1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ PHÁT TRIỂN làn NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa ở VÙNG VEN THỦ đô hà nội

173 376 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 8,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nội dung trọng tâm của CNH nông nghiệp, nông thôn là khôi phục, phát triển làng nghề truyền thống (LNTT), vì nó tạo ra nhiều việc làm, thu hút lao động dôi dư trong nông nghiệp vào các hoạt động dịch vụ và SX phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của nông dân. Nhờ đó tránh được luồng di dân ồ ạt từ nông thôn vào thành phố, góp phần thực hiện chiến lược kinh tế mở, đẩy mạnh SX hàng xuất khẩu. Đây là nhiệm vụ không chỉ có ý nghĩa kinh tế, mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội to lớn trong sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) nôngnghiệp và kinh tế nông thôn có tầm quan trọng hàng đầu trong chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Bởi vì, nông nghiệp, nông dân và nôngthôn là vấn đề có ý nghĩa cốt tử của cách mạng Xã hội chủ nghĩa ở mộtnước đi lên từ một nền nông nghiệp kém phát triển Để đưa nông nghiệpthóat khỏi tình trạng thuần nông, tự cấp, tự túc, phát triển thành nền nôngnghiệp sản xuất (SX) hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôntheo hướng CNH, HĐH, đồng thời đặt nó vào vị trí trọng yếu trong côngcuộc xây dựng, phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay

Một trong những nội dung trọng tâm của CNH nông nghiệp, nôngthôn là khôi phục, phát triển làng nghề truyền thống (LNTT), vì nó tạo ranhiều việc làm, thu hút lao động dôi dư trong nông nghiệp vào các hoạtđộng dịch vụ và SX phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn nhằm nâng caothu nhập và cải thiện đời sống của nông dân Nhờ đó tránh được luồng didân ồ ạt từ nông thôn vào thành phố, góp phần thực hiện chiến lược kinh tế

mở, đẩy mạnh SX hàng xuất khẩu Đây là nhiệm vụ không chỉ có ý nghĩakinh tế, mà còn có ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn trong sự nghiệp pháttriển đất nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa

Vùng ven Thủ đô Hà Nội bao gồm các huyện ngoại thành và cáctỉnh Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên có mật độ dân số lao động trong nôngthôn vào loại cao nhất của cả nước và cũng là loại cao của thế giới Trongkhi đó ruộng đất bình quân đầu người và năng suất lao động lại thấp, sảnlượng không ổn định Do đó vấn đề việc làm và đời sống đặt ra gay gắt.Hơn nữa khi SX nông nghiệp phát triển dựa trên cơ sở ứng dụng khoa họccông nghệ tiên tiến làm cho năng suất ruộng đất và năng suất vật nuôi cây

Trang 2

trồng đều tăng cao thì điều đó vừa tạo điều kiện vừa đòi hỏi tất yếu phảiphát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) và dịch vụ ở nôngthôn, trong đó phát triển LNTT là một hướng cơ bản khả thi đối với vùngven thủ đô Hà Nội Đây là yêu cầu cấp thiết cần được nghiên cứu, luận giải

để vạch ra những căn cứ lý luận và thực tiễn xác đáng, những giải phápphát triển đúng đắn Chính vì vậy, mà vấn đề phát triển LNTT trong quátrình CNH, HĐH ở vùng ven thủ đô Hà Nội được tác giả chọn làm đề tàinghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Phát triển LNTT đã được các nhà khoa học kinh tế nghiên cứu trênnhiều phương diện và đã đạt được những kết quả nhất định Đó là nhữngcông trình của GS, TS Nguyễn Đình Phan; PGS, TS Hoàng Kim Giao;PGS, TS Nguyễn Kế Tuấn; TS Phạm Viết Muôn; TS Dương Bá Phượng;

TS Trần Văn Luận; TS Nguyễn Ty Đồng thời còn có các kết quả của hộithảo Quốc tế về bảo tồn và phát triển LNTT Việt Nam - 8/1996, kỷ yếu đềtài khoa học cấp Bộ: về các giải pháp phát triển TTCN theo hướng CNH,HĐH ở vùng đồng bằng Sông Hồng do Viện Thông tin khoa học Học việnchính trị quốc gia Hồ chí Minh chủ trì; đặc biệt còn có một số luận án TS

đề cập tới các vấn đề gần với đề tài này như: "Phát triển tiểu thủ côngnghiệp trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở đô thị Việt Nam hiệnnay" của Nguyễn Hữu Lực; "Một số vấn đề cơ bản về sự phát triển TTCN ởnông thôn Hà Bắc" của Nguyễn Ty Song các công trình này chủ yếu mới

đề cập đến các vấn đề TTCN là chính, định hướng cơ bản ở tầm vĩ mô vàmột số chủ trương lớn để bảo tồn, phát triển LNTT nói chung mà chưa đisâu nghiên cứu một cách có hệ thống, để đưa ra những giải pháp khả thicho việc đẩy mạnh phát triển LNTT Luận án này sẽ tập trung nghiên cứumột cách có hệ thống vấn đề phát triển LNTT trong quá trình CNH, HĐH ởvùng ven thủ đô Hà Nội

Trang 3

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Mục đích nghiên cứu của Luận án là làm rõ vị trí, vai trò, tiềm năng

và thực trạng LNTT vùng ven thủ đô Hà Nội hiện nay Từ đó đề xuấtnhững phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy phát triển mạnh

mẽ các LNTT trong quá trình CNH, HĐH ở vùng ven thủ đô Hà Nội

Với mục đích đó, Luận án có các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu làm rõ phạm trù làng nghề truyền thống, đặc điểmhình thành và vị trí, vai trò của LNTT đối với sự phát triển kinh tế - xã hộivùng ven thủ đô Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử

- Phân tích đánh giá tiềm năng, thực trạng của việc phát triển LNTT

ở vùng ven thủ đô Hà Nội trong những năm đổi mới và những tồn tại cầnkhắc phục

- Luận giải, đề xuất những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằmthúc đẩy phát triển LNTT vùng ven thủ đô Hà Nội theo hướng CNH, HĐH

4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP    NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

- Đề tài này được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương phápluận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học kinh tế

và phép biện chứng duy vật, nhất là học thuyết về ba giai đoạn phát triểncủa Chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp, sự phát triển Chủ nghĩa tư bản ởNga, mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình CNH

- Ngoài ra đề tài còn vận dụng lý luận và phương pháp luận củakhoa học kinh tế Mác xít có liên quan như: Điều tra, khảo sát, thống kê,phân tích tổng hợp, lịch sử cụ thể để phân tích luận giải các nội dung đề

ra trong luận án

5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

- Góp phần làm rõ phạm trù LNTT, những căn cứ lý luận và thựctiễn xác đáng về vị trí, vai trò của LNTT vùng ven thủ đô Hà Nội trong quátrình CNH, HĐH

Trang 4

- Phân tích làm rõ những tiềm năng và yêu cầu của việc phát triểnLNTT ven thủ đô Hà Nội trong quá trình CNH, HĐH.

- Vạch rõ những phương hướng và giải pháp cơ bản, xác thực nhằmthúc đẩy phát triển mạnh mẽ LNTT ở vùng ven thủ đô Hà Nội

6 GIỚI HẠN CỦA LUẬN ÁN

- Về thời gian: Luận án tập trung phân tích kỹ thời kỳ đổi mới từ

1986 đến nay, nhất là phát triển LNTT trong bối cảnh đất nước bước vàothời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH

- Về địa bàn: Chủ yếu nghiên cứu, khảo sát vùng ngoại thành HàNội và các tỉnh ven thủ đô như: Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên

- Luận án chỉ nghiên cứu LNTT trên giác độ TTKN là chính, cònlàng văn hóa, làng du lịch, làng thương mại ít đề cập đến trong luận án

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 5

Chương 1

PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

LÀVẤN      ĐỀ    CÓ TẦM    CHIẾN    LƯỢC    CỦA    QUÁ TRÌNH

CÔNG NGHIỆP HÓA,    HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

1.1 LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở NÔNG THÔN VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NÓ

1.1.1 Khái niệm về làng nghề truyền thống và ngành nghề truyền thống

Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đều chothấy, làng xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong SX, cũng như đờisống dân cư ở nông thôn Qua thử thách của những biến động thăng trầm,những lệ làng, phép nước và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duytrì, phát triển đến ngày nay

Thật vậy, làng xã Việt Nam được phát triển rất lâu đời, nó thườngđược gắn chặt với nông nghiệp và kinh tế nông thôn Theo các nhà nghiêncứu sử học: Làng xã Việt Nam xuất hiện từ thời Vua Hùng dựng nước;những xóm làng định canh đã hình thành, dựa trên cơ sở những công xãnông thôn Mỗi công xã gồm một số gia đình sống quây quần trong mộtkhu vực địa giới nhất định Đồng thời, làng là quê hương gắn bó các thànhviên với nhau bằng khế ước sinh hoạt cộng đồng, tâm thức tín ngưỡng, lễ hội,tập tục, luật lệ riêng nhằm liên kết với nhau trong quá trình SX và đời sống

Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làmnông nghiệp, càng về sau có những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác,

họ liên kết chặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một

số tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành các phường hội: Phường gốm,Phường đúc đồng, Phường dệt vải Từ đó các nghề được lan truyền vàphát triển thành làng nghề Bên cạnh những người chuyên làm nghề, thì đa

Trang 6

phần vừa SX nông nghiệp, vừa làm nghề (nghề phụ) Nhưng do nhu cầutrao đổi hàng hóa, các nghề mang tính cách chuyên môn sâu hơn và thườngđược giới hạn trong quy mô nhỏ (làng) dần dần tách khỏi nông nghiệp đểchuyển hẳn sang nghề thủ công Càng về sau xu thế người lao động táchkhỏi đồng ruộng, chuyển sang làm nghề thủ công và sống bằng chính nghề

đó ngày một tăng Những làng nghề phát triển mạnh, số hộ, số lao độnglàm nghề truyền thống tăng nhanh và sống bằng nghề đó ngày càng nhiều

Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyềnthống và các sản phẩm mang nặng dấu ấn tinh hoa của nền văn hóa, vănminh dân tộc Quá trình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển củaTTCN ở nông thôn Lúc đầu sự phát triển đó từ một vài gia đình, rồi đến cả

họ và sau đó lan ra cả làng Thông qua lệ làng mà làng nghề định ra nhữngquy ước như: Không truyền nghề cho người làng khác, không truyền nghềcho con gái, hoặc uống rượu ăn thề không để lộ bí quyết nghề nghiệp Trảiqua một thời gian dài của lịch sử, lúc thịnh, lúc suy, có những nghề đượclưu giữ, có những nghề bị mai một hoặc mất hẳn và có những nghề mới rađời Trong đó có những nghề đạt tới trình độ công nghệ tinh xảo với kỹthuật điêu luyện và phân công lao động khá cao

Các quan niệm về làng nghề, LNTT trình bày dưới đây được tổnghợp từ các nguồn tài liệu: [17]; [45]; [51]; [70] và [81]

Một là: quan niệm về làng nghề

Quan niệm thứ nhất: làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong

làng đều hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu Nhưngvới quan niệm như vậy thì làng nghề đó hiện nay không còn nhiều Ví dụnhư nghề gốm chỉ có ở Phù Lãng (Bắc Ninh), Bát Tràng (Hà Nội) Đó lànhững làng thuần nhất không làm ruộng, còn đa số vừa làm ruộng vừa làmnghề Ở đây thủ công nghiệp đối với họ chỉ là nghề phụ để tăng thu nhập

mà thôi Thậm chí ở Bát Tràng chuyên nghề gốm, nhưng không phải tất cả

Trang 7

dân làng đều làm nghề này; số người làm nghề gốm cũng chỉ chiếm 50%dân số, còn 50% dân số thì làm các nghề khác như buôn bán, làm nề , làmmộc, may vá

Quan    niệm thứ hai: làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ

công, ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều SX hàng thủ công Ngườithợ thủ công, nhiều khi cũng là người làm nghề nông Nhưng do yêu cầuchuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên SX hàng thủ côngtruyền thống ngay tại làng nghề hay phố nghề ở nơi khác Quan niệm vềlàng nghề như vậy chưa đủ, điều đó nói lên rằng không phải bất cứ làngnào có vài ba lò rèn hay dăm ba gia đình làm nghề mộc, nghề khảm đều

là làng nghề Để xác định làng đó có phải là làng nghề hay không, cần xemxét tỷ trọng lao động hay số hộ làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ ởlàng hay tỷ trọng thu nhập từ ngành nghề so với tổng thu nhập của thôn(làng)

Quan niệm thứ ba: làng nghề là trung tâm SX thủ công, nơi quy tụ

các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâuđời, có sự liên kết hỗ trợ trong SX, bán sản phẩm theo kiểu phường hội,kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, và có cùng tổ nghề Song ở đâychưa phản ánh đầy đủ tính chất của làng nghề; nó là một thực thể sản xuấtkinh doanh tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử là một đơn vị kinh tếTTCN có tác dụng to lớn đối với đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội mộtcách tích cực

Từ cách tiếp cận trên chúng ta có thể thấy khái niệm về làng nghềliên quan đến các nghề thủ công cụ thể Tên gọi của làng nghề gắn liền vớitên gọi của các nghề thủ công như nghề gốm sứ, đúc đồng, khảm trai, kimhoàn, dệt vải, dệt tơ lụa Trước đây khái niệm làng nghề chỉ bao hàm cácnghề thủ công nghiệp Ngày nay, khi mà trên thế giới khu vực kinh tế thứ

ba đang đóng vai trò quan trọng và trở thành lĩnh vực chiếm ưu thế về mặt

Trang 8

tỷ trọng, thì các nghề buôn bán dịch vụ trong nông thôn cũng được xếp vàocác làng nghề Như vậy, trong làng nghề sẽ có loại làng một nghề và làngnhiều nghề, tùy theo số lượng ngành nghề thủ công nghiệp và dịch vụchiếm tỷ lệ ưu thế có trong làng Làng một nghề là làng duy nhất có mộtnghề xuất hiện và tồn tại, hoặc có một nghề chiếm ưu thế tuyệt đối, cácnghề khác chỉ có lác đác ở một vài hộ không đáng kể Làng nhiều nghề làlàng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề có tỷ trọng các nghề chiếm ưu thế gầnnhư tương đương nhau Trong nông thôn Việt Nam trước đây loại làng mộtnghề xuất hiện và tồn tại chủ yếu, loại làng nhiều nghề gần đây mới xuấthiện và có xu hướng phát triển mạnh.

Vậy làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng)

có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để SX kinh doanh độc lập Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng.

Hai là, quan niệm về làng nghề truyền thống

Quan niệm thứ nhất: LNTT là một cộng đồng dân cư, được cư trú

giới hạn trong một địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi SX nôngnghiệp, cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời, để

SX ra một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi Quanniệm này mới thể hiện được yếu tố truyền thống lâu đời của làng nghề, cònnhững làng nghề mới, nhưng tuân thủ yếu tố truyền thống của vùng hay củakhu vực chưa được đề cập đến

Quan niệm thứ hai: LNTT là những làng nghề làm nghề thủ công

có truyền thống lâu năm, thường là qua    nhiều thế hệ Quan niệm nàycũng chưa đầy đủ Bởi vì khi nói đến LNTT ta không thể chú ý đến cácmặt đơn lẻ, mà phải chú trọng đến nhiều mặt trong cả không gian và thờigian, nghĩa là quan tâm đến tính hệ thống, toàn diện của làng nghề đó,

Trang 9

trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật SX, và thủpháp nghệ thuật.

Quan niệm thứ ba: LNTT là những làng có tuyệt đại bộ phận dân số

làm nghề cổ truyền Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời tronglịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền connối hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm Trong làng SX mang tính tậptrung, có nhiều nghệ nhân tài hoa và một nhóm người có tay nghề giỏi làmhạt nhân để phát triển nghề Đồng thời sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểuđộc đáo, tinh xảo, nổi tiếng và đậm nét văn hóa dân tộc Thu nhập từ nghềchiếm tỷ trọng 60% trở lên trong tổng thu nhập của gia đình và giá trị sảnlượng của nghề chiếm trên 50% giá trị của địa phương (thôn, làng)

Có lẽ theo chúng tôi đây là một quan niệm tương đối đầy đủ Bởi lẽnhững làng nghề được gọi là LNTT hay cổ truyền phải là những làng nghề

có các nghề thủ công truyền thống Chúng đã được hình thành, tồn tại vàphát triển lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác, SX tập trung, cónhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề, sản phẩm mangtính tiêu biểu và độc đáo

Quan niệm về LNTT còn có nhiều cách hiểu khác nhau Nhưng đểlàm rõ khái niệm về LNTT cần có những tiêu thức sau:

- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ50% trở lên so với tổng số hộ và lao động của làng

- Giá trị SX và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên50% tổng giá trị SX và thu nhập của làng trong năm

- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hóa vàbản sắc dân tộc Việt Nam

- Sản xuất có qui trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệnày đến thế hệ khác

Trang 10

Để xác định có phải là LNTT hay không, cần xem xét tỷ trọng hay

số hộ làm nghề so với toàn bộ lao động hay hộ ở làng và tỷ trọng thu nhập

từ ngành nghề so với tổng thu nhập của làng Bởi vì xu thế số người laođộng từ các LNTT không làm nông nghiệp mà chuyển hẳn sang làm nghềthủ công và sống bằng chính nghề đó ngày một nhiều, ít nhất cũng phảichiếm 40-50% số hộ hay số lao động trong làng Lúc này trong làng vừa cóngười sản xuất nông nghiệp, vừa có số lượng người không nhỏ làm nghềthủ công truyền thống Một số sản phẩm làm ra như điêu khắc, chạm trổ đều phải sử dụng những đôi bàn tay khéo léo tài hoa của người thợ lànhnghề và các nghệ nhân điêu luyện Những sản phẩm này thường mang tính

mỹ thuật rất cao, nó thể hiện tâm hồn, cốt cách sáng tạo của người nghệnhân và nét văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam Quy trình SX vừa tuânthủ yếu tố truyền thống vừa kết hợp với yếu tố hiện đại

Từ cách tiếp cận và nghiên cứu trên có thể định nghĩa: LNTT là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để SX kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này qua đời khác thường là nhiều thế hệ Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành hàng hóa trên thị trường."

Ba là, quan niệm về ngành nghề truyền thống

Về phạm trù ngành nghề truyền thống, hiện nay đang là vấn đềtranh luận sôi nổi và có rất nhiều tên gọi khác nhau: Nghề truyền thống,nghề cổ truyền, nghề phụ, nghề TTCN Hơn nữa trong những năm gầnđây các danh mục thống kê đã xếp nghành nghề thủ công truyền thốngthuộc về phạm trù "khối SX ngoài quốc doanh"

Trang 11

Thuật ngữ "công nghiệp ngoài quốc doanh" chính thức bắt đầu sửdụng rộng rãi từ khi ban hành Nghị quyết 16 của Bộ chính trị ngày17/8/1988 về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở SXthuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Phạm trù ngoài quốc doanhtrước kia được hiểu là những hợp tác xã (HTX) tiểu thủ công nghiệp, xâydựng và vận tải Nhưng ngày nay ngoài các HTX, còn có các hộ SX cáthể, tiểu chủ, những doanh nghiệp tư nhân SX và kinh doanh các ngànhnghề TTCN thủ công cổ truyền, các ngành nghề mới xuất hiện.

Dân tộc ta có nhiều nghề thủ công truyền thống lâu đời và nổi tiếng,gắn liền với quá trình hình thành, phát triển nền văn hóa văn minh ViệtNam Quá trình phát triển ấy đã hình thành và mở mang hoạt động SX kinhdoanh các ngành nghề TTCN, ngành nghề truyền thống nhằm đáp ứngnhu cầu đa dạng, phong phú của đời sống dân sinh Thông thường hoạtđộng ngành    nghề bắt đầu phát sinh từ một số gia đình, dần dần mở rộng ranhiều gia đình và phát triển thành làng nghề

Đối với những ngành nghề được xếp vào ngành nghề thủ côngtruyền thống nhất thiết phải có các yếu tố sau:

- Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta

- SX tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề

- Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề đông đảo

- Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam

- Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước là chủ yếu

- Sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo của Việt Nam, cógiá trị và chất lượng cao, vừa là hàng hóa, vừa là sản phẩm văn hóa, nghệthuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc, mangbản sắc văn hóa Việt Nam

Trang 12

- Là nghề nghiệp nuôi sống bộ phận dân cư của cộng đồng, đónggóp đáng kể vào ngân sách của Nhà nước [81-2].   

Nghề thủ công suy cho cùng là nghề chủ yếu SX bằng tay, côngnghệ truyền thống, với con mắt và bộ óc giàu sáng tạo của nghệ nhân.Hiện nay ở nông thôn nước ta có khoảng hơn 100 nghề thủ công truyềnthống và được truyền từ đời này qua đời khác, vượt qua thử thách củathời gian để SX ra những mặt hàng có giá trị mang tính nghệ thuật, tínhthẩm mỹ cao

Từ những quan niệm như vậy ta có thể hiểu rằng: Ngành nghề truyền thống là những ngành nghề TTCN đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế của nước ta, còn tồn tại đến ngày nay, bao gồm cả ngành nghề mà phương pháp SX được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ cho SX, nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống.

Do sự phát triển của khoa học công nghệ nên nhiều sản phẩm mới

ra đời, có ưu thế hơn những sản phẩm truyền thống Vì thế mà xu thế củamột số ngành nghề truyền thống dần dần bị mất đi và một số ngành nghềmới xuất hiện để phù hợp với sự đòi hỏi khách quan của thị trường về cơcấu, chất lượng và chủng loại sản phẩm

Ngành nghề truyền thống ở nước ta có nhiều chủng loại Để thuậntiện cho việc nghiên cứu và phân tích , có thể phân chia ngành nghề truyềnthống ở nông thôn thành 3 nhóm ngành chính:

Nhóm 1 : Nhóm chế biến nông, lâm , thủy sản.

Nhóm 2 : Nhóm công nghiệp, thủ công nghiệp, và xây dựng Nhóm 3: Nhóm dịch vụ [ 50- 2 ].     

Trang 13

Hiện nay, nhóm công nghiệp, thủ công nghiệp và xây dựng, nhómdịch vụ đang có xu hướng tăng lên (xem hình 1).

Hình 1: Tỷ lệ ngành nghề nông thôn Việt Nam năm 1997

1.1.2 Lịch sử hình thành các LNTT     

LNTT Việt Nam từng tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, nó

đã thực sự góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc Truyền thống vănhóa ấy, đang là niềm tự hào của dân tộc ta qua các thế hệ nối tiếp nhau

mà đến ngày nay vẫn còn nguyên gía trị Đó là những thành tựu văn hóa,khoa học kỹ thuật với các sản phẩm, công cụ, kinh nghiệm SX còn lưutruyền cho đến ngày nay Đây chính là nền tảng và động lực cũng nhưmục tiêu phát triển bền vững, lâu dài của LNTT nước ta        

- Thời Phùng Nguyên: khoảng thiên niên kỷ thứ III trước Côngnguyên, người Việt cổ đã phát minh và sáng chế ra hầu hết các kỹ thuậtchế tác đá, SX gốm mà đến ngày nay vẫn được sử dụng rộng rãi như:Khoan, mài đá, đặc biệt là kỹ thuật khoan đồng tâm từ hai phía và kỹthuật đánh bóng đồ trang sức bằng đá

-Thời Đông Sơn: từ gần 3.000 năm đến 258 trước Công nguyên,người Việt Đông Sơn dường như đã nắm vững đặc tính, công dụng của

17.62%

32.50%

49.88%

Trang 14

hầu hết các loại hợp kim chủ yếu thời cổ đại, đã phát minh ra công thứcđồng thau, đồng thanh Trống đồng Đông Sơn, một trong những sản phẩmđộc đáo của nghề đúc đồng đương thời Lúc bấy giờ nông nghiệp thờiĐông Sơn khá phát triển, nó đã tạo điều kiện cho nghề thủ công được mởrộng Ngược lại nghề thủ công phát triển đã tác động vào nông nghiệp bằngcác công cụ SX có hiệu quả.

- Thời kỳ Bắc thuộc: đây là thời kỳ nhân dân ta đấu tranh bền bỉ,quyết liệt chống lại bọn xâm lược phong kiến phương Bắc giành lại nềnđộc lập dân tộc về chính trị, kinh tế và văn hóa

Do chính sách đồng hóa triệt để của quân xâm lược phong kiếnphương Bắc, các dấu tích lịch sử về nghề thủ công và lịch sử văn hóa dântộc, nói chung còn lại đến ngày nay rất mờ nhạt

Tuy bị cấm đoán, song một số yếu tố kỹ thuật vẫn tiếp tục vươn lên

và kinh nghiệm SX của người Hán vẫn dược du nhập vào Việt Nam nhưnghề làm gốm, rèn sắt, đúc đồng, trồng dâu nuôi tằm, dệt vải vẫn được đẩymạnh Mặt khác để phục vụ cho nhu cầu    xây dựng thành luỹ, dinh thự,lăng mộ và để phục vụ cho bọn quan lại nhà Hán, hàng loạt thợ thủ côngđược dồn đến công trường lớn làm nhiệm vụ SX vật liệu xây dựng, làm thợmộc, xây dựng lăng tẩm do đó hình thành nên đội ngũ thợ thủ công đôngđảo, có tay nghề cao

Do bị đô hộ suốt 1.000 năm của phong kiến phương Bắc, nghề thủcông Việt Nam không có điều kiện phát triển Mãi tới sau này khi NgôQuyền chiến thắng quân Nam Hán năm 938 trên sông Bạch Đằng, lập nênNhà nước mới, mở đầu cho thời kỳ độc lập tự chủ của nhân dân ta, nghềthủ công của Việt Nam mới dần dần được khôi phục và phát triển thật sự

- Thời kỳ độc lập tự chủ (thế kỷ XI - XIV) dưới triều đại nhà Lý(1010 - 1225) và nhà Trần (1225 - 1400) đất nước mới thực sự phục hưng.Đời sống kinh tế, xã hội phát triển rực rỡ nhất lúc bấy giờ Vì thế đã tạo

Trang 15

điều kiện hết sức thuận lợi cho các nghề thủ công truyền thống phát triển cả

về chất lượng và chủng loại Một số sản phẩm nổi tiếng, sống mãi cùng lịch

sử văn hóa văn minh của dân tộc Trong đó phải kể đến nghề gốm; kiếntrúc và xây dựng; chạm khắc gỗ và đá; sơn, giấy dó, dệt tơ lụa, đúc đồng,làm kim hoàn, đóng thuyền

- Thời hậu Lê và thời Mạc (thế kỷ XV - XVIII) làng nghề thủ côngtiếp tục ra đời và SX ổn định Trong các LNTT đã tập trung khá nhiều thợ

có tay nghề giỏi để SX ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêudùng của nhân dân Từ đây, những thợ thủ công ở các làng nghề ven thủ

đô Hà Nội tràn vào kinh thành Thăng Long, tạo nên phố nghề, phườngnghề Thăng Long được đổi tên thành Đông Đô và được chia lại thành 36phố phường để buôn bán SX hàng thủ công Chẳng hạn phường YênThái làm giấy dó, dệt lụa; phường Hàng Bạc chế tác đồ vàng bạc;phường Ngũ Xá đúc đồng; phường Hàng Khay làm đồ sơn và đồ mỹ nghệ;phường Hàng Trống bán dù, lọng nghi môn, trống các loại và SX tranh dângian [ 45 - 56]

-    Thời cận đại: (Từ 1858 trở về trước)

Đầu thế kỷ XIX, thủ công nghiệp và LNTT ở nông thôn tiếp tụcphát triển Nghề thủ công có vai trò hết sức quan trọng, thường được gắnvới tên làng tên xã của nông thôn Việt Nam như gốm Thổ Hà, gạch BátTràng, tranh dân gian Đông Hồ Với hàng trăm mặt hàng thủ công đặc sắccủa Việt Nam đã thể hiện rất rõ sự tài năng trí thông minh sáng tạo trong

kỹ thuật truyền thống của ông cha ta Nổi trội hơn cả là ngành dệt và SXgốm, phát triển mạnh mẽ nhất ở các tỉnh: Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây,Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Thanh Hóa, Đồng Nai Ngoài ra nghề

đồ gỗ, may mặc, kim hoàn, rèn, đúc đồng, khai thác mỏ cũng phát triển

và tập trung chủ yếu ở miền Bắc, đây là cái nôi của ngành nghề thủ côngtruyền thống Việt Nam Lúc này các làng nghề, các phố thợ thủ công có

Trang 16

xu thế phát triển theo hướng tách khỏi nông nghiệp để chuyên làm cácnghề thủ công và thu hút số người tham gia từ 80 - 90%, chỉ còn 10%dân số trong làng tham gia làm ruộng Ở các phố nghề đã hình thành nên

hộ tiểu chủ và dần dần hình thành các nhà tư sản dân tộc đầu thế kỷ XIX

Sự phát triển của LNTT thời kỳ này khá phong phú và đa dạng, thểhiện sự phân công lao động và chuyên môn hóa theo nghề ngày càng cao.Nhưng thể hiện rõ nhất là các phố - nghề ở đô thị có sự phân công lao độnghơn hẳn những làng chuyên nghề để trở thành hộ tiểu chủ, chủ bao muakiêm chủ tư bản.     

-    Thời Pháp thuộc(1958 -1945)

Thời kỳ chính quyền Pháp ở Đông Dương đóng vai trò chủ đạotrong việc SX hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam Lúc đầu hình như chúngkhông nâng đỡ gì đến kỹ thuật và công nghệ cho nghề thủ công truyềnthống của người bản xứ Nhưng chẳng bao lâu chúng đã nhận thức ranhững khả năng kinh tế to lớn do nghề thủ công đem lại Bởi vì, vốn bỏ ra

ít, nhưng lơị nhuận thu lại rất cao ,do tận dụng được nguồn nhân công rẻmạt và nguyên liệu dồi dào sẵn có ở địa phương Vì vậy, chúng đã tiếnhành điều tra, khảo sát, đầu tư phát triển các ngành thủ công của Việt Nam

- Từ ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc

Đi đôi với chủ trương đẩy mạnh phát triển SX nông nghiệp, phụchồi và xây dựng công nghiệp Đảng và Nhà nước ta đã đánh giá đúng vaitrò của LNTT trong tiến trình phát triển kinh tế của đất nước Vì vậy, đếnnăm 1960 các LNTT ở nông thôn thực sự được phục hưng, thực sự gópphần vào công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc Hàng thủ công mỹ nghệcủa Việt Nam có bước phát triển mới, được đưa đi giới thiệu ở nhiều nước

và hội chợ trên thế giới, nhiều nhất là Đông Âu và Liên Xô

Trong những năm đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc ác liệtcác ngành TTCN vẫn được phát triển, hàng thủ công Việt Nam được xuất

Trang 17

khẩu sang các nước và được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng Vàonhững năm    70, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã đạt tới đỉnh cao; cácLNTT, các đội chuyên ngành nghề được phát triển rộng khắp trên phạm vimiền Bắc Số lượng thợ thủ công tăng lên, đời sống người lao động đượccải thiện một bước đáng kể Quy mô trung bình của các HTX tiểu thủ côngnghiệp ở miền Bắc có hàng trăm xã viên, có nơi còn lên tới hàngnghìn,nhiều HTX được tập thể hóa hoàn toàn và phát triển thành xí nghiệpquốc doanh địa phương Năm 1975 toàn Miền Bắc có 4.000 đơn vị SX thủcông nghiệp tập trung với hơn 800.000 lao động, giá trị sản lượng TTCNtoàn quốc năm 1979 đạt 27.080,9 triệu đồng (giá cố định1970) chiếm31,4% sản lượng công nghiệp toàn quốc.

Song bước vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX đã xuất hiện và dầndần trở thành phổ biến thói làm ẩu, làm hàng kém chất lượng, khôngtheo quy trình công nghệ truyền thống, ít đổi mới mẫu mã cho phù hợpvới thị hiếu của người tiêu dùng Bởi vì, người có trình độ cao, có vốn,

có khả năng SX, nhưng bị gò ép vào HTX phải chịu sự điều hành kémhiệu quả    của ban quản trị Do đó một số làng nghề đã mất thị trườngtiêu thụ sản phẩm, thậm chí còn bị suy thóai, giảm sút nhiều mặt Năm

1991 số HTX chuyên TTCN chỉ còn 2.700 trên phạm vi cả nước, vùngđồng bằng Bắc bộ còn 437 Cộng vào đó là sự sụp đổ của CNXH ởĐông Âu    và Liên Xô càng làm cho LNTT mất thị trường Quốc tế.Trước tình hình khó khăn đó một số LNTT đã cải tiến kỹ thuật, mẫu

mã, chủng loại hàng hóa thích ứng với nền kinh tế thị trường như lànggốm Bát Tràng, chạm khắc gỗ Đồng Kỵ, dệt lụa Vạn Phúc còn rấtnhiều làng nghề có truyền thống hàng mấy trăm năm hoặc lâu hơn nữanhư gốm Thổ Hà, Hương Canh,    giấy dó Yên Sở và một số làng nghềkhác đến nay vẫn chưa phục hồi được

1.1.3 Đặc điểm của làng nghề truyền thống vùng ven thủ đô Hà Nội

Trang 18

LNTT vùng ven thủ đô Hà Nội có lịch sử lâu đời, phát triển đa dạng

và phong phú, được thể hiện ở một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, LNTT vùng ven thủ đô Hà Nội có sự phát triển đa dạng

về quy mô, về cơ cấu ngành nghề    và gắn chặt với sản xuất nông nghiệp.

Các LNTT ở ven thủ đô Hà Nội đều ra đời và tách    dần từ nôngnghiệp Ban đầu người lao động ở nông thôn do nhu cầu việc làm và thunhập đã làm nghề thủ công    bên cạnh làm ruộng, nghề chính là nghề làmruộng, nghề phụ là nghề thủ công Khi lực lượng SX đã phát triển thì thủcông nghiệp tách ra thành ngành độc lập, vươn lên thành ngành SX chính

ở một số làng; song để đảm bảo cuộc sống, người dân bao giờ cũng làmthêm nghề nông hay đi buôn bán và làm thêm nghề khác Sự kết hợp đanghề này thường được thể hiện trong một làng hay trong từng gia đình Sovới các vùng khác trong cả nước LNTT ở ven thủ đô Hà Nội có sự pháttriển lâu đời hơn, nhưng nó vẫn gắn chặt với nông nghiệp Bởi vì người thợthủ công vốn là người nông dân tách ra làm nghề thủ công Từ đó hàng loạtnghề thủ công truyền thống ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt củanông dân, nông nghiệp và thúc đẩy nhau cùng phát triển

Trong những năm qua LNTT vùng ven thủ đô Hà Nội có sự pháttriển đáng kể, nhất là từ 1992 trở lại đây Có những làng nghề đã phát triểnthành xã nghề và sản phẩm của nó đáp ứng được nhu cầu của thị trường Sựphát triển đó thể hiện rất rõ về cơ cấu ngành nghề, về trình độ công nghệ,

về quy mô

- Về cơ cấu ngành nghề trong vùng đã có sự thay đổi thích ứng với

cơ chế thị trường, một số ngành phát triển mạnh như SX vật liệu xây dựng,chế biến nông sản thực phẩm, cơ kim khí chẳng hạn ở Bắc Ninh, tỷ trọnggiá trị SX của một số ngành trong công nghiệp nông thôn (trong đó tỷ trọnglàng nghề chiếm trên 95%) thể hiện như sau:

Cơ khí      23,9%

Trang 19

- Về qui mô, đại bộ phận các cơ sở SX kinh doanh trong LNTT cóqui mô nhỏ Bình quân mỗi hộ gia đình có khoảng vài ba chục triệu đồng.

Do tính đặc thù của LNTT trong vùng là phát triển với nhiều loại quy mô

và mô hình SX Cho nên các đơn vị SX với quy mô, hình thức tổ chức cũngmang đậm sắc thái nông nghiệp, nông thôn như các hộ, tổ hợp tác, HTX Trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định ấy, các quy mô, hình thức

tổ chức SX của LNTT cũng mang dáng dấp về quy mô, hình thức của SXcông nghiệp đô thị hoặc các khu công nghiệp tập trung Đó là các công ty,các doanh nghiệp công nghiệp ở nông thôn Đặc biệt là trong những nămgần đây do nhu cầu của thị trường còn xuất hiện những nghề mới như chế

Trang 20

biến nông sản, thực phẩm, SX vật liệu xây dựng và xây dựng đã hìnhthành nên những công ty xây dựng như ở Nội Duệ (Tiên Du - Bắc Ninh).

- Về trình độ kỹ thuật và công nghệ, đã có sự đan xen kết hợp yếu

tố truyền thống với yếu tố hiện đại trên cơ sở tận dụng tiềm năng và lợi thếlao động của mỗi địa phương, đồng thời kết hợp tay nghề cao với công cụ

cơ giới hóa, hiện đại hóa và áp dụng công nghệ tiên tiến vào SX như thiết

bị chế biến lương thực, thực phẩm, công nghệ sinh học

Thứ hai, sản phẩm của các LNTT vùng ven thủ đô Hà Nội phát triển đa dạng có tính tập trung cao.

Do nằm ở vùng ven đô và khu công nghiệp tập trung, sản phẩm củaLNTT thường nhạy bén với thị trường trong việc đổi mới mẫu mã, chấtlượng và có điều kiện thay đổi hướng SX một cách linh hoạt Nhờ bám sátthị trường, am hiểu thị hiếu nên các mặt hàng của LNTT được cải tiếnnhanh chóng và ngày càng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, sản phẩmcủa họ ngày càng chiếm ưu thế trên thị trường hàng thủ công nghiệp kể cảthị trường trong nước và thị trường Quốc tế Đây là nét nổi trội mang tínhđặc thù của vùng ven thủ đô Hà Nội Hiện nay các sản phẩm thuộc nhóm Iđược tiêu dùng rộng rãi trên phạm vi trong vùng và cả nước Đối với nhóm

II, đặc biệt là hàng thủ công mỹ nghệ có ưu thế hơn hẳn các vùng khác vềxuất khẩu, trong đó có xuất khẩu tại chỗ và xuất khẩu ra nước ngoài Bởi vìsản phẩm mang tính đơn chiếc có tính mỹ thuật cao Mỗi một sản phẩm làmột tác phẩm nghệ thuật, thể hiện rất rõ trên những bức chạm khảm bằngvàng bạc, thêu ren và những bộ gốm sứ cao cấp Hơn nữa các LNTTkhông chỉ đơn giản cung cấp tư liệu tiêu dùng, mà còn là nơi trao đổi tưliệu SX với nhau Khi trên thị trường xuất hiện nhu cầu mới về chủng loại,mẫu mã của hàng hóa nào đó các nhà SX trong làng nghề tự đánh giá tìnhhình và khả năng kinh doanh của mình, nếu thấy có thể thay đổi SX họ

Trang 21

thường nhạy bén thay đổi thiết bị, công nghệ và trực tiếp tổ chức việc SX

ra hàng hóa đó để thoả mãn nhu cầu của xã hội

LNTT trong vùng là một trong những yếu tố cấu thành cơ cấu kinh

tế nông thôn Nó là một bộ phận quan trọng của kinh tế nông thôn, haycông nghiệp nông thôn lấy cơ sở ban đầu là LNTT để phát triển TTCN.Những vùng nghề, làng nghề là đặc điểm nổi bật của công nghiệp vừa vànhỏ ở nông thôn Từ kết quả phát triển tích cực này đã tạo nên các cụmcông nghiệp nông thôn nổi tiếng trong vùng như: Đồng Kỵ, Đa Hội, PhongKhê    (Bắc Ninh) Dương Liễu, Vạn Phúc (Hà Tây), Trai Trang (Hưng Yên),Bát Tràng (Hà Nội) Đây là điều kiện hết sức quan trọng và thuận lợi choviệc phát triển công nghiệp nông thôn theo hướng CNH, HĐH Các cụm

SX tập trung đã hình thành nên sự phân công lao động rất chặt chẽ và trởthành vệ tinh cho công nghiệp đô thị

Thứ ba, lao động làm nghề truyền thống có sự phát triển tập trung

và thuận lợi hơn các vùng trong cả nước.

Lao động trong LNTT vùng ven thủ đô Hà Nội là những người cótrình độ kỹ thuật cao, tay nghề tinh xảo, khéo léo, có đầu óc thẩm mỹ vàđầy tính sáng tạo Bởi vì ở vùng ven thủ đô Hà Nội, các làng nghề tồn tạikhá lâu đời, hình thành nên những làng nghề thủ công truyền thống Chẳnghạn làng nghề gốm sứ Bát Tràng có bề dày lịch sử trên 500 năm, nghềkhảm trai Chuyên Mỹ (Hà Tây) có tương đối sớm vào thế kỷ XII, làng giấy

dó Dương Ổ (Bắc Ninh) có lịch sử trên 800 năm Đây là điều kiện hết sứcthuận lợi cho phát triển LNTT Những điều kiện đó là:

- Có lớp nghệ nhân đông đảo, có tay nghề giỏi được truyền từ thế hệnày đến thế hệ khác đã và đang làm nòng cốt truyền dạy những kinh nghiệm,

kỹ năng, kỹ xảo, những thói quen nghề nghiệp cho các nghệ thế hệ sau

- Ngoài những nghệ nhân tài ba, vùng ven Hà Nội là nơi tập trungnhiều thợ có tay nghề cao và có nhiều lợi thế về lao động

Trang 22

- Vùng ven thủ đô Hà Nội có trình độ dân trí và trình độ kỹ thuật giỏi,đặc biệt có nhiều kỹ thuật cổ truyền đến nay công nghiệp chưa thay thế được.

- Là nơi có vị trí thuận lợi về giao thông và thị trường tiêu thụ sảnphẩm; Vì vậy LNTT vùng ven đô có điều kiện phát triển hơn so với vùngđồng bằng sông Hồng và cả nước

Trước đây, lao động trong LNTT của vùng chủ yếu là thủ công;nhưng ngày nay, do có sự phát triển của khoa học - công nghệ, các làngnghề trong vùng đã ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào SX ngày càngnhiều, nhất là trong lĩnh vực SX gốm sứ, trong chế biến lương thực, thựcphẩm Nhưng tùy theo từng loại sản phẩm để đổi mới công nghệ, cónhững loại sản phẩm vẫn phải bảo đảm quy trình SX theo công nghệ truyềnthống để giữ gìn giá trị truyền thống của dân tộc

Mặt khác, vùng ven thủ đô Hà Nội là nơi giao lưu văn hóa với cảnước và người nước ngoài cho nên, lao động làm nghề truyền thống phải lànhững lao động có trình độ kỹ thuật cao, tay nghề giỏi mang tính mỹ thuậtđộc đáo, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và Quốc tế Từ đặcđiểm này, mà những năm gần đây, một số làng nghề đã hình thành trên cơ

sở lan toả của LNTT tạo thành xã nghề hoặc trên một vùng lãnh thổ Từ đóhình thành nên sự liên kết giữa các làng nghề với trung tâm đô thị, đểthường xuyên bổ sungvà bảo đảm những cân đối cân thiết cho các hoạtđộng của làng nghề

Thứ tư, về hình thức tổ chức SX kinh doanh của LNTT vùng ven thủ

đô Hà Nội.

Vùng ven thủ đô Hà Nội , bên cạnh nghề làm ruộng truyềnthống còn có những ngành nghề TTCN tồn tại lâu đời Thời kỳ mớihình thành, quy mô SX trong các LNTT chủ yếu là hộ gia đình huyếtthống gắn với các phường nghề, hội nghề như: phường gốm, phườngmộc, phường đúc đồng

Trang 23

Trong thời kỳ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp LNTT trong vùngđược thể hiện thành "Đội ngành nghề" của HTX như: đội gốm, đội mộc,đội nề, đội làm sơn mài, sơn khảm nơi đông thợ thủ công thì thành lậpHTX thủ công nghiệp Nhưng trong cơ chế cũ "Đội ngành nghề" hay "HTXthủ công nghiệp" hoạt động kém hiệu quả không tồn tại được nữa.

Từ khi bước vào cơ chế mới, quy mô SX trở về với mô hình truyềnthống là hộ gia đình, đồng thời xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân, công ty

cổ phần, các hình thức hợp tác và HTX kiểu mới Trên cơ sở các hình thức

sở hữu này, các doanh nghiệp, các HTX có bước phát triển và được phápluật thừa nhận Chính cơ chế mới đã tạo điều kiện thuận lợi để khuyếnkhích đa dạng hóa các hình thức tổ chức SX kinh doanh trong LNTT Tuynhiên trong những năm qua, số đông các LNTT hình thức SX kinh doanh

hộ gia đình vẫn còn chiếm ưu thế,có nơi lên tới 90%

Hiện nay, trong quá trình phát triển đi lên SX cơ giới hóa, kế thừa

và phát huy kinh nghiệm chuyển từ HTX thủ công nghiệp lên trình độ HTXtiểu công nghiệp, các hộ SX kinh doanh trong LNTT vẫn tiếp tục đẩymạnh, đẩy nhanh trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho SX như: làngdệt lụa Vạn Phúc (Hà Tây); làng rèn Đa Hội, làng mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ(Từ Sơn - Bắc Ninh); làng gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội) đặc biệt là nghềgốm sứ đã sử dụng một cách phổ biến máy nghiền đất, đá, máy phun men,

lò điện và bắt đầu dùng lò gaz vào quá trình SX Tuy nhiên trong quá trìnhvận động để phát triển, các hộ gia đình sẽ xảy ra nhiều vấn đề bất cập như:quy mô SX không được mở rộng, không có điều kiện để đầu tư lớn cho SX

Thứ năm, LNTT vùng ven thủ đô Hà Nội là một sự kết tinh giá trị văn hóa văn minh lâu đời của dân tộc.

Từ xa xưa người nước ngoài hiểu Việt Nam, quan hệ mật thiết vớiViệt Nam, trước hết là từ yếu tố văn hóa Nói như vậy không có nghĩa là

Trang 24

chúng ta coi nhẹ các yếu tố khác Một đặc điểm nổi bật hiển nhiên là nhữnglàng thủ công mỹ nghệ trong các LNTT vùng ven thủ đô Hà Nội mang chấtvăn hóa dân tộc rất đậm đà và là những bảo vật vô giá Trống đồng NgọcLũ; tượng Phật nghìn tay, nghìn mắt; tranh sơn mài, sơn lụa; tranh dângian; khắc trên đá trên gốm Chúng đã chứng minh đời sống sinh hoạt, cảnhquan thiên nhiên và phong tục tập quán của dân tộc ta qua từng thời kỳ lịchsử.

Các phố cổ của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội như: Hàng Lược,Hàng Đào, Hàng Mắm, Hàng Khoai, Hàng Quạt, Hàng Da, Hàng Khay,Hàng Bạc, Hàng Trống, Hàng Sắt là nơi mà những người thợ thủ côngvùng ven thủ đô Hà Nội vào làm ăn sinh sống

Các sản phẩm thủ công truyền thống Việt Nam vừa phản ánh nhữngnét văn hóa chung của dân tộc vừa có những nét riêng của làng nghề Ngay

cả người Việt Nam sống ở nước ngoài khi nhớ về quê hương là nhớ ngayđến dấu ấn đậm nét của mỗi làng nghề với bao sản phẩm độc đáo Như vậyLNTT không chỉ là những đơn vị kinh tế, thực hiện mục tiêu SX hàng tiêudùng, và hàng xuất khẩu mà còn mang nét đặc sắc, biểu trưng của nền vănhóa dân tộc, văn hóa cộng đồng làng xã Việt Nam nói chung và vùng venthủ đô Hà Nội nói riêng luôn là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị và lànhững tài sản vô giá, bởi nó mang đậm nét văn hóa văn minh Việt Nam

1.1.4 Sự phát triển tất yếu của làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Một là, phát triển LNTT ở nông thôn gắn với sự hợp tác và phân công lao động xã hội

Trong quá trình phát triển tự nhiên của nền kinh tế, lúc đầu lựclượng SX chưa phát triển, SX công nghiệp, TTCN gắn bó chặt chẽ vớinông nghiệp là một; Khi đó người nông dân tự tạo ra công cụ lao động để

Trang 25

SX ra nông sản Lê nin chỉ ra rằng:"Công nghiệp gia đình là cái phụ thuộctất nhiên của kinh tế tự nhiên mà những tàn dư hầu như luôn luôn vẫn rơirớt lại ở những nơi nào có tiểu nông" và "Đứng về mặt là một nghề nghiệpthì công nghiệp vẫn chưa tồn tại dưới các hình thức đó, ở đây nghề thủcông với nông nghiệp chỉ là một mà thôi" [53, 411 - 412].

Khi lực lượng SX phát triển, dần dần sự phân công lao động xã hộiphát triển Lao động trong TTCN và thương nghiệp được tách ra khỏi nôngnghiệp Đó là quá trình phân công lao động xã hội lần thứ hai Từ đây hìnhthành dần nghề thủ công Thủ công nghiệp là giai đoạn phát triển thấp củacông nghiệp, mà trong đó quá trình lao động chủ yếu dựa vào lao độngchân tay, sử dụng các công cụ đơn giản, lúc đầu chỉ nhằm thoả mãn nhucầu của SX, tạo ra công cụ cho SX như: cày bừa, cuốc xẻng rồi thủ côngnghiệp tiến tới làm ra những sản phẩm tiêu dùng phục vụ cho toàn xã hội.Như vậy thủ công nghiệp ra đời trên cơ sở SX nông nghiệp, nó cho phépngười thợ thủ công ban đầu vốn là nông dân tách ra SX độc lập Thủcông nghiệp chính là nền công nghiệp thủ công Theo Ph.Angghen thìthủ công nghiệp chính là nền công nghiệp cổ xưa " Sự phát triển củacông nghiệp, thoạt đầu có tính chất thủ công, rồi sau đó biến thành côngtrường thủ công" [55 - 232]

Càng về sau, càng xuất hiện nghề thủ công độc lập, chuyên chế biếnnguyên liệu tạo ra những sản phẩm hàng hóa để trao đổi "Sự xuất hiện củamột nghề thủ công mới, đánh dấu một bước tiến trong phân công lao động

xã hội Một bước tiến như vậy là điều tất yếu phải có trong xã hội Tư bảnchủ nghĩa, chừng nào mà xã hội này còn ít nhiều duy trì nông dân và nềnnông nghiệp nửa tự nhiên và chừng nào mà những cơ cấu và truyền thốngcủa thời xưa còn ngăn cản đại công nghiệp cơ khí thay thế trực tiếp chocông nghiệp gia đình" [53 - 420]

Trang 26

Thủ công nghiệp phát triển dần lên thành những công nghiệp nhỏhay còn gọi là công nghiệp có quy mô nhỏ sử dụng công cụ cơ khí để chếbiến nguyên liệu làm ra các sản phẩm cho xã hội Khi nghiên cứu sự pháttriển công nghiệp ở nước Nga, Lênin đã vạch ra tính không chính xác củakhái niệm thủ công nghiệp: "Đó là một khái niệm hoàn toàn không thíchdụng cho việc nghiên cứu một cách khoa học, vì trong khái niệm đó người

ta thường bao gồm tất cả các hình thức công nghiệp, từ những nghề thủcông gia đình và nghề thủ công cho đến lao động làm thuê trong nhữngcông trường thủ công rất lớn" [53, 565 - 566]

Phân công lao động theo hướng hợp tác giản đơn không phù hợpnữa dần dần nhường chỗ cho sự phân công lao động trong công trường thủcông là một bước tiến của nền SX xã hội Nó cho phép sử dụng được laođộng nhiều hơn, việc tổ chức phân công và hợp tác lao động dược tiến hànhtốt hơn, hợp lý hơn, cho phép sử dụng các tiến bộ và công nghệ vào SXnhanh hơn Lênin viết: "Đặc điểm của tiểu SX hàng hóa là kỹ thuật thủcông hoàn toàn nguyên thủy, từ xưa đến nay kỹ thuật ấy vẫn không thayđổi Người làm nghề thủ công vẫn là người nông dân, họ chế biến nguyênliệu theo phương pháp truyền thống Công trường thủ công áp dụng lốiphân công lao động, do đó kỹ thuật được cải tiến, về căn bản nông dân biếnthành người thợ bạn, thành công nhân SX bộ phận" [53 - 685]

Như vậy quá trình phát triển TTCN ở nông thôn là quá trình pháttriển các LNTT Về thực chất các làng nghề là các làng SX thủ công nghiệpkết hợp với SX nông nghiệp và trên cơ sở nông nghiệp Sự phát triển đógắn liền với sự hợp tác và phân công lao động xã hội

Hai là, LNTT trong quá trình hình thành và phát triển nền đại công nghiệp cơ khí.

Trang 27

Máy móc và đại công nghiệp cơ khí đã có tác dụng chủ yếu làm chonăng suất lao động xã hội tăng vọt, xã hội hóa lao động và SX ngày càngcao Nó thúc đẩy sự ra đời của các trung tâm công nghiệp và những đô thịlớn, đồng thời tạo ra tiền đề vật chất kỹ thuật và xã hội cho một hình tháikinh tế - xã hội cao hơn.

Với sự xuất hiện của máy móc, kỹ thuật thay đổi căn bản - kỹ thuậtthủ công chuyển thành kỹ thuật cơ khí Sự xuất hiện này làm cho phâncông lao động xã hội tiếp tục phát triển, có thêm nhiều ngành nghề mới,mối quan hệ trao đổi ngày càng trở nên đa dạng phức tạp Sự phân công laođộng xã hội phát triển đến một mức nào đó thì mới tạo tiền đề cho SX bằngmáy móc ra đời Cuối giai đoạn phân công công trường thủ công, sự phâncông lao động đã có sự thay đổi về chất, nó là cơ sở cho SX đại côngnghiệp ra đời Cho nên SX bằng máy móc chỉ có thể ra đời trên cơ sở sựphân công lao động xã hội phát triển đến trình độ cao C.Mác đã viết:

"Nguyên tắc SX bằng máy móc là phân tích quá trình SX trong các giaiđoạn cấu thành của nó và giải quyết các vấn đề nảy sinh ra như vậy bằngcách áp dụng cơ học, hóa học , nói tóm lại là bằng các môn khoa học tựnhiên, nguyên tắc đó đã trở thành nguyên tắc quyết định ở khắp mọi nơi"[57, 276 - 277]

Sự phân công lao động của công trường thủ công đã tạo ra nhữngngười thợ khéo léo, lành nghề và như vậy đã đẩy nhanh quá trình phát triểncủa nền công nghiệp đại cơ khí    "Vậy là nền đại công nghiệp phải nắm lấynhững tư liệu SX đặc trưng của nó, tức là bản thân máy móc và dùng máymóc để SX ra máy móc Nhờ thế nó đã tạo ra được cho mình một cơ sở kỹthuật thích hợp và đứng vững được trên đôi chân của mình" [57, 136 -137]

Mặc dù SX bằng máy móc ra đời đã dần dần thay thế lao động thủcông, nhưng không vì thế mà nghề thủ công mất đi, mà trái lại đã thúc đẩy

Trang 28

một số nghề thủ công phát triển Bên cạnh đó có những ngành nghề nhờ sựtiến bộ của khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi công nghệ SX, hoặc hìnhthành công nghệ SX mới Từ đó hình thành nên những trung tâm côngnghiệp lớn ở thành thị và nông thôn Nhiều LNTT trở thành vệ tinh hoặclàm gia công cho công nghiệp ở thành thị Đúng như Lê nin nói: "Chỉ cóđại công nghiệp cơ khí mới tiến hành một cuộc thay đổi triệt để, gạt bỏ kỹthuật thủ công, cải tạo SX trên cơ sở mới, hợp lý, vận dụng một cách có hệthống tri thức khoa học vào SX" [53 - 685].

Khi nền kinh tế phát triển tới giai đoạn công nghiệp cơ khí thì trongnhiều trường hợp LNTT không những không mất đi vai trò vị trí của mình

mà vẫn phát huy được ưu thế so với xí nghiệp lớn Bởi vì trong điều kiệnnguồn nguyên liệu phân tán, lao động nhàn rỗi ở nông thôn nhiều, thu nhậpdân cư thấp, giao thông đi lại khó khăn thì hoạt động của LNTT là rất phùhợp Hơn nữa ở nông thôn, hoạt động của các ngành nghề trong hộ gia đìnhrất cần thiết, vừa giải quyết việc làm vừa tận dụng tiềm năng sẵn có của địaphương, tạo ra của cải cho xã hội

Tóm lại nghề thủ công hay LNTT không những chỉ tồn tại và pháttriển trong nền SX nhỏ, mà nó còn tồn tại và phát triển trong nền SX côngnghiệp hiện đại

Ba là, LNTT trong tiến trình phát triển của khoa học - công nghệ hiện đại

Trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại phát triểnnhư vũ bão và tác động mạnh mẽ vào quá trình CNH, HĐH ở nước ta thìLNTT không vì thế mà mất đi Ngược lại nó vẫn tồn tại và phát triển khôngngừng Ngoài việc SX ra những mặt hàng truyền thống để bảo tồn giá trịvăn hóa của dân tộc, nó còn đáp ứng yêu cầu chuyên môn hóa, phân cônghợp tác với công nghiệp lớn để SX các chi tiết sản phẩm hoặc SX những

Trang 29

sản phẩm có khối lượng ít nhưng tinh xảo mà đại công nghiệp làm kémhiệu quả hơn.

Mối quan hệ giữa các xí nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệplớn là nhân tố cực kỳ quan trọng để phát triển các ngành nghề TTCN Các

xí nghiệp lớn thường tập trung ở đô thị, nó thường đảm nhiệm việc SXnhững chi tiết máy móc đòi hỏi trình độ kỹ thuật công nghệ cao, phức tạp

và lắp ráp toàn bộ để tạo ra sản phẩm cuối cùng Xí nghiệp lớn thường sửdụng những công nhân đã qua đào tạo, có trình độ kỹ thuật cao Các xínghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn thường được chuyên môn hóa làm giacông SX một số chi tiết, hay cụm chi tiết bộ phận máy với trình độ chínhxác nhất định Còn các cơ sở công nghiệp gia đình của nông dân ở vùngnông thôn thường ký hợp đồng trực tiếp với các xí nghiệp lớn và cả với

xí nghiệp vưà và nhỏ để làm gia công một số chi tiết máy đơn giản Vấn

đề này Lê nin đã chỉ ra rằng: "Công nghiệp thủ công và công nghiệpcông xưởng và nhà máy có mối liên hệ mật thiết nhất và vững chắc nhấtvới nhau" [53 - 568]

Trong điều kiện hiện nay, những nước công nghiệp chưa phát triểnnhư nước ta, việc kết hợp chặt chẽ giữa nghề thủ công truyền thống vớicông nghệ SX hiện đại nhằm phát triển nhanh chóng công nghiệp ở nôngthôn có ý nghĩa chiến lược đối với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nôngthôn Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta đang ở trình độ thấp, vốn tích luỹ cònhạn chế thì việc khôi phục và phát triển LNTT để tiếp thu công nghệ mới làhết sức cần thiết và hợp lý Bởi vì, các LNTT có thể nhập từng công đoạnhoặc cả dây chuyền, thậm chí vài thiết bị quan trọng nhất của dây chuyền,

SX cũng có thể nâng cao được chất lượng hàng hóa đạt tiêu chuẩn Quốc tế

Do đó đi đôi với việc tiếp thu công nghệ tiên tiến của thế giới, cần đẩymạnh phát triển và cải tiến kỹ thuật trong nước, nâng cao trình độ kỹ năng,

kỹ xảo cho người lao động để đáp ứng đòi hỏi của kỹ thuật mới Vì vậy,

Trang 30

phát triển LNTT vừa phải tuân theo quy luật đi từ thô sơ đến hiện đại, từ kỹthuật thấp đến kỹ thuật cao, vừa có sự phát triển nhảy vọt, tiếp thu côngnghệ tiên tiến của thế giới để phát triển một số ngành nghề quan trọng.

1.2 VAI TRÒ CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG    TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

CNH, HĐH là con đường tất yếu mà các nước đi lên SX lớn đềuphải trải qua Đối với nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu đi lênCNXH thì CNH, HĐH là vấn đề có ý nghĩa chiến lược mà trước hết làCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Vì rằng: "CNH, HĐH là quá trìnhchuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động SX kinh doanh, dịch vụ, vàquản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụngphổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháptiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoahọc công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao" [29 - 43]

1.2.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và những vấn đề đặt ra đối với việc khôi phục, phát triển làng nghề truyền thống

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một bộ phận hợp thành củaquá trình CNH, HĐH đất nước Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII của Đảng đã đề ra nội dung cơ bản của CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn bao gồm các nội dung chủ yếu là:

- Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp

- Thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa

- Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công nghệngày càng cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đôthị

- Phát triển các ngành nghề, LNTT và các ngành nghề mới

Trang 31

-    Xây dựng    kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hìnhthành nông thôn mới văn minh, hiện đại [30 - 87].

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn phải bảo đảm những yêu cầuchính là: Theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, gắn phát triển lực lượng SXvới củng cố và hoàn thiện quan hệ SX mới ở nông thôn; xây dựng nôngthôn mới CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân phải đặt nó trong chiến lượcbảo đảm lợi ích toàn diện của đất nước cả kinh tế, xã hội, an ninh quốcphòng và môi trường sinh thái Đồng thời đặt nó trong xu thế chung củathời đại là Quốc tế hóa và khu vực hóa nền kinh tế nhằm khai thác triệt đểlợi thế so sánh của đất nước Kết hợp hài hòa kinh nghiệm truyền thống vớicông nghệ kỹ thuật hiện đại, tiên tiến theo bước đi phù hợp

Với nội dung yêu cầu cơ bản trên, chúng ta có thể hiểu rằng: CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn thực chất là phát triển nông nghiệp và kinh tếnông thôn theo hướng CNH, cụ thể là:

- Phát triển các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, với tỷ trọngngày càng lớn nhằm chuyển dịch và cải biến nền kinh tế nông thôn từ thuầnnông, sang cơ cấu kinh tế nông, công nghiệp và dịch vụ

- Đổi mới công nghệ và tập trung đầu tư kỹ thuật tiên tiến cho nôngnghiệp để cải tạo nền nông nghiệp thủ công lạc hậu với năng suất thấp, sảnlượng bấp bênh thành nền nông nghiệp theo hướng cơ khí hóa, thủy lợihóa, điện khí hóa Xúc tiến việc xây dựng các khu công nghiệp, khu SXtập trung cho các làng nghề Tổ chức những cơ sở công nghiệp chế biếnnông sản, thủy sản theo hướng gắn kết các đơn vị cung cấp nguyên liệu-SX-chế biến và tiêu thụ

- Tăng tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, xây dựng và nâng cấpkết cấu hạ tầng Bổ sung chính sách, khuyến khích mọi người dân và cácdoanh nghiệp đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn nông thôn

Trang 32

Như vậy, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn phải tạo ra một nềnnông nghiệp hàng hóa đa dạng, để từ đó phát huy lợi thế so sánh đáp ứngnhu cầu tiêu dùng trong nước và hướng mạnh về xuất khẩu Vì thế, cần ưutiên phát triển các ngành công nghiệp, TTCN và dịch vụ có sử dụng nhiềulao động, tạo công ăn việc làm cho dân cư ở nông thôn.

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn phải dựa trên cơ sở sử dụnghợp lý nguồn tài nguyên, đồng thời phải bảo vệ tốt môi trường sinh thái.Mục tiêu tổng quát và lâu dài của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là:Xây dựng một nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn có cơ sở vật chất kỹthuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ SX tiến bộ và phù hợp, đểtăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, nhanhchóng nâng cao thu nhập và đời sống dân cư nông thôn nước ta tiến lên vănminh hiện đại [44, 7] Xem kết quả cụ thể ở biểu 1 sau đây:

Biểu 1: Mục tiêu cụ thể của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp.

Tốc độ phát triển kinh tế nông thôn.

GDP bình quân đầu người

%

% USD

4,5-5 10-12 350

4-4,5 10-12 580

4-4,5 10-12 1200-1400 Lương thực

Kim ngạch xuất khẩu

Tạo việc làm hàng năm

100 100 80

40 15 800.000 100 100 100 100 100 100

45 20 500.000

Nâng cao chất lượng

Trang 33

thảo khoa học về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn do báo Nhân Dân tổ chức ngày 7 và 8 tháng 8 năm 1997 tại Hà Nội.

Nội dung CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trước mắt cần tậptrung giải quyết tốt các vấn đề sau:

- Một là, phát triển nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng hướng mạnh về xuất khẩu.

Ngoài việc ưu tiên phát triển cây lương thực, cần khuyến khích pháttriển các loại cây trồng khác như: cà phê, chè, cao su, bông, dâu nuôi tằm,cây ăn quả, cây có dầu, cây lấy gỗ và đưa chăn nuôi lên thành ngành SXchính Việc SX các loại sản phẩm này phải dựa trên cơ sở đẩy mạnh ápdụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học để tạo vànhân nhanh giống cây trồng, vật nuôi mới có ưu thế, sao cho hàng hóa làm

ra có khả năng cạnh tranh được trên thị trường

Hướng về xuất khẩu chính là đẩy mạnh việc SX và xuất khẩu cácmặt hàng nông nghiệp, phi nông nghiệp; các sản phẩm trong nước có lợithế nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu để nhập khẩuphục vụ cho CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn

- Hai là, thúc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên các hướng:

Tập trung thực hiện thủy lợi hóa bằng cách nâng cao năng lực quản lý

và vận hành hệ thống thủy nông, đồng thời có biện pháp hữu hiệu HĐH ngànhthủy lợi bằng việc áp dụng các phương pháp tưới tiêu tiên tiến, thiết bị hiện đại

Phát triển mạnh mẽ hệ thống giao thông nông thôn đến các trungtâm xã, khu dân cư tập trung và đến các vùng khác

Cơ giới hóa nông nghiệp, trước hết chú trọng vào các khâu, cáccông việc nặng nhọc, thời vụ khẩn trương và vào những vùng nông nghiệp

Trang 34

tập trung Sử dụng các loại máy móc thiết bị có công suất thích hợp đểnâng cao năng suất lao động, tới năm 2010 ít nhất đạt tỷ lệ cơ giới hóa khâulàm đất là 70%, tuốt lúa 80%, cơ giới hóa khâu tưới tiêu 70%.

Tiếp tục phát triển mạng lưới điện nông thôn, đưa điện về tất cả các

xã vùng đồng bằng và các huyện lỵ miền núi

Về mạng lưới bưu chính viễn thông, Nhà nước cần đầu tư để nhanhchóng hoàn thành các chươnh trình phủ sóng phát thanh, truyền hình, pháttriển các cơ sở bưu điện và mạng lưới điện thoại về tất cả các xã

- Ba là, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn.

+    Tập trung phát triển các cơ sở công nghiệp nông thôn gắn vớiquy mô và công nghệ thích hợp, với khả năng của từng vùng làm cho sảnphẩm SX ra phù hợp với thị trường, bảo đảm chất lượng và giá thành hạ

+    Phát triển công nghiệp chế biến ở nông thôn với quy mô vừa vànhỏ để bảo quản nông sản, nhất là tăng giá trị sản phẩm của nông nghiệpsau thu hoạch và cung cấp nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến ở

đô thị, khu công nghiệp tập trung

+ Phát triển SX một số sản phẩm chủ lực để có thể đáp ứng yêu cầuxuất khẩu với khối lượng lớn trên thị trường Quốc tế, dần dần tạo chỗ đứngtrong sự phân công lao động Quốc tế

+ Phát triển các LNTT ở nông thôn bao gồm cả các ngành nghềmới Làng nghề ở nông thôn cần phát triển theo hướng trang bị máy móc

cơ khí và sử dụng công nghệ hiện đại kết hợp với công nghệ truyền thống.Phát triển ngành nghề, nông thôn phải đặt trong mối liên hệ chặt chẽ vớicông nghiệp thành thị, gắn chặt với SX nông nghiệp Chú trọng phục hồi vàphát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn

+ Phát triển các loại hình dịch vụ như: dịch vụ thủy lợi, dịch vụcung cấp điện, dịch vụ thương mại, dịch vụ cung ứng vốn, dịch vụ tư vấn

Trang 35

kinh doanh, dịch vụ chuyển giao công nghệ và đào tạo để phục vụ ngàycàng tốt hơn nhu cầu SX và đời sống nông dân.

Một trong những chiến lược quan trọng của CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn là khôi phục, phát triển LNTT, mà trước hết hướng vàocác ngành chế biến nông, lâm, hải sản, các ngành cơ khí sửa chữa, dịch vụphục vụ SX và đời sống Đồng thời phát triển mạnh mẽ các ngành SX thủcông mỹ nghệ, các mặt hàng xuất khẩu Đó là những vấn đề đặt ra đối vớiLNTT trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Bởi vì:

- Khôi phục và phát triển LNTT ở nông thôn không những tác độngđến bản thân công nghiệp và dịch vụ mà còn tác động mạnh mẽ đến sự thúcđẩy phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng SX hàng hóa có năng suất

và hiệu quả cao

- Phát triển LNTT sẽ phá vỡ giới hạn khả năng SX đang bị kìm hãmbởi nông nghiệp, do quỹ đất đai thu hẹp bởi quá trình đô thi hóa, lao động nôngnghiệp bị dư thừa, năng suất lao động trong nông nghiệp đến điểm giới hạn

- Phát triển LNTT sẽ thực hiện tốt cuộc phân công lao động mới ởnông thôn, đó là tăng số lượng và tỷ trọng người làm công nghiệp và dịch

vụ, giải quyết việc làm tăng thu nhập cho dân cư ở nông thôn, xoá đói giảmnghèo, làm giàu cho nông thôn Đây là nhu cầu bức bách hiện nay và khảnăng có thể đáp ứng được

- Phát triển LNTT ở nông thôn chính là chuyển một bộ phận laođộng nông nghiệp sang SX công nghiệp, TTCN và dịch vụ ngay trên địabàn nông thôn Chuyển từ kinh tế thuần nông sang kinh tế đa ngành phinông nghiệp.     

1.2.2.    Vai trò của làng nghề truyền thống ở vùng ven thủ đô

Hà Nội trong việc đẩy mạnh    công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Trang 36

Vùng ven thủ đô Hà Nội là nơi đất chật người đông, trong khi đóđất đai canh tác ngày càng thu hẹp do quá trình đô thị hóa diễn ra nhanhchóng Tình trạng thiếu việc làm ngày càng trở nên gay gắt kinh tế nôngthôn, kể cả ngành nghề truyền thống lâu đời, tuy được phục hồi và pháttriển, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của nó Số người đổ về thànhthị kiếm việc làm ngày một nhiều, vừa có thu nhập thấp, vừa gây ra vấn đề

an ninh xã hội ở thành phố phải giải quyết

Trong điều kiện như vậy, để tiến hành CNH, HĐH đất nước thì vaitrò của LNTT là rất quan trọng không thể thiếu được trong quá trình CNH,HĐH, nông nghiệp, nông thôn Bởi vì, muốn thóat khỏi tình trạng đóinghèo thì vấn đề trước tiên cần phải đẩy mạnh việc khai thác các tiềm năngnông nghiệp xoá dần tình trạng thuần nông, độc canh cây lúa, tạo ra công

ăn việc làm cho người lao động đang dư thừa ở nông thôn hiện nay Điềunày chỉ có thể thực hiện được thông qua con đường phát triển LNTT Việckhôi phục và phát triển LNTT là một chiến lược quan trọng và là một nộidung cơ bản của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ nay đếnnăm 2000 và những năm tiếp theo

Thứ nhất, LNTT trong vùng đã tạo ra một khối lượng hàng hóa đa dạng phong phú phục vụ cho tiêu dùng và cho xuất khẩu.

Phát triển LNTT là giải pháp hết sức quan trọng nhằm huy động tối

đa các nguồn lực sẵn có ở nông thôn như: tài nguyên thiên nhiên, nguồnnguyên liệu, phế phẩm của nông nghiệp được huy động vào quá trình SXkinh doanh; cũng như khai thác có hiệu quả nguồn vốn trong nhân dân, cơ

sở vật chất kỹ thuật và những kỹ năng, kỹ xảo của người lao động Trên cơ

sở đó đấy mạnh SX nhằm tạo ra ngày càng nhiều hàng hóa có chất lượngtốt, phục vụ đắc lực cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Tuy khối lượnghàng hóa do LNTT làm ra còn nhỏ bé, nhưng nó đã góp phần đáng kể vàoviệc thúc đẩy kinh tế hàng hóa trong vùng phát triển

Trang 37

Vùng ven thủ đô Hà Nội là nơi có tốc độ CNH và đô thị hóa diễn ranhanh chóng so với các vùng khác trong cả nước Do vậy, việc SX các mặthàng có giá trị kinh tế cao là vấn đề bức xúc để hàng hóa làm ra ngày càng

đa dạng phong phú nhằm mở mang thị trường tiêu thụ trong và ngoài nướcnhư sản phẩm mỹ nghệ cao cấp, hàng dệt, thêu ren, sản phẩm cao cấp từ gỗ

SX của LNTT phát triển theo hướng chuyên môn hóa, đa dạng hóasản phẩm đã làm cho các làng nghề    năng động hơn Trong khi chưa cóđiều kiện để phát triển kinh tế trang trại thì việc LNTT đẩy mạnh SX nhữngmặt hàng may mặc, gốm sứ, đồ gỗ mỹ nghệ phục vụ tiêu dùng trong nước

và cho xuất khẩu là rất quan trọng Điều quan trọng hơn cả là thời gian qua

ở các LNTT đã có hàng trăm ngàn hộ nông dân chuyển sang phát triểnngành nghề truyền thống hoặc vừa SX nông nghiệp, vừa SX ngành nghề

Vì thế đã tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực SX cho kinh tếnông thôn Việc SX trong các LNTT đang hướng vào những sản phẩm cóhàm lượng kỹ thuật cao, thị trường tiêu thụ rộng khắp, chứng tỏ rằng, SX

và lưu thông hàng hóa của LNTT phát triển mang tính hàng hóa tập trungkhá rõ nét

Thứ hai, phát triển LNTT là biện pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn.

Những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp đểgiải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn như: Đẩy mạnh việchợp tác lao động Quốc tế, đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, thâmcanh tăng vụ, phát triển chăn nuôi, phát triển thương mại và dịch vụ Những biện pháp này ít nhiều đã có tác động tích cực giải quyết một phầncông ăn việc làm cho người lao động ở nông thôn Song vùng ven thủ đô

Hà Nội là nơi có mật độ dân số vào loại cao nhất nước 1327 người / km2

(cả nước 209 người / km2) Vì thế SX nông nghiệp, bản thân nó không thể

có khả năng giải quyết số lao động dư thừa ở nông thôn hiện nay Cho nên,

Trang 38

trong điều kiện đất đai canh tác ít, nguồn vốn hạn hẹp, lao động dư thừa,việc tìm ra biện pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho người lao động làđòi hỏi cấp bách có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn hiện nay Một trongnhững giải pháp có tính chiến lược là phát triển LNTT ở nông thôn vớinhiều ngành nghề đa dạng phong phú và có khả năng phát triển rộng khắptrong nông thôn Sự phát triển của LNTT không những chỉ thu hút lao động

ở gia đình mình, làng xã mình mà còn thu hút được nhiều lao động từ cácđịa phương khác đến làm thuê Đồng thời LNTT phát triển còn kéo theonhiều nghề dịch vụ khác phát triển, tạo ra nhiều công ăn việc làm chongười lao động Chẳng hạn, nghề chế biến lương thực, thực phẩm tạo điềukiện cho chăn nuôi phát triển Ngành SX hàng ngũ kim, ngành tái chế cácsản phẩm tạo điều kiện cho mạng lưới thu gom nguyên liệu, phế liệu pháttriển

Ở các LNTT phát triển đều hình thành hàng nghìn lao động từ nơikhác đến làm thuê như ở Đồng Kỵ, Đa Hội (Bắc Ninh), Vạn Phúc (HàĐông), Bát Tràng (Hà Nội) Bình quân một cơ sở chuyên ngành nghề tạoviệc làm thường xuyên cho 4 - 6 người (trong đó thuê ngoài từ 2 - 4 người).Ngoài số lao động thường xuyên các hộ các cơ sở ngành nghề còn thu hútlao động thiếu việc làm từ lao động nông nghiệp bình quân 5 người / cơ sở

và 2 người / hộ ngành nghề [62 - 507]

Sự phát triển của LNTT và làng nghề mới thực sự đã thu hút đượcnhiều lao động dư thừa ở nông thôn Cụ thể Bắc Ninh thu hút gần 35.000 laođộng, Hưng Yên gần 34.000 lao động, Hà Tây 46.851 lao động Những làngnghề vùng ven đô Hà Nội thu hút trên 50% lao động thường xuyên và khoảng20% lao động không thường xuyên từ lao động nông nhàn

Việc phát triển LNTT là một giải pháp quan trọng nhằm khai tháccác nguồn lực ở nông thôn tạo điều kiện cho những người không có khả

Trang 39

năng SX nông nghiệp chuyển sang làm ngành nghề mà họ có ưu thế hơn.Mặt khác các ngành nghề ở nông thôn phát triển đã kéo theo nhiều nghềdịch vụ có liên quan, thu hút và tạo thêm nhiều việc làm mới.

Thứ ba, phát triển LNTT góp phần thúc đẩy gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân cư ở nông thôn và tăng tích lũy.

Qua thực tế ở một số LNTT trong vùng cho thấy, thu nhập bìnhquân của một lao động làm nghề bao giờ cũng cao hơn lao động thuầnnông.Theo kết quả điều tra của cục chế biến nông, lâm sản và ngành nghềnông thôn năm 1997 thì thu nhập bình quân / tháng từ hoạt động ngànhnghề của một lao động làm việc thường xuyên là 430.000 đồng đối với cơ

sở chuyên ngành nghề, 236.000 đồng đối với hộ chuyên và 186.000 đồngđối với hộ    kiêm; bằng 1,6 - 3,9 lần đối với thu nhập của lao động thuần nôngnghiệp và bằng 1,5 - 3,5 lần so với lương tối thiểu Giá trị tăng lên trong năm

từ hoạt động ngành nghề là 11.247 ngàn đồng với cơ sở chuyên và 2.916 ngànđồng đối với hộ kiêm Tuy khả năng tích luỹ được tạo ra từ một lao động củamột hộ ngành nghề chưa lớn và rất thấp so với cơ sở chuyên nhưng đã caohơn rõ rệt đối với các hộ thuần nông nghiệp Cũng theo kết quả điều tra trêncho thấy: Thu nhập của hoạt động kinh tế từ việc làm phi nông nghiệp chiếm63,18% so với năm 1993 Cá biệt ở một số làng nghề phát triển thu nhập củangười lao động lên tới 1 triệu và 1,5 triệu đối với người có tay nghề cao như ởĐồng Kỵ (Bắc Ninh) Nhờ có ngành nghề phát triển mức sống của người dânvùng nghề cao hơn hẳn mức sống của người dân thuần nông

Khi LNTT và làng nghề mới phát triển đã xuất hiện một số ngườimạnh dạn rời bỏ nông nghiệp (rời ruộng không rời làng) để làm nghề Đâychính là cơ sở vững chắc của việc nâng cao đời sống vật chất tinh thần chongười lao động Ở những làng nghề có uy tín nhiều hộ gia đình hàng nămtích luỹ được hàng trăm triệu đồng Thu nhập từ ngành nghề ngày một cao

mà nhiều gia đình đã xây dựng được nhà kiên cố và mua sắm được những

Trang 40

thứ đắt tiền Đời sống người làm nghề được cải thiện, những biểu hiện tiêucực trong xã hội cũng từ đó dần dần bị đẩy lùi Trật tự kỷ cương xã hộiđược thiết lập, mọi người quen dần với cách sống và làm việc theo hiếnpháp và pháp luật.

Thứ tư, phát triển LNTT sẽ chuẩn bị đội ngũ lao động có khả năng thích ứng với lĩnh vực công nghiệp và tạo cơ sở vệ tinh cho các doanh nghiệp hiện đại.

Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đã tác động rất lớn đến

sự phát triển của LNTT vùng ven thủ đô Hà Nội Nó trở thành nhân tố thúcđẩy việc huy động các nguồn lực trong nhân dân để đưa vào phát triển SXkinh doanh làm cho nền kinh tế ở nông thôn tăng trưởng mạnh mẽ, tạo điềukiện để phát huy cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đời sống dân cư nông thôn

Một khi LNTT ở nông thôn phát triển mạnh, nó sẽ tạo ra một độingũ lao động có tay nghề cao và đội ngũ nghệ nhân mới Chính thông qualực lượng này để tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệtiên tiến áp dụng vào SX, làm cho sản phẩm có chất lượng cao, giá thànhgiảm,khả năng cạnh tranh trên thị trường lớn Như vậy LNTT càng pháttriển mạnh, nó càng có điều kiện để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở nôngthôn Hơn nữa khi cơ sở vật chất kỹ thuật    được tăng cường và hiện đại,chính là tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ lao động thích ứng với tácphong công nghiệp, nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật Đồng thời trình độvăn hóa của người lao động ngày một nâng cao, lại là cơ sở thuận lợi choviệc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào lĩnh vực SX và hoạtđộng dịch vụ trong làng nghề Hay nói cách khác thích nghi và HĐH là haiđiều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của LNTT Bởi vì người thợtrong LNTT vùng ven đô Hà Nội có nhiều điều kiện thuận lợi và lợi thế sovới các vùng khác như: lợi thế về tay nghề, về trình độ văn hóa và là nơitập trung các khu công nghệ cao của cả nước Người thợ trong làng nghề

Ngày đăng: 15/10/2016, 20:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w