1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

66 331 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bùi Đình Hoà Thái Nguyên, năm 2011 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH --

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

-  -

VŨ THỊ HẢI ANH

Tên đề tài:

“vai trò của phụ nữ dân tộc dao trong xoá đói giảm nghèo

ở huyện phú lương tỉnh thái nguyên”

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

MÃ SỐ: 60 - 31 - 10

Người hướng dẫn: TS Bùi Đình Hoà

Thái Nguyên, năm 2011

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

-  -

VŨ THỊ HẢI ANH

Tên đề tài:

“vai trò của phụ nữ dân tộc dao trong xoá đói giảm nghèo

ở huyện phú lương tỉnh thái nguyên”

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2011

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác

giả Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng

được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn

trong quá trình nghiên cứu được ghi rõ nguồn gốc

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã được

sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:

Tập thể các thầy, cô giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên; cán bộ trạm Khuyến Nông, chi cục Thống Kê huyện Phú Lương cùng cán bộ và cộng đồng người Dao tại xã Yên Ninh, Yên Đổ, Động Đạt đã giúp

đỡ tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo TS Bùi Đình Hòa -

người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin trân thành cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành tốt luận văn của mình

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi

Xin chân thành cảm ơn!

Thái nguyên, ngày 30 tháng 6 năm 2011

Tác giả

Vũ Thị Hải Anh

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9 HĐSXKD Hoạt động sản xuất kinh doanh

10 HQKT-XH Hiệu quả kinh tế - xã hội

18 NHNN & PTNT Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn

21 PTKT-XH Phát triển kinh tế xã hội

25 TTGDTX Trung tâm giáo dục thường xuyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iv

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Loài người đã bước sang thế kỷ 21 với biết bao thành tựu, song đói nghèo

vẫn đang là vấn đề được toàn thế giới quan tâm Hiện nay với gần 7 tỷ người

trên thế giới thì có 1,7 tỷ người đang sống trong nghèo khổ, nhiều hơn nhiều so

với ta nghĩ trước đây, với mức thu nhập 1,25 đô la Mỹ/người/ngày Việt Nam

được xếp thứ 137 trên thế giới[46]

Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) đã và đang là chủ trương lớn của Đảng và

Nhà Nước ta, trong đó vùng núi phía Bắc được Nhà Nước quan tâm đặc biệt

Tỷ lệ hộ nghèo đói theo chuẩn quốc tế trong cả nước đã giảm liên tục từ 60%

năm 1990 xuống 58% năm 1993, 37% năm 1998, 32% năm 2000, 29% năm

2002, 22% năm 2005, xuống còn 9,45% năm 2010 và ước tính sẽ tiếp tục giảm

còn khoảng 4%-5% vào năm 2020 Việt Nam đã sớm đạt mục tiêu phát triển

Thiên niên kỷ về XĐGN Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB) đã chỉ ra

rằng, Việt Nam đã đạt được tăng trưởng bền vững đối với hạ tầng cơ sở ở nông

thôn, người dân có cơ hội tiếp cận tốt hơn để đa dạng hóa các nguồn thu nhập

Tuy nhiên, sự tiến bộ tại nhiều vùng dân tộc thiểu số còn chậm, nghèo đói ở

Việt Nam nói chung và ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số nói riêng

vẫn còn là một thách thức lớn[40]

Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tỷ lệ đói nghèo cao và trở

lực ngăn cản phát triển là do bất bình đẳng (BBĐ) giới vẫn tồn tại phổ biến

trong mọi mặt của cuộc sống và trên khắp thế giới Bản chất và mức độ phân

biệt đối xử giữa nam giới và phụ nữ ở các nước và các khu vực khác nhau rất xa

Địa vị kinh tế, xã hội (KT-XH) của phụ nữ thấp hơn so với nam giới đã

hạn chế khả năng của họ trong việc tác động đến các quyết định ở cộng đồng,

cũng như ở quốc gia Dường như sự đóng góp của người phụ nữ lại chưa được

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2 ghi nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với vị trí và vai trò của họ trong nền kinh tế, trong quan hệ xã hội (XH) và trong đời sống gia đình

Việc tạo cơ hội tiến tới “bình đẳng nam nữ” và được hưởng những chính

sách ưu đãi giành riêng cho phụ nữ để họ được hòa nhập với thế giới và văn minh hiện đại là vấn đề rất cần thiết Nó là những bức xúc, trăn trở của không ít các nhà hoạch định chính sách Vì thế, nâng cao bình đẳng giới, giảm khoảng cách trong cơ hội tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, trong các cơ hội kinh tế là một phần trong chiến lược phát triển, nhằm tạo khả năng cho tất cả mọi người,

cả nam giới và phụ nữ có thể thoát khỏi cảnh nghèo đói và nâ ng cao mức sống Phú Lương là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, với đại đa số các xã thuộc diện chương trình 135 của Chính Phủ, tỷ lệ hộ nghèo cao chiếm 14,31% (2010) Đây cũng là khu vực sinh sống của 46.210 đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 43,91% tổng dân số của huyện Phú Lương), trong số này phụ nữ chiếm 49,90% Lực lượng này đã và đang có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế của

hộ gia đình cũng như phát triển kinh tế xã hội (PTKTXH) của huyện trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH)

Dân tộc Dao là một dân tộc ít người, chiếm 2,08% dân số toàn tỉnh và đứng thứ 6 trong các dân tộc của tỉnh Thái Nguyên[31], nguồn thu nhập chính của họ là từ sản xuất (SX) nông lâm nghiệp Cũng như các dân tộc ít người khác phụ nữ dân tộc Dao có cuộc sống rất vất vả, không có quyền quyết định các công việc trong gia đình, mặc dù họ là lao động chính Do vậy, việc tạo cơ hội

tiến tới “bình đẳng nam nữ” cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc Dao trong

XĐGN ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên là vấn đề hết sức cần thiết Xuất phát từ tính cấp thiết trên và sự nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ, những khó khăn đang cản trở sự tiến bộ của họ, những người có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động XĐGN, trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế (PTKT) nông thôn tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

* Mục tiêu chung

Nghiên cứu vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong XĐGN

Tìm ra các giải pháp nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ dân tộc Dao khu vực

nông thôn phát huy thế mạnh, khai thác các nguồn lực để PTKT nhằm mục đích

tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình đồng thời góp phần nâng cao vai trò

của họ trong XĐGN của địa phương

* Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề “giới”; “dân tộc thiểu

số”, “nghèo đói” Vị trí, vai trò khả năng đóng góp của phụ nữ nói chung và phụ

nữ dân tộc Dao nói riêng trong hoạt động XĐGN

- Phân tích, đánh giá thực trạng và vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong

XĐGN ở huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua

- Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò và khả năng đóng góp của

phụ nữ dân tộc Dao trong hoạt động XĐGN

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc

Dao trong XĐGN, góp phần vào sự PTKT gia đình và KT-XH trên địa bàn

huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên trong những năm tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ dân tộc Dao trong hoạt động XĐGN trên

địa bàn huyện Phú Lương-tỉnh Thái Nguyên trong các điều kiện kinh tế khác

nhau

* Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại huyện Phú Lương - tỉnh

Thái Nguyên Trong đó tập trung tại 3 xã đại diện cho đồng bào dân tộc Dao của

huyện Phú Lương: Yên Ninh, Yên Đổ và Động Đạt

- Về thời gian: Số liệu thu thập trong 3 năm từ năm 2008 - 2010 và số liệu điều

tra năm 2010

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài giúp cho việc hệ thống lại một cách khoa học các kiến thức đã học, vận dụng linh hoạt kiến thức đó phục vụ cho thực tiễn cuộc sống Đồng thời giúp cho việc tìm hiểu nâng cao kiến thức chuyên môn

Đây là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là tài liệu giúp cho huyện Phú Lương xây dựng giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong hoạt động XĐGN, đồng thời thực hiện hiệu quả đề án PTKT-

XH 5 năm của huyện Phú Lương trong giai đoạn 2011-2015 và chiến lược

PTKT-XH 10 năm giai đoạn 2011-2020

5 Bố cục của đề tài

Đề tài bao gồm 2 phần và 3 chương

Mở đầu Chương 1: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Thực trạng về vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong XĐGN ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Chương 3: Quan điểm, phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong XĐGN ở huyện Phú Lương Kết luận và kiến nghị

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1.1 Lý luận chung về giới tính và giới

Một số khái niệm

- Giới tính (Sexual): Là khái niệm dùng để chỉ các đặc trưng sinh học của nữ

giới và nam giới[19]

- Giới (Gender): Là khái niệm dùng để chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới

trên cả khía cạnh sinh học và xã hội[2],[19]

Khái niệm về “Giới” được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng Anh,

vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX cho đến thế những thập kỷ 80 nó được

xuất hiện tại Việt Nam

Giới là yếu tố luôn luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong XH

của nữ giới và nam giới không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi

Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, XH cụ thể

Giới là sản phẩm của xã hội, có tính XH, dùng để phân biệt sự khác nhau

trong quan hệ giữa nam và nữ, nó là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và

nâng cao địa vị của người phụ nữ trong XH

Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác nhau về giới và giới tính

* Những đặc điểm cơ bản của giới tính

- Tính bẩm sinh: Về phương diện sinh lý thì nam giới và nữ giới khác nhau ngay

từ trong bào thai Đó là những đặc điểm xác định bởi tự nhiên, không theo và

không phụ thuộc vào mong muốn của con người Nó ổn định về tương quan giữa

hai giới trong quá trình sinh sản Chức năng sinh sản của nữ giới hay nam giới là

không thể thay thế, thay đổi hay chuyển dịch cho nhau

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6

- Tính đồng nhất: Nam giới hay nữ giới đều có cấu tạo về mặt sinh lý giống

nhau, tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình thụ thai như nhau

- Tính không đổi: Về phương diện sinh lý chức năng sinh sản của nữ giới hay

nam giới là không thể thay đổi hay chuyển dịch cho nhau được Sự khác biệt về giới tính là bất biến cả về thời gian cũng như không gian[2],[19]

- Tính do dạy và học mà có: Đứa trẻ phải học để làm con trai hoặc con gái Bắt

đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được dạy dỗ tuỳ theo là con trai hay con gái Đó là sự khác biệt về quần áo, đồ chơi, màu sắc, cách nói năng, thái độ và có thể cả về thức ăn và tình cảm của cha, mẹ, anh chị

- Tính đa dạng: Giới thể hiện những đặc trưng của những quan hệ XH giữa nữ

giới và nam giới cho nên rất đa dạng Địa vị của người nữ giới trong XH Việt Nam khác xa so với địa vị của người nữ giới ở các nước Hồi giáo Địa vị của phụ nữ nông thôn cũng không hoàn toàn giống nữ giới thành thị

- Tính luôn biến đổi: Quan hệ giới luôn luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của

các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, phong tục tập quán…

- Tính có thể thay đổi được: Các quan niệm, hành vi, chuẩn mực XH là hoàn

toàn có thể thay đổi được Quan niệm “bếp núc” là thiên chức của nữ giới đang

được xem xét lại khi rất nhiều đầu bếp giỏi, các thợ giặt tinh xảo là nam giới Trong nhiều gia đình hạt nhân khi cả vợ và chồng đều tham gia tích cực vào quá trình SX tạo thu nhập thì nam giới cũng đang tích cực tham gia vào công việc nội trợ như: nấu ăn, chăm sóc con cái… [2],[19]

* Nguồn gốc và những khác biệt về giới

Nam giới và nữ giới là 2 nửa hoàn chỉnh của loài người, bảo đảm cho việc tái SX con người và XH Sự khác biệt về giới quy định thiên chức của họ trong gia đình và XH

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7 Bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó là trai hay gái Đó là

sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của bố, mẹ Đứa trẻ được dạy dỗ và

điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình

Phụ nữ được xem là phái yếu Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm mẹ,

nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm

của họ cũng có phần khác hơn nam giới

Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Đặc trưng về giới này

cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động SX, vào công việc XH và ít bị ràng

buộc hơn bởi con cái, gia đình Điều này làm tăng thêm khoảng cách khác biệt

giữa phụ nữ và nam giới trong XH Để thay đổi quan hệ giới và các đặc trưng

của giới cần phải vượt qua những quan niệm cũ, tức là cần phải bắt đầu từ việc

thay đổi nhận thức, hành vi của mọi người trong XH về giới và quan hệ giới

Hơn nữa, nam- nữ lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận với

cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn, tính chất và mức độ khác nhau để

tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông

tin XH Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, từ điều kiện và cơ hội đi học tập,

bồi dưỡng trình độ chuyên môn, tiếp cận và làm việc, từ vị trí trong gia đình,

ngoài XH khác nhau, từ tác động của định kiến XH, các hệ tư tưởng, phong tục

tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau

Sự khác biệt về giới và giới tính là nguyên nhân cơ bản gây nên BBĐ

trong XH Trong nhiều năm gần dây, hầu hết các nước trên thế giới đã dần đánh

giá đúng mức vai trò của phụ nữ trong gia đình và trong XH, kết quả là thực

hiện các mục tiêu "bình đẳng nam nữ" để giải phóng sức lao động và xây dựng

củng cố thêm nền văn minh nhân loại Tuy nhiên mức độ bình đẳng đó tùy thuộc

vào từng quốc gia và giảm dần theo chiều tăng của sự phát triển đối với mỗi

nước trên thế giới[2],[19]

Các vai trò giới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8

- Vai trò sản xuất: Là các hoạt động tạo ra của cải vật chất và tinh thần để tạo

ra thu nhập hoặc để tự nuôi sống Vai trò SX bao gồm cả những công việc mà nam giới và nữ giới làm để lấy công hoặc tiền, hoặc bằng hiện vật Nó bao gồm

cả SX hàng hoá có giá trị trao đổi và SX vừa có ý nghĩa tiêu dùng tại gia vừa có

ý nghĩa sử dụng, nhưng cũng có ý nghĩa trao đổi tiềm năng Khi tư tưởng phụ hệ

cố gắng thúc đẩy hình mẫu phổ biến về đàn ông là người giữ vai trò chủ đạo trong SX thì thực tế lại không sản sinh ra hình mẫu đó[19]

- Vai trò tái sản xuất: Vai trò tái SX bao gồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi con và

các công việc nội trợ trong gia đình để duy trì và tái SX sức lao động Vai trò này không chỉ bao gồm sự tái SX sinh học mà còn cả chăm lo và duy trì lực

lượng lao động (LLLĐ) hiện tại và tương lai Khái niệm “tái SX sinh học” chỉ ngụ ý cứng nhắc vào việc sinh con, thì thuật ngữ “tái SX sức lao động” lại mở

rộng hơn Thuật ngữ này bao gồm việc chăm sóc, XH hoá và nuôi dưỡng cá nhân trong suốt cuộc đời, để đảm bảo sự kế tục của XH đến thế hệ sau[19],[25]

- Vai trò cộng đồng:

+ Vai trò quản lý cộng đồng: Là các hoạt động ở cấp độ cộng đồng như sự

mở rộng vai trò tái SX Đó là các công việc nhằm đảm bảo và duy trì các nguồn lực

để sử dụng chung như nguồn nước, vệ sinh đường làng ngõ xóm, tham gia lễ hội của làng bản, tham dự các đám hiếu hỉ…Đây là những công việc tự nguyện, không được trả tiền và thường làm vào thời gian rảnh rỗi

+ Vai trò chính trị cộng đồng: Gồm những hoạt động ở cấp cộng đồng

trong thể chế chính trị quốc gia Những hoạt động này thường do nam giới thực hiện, được trả công trực tiếp bằng tiền, hoặc gián tiếp làm tăng vị thế và quyền lực của họ[19],[25]

Nhu cầu giới và lợi ích giới

- Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát từ

những điều kiện cụ thể Nó xuất phát từ các công việc và hoạt động thực tại của

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9 phụ nữ và nam giới Nếu những nhu cầu này được đáp ứng sẽ giúp cho họ làm

tốt vai trò sẵn có của mình

- Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu giới chiến lược): Là những nhu cầu của phụ

nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị XH của họ Những lợi ích

này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo chiều

hướng bình đẳng hơn[1],[19]

Nghiên cứu nghèo đói từ góc độ giới phải trả lời các câu hỏi sau:

+ Quan hệ giới có tác động đến nghèo đói như thế nào?

+ Có hay không sự khác biệt giữa nam và nữ về mức độ nghèo đói?

+ Quan hệ giới có chi phối các nguyên nhân và yếu tố dẫn đến sự nghèo đói của

phụ nữ và nam giới hay không?

+ Quan hệ giới khi được điều chỉnh sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng

nghèo đói và công tác giảm nghèo?

Bình đẳng giới

Trong báo cáo của WB, bình đẳng giới được xem xét theo nghĩa bình

đẳng về phát luật, về cơ hội Bao gồm bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân

lực, vốn và các nguồn lực SX khác; bình đẳng trong thù lao công việc và trong

tiếng nói[5],[19],[25]

Phân tích giới

Là phương pháp nghiên cứu và lập kế hoạch để đánh giá và kết hợp các

nội dung về giới và hoạt động của một dự án, chương trình hay chính sách, hoặc

để khảo sát thực trạng tương quan giới ở một tổ chức hoặc cộng đồng Nói cách

khác, phân tích giới nhằm tìm hiểu vị thế của phụ nữ, nam giới và xác định ảnh

hưởng (tích cực, tiêu cực) của các chính sách, chương trình, dự án đối với phụ

nữ và nam giới Từ kết quả phân tích có thể đưa ra những biện pháp điều chỉnh

và bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội (HQKTXH) của dự án thông

qua việc đảm bảo lợi ích của phụ nữ và nam giới[5],[19],[25]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10

Công cụ phân tích giới

Các công cụ phân tích giới cho phép xem xét, đánh giá, xác định nguyên nhân của các vấn đề và khoảng cách giới trên thực tế Từ đó cho phép nhà nghiên cứu và người lập kế hoạch đề xuất biện pháp nhằm thu hẹp khoảng cách giới và những bất cập trên thực tế, nhằm đáp ứng tốt hơn vai trò của phụ nữ và nam giới thông qua các hoạt động hay tác động cụ thể[5],[19],[25]

- Phân công lao động (PCLĐ) theo giới: Nó trả lời cho câu hỏi ai đang làm gì?

Phân tích PCLĐ theo giới cho phép chỉ ra những khác biệt và bất hợp lý từ góc

độ giới trong công việc, lợi ích và địa vị XH của phụ nữ và nam giới

PCLĐ theo giới có thể thực hiện ở nhiều cấp như gia đình, cộng đồng, tại một tổ chức hoặc ở cấp vĩ mô Trong các hoạt động giảm nghèo nó được sử dụng chủ yếu để xem xét các hoạt động ở cấp độ gia đình và cộng đồng

- Tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực và lợi ích: Trả lời cho câu hỏi ai có gì

và ai được hưởng lợi? Tiếp cận là sử dụng các nguồn lực và lợi ích, kiểm soát là

khả năng quyết định hoặc tham gia quyết định cách thức sử dụng nguồn lực và lợi ích đó

Tiếp cận và kiểm soát cho phép chỉ ra những vấn đề mà phụ nữ và nam giới gặp phải trong việc sử dụng các nguồn lực, trong việc hưởng thụ các lợi ích do

dự án mang lại, cũng như xác định những tác động khác nhau của dự án Cho phép phát hiện những chênh lệch bất hợp lý về phân bố nguồn lực từ góc độ giới Là cơ sở đưa ra những gợi ý thay đổi và cải tiến các hoạt động của dự án nhằm khắc phục những bất hợp lý đối với mỗi giới

- Mô hình ra quyết định: Trả lời cho câu hỏi ai có tiếng nói và ai ra quyết

định? Các quyết định ở đây liên quan đến việc sử dụng và phân bổ nguồn lực

của gia đình, của cộng đồng và XH Công cụ này giúp ta hiểu thêm quá trình ra quyết định diễn ra như thế nào? Ai tham gia vào quá trình này, phụ nữ có được

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11

tư vấn như nam giới không? Ý kiến của họ có được lắng nghe không? Ai là

người ra các quyết định và các quyết định đó có tác động đến cuộc sống của phụ

nữ và nam giới như thế nào?

1.1.1.2 Lý luận chung về dân tộc và dân tộc thiểu số

* Khái niệm về dân tộc

- Nước Việt Nam ta, dùng khái niệm dân tộc thiểu số và đa số Dân tộc đa số là

dân tộc có số người đông nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Dân tộc

thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số

- Dân tộc Việt Nam là tất cả các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam

có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt nguồn gốc[29],[49]

* Thành phần

Các dân tộc ở Việt Nam đã xuất hiện và hình thành trong hàng nghìn năm

lịch sử dựng nước và giữ nước Dân số Việt Nam gồm 54 dân tộc Dân tộc đông

nhất là dân tộc Kinh (Việt), chiếm 86,2% dân số Các dân tộc thiểu số đông dân

nhất: Tày, Thái, Mường, Khmer, Hoa, Nùng, Hmông, Dao, Giarai, Êđê, Chăm,

Sán Dìu Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền

Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long Cuối cùng là các dân tộc Brâu,

Ơ Đu và Rơ Măm chỉ có trên 300 người[29],[49]

* Về địa bàn cư trú

- Miền núi là địa bàn cư trú chủ yếu của các dân tộc thiểu số, có một bộ phận

sống ở đồng bằng và hải đảo

- Cư trú xen kẽ với nhau, không hình thành một vùng lãnh thổ riêng

Đặc điểm cư trú đó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và

bảo vệ tổ quốc[29],[49]

1.1.1.3 Lý luận chung về nghèo

Một số khái niệm về nghèo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12

Có nhiều quan niệm nghèo của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như theo thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng và theo những đặc trưng khác của nghèo đói Song quan niệm thống nhất cho rằng:

"Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và các nhu cầu cần thiết khác bằng hoặc thấp hơn mức tối thiểu

để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định”[3],[25],[48]

Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ Ban KT-XH Khu Vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc-Thái Lan, tháng 9 năm 1993,

các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: "Nghèo đói là tình trạng của

bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con nguời mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ PTKT-XH, phong tục tập quán của từng vùng và phong tục ấy được XH thừa nhận"[4],[34]

Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith chia sẻ quan niệm này: "Con người

bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ ngay cả khi thích đáng để họ có thể tồn tại rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng Khi đó họ không thể

có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức"[4],[34],[48]

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển XH tổ chức tại Copenhagen

Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn: “Nghèo đói là tất cả

những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”[4],[34],[48]

Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của tổ chức lao động quốc tế (ILO) Ông

Abaplaen, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1997 cho rằng: “Nghèo

đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng”[34]

Chuẩn mực xác định nghèo đói của thế giới và Việt nam

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13

+ Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới

Phương pháp chung nhất mà các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế

xác định nghèo đói là dựa vào nhu cầu chi tiêu để đảm bảo nhu cầu cơ bản của

con người Trước hết người ta tính nhu cầu chi tiêu cho lương thực thực phẩm

(LTTP) (thông thường tính rõ ràng khoảng 40 mặt hàng), tuỳ theo cách đánh giá

của từng tổ chức, quốc gia để bình quân hàng ngày của một người có được 2.100

Kcal, thông thường chi cho LTTP chiếm 60 - 65% tổng chi tiêu, tiếp đến người ta

tính mức chi tiêu cho các nhu cầu phi LTTP chiếm khoảng 35 - 40% tổng chi tiêu

kinh tế càng phát triển thì tỷ trọng chi cho nhu cầu LTTP ngày một giảm Vì thế

việc chi cho nhu cầu phi LTTP ngày một tăng Tổng chi cho LTTP và phi LTTP

được gọi là đường nghèo hay là chuẩn nghèo Để tiện cho việc điều tra khảo sát,

tính toán và đánh giá người ta chuyển từ nhu cầu chi tiêu sang mức thu nhập

Những người có thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo được xếp vào nhóm người

nghèo, còn những ai có thu nhập thấp hơn mức chi tiêu cho LTTP thì được xếp

vào nghèo về LTTP Một điều đáng lưu ý là khi xác định người nghèo phải gắn

với thu nhập bình quân của HGĐ, tuy vậy tỷ lệ hộ nghèo không đồng nghĩa với

tỷ lệ người nghèo Thông thường trong một quốc gia, tỷ lệ người nghèo bao giờ

cũng cao hơn tỷ lệ hộ nghèo, vì quy mô hộ của nhóm hộ nghèo thường lớn hơn

hộ không nghèo[3],[4]

Chuẩn nghèo là một khái niệm động, biến động theo không gian và thời

gian Về không gian, nó biến đổi theo trình độ PTKT-XH của từng vùng, từng

quốc gia Ví dụ như ở Việt Nam, chuẩn nghèo thay đổi theo vùng sinh thái khác

nhau, đó là vùng đô thị, vùng nông thôn đồng bằng và nông thôn miền núi[3],

[4] Về thời gian, chuẩn nghèo cũng có sự biến động theo trình độ PTKT-XH và

nhu cầu của con người theo từng giai đoạn lịch sử, vì KT-XH phát triển thì đời

sống con người cũng được cải thiện tốt hơn, tất nhiên không phải tất cả các

nhóm dân cư đều có tốc độ cải thiện giống nhau, thông thường thì nhóm không

nghèo có tốc độ tăng mức thu nhập, mức sống cao hơn nhóm nghèo[3],[4]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14 Tuy nhiên trên thế giới người ta cũng dựa vào thu nhập hay sức mua tương đương quy đổi về giá chung thành USD và phân thành 6 mức như sau:

- Trên 25.000 USD/người/năm: nước cực giàu

- Từ 20.000 USD đến 25.000 USD/người/năm: nước giàu

- Từ 10.000 đến 20.000 USD/người/năm: nước khá, giàu

- Từ 2.5000 đến 10.000 USD/người/năm: nước trung bình

- Từ 500 đến 2.500 USD/người/năm: nước nghèo

- Dưới 500 USD/người/năm: nước cực nghèo[3],[4]

Theo quan niệm trên, WB đưa ra kiến nghị thang nghèo đói như sau[3],[4]: + Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0,5 USD/ngày

+ Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày + Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày + Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày

+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày

Vì vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình, thông thường nó thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng đưa ra

+ Chuẩn mực xác định nghèo đói ở Việt Nam

Ở nước ta vấn đề nghèo đói được nhận thức đúng đắn, kịp thời và vấn đề

XĐGN được giải quyết thông qua các phong trào của nhân dân và chương trình quốc gia về XĐGN, thành lập Ban chỉ đạo XĐGN từ trung ương đến địa phương

và đã xây dựng các hệ thống chỉ tiêu xác định nghèo đói cho từng giai đoạn cụ thể theo thu nhập bình quân đầu người Gồm 5 giai đoạn, trong đó giai đoạn

2006-2010 được sử dụng trong quá trình làm đề tài

Bảng 1.1: Chuẩn mực xác định nghèo giai đoạn 2006-2010 và

2011-2015 của Bộ Lao động TB&XH

ĐVT: đồng

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

(Nguồn: Chuẩn mực xác định nghèo đói của Bộ Lao động-TB&XH)

Kể từ khi Việt Nam thực thi chương trình XĐGN giai đoạn 2005-2010

đến nay, tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước giảm xuống khá nhanh , từ 22% vào năm

2005 giảm xuống còn 9,45% năm 2010, đã vượt mục tiêu 10% đề ra của Quốc

hội Theo chuẩn áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì nước ta có hơn 3 triệu hộ

nghèo, 1,6 triệu hộ cận nghèo Sau 5 năm thực hiện, Chương trình 135-II được

triển khai trên địa bàn của hơn 1.950 xã; gần 3.280 thôn, bản đặc biệt khó khăn

của 369/690 huyện thuộc 50/63 tỉnh Kết quả là tỷ lệ hộ nghèo các xã, thôn bản

đặc biệt khó khăn giảm từ 47% năm 2006 xuống còn 28,8% năm 2010[13]

Bảng 1.2: Chuẩn mực xác định nghèo giai đoạn 2006-2010 có điều chỉnh

theo trượt giá của Bộ Lao động TB&XH

1.1.2 Cơ sở thực tiễn

1.1.2.1 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội

a Vai trò của phụ nữ trong quản lý xã hội và cộng đồng

Bảng 1.3: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội qua các kỳ bầu cử

(Nguồn: Văn phòng Quốc Hội,2010)

Phụ nữ tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý và các công việc cộng đồng, điều này được chứng minh trong thực tế và trong nhiều nghiên cứu Ở

cơ quan quyền lực cao nhất tỷ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội khoá Khoá XI (2002-2007) là 27,31% - đã đưa Việt Nam lên vị trí thứ nhất Châu Á và thứ hai khu vực Châu Á Thái Bình Dương về tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội; Khoá XII

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17 (2007-2012) là 25,76%; tiến tới trên 30% trong khóa XIII[39] Ở các cấp địa

phương phụ nữ hiện đại chiếm 16% số đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã

Hiện nay hầu hết các nữ đại biểu có trình độ từ đại học trở lên; nhiều đại

biểu là những nhà khoa học, những người tiêu biểu trong giới văn hóa - nghệ

thuật, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao; những nhà quản lý và doanh nghiệp giỏi

Có những đại biểu Quốc hội đã và đang giữ cương vị chủ chốt trong bộ máy của

Đảng, của chính quyền các cấp, trong các đoàn thể quần chúng, các tổ chức

chính trị - xã hội…họ luôn giữ được tín nhiệm trong nhân dân[39]

b Vai trò của phụ nữ trong gia đình

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, phụ nữ là người làm chính trong các

công việc tái SX của các hộ gia đình (HGĐ) ở nông thôn như: Công việc nội trợ,

chăm sóc con cái, dạy dỗ và hướng dẫn con cái học tập, chăm sóc người già,

người ốm trong gia đình Phụ nữ thường phải thức khuya, dậy sớm chuẩn bị

công việc nội trợ từ 6-8 giờ trong ngày Nghiên cứu tại xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm

Bình, tỉnh Hải Dương và xã Mỹ Luông huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang của

trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ cho thấy kết quả như sau:

Bảng 1.4 Người thường làm các công việc nhà

Chăm sóc người già, ốm 1,7 24,3 56,7 17,3 1,7 21,7 38,8 38,0

(Nguồn: Trung tâm NCKH về gia đình và phụ nữ,1996)

Nam giới hầu như không làm nội trợ tuy nhiên sự PCLĐ giữa vợ và

chồng còn phụ thuộc vào công việc và thành phần nghề nghiệp của gia đình

Trong đó gia đình trí thức có tỷ lệ nữ thực hiện công việc nội trợ thấp nhất là

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18 42%, gia đình công nhân 60%, gia đình nông dân 87% Còn tỷ lệ nam tương ứng

là 5%, 2,7% và 2,9% Có thể giải thích rằng gia đình có trình độ học vấn thì cơ hội bình đẳng trong PCLĐ giữa vợ và chồng lớn hơn Tuy nhiên, quan niệm phong kiến coi công việc nội trợ là của người phụ nữ còn khá nặng nề trong nhóm gia đình, ngay cả trong những trường hợp cả vợ và chồng cùng tham gia vào công việc này thì gánh nặng công việc vẫn đặt lên vai người phụ nữ Phỏng vấn các cặp vợ chồng thấy ngay cả trong gia đình bình đẳng thì người vợ vẫn đóng vai trò thực hiện, còn người chồng thì giúp hoặc chỉ đạo[16],[27] Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nhâm Tuyết (năm 2008), phụ nữ nông thôn phải làm việc 8-16h/ngày gồm cả công việc nội trợ gia đình và chăm sóc con cái, họ không có thời gian đọc báo, nghe đài, xem văn nghệ trong khi nam giới chỉ làm 7h/ngày Phụ nữ thành thị có điều kiện hơn do có những dịch

vụ và trang thiết bị gia đình tốt hơn nhưng thời gian dành cho công việc gia đình vẫn gấp 1,5 lần so với nam giới[16],[27]

c Vai trò của phụ nữ trong sản xuất

Có nhiều nghiên cứu về vai trò phụ nữ trong SX ở nhiều cấp độ và góc độ khác nhau, những nghiên cứu đó đều nhận định: Là LLLĐ quá bán ở nông thôn, phụ nữ đóng vai trò đáng kể trong đời sống hoạt động kinh tế hộ cũng như hoạt động áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào SX Họ là người tham gia trực tiếp vào các hoạt động nông nghiệp, từ khâu cày, bừa, trồng, cấy, chăm sóc đến thu hoạch Ngoài ra họ còn tham gia vào việc lựa chọn phương án làm ăn của HGĐ: Chọn cây gì, giống nào, phân bón gì, nuôi con nào, tiêu thụ ở đâu…

Phụ nữ là người tham gia chính vào các khâu SX nông nghiệp Khâu làm đất nữ làm 56%, nam làm 9,8%; Khâu chọn giống, nữ làm 68,6%, nam làm 8,6%; khâu chăm sóc, cấy trồng, nữ làm 69,2%, nam làm 5,1%; phun thuốc sâu

nữ làm 63,6%, nam làm 13,6% Trong thu hoạch bán sản phẩm chủ yếu là do nữ đảm nhiệm (48,3% ở Cẩm An, 71,4% ở Hoà Phú và 49,1% ở Khánh Hoà lĩnh vực này do người vợ làm)[5],[6]

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19 Những nghiên cứu khác còn cho thấy, ở mỗi vùng, mỗi miền và điều kiện

cụ thể từng nơi mà vai trò của phụ nữ trong SX cũng thể hiện một cách khác

nhau trong các khâu công việc

Ở nông thôn miền núi Bắc Thái cũ, LLLĐ nữ chiếm từ 45% đến 74,6%

tổng số lao động Trong số lao động nữ có khoảng 21% là chủ hộ và 51,2%

được quyền tham gia quản lý gia đình Điều đó chứng tỏ một số chị em phụ nữ

dân tộc ít người vùng này có khả năng quản lý kinh tế hộ tự cung tự túc Phụ nữ

không chỉ chiếm tỷ trọng cao trong LLLĐ mà còn được phân công thực hiện

nhiều công việc trong trong hoạt động kinh tế HGĐ (Họ làm 70% công việc gia

đình, 70% công việc đồng áng) Do đó năng suất và chất lượng lao động của họ

có tính chất quyết định đối với hiệu quả SX, là nguồn lực cho PTKT HGĐ[35]

d Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển

Tiếp cận đất đai

Tuy luật đất đai năm 1993 đã bảo vệ quyền thừa kế đất đai của phụ nữ nhưng

các nghiên cứu gần đây cho thấy phụ nữ chỉ có quyền sử dụng đất trong mối liên

hệ với đàn ông Khi trong gia đình có một người con trai trưởng thành thì

thường lấy tên người con trai đó ghi vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

(GCNQSDĐ) Khi không có tên trong GCNQSDĐ thì người phụ nữ rất khó có

thể thế chấp để vay vốn vì ở nông thôn tài sản thế chấp để vay vốn phổ biến nhất

là GCNQSDĐ

Việc sửa đổi mẫu GCNQSDĐ (luật đất đai năm 2003) trong đó ghi tên cả

vợ và chồng hiện nay là một việc làm tích cực tạo thuận lợi cho phụ nữ trong việc

tiếp cận vốn tín dụng Hiện nay tất cả các tỉnh nước ta đã và đang tiến hành đổi

mẫu cũ lấy mẫu mới có tên cả vợ và chồng

Tiếp cận vốn

Phụ nữ hiện nay có thuận lợi hơn trước đây trong việc vay vốn tín dụng vì

có nhiều nguồn từ các tổ chức chính thống, phi chính thống Là người tham gia

trực tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh (HĐSXKD) và cũng tham gia

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

20 vào các quyết định PTKT của gia đình, do vậy phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng vốn và tiết kiệm Thông qua sự uỷ thác của ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH), hội phụ nữ (HPN) các địa phương đã thực hiện việc cho vay vốn tới các hội viên kết hợp với việc kiểm soát sử dụng vốn và trả lãi

Tiếp cận với khoa học kỹ thuật

Sự tiếp cận khoa học kỹ thuật (KHKT) thông qua hệ thống khuyến nông (KN) Nhà nước và KN tự nguyện hoặc các chương trình, dự án đối với phụ nữ nông thôn là cần thiết nhưng gặp một số khó khăn Ngoài công việc SXKD, phụ

nữ còn phải làm công việc gia đình và tham gia vào các hoạt động khác Quỹ thời gian không cho phép họ tham gia các khoá tập huấn dài ngày hoặc ở xa vì thiếu phương tiện đi lại

Thường thì những kiến thức họ nhận được từ các khoá tập huấn có thể áp dụng ngay vì họ trực tiếp tham gia vào các HĐSXKD hay nuôi dạy con cái trong khi nam giới đến các khoá tập huấn thường không chú ý nghe hay tham gia bởi

họ nghĩ là họ biết hết Sau đó họ lại không truyền đạt những gì họ học được cho

vợ, con Những người phụ nữ có trình độ học vấn cao, có khả năng tiếp thu và

áp dụng tiến bộ kỹ thuật tốt hơn Tuy nhiên trình độ của phụ nữ nông thôn thấp khiến việc tiếp cận KHKT của họ bị hạn chế

Tiếp cận thông tin

Vì quá bận bịu với công việc nên việc tiếp cận với các nguồn thông tin của phụ nữ nông thôn còn khó khăn, chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hội họp, ở chợ, những dịp gặp nhau hoặc vào thời gian cùng làm chung Điều kiện kinh tế của gia đình và trình độ học vấn của phụ nữ quyết định đến cơ hội tiếp cận thông tin, xử lý, chọn lọc thông tin của họ

e Vai trò của phụ nữ trong việc ra quyết định

Phụ nữ thường cùng chồng bàn bạc để ra quyết định về PTKT, mua sắm, chi tiêu trong gia đình, quyết định từ việc sinh con và học hành, nghề nghiệp của con cái Tuy nhiên thường người chồng đóng vai trò quyết định cao hơn người

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21

vợ, đặc biệt là quyết định trong các vấn đề XH, vì ý kiến của phụ nữ ít quan

trọng hơn nam giới[26],[27]

1.1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá vai trò của phụ nữ trong XĐGN

a Dựa vào mức độ tham gia của phụ nữ trong các HĐSXKD: mức độ tham gia

của phụ nữ trong HĐSXKD càng nhiều thì vai trò của họ trong PTKT HGĐ và

XĐGN càng cao

b Dựa vào thu nhập do phụ nữ tạo ra so với nam giới: nếu chỉ dựa vào mức độ

tham gia của phụ nữ vào các HĐSXKD thì cũng chưa đủ để đánh giá vai trò của

họ trong PTKT HGĐ và XĐGN bởi tính chất công việc khác nhau tạo ra mức

thu nhập khác nhau Do đó cần dựa vào chỉ tiêu thu nhập bình quân của phụ nữ

so với nam giới Phần trăm thu nhập do phụ nữ tạo ra càng lớn thì vai trò của họ

càng được khẳng định trong gia đình họ Họ không chỉ chăm sóc con cái, chăm

lo nhà cửa mà còn mang lại thu nhập cho gia đình Ngày nay người phụ nữ có

quyền tham gia vào các quyết định của gia đình, các công việc kinh doanh buôn

bán Mặt khác phần trăm phụ nữ tham gia các hoạt động SX và gia đình thể hiện

vai trò của họ trong việc nâng cao mức sống gia đình và của toàn XH

1.1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong XĐGN

Quan niệm về giới, những phong tục, tập quán trong xã hội: Lao động nữ

trước hết phải lo việc gia đình, con cái Dù làm bất kỳ công việc gì, việc nội trợ

vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở nước ta từ nhiều năm

nay Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh nữ đã kìm hãm tài năng

sáng tạo của chị em, hạn chế sự cống hiến của họ cho XH và gia đình Họ không

thể đi xa, vắng nhà lâu ngày hay phó mặc việc nhà cho chồng và gia đình Gánh

nặng mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng

nên đôi vai người phụ nữ Đây là trở ngại lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian,

trí tuệ vào SXKD và các hoạt động XH Chính sự tồn tại của những quan niệm,

hủ tục trên đã khiến nhiều chị em trở nên không mạnh bạo làm ăn, không năng

động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp XH Như

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

22 vậy quan niệm về giới, sự BBĐ nam nữ và phong tục tập quán đã là một nguyên nhân cơ bản cản trở sự tiến bộ và vai trò của lao động nữ trong PTKT[11], [12]

Trình độ học vấn, chuyên môn, KHKT phụ nữ còn nhiều hạn chế: Ở nông

thôn, đặc biệt là miền núi, phương tiện thông tin nghe nhìn và sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin khoa học liên quan đến kiến thức, phát triển SX và chăn nuôi, trồng trọt gặp nhiều khó khăn Ngoài thời gian làm công việc này người phụ nữ dường như

có rất ít thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức XH mà họ phải dành phần lớn thời gian còn lại cho công việc của gia đình Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết Ở Việt Nam, theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tạo là rất cao, chiếm tới gần 90% tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nước Chỉ có 0,63% nữ công nhân kỹ thuật có bằng, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46% Tỷ lệ lao động nữ có trình độ đại học và trên đại học chỉ là 0,016%, tỷ lệ này của nam là 0,077% (gấp 5 lần so với nữ)[11],[12]

Yếu tố về tiếp cận vốn đầu tư:

Vốn là yếu tố vô cùng quan trọng trong XĐGN và PTKT HGĐ, tuy nhiên đây là yếu tố gặp khó khăn nhất Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thống do trình độ học vấn thấp, các hàng rào về XH và văn hoá, bản chất công việc kinh doanh và những yêu cầu thế chấp Hơn nữa thị trường ở nước ta nhất là thị trường vốn ở các vùng xa xôi hẻo lánh hoạt động rất kém, cơ chế vay vốn gặp nhiều khó khăn Một điều là vay nợ ở khu vực nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua khu vực phi chính thống với lãi suất rất cao Do

đó mà phụ nữ nông thôn đặc biệt là phụ nữ nghèo không có điều kiện mở rộng

SX PTKT[11],[12]

Yếu tố về sức khoẻ: Sự hạn chế về sức khoẻ do đặc thù của giới nữ và thời

gian làm việc cũng ảnh hưởng lớn đến HĐSXKD của họ Đặc biệt với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng, vừa phải thực hiện thiên chức của mình là mang thai, sinh đẻ, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khoẻ

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

23 của họ bị giảm sút Điều này không những ảnh hưởng đến khả năng lao động mà

còn làm cho vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như trong việc PTKT gia

đình trở nên thấp kém hơn[21],[23]

Khả năng tiếp nhận thông tin của phụ nữ: Thiếu thông tin không chỉ làm

phụ nữ gặp nhiều khó khăn trong HĐSXKD mà còn làm cho phụ nữ bị hạn chế cả

về tầm nhận thức và hiểu biết XH Phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng công

việc lớn trong mỗi ngày và chiếm gần hết thời gian của họ Do vậy cơ hội để phụ

nữ giao tiếp rộng rãi, tham gia hội họp để nắm bắt thông tin cũng rất hiếm Theo

báo cáo của Chính phủ thì 80% lượng báo chí phát hành được tập trung ở thành

thị, có nghĩa là 80% dân số nông thôn ở nước ta chỉ tiếp cận được với 20% lượng

báo chí phát hành Đây cũng chỉ là con số lý thuyết, trên thực tế có nhiều vùng

nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề được tiếp xúc với báo chí và

các hình thức truyền tải thông tin khác[21],[23]

1.1.2.4 Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trên thế giới và Việt Nam

Khái quát thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn ở một số nước trên thế giới

- Lao động nữ nông thôn chiếm một tỷ trọng lớn trong LLLĐ: Lao động nữ nông

thôn luôn chiếm một tỷ lệ khá cao trong LLLĐ và điều này đúng trong hầu hết

các nhóm tuổi Những nghiên cứu từ các quốc gia trong khu vực Châu Á cho

thấy: Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của phụ nữ theo các nhóm tuổi khác nhau

thường rất cao Một vài số liệu thống kê sau sẽ chứng minh cho nhận thức đó:

Bangladesh: Có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia LLLĐ so với 82,5% nam

giới Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị (28,9%)

Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia LLLĐ nhiều nhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là các

nhóm tuổi 25-29, 50-54 Đáng chú ý rằng, gần 61% phụ nữ ở nông thôn ở độ

tuổi 60-64 vẫn tham gia LLLĐ, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng độ tuổi

Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia LLLĐ[45]

Trung Quốc: Nhóm phụ nữ nông thôn tham gia LLLĐ cao nhất ở độ tuổi

20-29, tiếp đó là nhóm tuổi 30-39 và giảm dần theo các nhóm tuổi cao hơn Điều

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

24 tương đồng với Bangladesh là ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60-64 vẫn còn 32,53% tham gia LLLĐ, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi [44]

Ấn Độ: Tỷ lệ phụ nữ nông thôn tham gia SX ngoài quốc doanh cao hơn tỷ lệ nữ

tham gia trong nền SX quốc doanh bởi vì trong thời kỳ này số HGĐ không có đất

SX và nghèo đói ở nông thôn đang tăng lên Nguồn nhân lực tham gia SX trong các thành phần kinh tế ở nông thôn có sự phân chia không đồng đều, phụ nữ nông thôn chiếm đa phần trong các lao động có tính chất không căn bản, chủ yếu là do PCLĐ trong gia đình, đặc biệt là do không làm chủ được tình trạng nghèo đói đã hạn chế khả năng lao động của phụ nữ vì tính cạnh tranh trong công việc, phụ nữ sẽ không thể có năng suất lao động cao như nam giới nếu họ vừa phải đảm nhận công việc nuôi con và nội trợ Do địa vị của mình trên thị trường thấp kém hơn so với nam giới đã ảnh hưởng đến chỉ số về giáo dục, y tế và dinh dưỡng của phụ nữ

- Trình độ chuyên môn kỹ thuật của phụ nữ thấp: Nhìn chung trình độ chuyên

môn kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp

Ở các nước đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không được học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai Vì

ít có điều kiện học hành nên những người phụ nữ này không được tiếp cận một cách có bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên tiến, những kiến thức họ có được chủ yếu là do học từ họ hàng

và bạn bè hay học kinh nghiệm từ chồng mình Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm được truyền đạt kiểu này thường ít khi làm thay đổi được mô hình, cách thức SX của họ

- Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: BBĐ giới tồn tại ở hầu hết các nước

đang phát triển Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình độ học vấn thấp, tức là rất ít phụ nữ có kỹ năng hoặc có điều kiện để cạnh tranh một cách bình đẳng trong công việc được trả lương cao Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những định kiến XH coi thường phụ nữ đã được hình thành ở hầu hết các nước đang phát triển Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

25

kỹ năng tốt thì công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng đáng

Gần như ở khắp nơi mức thu nhập của phụ nữ nông thôn chưa bằng một nửa của

nam giới nông thôn Có khi cùng làm một việc như nhau, nam giới được trả công

nhiều hơn phụ nữ

+ Ở cấp độ toàn cầu

- Phụ nữ thực hiện 67% số giờ làm việc

- Thu nhập của phụ nữ chiếm 10% thu nhập thế giới

- Phụ nữ mù chữ chiếm 2/3 tổng số người mù chữ trên thế giới

- Phụ nữ sở hữu chưa đến 1% tổng tài sản thế giới

- Phụ nữ được trả lương thấp hơn nam giới[19]

Vấn đề về quyền: Sự không tương xứng về quyền giữa nam và nữ diễn ra

phổ biến, trong những quy định về pháp lý, luật và trong thực tiễn tại các cộng

đồng và các HGĐ Số liệu các nước đã chứng minh rằng: Không ở đâu trong các

vùng đang phát triển mà phụ nữ ngang bằng với nam giới về quyền quyết định ở

quy mô gia đình, thừa kế và quản lý tài sản, phân bố lao động, tham gia các hoạt

động tạo thu nhập hoặc tự do đi ra ngoài…Tuy nhiên có sự khác biệt về tình

trạng quyền tương đối của phụ nữ giữa các vùng Nói chung phụ nữ ở Châu Âu

và Trung Á có sự bình đẳng nhiều nhất Phụ nữ Nam Á, vùng hạ Sahara châu

phi và Trung Đông được hưởng quyền bình đẳng ít nhất Phụ nữ nhận được chỉ

1% tổng số vốn tín dụng dành cho nông nghiệp[40]

Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn Việt Nam trong hoạt động XĐGN

- Thực trạng về phụ nữ nông thôn Việt Nam: Đối với Việt Nam trong giai đoạn

chuyển đổi nền kinh tế hiện nay, vị trí gia đình càng trở nên quan trọng bởi gia đình

là một bộ phận khăng khít, là động lực của sự phát triển Trong mỗi gia đình, phụ

nữ chính là người chăm lo mọi công việc thường được gọi là quản lý “tay hòm chìa

khoá” Điều này chứng tỏ phụ nữ có vị trí kinh tế không nhỏ đối với gia đình XH

hiện đại đã hình thành nhiều kiểu gia đình, nhưng dù cho ở loại hình gia đình nào,

vai trò của phụ nữ cũng không thể thiếu Không phải ngẫu nhiên mà con người hiện

đại đã khẳng định rằng “giáo dục một người đàn ông- được một người đàn ông,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

26

giáo dục một người đàn bà - được cả một gia đình” (R Tagor) Đề cao vai trò của

gia đình trong đời sống XH cũng chính là đề cao vai trò của người phụ nữ

Là một nước có nền công nghiệp chưa phát triển, Việt Nam hiện có khoảng gần 75% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó lao động nữ chiếm trên 50%, nhưng họ là nhóm người yếu thế và thiệt thòi trong

XH, không được như đội ngũ công nhân, trí thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong SX nông nghiệp Những năm gần đây, LLLĐ nữ lại tăng lên một cách đáng kể Hiện tượng tăng tương đối của lượng lao động nữ nông thôn những năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau:

- Một là, do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay

hàng năm nước ta có khoảng 80-90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó lao động nữ chiếm 55%[15]

- Hai là, do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu

tổ chức của các doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc

- Ba là, do sự tan rã của thị trường Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90,

khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất thị trường tiêu thụ hàng hoá, đa số lao động nữ làm nghề này lại chuyển về làm nông nghiệp

- Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp

tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn lâm vào tình trạng phá sản Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông

- Vai trò và những đóng góp chủ yếu của phụ nữ Việt Nam trong PTKTXH:

Quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ đã được ghi trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946 và năm 1992 (được sử đổi và bổ sung năm 2001) một lần nữa

khẳng định: “Công dân nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế,

xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội” (Điều 63)

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Khách sạn, nhà hàng 73,4 Công nghiệp chế biến 57,2

Giáo dục-Đào tạo 79,2 Khoa học công nghệ 48,6

Nông nghiệp, lâm ghiệp 69,8 Dịch vụ công cộng 55,4

Y tế 63,1 Công nghiệp khai thác mỏ 36,8

Thương nghiệp 64,7 Văn hoá-thể dục, thể thao 35,7

Tài chính tín dụng 58,9 Kinh doanh, dịch vụ tư vấn 29,7

(Nguồn: Tổng cục thống kê,2008)

Hiện nay, lao động nữ tham gia vào tất cả các hoạt động XH, nhưng với đặc

tính riêng của mình là khéo léo, chịu khó nên tỷ lệ nữ tham gia vào các hoạt động

nhà hàng, khách sạn, dịch vụ, thương mại, nông lâm thuỷ sản tương đối cao

Có thể nói rằng, tỷ lệ phụ nữ tham gia đại biểu Hội đồng nhân dân các

cấp ở địa phương là khá thấp, không đạt yêu cầu Trong những năm gần đây,

được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, lao động nữ đã khẳng định vai trò của

mình trong vai trò quản lý Tuy nhiên so với nam giới tỷ lệ nữ quản lý vẫn thấp,

điều này chủ yếu do trình độ học vấn của nữ vẫn còn thấp chưa đáp ứng được

các yêu cầu cao cùng với sự phát triển của XH

Bảng 1.6 Phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp

(Nguồn: Văn phòng Quốc Hội,2010)

Trong hơn 10 năm qua Việt Nam luôn có nữ Phó Chủ tịch nước Tỷ lệ lãnh

đạo nữ ở cấp Trung Ương đã tăng nhưng chậm và ở mức thấp, dưới 10%

Bảng 1.7 Phụ nữ tham gia trong công tác chính quyền

có khả năng phát triển SX

Bảng 1.8 Phụ nữ trong quản lý doanh nghiệp

Doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài 17,56

(Nguồn: Tổng cục thống kê,2009)

Tập đoàn kiểm toán và tư vấn kinh tế hàng đầu thế giới Grant Thornton vừa công bố một khảo sát cho thấy, phụ nữ vẫn chỉ nắm giữ ít hơn ¼ các vị trí quản lý cấp cao trong các công ty tư nhân toàn cầu Riêng Việt Nam xếp thứ 12 thế giới

về tỷ lệ phụ nữ trong bộ máy quản lý cấp cao (chiếm 28%)

Như vậy, lao động nữ nói chung và lao động nữ nông thôn nói riêng đã đóng góp to lớn vào phúc lợi gia đình và XH Họ kinh doanh, SX, làm ruộng, mang lại thu nhập bằng tiền mặt, chăm sóc con cái và làm các công việc nội trợ Thực tế trong khi phụ nữ làm phần lớn việc nội trợ và chăm sóc người phụ thuộc

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

29 (trẻ em và người già) với sự giúp đỡ ít ỏi của người nam giới thì sự đóng góp

vào SX của họ cho gia đình gần bằng nam giới

1.1.3 Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn nói chung, phụ nữ dân tộc Dao nói riêng

1.1.3.1 Về chất lượng nguồn nhân lực

Số lượng và đặc biệt chất lượng nguồn nhân lực nữ nông thôn đóng vai trò

hết sức quan trọng trong công việc tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho XH

Tuy chất lượng có tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao

của XH, có thể nói chất lượng nguồn nhân lực nữ (Dao) còn rất thấp[6],[20]

1.1.3.2 Về vấn đề sức khoẻ của phụ nữ

* Về sức khoẻ thể chất

Qua kết quả khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (2008) cho thấy tình trạng

đau ốm theo giới tính như sau: 68% (nữ) và 64% (nam) Tình trạng đau ốm của

phụ nữ cao hơn nam giới: sức khoẻ phụ nữ là một vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt là

sức khoẻ của phụ nữ ở các vùng nông thôn So với phụ nữ ở đô thị, phụ nữ ở nông

thôn có tỷ lệ đau ốm cao hơn: 69,2% và 63,7% Tỷ lệ đau ốm của phụ nữ nông

thôn chênh lệch theo các vùng dân cư, cao nhất là vùng Tây Nguyên (89,5%),

Duyên Hải Miền Trung (78,6%) và thấp nhất là miền núi trung du (62,8%) Điều

tra mức sống dân cư lần hai (2008) cho thấy: Tỷ lệ đau ốm của người dân khá

cao, nông thôn cao hơn đô thị, phụ nữ đau ốm nhiều hơn nam giới (45% và 38%)

Nếu xét theo nhóm tuổi trong độ tuổi lao động thì ở một vài nhóm tuổi được xem

là “sung sức” hơn cả như 25-29; 30-34; 40-44 thì tỷ lệ đau ốm của phụ nữ vẫn

cao hơn nam giới từ 10% đến 12%[37] Sức khoẻ của phụ nữ nông thôn chịu ảnh

hưởng của một số yếu tố:

- Lao động vất vả: Phụ nữ đảm nhận khối công việc gấp đôi nam giới Thời gian

làm việc của phụ nữ dài hơn và căng thẳng hơn Bên cạnh đó, phụ nữ nông thôn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

30 thường lao động vất vả trong thời gian mang thai và họ vẫn lao động bình thường không kiêng khem, thậm chí vẫn lao động nặng trong những tháng cần phải chú ý giữ gìn để đảm bảo an toàn cho thai nhi và người mẹ Có đến hơn một nửa phụ nữ không nghỉ trước khi sinh con, họ vẫn làm việc ngoài đồng cho đến khi sinh nở, kể cả những công việc được coi là vất vả của nhà nông như làm

đất, có đến 67,6% số người được hỏi trả lời “làm đất khi mang thai đến khi đẻ”, 80% trả lời “gánh nặng từ khi mang thai đến khi sinh nở”, trong đó có 75% trả lời

“gánh nặng” khi thai nhi 1-3 tháng Tính trung bình, một phụ nữ mỗi ngày làm

việc từ 12 đến 16 giờ và chỉ có 3 giờ dành cho việc ăn uống và các sinh hoạt cá nhân khác Tổng thời gian nghỉ ngơi tỷ lệ nghịch với tổng thời gian dành cho

SX Điều này cho thấy, gánh nặng của công việc nội trợ và các hoạt động SX đã ảnh hưởng không tốt tới sức khoẻ của người phụ nữ

- Môi trường ô nhiễm: Môi trường ô nhiễm càng nhiều thì phụ nữ bị ảnh hưởng

càng cao vì thời gian họ lao động hàng ngày trên ruộng đồng nhiều hơn nam giới nên dễ bị nhiễm độc bởi các hoá chất Nghiên cứu 2008-2009 cho thấy: Ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam, có nhiều hồ, ao tù với những lùm cây xum xuê bao bọc xung quanh Đây là nguồn nước chủ yếu của người dân ở nông thôn (tắm, giặt giũ, rửa ráy), đồng thời cũng là nơi tạo điều kiện cho muỗi, ký sinh trùng sinh sôi nảy nở Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng: ở Việt Nam các bệnh truyền nhiễm: sốt rét, tiêu chảy, cúm, sởi, ho gà, sốt xuất huyết… đều

giống nhau ở chỗ có liên quan đến nước “muỗi sinh sôi nảy nở ở nơi có nước tù

như trong ao, hồ và những bể nước không được đậy cẩn thận; còn thương hàn, tiêu chảy và viêm gan vi rút lại có liên quan đến việc nước bị nhiễm bẩn do sử lý

và do phóng uế không đúng quy cách” Theo các chuyên gia trong lĩnh vực sức

khoẻ công cộng thì “phụ nữ và trẻ em đặc biệt dễ bị mắc những bệnh có liên

quan đến nước không sạch”[17]

- Lấy chồng sớm, sinh đẻ nhiều: Hiện nay, ở nông thôn, việc lấy chồng sớm có

xu hướng gia tăng bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân muốn xây dựng gia đình để tách hộ nhận ruộng khoán, nếu kết hôn muộn sẽ không có cơ

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

31 hội nhận ruộng vì chính sách giao ruộng dài hạn (15 đến 20 năm) Tảo hôn dẫn

đến hệ quả là bên cạnh việc chưa được chuẩn bị tốt cả về thể chất, tâm lý để làm

dâu, làm vợ, làm mẹ lẫn kiến thức nuôi dạy con… là sự thiếu hiểu biết về dân số

- kế hoạch hoá gia đình nên dẫn đến mang thai và sinh nở, nạo hút thai nhiều

Trong bối cảnh như vậy, cần tuyên truyền giáo dục cho nhân dân nhất là nam,

nữ thanh niên trong độ tuổi kết hôn thấy rõ hậu quả xấu của việc kết hôn sớm và

sinh đẻ, nạo, hút nhiều chẳng những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ sinh

sản của người phụ nữ mà còn hạn chế những cơ hội phát triển của họ, đồng thời

nó còn là một nguyên nhân dẫn đến nghèo bởi vì số con và khoảng cách sinh

con thường tỷ lệ nghịch với sức khoẻ của phụ nữ và thu nhập bình quân của họ

- Dinh dưỡng không đảm bảo: Năm 2005, một cuộc khảo sát quốc gia về mức

độ thiếu vitamin A và suy dinh dưỡng do thiếu protêin đã phát hiện 41% tổng số

phụ nữ bị suy dinh dưỡng: 26% suy dinh dưỡng hạng I (chỉ số về khối lượng cơ

thể (BMI) giữa 17,0 và 18,49), 15% độ II và độ III (BMI dưới 17,0) Thiếu máu

cũng là hiện tượng phổ biến, một nghiên cứu quy mô nhỏ ở Việt Nam kiểm tra

lượng Hemoglobin ở phụ nữ có thai cho thấy: 49% phụ nữ nông thôn có lượng

Hb dưới tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới, [37] Suy dinh dưỡng ở phụ nữ

không chỉ làm tăng tỷ lệ đẻ khó, tai biến thai sản có thể dẫn đến tử vong mẹ mà

còn ảnh hưởng đến sức khoẻ con cái Hiện nay, 33,9% trẻ em Việt Nam bị suy

dinh dưỡng Do vậy, cần đẩy mạnh công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ -

trẻ em Trong khi đẩy mạnh việc giáo dục cho phụ nữ biết nuôi dạy con theo

phương pháp khoa học thì cũng cần phải có chính sách ở tầm quốc gia về nâng

cao dinh dưỡng cho trẻ em và phụ nữ

* Về sức khoẻ tinh thần

- Đời sống văn hoá nghèo nàn: Đời sống văn hoá tinh thần ở nông thôn hiện nay

vẫn chưa tương xứng với quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước, nếu không

nói là còn nghèo nàn Sự đơn điệu trong đời sống văn hoá, thiếu nơi vui chơi giải

trí, hội họp sinh hoạt, thiếu thông tin thời sự chính trị, văn hoá, KHKT và kinh tế

là hiện tượng dễ thấy ở nhiều vùng nông thôn hiện nay Sự nghèo nàn đó là một lý

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

32

do thúc đẩy thanh niên rời bỏ nông thôn [20] Do vậy, xoá bỏ sự nghèo nàn trong đời sống văn hoá ở nông thôn là một yêu cầu bức thiết của sự công nghiệp hóa nông thôn, làm điều đó cũng chính là đẩy mạnh việc truyền bá kiến thức KHKT, công nghệ mới, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân nông thôn về pháp luật, lối sống văn hoá…; hơn nữa còn ngăn chặn và loại bỏ những cái xấu như:

mê tín, cờ bạc, số đề, bói toán…Muốn vậy, cần có chính sách đầu tư thoả đáng để nâng cao đời sống tinh thần cho người dân ở các vùng nông thôn, phù hợp với đặc điểm vùng, miền, dân tộc và giới tính Đồng thời nam giới phải có trách nhiệm chia sẻ các công việc gia đình để người phụ nữ nông thôn có thời gian nghỉ ngơi, hưởng thụ văn hoá tinh thần trong cuộc sống

- Áp lực do nam giới dời nông thôn: Xu hướng nam giới ly hương ngày càng

nhiều nên ở nông thôn chủ yếu chỉ còn lại là phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi Mọi việc SX, công việc gia đình dồn nên đôi vai người phụ nữ, tạo nên sức ép đối với người phụ nữ trong các hoạt động SX, đời sống gia đình Thực trạng này

là một trở ngại rất lớn đối với phụ nữ nông thôn hiện nay, bởi vì về mặt sinh học, phụ nữ yếu hơn nam giới, hơn nữa phụ nữ còn đảm nhận chính trong vai trò tái SX Vì vậy, CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn càng nhanh sẽ không những góp phần giảm bớt gánh nặng cho phụ nữ trong các hoạt động SX và tái sinh sản

mà còn nhằm thu hút nam giới trở về nông thôn “ly nông bất ly hương”, giảm xu

hướng di cư ra đô thị Tóm lại, mặc dù có những đóng góp lớn cho XH, trên thực tế phụ nữ nông thôn còn nhiều thiệt thòi và hiện đang đối mặt với những thách thức lớn, đó là:

- Tình trạng lao động quá tải thường xuyên để đảm bảo đời sống gia đình

- Thiếu việc làm theo thời vụ và hiệu quả lao động chưa cao

- Thiếu thông tin và ít được tham gia hoạt động văn hoá, thể thao

- Ảnh hưởng của phong tục, tập quán và sự ràng buộc trong quan hệ gia đình, làng xóm

- Cơ sở hạ tầng nghèo nàn, điều kiện ăn ở và vệ sinh môi trường thiếu bảo đảm

- Gia đình đông con và PCLĐ bất hợp lý

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

33 Những vấn đề nổi cộm được nêu ở trên là một thực tế hiện đang tác động tới

mọi người dân, cả nam giới cũng như phụ nữ ở nông thôn Tuy nhiên, với vị thế

của mình, phụ nữ nông thôn rõ ràng chịu tác động mạnh hơn, thiệt thòi lớn hơn

so với nam giới và đặc biệt là so với phụ nữ ở thành thị

1.1.3.3 Về chuyên môn kỹ thuật

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, phần lớn lao động ở nông thôn nói chung

và lao động nữ nói riêng trong SX vẫn còn dựa vào thói quen, kinh nghiệm và

họ chưa tiếp cận nhiều với kỹ thuật mới, phương thức SX mới theo cơ chế thị

trường Đi lên trên con đường CNH không thể chỉ có lòng nhiệt tình và sự chịu

khó, cần cù, mà còn cần một yếu tố quan trọng hơn, đó là: kiến thức về chuyên

môn, kỹ thuật liên quan đến SXKD trong nông nghiệp nông thôn Sự nghiệp

CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn không thể thành công nếu người dân ở nông

thôn chỉ có kinh nghiệm được tích luỹ theo năm tháng mà thiếu hiểu biết về

KHKT và công nghệ mới

Phụ nữ nông thôn hiện nay, trong quá trình SXKD, họ có một ưu điểm nổi

bật là sự khéo léo, sự tính toán giỏi giang và thành đạt chủ yếu dựa vào kinh

nghiệm cá nhân của mỗi người, số thành công do được học hành, đào tạo chưa

nhiều Nhược điểm này sẽ là một hạn chế không nhỏ trong việc phát huy nguồn

nhân lực nữ để phát triển nông thôn

1.1.3.4 Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định

Một nghiên cứu về vấn đề giới trên phạm vi toàn cầu (Ngân hàng Thế

giới, 2001) cho rằng: “Trong những thập niên vừa qua, tuy đã có những tiến bộ

vượt bậc về bình đẳng giới nhưng sự phân biệt giới vẫn phổ biến trong mọi mặt

của đời sống và trên khắp thế giới Bản chất và mức độ phân biệt đối xử ở các

nước và các khu vực là rất khác nhau, nhưng hình thái phân biệt đối xử thì nổi

bật Không một khu vực nào của các nước đang phát triển, phụ nữ lại có quyền

bình đẳng hoàn toàn với nam giới”

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

34

Ở nước ta, tình hình cũng tương tự Cho dù đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực bình đẳng giới nhưng vẫn phải thừa nhận rằng BBĐ giới vẫn đang tồn tại - đây là lực cản cơ bản của sự phát triển tự nhiên

Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam, những trở lực của BBĐ giới là:

Sự hạn chế của phụ nữ trong tiếp cận các nguồn lực SX như đất đai, các dịch vụ

KN và tín dụng Phụ nữ ít được tham gia trong bộ máy lãnh đạo các cấp, ít có tiếng nói quyết định trong nhiều lĩnh vực của đời sống gia đình, XH ít nhiều còn

bị phân biệt trong tiếp cận các phúc lợi về y tế, giáo dục Đó chính là nhân tố cản trở những đóng góp của lao động nữ trong PTKTXH

Về vấn đề tiếp cận đất đai: Hiện nay có tới gần 80% dân cư sống ở nông

thôn chủ yếu làm nông nghiệp và đất đai là tư liệu sản xuất chính của họ

Về mặt pháp luật, ở Việt Nam, phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng về tài sản, điều đó thể hiện qua Hiến pháp và những bộ luật liên quan đến quyền sở hữu như luật Đất đai (1993), Bộ luật dân sự (1995), Luật hôn nhân và gia đình (2000) Tuy nhiên những khía cạnh nhất định của các luật này khi thực hiện có

xu hướng trái ngược với cam kết ban đầu về sự bình đẳng giữa nam và nữ Ở Việt Nam, có 78,3% số hộ gia đình do nam làm chủ hộ, còn số hộ do phụ nữ làm chủ hộ chỉ chiếm 21,7% (Kết quả điều tra cơ bản về gia đình và vai trò của người phụ nữ của Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ năm 1998-2000) Như vậy có 78,3% hộ do nam giới đứng tên GCNQSDĐ Từ khi thực hiện theo luật đất đai năm 2003, nếu quyền sử dụng đất là tài sản chung của

vợ và chồng thì GCNQSDĐ phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng; thì tỷ lệ người vợ được cùng đứng tên trong GCNQSDĐ cao hơn tuy nhiên vẫn còn nhiều HGĐ người vợ không được đứng tên trong GCNQSDĐ, đặc biệt là người dân sống ở miền núi do trình độ văn hóa thấp nên họ chấp nhận thiệt thòi, từ vị trí đồng sử dụng với người chồng, người vợ đã rơi xuống vị trí thừa hành, ít có quyền quyết định Người chủ hộ (nam giới) có quyền lực pháp lý và kinh tế hơn các thành viên khác trong gia đình Hơn nữa, đã hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng và một số quyền hạn khác của phụ nữ như chuyển nhượng, thừa kế Việc không có

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

35 quyền tương đương với nam giới đối với đất đai - một tài sản chủ chốt, một tư liệu

SX quan trọng của HGĐ nông thôn đã ảnh hưởng rất lớn đến địa vị kinh tế và XH

của phụ nữ so với nam giới Cho dù pháp luật quy định về quyền thừa kế như nhau

của con trai và con gái, nhưng theo truyền thống thì chủ yếu người con trai trong gia

đình có quyền thừa kế về nhà cửa, đất đai Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ chỉ có

quyền sử dụng đất trong mối liên hệ với đàn ông

Tóm lại, thiếu cơ hội trong việc quản lý và sử dụng đất, quản lý tài sản,

trong điều hành việc SX đã ảnh hưởng đến quyền bình đẳng về kinh tế, XH của

người phụ nữ Sự phân biệt quyền hạn theo giới đã hạn chế những cơ hội lựa

chọn dành cho phụ nữ trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, hạn chế khả năng

tham gia và hưởng lợi của họ từ sự phát triển

Về vấn đề tiếp cận giáo dục và đào tạo: Đầu tư cho giáo dục là một trong

những yếu tố quan trọng nhất quyết định tương lai của con người, tạo ra cơ hội

nghề nghiệp, việc làm và thu nhập Nếu phụ nữ có được trình độ học vấn thì khi

làm mẹ sẽ chăm sóc con cái tốt hơn, góp phần đáng kể vào việc làm giảm tỷ lệ tử

vong ở trẻ em Phụ nữ càng có học vấn cao thì càng sinh đẻ ít

Ngày nay, mặc dù phụ nữ nông thôn đóng vai trò then chốt trong ngành nông

nghiệp nhưng họ vẫn chưa được tiếp cận đầy đủ với những dịch vụ KN[6] Điều

này hạn chế đáng kể đến khả năng tham gia vào quá trình phát triển của phụ nữ

Về vấn đề việc làm và thu nhập của phụ nữ: Mặc dù pháp luật quy định

“công việc như nhau, tiền lương như nhau” nhưng trong khu vực có lương do

thường làm lao động giản đơn nên tiền công trung bình trả cho lao động nữ chỉ

bằng 72% so với nam giới Nguyên nhân chủ yếu là do lao động nữ tập trung

vào khu vực ngành nghề không đòi hỏi tay nghề, kỹ thuật cao Trừ khu vực dịch

vụ và may mặc, còn ở hầu hết các ngành khác, lương của phụ nữ thấp hơn của

nam giới do không làm quản lý Trong nông nghiệp tiền công bình quân của phụ

nữ chỉ bằng 62% tiền lương của nam giới[6]

Trong khu vực không trả lương, phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới Việc

PCLĐ trong nội bộ gia đình ở nông thôn đang đặt gánh nặng lên vai người phụ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

36

nữ Ngoài công việc SX trên đồng ruộng, phụ nữ còn chăn nuôi lợn gà, làm thêm nghề phụ với lao động thủ công, năng suất thấp Các hoạt động SX này tuy tạo ra nhiều sản phẩm cho gia đình tiêu dùng nhưng thường không mang lại thu nhập bằng tiền mặt, hoặc thu nhập rất thấp Các nghề phi nông nghiệp mà phụ

nữ tham gia: thêu, may, tre đan…mang tính tranh thủ thời gian nông nhàn cũng mang lại thu nhập thấp Bên cạnh đó phụ nữ còn phải đảm nhiệm hầu hết công việc gia đình Đây là loại hoạt động thiết yếu để duy trì sự tồn tại của con người, song nó thường khó hoặc không thể quy thành giá trị kinh tế bằng tiền nên

không được đánh giá đầy đủ mà chỉ coi là “việc vặt” không được trả công

Về vấn đề ra quyết định: Sự BBĐ nam nữ trong gia đình không chỉ biểu

hiện ở quyền sử dụng đất và quyết định đối với đất đai, nó còn được thể hiện ở quyền ra quyết định đối với những lĩnh vực khác của đời sống gia đình: mua sắm tài sản đắt tiền, xây dựng nhà cửa, những khoản chi lớn liên quan đến thành quả lao động của gia đình Phụ nữ được tham gia ý kiến và bàn bạc chung với

tư cách là người giữ tiền của gia đình “tay hòm chìa khoá” trong những quyết

định quan trọng nhưng trên thực tế họ không có quyền quyết định việc chi tiêu Tóm lại, việc ít có điều điện tiếp cận các nguồn lực và khả năng tạo thu nhập kém cùng với việc không có tiếng nói trong các quyết định quan trọng của đời sống gia đình dẫn đến địa vị kinh tế, XH của phụ nữ thấp hơn so với nam giới

Đó là những yếu tố hạn chế khả năng tham gia của phụ nữ vào việc ra quyết định trong cộng đồng và ở cấp quốc gia

1.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

Nghiên cứu vai trò phụ nữ dân tộc Dao trong XĐGN là một vấn đề khá toàn diện Chính vì vậy phương pháp nghiên cứu của luận văn vừa mang tính liên ngành vừa là phương pháp luận nghiên cứu mang tính XH học, đồng thời là phương pháp luận nghiên cứu các quy luật PTKT theo vùng, lãnh thổ, nó bao gồm các phương pháp cụ thể sau:

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

37

- Tiếp cận nghiên cứu xã hội học (giới): Nhằm nghiên cứu đặc tính của dân tộc,

giới, sự khác nhau và các yếu tố ảnh hưởng đến giới, dân tộc

- Tiếp cận nghiên cứu liên ngành: Nhằm nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong tất

cả các ngành, lĩnh vực, mối quan hệ giữa các ngành, lĩnh vực đối với XĐGN

- Tiếp cận nghiên cứu kinh tế vi mô: Nhằm đánh giá tình hình PTKT hộ, các yếu

tố tác động đến kết quả, hiệu quả trong XĐGN

- Tiếp cận nghiên cứu kinh tế hệ thống: Nhằm nghiên cứu các hệ thống SXKD

các loại hình cây trồng, vật nuôi, các yếu tố trong nền kinh tế của địa phương,

của hộ

1.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

1.2.2.1 Chọn vùng nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, địa điểm nghiên cứu phải đại diện cho

vùng nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên, KTXH, văn hóa, môi trường… là nơi

tập trung nhiều đồng bào dân tộc Dao, có tỷ lệ hộ nghèo cao so với toàn huyện

Theo vị trí địa lý, địa hình, địa mạo đất đai của huyện Phú Lương, huyện

được chia ra làm ba tiểu vùng Dựa trên vùng sinh thái, đồng thời căn cứ vào sự

phân tán của các hộ dân tộc Dao sinh sống trên 3 vùng đó, mỗi tiểu vùng tôi

chọn ra 1 xã điển hình để nghiên cứu:

+ Tiểu vùng 1: Chọn xã Yên Ninh, tập trung nhiều dân tộc Dao nhất

huyện, phong tục tập quán của họ còn tồn tại khá phong phú Có tổng diện tích

đất tự nhiên 4.718,6 ha; với 6.424 người, trong đó có 1.070 người Dao (271 hộ,

89 hộ nghèo), hầu hết thuộc nhóm Dao Đỏ; họ là những người định cư tại chỗ,

chỉ có một phần nhỏ đến từ các huyện khác Là xã xa huyện nhất, cách trung tâm

huyện 22 km về phía Bắc; có ít các chương trình dự án của Nhà nước cũng như

các tổ chức phi Chính phủ; địa hình nhiều rừng núi, đi lại khó khăn, thuận lợi

cho phát triển ngành lâm nghiệp và chăn nuôi, là xã khó khăn nhất của huyện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

38

+ Tiểu vùng 2: Chọn xã Yên Đổ, với tỷ lệ người Dao sinh sống đứng thứ

2 trong toàn huyện; tổng diện tích đất tự nhiên 3.561,14 ha; 6.273 người dân,

trong đó có 888 người Dao (223 hộ Dao, 48 hộ nghèo) Xã cách trung tâm huyện

9 km về phía Tây, cơ bản là xã thuần nông, có nhiều chương trình dự án hỗ trợ;

thích hợp cho phát triển nông nghiệp và là xã PTKT ở mức độ trung bình và vẫn

còn khó khăn so với các xã khác

+ Tiểu vùng 3: Chọn xã Động Đạt; với số hộ Dao sinh sống đứng thứ 3

toàn huyện; có tổng diện tích đất tự nhiên 3.388 ha; gồm 9.775 người dân, trong

đó có 411 người Dao (104 hộ Dao, 21 hộ nghèo); nằm liền kề uỷ ban nhân dân

huyện thuộc phía Nam và nằm trên đường Quốc lộ 3 Là nơi có nhiều thuận lợi

về giao thông và tiếp cận các nguồn lực, có lợi thế cho SX lương thực, phát triển

nghề kinh doanh hàng hóa - dịch vụ và là xã có kinh tế phát triển

1.2.2.2 Chọn hộ nghiên cứu

Để có được 195 hộ đại diện cho nhóm hộ giàu-khá, trung bình, nghèo và đại diện cho các hộ dân tộc Dao, phương pháp được áp dụng trong công việc này trải qua 3 bước sau:

Bước 1: Phân loại các thành phần dân tộc từ danh sách hộ nông dân của 3

xã nghiên cứu, chọn ra danh sách hộ người Dao tương ứng với mỗi xã

Bước 2: Từ 3 danh sách hộ người Dao của 3 xã, căn cứ vào tiêu chí phân

loại hộ của địa phương có được các danh sách hộ người Dao theo 3 nhóm hộ: giàu - khá, trung bình và nghèo

Bảng 1.9: Tiêu chí phân loại hộ điều tra năm 2010

Hộ giàu-khá

Nhà cửa kiên cố, xây khang trang (nhà mái bằng hoặc nhà tầng),

có công trình vệ sinh tiện nghi, thiết bị sinh hoạt đầy đủ: ti vi, xe máy, điện thoại, tủ lạnh…, con cái được học cao, đủ lao động,

thu nhập bình quân >800.000 đồng/người/tháng

Hộ trung bình

Nhà cửa bán kiên cố (nhà cấp 4, nhà mái ngói), diện tích canh tác

đảm bảo lương thực cho gia đình, đủ lao động, thu nhập bình

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

39

quân từ 350.000 - 800.000 đồng/người/tháng

Hộ nghèo

Nhà tạm, thiếu nhiều phương tiện sinh hoạt cần thiết, diện tích

đất canh tác ít, thu nhập không ổn định, con cái không được học

nhiều, thiếu lao động, thu nhập < 350.000 đồng/người/tháng

(Nguồn: UBND huyện Phú Lương,2010)

Bước 3: Từ những danh sách này, theo công thức bước nhảy lấy ra mỗi xã

65 hộ thuộc 3 nhóm hộ, được ngẫu nhiên danh sách 195 hộ dân tộc Dao để tiến

hành điều tra

Hoàn thiện các bước công việc, có được kết quả chọn mẫu như sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

(Nguồn: Kết quả chọn mẫu điều tra,2010)

1.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

1.2.3.1 Số liệu thứ cấp

Nguồn số liệu

- Số liệu thống kê của các bộ, ngành có liên quan

- Sở Lao động - TBXH, Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên

- Niên giám thống kê, Phòng thống kê của UBND, Phòng LĐ&TBXH, Báo cáo tổng kết các hoạt động của Hội Liên Hiệp phụ nữ, của huyện Phú Lương

- Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề về vai trò phụ nữ trong XĐGN và PTKT nông thôn

Phương pháp thu thập: Thông qua ghi chép, thống kê các dữ liệu cần thiết

cho đề tài với các chỉ tiêu được chuẩn bị sẵn

1.2.3.2 Số liệu sơ cấp

* Nguồn số liệu: Trên cơ sở các mẫu điều tra 195 hộ đã chọn, tiến hành phỏng

vấn trực tiếp để thu thập thông tin

* Phương pháp PRA: Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của

người dân Phương pháp này cho phép chúng tôi có sự đánh giá khách quan về HGĐ và tình hình kinh tế XH của địa phương

* Phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi: Thu thập các số

liệu bằng hệ thống các câu hỏi để hộ trả lời

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

41

1.2.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu

1.2.4.1 Phương pháp phân tổ thống kê

Được sử dụng để phân loại thu nhập theo các mức khác nhau: hộ giàu - khá,

trung bình và nghèo; phân loại lao động theo ngành nghề, lứa tuổi, văn hoá

1.2.4.2 Phương pháp thống kê so sánh

Có được các chỉ tiêu nghiên cứu tổng hợp thành các bảng số liệu, chúng tôi

so sánh bằng các chỉ số khác nhau để thấy được có sự khác nhau về tư liệu sản

xuất, thu nhập, tiêu dùng giữa các nhóm hộ

1.2.4.3 Phương pháp phân tích giới

Cơ sở phân tích giới gồm sự khác biệt giữa nam và nữ về địa vị kinh tế -

XH - chính trị; tác động của sự khác biệt này đối với công việc, khả năng tiếp

cận và kiểm soát các nguồn lực và mức độ tham gia vào quá trình ra quyết định

của nam và nữ

1.2.4.4 Phương pháp thống kê so sánh và mô tả

So sánh các số liệu thu được trước và sau khi có các yếu tố tác động đến

việc nâng cao vai trò của phụ nữ

1.2.4.5 Phương pháp thu thập thông tin

Được sử dụng để thu thập, chắt lọc các ý kiến của các chuyên gia, các cán

bộ công tác trong lĩnh vực đang nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

42

Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC DAO TRONG XOÁ

ĐÓI GIẢM NGHÈO HUYỆN PHÚ LƯƠNG 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Phú Lương là một huyện miền núi, nằm ở phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên

Có diện tích tự nhiên là 36.934,23 ha

Trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 22 km theo quốc lộ 3 đường đi Bắc Kạn

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

43 Phía Đông tiếp giáp huyện Đồng Hỷ;

Phía Tây tiếp giáp với huyện Đại Từ và huyện Định Hoá;

Phía Nam tiếp giáp thành phố Thái Nguyên;

Phía Bắc tiếp giáp với huyện Chợ Mới của tỉnh Bắc Kạn

Huyện Phú Lương có 16 đơn vị hành chính với 14 xã và 2 thị trấn (thị trấn Giang

Tiên và thị trấn Đu) Có Quốc lộ 3 chạy qua giữa huyện nối Hà Nội - Thái Nguyên

với các tỉnh: Bắc Kạn, Cao Bằng Quốc lộ 3 là tuyến đường quan trọng không chỉ

đối với huyện Phú Lương mà còn với các tỉnh Phía Bắc[31],[38]

2.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng

Phú Lương nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng đồi núi thấp và đồi bát

úp, cao trung bình là 200-500 m, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ dốc

trung bình từ 15-200 Địa hình Phía Bắc huyện có phần phức tạp hơn, độ dốc lớn

hơn Phía Nam địa hình thấp và bằng phẳng Rừng và đồi núi chiếm khoảng

75% diện tích Huyện có hệ thống đường giao thông thuận lợi; với 38 km đường

quốc lộ 3 chạy dọc theo chiều dài của huyện; toàn huyện có 136 km đường liên

xã và 448 km đường liên thôn, các tuyến đường đã và đang được đầu tư, nâng

cấp, tạo điều kiện thuận lợi phục vụ PTKTXH của địa phương[31],[38]

2.1.1.3 Đặc điểm thời tiết khí hậu - thuỷ văn

Khí hậu

Phú Lương là một huyện miền núi, khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt

- Mùa đông (hanh, khô), kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa này thời

tiết lạnh, có những đợt gió mùa Đông Bắc cách nhau từ 7 đến 10 ngày, mưa ít

gây thiếu nước cho cây trồng vụ Đông

- Mùa hè (mùa mưa) từ tháng 04 đến tháng 10, nhiệt độ cao, lượng mưa lớn, gây

lũ lụt ảnh hưởng lớn đến sản xuất của bà con nông dân, mùa hè có gió Đông

Nam thịnh hành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

44 + Nhiệt độ trung bình trong năm 21,20C, tổng tích ôn là 7.000 đến 8.0000C + Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.700 đến 2.210 mm, lượng mưa cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 là 1.212 mm

+ Độ ẩm trung bình cả năm là 85%, độ ẩm cao nhất vào tháng 6,7,8 Độ ẩm thấp nhất vào tháng 11, 12 hàng năm

+ Sương mù bình quân từ 20 đến 30 ngày trong 1 năm, sương muối xuất hiện ít Với đặc điểm khí hậu này, huyện sẽ có rất nhiều điều kiện để PTKT, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, nó cũng tạo ra rất nhiều thách thức đối với ngành nông nghiệp của huyện trong vấn đề phòng trừ dịch và sâu bệnh[31]

Gồm 287,48ha sông suối nằm rải rác trên toàn huyện, lượng nước tăng giảm theo mùa, mùa khô thường gây hạn hán khó khăn cho SX nông nghiệp và sinh hoạt của người dân, mùa mưa nước đổ dồn về gây ngập úng và lũ quét[31]

2.1.2 Tài nguyên

2.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai

Năm 2010 toàn huyện có 36.934,23 ha đất tự nhiên Tổng diện tích đất nông nghiệp là 13.002,46 ha, chiếm 35,2% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất trồng lúa 3.992,06 ha (10,81%), đất trồng cây lâu năm (17,87%), còn lại là đất mặt nước nuôi trồng thủy sản (2,26%), đất trồng cây hàng năm (4,13%) và đất đồng cỏ (0,14%) So với năm 2009 diện tích đất nông nghiệp đã giảm xuống 58,5 ha, tức 0,45% Diện tích đất SX lâm nghiệp năm 2010 là 17.743,57 ha, chiếm tỷ trọng tương đối cao (48,04%) trong tổng diện tích đất tự nhiên và tăng trong 3 năm qua, cụ thể năm 2009 tăng 282 ha so với năm 2008, năm 2010 tăng 142,1 ha tức 0,81% so với năm 2009 Còn lại là các loại đất khác như: đất ở: 1.550 ha (4,2%); đất chuyên dùng: 3.893 ha (10,54%); đất chưa sử dụng: 745,2 ha (2,02%)[31],[38]

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

45 Trong giai đoạn 2008 - 2010, diện tích các loại đất của huyện có sự thay

đổi thích ứng với sự phát triển chung của tình hình KT-XH, đều có xu hướng

tăng lên do quá trình tăng dân số và đô thị hoá mạnh Cụ thể qua 3 năm diện tích

đất lâm nghiệp tăng 1,22%, đất ở 2,1%; đất chuyên dùng 0,46%; còn lại diện

tích đất nông nghiệp giảm 0,63% và đất chưa sử dụng 17,72% (giảm mạnh)

Đây là điều kiện thuận lợi cho sự PTKT của huyện và khẳng định rằng Phú

Lương là huyện miền núi SX nông, lâm nghiệp là chính[31],[38]

Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Phú Lương

giai đoạn 2008-2010

Chỉ tiêu

So sánh (%) 2009/

2008 2010/

2009 Bình quân

cấu SL

Cơ cấu (ha) (%) (ha) (%) (ha) (%)) Tổng số 36.934,23 100,00 36.934,23 100,00 36.934,23 100,00 100,00 100,00 100,00

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Lương,2008 - 2010)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.1.2.3 Nguồn nước

+ Nguồn nước mặt: Huyện có 835,05 ha đất sông suối và mặt nước chuyên dùng,

đây là nguồn nước chính cung cấp cho SX nông nghiệp

48,04%

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

47

+ Nguồn nước ngầm: Độ sâu từ 7 đến 10 m là nguồn nước ngầm rất quý hiếm đã

được nhân dân khai thác bằng phương pháp khoan và đào giếng để phục vụ ăn

uống, sinh hoạt hàng ngày của nhân dân

Phú Lương có mật độ sông suối tương đối lớn bình quân 0,2 km/km2 với

trữ lượng nước khá cao Đây là điều kiện thuận lợi để cung cấp nước phục vụ

cho SX nông nghiệp[31],[38]

2.1.2.4 Tài nguyên khác

Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn phong phú đa dạng với trữ lượng lớn

như: Than, Quặng titan, quặng sắt, chì kẽm, đá vôi, cát, sỏi, v.v.v… Đồng thời

có tiềm năng to lớn về đất đai, đáp ứng nhu cầu phát triển các loại cây trồng có

giá trị cao[31],[38]

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.3.1 Tình hình dân số, dân tộc và lao động

* Tình hình dân số, dân tộc

Dân số vẫn không ngừng tăng lên trong những năm qua, đặt ra rất nhiều

thách thức cho sự PTKT của huyện, cùng với sự phát triển đó là nhu cầu về nhà ở,

lương thực, đi lại, việc làm, y tế tình trạng thất nghiệp, tệ nạn XH ngày càng

tăng, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường gây nhiều trở ngại cho công tác giảm

nghèo của huyện

Năm 2010 toàn huyện có 105.229 nhân khẩu, trong đó nhân khẩu nông

nghiệp chiếm 84,87%, bình quân năm 2008-2010 nhân khẩu nông nghiệp tăng

không đáng kể 0,06%, nhân khẩu phi nông nghiệp tăng 0,29% Như vậy ta thấy

trong những năm gần đây nhân khẩu nông nghiệp tăng với tỷ lệ khá thấp, và nhân

khẩu phi nông nghiệp tăng với tỷ lệ cao hơn Tuy nhiên nhân khẩu phi nông

nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệ tương đối nhỏ (15,13%) Tổng số nhân khẩu trong độ

tuổi lao động (nam từ 15-60 và nữ từ 15-55) là 63.992 người, trong đó lao động

nữ chiếm 50,76%; lao động phi nông nghiệp là 11.381 người, chiếm 17,79% tăng

lên so với năm 2008 và 2009 Tổng số hộ năm 2010 là 26.890 hộ, bình quân năm

2008-2010 tổng số hộ tăng 0,56% Trong đó hộ nông nghiệp chiếm 80,5%, vẫn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

48 chiếm tỷ lệ khá cao nhưng giảm không đáng kể (0,01%) so với hộ phi nông nghiệp tăng nhanh hơn (3,07%)

Bảng 2.2 Tình hình dân số và lao động huyện Phú Lương

giai đoạn 2008-2010 Chỉ tiêu ĐVT

Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 So sánh (%)

Số lượng cấu Cơ (%)

Số lượng cấu Cơ (%)

Số lượng cấu Cơ (%)

2009/

2008 2010/

- Nữ Người 52.047 49,55 52.231 49,67 52.506 49,90 100,35 100,53 100,44

- Nông nghiệp Người 89.205 84,93 89.287 84,91 89.312 84,87 100,09 100,03 100,06

- Phi nông nghiệp Người 15.825 15,07 15.865 15,09 15.917 15,13 100,25 100,33 100,29

1 Tổng số hộ Người 26.590 100,00 26.898 100,00 26.890 100,00 101,16 99,97 100,56

- Nông nghiệp Hộ 21.652 81,43 21.698 80,67 21.647 80,50 100,21 99,76 99,99

- Phi nông nghiệp Hộ 4.938 18,57 5.200 19,33 5.243 19,50 105,31 100,83 103,07

2 Tổng số lao động Người 64.012 100,00 64.115 100,00 63.992 100,00 100,16 99,81 99,98

- Nữ Người 33.010 51,57 32.750 51,08 32.485 50,76 99,21 99,19 99,20

- Nông nghiệp Người 53.961 84,30 53.212 82,99 52.611 82,21 98,61 98,87 98,74

- Phi nông nghiệp Người 10.051 15,70 10.903 17,01 11.381 17,79 108,48 104,38 106,43

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Lương,2008-2010)

Như vậy đã có sự chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp giữa ngành nông nghiệp và ngành phi nông nghiệp

Về dân số huyện Phú Lương năm 2010 chia theo dân tộc, giới tính được trình bày trong bảng 2.3 và 2.4 Năm 2010 trong số 105.229 người bao gồm 17 dân tộc anh em cùng sinh sống, người kinh có tỷ lệ cao nhất chiếm 56,09%; tiếp

đó người Tày chiếm 19,83%; Sán Chí (Sán Chay): 10,94%; Nùng: 5,24%; Sán

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

49 Rìu: 4,65%; Dao: 2,54%; Mông: 0,3%, Hoa: 0,26% và 1 số dân tộc khác

(Mường, Thái, Cao Lan…): 0,16% Do có nhiều dân tộc sinh sống và họ đa số

sống ở vùng núi nên tỷ lệ hộ nghèo của các dân tộc thiểu số là rất cao

Người Kinh chủ yếu từ các tỉnh miền xuôi lên khai hoang từ những năm

1960 trở lại đây Họ có vai trò rất lớn trong việc khai hoang phục hoá, mở rộng

đất đai canh tác, áp dụng KHKT mới, đưa giống cây trồng vật nuôi mới vào SX

Họ có ảnh hưởng lớn trong việc thúc đẩy người dân tộc thiểu số sống trong cộng

đồng cùng phát triển Người Tày, Nùng, Sán Chí, Dao, Sán Rìu hầu hết là những

người bản xứ sống ở đây từ rất lâu đời Họ sống chủ yếu ở những vùng thấp, gần

đường giao thông, có đất ruộng, đất vườn nhiều, đời sống kinh tế khá giả hơn

nhóm dân tộc thiểu số khác

Bảng 2.3: Dân số huyện Phú Lương năm 2010 chia theo dân tộc, giới tính

và khu vực thành thị, nông thôn

Đơn vị tính: người

Tổng số Nam Nữ Tổng số Nam Nữ Tổng số Nam Nữ

(Nguồn: Số liệu Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên,2010)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

50

Bảng 2.4: Thành phần cơ cấu dân tộc của huyện Phú Lương năm 2010

(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Phú lương,2010)

Hình 2.2 Cơ cấu thành phần dân tộc huyện Phú Lương năm 2010

(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Phú Lương,2010)

Về dân số huyện phú Lương năm 2010 chia theo dân tộc và đơn vị hành chính được trình bày trong bảng 2.5 Dân số dân tộc Dao huyện Phú Lương là 2.675 người, sinh sống ở tất cả các xã và thị trấn trong toàn huyện nhưng tập

D©n téc thiÓu sè 43,91%

Sán Rìu 4,65%

Kinh 56,09%

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

51 trung nhiều ở các xã vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn như: Yên Ninh 1.070

người, Yên Đổ 888 người, Động Đạt 411 người, Yên Lạc 64 người, Phủ Lý 59

người, Yên Trạch 51 người, Sơn Cẩm 34 người

Bảng 2.5: Dân số huyện Phú Lương năm 2010

chia theo dân tộc và đơn vị hành chính

Đơn vị tính: người

TT Đơn vị

(xã/thị trấn)

Dân số năm

2010

Trong đó

Kinh Tày Nùng Dao H’

Mông Sán Chay Sán Dìu Hoa

Dân tộc khác

Hiện tại lao động trong độ tuổi của toàn huyện có 63.992 người, chiếm

60,81% dân số, trong đó lao động nữ có 32.485 người chiếm 50,76% tổng số lao

động Tình hình lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị và nông thôn của

huyện có xu hướng ổn định, sự gia tăng lao động là không đáng kể

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

52

Về LLLĐ ở huyện Phú Lương năm 2010 phân theo giới tính và ngành kinh tế được trình bày tại bảng 2.6 Qua bảng tổng hợp LLLĐ ở huyện Phú Lương năm 2010 phân theo giới tính và ngành kinh tế cho thấy, nếu xét LLLĐ theo cơ cấu ngành thì lĩnh vực: nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 82,29%; công nghiệp-xây dựng chiếm 9,4%; thương mại-dịch vụ chiếm 8,31% Cũng tương tự như vậy đối với lao động nữ thì lĩnh vực thương mại-dịch vụ chiếm 58,95%; nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 50,78%

Bảng 2.6 Lực lượng lao động ở huyện Phú Lương năm 2010

phân theo giới tính và ngành kinh tế

TT Các chỉ tiêu phản ánh Tổng số (người) Cơ cấu (%)

SL (người) Cơ cấu (%)

SL (người) Cơ cấu (%)

1 Dân số trong độ tuổi lao động 63.992 100,00 31.507 49,24 32.485 50,76

2 Phân theo ngành kinh tế 63.992 100,00 32.507 50,80 31.485 49,20

- Nông lâm, ngư nghiệp 52.661 82,29 25.919 49,22 26.742 50,78

- Công nghiệp và xây dựng 6.016 9,40 3.406 56,62 2.610 43,38

- Thương mại và dịch vụ 5.315 8,31 2.182 41,05 3.133 58,95

(Nguồn: Số liệu báo cáo của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội, chi cục

Thống kê huyện Phú Lương năm 2010)

Điều này một lần nữa phản ánh nét đặc thù của một huyện cơ cấu GDP chủ yếu dựa vào SX nông lâm nghiệp Như vậy, trong những năm tới để nâng cao tổng thu nhập cho toàn huyện cần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp theo hướng bền vững và đầu tư cho chất lượng nguồn lao động ở khu vực nông thôn

2.1.3.2 Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện

 Hệ thống giao thông

Phú Lương có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi, trên địa bàn huyện

có trục quốc lộ 3 chạy dọc huyện theo hướng Bắc-Nam (đi qua các tỉnh phía bắc), tổng chiều dài 38 km xuyên suốt 14 xã và 2 thị trấn (Đu và Giang Tiên)

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

53 Phú Lương có mạng lưới giao thông dày đặc với 574,5 km, trong đó 126,5

km đường liên xã, 448 km đường liên thôn, xóm Đảm bảo 100% số xóm, xã có

đường giao thông cơ giới, đường ô tô đến tận trung tâm các xã, nhựa hoá và bê

tông hoá hoàn toàn (năm 2009) Còn lại là đường đất gây khó khăn trong việc

giao thông của bà con đặc biệt là vào mùa mưa, đường trơn, lầy lội cản trở phát

triẻn kinh tế của địa phương[7],[8],[38]

 Hệ thống thuỷ lợi

Trên địa bàn huyện có 41 trạm bơm, trong thời gian qua bằng nhiều nguồn

vốn khác nhau Phú Lương đã xây dựng được 193 công trình thủy lợi lớn, nhỏ

(29 bơm; 49 hồ; 9 đập; 61 ao đầm; 45 phai), hàng trăm km kênh mương dẫn

nước và kênh nội mương đồng, đảm bảo tưới tiêu cho đồng ruộng Tuy nhiên

nhiều công trình thủy lợi đã bị xuống cấp, hiệu quả tưới tiêu giảm Mỗi năm

huyện đầu tư khoảng 500 triệu đồng để nâng cấp, sửa chữa và xây dựng các

công trình tưới tiêu, tạo điều kiện dẫn nước tưới cho cây trồng, nhất là vào vụ

đông khi thời tiết trở hanh[7],[8],[38]

 Hệ thống điện và giao thông liên lạc

- Hệ thống điện: Trên địa bàn huyện có trạm trung gian 110KV đặt tại trung

tâm huyện Đến nay gần 100% số xã trong huyện có mạng lưới điện quốc gia

phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt Đây là điều kiện tốt cho phát triển kinh tế xã

hội của huyện Tuy nhiên còn xảy ra tình trạng thất thoát điện, chưa đảm bảo

được điện sinh hoạt cho bà con nhất là vào những giờ cao điểm

- Giao thông liên lạc:

+ Bưu chính viễn thông: Mạng lưới bưu điện huyện có bưu điện trung tâm

huyện Phú Lương đặt tại thị trấn Đu (cấp 2), phát hành báo chí, cung cấp dịch

vụ bưu chính công ích, cung cấp dịch vụ bưu chính quốc tế Hệ thống bưu điện

các xã có 16 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá xã

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

54 Các dịch vụ mới như EMS, điện hoa, chuyển tiền nhanh, tiết kiệm bưu điện bưu điện huyện đã tổ chức cung cấp các dịch vụ tốt nhất đến người tiêu dùng như nhận, trả chuyển tiền nhanh, phát bưu phẩm, bưu kiện,

Bưu điện tiếp tục mở rộng nâng cao chất lượng phục vụ và các dịch vụ bưu chính viễn thông, đến hết tháng 12/2008 số thuê bao toàn mạng (gồm máy cố định, máy di động Vinaphone trả sau, Internet ADSL) là 10.038 máy, đạt tỷ lệ trên 10 máy/100 dân

+ Đài truyền thanh - truyền hình: Đến nay toàn huyện có 07 trạm truyền thanh

cấp xã với 275 cụm loa truyền thanh đặt tại cơ sở Hàng năm đài sản xuất trên

420 chương trình phát thanh địa phương, sử dụng trên 1.300 tin, bài; các chuyên mục Đặc biệt, Đài TT - TH Phú Lương là đơn vị duy nhất trong hệ thống Đài huyện, thành thị đã xây dựng và duy trì được chương trình phát thanh tiếng dân tộc (Tày, Nùng) trên sóng FM của huyện

 Cơ sở y tế, giáo dục

- Y tế: Năm 2010, toàn huyện có 18 cơ sở y tế, trong đó có 1 bệnh viện

huyện, 1 phòng khám đa khoa khu vực và 16 trạm y tế xã với 102 cán bộ y tế Hàng năm hệ thống cơ sở y tế tiếp tục được cải tạo nâng cấp, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám và chữa bệnh cho người dân trong huyện

- Giáo dục: Tính đến nay, toàn huyện có 18 trường mầm non, 27 trường

tiểu học, 16 trường trung học cơ sở, 2 trường trung học phổ thông với tổng số hơn 1.000 giáo viên Hệ thống cơ sở vật chất của các trường trên địa bàn huyện cũng đang từng bước được nâng cấp khang trang Tính đến cuối năm 2010 toàn huyện đã có trên 100 phòng học cao tầng được đầu tư xây dựng mới và có đầy

đủ trang thiết bị phục vụ cho học tập[7],[8],[38]

2.1.3.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện

* Tăng trưởng kinh tế

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

55

Tăng trưởng kinh tế của huyện vượt mục tiêu đề ra, đời sống nhân dân

được cải thiện đáng kể, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 12,3 triệu

đồng/người/năm (tức 1.025.000 đồng/người/tháng)

Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá mạnh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo xu

hướng hợp lý hơn, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần, theo đó công nghiệp xây dựng,

thương mại dịch vụ-du lịch cơ bản tăng lên

Bảng 2.7 Tăng trưởng giá trị sản xuất qua các năm (giá cố định)

Số tiền (triệu đồng)

Cơ cấu (%)

Số tiền (triệu đồng)

Cơ cấu (%)

Số tiền (triệu đồng)

Cơ cấu (%)

Số tiền (triệu đồng)

Cơ cấu (%) Tổng GTSX 453.622 100,00 523.144 100,00 523.400 100,00 618.950 100,00 687.045 100,00

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Lương,2006-2010)

+ Nông lâm thủy sản là ngành có xu hướng giảm trong 5 năm qua nhưng vẫn

chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu kinh tế của huyện Năm 2006 chiếm

47,57%, năm 2010 giảm xuống là 39,3%

+ Công nghiệp và xây dựng là ngành chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế

của huyện Năm 2006 chiếm 33,17%, năm 2010 tăng lên là 36,39% Trong

những năm gần đây, ngành công nghiệp đã góp phần không nhỏ vào sự phát

triển kinh tế chung của cả huyện

+ Ngành dịch vụ - thương mại đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong thời gian

gần đây Ngành dịch vụ có tốc độ phát triển cao nhất trong các ngành, năm 2006

chiếm 19,27% và năm 2010 tăng lên là 24,31% Nhìn chung, ngành dịch vụ còn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

56 nhiều tiềm năng chưa được khai thác, chưa được đầu tư xứng đáng để có thể thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh

- Tình hình phát triển ngành trồng trọt

Lúa (2 vụ) là cây trồng chủ đạo của huyện nhưng diện tích đất trồng cây lương thực này đang bị thu hẹp dần, năm 2008 có diện tích 6.925 ha đến năm

2010 diện tích trồng lúa giảm 134 ha với sản lượng là 34.770 tấn

Bảng 2.8 Tình hình phát triển một số cây trồng chính của huyện Phú

Lương giai đoạn 2008-2010

(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Phú Lương,2008-2010)

Diện tích ruộng lúa bị thu hẹp là do một phần chuyển sang xây dựng cơ bản như công sở, đường xá, phần khác chuyển sang làm nhà ở cho nhân dân Cây lương thực tiếp theo đó là ngô, và các loại hoa màu là khoai lang, sắn, lạc diện tích cũng giảm dần theo từng năm Chứng tỏ Phú Lương vẫn đang độc canh cây lúa, chuyển dịch cơ cấu cây trồng rất chậm điều đó ảnh hưởng lớn đến thu nhập của người dân

Cây chè được coi là cây XĐGN của huyện Phú lương có điều kiện đất đai, thời tiết, thổ nhưỡng phù hợp cho phát triển cây chè Diện tích đất trồng chè của huyện năm 2010 đã được tăng lên 97 ha so với năm 2008, năng suất chè tăng lên 3,12 tạ/ha Mặc dù không đáng kể nhưng đối với người dân nó đã mang lại một nguồn thu nhập lớn cho gia đình góp phần XĐGN cho địa phương

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

57

- Tình hình phát triển ngành chăn nuôi

Trâu là gia súc được nuôi chủ yếu để lấy sức cày, kéo cho nông dân Hơn nữa

đối với người Dao chúng còn là vật phẩm cho các nghi lễ và thực phẩm hàng

ngày Số trâu trong huyện có xu hướng giảm dần, năm 2009 số lượng trâu giảm

mạnh, giảm 550 con so với năm 2008, là do dịch bệnh và rét đậm rét hại; năm

2010 cũng giảm nhưng không nhiều chỉ 26 con, do một số gia đình ở vùng núi

thấp họ có điều kiện kinh tế khá giả nên thay việc nuôi trâu để lấy sức cày kéo

họ sử dụng máy cày nhỏ và một số gia đình nuôi ngựa lấy sức kéo

Bảng 2.9 Số lượng gia súc, gia cầm của huyện giai đoạn 2008-2010

(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Phú Lương,2008-2010)

Mặt khác, do thực hiện các chương trình dự án giao đất giao rừng đến từng

hộ, việc nuôi trâu gặp khó khăn về thiếu bãi chăn thả, khi chăn thả trâu thì phải

có người trông nom

Tổng số bò cũng có xu hướng giảm nhưng biến động không đáng kể Việc

chăn nuôi lợn, gà được người dân chú trọng hơn nhưng vẫn chưa thoát khỏi

cung cách chăn nuôi truyền thống

Tổng số lợn tăng mạnh từ 50.511 con năm 2008 lên tới 53.947 con năm

2010 Hầu như tất cả các gia đình đều nuôi lợn, ít nhất 1 con, trung bình 3-5 con

Tổng số gia cầm tăng mạnh, năm 2010 tăng 42.469 con so với năm 2008,

chủ yếu là gà thả vườn Nó vừa cung cấp nguồn thực phẩm hằng ngày, vừa

mang lại nguồn thu nhập thêm cho gia đình Tuy nhiên việc quy mô các loại gia

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

58 súc, gia cầm còn nhỏ lẻ, manh tính tự cấp tự túc, chưa có điều kiện phát triển đa dạng các loại hình trang trại như các huyện khác Bên cạnh đó, việc đóng góp của chăn nuôi gia súc cho phát triển kinh tế chưa nhiều, chỉ bó hẹp trong phạm

vi gia đình nên chăn nuôi chưa được người dân chú ý phát triển đúng mức

- Tình hình phát triển ngành lâm nghiệp

Tính đến năm 2010, diện tích đất lâm nghiệp của huyện có 17.743,57 ha Diện tích rừng trồng tăng, năm 2008 là 13.253,15 ha đến năm 2010 đã đạt 13.542,25 ha Tuy nhiên thu nhập từ rừng của người dân không đáng kể Việc khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ từ rừng như măng, mộc nhĩ, nấm hương, lá dong…để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày, chưa trở thành hàng hóa

để giúp họ phát triển kinh tế gia đình

- Tình hình phát triển ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ

Năm 2010 trên địa bàn huyện có 6 doanh nghiệp và 140 cơ sở chuyên chế biến, sơ chế lâm sản Ngành khai thác cũng khá phát triển, toàn huyện có 25 cơ

sở công nghiệp khai thác, gồm 7 cơ sở khai thác than, 18 cơ sở khai thác đá, sỏi

và mỏ khác Ngành công nghiệp chế biến rất phát triển, với 1.034 cơ sở chế biến, trong đó có tới 351 cơ sở SX sản phẩm khoáng phi kim loại, 232 cơ sở SX thực phẩm và đồ uống, 107 cơ sở SX trang phục [7],[8],[38]

* Tình hình buôn bán và trao đổi hàng hóa

Toàn huyện có 16/16 xã, thị trấn là có chợ ổn định, tuy nhiên 1 số xã vùng sâu có hệ thống chợ với quy mô nhỏ và đơn giản Hàng hóa trao đổi ở chợ chủ yếu là nông sản phẩm (gạo, ngô, khoai, thịt lợn, gà ), một số tư liệu SX và tư liệu sinh hoạt với quy mô tương đối Chất lượng dịch vụ khá hơn trước, phần nào phát huy tốt vai trò cung ứng giống cây trồng, phòng chống dịch bệnh thực vật và gia súc, gia cầm, chuyển giao tiến bộ KHKT Tuy nhiên vẫn chưa cao, đây cũng là yếu tố cản trở sự gặp gỡ giữa người SX và người tiêu dùng và sự lưu thông hàng hóa

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Người Dao ở Thái Nguyên thuộc 3 nhóm địa phương: Dao Đỏ, Dao Quần

Chẹt, Dao Lô Gang Dao Quần Chẹt chủ yếu tập trung ở huyện Đại Từ, Dao Đỏ

cư trú phân tán ở huyện Phú Lương và Đồng Hỷ, Dao Lô Gang tập trung ở

huyện Võ Nhai Ngoài ra người Dao còn cư trú rải rác ở định Hoá, Phổ

yên…Tuy thuộc ba nhóm khác nhau nhưng đều gọi là Dao Đại Bản (Tầm Mã

Miền) [31], [38] Vì thế sự thống nhất trong văn hoá cổ truyền của họ là rất lớn,

các khác biệt mang tính địa phương là tương đối ít

* Dân số, phân bố dân cư

Dân số người Dao ở Thái Nguyên năm 2010, có 25.360 người (chiếm

3,51% số người Dao cả nước), chiếm 8,05% dân số toàn tỉnh và đứng hàng thứ 6

trong các dân tộc của Thái Nguyên Đồng bào Dao phân bố tất cả các huyện, thị

xã và thành phố của Thái Nguyên Đông nhất là Võ Nhai (36,4%), tiếp đến là

Tính đến năm 2010 toàn huyện có 2.675 người Dao, với 51,85% là nam

và nữ là 48,15% Trong 3 năm dân số Dao không có biến động nhiều, nhìn chung ổn định, tỷ lệ nữ giới thấp hơn so với nam giới Người Dao ở 3 xã nghiên cứu là 2.369 người, trong đó xã Yên Ninh 1.070 người, Yên Đổ 888 người và xã Động Đạt là 411 người (Chủ yếu ở xóm Cộng Hòa)

Bảng 2.10 Dân số người Dao của huyện Phú Lương giai đoạn 2008-2010

Số lượng (người)

% trong tổng dân

số

Trong đó chia ra

Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Uỷ ban dân tộc miền núi,2008-2010)

Người Dao sinh sống theo kiểu tiểu gia đình phụ quyền, mỗi hộ có khoảng 3-4 người (trung bình là 3,95 người/hộ), gồm 1 cặp vợ chồng cùng với các con chưa xây dựng gia đình và có thể có cả ông bà, không có sự chêch lệch đáng kể giữa các nhóm hộ

Điều bất cập hiện nay là trình độ học vấn của người Dao ở Phú Lương vẫn còn thấp, cho đến năm 2010 vẫn còn 21 người thuộc hộ giàu-khá; 29 người

hộ trung bình; 72 người hộ nghèo không biết viết và 15 người thuộc hộ khá; 27 người hộ trung bình; 62 người hộ nghèo không biết đọc; đặc biệt còn tới

giàu-19 người thuộc hộ trung bình; 51 người thuộc hộ nghèo không biết nói tiếng việt Như vậy trình độ học vấn của người dân phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế của gia đình, gia đình càng nghèo tỷ lệ mù chữ càng cao Hầu như các

Chỉ tiêu Năm

Ngày đăng: 15/10/2016, 20:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội qua các kỳ bầu cử - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.3 Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội qua các kỳ bầu cử (Trang 11)
Bảng 1.2: Chuẩn mực xác định nghèo giai đoạn 2006-2010 có điều chỉnh - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.2 Chuẩn mực xác định nghèo giai đoạn 2006-2010 có điều chỉnh (Trang 11)
Bảng 1.5. Tỷ lệ lao động nữ của Việt Nam trong một số ngành - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.5. Tỷ lệ lao động nữ của Việt Nam trong một số ngành (Trang 17)
Bảng 1.10. Kết quả lựa chọn nhóm hộ điều tra - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.10. Kết quả lựa chọn nhóm hộ điều tra (Trang 23)
Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Phú Lương - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Phú Lương (Trang 26)
Bảng 2.2. Tình hình dân số và lao động huyện Phú Lương - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.2. Tình hình dân số và lao động huyện Phú Lương (Trang 27)
Hình 2.2. Cơ cấu thành phần dân tộc huyện Phú Lương năm 2010 - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Hình 2.2. Cơ cấu thành phần dân tộc huyện Phú Lương năm 2010 (Trang 28)
Bảng 2.3: Dân số huyện Phú Lương năm 2010 chia theo dân tộc, giới tính - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.3 Dân số huyện Phú Lương năm 2010 chia theo dân tộc, giới tính (Trang 28)
Bảng 2.8. Tình hình phát triển một số cây trồng chính của huyện Phú - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.8. Tình hình phát triển một số cây trồng chính của huyện Phú (Trang 31)
Bảng 2.14: Số lƣợng phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia trong các cấp chính - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.14 Số lƣợng phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia trong các cấp chính (Trang 37)
Bảng 2.16. Đóng góp của phụ nữ dân tộc Dao trong sản xuất nông nghiệp - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.16. Đóng góp của phụ nữ dân tộc Dao trong sản xuất nông nghiệp (Trang 40)
Bảng 2.18. Đóng góp của phụ nữ dân tộc Dao trong sản xuất lâm nghiệp - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.18. Đóng góp của phụ nữ dân tộc Dao trong sản xuất lâm nghiệp (Trang 42)
Bảng 2.21. Tình hình tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông lâm - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.21. Tình hình tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông lâm (Trang 44)
Hình 2.3: Học vấn của phụ nữ Dao với chất lƣợng chăm sóc con cái và vệ - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Hình 2.3 Học vấn của phụ nữ Dao với chất lƣợng chăm sóc con cái và vệ (Trang 47)
Hình 2.4: Thời gian lao động sản xuất trong ngày của nam và nữ - Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Hình 2.4 Thời gian lao động sản xuất trong ngày của nam và nữ (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w