Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 3 năm 2014 NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ tên học viên: Nguyễn Đức Lưu Giới tính: Nam Ngày, tháng, năm sinh: 07/07/1971 Nơi sinh: Bình Định VẬN DỤNG CÁC PHƯƠN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
-
NGUYỄN ĐỨC LƯU
VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT
KIỂM TOÁN VÀO HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA,
THANH TRA SAI LỆCH THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ )
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn sau khi Luận văn đã được
sửa chữa (nếu có)
Tp Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 3 năm 2014
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Nguyễn Đức Lưu Giới tính: Nam Ngày, tháng, năm sinh: 07/07/1971 Nơi sinh: Bình Định
VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT KIỂM TOÁN VÀO HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, THANH TRA SAI LỆCH THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN TÂN BÌNH
Nhiệm vụ và nội dung:
Tác giả tìm hiểu về thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra mà cơ quan thuế hiện nay đang áp dụng, thông qua đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện và xây dựng hệ thống thanh tra, kiểm tra thuế, với mục đích tăng cường hiệu quả cơ chế Quản lý thuế theo mô hình tự khai, tự nộp, chống thất thu các khoản thuế của Nhà
nước Nội dung cụ thể:
Nghiên cứu lý luận về các phương pháp, kỹ thuật trong kiểm toán ở trong
nước cũng như quốc tế
Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật; các quy định, quy trình về thanh tra, kiểm tra thuế
So sánh sự tương đồng giữa các phương pháp, kỹ thuật được áp dụng trong kiểm toán với phương pháp, kỹ thuật thanh tra, kiểm tra thuế mà cơ quan thuế đang áp dụng
Khảo sát thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi cục thuế quận Tân Bình, đồng thời đánh giá hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi cục thuế
Trang 3quận Tân Bình trong thời gian 05 năm từ năm 2009 đến năm 2013 để tìm hiểu về công
tác thanh tra, kiểm tra sai lệch thuế
Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện, xây dựng phương pháp thanh tra,
kiểm tra thuế tại Chi cục thuế quận Tân Bình, cũng như có kiến nghị lên cơ quan cấp
trên
TS NGUYỄN NGỌC HUY
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ Thầy hướng dẫn là TS Nguyễn Ngọc Huy Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này
là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin kính gửi lời cám ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các Thầy cô trường Đại
Học Công Nghệ Tp Hồ Chí Minh, các tổ chức cá nhân đã truyền đạt kiến thức, cung cấp
tài liệu cần thiết cùng với những câu trả lời giúp tôi hoàn thành bài luận văn này
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Nguyễn Ngọc Huy thuộc Trường Đại Học
Kinh Tế - Luật - Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Và tôi cũng xin cảm ơn tất cả các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi
trong thời gian qua
Luận văn này chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong nhận được
những ý kiến đóng góp xây dựng của Quý thầy cô và các bạn
Nhằm mục tiêu là hoàn thiện phương pháp, kỹ thuật thanh tra, kiểm tra thuế, tác giả lần lượt đưa ra các vấn đề và giải quyết như sau:
1 Những vấn đề cơ bản về các phương pháp và kỹ thuật kiểm toán Định nghĩa và phân loại kiểm toán
Khái niệm về thủ tục, phương pháp, kỹ thuật kiểm toán
2 Lý luận chung về thuế, kỹ thuật thanh tra, kiểm tra thuế Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế
Phân loại thanh tra, kiểm tra thuế
Nguyên tắc, Mục đích, vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế
Nội dung, phương pháp và kỹ thuật trong kỹ thuật thanh tra, kiểm tra
3 So sánh, vận dụng sự tương đồng giữa phương pháp và kỹ thuật áp dụng trong kiểm toán với phương pháp, kỹ thuật thanh tra, kiểm tra thuế
4 Thực trạng hoạt động kỹ thuật thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế nói chung và công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế Tân Bình nói riêng:
Đánh giá về tổng quan tình hình về hoạt động thanh tra, kiểm tra
Đánh giá các văn bản hướng dẫn về kỹ thuật thanh tra, kiểm tra thuế
Khảo sát và thống kê bằng phiếu câu hỏi về tình trạng thực tế trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
toán vào hoạt động kỹ thuật thanh tra, kiểm tra thuế
Các giải pháp cụ thể tại Chi cục thuế quận Tân Bình
Kiến nghị đến cơ quan quản lý cấp trên
Trang 5Working about Tax administration according to the form the self declaration and
self pay the tax which Tax authorities has been applied In which, the role of inspecting and
controlling about the Tax are very important, it should be tight, professional and efficient,
avoiding troublesome for taxpayers and avoiding wasting Tax authorities’s resources
The goal is in order to perfect the methods and techniques about inspecting and
controlling about the Tax The author give problems and solve the problems as follows :
1 The basics of the method and technical audit:
- Definition and classification audit
- Concept of procedures , methods, auditing techniques
2 General theory of Tax, inspecting and controlling about the Tax
- Concept of inspecting and controlling about the Tax
- Classification of inspecting and controlling about the Tax
- Principles, purpose and role of inspecting and controlling about the Tax
- Content, methods and techniques in inspecting and controlling about the Tax
3 Compare, using the similarity between the methods, techniques applied in the
audit and the methods, techniques in inspecting and controlling about the Tax
4 Current status about the activities of tax authorities in inspecting and controlling
about the Tax generally and working of inspecting and controlling about the Tax at Tan
Binh Tax Department in particular :
- Assessing the overall about activities in inspecting and controlling about the
Tax
- Assessing the guidelines text for inspecting and controlling about the Tax
- Survey and statistics by questionnaire about the actual situation in activities about inspecting and controlling about the Tax
5 Suggest some possible solutions to apply the procedures, methods and techniques audit
in activities about inspecting and controlling about the Tax
- The specific solutions at Tan Binh Tax Department
- Recommendations to upper Tax authorities
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN……… ……… …………i
LỜI CÁM ƠN……… ………….……… …………ii
TÓM TẮT……… ………….……… ……….iii
ABSTRACT……… ………….……… ….……….iv
MỤC LỤC……… ………….……… ….…………vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… ………….….………x
DANH MỤC BẢNG BIỂU……… ………….….……… xi
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ VÀ BIỂU ĐỒ.……… ………….….………xii
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ………1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài……… …… 1
1.2.Các công trình nghiên cứu có liên quan……… 1
1.3.Mục tiêu nghiên cứu……… ……… 3
1.3.1 Mục tiêu tổng quát ……… ……… 3
1.3.2 Mục tiêu cụ thể… ……… ……… 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu ……… 3
1.5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu ……… 4
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu ……… …… 4
1.5.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu ……….… 4
1.6 Phương pháp thu thập số liệu… ……… 4
1.7 Phương pháp nghiên cứu… … ……… 4
1.8 Đóng góp mới của đề tài… … ……… 4
1.9 Cấu trúc của luận văn….… … ……… 5
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……… ……… …… 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN ……… … 7
2.1.Những vấn đề cơ bản về phương pháp, kỹ thuật kiểm toán….……….… 7
2.1.1.Định nghĩa kiểm toán và phân loại kiểm toán……… ……….… 7
2.1.1.1 Định nghĩa kiểm toán ……….…… 7
2.1.1.2 Phân loại kiểm toán ……… 7
2.1.2.Phương pháp kiểm toán……… ………… ……….… 9
2.1.3.Các kỹ thuật áp dụng trong kiểm toán……… ……….… 18
2.1.3.1 Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán ……… ……… 18
2.1.3.2 Kỹ thuật chọn lấy mẫu kiểm toán ……… ……… 22
2.1.3.3 Tổng quan về thủ tục kiểm toán ……… … ……… 23
2.2.Tổng quan về thanh tra, kiểm tra thuế……….….……….… 25
2.2.1.Khái niệm về kiểm tra thuế………….……… ……….… 25
2.2.2.Khái niệm về thanh tra thuế………….……… ……… ……….… 26
2.2.3 Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế………….……… ……… ……….… 26
2.2.4.So sánh hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế………….…… ……… ……….… 27
2.2.4.1.Những điểm giống nhau……… ………….… ……… ……….… 27
2.2.4.2.Những điểm khác nhau…….……… ………….… ……… ……….… 27
2.2.5.Khái niệm về thuế TNDN……… ……….…… ……… ……….… 28
2.2.6.Phương pháp, kỹ thuật về thanh tra, kiểm tra thuế TNDN….……… ……….… 28
2.2.6.1 Phương pháp áp dụng trong thanh tra, kiểm tra thuế TNDN….……… ….… 28
2.2.6.2 Kỹ thuật thanh tra, kiểm tra phát hiện sai lệch thuế TNDN… ……… ….… 31
2.2.7.Các nguyên nhân sai lệch thuế….……… ……….……….36
2.2.7.1.Gian lận….…… ……….……….36
2.2.7.2.Sai sót….…… ……….……….36
2.3.So sánh giữa phương pháp, kỹ thuật trong kiểm toán với thanh tra, kiểm tra thuế 37
Trang 72.3.1.Những điểm giống nhau…….….……… ……….……… 37
2.3.2.Những điểm khác nhau…….….… …… ……….……….37
2.3.3.Nhận xét……… …….….… …… ……….……….37
2.4.Một số công trình nghiên cứu trước đây……… ………37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……… ……… ………41
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1.Mô hình nghiên cứu……… ……… ………42
3.2.Phương pháp nghiên cứu………….……… ……… ………43
3.3 Thu thập dữ liệu nghiên cứu ….……… … ……… ………44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3……… ……… ………46
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ TÂN BÌNH ………… … …… 47
4.1 Giới thiệu tổng quát về Chi cục thuế Tân Bình ………… ……… ………47
4.1.1 Cơ cấu tổ chức, chức năng của Chi cục thuế ………… ………… …… ………47
4.1.2 Cơ cấu tổ chức của Chi cục thuế quận Tân Bình ………… ………… …….…47
4.1.3 Chức năng nhiệm vụ của các đội thuế tại Chi cục thuế quận Tân Bình …48
4.2.Thực trạng về hoạt động thanh tra, kiểm tra trong ngành thuế Việt Nam, Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh và tại Chi cục thuế quận Tân Bình ………… … …50
4.2.1 Tổng quan về hoạt động TTKT thuế trong ngành thuế Việt Nam ……… …50
4.2.2 Thực trạng về công tác TTKT tại Cục thuế Tp Hồ Chí Minh… ……… …50
4.2.3 Thực trạng về công tác TTKT tại Chi cục thuế quận Tân Bình … ………… ….51
4.3 Thực trạng về các văn bản hướng dẫn TTKT trong ngành thuế ……….… ………52
4.4 Đánh giá thực trạng công tác TTKT qua Bảng khảo sát……… ……….… ………53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 ………… ….… ……….68
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… ….… ……… 69
5.1 Kết luận ……….… ………69
5.1.1 Kết quả đạt được ……….… ………69
5.1.2 Những hạn chế ……….… ………70
5.1.3 Nguyên nhân ……….… ………70
5.2 Một số giải pháp có thể vận dụng từ phương pháp, kỹ thuật kiểm toán … ………73
5.2.1 Quan điểm ……….… ………73
5.2.2 Các giải pháp cụ thể ……….… ………75
5.2.2.1 Về nguồn lực ……….… ………75
5.2.2.2 Đổi mới quy trình lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra ……….… ………78
5.2.2.3 Phát triển tin học phục vụ công tác quản lý thuế ……….… ………78
5.2.2.4 Hoàn thiện hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về NNT ……….… ………78
5.2.2.5 Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp ……….… ………79
5.2.2.6 Tổ chức tốt công tác xử lý sau thanh tra, kiểm tra ……….… … ……80
5.2.3 Các kiến nghị ……….… ………80
5.2.3.1 Về việc ban hành hệ thống luật pháp, chính sách ……….… ………80
5.2.3.2 Về vai trò của Tổng cục Thuế ……….… ………81
5.2.3.3 Kiến nghị về hướng nghiên cứu tiếp theo ……….… ………83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 ………… ….… ……….84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………… ….… ……….85 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CCT.TB Chi cục thuế quận Tân Bình
DN CP Doanh nghiệp cổ phần
GDP Gross Domestic Product
GTGT Giá trị gia tăng
HTKSNB Hệ thống kiểm soát nội bộ
KSNB Kiểm soát nội bộ
KTNB Kiểm toán nội bộ
NSNN Ngân sách Nhà nước
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TTKT Thanh tra, kiểm tra
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1Rủi ro trong kiểm soát và mức thỏa mãn về kiểm soát 16
Bảng 2.2Cơ sở xác định phương pháp tiếp cận kiểm toán 24
Bảng 2.3Bộ tiêu chí đánh giá rủi ro……… 29
Bảng 2.4 Các tỷ số trên Báo cáo tài chính để phát hiện sai lệch thuế………… 38
Bảng 2.5Sử dụng các tỷ số trên Báo cáo tài chính nghiên cứu ở nước ngoài 39
Bảng 3.1Thành phần đối tượng nghiên cứu 44
Bảng 4.1Kết quả thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế TPHCM …… 51
Bảng 4.2Kết quả thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi cục thuế quận Tân Bình… 51
Bảng 4.3Bảng Kết quả khảo sát sai lệch thuế tại Chi cục thuế quận Tân Bình… 53
Trang 9DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ VÀ BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu……… 42
Hình 4.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức tại Chi cục thuế quận Tân Bình……… 48
Hình 4.2 Tỷ lệ loại hình doanh nghiệp trốn thuế ……….…… 60
Hình 4.3 Nguyên nhân sai lệch thuế……… ……… …… 60
Hình 4.4 Kỹ thuật kiểm tra chi tiết …… 64
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cần thiết của đề tài
Việt Nam đã và đang thực hiện cơ chế quản lý thuế mới, người nộp thuế tự khai tự nộp với chủ trương tăng cường tính chủ động, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật trong thực hiện nghĩa vụ thuế của tổ chức, cá nhân Đây là bước cải cách quản lý thuế theo hướng hiện đại, tiến bộ, hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người nộp thuế, với cơ chế quản lý này thì vai trò của hoạt động TTKT đóng vai trò rất quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, chống thất thu thuế.Hoạt động TTKT thuế trong thời gian qua không chỉ có những đóng góp đáng kể vào chống thất thu thuế
mà còn đảm bảo công bằng với các chủ thể kinh tế Tuy nhiên còn có nhiều hạn chế, đòi hỏi phải được nghiên cứu nhằm cải tiến, đổi mới và hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra, nhiều tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu Tuy nhiên, hầu hết các giả trong và ngoài nước cho đến nay chưa vận dụng đầy đủ các phương pháp và kỹ thuật kiểm toán vào hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế để phát hiện sai lệch thuế
Nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả đã chọn đề tài: “Vận dụng các phương pháp, kỹ thuật kiểm toán vào hoạt động kiểm tra, thanh tra sai lệch thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Tân Bình” làm nội dung nghiên cứu, hy vọng đề tài sẽ đóng góp cụ thể vào việc Quản lý thuế
Những nghiên cứu ở nước ngoài
Blocher et al (1988), “A Study of Auditors’ Analytical Review Performance”, Auditing: A Journal of Practice & Theory (Spring), 1-28, 1988: nghiên cứu sử dụng các tỷ số tài chính để phát hiện sai lệch trên BCTC
Glen Schmit (năm 2005), chuyên gia đào tạo người Canada, “Chương trình đào tạo thanh tra theo cơ chế tự khai tự nộp”: Xây dựng cơ chế tự khai, tự nộp, cơ quan thuế tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Trang 10Trong cuốn sách “Tax Risk Management : From risk to opportunity” tác giả
đã bàn về vai trò của thuế; TCF - một hệ thống để nhận dạng rủi ro, giảm thiểu rủi ro
về thuế, kiểm soát và báo cáo rủi ro về thuế với mục tiêu quan trọng của hệ thống
này là xây dựng hệ thống quản lý thuế hiệu quả và minh bạch, và một số kinh
nghiệm quản trị rủi ro trong công tác thu thuế của nhiều nước trên thế giới như Úc,
Canada, Pháp, Ireland,
Nghiên cứu ở trong nước
Tại Việt Nam có nhiều đề tài nghiên cứu về đề tài thanh tra, kiểm tra thuế:
Vũ Hữu Đức, Nguyễn Đình Tấn, Huỳnh Văn Hiếu, Trần Văn Xoa, Mai Đức
Nghĩa (2009), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân
tích để lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế”: trong nghiên cứu này, nhóm tác
gỉa sử dụng các tỷ số tài chính nhằm phát hiện sai lệch thuế TNDN trên BCTC
Nguyễn Thị Vân Anh (2011), “Vận dụng kỹ thuật kiểm toán vào hoạt động
thanh tra sai lệch thuế tại Cục thuế tỉnh Bình Dương”: Tác giả vận dụng các kỹ thuật
kiểm toán vào công tác thanh tra thuế Các kỹ thuật vận dụng như kỹ thuật phân tích,
kỹ thuật kiểm tra tài liệu dựa trên đánh giá HTKSNB, kỹ thuật lựa chọn phần tử để
kiểm tra…
Hồ Hoàng Trường (2012), “Hoàn thiện công tác thanh tra kiểm tra thuế tại Cục
thuế tỉnh Đồng Nai”: trong đề tài nghiên cứu, tác giả xác định các yếu tố ảnh hưởng
đến công TTKT thuế và từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện
Sự đóng góp của các nghiên cứu trước
Tất cả Các nghiên cứu trước đây đều có đưa ra các phương pháp, kỹ thuật phân
tích để phát hiện sai lệch thuế hoặc phát hiện sự bất thường của các chỉ số trên Báo
cáo tài chính Trong đề tài nghiên cứu này tác giả sẽ kế thừa những nghiên cứu này và
nghiên cứu thêm những phương pháp, thủ tục và kỹ thuật kiểm toán có thể vận dụng
vào hoạt động thanh tra, kiểm tra sai lệch thuế
1.3.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu thực trạng phương pháp, kỹ thuật TTKT thuế đang áp dụng hiện nay, thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài này, đề xuất vận dụng một số các phương pháp và kỹ thuật kiểm toán vào hoạt động kiểm tra thuế nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác Quản lý thuế
Hiện nay hoạt động TTKT thuế còn hạn chế, số lượng thuế truy thuế sau khi TTKT là rất lớn, vì vậy với mục tiêu chi tiết của đề tài này để làm sáng tỏ các vấn đề sau:
Nghiên cứu các lý do của phương pháp, kỹ thuật TTKT thuế TNDN hiện đang áp dụng còn có nhiều hạn chế
Nghiên cứu những nội dung nào của phương pháp và kỹ thuật kiểm toán có thể vận dụng vào hoạt động TTKT thuế TNDN
Nghiên cứu những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TTKT thuế
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt các mục tiêu trong quá trình nghiên cứu, tác giả lần lượt đưa ra những câu hỏi nghiên cứu và giải quyết như sau:
Cơ sở lý luận nào của phương pháp, kỹ thuật kiểm toán có thể vận dụng vào hoạt động kiểm tra thuế?
Thực trạng hiện nay về hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế, phát hiện sai lệch thuế Các phương pháp, kỹ thuật nào để được sử dụng trong TTKT sai lệch thuế? Giải pháp nào nhằm vận dụng phương pháp, kỹ thuật kiểm toán vào trong công tác TTKT thuế TNDN là phù hợp?
Trang 111.5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu các văn bản quy định về thanh
tra, kiểm tra thuế; Các hồ sơ thanh tra, kiểm tra thuế Thu nhập doanh nghiệp của các
doanh nghiệp do Chi cục thuế quận Tân Bình quản lý qua các năm 2009 đến năm
2013; Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi cục thuế quận Tân Bình;
Các công chức làm công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế quận Tân Bình
1.5.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đế tài là chỉ nghiên cứu về sai lệch của thuế Thu nhập
doanh nghiệp từ các năm 2009 đến năm 2013
Nghiên cứu được giới hạn tại Chi cục thuế quận Tân Bình
Dữ liệu thứ cấp được lấy từ các báo cáo sơ kết, tổng kết chuyên đề, kết
luận hội nghị giao ban, số liệu hồ sơ kiểm tra ở cơ quan thuế từ năm 2009 đến năm
2013 và các BCTC của các DN nộp cho cơ quan thuế từ năm 2009 đến năm 2013 tại
Chi cục thuế quận Tân Bình cũng như ở Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh; Số liệu
trên các phương tiện thông tin đại chúng: Báo chí, Internet; hồ sơ thanh tra kiểm tra
thuế tại Chi cục thuế quận Tân Bình quản lý
Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ số liệu thông qua điều tra thực tế, thu thập
thông tin bằng bảng câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp, quan sát, lấy ý kiến chuyên gia tại
Chi cục thuế quận Tân Bình
Đồng thời thu thập các dữ liệu có liên quan đến các loại thuế, các tài liệu
chính thức khác thông qua các hội nghị, hội thảo, tạp chí thuế, tài chính có liên quan
Nghiên cứu định tính: Tiến hành khảo sát các thông tin về cơ quan thuế và
tham khảo ý kiến của các công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế thuế và
các ý kiến của các vị Lãnh đạo để tìm ra những giải pháp hoàn thiện hoạt động công
tác thanh tra, kiểm tra thuế trên địa bàn quận
Nghiên cứu định lượng: Dùng phương pháp thống kê mô tả đánh giá bảng câu
hỏi khảo sát và số liệu thứ cấp để đưa ra các kết luận cần thiết
1.8 Đóng góp mới của đề tài
Đánh giá thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
Đề xuất các giải pháp từ việc vận dụng các thủ tục, phương pháp và kỹ thuật trong kiểm toán vào hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi cục thuế quận Tân Bình và cơ quan cấp trên
Luận văn “Vận dụng các phương pháp, kỹ thuật kiểm toán vào hoạt động kiểm tra, thanh tra sai lệch thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Tân Bình” gồm 5 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 12KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 nêu ra lý do chọn đề tài “Vận dụng các phương pháp, kỹ thuật kiểm
toán vào hoạt động kiểm tra, thanh tra sai lệch thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Chi
cục thuế quận Tân Bình” của tác giả Qua đó, tác giả đưa ra các mục tiêu nghiên cứu
trong đó có mục tiêu tổng quát để mục tiêu cụ thể, sau đó tác giả đưa ra các câu hỏi
nghiên cứu Để đạt được các mục tiêu đề ra cũng như trả lời các câu hỏi nghiên cứu,
tác giả đã nêu lên cơ bản phương pháp nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu
nghiên cứu
Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
là các hồ sơ TTKT tra thuế TNDN của các DN thuộc Chi cục thuế quận Tân Bình
quản lý qua các năm 2009, 2010, 2011, 2012 và năm 2013 và các công chức làm công
tác thanh tra, kiểm tra thuế
Tiếp theo sẽ là chương 2 nêu lên cơ sở lý luận của luận văn
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1.1 Định nghĩa kiểm toán
Trên thực tế có rất nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau về kiểm toán Hình ảnh về kiểm toán cổ điển là việc kiểm tra tài sản, phần lớn được thực hiện bằng cách người nghe ghi chép đọc to lên cho một bên độc lập nghe rồi chấp nhận Định nghĩa quốc tế về kiểm toán: Kiểm toán độc lập là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các báo cáo tài chính của một đơn vị Định nghĩa của giáo sư tiến sĩ Aren (Mỹ): Kiểm toán là việc kiểm toán viên kiểm tra các ghi chép kế toán bởi các kế toán viên công cộng (độc lập) được thừa nhận và ở bên ngoài tổ chức kiểm toán [26]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về kiểm toán nhưng hiện nay định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là:
“Kiểm toán là quá trình thu nhập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập.” [30]
Tuy các định nghĩa về kiểm toán có khác nhau nhưng có thể khái quát chung định nghĩa về kiểm toán như sau:
“Kiểm toán là việc các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền có kỹ năng nghiệp
vụ tiến hành thu thập, đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng của một đơn vị được kiểm toán nhằm mục đích xác nhận và bày tỏ ý kiến về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng”
2.1.1.2 Phân loại kiểm toán Phân loại kiểm toán theo mục đích
Người sử dụng thông tin nói chung đều có nhu cầu kiểm tra về tính hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động, sự chấp hành đầy đủ các quy định, hoặc sự trung thực và
Trang 13• Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán hoạt động là việc kiểm tra và về sự hữu hiệu và tính hiệu quả đối với
hoạt động của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để đề xuất những biện pháp cải tiến
Kiểm toán tuân thủ là việc kiểm tra nhằm đánh giá mức độ chấp hành một quy
định nào đó, ví dụ như văn bản luật pháp, những điều khoản của một hợp đồng, hay
quy định của một đơn vị…
Kiểm toán BCTC là cuộc kiểm tra để đưa ra ý kiến nhận xét về sự trình bày
trung thực và hợp lý của BCTC của một đơn vị Do BCTC bắt buộc phải được lập
theo các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, nên chuẩn mực kế toán và
chế độ kế toán được sử dụng làm thước đo trong BCTC
Phân loại theo chủ thể kiểm toán
Là loại kiểm toán do nhân viên của đơn vị thực hiện cả ba loại kiểm toán nói
trên, với thế mạnh là kiểm toán hoạt động
Do KTNB là nhân viên của đơn vị nên kết quả kiểm toán của họ chỉ có giá trị
đối với đơn vị và thường không đạt được sự tin cậy của những người bên ngoài
Phạm vi hoạt động của KTNB rất đa dạng và tùy thuộc vào quy mô và cơ cấu tổ
chức của đơn vị Thông thường KTNB có thể đảm trách các công việc sau đây:
+Kiểm tra về thiết kế và vận hành của HTKSNB để đưa ra cá kiến nghị nhằm
hoàn thiện chúng
+ Kiểm tra các thông tin hoạt động và thông tin tài chính
+ Kiểm tra tính hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động, kể cả các vấn đề không
thuộc về lĩnh vực tài chính của doanh nghiệp
+ Kiểm tra tính tuân thủ pháp luật và quy định nội bộ
Là hoạt động kiểm toán do các công chức của Nhà nước tiến hành và chủ yếu là
thực hiện kiểm toán tuân thủ, chẳng hạn như xem xét việc chấp hành luật pháp ở đơn
vị Riêng tại các đơn vị có sử dụng NSNN, KTV của Nhà nước có thể thực hiện thực
hiện kiểm toán hoạt động hoặc kiểm toán BCTC Hoạt động kiểm toán Nhà nước được thực hiện bởi nhiều cơ quan chức năng như cơ quan thuế, thanh tra…
Là loại kiểm toán được tiến hành bởi các KTV thuộc những tổ chức kiểm toán độc lập Họ thường thực hiện kiểm toán BCTC, và tùy thuộc yêu cầu của khách hàng,
họ còn cung cấp nhiều dịch vụ như kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, tư vấn về
kế toán, thuế, tài chính… [30]
Phương pháp kiểm toán là một trường hợp vận dụng đặc biệt của phương pháp khoa học Phương pháp kiểm toán là các biện pháp, cách thức, thủ pháp được sử dụng trong công tác kiểm toán nhằm thực hiện mục đích kiểm toán đã đặt ra
Phương pháp kỹ thuật, nghiệp vụ
Quá trình kiểm toán thực chất là quá trình áp dụng các phương pháp kỹ thuật, nghiệp vụ vào việc kiểm tra thực tế nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ
và thích hợp làm cơ sở cho các ý kiến nhận xét từng bộ phận được kiểm toán cũng như toàn bộ các báo cáo tài chính của đơn vị Xét trên phương diện quá trình ghi chép, kiểm soát các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để phản ánh vào BCTC, ta có thể chia hệ thống phương pháp kiểm toán thành hai loại là phương pháp kiểm toán cơ bản và phương pháp kiểm toán tuân thủ Sau đây là nội dung từng phương pháp
Phương pháp kiểm toán thứ nhất: Phương pháp kiểm toán cơ bản
Loại phương pháp kiểm toán cơ bản là các phương pháp được thiết kế và sử dụng nhằm mục đích thu thập các bằng chứng có liên quan đến các dữ liệu do hệ thống kế toán xử lý và cung cấp Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là việc tiến hành các thử nhiệm, đánh giá đều dựa vào các số liệu, các thông tin trong BCTC và hệ thống kế toán của đơn vị Vì vậy phương pháp kiểm toán cơ bản còn được gọi là các bước kiểm nghiệm theo số liệu (Substantive procedure)
Các bước kiểm nghiệm theo liệu bao gồm:
Phương pháp phân tích đánh giá tổng quát
Phương pháp này dựa trên cơ sở sử dụng các tỷ lệ, các mối quan hệ tài chính để xác định những tính chất hay những sai lệch không bình thường trong BCĐKT và
Trang 1410% của năm nay thì đó là sự thay đổi lớn mà các kiểm toán viên phải lưu tâm Sự
thay đổi này có thể là khách quan, cũng có thể là do sai sót số học trong tính toán,
cũng có thể là sự gian lận của các nhà quản lý và cán bộ nghiệp vụ trong DN…
Kỹ thuật chủ yếu dùng để phân tích, đánh giá các thông tin tài chính của DN là:
• Phân tích so sánh về lượng trên cùng một chỉ tiêu (còn gọi là phân tích
ngang) như :
+ So sánh số liệu kỳ này với kỳ trước hoặc giữa các kỳ với nhau
+ So sánh số liệu thực tế với số liệu trong giấy phép đầu tư, hợp đồng hợp tác
kinh doanh, kế hoạch sản xuất – kỹ thuật – tài chính, dự toán chi phí…
+ So sánh các số liệu giữa các đơn vị cùng ngành, cùng loại hình kinh doanh,
cùng lãnh thổ và có quy mô tương đương Hoặc so sánh các chỉ tiêu của đơn vị với
các chỉ tiêu bình quân trong ngành
lệ tương quan giữa các chỉ tiêu, các khoản mục khác nhau
Một số tỷ suất được dùng trong kiểm toán như sau:
* Nhóm tỷ suất khả năng thanh toán gồm có:
- Tỷ suất khả năng thanh toán hiện thời
Đây là tỷ suất khả năng thanh toán thông dụng nhất
Công thức tính:
Tổng nợ ngắn hạn
- Tỷ suất khả năng thanh toán nhanh
Tỷ suất khả năng thanh toán nhanh mô tả khả năng thanh toán tức thời với tiền
và phương tiện, có thể chuyển hóa ngay thành tiền
* Nhóm tỷ suất khả năng sinh lời
- Tỷ suất khả năng sinh lời của tài sản
Tỷ suất này dùng để đo lường tiền lãi do một đồng tài sản mang lại
Trang 15Tỷ suất khả năng sinh lời của tài sản =Lãi KD trước thuế + Chi phí tiền lãi
Tổng giá trị tài sản bình quân
- Tỷ suất hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chính
Tỷ suất này cho biết một đồng doanh thu thuần mang lại bao nhiêu tiền lãi cho
doanh nghiệp ở hoạt động sản xuất kinh doanh chính
Công thức tính:
Tổng doanh thu bán hàng thuần
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn bộ DN trong kỳ
Công thức tính:
doanh thu thuần
* Nhóm tỷ suất về cấu trúc tài chính
Thông qua nhóm tỷ suất này, ngoài sự phân tích sự bất thường, kiểm toán viên
còn có thể nhìn nhận những khó khăn tài chính mà DN phải đương đầu và có thể dẫn
dắt các nhà quản lý đến sai phạm Đồng thời có thể xem xét thêm khả năng tiếp tục
hoạt động của DN Nhóm này gồm có:
- Tỷ suất đầu tư:
Tỷ suất tự tài trợ phản ánh mối quan hệ giữa nguồn vốn chủ sở hữu với giá trị tài
sản cố định và các khoản đầu tư dài hạn
- Tỷ suất khả năng thanh toán lãi vay
Tỷ suất khả năng thanh toán lãi vay phản ánh lợi nhuận sinh ra từ hoạt động KD
do sử dụng vốn để đảm bảo khả năng thanh toán lãi vay
Công thức tính:
Chi phí lãi vay
Trang 16Có thể so sánh tỷ suất này giữa các kỳ hoặc với tỷ suất trung bình về khả năng
thanh toán lãi vay của ngành
Phương pháp phân tích, đánh giá tổng quát có thể có hiệu lực trong việc nhận
dạng những sai sót của BCTC và có thể áp dụng trong cả 3 giai đoạn của quá trình
kiểm toán đó là giai đoạn lập kế hoạch của một hợp đồng kiểm toán, giai đoạn thực
hiện hợp đồng kiểm toán, giai đoạn hoàn thành (đánh giá, kết luận) một hợp đồng
kiểm toán [32]
Phương pháp thử nghiệm chi tiết các nghiệp vụ và các số dư các tài khoản
Phương pháp thử nghiệm chi tiết nghiệp vụ và số dư tài khoản là kỹ thuật kiểm
tra chi tiết việc ghi chép, hạch toán từng nghiệp vụ kinh tế từ chứng từ vào sổ kế toán
có liên quan; kiểm tra việc tính toán, tổng hợp số dư của từng tài khoản
Phương pháp kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư tài khoản nhằm mục đích
thu thập các bằng chứng trực tiếp chứng minh cho độ tin cậy của các số liệu trên các
tài liệu kế toán
Phương pháp này có tác dụng rà soát lại toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
từ khâu lập chứng từ đến ghi sổ sách rút số dư tài khoản và lên BCTC
Nội dung kiểm tra chi tiết nghiệp vụ và số dư tài khoản:
+ Khảo sát các nghiệp vụ thực tế phát sinh như thế nào và được ghi nhận ra sao
+ Xem xét, kiểm tra việc ghi chép nghiệp vụ vào các sổ kế toán, việc chuyển đổi
đổi với từng nghiệp vụ có đúng chế độ, đúng phương pháp hay không, có được ghi
chép đầy đủ hay bỏ sót, có bảo đảm chính xác về số liệu và đúng đắn về quan hệ đối
ứng tài khoản, đúng hay sai kỳ…
Việc khảo sát này nhằm tìm ra những gian lận sai sót ngay từ khi ghi chép Xem
xét nghiệp vụ có phát sinh thự tế hay không? Việc ghi chép và xử lý nghiệp vụ là một
khâu quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến tính đúng đắn, trung thực của thông tin
tài chính Vì vậy việc khảo sát nghiệp vụ là một kỹ thuật quan trọng trong việc tìm ra
gian lận và sai sót ở khâu ghi chép
Việc khảo sát nghiệp vụ được áp dụng trong mọi cuộc kiểm toán không phân biệt
khảo sát, thử nghiệm trên mẫu kiểm toán lớn hay nhỏ Để đưa ra kết luận nhanh vào thời điểm này, kiểm toán viên thường tiến hành thử nghiệm, khảo sát trên cơ sở mẫu chọn để kiểm toán, nó cho kết quả nhanh nhất, phù hợp và hiệu quả nhất
- Kiểm tra chi tiết số dư tài khoản
Mục đích của việc kiểm tra chi tiết số dư tài khoản là tìm ra các cơ sở dẫn liệu của số dư các tài khoản, tức số dư tài khoản có thực hay không? Nó có được ghi chép dựa trên các chứng từ hợp lệ và phù hợp với thực tế hay không, đồng thời nó có được cộng dồn tính ra số dư lũy kế theo đúng quy định hay không, nó có bỏ sót, bỏ quên các nghiệp vụ hoặc bị xử lý sai lệch số liệu trong tài khoản hay không? Việc tính toán, đánh gía về số dư tài khoản phải đúng đắn, phù hợp, việc ghi chép và tính số lũy kế phải chính xác và phù hợp với quy định Số dư phải phù hợp với số liệu thực tế hoặc kết quả kiểm kê
Việc thử nghiệm chi tiết số dư tài khoản kết hợp với sự thử nghiệm chi tiết nghiệp vụ phát sinh nhằm phát hiện được những gian lận sai sót trong quá trình ghi chép, xử lý số liệu Đồng thời nó khẳng định và tăng thêm độ tin cậy của những bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập được để từ đó có thể mở rộng hay thu hẹp quy mô mẫu kiểm toán cần thử nghiệm Qua đó, xác định được mức thỏa mãn để đưa ra kết luận phù hợp
Việc thử nghiệm chi tiết số dư tài khoản không phải được tiến hành toàn bộ, mà
nó được tiến hành trên cơ sở sự lựa chọn của kiểm toán viên, tùy thuộc vào mức độ sai sót trọng yếu của các tài khoản lựa chọn và mức độ rủi ro kiểm soát cao hay thấp ở những lĩnh vực và bộ phận thử nghiệm
Thử nghiệm chi tiết nghiệp vụ số dư tài khoản là phương pháp kiểm toán ra đời sớm nhất, mất nhiều thời gian, công sức, chi phí Tuy nhiên nó đem lại bằng chứng kiểm toán có giá trị và sức thuyết phục cao nhất Loại thử nghiệm này thích hợp để thử nghiệm ở những thử nghiệm quan trọng, dễ cảm xúc trong kinh doanh như tiền mặt, vàng bạc, ngoại tệ, kim khí đá quý, vật tư quý hiếm
Phương pháp kiểm toán thứ hai: Phương pháp kiểm toán tuân thủ
Trang 17Phương pháp kiểm toán tuân thủ là các thủ tục và kỹ thuật kiểm toán được thiết
lập để thu thập các bằng chứng về tính thích hợp và hiệu quả của HTKSNB doanh
nghiệp
Như chúng ta đã biết, các kiểm toán viên nghiên cứu, đánh giá HTKSNB là để
đánh giá mức độ rủi ro trong kiểm soát, làm cơ sở cho việc lựa chọn các phương pháp
kiểm soát thích hợp Khi xem xét HTKSNB doanh nghiệp, các kiểm toán viên phải trả
lời được câu hỏi: Liệu công việc kiểm toán có thể dựa vào HTKSNB của DN được
hay không? Để giải đáp câu hỏi này, về thực chất, kiểm toán viên phải xem xét mức
độ thỏa mãn về kiểm soát trong từng trường hợp cụ thể Nếu rủi ro kiểm soát khi lập
kế hoạch kiểm toán được đánh giá là cao, mức thỏa mãn về kiểm soát thấp và kiểm
toán viên không thể tin tưởng và không thể dựa vào HTKSNB doanh nghiệp Trường
hợp rủi ro kiểm soát được đánh giá là thấp, mức thỏa mãn về kiểm soát còn tùy thuộc
vào kết quả đánh giá thực tế hiệu quả của hệ thống kiểm soát trong quá trình kiểm
toán của kiểm toán viên Mối quan hệ giữa rủi ro trong kiểm soát và mức thỏa mãn về
kiểm soát được khái quát trong sơ đồ sau:
Bảng 2.1: Rủi ro trong kiểm soát và mức thỏa mãn về kiểm soát [32]
Đặc trưng của phương pháp kiểm toán tuân thủ là các thử nghiệm và kiểm tra
đều dựa vào các quy chế kiểm soát trong HTKSNB doanh nghiệp Nếu HTKSNB
được đánh giá là mạnh, là hiệu quả và kiểm soát viên có thể tin tưởng thì công việc
THẤP
CAO PHẢI CHĂNG
CAO
THẤP (không thỏa mãn)
Tùy thuộc vào mức thỏa mãn về kiểm soát, kiểm toán viên có thể áp dụng phương pháp kiểm toán tuân thủ cụ thể như sau:
Phương pháp cập nhật cho hệ thống
Phương pháp này còn được gọi là kỹ thuật điều tra hệ thống, kỹ thuật này đòi hỏi việc kiểm tra chi tiết một loạt các nghiệp vụ cùng loại ghi chép từ đầu đến cuối (Wald– though) để xem xét, đánh giá các bước kiểm soát áp dụng trong hệ thống điều hành nội bộ Ví dụ, các nghiệp vụ bán hàng có thể được kiểm tra từ khi nhận đơn đặt hàng cho đến khi nhận được tiền bán hàng Việc kiểm tra hện thống cho phép đánh giá lại mức độ rủi ro kiểm toán và thiết kế các thử nghiệm chi tiết và kiểm soát
Các thử nghiệm chi tiết đối với kiểm soát
Thử nghiệm chi tiết về kiểm soát là thử nghiệm được tiến hành để thu thập bằng chứng về sự hữu hiệu của các quy chế kiểm soát và các bước kiểm soát, làm cơ sở cho việc thiết kế phương pháp kiểm toán cơ bản
Việc tiến hành hay không tiến hành các thử nghiệm chi tiết về kiểm soát phụ thuộc vào việc đánh giá lại rủi ro kiểm soát sau khi đã áp dụng kỹ thuật kiểm tra hệ thống Nếu mức độ rủi ro kiểm soát được đánh giá là không cao ở mức tối đa hoặc kiểm toán viên xét thấy có thể giảm được rủi ro kiểm soát đã đánh giá sơ bộ khi lập kế hoạch xuống một mức thấp hơn, kiểm toán viên sẽ tiến hành các thử nghiệm chi tiết
về kiểm soát cần thiết để có được bằng chứng về sự hữu hiệu tương ứng của kiểm soát nội bộ Đây là cơ sở để kiểm toán viên giới hạn phạm vi của các thử nghiệm cơ bản phải tiến hành (nhất là các thử nghiệm chi tiết về nghiệp vụ và số dư tài khoản) đối với các khoản mục liên quan Ngược lại, nếu mức rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức cao và xét thấy không có khả năng giảm được trong thực tế, kiểm toán viên sẽ không thực hiện các thử nghiệm chi tiết về kiểm soát mà phải tiến hành ngay các thử nghiệm cơ bản ở mức độ phù hợp Đây là giai đoạn, là công việc mang tính chủ quan, tùy thuộc vào bản lĩnh nghề nghiệp và sự xét đoán của kiểm toán viên
Các thử nghiệm chi tiết đối với kiểm soát (kiểm soát độc lập và quản lý, kiểm soát xử lý, kiểm soát bảo vệ tài sản) chủ yếu cũng được thực hiện trên cơ sở kiểm tra mẫu các quy chế kiểm soát nội bộ Ngoài ra phương pháp này còn được kết hợp với
Trang 18các biện pháp quan sát trực tiếp, phỏng vấn khách hàng và kiểm tra đối chiếu…để bổ
sung cho kỹ thuật lấy mẫu kiểm toán
Như đã trình bày, quá trình kiểm toán thực chất là quá trình kiểm toán viên, sử
dụng các phương pháp, các kỹ thuật kiểm toán để thu thập và xét đoán các bằng chứng
kiểm toán
Trong quá trình thu thập BCKT, KTV có thể sử dụng kết hợp các phương pháp
kỹ thuật khác nhau Trong kiểm toán tài chính cũng như các loại hình kiểm toán khác,
các kỹ thuật kiểm toán thường được sử dụng là: kiểm kê; kiểm tra tài liệu; phỏng vấn;
quan sát; xác nhận; so sánh; tính toán [17]
Kiểm tra vật chất (kiểm kê)
Kiểm tra vật chất là quá trình kiểm kê tại chỗ hay tham gia kiểm kê các loại tài
sản của doanh nghiệp Kết quả quả của quá trình kiểm tra thường là các biên bản kiểm
kê, biên bản kiểm tra, biên bản đánh giá, bảng thống kê…
Xác nhận
Kỹ thuật xác nhận là quá trình thu thập thông tin do bên thứ ba độc lập cung cấp
để xác minh tính chính xác của thông tin mà Kiểm toán viên nghi vấn Hình thức thực
hiện việc xác nhận thường là bằng văn bản (thư xác nhận)
Thư xác nhận có thể được Kiểm toán viên gửi trực tiếp đến người thứ ba để nhờ
xác nhận thông tin theo yêu cầu, sau đó sẽ được gửi trở lại theo địa chỉ của Kiểm toán
viên
Kiểm tra tài liệu
Kỹ thuật kiểm tra tài liệu là quá trình xem xét, kiểm tra đối chiếu các chứng từ
sổ sách có liên quan sẵn có trong đơn vị, phương pháp này thường áp dụng đối với
hóa đơn bán hàng, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, hóa đơn vận tải, sổ kế toán Kỹ
thuật này đem đến độ tin cậy cao, thuận tiện trong thực hiện và chi phí áp dụng thấp
so với kỹ thuật khác
Quan sát
Quan sát là kỹ thuật theo dõi một sự vật, hiện tượng, một chu trình hoặc một thủ
tục do đơn vị được kiểm toán thực hiện nhằm đánh giá một thực trạng hay hoạt động
của đơn vị được kiểm toán Việc quan sát được thực hiện bởi các giác quan của KTV nhằm đánh giá một phạm vi lớn các sự việc Ví dụ: KTV quan sát việc kiểm kê thực tế hoặc quan sát các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán tiến hành; KTV có thể
đi thị sát đơn vị được kiểm toán để có ấn tượng chung về máy móc, thiết bị của đơn
vị, quan sát tính cũ, mới và vận hành của máy móc; Quan sát các cá nhân thực hiện nhiệm vụ để đánh giá chung về tình hình hoạt động của đơn vị Bên cạnh đó, để đảm bảo rằng BCKT thu được có độ tin cậy cao, KTV sẽ thực hiện phỏng vấn Kế toán trưởng về những xử lý của đơn vị nếu xảy ra những sai sót về sự chênh lệch giữa sổ sách kế toán với kiểm kê thường kỳ, hay phỏng vấn giám đốc về những sai sót trong
hệ thống kiểm soát nội bộ Khi tiến hành kỹ thuật quan sát để thu thập thông tin, KTV phải thường xuyên ghi chép các thông tin quan sát được cùng với những nhận xét, đánh giá
Kỹ thuật quan sát rất hữu ích trong nhiều phần hành của cuộc kiểm toán, BCKT thu được đáng tin cậy, tuy nhiên bản thân BCKT thu được từ kỹ thuật này chưa thể hiện tính đầy đủ nên cần kết hợp với các kỹ thuật khác Kỹ thuật này chỉ cung cấp các bằng chứng về phương pháp thực thi công việc tại thời điểm quan sát, không chắc chắn có được thực hiện tại các thời điểm khác hay không Mặt khác tính hiệu quả của việc quan sát còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan đó là trình độ và kinh nghiệm của kiểm toán viên Bằng chứng thu được từ kỹ thuật này gọi là kiểu mẫu quan sát
Giai đoạn thực hịên phỏng vấn: KTV giới thiệu lý do cuộc phỏng vấn, trao đổi
về những trọng điểm đã xác định Trong giai đoạn này, kỹ thuật nêu câu hỏi là hết sức quan trọng KTV thường dùng hai loại câu hỏi cơ bản đó là “câu hỏi đóng và câu hỏi mở”
Câu hỏi mở giúp KTV thu được câu trả lời chi tiết và đầy đủ hơn, được sử dụng
Trang 19nào”, “cái gì”, “tại sao”
Câu hỏi đóng giới hạn câu trả lời của người được phỏng vấn, được sử dụng khi
KTV muốn xác nhận một vấn đề đã nghe hay biết Loại câu hỏi này thường dùng các
cụm từ: “có hay không”, “tôi (không) biết rằng…”
Giai đoạn kết thúc phỏng vấn: KTV cần chú ý đến trình độ và tính khách quan
của người được phỏng vấn để rút ra kết luận đúng đắn trên cơ sở bằng chứng thu được
phục vụ cho mục đích kiểm toán KTV thường kết luận từng phần và cuối cùng là tóm
tắt các điểm chính
Ưu điểm của kỹ thuật này là giúp KTV thu thập được những BCKT chưa có
nhằm thu thập những thông tin phản hồi đề củng cố luận cứ của KTV Tuy nhiên,
nhược điểm của kỹ thuật này là BCKT có độ tin cậy không cao, mang tính chủ quan vì
đối tượng phỏng vấn chủ yếu là người trong đơn vị, chất lượng của BCKT cũng phụ
thuộc vào trình độ và sự hiểu biết của người được phỏng vấn Do đó, BCKT thu được
nên được dùng để củng cố cho các bằng chứng khác, hay để thu thập thông tin phản
hồi BCKT thu được từ kỹ thuật này gọi là kiểu mẫu phỏng vấn
Tính toán
Tính toán là quá trình kiểm tra chính xác về mặt toán học của số liệu trên chứng
từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu liên quan khác hay việc thực hiện các
tính toán độc lập của KTV Phương pháp này được các KTV sử dụng khá phổ biến
trong các cuộc kiểm toán nhằm thu thập BCKT về tính chính xác số học của các
khoản mục trên BCTC khi thực hiện kiểm tra chi tiết số dư của các khoản mục Thông
qua việc cộng dồn số dư, số phát sinh theo tháng, quý của từng tài khoản theo đối ứng
bên Nợ, bên Có để xác định số dư cuối kỳ của các tài khoản được kiểm tra KTV còn
thu thập bằng chứng về tính chính xác của các phép tính trên hóa đơn, phiếu nhập,
xuất kho,… các số liệu sau khi dùng kỹ thuật tính toán lại sẽ được đối chiếu với số
liệu trên các sổ chi tiết, sổ tổng hợp Nếu có sự chênh lệch, KTV cần phỏng vấn Kế
toán trưởng, kế toán phụ trách từng phần hành đề tìm ra nguyên nhân chênh lệnh và có
các hướng giải quyết
Kỹ thuật này chỉ quan tâm đến tính chính xác thuần túy về mặt số học, không
chú ý đến sự phù hợp của phương pháp tính được áp dụng Do đó kỹ thuật này thường
Ưu điểm của kỹ thuật này là thu được BCKT có kỹ thuật cao về mặt số học, song
nó còn có nhiều các phép tính và phân bổ đôi khi khá phức tạp, tốn thời gian, đặc biệt
là các cuộc kiểm toán có quy mô lớn, loại hình kinh doanh đa dạng, luồng tiền ra vào lớn… BCKT thu được từ kỹ thuật này gọi là kiều mẫu chính xác số học
Phân tích
Phân tích là quá trình so sánh, đối chiếu, đánh giá các mối quan hệ để xác định tính hợp lý của các số dư trên tài khoản Các mối quan hệ bao gồm quan hệ giữa các thông tin tài chính với nhau và giữa các thông tin tài chính với thông tin phi tài chính
Do đó kỹ thuật phân tích gồm ba nội dung: dự đoán, do sánh và đánh giá
Dự đoán: Là việc ước đoán về số dư tài khoản, giá trị tỷ suất hoặc xu hướng…
So sánh: Là việc đối chiếu ước đoán trên với báo cáo Đánh giá: Là việc sử dụng các phương pháp chuyên môn và kỹ thuật khác (phỏng vấn, quan sát) để phân tích và kết luận khi so sánh
Kỹ thuật phân tích được sử dụng để thu thập bằng chứng có hiệu lực gồm ba loại: kiểm tra tính hợp lý, phân tích xu hướng và phân tích tỷ suất
Kiểm tra tính hợp lý thường bao gồm những so sánh cơ bản như:
So sánh giữa số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, dự toán,…từ kết quả so sánh, việc điều tra những sai khác lớn giữa số thực tế với kế hoạch sẽ giúp KTV phát hiện những sai sót trong BCTC hoặc các biến động lớn trong tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị
So sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị so với các chỉ tiêu trung bình ngành Nghiên cứu mối quan hệ giữa các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính
So sánh số liệu của đơn vị được kiểm toán với ước tính của kiểm toán viên
Phân tích xu hướng: Là sự phân tích những thay đổi theo thời gian của số dư tài
khoản hay nghiệp vụ Phân tích xu hướng thường được KTV sử dụng bằng cách so sánh thông tin tài chính kỳ này so với kỳ trước hay so sánh thông tin tài chính giữa các tháng trong kỳ hoặc so sánh số dư (số phát sinh) của các tài khoản cần xem xét giữa các kỳ, nhằm làm phát hiện những biến động bất thường để tập trung kiểm tra xem xét
Phân tích tỷ suất: Là cách thức so sánh những số dư tài khoản hoặc loại hình
Trang 20một công ty nào đó với công ty khác trong cùng một tập đoàn hay cùng một ngành
Thông thường khi phân tích tỷ suất cũng phải xem xét xu hướng của tỷ suất đó
Lấy mẫu kiểm toán (sau đây gọi là “lấy mẫu”): Là việc áp dụng các thủ tục kiểm
toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một tổng thể kiểm toán sao cho
tất cả các đơn vị lấy mẫu đều có cơ hội được lựa chọn nhằm cung cấp cho kiểm toán
viên cơ sở hợp lý để đưa ra kết luận về toàn bộ tổng thể [5]
Có nhiều phương pháp chọn mẫu Dưới đây là các phương pháp cơ bản:
• Lựa chọn ngẫu nhiên (sử dụng một số chương trình chọn số ngẫu nhiên, ví dụ,
các bảng số ngẫu nhiên)
• Lựa chọn theo hệ thống, trong đó số lượng đơn vị lấy mẫu trong tổng thể được
chia cho cỡ mẫu để xác định khoảng cách lấy mẫu, ví dụ khoảng cách lấy mẫu là 50,
sau khi đã xác định điểm xuất phát của phần tử đầu tiên thì cứ cách 50 phần tử sẽ chọn
một phần tử vào mẫu Mặc dù điểm xuất phát có thể được xác định bất kỳ, mẫu
thường có nhiều khả năng thực sự ngẫu nhiên nếu nó được xác định bằng cách sử
dụng một chương trình chọn số ngẫu nhiên trên máy tính hoặc các bảng số ngẫu
nhiên Khi sử dụng phương pháp chọn mẫu theo hệ thống, kiểm toán viên cần xác
định rằng các đơn vị lấy mẫu trong tổng thể không được sắp xếp sao cho khoảng cách
lấy mẫu trùng hợp với một kiểu sắp xếp nhất định trong tổng thể
• Lấy mẫu theo đơn vị tiền tệ là phương pháp lựa chọn thiên về các phần tử có
giá trị trong đó cỡ mẫu, việc lựa chọn và đánh giá dẫn đến kết luận chủ yếu theo giá
trị
• Lựa chọn bất kỳ, trong đó kiểm toán viên chọn mẫu không theo một trật tự nào
nhưng phải tránh bất kỳ sự thiên lệch hoặc định kiến chủ quan nào (ví dụ tránh các
phần tử khó tìm hay luôn chọn hoặc tránh các phần tử nằm ở dòng đầu tiên hoặc dòng
cuối của trang) và do đó đảm bảo rằng tất cả các phần tử trong tổng thể đều có cơ hội
được lựa chọn Lựa chọn bất kỳ không phải là phương pháp thích hợp khi lấy mẫu
thống kê
• Lựa chọn mẫu theo khối là việc lựa chọn một hay nhiều khối phần tử liên tiếp nhau trong một tổng thể Lựa chọn mẫu theo khối ít khi được sử dụng trong lấy mẫu kiểm toán vì hầu hết các tổng thể đều được kết cấu sao cho các phần tử trong một chuỗi có thể có chung tính chất với nhau nhưng lại khác với các phần tử khác trong tổng thể Mặc dù trong một số trường hợp, kiểm tra một khối các phần tử cũng là một thủ tục kiểm toán thích hợp, nhưng phương pháp này thường không được sử dụng để lựa chọn các phần tử của mẫu khi kiểm toán viên dự tính đưa ra kết luận về toàn bộ tổng thể dựa trên mẫu [5]
2.1.3.3 Tổng quan về thủ tục kiểm toán
Từ điển Tiếng Việt của trung tâm khoa học xã hội Nhân văn và quốc gia định nghĩa: Thủ tục là những việc phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức [29]
Quá trình kiểm toán là quá quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán thích hợp với đối tượng kiểm toán cụ thể, những dự kiến chi tiết trong công việc nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán Từ đó có thể hiểu thủ tục kiểm toán thực chất
là công việc cụ thể được KTV thực hiện để thu thập một bằng chứng kiểm toán xác định [17]
Có hai loại thủ tục kiểm toán phổ biến gồm:
Thứ nhất: Thủ tục kiểm toán cơ bản
Thủ tục kiểm toán cơ bản (substantive Procedures) được sử dụng trong một cuộc kiểm toán nhằm đối phó với khả năng trình bày sai lệch thông tin dự kiến, có mục tiêu thực hiện là thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp để đạt được mức dịch vụ đảm bảo dự kiến cho mỗi phần hành kiểm toán Trong cách tiếp cận kiểm toán dựa vào rủi ro, KTV áp dụng thủ tục này theo cách thức sau: đầu tiên, xác định khu vực có rủi ro cao; sau đó, KTV sẽ lựa chọn nhiều thủ tục kiểm toán hiệu quả Thủ tục kiểm toán cơ bản bao gồm thủ tục phân tích (Analytical Procedure) và thủ tục kiểm tra chi tiết Trong đó thủ tục kiểm tra chi tiết bao gồm các nội dung kiểm tra chi tiết khác nhau như kiểm tra chi tiết nghiệp vụ, số dư tài khoản và kiểm tra việc trình bày
- Thủ tục kiểm tra chi tiết số dư nhằm phát hiện khả năng tồn tại những sai phạm
Trang 21- Thủ tục kiểm tra chi tiết nghiệp vụ nhằm phát hiện khả năng tồn tại những sai
phạm trọng yếu trong quá trình ghi chép nghiệp vụ trong kỳ
- Kiểm tra chi tiết việc công bố (thông tin) nhằm xác định việc công bố thông tin
BCTC có được trình bày theo chuẩn mực kế toán, các quy định của kế toán hiện hành
Thủ tục phân tích liên quan tới những đánh giá thông tin BCTC bằng cách
nghiên cứu mối quan hệ giữa dữ liệu tài chính và dữ liệu phi tài chính, thông thường,
KTV sử dụng thủ tục phân tích để đạt được bằng chứng về sự phù hợp giữa các khoản
mục trên BCTC Kết quả của thủ tục phân tích là cơ sở quan trọng cho quyết định tiếp
theo của KTV liên quan đến việc áp dụng các thủ tục kiểm toán tùy thuộc vào mỗi
tình huống cụ thể
Thứ hai: Thủ tục kiểm tra hoạt động kiểm soát
Thủ tục kiểm tra hoạt động kiểm soát được thiết kế để kiểm tra sự hiệu quả của
HTKSNB trong việc ngăn chặn và phát hiện những hành vi sai phạm trọng yếu
Các thủ tục kiểm toán được KTV sử dụng rất đa dạng và tùy thuộc vào rủi ro của
công ty khách hàng và phụ thuộc vào những phương pháp được kế toán công ty
khách hàng sử dụng để ghi chép nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Bảng 2.2: Cơ sở xác định phương pháp tiếp cận kiểm toán và thủ tục kiểm
toán [17]
- Xem xét công việc kiểm toán năm trước
- Xem xét tài liệu có sẵn về đơn vị được kiểm toán
- Thực hiện thủ tục phân tích
- Phỏng vấn ban quản trị và nhân viên công ty khách hàng
- Đối với tất cả các hệ thống: Phỏng vấn ban quản trị, các bộ quản lý; xem xét hệ
thống tài liệu, văn bản; Quan sát hệ thống đang hoạt động; thể hiện trên tài liệu hệ
thống lưu chuyển và kiểm soát trên những điểm chính; chọn các nghiệp vụ và tìm
dấu vết sai phạm từ quá trình xử lý
- Các hoạt động thực hiện bổ sung đối với hệ thống máy tính: Sử dụng phần mềm
để tìm dấu hiệu sai phạm trong các nghiệp vụ từ hệ thống này; sử dụng phần mềm
chọn nghiệp vụ để kiểm tra kỹ hơn; kiểm tra các hoạt động kiểm soát máy tính,
chẳng hạn như kiểm tra việc sửa chữa số liệu đầu vào, quyền truy cập vào các hoạt động đảm bảo an toàn
C Thực hiện kiểm tra các số dư tài khoản hoặc các phương pháp đo lường hoạt động kinh doanh khác
- Kiểm tra trực tiếp các số dư tài khoản: xem sét việc phê chuẩn các nghiệp vụ và tài liệu; kiểm tra những tài liệu lưu trữ của khách hàng; kiểm tra tài liệu, văn bản
từ bên ngoài; kiểm tra những bản ghi điện tử và những hình ảnh về tài liệu
- Bằng chứng bằng thu thập từ sự chứng thực: Phỏng vấn cá nhân thuộc công ty khách hàng; Phỏng vấn và phân tích trách nhiệm từ các bên thứ ba ngoài công ty khách hàng
- Các bằng chứng KTV tự khai thác: quan sát trực tiếp; Thực hiện tính toán lại bao gồm cả tính lại và thử nghiệm toán học; Thực hiện lại một quá trình nghiệp vụ theo nguyên gốc trong những ghi chép sau cùng; Đối chiếu ngược từ những ghi chép cuối cùng tới chứng từ; Kiểm tra vật chất tài sản; thực hiện thủ tục phân tích
Kiểm tra thuế là một khái niệm có nhiều cách định nghĩa:
Học viện Tài chính (2003) định nghĩa: kiểm tra thuế là hoạt động của
Cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá
Michel Bouvier (2005) định nghĩa: kiểm tra thuế là hoạt động nhằm xem xét tính trung thực, tính chính xác của cơ sở tính thuế mà người nộp thuế đã kê khai Tổng hợp các khái niệm trên có thể hiểu khái quát rằng kiểm tra thuế là hoạt động xem xét tình hình thực tế của đối tượng được kiểm tra để đánh giá, nhận xét và
xử lý của cơ quan thuế đối với việc thực hiện pháp luật thuế của người nộp thuế và
Trang 22Công tác kiểm tra thuế là một trong những công cụ chủ yếu của công tác quản lý
thuế Kiểm tra thuế nhằm tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế thông qua việc phát
hiện và xử lý nghiêm và kịp thời về các hành vi vi phạm về thuế; ngoài ra kiểm tra
thuế có một ý nghĩa hết sức quan trọng là còn chống thất thu ngân sách, đảm bảo công
bằng xã hội và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các tổ chức cá nhân trong xã
hội
Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, là
hoạt động kiểm soát thực tế đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý
trong việc thực hiện pháp luật về thuế nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu khuyết
điểm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, phòng ngừa và xử lý các quy phạm
pháp luật về thuế
Hoạt động quản lý Nhà nước chính là sự tác động có định hướng của chủ thể
quản lý (cơ quan thuế) tới các đối tượng quản lý (đối tượng nộp thuế) nhằm đạt được
mục tiêu động viên một phần thu nhập quốc dân vào NSNN Do vậy kiểm tra, thanh
tra thuế là một công đoạn và là một yếu tố cấu thành của hoạt động lãnh đạo quản lý
nhà nước của cơ quan thuế Kiểm tra, thanh tra thuế là một trong bốn chức năng cơ
bản của quản lý thuế theo mô hình chức năng Kiểm tra, thanh tra thuế là một biện
pháp hữu hiệu nhằm ngăn ngừa vi phạm, giúp người nộp thuế nhận thấy luôn có một
hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ
Về khái niệm chung thì kiểm tra, thanh tra thuế là hoạt động giám sát của cơ
quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và
tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế, nhằm đảm
bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế- xã hội
Về khái niệm riêng thì:
- Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực
tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối
- Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và
xử lí những hành vi trái pháp luật
- Về mục đích: Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế
- Về cách thức tiến hành: Xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để phân tích, đánh giá, phát hiện và xử lý theo quy định pháp luật về thuế
- Về nội dung: đều xem xét doanh thu, chi phí, lợi nhuận
- Về phương pháp: đều phải phân tích xác định rủi ro, truy lần lại việc xử lý dữ liệu, tính toán lại và xác minh
Về phạm vi Thanh tra thường có nội
dung rộng, phức tạp, có thể liên quan đến nhiều đối tượng, nhiều lĩnh vực khác
tạm giữ tang vật, tài liệu;
khám xét nơi cất dấu tài liệu…
Biện pháp áp dụng ít hơn
Về thời gian Thời gian thanh tra dài
(thường không quá 30 ngày)
Thời gian kiểm tra ngắn hơn so với thanh tra (thường không quá 5 ngày)
Trang 232.2.5 Khái niệm về thuế TNDN
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu Đối tượng của thuế thu nhập
doanh nghiệp là thu nhập của các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ có thu nhập chịu thuế được xác định trên cơ sở doanh thu sau khi trừ đi các
chi phí có liên quan đến việc hình thành doanh thu đó
Trên thế giới, loại thuế này có những tên gọi khác nhau, tuỳ theo quan niệm hoặc
quy định pháp luật của mỗi nước, có khi trong các tài liệu khác nhau cũng có tên gọi
không giống nhau do việc sử dụng các thuật ngữ qua dịch thuật Theo đó, thuế TNDN
còn được gọi là thuế công ty (corporation tax); thuế thu nhập công ty (corporation
income tax); thuế lợi tức (profit tax) hoặc thuế lợi tức công ty (corporation profit tax)
Nhiều ý kiến cho rằng “thu nhập doanh nghiệp” được sử dụng nhiều hơn, phổ biến
hơn, thực dụng hơn và khi sử dụng nó sẽ dễ đánh thuế hơn so với sử dụng phạm trù
“lợi tức”
Về kỹ thuật lập pháp, các nước trên thế giới cũng có những cách thức không
giống nhau trong việc ban hành các đạo luật thuế đánh vào thu nhập của pháp nhân
Có nước ban hành luật thuế TNDN (Việt Nam là một thí dụ), cũng có nước ban hành
đạo luật thuế thu nhập chung, trong đó có các chương, mục quy định về thuế TNDN
Ở Việt Nam, phạm trù “thu nhập doanh nghiệp” được biết đến kể từ khi triển
khai công tác nghiên cứu và ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997, thi
hành từ 1999 để thay thế cho Luật thuế lợi tức trước đây Thời gian đầu (1999 đến
2008) Luật thuế TNDN còn áp dụng đối với cả thu nhập của cá nhân, hộ gia đình sản
xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ (gọi chung là cơ sở kinh doanh)
Phương pháp sử dụng trong hoạt động thanh tra, kiểm tra nói chung chính là các
biện pháp nghiệp vụ để phát hiện ra những mâu thuẫn, những điều không bình thường
trong tài liệu báo cáo và trong hoạt động kinh tế diễn ra tại đối tượng được thanh tra,
kiểm tra thể hiện ở một số phương pháp chủ yếu sau:
Tổng cục thuế đã có Quyết định 1733/QĐ-TCT ngày 01 tháng 11 năm 2013, Ban hành kèm theo: Quy trình phân tích , đánh giá thông tin rủi ro NNT phục vụ công tác lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế; Bộ tiêu chí phân tích thông tin rủi ro Người nộp thuế phục vụ công tác lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra
Bộ tiêu chí phân tích thông tin rủi ro phục vụ lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra
được xây dựng trên cơ sở phân tích cơ sở dữ liệu của ngành thuế, Bộ tiêu chí đánh giá
rủi ro được xây dựng gồm 21 tiêu chí, chia thành 6 nhóm:
Bảng 2.3: Bộ tiêu chí đánh giá rủi ro [25]
I Nhóm I: Đánh giá về tuân thủ khai thuế, tính thuế Tiêu chí 1: Chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy định (bao gồm tháng, quý, năm)
II Nhóm II: Phân loại doanh nghiệp theo loại hình kinh tế Tiêu chí 2: Phân loại doanh nghiệp theo loại hình kinh tế III Nhóm III: Đánh giá sự biến động về kê khai giữa các năm Tiêu chí 3: So sánh biến động của tỷ lệ “ Thuế TNDN phát sinh/ doanh thu” giữa các năm
Tiêu chí 4: So sánh biến động của tỷ lệ “ Thuế GTGT phát sinh/ doanh thu hàng hóa dịch vụ bán ra” giữa các năm
IV Nhóm IV: Đánh giá tình hình tài chính Tiêu chí 5: Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh/ doanh thu thuần Tiêu chí 6: Tỷ lệ (lợi nhuận trước thuế + chi phí lãi vay)/ doanh thu thuần Tiêu chí 7: Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế/ doanh thu thuần
Tiêu chí 8: Tỷ lệ lợi nhuận/ vốn chủ sở hữu
Trang 24Tiêu chí 9: Tỷ lệ giá vốn hàng bán/ doanh thu thuần
Tiêu chí 10: Tỷ lệ chi phí bán hàng/ doanh thu thuần
Tiêu chí 11: Tỷ lệ chi phí quản lý/ doanh thu thuần
Tiêu chí 12: Tỷ lệ Tổng dự phòng so với tổng chi phí sản xuất kinh doanh
Tiêu chí 13: Tỷ lệ doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ so với
vốn chủ sở hữu
Tiêu chí 14: Tỷ lệ tổng doanh thu GTGT hàng hóa dịch vụ bán ra so với
Tổng doanh thu thuần bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ và thu nhập khác
Tiêu chí 15: Tỷ lệ hàng tồn kho so với doanh thu thuần
Tiêu chí 16: Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Tiêu chí 17: Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Tiêu chí 18: Hệ số khả năng thanh toán nhanh
V Nhóm V: Lịch sử thanh tra của NNT
Tiêu chí 19: Kỳ đã được thanh tra, kiểm tra gần nhất
Tiêu chí 20: Số thuế truy thu tuyệt đối của kỳ thanh tra, kiểm tra gần nhất
VI Nhóm VI: Các tiêu chí về thân nhân doanh nghiệp
Tiêu chí 21: Vốn chủ sở hữu nhỏ hơn 20 tỷ, đồng thời kinh doanh đa
ngành nghề
Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình thanh tra, kiểm tra
thuế Nội dung của phương pháp này là thực hiện việc so sánh, đối chiếu nội dung cần
thanh tra, kiểm tra với các nguồn thông tin khác nhau để đánh giá, xem xét nội dung
cần thanh tra, kiểm tra thuế
- Phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết
Đây là phương pháp tối ưu để kiểm tra số liệu kế toán Theo phương pháp này,
trước hết kiểm tra số liệu tổng hợp sau mới kiểm tra số liệu chi tiết Việc kiểm tra tổng hợp nhằm rút ra những nhận xét tổng quát để từ đó định hướng những nội dung cần đi sâu kiểm tra (kiểm tra chi tiết)
Có ba phương pháp kiểm tra chứng từ gốc:
+ Kiểm tra theo trình tự thời gian là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc đã được sắp xếp theo trình tự thời gian phát sinh Phương pháp này mất nhiều thời gian
và hiệu quả thấp nên ít được sử dụng
+ Kiểm tra theo loại nghiệp vụ là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc đã được phân loại, sắp xếp theo một nghiệp vụ nhất định, như chứng từ thu, chi tiền mặt, xuất, nhập kho… Phương pháp này được áp dụng khi cần rút ra kết luận đầy đủ về một loại nghiệp vụ theo yêu cầu của nội dung kiểm tra, thanh tra Phương pháp này tiết kiệm thời gian và cho hiệu quả cao
+ Kiểm tra điển hình là việc kiểm tra ngẫu nhiên một số chứng từ của một loại nghiệp vụ để rút ra kết luận chung Phương pháp này tiết kiệm nhiều thời gian nhưng
độ tin cậy của kết luận không cao
- Các phương pháp kiểm tra bổ trợ + Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp này được sử dụng khi cần thu thập thông tin từ những người có quan hệ trực tiếp, gián tiếp đến nội dung TTKT
+ Ngoài ra còn một số phương pháp khác như: Phương pháp thẩm tra và xác nhận từng phần, phương pháp quan sát…
Trang 25- Đối chiếu số liệu ghi chép trên chứng từ kế toán, sổ sách kế toán, báo cáo kế
toán, báo cáo tài chính, báo cáo giải trình để phát hiện tăng, giảm so với Hồ sơ khai
thuế [24]
Phân tích trên tờ khai thuế TNDN (quyết toán năm)
Phân tích theo chiều ngang về doanh thu, số thuế TNDN phái nộp qua các năm,
phân tích theo hàng dọc về các tỷ suất để đánh giá sự biến động về kê khai thuế của
NNT qua các năm, phát hiện những điều bất thường
Phân tích thông tin trên BCTC
Bên cạnh phân tích, đánh giá các thông tin trên tờ khai Quyết toán thuế TNDN,
cán bộ TTKT cũng tiến hành phân tích các thông tin trên BCTC của doanh nghiệp Kỹ
thuật phân tích BCTC đang được áp dụng thường là phân tích theo chiều ngang và
phân tích theo chiều dọc nhằm phát hiện những khoản mục bất thường, các tỷ suất
thường được áp dụng là:
- Tỷ suất lợi nhuận/ doanh thu
- Lãi gộp/ doanh thu
- Chi phí hoạt động/ doanh thu
- Doanh thu/ nợ phải thu
Kỹ thuật được áp dụng trong giai đoạn TTKT tại doanh nghiệp:
Kỹ thuật kiểm tra vật chất
Quyền hạn của Trưởng đoàn thanh tra thuế, thành viên đoàn thanh tra thuế được
quy định tại Điều 85 của Luật quản lý thuế thì có quyền yêu cầu đối tượng thanh tra
cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên
quan đến nội dung thanh tra thuế; khi cần thiết có thể tiến hành kiểm kê tài sản của đối
tượng thanh tra liên quan đến nội dung thanh tra thuế
Kiểm tra vật chất (hay kiểm kê) khi phát hiện giữa sổ sách, chứng từ kế toán với thực tế có sự chênh lệch, bất hợp lý Các bước trong quá trình kiểm kê gồm:
- Ghi chép từng mã, từng lô hàng, kiểm kê từng chứng từ kế toán
- Xem xét đầy đủ và chính xác của hồ sơ kiểm kê bằng cách đối chiếu các khoản mục trên hồ sơ kiểm kê
- Ghi chép từng biến động trong suốt quá trình kiểm kê để xem xét việc hạch toán sau này đối với nghiệp vụ trước và sau kiểm kê
- Tìm hiểu nguyên nhân gây ra chênh lệch giữ số liệu sổ sách kế toán với số thực
tế
- Xác định chính xác số dư của các tài khoản
Kỹ thuật kiểm tra tài liệu:
Trong quy trình TTKT hiện hành, cán bộ thuế thực hiện kiểm tra đối chiếu số liệu tổng hợp giữa BCTC năm; tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp (quý, năm); tờ khai thuế GTGT các tháng; đối chiếu với sổ sách kế toán và BCTC Đối chiếu số liệu tổng hợp giữa sổ chi tiết với bảng cân đối số phát sinh và bảng tổng kết tài sản Kỹ thuật này nhằm mục tiêu đảm bảo việc kê khai thuế của DN là chính xác về mặt số học Sau khi đối chiếu số liệu tổng hợp, cán bộ TTKT thuế phải tiến hành kiểm tra sổ sách, chứng từ và các hồ sơ liên quan đến nội dung TTKT theo đúng nội dung đã ghi tại quyết định TTKT Việc kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thực hiện bằng cách đối chiếu số liệu hạch toán, số liệu tính, kê khai, thu nộp thuế và hạch toán thực tế của DN với quy định của pháp luật hiện hành
Trong quá trình TTKT, cán bộ TTKT thuế có thể yêu cầu đơn vị cung cấp sổ sách kế toán, chứng từ và các hồ sơ liên quan đến nội dung đã ghi tại quyết định thanh tra, kiểm tra
+ Đối với việc kiểm tra tài liệu về các tài sản của doanh nghiệp, cán bộ thanh
Trang 26tra, kiểm tra thường tiến hành kiểm tra các tài liệu, hồ sơ pháp lý về quyền sở hữu của
tài sản có giá trị lớn, bao gồm TSCĐ, các khoản chi phi xây dựng cơ bản dở dang, các
nguyên vật liệu chính
+ Đối với việc kiểm tra các tài liệu của một nghiệp vụ cụ thể, thông thường các
cán bộ thanh tra, kiểm tra chọn cách kiểm tra từ sổ sách truy lần ngược về chứng từ
bằng cách chủ yếu là đọc lướt sổ sách kế toán và báo cáo thuế, lựa chọn và kiểm mẫu
đối với các nghiệp vụ có cùng nội dung, kiểm tra đối chiếu số liệu hạch toán, số liệu
tính, kê khai, thu nộp thuế và hạch toán thực tế của DN với các quy định hiện hành
của nhà nhà nước về chế độ kế toán, thuế Truy lần về chứng từ gốc (hợp đồng, hóa
đơn, vận đơn, chứng từ thanh toán) đối với các nghiệp vụ có giá trị lớn, các nghiệp vụ
có rủi ro sai lệch thuế cao
Kỹ thuật quan sát:
Kỹ thuật quan sát được cán bộ TTKT áp dụng bằng việc tham quan cơ sở
sản xuất kinh doanh nhằm nắm bắt tình hình tài sản của DN xem tài sản có thật sự
hiện hữu không, nắm bắt quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN; xác
định xem có sự tách bạch giữa tài sản DN và tài sản chủ sở hữu DN không; quan sát
các các tài sản được trích khấu hao đều đã đưa vào sử dụng và sử dụng đúng mục
đích
Kỹ thuật xác nhận thông tin bên thứ ba:
Ngoài việc thu thập thông tin về NNT từ cơ sở dữ liệu ngành thuế, cơ quan thuế
có trách nhiệm thực hiện thu thập, khai thác thông tin dữ liệu về NNT từ nguồn thông
tin bên ngoài (bên thứ ba), các nguồn thông tin sau:
- Cơ sở dữ liệu thông tin về NNT của các cơ quan thuộc ngành Tài chính như:
Hải quan và Kho bạc Nhà nước; Thanh tra tài chính; Ủy ban chứng khoán; Cục quản
lý giá
- Dữ liệu, thông tin của các cơ quan khác có liên quan:
+ Kiểm toán Nhà nước; Thanh tra chính phủ
+ Từ các cơ quan quản lý thuộc Bộ, ngành, hiệp hội ngành nghề kinh doanh
+ Thông tin từ các cơ quan truyền thông phát thanh, truyền hình, báo chí
- Thông tin từ đơn tố cáo trốn thuế, gian lận thuế
Xác nhận thông tin bên thứ ba còn được thực hiện thông qua công tác gửi xác minh hóa đơn đầu vào đối với các cơ quan thuế quản lý các cơ sở kinh doanh bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ cho đối tượng TTKT, công tác xác minh hóa đơn mang lại hiệu quả đối với các doanh nghiệp được thành lập chủ yếu để mua bán hóa đơn và sau đó bỏ trốn khỏi địa điểm kinh doanh đã đăng ký Ngoài công tác xác minh hóa đơn, việc thu thập thông tin bên thứ ba chỉ thực hiện đối với các trường hợp có đơn thư tố cáo doanh nghiệp có gian lận thuế, các vụ việc mang tính chất phối hợp với cơ quan công an Xác nhận thông tin từ ngân hàng, khách hàng, nhà cung cấp của đối tượng TTKT
Kỹ thuật phỏng vấn
Cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế thực hiện phỏng vấn đối với lãnh đạo DN và các nhân viên các bộ phận có liên quan nhằm khai thác thông tin bổ sung về DN và đối chiếu xác định đối với các nguồn thông tin đã tập hợp, phân tích trước khi TTKT tại
DN Các thông tin trao đổi thường bao gồm thông tin về ngành nghề kinh doanh; phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh; thời gian hoạt động; cơ cấu tổ chức của
DN, chức năng, nhiệm vụ và hình thức hạch toán của các đơn vị trực thuộc thành viên, chi nhánh, đơn vị trực thuộc; phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh; chuẩn mực kế toán và niên độ kế toán áp dụng; số cán bộ, công nhân viên và tiền lương, thu nhập bình quân; các đối tác liên doanh, liên kết (nếu có), các khách hàng và nhà cung cấp lớn nhằm khai thác thông tin bổ sung về DN và đối chiếu xác định đối với các nguồn thông tin đã tập hợp, phân tích trước khi thanh tra tại DN
Trong quá trình phỏng vấn, cán bộ TTKT có thể đánh giá thông tin về HTKSNB
Trang 27thanh tra đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát Thông qua phỏng vấn ban giám đốc và
các nhân viên kế toán, cán bộ thanh tra có thể đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát
Kỹ thuật tìm hiểu về HTKSNB
Kiểm soát nội bộ là một công cụ quan trọng trong quản lý đơn vị Thông qua tìm
hiểu về HTKSNB, cán bộ TTKT thuế đánh giá được điểm mạnh điểm yếu của
HTKSNB, đánh giá được rủi ro kiểm soát (có nghĩa là đánh giá khả năng mà
HTKSNB của đơn vị không phát hiện và ngăn chặn được gian lận và sai sót), từ đó
xác định phạm vi, thủ tục, phương pháp kiểm tra Có thể tìm hiểu hệ thống KSNB qua
các các phương pháp sau:
- Dựa vào kinh nghiệm của các cán bộ TTKT trước đây tại đơn vị: Nếu đã từng
TTKT cho đơn vị, thì trong hồ sơ TTKT năm trước sẽ có nhiều thông tin cần thiết, có
những thông tin sai sót của các năm trước đã được phát hiện, và các nguyên nhân sai
sót, thì lúc này sẽ tiếp tục theo dõi xem chúng có được đơn vị sửa chữa hay không
- Kiểm tra các loại tài liệu, sổ sách: những tài liệu của đơn vị mà cán bộ TTKT
cần phải thu thập gồm có sơ đồ tổ chức, sổ tay chính sách, sơ đồ hạch toán, sổ nhật ký,
sổ cái, các báo cáo trình bày những dữ liệu thực tế và kế hoạch
2.2.7.1 Gian lận
- Theo Chuẩn mực 240 của kiểm toán thì là hành vi cố ý làm sai lệch thông tin
kinh tế, tài chính do một người hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban giám
đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến BCTC
- Gian lận thuế là hành vi cố ý làm sai lệch số thuế phải nộp hay được khấu trừ
- Gian lận có thể biểu hiện dưới các hình thức như che giấu hoặc bỏ sót các
thông tin, tài liệu hoặc các nghiệp vụ kinh tế phát sinh; ghi chép các nghiệp vụ kinh tế
không đúng sự thật; cố ý áp dụng sai chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ
kế toán, chính sách tài chính, quy định về thuế; cố ý tính toán sai về số học
2.2.7.2 Sai sót
- Theo Chuẩn mực 240 của kiểm toán thì sai sót là những lỗi không cố ý có ảnh
- Sai sót về thuế là lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến số thuế phải nộp hay số thuế được khấu trừ Sai sót bao gồm tính toán số học hoặc ghi chép sai; bỏ sót hoặc hiểu sai, làm sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế; áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính sách tài chính không cố ý
và trong TTKT thuế
Về mặt bản chất thì cả hoạt động kiểm toán và TTKT thuề đều là tìm ra sai lệch, các thông tin bất thường các thông tin trên BCTC của doanh nghiệp, các thao tác nghiệp vụ trong một cuộc TTKT hay một cuộc kiểm toán đều kiểm tra sổ sách, tài liệu, so sánh đối chiếu, đánh giá tài liệu, bằng chứng thu thập được đó là kiểm tra
Về mặt pháp lý, trong lĩnh vự kiểm toán độc lập thì khi phát hiện các thông tin sai lệch thì yêu cầu đơn vị được kiểm toán sửa chữa lại cho phù hợp theo đúng quy
định của pháp luật trước khi công bố và nộp cho cơ quan nhà nước Trong khi đó,
hoạt động TTKT thuế khi phát hiện các sai lệch về thuế thì xử lý theo quy định của
pháp luật
Về mặt bản chất để tìm ra sai lệch các thông tin kế toán thì ở phương pháp, kỹ thuật áp dụng trong lĩnh vực kiểm toán và TTKT sai lệch thuế có điểm tương đồng với nhau, vì vậy ta có thể vận dụng phương pháp, kỹ thuật nghiệp vụ áp dụng trong kiểm toán vào hoạt đông TTKT sai lệch thuế Các phương pháp, kỹ thuật kiểm toán được áp dụng là: Phương pháp kiểm toán cơ bản, phương pháp kiểm toán tuân thủ; phương pháp kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán
Ở trong nước
Trang 28Nhóm tác giả Vũ Hữu Đức, Nguyễn Đình Tấn, Huỳnh Văn Hiếu, Trần
Văn Xoa, Mai Đức Nghĩa (2009), trong đề tài nghiên cứu “Xây dựng hệ thống chỉ
tiêu phân tích để lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế”: Trong nghiên cứu này,
tác giả sử dụng phương pháp mô phỏng, theo nguyên tắc của phương pháp này sai
lệch đã được cấy vào BCTC “sạch” (không sai lệch) để tìm hiểu tác động của chúng
đến các tỷ số Các tỷ số được nhóm tác giả lựa chọn gồm:
Bảng 2.4: Các tỷ số trên Báo cáo tài chính để phát hiện sai lệch thuế [16]
12 Giá vốn hàng bán/ Hàng tồn kho GVHB/HTK
13
Nguyễn Thị Vân Anh (2011), “Vận dụng kỹ thuật kiểm toán vào hoạt động thanh tra sai lệch thuế tại Cục thuế tỉnh Bình Dương”: Tác giả vận dụng các kỹ thuật kiểm toán vào công tác thanh tra thuế Các kỹ thuật vận dụng như kỹ thuật phân tích, kỹ thuật kiểm tra tài liệu dựa trên đánh giá HTKSNB, kỹ thuật lựa chọn phần tử
để kiểm tra, trong đó có đề xuất vận dụng một số kỹ thuật của kiểm toán vào hoạt động thanh tra sai lệch thuế như: Xây dựng kỹ thuật thanh tra dựa trên kỹ thuật kiểm toán cho từng khoản mục thường xuyên phát sinh sai lệch thuế gồm khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, khoản mục giá vốn hàng bán, khoản mục TSCĐ và chi phí khấu hao TSCĐ, khoản mục nợ phải trả
1 Lãi gộp/ Doanh thu LG/DT Blocher et al (1988), Kinney
(1987), Beneish (1999), Coglitore et al (1998)
2 Chi phí hoạt động/
Doanh thu
CPHĐ/DT Beneish (1999), Coglitore et al
(1998)
3 Nợ phải trả/ Tài sản
N/TS Person (1995), Beneish (1999),
Christies (1990)
4 Tài sản ngắn hạn/ Tài sản
TSNH/TS Person (1995), Feroz et al
(1991)
5 Hàng tồn kho/ Tài sản
HTK/TS Person (1995), Feroz et al
(1991), St Pierre et al (1984)
Trang 296 Nợ phải thu/ Tài sản NPT/TS Person (1995), Feroz et al
8 Doanh thu/ Tài sản DT/TS Person (1995)
9 Lợi nhuận thuần/ Tài
12 Tỷ lê khấu hao bình
quân
KHBQ Beneish (1999)
Các nghiên cứu ở trong và ngoài nước ở trên cho tác giả bài học kinh nghiệm đó
là: Trong hoạt động TTKT thuế không những vận dụng phương pháp kiểm toán để
phát hiện rủi ro sai lếch thuế, mà còn có thể vận dụng tất cả các thủ tục, kỹ thuật
nghiệp vụ áp dụng trong kiểm toán
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 đã đưa ra cơ sở lý luận của nghiên cứu bao gồm hai nội dung chính
đó là: Tổng quan về các phương pháp, kỹ thuật nghiệp vụ áp dụng trong kiểm toán; Tổng quan về kiểm tra thuế
Trong phần Tổng quan về các phương pháp, kỹ thuật nghiệp vụ áp dụng trong kiểm toán tác giả đã nêu ra các vấn đề như: Định nghĩa về kiểm toán; Phương pháp kiểm toán cơ bản gồm phương pháp phân tích đánh giá tổng quát và phương pháp kiểm tra chi tiết vào nghiệp vụ và số dư tài khoản; Phương pháp kiểm toán tuân thủ gồm 2 kỹ thuật: kỹ thuật điều tra hệ thống và các thử nghiệm chi tiết về kiểm soát: Là các thử nghiệm tiến hành để thu; các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán như kỹ thuật kiểm kê, phỏng vấn, phân tích…
Trong phần Tổng quan về kiểm tra thuế tác giả đã đưa ra các vấn đề như: Khái niệm về kiểm tra thuế; Mục đích của kiểm tra, thanh tra thuế; Nguyên tắc của kiểm tra; Những phương pháp kỹ thuật kiểm toán có thể vận dụng vào hoạt động kiểm tra thuế gồm vận dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán tuân thủ và vận dụng phương pháp kiểm toán cơ bản: Sử dụng các tỷ số trên báo cáo tài chính để phát hiện ra sai lệch thuế
Trang 30CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình nghiên cứu
Hình 3.1 : Mô hình nghiên cứu - Tự tác giả xây dựng
Nguồn do tác giả tự nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
CSDL liệuliệu
Phương pháp nghiên cứu
Định tính Định lượng
Vận dụng vào trong TTKT thuế Số liệu
sơ cấp
Số liệu thứ cấp
Bảng câu hỏi
Số liệu tại CCT.TB
Những mặt đã làm được, chưa làm được
và nguyên nhân tồn tại
Những giải pháp hoàn thiện
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình nghiên cứu để thực hiện đề tài, tác giả dùng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp phỏng vấn, phương pháp khảo sát
Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu số 1, tác giả đã hệ thống hóa nghiên cứu lý
luận về phương pháp, kỹ thuật kiểm toán, tuy nhiên tác giả chọn xây dựng phương pháp kiểm toán cơ bản và phương pháp kiểm toán tuân thủ để vận dụng vào hoạt động
kiểm tra thuế
Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu số 2, tác giả chọn phương pháp định tính và
cả định lượng Với phương pháp định tính, tác giả tìm hiểu và đánh giá các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp phi tài chính về thực trạng công tác TTKT thuế hiện nay, các văn bản quy định về kiểm tra thuế của cơ quan thuế, công tác tổng kết đánh giá hoạt động kiểm tra thuế hàng năm tại Chi cục thuế quận Tân Bình, ý kiến của cấp lãnh đạo và công chức làm công tác kiểm tra thuế Các dữ liệu thứ cấp tài chính được tác giả phân tích từ năm 2009 đến năm 2013, tính tỷ lệ, phân tích, so sánh để đánh giá các nhân tố tác động đến gian lận và làm sai lệch thuế Các số liệu sơ cấp thu về từ bảng khảo sát câu hỏi, tác giả sử dụng phương pháp định lượng thống kê mô tả để so sánh tỷ lệ các câu hỏi trả lời, từ đó đánh giá thực trạng về công tác kiểm tra sai lệch thuế và những nguyên nhân sai lệch thuế tại Chi cục thuế quận Tân Bình
Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu số 3, tác giả dùng phương pháp so sánh và
suy diễn, tổng hợp lý luận và thực trạng nhằm xây dựng quan điểm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế qua cơ sở lý luận về vận dụng phương pháp, kỹ thuật kiểm toán nhằm phát hiện sai lệch thuế, chống thất thu thuế
Dữ liệu sau khi thu thập được tiến hành tổ chức nhập liệu và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel 2007, SPSS 16
Trang 313.3 Thu thập dữ liệu nghiên cứu
Để bảo đảm dữ liệu nghiên cứu có độ tin cậy cao, tác giả tổ chức ghi nhận dữ
liệu gồm dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp Cụ thể:
Dữ liệu thứ cấp:
- Khảo sát các hồ sơ TTKT thuế tại Chi cục thuế Quận Tân Bình
- Hệ thống các văn bản về kiểm tra thuế của Tổng cục thuế Việt Nam, Cục thuế
Tp Hồ Chí Minh và tại Chi cục thuế quận Tân Bình
- Số liệu thuế thu được và khoản thất thu thuế tại Chi cục thuế Tân Bình trong
vòng 5 năm, từ năm 2009 đến năm 2013 trong các Báo cáo tổng kết công tác TTKT
thuế hằng năm gửi lên Cục thuế Tp Hồ Chí Minh [2]
- Các bảng đánh giá sơ kết, tổng kết công tác TTKT thuế, nguyên nhân tồn tại
những hạn chế và cách giải quyết tại Chi cục thuế hàng năm
Dữ liệu sơ cấp:
Để thu thập các dữ liệu sơ cấp, tác giả đã tiến hành gửi bảng câu hỏi khảo sát
này đến trực tiếp Ban lãnh đạo và các phòng ban thuộc Chi cục thuế quận Tân Bình,
sau đó tiến hành phỏng vấn trực tiếp nhằm tiếp thu và đánh giá chất lượng các câu hỏi
một cách khách quan nhất
Thời gian khảo sát dữ liệu từ ngày 15/10/2013 đến ngày 15/01/2014
Đối tượng chọn khảo sát
Đối tượng chọn khảo sát là lãnh đạo cấp cao Chi cục và các Đội trưởng, Đội phó
và các công thức làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Với số lượng 110 bảng câu hỏi được phát đi, sau khi tiến hành khảo sát thu về đủ
110 bảng câu hỏi, số bảng câu hỏi đáp ứng được đầy đủ các điều kiện và phục vụ tốt
cho quá trình nghiên cứu là 86 bảng Thành phần nghiên cứu cụ thể tác giả trình bày
chi tiết trong bảng sau:
Bảng 3.1 : Thành phần đối tượng nghiên cứu
Đối tượng Số người tham gia khảo sát Tỷ lệ phần trăm
Đội trưởng, đội phó 20 23,26%
Nguồn do tác giả tự nghiên cứu
Nhận các bản khảo sát và kết hợp với thông tin thu thập trực tiếp tiến hành phân tích, tổng hợp theo những chỉ tiêu đã được thiết kế với mục đích khảo sát đã xây dựng
để tính tỷ lệ phần trăm các chỉ tiêu khảo sát Để xác định được nguyên nhân sai lệch thuế, tác giả tiến hành tổng hợp và sử dụng phần mềm SPSS để tính ra tỷ lệ phần trăm các nguyên nhân Cụ thể: Áp dụng sai chính sách thuế có số phiếu trả lời là 76 trả lời chọn trên số lượng 86 phiết khảo sát thu về hợp lệ Nguyên nhân gian lận thuế do áp dụng sai chính sách thuế chiến tỷ trọng ( 76 ÷ 86 )% = 88,4%
Chỉ tiêu xử lý dữ liệu là việc dùng thống kê mô tả để lập bảng tần số (số quan sát), tần suất (tỷ lệ phần trăm); Sử dụng phần mềm Microsoft Excel và SPSS 16 để vẽ
đồ thị lập bảng tổng hợp khi phân tích so sánh; tính trung bình cho các dữ liệu với các loại thang đo định lượng
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trong chương này tác giả nêu rõ công cụ thực hiện mục tiêu của luận văn từ việc:
Thiết lập khung nghiên cứu luận văn hợp lý
Xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp cho hệ thống lý luận là chọn
phương pháp, kỹ thuật kiểm toán để vận dụng chúng vào hoạt động TTKT thuế
Với nghiên cứu thực trạng, tác giả sử dụng các phương pháp định tính và
định lượng để xử lý số liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập được trong quá trình nghiên
cứu, từ đó đưa ra kết luận thực trạng
Nhóm giải pháp hoàn thiện được tác giả tổng hợp, so sánh và suy diễn dựa
trên hệ thống lý luận cơ bản và thực trạng công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế quận
Tân Bình
Từ các phương pháp nghiên cứu đặt ra ở chương 3, tác giả tiến hành nghiên
cứu và kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày tại chương 4
CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ TNDN TẠI CHI CỤC
THUẾ TÂN BÌNH
Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục thuế được thực hiện theo quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế Theo đó CCT.TB là tổ chức trực thuộc Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác của NSNN trên địa bàn quận Tân Bình Đơn vị thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật quản lý thuế, các Luật thuế và quy định pháp luật có liên quan Theo Quyết định số 503/QĐ-TCT ban hành ngày 29/3/2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế thì cơ cấu tổ chức của Chi cục thuế được thiết lập dựa trên quy
mô về tiền thuế thu và số lượng doanh nghiệp trên địa bàn cụ thể theo (Phụ lục số II)
Căn cứ vào quyết định số 503/QĐ-TCT và Quyết định 504/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế về cơ cấu tổ chức CCT.TB được tổ chức như sau: gồm 22 đội trực thuộc gồm: 07 đội kiểm tra, 01 đội quản lý thuế TNCN, 05 đội thuế liên Phường- Chợ, 01 đội trước bạ và thu khác và 09 đội gián tiếp [19]
Tổng số cán bộ, công chức là tính đến hết ngày 31/12/2013 là 330 người, trong
đó trình độ Thạc sĩ là 6 người, đại học 276 người, cao đẳng 11 người, trung cấp 37 người Tại Chi cục thuế có 1 Đảng bộ gồm 83 đảng viên, có tổ chức công đoàn, có Chi đoàn thanh niên
Trang 33Hình 4.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức tại Chi cục thuế quận Tân Bình.[31]
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của từng Đội Lãnh đạo Chi cục thuế có sự
phân công nhiệm vụ cụ thể
Đội Tuyên truyền và Hỗ trợ người nộp thuế:
Tuyên truyền chính sách, pháp luật thuế cho người nộp thuế…
Đội Kê khai - Kế toán thuế:
Thực hiện công tác đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho người nộp thuế trên địa
bàn; quản lý việc thay đổi tình trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và thực hiện các
thủ tục chuyển đổi và đóng mã số thuế đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý
của Chi cục Thuế; Nhập dữ liệu và xử lý hồ sơ khai thuế, hồ sơ hoàn thuế, các tài liệu, chứng từ có liên quan đến nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định…
Đội Tin học:
Quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học; triển khai, cài đặt, hướng dẫn sử dụng các phần mềm ứng dụng phần mềm tin học phục vụ cho công tác QLT
Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế:
Thu thập thông tin về người nộp thuế còn nợ tiền thuế; đề xuất biện pháp đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ tiền thuế, tiền phạt; cung cấp thông tin về tình hình nợ thuế theo yêu cầu của các cơ quan pháp luật và theo chỉ đạo của Lãnh đạo Chi cục thuế …
Đội Kiểm tra thuế:
Khai thác dữ liệu hồ sơ khai thuế hàng tháng của người nộp thuế, thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, so sánh với các dữ liệu thông tin của cơ quan thuế; kiểm tra tính trung thực, chính xác của hồ sơ khai thuế; phát hiện những nghi vấn, bất thường trong kê khai thuế, yêu cầu người nộp thuế giải trình hoặc điều chỉnh kịp thời; Xác định các trường hợp có dấu hiệu trốn lậu thuế, gian lận thuế để chuyển hồ sơ cho bộ phận thanh tra của cơ quan thuế cấp trên giải quyết…
Đội Quản lý thuế thu nhập cá nhân:
Phối hợp với các ban ngành địa phương tổ chức thu thập thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân của người nộp thuế; lập danh sách đối tượng nộp…
Đội Nghiệp vụ - Dự toán:
Phân tích tình hình sản xuất kinh doanh và các biến động ảnh hưởng đến kết quả thu NSNN; đánh giá, dự báo khả năng thu NSNN, tiến độ thực hiện dự toán thu thuế của Chi cục Thuế; phối hợp với các cấp, các ngành có liên quan triển khai các biện pháp quản lý thu thuế trên địa bàn, tham mưu cho Lãnh đạo Chi cục Thuế giao dự toán thu NSNN cho các Đội; Tham mưu, đề xuất với cơ quan thuế cấp trên, Lãnh đạo Chi cục các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế…
Đội Kiểm tra nội bộ:
Tổ chức kiểm tra việc tuân thủ pháp luật về thuế và các văn bản pháp luật khác
Trang 34liêm chính của cán bộ thuế trong việc thực hiện công tác quản lý thuế, quản lý chi tiêu
tài chính, quản lý ấn chỉ thuế trong nội bộ Chi cục Thuế; Tổ chức phúc tra kết quả
kiểm tra của Đội kiểm tra thuế theo chỉ đạo của Chi cục trưởng Chi cục Thuế hoặc khi
có đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động kiểm tra thuế thuộc thẩm
quyền giải quyết của Chi cục trưởng Chi cục Thuế Tổng hợp, báo cáo kết quả công
tác kiểm tra nội bộ, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến nội bộ cơ quan
thuế, công chức thuế trong phạm vi Chi cục Thuế quản lý; đề xuất sửa đổi các quy
định, quy trình nghiệp vụ, các biện pháp nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức
thuế; kiến nghị việc đánh giá, khen thưởng cơ quan thuế, công chức thuế Thực hiện
các nhiệm vụ khác do Chi cục trưởng Chi cục Thuế giao
Đội Trước bạ và thu khác:
Tiếp nhận hồ sơ khai thuế của người nộp thuế; kiểm tra hồ sơ khai thuế; tính
thuế; phát hành thông báo thu các khoản thu về đất, lệ phí trước bạ và các khoản thu
khác… (chi tiết tại Phụ lục số III)
thành phố Hồ Chí Minh và tại Chi cục thuế quận Tân Bình
Theo số liệu của Tổng cục Thuế cho biết, trong năm 2013, cơ quan thuế đã
thanh tra, kiểm tra 54.714 DN, đạt 75,5% kế hoạch năm (54.714 DN/72.480 DN),
bằng 104% so với cùng kỳ năm 2012 Tổng số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra là
11.717,3 tỷ đồng, bằng 104,7% so với cùng kỳ; giảm khấu trừ là 825,7 tỷ đồng, bằng
116,1% so cùng kỳ; giảm lỗ là 10.430,6 tỷ đồng, bằng 83,5% so cùng kỳ Số tiền thuế
nộp vào ngân sách qua thanh tra, kiểm tra là 7.786,5 tỷ đồng, bằng 66,5% tổng số kết
luận tăng thu và bằng 127,2% so với cùng kỳ [28]
Công tác thanh tra, kiểm tra là một trong những biện pháp quản lý quan trọng
của ngành thuế nói chung và tại Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, vừa là
một trong những biện pháp khai thác nguồn thu hiệu quả; đặc biệt từ năm 2012 Cục
thuế đã tập trung chỉ đạo, công tác thanh tra, kiểm tra bằng việc lập chương trình kiểm
tra và kế hoạch thanh tra cụ thể cho từng đơn vị; định hướng thanh tra, kiểm tra qua
các chuyên đề, qua phân loại rủi ro dựa trên nguồn dữ liệu kê khai của đơn vị, kết hợp với thông tin thu thập được trong quá trình quản lý, giám sát hồ sơ kê khai thuế Trong điều kiện số lượng nhân sự có hạn chế, Cục thuế đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và chuyên đề, khai thác thêm các nguồn thu trong nhiều lĩnh vực chuyên sâu, chuyên ngành đồng thời hướng dẫn các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này chấp hành việc kê khai thuế đúng quy định pháp luật [3] Kết quả thanh tra, kiểm tra tại Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010-2012:
Bảng 4.1: Kết quả thanh tra, kiểm tra tại Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh giai
DN
Số thuế truy thu và phạt
Số lượng
DN
Số thuế truy thu và phạt
Số lượng
DN
Số thuế truy thu và phạt
Nguồn từ Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh
4.2.3 Thực trạng về công tác thanh tra, kiểm tra tại Chi cục thuế quận Tân Bình
Dưới đây là những số liệu thực tế tại CCT.TB trong những năm từ năm 2009 đến năm 2013 được tác giả thu thập và thống kê từ các Báo cáo tổng kết công tác thanh tra, kiểm tra thuế hàng năm của Chi cục.[1]
Bảng 4.2: Kết quả thanh tra, kiểm tra về việc thực hiện nghĩa vụ thuế giai đoạn
năm 2009-2013 tại CCT.TB [2]
Trang 35DN
Số thuế truy thu và phạt
Số lượng
DN
Số thuế truy thu và phạt
lượng quản lý” [1], Chi cục thuế Tân Bình đã thực hiện chuyển đổi trong hình thức
kiểm tra: từ việc chủ yếu kiểm tra bằng các báo cáo của các DN tại Chi cục thuế sang
việc xuống kiểm tra thực tế tại các doanh nghiệp (số lượng DN kiểm tra tại trụ sở
thuế/kiểm tra trực tiếp tại DN năm 2009 là gần 12/1 đến năm 2013 thì tỷ lệ xuống thấp
gần bằng 1/4) Bằng các nghiệp vụ đối chiếu sổ sách chứng từ, quan sát tình hình thực
hiện tại các doanh nghiệp, các cán bộ thuế đã phát hiện và xử lý tiền thuế truy thu
được tăng lên theo từng năm từ năm 2009 đến năm 2013 Tuy số lượng doanh nghiệp
kiểm tra còn ít do lượng cán bộ công chức thuế còn hạn chế nhưng số tiền thuế truy
thu được từ việc trốn thuế của DN mỗi năm đều tăng lên, điều đó cho thấy công tác
TTKT thuế ngày càng được chú trọng, tăng cường và đạt hiệu quả cao hơn
Trong điều kiện nước ta chuyển sang thực hiện quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự
nộp thuế trên phạm vi rộng, đối tượng nộp thuế ngày càng gia tăng, ý thức tuân thủ pháp
luật của người nộp thuế còn hạn chế, công tác thanh tra, kiểm tra thuế cần được coi trọng
hơn
Để khắc phục hạn chế nêu trên, đổi mới và nâng cao hiệu quả của việc thanh tra,
kiểm tra thuế trong điều kiện mới, Luật Quản lý thuế ở Việt Nam đã dành chương X từ
điều 75 đến điều 87 để quy định về thanh tra, kiểm tra thuế Trên cơ sở những quy định
này, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các quy định của pháp luật về kiểm tra, thanh tra thuế ở nước ta hiện nay, tôi có thể đưa ra một số nhận xét, đánh giá như sau: Ngay từ khi xây dựng Luật Quản lý thuế, nội dung “Kiểm tra, thanh tra thuế” đã đặt
ra yêu cầu là: “Phải làm thế nào để việc kiểm tra, thanh tra thuế trở thành một công cụ hữu hiệu nhằm hạn chế thất thu cho NSNN, nhưng cũng không bị lợi dụng để gây khó khăn, cản trở hoạt động bình thường của người nộp thuế” Để giải quyết yêu cầu này, pháp luật quản lý thuế phải quy định rõ: “Các trường hợp tiến hành kiểm tra, thanh tra; thủ tục kiểm tra, thanh tra phải chi tiết; căn cứ để ra kết luận kiểm tra, thanh tra phải khách quan; thẩm quyền của đoàn kiểm tra, thanh tra phải đủ mạnh” Về cơ bản, các qui định của Luật Quản lý thuế ban hành năm 2006 đã đáp ứng được các yêu cầu trên Pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế ở nước ta hiện nay đã có nhiều tiến bộ Tuy nhiên, còn một số vấn đề pháp lý xung quanh những quy định của pháp luật cần phải được làm rõ hơn, cụ thể: Về quy trình tiến hành kiểm tra, thanh tra thuế, Luật Quản lý thuế quy định còn thiếu cụ thể, chưa thiết lập được cơ sở pháp lý minh bạch cho các bên trong quá trình thanh, kiểm tra Đây là một vấn đề gây ra những bức xúc cho người nộp thuế, đặc biệt là các DN vì họ không rõ quy trình kiểm tra, thanh tra sẽ diễn ra như thế nào? nên luôn ở trong trạng thái bị động trước các yêu cầu của cơ quan thuế Mặt khác, nhiều cán bộ thuế cũng lợi dụng việc thiếu vắng các chuẩn mực pháp
lý rõ ràng để nhũng nhiễu, gây phiền hà cho DN Ngoài ra, việc kiểm tra, thanh tra chỉ thuần túy là đối chiếu sổ sách, hóa đơn chứng từ với kê khai của đối tượng nộp thuế mà chưa có sự phân tích thấu đáo tới các nghiệp vụ làm phát sinh nghĩa vụ thuế của DN
4.4 Đánh giá thực trạng công tác TTKT thuế tại Chi cục thuế Tân Bình qua
Bảng khảo sát (Chi tiết ở phụ lục V)
Sau khi tiến hành nhập liệu và xử lý số liệu nghiên cứu Kết quả được tổng hợp như sau:
Bảng 4.3: Bảng kết quả khảo sát Bảng câu hỏi
Trang 36Chỉ tiêu khảo sát Tỷ lệ
áp dụng Loại hình doanh nghiệp
Nguyên nhân sai lệch thuế chủ yếu là do (có thể chọn nhiều câu
Thủ thuật thường được sử dụng trong gian lận trên báo cáo tài
Thủ thuật gian lận đối với việc khai khống chi phí (có thể chọn
Ghi nhận khoản chi phí tương ứng khoản nợ phải trả không có thật 97,7%
Hạch toán vào chi phí trong kỳ các khoản lẽ ra phải phân bổ 83,7%
Thủ thuật gian lận đối với việc ghi nhận doanh thu (có thể chọn
Thỏa thuận với bên mua ghi giảm giá bán trên hóa đơn 96,5%
Thủ thuật thường được sử dụng trong gian lận thuế đối với việc
Lập dự phòng các khoản không đủ tiêu chuẩn lập dự phòng 87,2%
Áp dụng phương pháp tính giá thành không phù hợp, dẫn đển việc
II Nhóm về yếu tố nhân sự
Câu hỏi Chi tiết khảo sát Rất
không đồng ý
Không đồng ý Trung tính
đồng ý
7 Nguồn nhân sự cán bộ thuế tại Chi cục thuế quận Tân Bình hiện nay đáp ứng đủ cho nhu cầu công việc?
8 Việc luân phiên chuyển công tác của các bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế qua các bộ phận khác là cần thiết?
48,8% 38,4% 10,5% 1,2% 1,2%
9 Cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra cần
5,8% 9,3% 16,3% 25,6% 43%
Trang 37được bồi dưỡng về
chuyên môn, nghiệp vụ
III Nhóm các văn bản hướng dẫn của cơ quan thuế ảnh hưởng đến hoạt động
thanh tra, kiểm tra
Câu
hỏi
Chi tiết khảo sát Rất
không đồng ý
Không đồng ý Trung tính
đồng ý
10 Văn bản hướng dẫn
không thay đổi kịp thời
với chính sách thuế mới
9,3% 10,5% 17,4% 25,6% 37,2%
11 Quy trình thanh tra,
kiểm tra thuế hiện nay
thanh tra, Quy trình
kiểm tra thuế sửa đổi, bổ
4,7% 8,1% 8,1% 33,7% 45,3%
16 Cần có những văn bản quy định sự phối hợp giữa các ngành về Hệ thống cơ sở dữ liệu của Người nộp thuế
9,3% 10,5% 12,8% 24,4% 43%
IV Nhóm các yếu tố về phương pháp, kỹ thuật nghiệp vụ có ảnh hưởng đến
công tác thanh tra, kiểm tra thuế
17 1 Phân tích bảng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo chiều dọc
10,05% 4,7% 15,1% 34,9% 34,9%
2 Phân tích bảng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo chiều ngang
5,8% 8,1% 11,6% 34,9% 39,5%
3 Phân tích Bảng cân đối kế toán theo chiều dọc
8,1% 9,3% 12,8% 29,1% 40,7%
4 Thu thập và phân tích,
so sánh thông tin theo ngành, theo địa bàn hoạt động
10,5% 10,5% 11,6% 19,8% 47,7%
Trang 382 Tỷ lệ (lợi nhuận trước
thuế + chi phí lãi vay)/
doanh thu thuần
8,1% 12,8% 24,4% 29,1% 25,6%
3 Tỷ lệ lợi nhuận sau
thuế/ doanh thu thuần