hành theo quyết định số
19/2006/QĐ – BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Hệ thống chế
độ kế toán hành chính sự nghiệp hiện hành ra đời trên cơ sở kế thừa hệ thống kế
toán cũ (QĐ 999-TC/QĐ/CĐKT ngày 02/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)
và luật ngân sách Nhà nước
Hệ thống này bao gồm bốn phần:
- Phần một: Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán bao gồm những quy định
chung về hệ thống chứng từ kế toán như nội dung và mẫu chứng từ, hệ
thống chứng từ, lập chứng từ kế toán, ký chứng từ kế toán, trình tự
luân chuyển và kiểm tra chứng từ, dịch chứng từ kế toán, sử dụng,
quản lý và in biểu mẫu chứng từ kế toán; danh mục và biểu mẫu
chứng từ và phương pháp ghi chép vào chứng từ (phụ lục 1)
- Phần hai: Hệ thống tài khoản kế toán bao gồm 42 tài khoản cấp một
chia thành 6 loại Hệ thống tài khoản ban hành lần này khá gần với hệ
thống kế toán doanh nghiệp, tuy nhiên đơn giản hơn và cũng có những
khác biệt nhất định xuất phát từ đặc điểm của đơn vị hành chính sự
nghiệp (phụ lục 2)
- Phần ba: Hệ thống sổ kế toán và hình thức kế toán bao gồm những
quy định về mãu sổ, ghi chép sổ và lưu giữ sổ, hướng dẫn các hình thức kế toán áp dụng tại các đơn vị hành chính sự nghiệp (hình thức nhật ký sổ cái, hình thức nhật ký chung, hình thức chứng từ ghi sổ và hình thức kế toán máy)
- Phần bốn: Hệ thống báo cáo tài chính bao gồm những quy định chung
và các hướng dẫn cụ thể về cách lập các báo cáo tài chính, báo cáo
quyết toán của đơn vị hành chính sự nghiệp (phụ lục 3)
2.5.2 Chế độ quản lý tài chính:
Các trường chuyên nghiệp thực hiện chế độ quản lý tài chính theo các văn bản sau:
- Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
- Thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện nghị định 43
- Thông tư 18/2006/TT-BTC ngày 13/3/2006 của Bộ tài chính hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với cơ quan Nhà nước
- Thông tư 33/2006/TT-BTC ngày 17/4/2006 của Bộ tài chính hướng dẫn thu chi tiền mặt qua hệ thống kho bạc Nhà nước
- Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang
- Luật ngân sách nhà nước (Luật số 01 Quốc hội khoá 11)
- Một số văn bản khác
2.5.3 Hệ thống dự toán thu, chi:
Trang 16Nội dung thu tại các trường chuyên nghiệp thường có các khoản sau: Các
khoản thu có tính chất hành chính như tiền nhà, điện, nước,…, thu học phí, thu lệ
phí tuyển sinh, thu tiền ở ký túc xá, thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, thu lệ
phí bãi giữ xe, căn tin, thu khác…
Nội dung chi tại các trường chuyên nghiệp bao gồm các khoản sau:
- Chi cho bộ máy (Chi thanh toán cho cá nhân) bao gồm chi tiền lương,
các khoản phụ cấp lương, học bổng học sinh sinh viên, chi khen
thưởng, chi phúc lợi tập thể,…
- Chi cho công tác quản lý hành chính như thanh toán dịch vụ công
cộng, thiết bị văn phòng, công tác phí, thông tin liên lạc,…
- Chi cho công tác giảng dạy, học tập như chi sách báo, thư viện, biên
soạn giáo trình, chi thực tập tốt nghiệp, văn phòng phẩm cho giáo
viên, chi mua trang thiết bị phục vụ giảng dạy, chi cho công tác tuyển
sinh, tốt nghiệp, chi hoạt động ngoại khoá,…
- Chi cho công tác mua sắm, sửa chữa tài sản cố định
Một số định mức tại các trường đào tạo chuyên nghiệp
- Định mức về lao động:
Biên chế giáo viên: 1/15 HSSV
Phục vụ giảng dạy: 1/30 HSSV
Hành chính: 1/25 HSSV
Y tế: 1/150 HSSV
- Định mức về tài chính: Hiện nay, định mức chi tài chính cho các trường
đào tạo chuyên nghiệp được quy định theo văn bản số 526TT/HCSN
ngày 3/3/1998 của Bộ tài chính (phụ lục 4)
Hệ thống dự toán thu chi trong các trường chuyên nghiệp bao gồm 2
nguồn chính là Ngân sách cấp và học phí
Công tác lập dự toán thu, chi năm kế hoạch tại các trường chuyên nghiệp:
Yêu cầu của việc lập dự toán:
Khi lập dự toán thu, chi năm kế hoạch tại các trường chuyên nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu: Dự toán phải được lập đúng biểu mẫu và mục lục ngân sách quy định hiện hành; dự toán phải thể hiện đầy đủ các khoản thu, chi của đơn vị, số liệu tính toán phải có cơ sở khoa học, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chính trị với chất lượng cao
Căn cứ lập dự toán:
Khi lập dự toán thu, chi năm kế hoạch tại các trường chuyên nghiệp phải dựa vào những căn cư: Phương hướng và nhiệm vụ đào tạo của trường trong năm học; các hoạt động có thu trong năm; các chính sách chế độ thu, chi của Nhà nước theo quy định hiện hành; các chỉ tiêu về biên chế, học sinh, quỹ lương; tình hình thu, chi năm báo cáo và các yếu tố khách quan tác động
Trình tự lập dự toán:
Bước 1: Ước thực hiện năm báo cáo: căn cứ vào số liệu đã thực hiện 9
tháng đầu năm và ước thực hiện quý 4 để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán đó và rút ra những ưu khuyết điểm, nguyên nhân và đề
ra các biện pháp quản lý tốt hơn cho năm sau
Bước 2: Xác định các chỉ tiêu năm kế hoạch:
Số lao động bình quân trong năm KH = Số lao động có mặt đầu năm KH + Số lao động tăng bình quân trong năm KH - Số lao động giảm bình quân trong năm KH
(2.3)
Trang 17Bước 3:Tính toán dự toán: Khi lập dự toán thu, chi hàng năm cho trường
chuyên nghiệp căn cứ vào các chỉ tiêu kế hoạch, các chính sách, chế độ,
định mức chi tiêu được cơ quan có thẩm quyền quy định và sắp xếp theo
thứ tự mục lục ngân sách hiện hành và các biểu mẫu do cơ quan tài chính
quy định (Phụ lục 5)
Bước 4: Hồ sơ dự toán: Sau khi tính toán chi tiết các khoản thu, chi, nhà
trường phải lập hồ sơ dự toán theo quy định gồm các biểu mẫu phản ánh
số liệu dự toán thu, chi và bản thuyết minh giải thích các số liệu
Chấp hành dự toán và quyết toán
Các trường chấp hành dự toán năm đã được duyệt bằng cách tiến hành
lập dự toán quý có chia ra tháng và tổ chức thực hiện tốt dự toán của từng tháng
trong quý
Hàng năm các trường lập báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách theo quy
định hiện hành
2.6 Thực trạng về hệ thống kế toán tại một số trường:
Để biết được thực trạng về hệ thống kế toán quản trị tại các trường
chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang và các tỉnh lân cận, tác giả đã tiến
hành khảo sát (bằng hình thức phỏng vấn, tham khảo tài liệu) tình hình thực hiện
công tác kế toán và cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán tại 5 trường chuyên nghiệp
(Trường Trung học kinh tế kỹ thuật An Giang, Trường Trung học y tế An Giang,
Trường Dạy nghề An Giang, Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Kiên Giang,
Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp) Từ nội dung bảng câu hỏi, tham khảo
tài liệu và nhận thức của bản thân, tác giả đã hệ thống lại và trình bày những
vấn đề chính trong bảng sau:
- 34 -
Bảng 2.1: Khảo sát công tác kế toán tại các trường chuyên nghiệp
Tổ chức bộ máy kế toán
STT Tên trường của Hiệu trưởng Số lượng nhân viên; Hình thức sổ kế toán; Chuyên môn
Nội dung thực hiện kế toán tài chính
Nội dung thực hiện kế toán quản trị
Nội dung phân tích quyết toán
1 Trung học Kinh tế – Kỹ thuật
An Giang
Cao cấp Chính Trị – Đại học
- Thực hiện các phần hành kế toán vốn bằng tiền; vật tư; tài sản cố định; nguồn kinh phí;
các khoản thu, chi; tiền lương và các khoản trích theo lương, tiền chi tiêu nội bộ; kế toán tổng hợp Trong đó có theo dõi chi tiết một số phần như vốn bằng tiền, các khoản thu theo dõi từng nguồn riêng (học phí, ngân sách chi thường xuyên, chi không thường xuyên), vật
tư chi tiết theo loại
- Xây dựng định mức vật tư thực tập cho một học sinh
- Lập dự toán thu, chi ngân sách hàng năm theo mục lục ngân sách và chi tiết theo từng quý trên cơ sở chỉ tiêu về biên chế, học sinh, kinh phí
- Có lập một số báo cáo chi tiết theo yêu cầu quản lý vào cuối tháng, quý, năm như báo cáo tình hình thu chi từ nguồn thu ngoài ngân sách Báo cáo tình hình sử dụng kinh phí
Chỉ thưc hiện phân tích tổng quát tình hình thực hiện kế hoạch ngân sách năm nhưng chỉ dừng lại ở việc so sánh số liệu, không có nhận xét
Trang 182 Trung học
Y tế An
Giang
Thạc sĩ – bác sĩ - Cơ cấu bộ máy kế toán gồm 3 nhân viên,
trong đó đại học 1, trung cấp 2;
- Hình thức kế toán Nhật ký sổ cái
- Chỉ sử dụng bảng tính Excel để thực hiện tính lương, dự toán, báo cáo quyết toán,… còn lại thực hiện bằng tay
- Thực hiện các phần hành kế toán vốn bằng tiền; vật tư; tài sản cố định; nguồn kinh phí;
các khoản thu, chi; tiền lương và các khoản trích theo lương, tiền chi tiêu nội bộ; kế toán tổng hợp
Lập dự toán thu, chi ngân sách hàng năm và chi tiết theo từng quý trên cơ sở chỉ tiêu về biên chế, học sinh, kinh phí Căn cứ vào mục lục Ngân sách
- Hình thức kế toán Nhật ký sổ cái; đã vi tính hoá công tác kế toán nhưng chỉ ở dạng thủ công, không có phần mềm ứng dụng
- Thực hiện các phần hành kế toán vốn bằng tiền; vật tư; tài sản cố định; xây dựng cơ bản;
nguồn kinh phí; các khoản thu, chi; tiền lương và các khoản trích theo lương, tiền chi tiêu nội bộ; kế toán tổng hợp Trong đó có theo dõi chi tiết một số phần như vốn bằng tiền, các khoản thu theo dõi từng nguồn riêng (học phí, ngân sách chi thường xuyên, chi không thường xuyên)
- Lập dự toán thu, chi ngân sách hàng năm và chi tiết theo từng quý trên cơ sở chỉ tiêu về biên chế, học sinh, kinh phí năm theo mục lục ngân sách
Chưa thực hiện
4 Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp
Thạc sĩ sư phạm Lý
- Cơ cấu bộ máy kế toán gồm 3 nhân viên, trong đó đại học 2 (1 không chuyên ngành), lao động phổ thông 1;
- Hình thức kế toán Nhật ký sổ cái; có ứng dụng phần mềm kế toán
Lập dự toán thu, chi ngân sách hàng năm năm theo mục lục ngân sách và chi tiết theo từng quý trên cơ sở chỉ tiêu về biên chế, học sinh, kinh phí
Chưa thực hiện
5 Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Kiên Giang
Thạc sĩ Cơ khí - Cơ cấu bộ máy kế toán gồm 5 nhân viên,
trong đó đại học 2 ; trung cấp 3
- Hình thức kế toán Nhật ký sổ cái; có ứng dụng phần mềm kế toán
Lập dự toán thu, chi ngân sách hàng năm và chi tiết theo từng quý trên cơ sở chỉ tiêu về biên chế, học sinh, kinh phí năm theo mục lục ngân sách
- Xây dựng định mức vật tư thực tập cho một học sinh
- Có lập một số báo cáo chi tiết theo yêu cầu quản lý vào cuối tháng, quý, năm như báo cáo tình hình thu chi từ nguồn thu ngoài ngân sách,
Có thực hiện phân tích quyết toán nhưng chỉ dừng lại ở việc so sánh số liệu giữa kế hoạch và thực tế, không có nhận xét, không phân tích nguyên nhân
Trang 19trường chuyên nghiệp:
Qua thực tế khảo sát cho thấy các trường không có các bộ phận chuyên trách
về kế toán quản trị hoặc trung tâm phân tích thông tin làm nhiệm vụ thu thập, xử lý
và cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định Số cán bộ quản lý 100% có
trình độ từ đại học trở lên, tuy nhiên lãnh đạo đơn vị (hiệu trưởng) phần lớn xuất
thân là giáo viên sư phạm, kỹ thuật nên sự am hiểu về kế toán quản trị còn hạn
chế, các trường không có bộ phận chuyên trách (các chuyên gia) chuẩn bị thông tin
cho hiệu trưởng
Mỗi trường có từ 3 – 5 kế toán và 2/3 trong số đó chưa tốt nghiệp Đại học
hoặc tốt nghiệp đại học nhưng không phải chuyên ngành kế toán Có đơn vị cán bộ
kế toán không biết gì về kế toán quản trị, mặc dù đang thực hiện những công việc
thuộc kế toán quản trị như lập dự toán (Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp)
2.6.2 Thực trạng về công tác kế toán tại các trường:
Qua khảo sát tìm hiểu công tác kế toán tại các trường cho thấy các trường
chuyên nghiệp là một đơn vị kế toán độc lập và có những đặc điểm sau:
- Công việc kế toán ở các trường bao gồm 2 phần là kế toán tổng hợp và kế toán
chi tiết, và phân thành những phần hành cụ thể như sau: Kế toán vốn bằng tiền,
kế toán thanh toán; Kế toán tài sản, vật tư; Kế toán nguồn kinh phí; Kế toán các
khoản thu, chi; Kế toán tổng hợp Kế toán trưởng chịu trách nhiệm chung, có
nhiệm vụ phân công, phân nhiệm trong bộ phận kế toán và hướng dẫn các nhân
viên kế toán thực hiện các phần công việc được giao
- Vận dụng hình thức sổ kế toán nhật ký sổ cái;
- Kinh phí không được sử dụng linh hoạt mà phải sử dụng theo từng nguồn và
hạch toán riêng;
- Việc lập dự toán thu chi dựa theo mục lục ngân sách Nhà nước và lập cho toàn
trường mà không theo nơi phát sinh (các khoa, phòng ban) do đó không thể
đánh giá và đề ra các biện pháp kiểm soát chi phí
gây khó khăn cho công tác quản lý chi phí nhưng không hiệu quả vì thông tin không được cung cấp một cách kịp thời và hữu ích cho nhà quản lý
- Hầu hết (70%) các trường không ứng dụng phần mềm kế toán hỗ trợ cho công tác kế toán
- Không có sự phân biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị: trong các thông tin kế toán cung cấp ngoài những thông tin kế toán tài chính như tình hình vật tư, kinh phí, các khoản thu chi cũng có những thông tin kế toán quản trị như phân tích quyết toán, lập dự toán tuy nhiên không có sự phân biệt giữa 2 lĩnh vực này
- Thông tin kế toán chủ yếu là để cung cấp cho cơ quan chức năng và cơ quan chủ quản như sở tài chính, sở giáo dục hơn là cung cấp cho nhà quản trị Tất cả các mẫu biểu báo cáo đều theo mẫu quy định chung thống nhất không theo yêu cầu của nhà quản trị
- Mặc dù theo hướng dẫn của chế độ kế toán là hệ thống kế toán theo phương pháp phát sinh giống như kế toán doanh nghiệp nhưng 100% các trường thường áp dụng phương pháp thực thu, thực chi hay phương pháp phát sinh cải biên cụ thể như sau:
+ Các khoản thu từ ngân sách hoặc thu học phí chỉ được ghi nhận khi thu tiền, còn số kinh phí được duyệt trong dự toán hoặc số học phí học sinh chưa thu không được phản ánh
+ Các khoản chi cũng vậy, chỉ được ghi nhận khi thanh toán, vì vậy có những khoản là chi phí của niên độ kế toán nhưng chưa chi không được xem là chi phí (Chẳng hạn như tiền dạy vượt giờ của giáo viên trong năm), lại có những khoản thực chi liên quan đến nhiều kỳ kế toán lại được ghi nhận vào chi phí trong kỳ (chẳng hạn như chi mua tài sản cố định, chi sửa chữa lớn tài sản cố định) Có thể nói đây là đặc điểm lớn nhất của các trường chuyên nghiệp nói riêng và các đơn vị hành chính sự nghiệp nói chung bởi một điều rất đơn giản là nó
Trang 20giữa thu nhập và chi phí Các trường chuyên nghiệp hàng năm tiến hành lập dự
toán thu, chi ngân sách và được ngân sách cấp kinh phí theo dự toán được duyệt
dựa vào chế độ quy định hiện hành, sau đó thực hiện dự toán theo đúng các
mục đích và nội dung dự toán được duyệt, không được sử dụng linh hoạt nguồn
kinh phí Mặc dù kinh phí sử dụng không hết sẽ được chuyển sang năm sau
nhưng lại bị trừ vào kinh phí được cấp của năm sau Nguồn thu từ học phí các
trường được phép giữ lại để chi cho hoạt động ở đơn vị nhưng cũng được xem
như một khoản kinh phí để lại (thay cho phần kinh phí được ngân sách cấp) và
cũng chịu sự kiểm soát như khoản chi từ nguồn ngân sách cấp
2.6.3 Đánh giá chung về thực trạng hệ thống kế toán và vận dụng
nội dung kế toán quản trị tại các đơn vị
1 Bộ máy kế toán của các đơn vị chủ yếu thực hiện kế toán tài chính,chưa quan
tâm đến quá trình thu nhận, cung cấp thông tin cho mục tiêu kế toán quản trị
2 Không sử dụng phần mềm kế toán để hỗ trợ cho công tác kế toán mà chủ yếu
là ghi chép thủ công, chỉ ứng dụng một số công cụ tính toán đơn giản trong
phần mềm Excell
3 Không phản ánh được tình hình tài sản, tình hình và kết quả hoạt động của
đơn vị Việc hạch toán chi phí, thu nhập trên cơ sở thực thu, thực chi mà
không theo phương pháp phát sinh nên mặc dù có báo cáo thu, chi hoạt động
sự nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng thực chất cũng chỉ là
những khoản thực tế thu tiền và thực tế chi tiền chứ không phản ánh đúng
kết quả hoạt động trong kỳ của đơn vị, không thể so sánh giữa chi phí và thu
nhập chính xác được; không có bảng cân đối kế toán để phản ánh tình hình
tài sản của đơn vị, chỉ có bảng cân đối tài khoản nhưng bảng này không thể
hiện được tình hình tài sản của đơn vị vì các khoản phải thu, phải trả không
được phản ánh đầy đủ
4 Sự thích hợp và kịp thời của thông tin chưa cao
nhu cầu quản trị mà theo mục lục ngân sách thống nhất gây khó khăn cho quá trình kiểm soát chi phí
Các đơn vị chưa có khái niệm gì về việc thiết lập các trung tâm trách nhiệm,
do đó việc đánh giá trách nhiệm và thành quả hoạt động của các phòng, ban, khoa, xưởng không được quan tâm đúng mức
Không thực hiện phân tích điểm hoà vốn vì các trường chỉ thực hiện đào tạo theo chức năng và nhiệm vụ được giao, có thể nói đây là một hạn chế rất lớn vì việc phân tích điểm hoà vốn là một nội dung quan trọng của kế toán quản trị nhằm giúp cho nhà quản lý thấy được khối lượng dịch vụ cần cung cấp để đạt được điểm hoà vốn, từ đó tận dụng triệt để nguồn lực dư thừa để tăng thu nhập Không thiết lập được mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng đào tạo và thu nhập do đó không đánh giá được hiệu quả kinh tế của quá trình đào tạo cho từng loại hình đào tạo cũng như cho toàn trường
5 Tuy nhiên, trong công tác kế toán cũng có những biểu hiện nhất định của kế toán quản trị đó là:
- Có tiến hành lập dự toán thu chi ngân sách hàng năm căn cứ vào chỉ tiêu được giao về biên chế, về học sinh, tài chính Nhưng chưa có công thức tính toán khoa học, chỉ dựa trên cơ sở thực tế năm báo cáo và một khoản tăng giảm ước lệ Vì vậy nếu có tiến hành phân tích quyết toán cũng không thể đưa ra nhận xét đúng đắn được
- Phản ánh các khoản thu chi theo từng hoạt động riêng
- Có xây dựng định mức chi phí cho một học sinh nhưng không đầy đủ và đồng bộ Chủ yếu chỉ là định mức về vật tư thực tập cho học sinh và việc kiểm tra thực hiện định mức cũng chưa triệt để Đồng thời việc xây dựng, quản lý và thực hiện định mức chi phí chủ yếu được thực hiện bởi các bộ phận kỹ thuật và các khoa chuyên môn mà chưa có sự tham gia tích cực của bộ phận kế toán, vì vậy làm hạn chế việc cung cấp thông tin cho nhà
Trang 21kế hoạch của từng phòng, ban, khoa và toàn trường
- Có tiến hành phân tích hoạt động (phân tích quyết toán) nhưng việc phân
tích chỉ dừng lại ở mức độ so sánh chỉ tiêu kỳ này so với kỳ trước hoặc so
với kế hoạch; so sánh tỷ trọng từng yếu tố trong tổng số Còn việc phân
tích nguyên nhân chênh lệch và ứng dụng nó để ra quyết định hoạt động
trong tương lai thì không được thực hiện
2.6.4 Nguyên nhân của những hạn chế:
1 Nguyên nhân chủ quan từ phía các trường:
- Các trường chuyên nghiệp còn thực hiện quản lý theo chức năng
- Các bộ phận tham mưu về tài chính kế toán ở các trường chủ yếu chỉ
thực hiện việc ghi chép kế toán và kiểm tra việc chấp hành các chế độ
chính sách thu chi theo quy định của Nhà nước
- Các nhà quản trị tại các trường chuyên nghiệp (trừ các trường chuyên về
kinh tế) đa số xuất thân là các nhà khoa học, nhà giáo mà chuyên môn
không phải là kinh tế, không được học qua môn kế toán quản trị vì vậy
họ chưa nhận thức được vai trò quan trọng cũng như tính hữu ích của
thông tin kế toán quản trị trong quá trình điều hành hoạt động và ra quyết
định
- Phần lớn (2/3) nhân viên kế toán chưa đạt đến trình độ đại học nên
không có hiểu biết nhiều về kế toán quản trị Một số nhân viên khác
trong đơn vị có kiến thức về kế toán quản trị (các giáo viên khoa kinh tế
ở các trường chuyên nghiệp có đào tạo về kế toán chẳng hạn) nhưng lại
chưa có vị thế quan trọng trong việc tham mưu với nhà quản lý đơn vị
Mặt khác, chưa có một mối liên hệ chặt chẽ giữa các nhà quản trị và các
nhân viên vì vậy chưa thể tạo ra những diễn biến tích cực trong việc tổ
chức thực hiện kế toán quản trị
chủ yếu là để báo cáo cho cấp trên, cho cơ quan chủ quản, mang tính đối phó Hệ thống kế toán mới chỉ là một hệ thống kế toán hỗn hợp bao gồm kế toán tài chính và kế toán quản trị mà phần hành chủ yếu là kế toán tài chính nên việc đặt trọng tâm vào thu nhận thông tin cho kế toán quản trị hầu như không có
- Phần lớn các trường vẫn còn đang sử dụng phương pháp ghi chép thủ công cũ và lạc hậu Việc thiết lập một hệ thống lưu trữ số liệu kế toán vi tính hoá rất tốn kém vì vậy các đơn vị phải xem xét lợi ích từ những thông tin thu nhận được từ hệ thống lưu trữ chứng từ bằng máy vi tính so với chi phí phải trả cho hệ thống đó
2 Chính sách của Nhà nước và dấu ấn của thời kỳ bao cấp:
- Đào tạo theo chỉ tiêu tỉnh giao, học phí cũng do tỉnh quyết định nên các khoản thu từ học phí không được điều chỉnh kịp thời Các nguồn thu chi đều căn cứ vào mục lục ngân sách cố định, không được sử dụng linh hoạt, nếu các trường có tiết kiệm được cũng không được chi thêm cho CNV hay tăng tích luỹ mà phải chuyển kinh phí sang năm sau Điều này đã làm cho các đơn vị không chủ động đề ra các biện pháp quản lý tài chính tích cực, hiệu quả
- Mặc dù nghị định 43 đã có hiệu lực từ tháng 5/2006 trao quyền tự chủ cho các đơn vị hành chính sự nghiệp từ nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đồng thời khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công chuyển sang loại hình doanh nghiệp nhưng việc triển khai nghị định vẫn còn rất dè dặt, các đơn vị chưa dám mạnh dạn tự chủ hoàn toàn, luôn tồn tại tâm lý e ngại vi phạm chế độ tài chính của Nhà nước trong suy nghĩ của các nhà quản lý các trường chuyên nghiệp
- Một số trường mạnh dạn hơn nhưng lại gặp một rào cản khác đó là sự quản lý của các cơ quan chủ quản, cơ quan chức năng do dấu ấn nặng nề
Trang 22Trong tình thế đó các nhà quản lý ở các cơ sở đào tạo nhất là các trường
chuyên nghiệp công lập không thể phát huy được vai trò chủ động trong
lĩnh vực tài chính của cơ sở mình
3 Sự mới mẻ của kế toán quản trị trong các trường học ở nước ta
Kiến thức chung về kế toán quản trị còn là điều mới mẻ ở nước ta, quá trình
vận dụng các nội dung của nó chỉ mới diễn ra ở các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh và cũng chỉ được hướng dẫn một cách bài bản từ năm 2006 (thông tư
53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006) Do đó,việc chưa vận dụng kế toán quản trị
vào các tổ chức phi lợi nhuận là điều tất nhiên
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Việc vận dụng kế toán quản trị vào công tác kế toán và quản lý còn là điều
khá mới mẽ đối với các trường chuyên nghiệp Qua tìm hiểu thực trạng hệ thống kế
toán tại một số trường đã nói lên điều đó Đặc điểm kế toán tại các trường chuyên
nghiệp là áp dụng phương pháp thực thu, thực chi hoặc phương pháp phát sinh cải
biên, dự toán thu chi được lập theo mục lục ngân sách một cách cứng nhắc, kinh
phí không được sử dụng linh hoạt mà phải sử dụng riêng từng nguồn và hạch toán
riêng, thông tin kế toán chủ yếu cung cấp cho cơ quan chức năng hơn là cho nhà
quản trị
Trong công tác kế toán cũng có một vài biểu hiện của kế toán quản trị như
tiến hành lập dự toán, xây dựng định mức chi phí và phân tích quyết toán, tuy
nhiên nội dung quá sơ sài và không thấy được vai trò quan trọng của kế toán quản
trị là cung cấp thông tin hữu ích cho việc lập kế hoạch, tổ chức điều hành hoạt
động, kiểm tra và ra quyết định
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do việc điều hành hoạt động theo
kinh nghiệm là chủ yếu, kiến thức chung về kế toán quản trị của các nhà quản lý
còn hạn chế Và một nguyên nhân nữa đó là dấu ấn nặng nề của thời kỳ bao cấp
vẫn còn bao trùm lên lĩnh vực giáo dục
quản trị có thể vận dụng được vào các trường chuyên nghiệp để công tác kế toán thật sự là công cụ quan trọng cho các nhà quản lý trong quá trình điều hành hoạt động tại đơn vị? Vấn đề sẽ được giải đáp ở chương ba