1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế PHÁT TRIỂN KINH tế hộ GIA ĐÌNH MIỀN núi TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG cơ CHẾ THỊ TRƯỜNG ở nước TA

169 446 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 9,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta, phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân, là một trong những chủ trương và giải pháp phát triển kinh tế quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Những thành tựu nổi bật đạt được trong những năm đổi mới vừa qua đã khẳng định tính đúng đắn và khoa học của chủ trương và giải pháp đó. Hiện nay, Kinh tế hộ gia đình ở nông thôn... (vẫn đang) là loại hình tổ chức sản xuất có hiệu quả về kinh tế xã hội, (sẽ) tồn tại, phát triển lâu dài, có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

Trang 1

MỞ ĐẦU

1- Tính cấp bách của đề tài

Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta, phát triểnkinh tế hộ gia đình nông dân, là một trong những chủ trương và giải phápphát triển kinh tế quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Những thành tựunổi bật đạt được trong những năm đổi mới vừa qua đã khẳng định tínhđúng đắn và khoa học của chủ trương và giải pháp đó Hiện nay, "Kinh tế

hộ gia đình ở nông thôn (vẫn đang) là loại hình tổ chức sản xuất có hiệuquả về kinh tế - xã hội, (sẽ) tồn tại, phát triển lâu dài, có vị trí quan trọngtrong sản xuất nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp và nông thôn" [43, 11]

Vùng núi nước ta chiếm 3/4 diện tích cả nước, là vùng có ý nghĩachiến lược trong các cuộc cách mạng Hiện nay, là địa bàn sinh sống của

24 triệu người, với 54 dân tộc anh em Các hộ gia đình dân tộc và miền núi,trước đây cũng như hiện nay phần lớn là những hộ gia đình nông dân(khoảng 3 triệu hộ), vì vậy mọi sự đổi thay về kinh tế miền núi trước hếtđược biểu hiện ở sự chuyển biến trong nông nghiệp, nông thôn và hìnhthức kinh tế hộ gia đình nông dân Trong những năm đổi mới vừa qua, sảnxuất nông nghiệp miền núi đã có nhiều cố gắng và đạt được những tiến bộkhá Sự đóng góp vào những tiến bộ chung đó của hình thức kinh tế hộ giađình nông dân miền núi là to lớn và quan trọng Tuy nhiên, so với nhữngkết quả và thành tựu đạt được thì những việc chưa làm được, những tồn tạiyếu kém của kinh tế hộ gia đình nông dân như trình độ phát triển còn ởmức rất thấp, thực trạng sản xuất nhỏ, tự nhiên, tự cung tự cấp và đói nghèocòn là phổ biến, nhiều vấn đề bức thiết trong quá trình phát triển chưa đượcquan tâm giải quyết thỏa đáng, còn làm day dứt nhiều cấp, nhiều ngành

Trang 2

Thực tế đó, đã và đang đặt ra những yêu cầu cần thiết phải nghiêncứu, khảo sát đánh giá một cách khách quan thực trạng kinh tế hộ gia đìnhnông dân vùng dân tộc và miền núi, từ đó xác định một cách có căn cứkhoa học và thực tiễn để thúc đẩy hình thức kinh tế đó phát triển nhanh và bềnvững

Là người dân tộc, là cán bộ của tỉnh Sơn La, sau nhiều năm công

tác, học tập, nghiên cứu tôi đã lựa chọn đề tài: "Phát triển kinh tế hộ gia

đình miền núi trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta",

nhằm góp một phần đáp ứng những yêu cầu cấp bách đó

2- tình hình nghiên cứu của đề tài

Qua nghiên cứu cho thấy, phát triển kinh tế hộ gia đình nông dânnói chung trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta, đã đượcthể hiện trong các nghị quyết của Đảng và chỉ thị của Nhà nước

Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học cũng đã có nhiều công trình,bài viết của nhiều nhà nghiên cứu được công bố, chẳng hạn:

- Tập thể các tác giả: "Phát triển kinh tế nông hộ theo hướng sản

xuất hàng hóa ", Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1993.

- PTS Nguyễn Hữu Đạt: "Đầu tư hỗ trợ của nhà nước cho nông

dân phát triển kinh tế hộ gia đình", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995.

- PTS Chu Văn Vũ (chủ biên): "Kinh tế hộ trong nông thôn Việt

Nam", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995.

- PTS Nguyễn Xuân Nguyên (chủ biên): "Khuynh hướng phân hóa

hộ nông dân trong phát triển sản xuất hàng hóa", Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, 1995

- GS.VS Đào Thế Tuấn: "Kinh tế hộ nông dân", Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, 1997

Trang 3

- PTS Vũ Tuấn Anh và PTS Trần Thị Vân Anh: "Kinh tế hộ - lịch

sử và triển vọng phát triển", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997.

Và các chương trình nghiên cứu cấp nhà nước, các luận án Phó tiến

sĩ về đề tài nông hộ, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam

Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiêncứu về: "Phát triển kinh tế hộ gia đình miền núi trong quá trình chuyểnsang có chế thị trường", một cách đầy đủ, có hệ thống của chuyên ngànhkinh tế học phát triển

3- Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Mục đích của luận án: Làm rõ hơn cơ sở lý luận của việc phát triển

kinh tế hộ gia đình nông dân trong cơ chế thị trường và thực tiễn phát triểnkinh tế hộ gia đình nông dân miền núi Từ đó, xác định quan điểm, phươnghướng và những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế hộgia đình miền núi trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ở nước tahiện nay

Để đạt được mục đích đó luận án có nhiệm vụ:

- Phân tích và lý giải: 1 Phát triển kinh tế hộ gia đình nông dântrong cơ chế thị trường - một tất yếu khách quan 2 Phát triển kinh tế hộgia đình nông dân ở một số quốc gia trên thế giới

- Đánh giá thực trạng kinh tế hộ gia đình miền núi nói chung vàmiền núi Tây Bắc nói riêng Xác định được nguyên nhân của thực trạng vàmột số vấn đề mới phát sinh

- Trình bày và đề xuất một số quan điểm, phương hướng và nhữnggiải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh sự phát triển kinh tế hộ gia đình miền núitrong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay

4- Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 4

Vùng núi nước ta, do sự thấp kém về trình độ phát triển, nên pháttriển kinh tế hộ gia đình miền núi trong cơ chế thị trường đang gặp rấtnhiều khó khăn, bất cập về nhiều mặt, thực tế đó đặt ra nhiều vấn đề cầnnghiên cứu giải quyết.

Do nhiều lý do, trong đó có lý do về năng lực bản thân tác giả, vì

vậy, phạm vi, giới hạn của đề tài là nghiên cứu: Phát triển của kinh tế hộ

gia đình nông dân miền núi, trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường

ở nước ta hiện nay (qua kết quả nghiên cứu và khảo sát thực tế ở vùng núi Tây Bắc)

5- Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận là phép biện chứngcủa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm cơbản của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế xã hội ở nước ta,đồng thời có sử dụng một số kiến thức kinh tế học hiện đại

Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như so sánh, phântích thống kê, nghiên cứu điển hình, phương pháp hệ thống

Để nâng cao tính khả thi của các giải pháp, tác giả đã đi sâu nghiêncứu, phân tích các mô hình, nhân tố mới một số tỉnh miền núi đã đạt đượcnhiều thành công trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình theo hướng sảnxuất hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường

6- Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

- Phân tích rõ hơn vai trò, tính đặc thù, những đặc điểm riêng củakinh tế hộ gia đình nông dân miền núi

- Luận giải những nhân tố ảnh hưởng, chi phối sự phát triển kinh tế

hộ gia đình nông dân miền núi trong cơ chế thị trường

- Đề xuất, kiến nghị những quan điểm, phương hướng, biện pháp cụthể nhằm phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân miền núi ở nước ta hiện nay

Trang 5

7- Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận

án gồm 3 chương, 7 tiết

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ

HỘ GIA ĐÌNH NÔNG DÂN TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH NÔNG DÂN TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG - MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN

Trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, thành tựu to lớn mà dântộc ta đạt được trong hơn mười năm đổi mới vừa qua luôn có sự đóng góprất quan trọng của kinh tế hộ gia đình nông dân Việt Nam Qua đó đã hìnhthành và phát triển một nhóm các hộ giàu và khá, biết làm ăn, vững vàngtrong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường Tuy vậy, vẫn còn một bộphận không nhỏ hộ gia đình (tập trung chủ yếu ở miền núi) đang lâm vàocảnh khó khăn, túng thiếu, làm ăn kém hiệu quả, "chênh vênh" trước quyền

tự chủ của mình Thực tế đó đã và đang đặt ra yêu cầu: Trong quá trìnhchuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, phát triển kinh tế hộ giađình miền núi như thế nào để vừa sát với điều kiện cụ thể của miền núi -một vùng lãnh thổ đặc biệt, vừa hợp quy luật và hợp lòng dân

Để có câu trả lời đúng đắn, cần bắt đầu từ việc nghiên cứu cơ sở lýluận và thực tiễn về thị trường, cơ chế thị trường

1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về thị trường và cơ chế thị trường

Kinh tế tự nhiên, trong lịch sử phát triển, là hình thức kinh tế đầutiên của loài người, với những đặc trưng cơ bản, sản xuất những sản phẩmnhằm thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất, thường bị khép kín

Trang 6

trong phạm vi đơn vị sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc, ít có quan hệ với bênngoài, mang đậm tính bảo thủ và trì trệ Hình thức kinh tế này đã tồn tạitrong một thời gian dài từ thời kỳ công xã Nguyên thủy, chiếm hữu Nô lệđến chế độ Phong kiến.

Kinh tế hàng hóa, bước phát triển cao và kế tiếp của kinh tế tựnhiên, là kết quả của việc mở rộng và gia tăng sự phân công lao động của

xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất Trong kinh tế hàng hóa,người sản xuất tạo ra những sản phẩm không chỉ thỏa mãn nhu cầu trựctiếp của mình mà chủ yếu nhằm để bán trên thị trường

Quá trình phát triển của kinh tế hàng hóa đến nay đã trải qua ba giaiđoạn: kinh tế hàng hóa giản đơn, kinh tế thị trường tự do, và kinh tế thịtrường hiện đại Tuy đã có bước phát triển khá dài và đạt nhiều thành tựu tolớn nhưng hiện nay trong lĩnh vực nghiên cứu khái niệm "thị trường" vẫncòn nhiều ý kiến khác nhau:

Theo A.Smuelson: Thị trường là một quá trình trong đó người mua

và người bán tác động qua lại nhau để xác định giá cả và số lượng hànghóa [49, 53]

Theo Davidbegg - fisher: Thị trường (theo nghĩa hẹp) - Là tập hợpcác sự thỏa mãn thông qua đó người mua - bán tiếp xúc với nhau để traođổi hàng hóa và dịch vụ [10, 45]

Theo các nhà kinh tế Trung Quốc: Thị trường là nơi trao đổi hànghóa được sản xuất ra và hình thành trong quá trình sản sản xuất và trao đổihàng hóa cùng với mọi quan hệ kinh tế giữa người với người liên kết vớinhau thông qua trao đổi hàng hóa Vì vậy, thị trường theo nghĩa rộng là đểchỉ các hiện tượng kinh tế được phản ánh thông qua trao đổi và lưu thônghàng hóa, cùng các quan hệ kinh tế và mối liên hệ kinh tế do đó mà đượcliên kết lại Theo nghĩa hẹp, thị trường là khu vực và không gian trao đổihàng hóa Thị trường phát triển cùng với sự phát triển của sản xuất và trao

Trang 7

đổi hàng hóa, sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển đến trình độ nào, thì

thị trường phát triển đến trình độ đó [3, 114]

Một số nhà khoa học Việt Nam cho rằng: Góc độ quan hệ kinh tế,thị trường là tổng hòa các quan hệ kinh tế thực hiện việc trao đổi hàng hóatrong hình thái kinh tế hàng hóa Thị trường, dưới góc độ tổ chức việc traođổi hàng hóa, là vị trí địa lý kinh tế, ở đó cung - cầu gặp nhau và được thỏamãn Nói cách khác thị trường là những tập kết của các quan hệ kinh tếhàng hóa, là vũ đài của những người sản xuất hàng hóa

Qua các ý kiến khác nhau, có thể hiểu (theo cách hiểu chung nhất):Thị trường, là tổng hợp các điều kiện, các nhân tố để thực hiện giá trị hànghóa, phản ánh mối quan hệ giữa người với người (nhà sản xuất và ngườitiêu dùng) trong lĩnh vực trao đổi mua bán hàng hóa và dịch vụ

Như vậy, quan niệm về thị trường đã và đang được xem xét từnhiều góc độ, phản ánh tính đa dạng và phức tạp của phạm trù này Tuynhiên, điểm chung cơ bản mà hầu như quan niệm nào cũng đề cập đến đó làngười bán và người mua và quan hệ mua - bán giữa hai chủ thể đó là hạtnhân tạo lập thị trường Những hành vi đó diễn ra không hề tùy tiện hay lộnxộn mà luôn theo các yêu cầu nghiêm ngặt do sự tác động và điều tiết củacác quy luật đặc thù của thị trường Đối với nhà sản xuất hàng hóa cần phảigiải quyết các vấn đề: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất choai?

Theo các nhà kinh tế Việt Nam, (tiêu biểu là Phó giáo sư Đào XuânSâm), cho rằng: Thị trường (như cách hiểu trên) là một hệ thống lớn, gồm

ba phân hệ, tức là ba thị trường cơ bản gắn bó với nhau:

- Thị trường các loại hàng hóa

- Thị trường sức lao động

- Thị trường tiền tệ và thị trường vốn

Trang 8

Hệ thống thị trường cũng như mỗi phân hệ đều có ba chức năng cơ

bản và gắn bó hữu cơ với nhau: Trước hết, đó là chức năng định giá, tức là

tạo cơ chế khách quan của việc hình thành giá cả thị trường gồm giá cả cácloại hàng hóa, tiền lương tức giá cả sức lao động, lãi suất tín dụng, lợi tứcchứng khoán, tỷ giá đồng tiền là giá cả thị trường tiền tệ và thị trường

vốn Thứ hai, chức năng kích thích huy động mọi nhân tài, vật lực vào phát

triển sản xuất kinh doanh, với cơ chế cạnh tranh chọn lọc, vì mục đích mưu

cầu lợi ích, lợi nhuận, hiệu quả Thứ ba, chức năng cân đối điều tiết các

quan hệ tỷ lệ trong sự phát triển kinh tế thông qua những biến động của quan

hệ cung cầu, thể hiện qua sự biến động về giá cả, tiền lương, lợi tức, tỷ giá

Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước, bao gồm ba nhân tố cơ bản sau:

+ Hệ thống thị trường với tư cách là hệ thống tự tổ chức và vậnhành theo cơ chế thị trường với những quy luật vốn có của nó

+ Nhà nước với tư cách là nhân tố nội tại của nền kinh tế thị trường,làm chức năng điều tiết từ bên trong, tạo thành cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước

+ Các hình thức tổ chức sản xuất (trong đó có kinh tế hộ gia đình)hoạt động trong thị trường, vừa chịu tác động của cơ chế thị trường, vừađồng thời có tính tự chủ và tác động tích cực trở lại với cơ chế đó

Cơ chế thị trường là cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường, của

cả hệ thống thị trường cũng như mỗi phân hệ trong đó, nhằm thực hiện cácchức năng cơ bản của kinh tế thị trường; ứng với những chức năng cơ bản

đó, cơ chế thị trường cũng là tổng thể hữu cơ của các cơ chế: Định giá, kíchthích, huy động, cân đối, điều tiết Cơ chế thị trường hình thành và hoạtđộng theo những quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường Cơ chế đó

có thể hoạt động tự phát, cũng có thể được vận dụng bởi chủ thể có thực

Trang 9

lực, nhận thức được quy luật, có kinh nghiệm quản lý nhà nước và hoạtđộng kinh doanh có hiệu quả [48, 39-40]

Có thể nêu một số quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường: quyluật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh:

Quy luật giá trị:

Là quy luật cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa Nội dung cơbản và yêu cầu khách quan của quy luật: Lượng giá trị của hàng hóa do thờigian lao động tất yếu quyết định Trao đổi hàng hóa phải lấy lượng giá trị

đó làm cơ sở để thực hiện trao đổi ngang giá Sự hoạt động của quy luậtnày thông qua giá trị trao đổi (tức giá cả), trao đổi ở đây được thực hiệnbằng tiền bao gồm tiền giấy, tín phiếu, trái phiếu, vàng

Trong sản xuất, dưới tác động của quy luật giá trị buộc các nhà sảnxuất hàng hóa phải thực hiện các biện pháp hữu hiệu nhằm tăng năng suấtlao động, hạ giá thành sản phẩm, cải tiến kỹ thuật và quản lý, nâng cao chấtlượng mặt hàng Trong lưu thông, quy luật giá trị có tác dụng hình thànhgiá cả thị trường, điều chỉnh cung cầu Do vậy, các nhà sản xuất kinh doanhtrong đó có hộ gia đình muốn tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trườngcần nắm vững nội dung yêu cầu cơ bản của quy luật giá trị

Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, đối tượng sản xuất và kinh doanh

của kinh tế hộ gia đình nông dân chủ yếu là các loại nông sản hàng hóa, đốitượng đó có những đặc điểm riêng, trong đó sự gắn bó hữu cơ giữa câytrồng vật nuôi với đất đai, khí hậu thời tiết là một trong những đặc điểmriêng khá đặc thù Hiệu quả sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ gia đìnhnông dân không chỉ phụ thuộc vào quá trình đầu tư mà còn phụ thuộc vàođiều kiện tự nhiên của từng vùng Chất lượng, chi phí trong việc sản xuất ramột số loại sản phẩm nào đó đối với từng hộ, từng nhóm hộ ở những vùng,những quốc gia khác nhau thường khác nhau

Trang 10

Thực tế cho thấy, sự phát triển của khoa học và công nghệ chỉ cóthể hạn chế một phần tác hại do thiên nhiên gây ra, nhưng không thể loại

bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hiệu quả sản xuất, kinhdoanh của hộ gia đình Những rủi ro, thất thiệt mà kinh tế hộ gia đình nôngdân phải gánh chịu, vì vậy, không chỉ do những biến động của thị trường

mà còn do sự khắc nghiệt của thiên nhiên gây ra Để duy trì quy mô sảnxuất nông sản, Chính phủ và các nhà kinh doanh nông sản phải hình thànhnguồn tài chính bảo hiểm thiên tai và có những biện pháp hữu hiệu nhằm

ổn định giá cả thị trường

Quy luật cung - cầu:

Quy luật cung - cầu là quy luật giá trị phát huy tác dụng trong thịtrường Quy luật cung - cầu phản ánh mối quan hệ giữa hàng hóa mà ngườisản xuất cung cấp trên thị trường với nhu cầu xã hội đối với hàng hóa đó

"Cầu" là lượng một mặt hàng mà người mua, muốn mua ở một mứcgiá chấp nhận được; "Cung" là lượng một mặt hàng mà người bán muốn

bán ở mức giá chấp nhận được [10, 45] Như vậy, trên thị trường luôn có

hai lực lượng cơ bản nhất là người bán và người mua (người tiêu dùng bao

gồm tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân) Hoạt động của quy luật thể

hiện, khi giá cả tăng nhà sản xuất sẽ tăng lượng sản xuất để tăng lợi nhuận

và thu nhập và khi giá cả hạ người sản xuất sẽ thu hẹp sản xuất và ở đâycầu (người tiêu dùng) sẽ mua nhiều vì giá thấp và ngược lại Điều đó giảithích vì sao giá cả thị trường được hình thành ở điểm cân bằng cung - cầu

Do một số đặc điểm chi phối, nên cung - cầu hàng hóa nông sản,(nông sản hàng hóa như chúng ta đã biết là đối tượng kinh doanh chủ yếucủa kinh tế hộ gia đình nông dân), có những đặc điểm riêng rất cần đượcquan tâm nghiên cứu:

- Hàng hóa nông sản, nhất là lương thực thực phẩm là nhu cầu tối

cơ bản nhưng là nhu cầu có giới hạn Khi thu nhập thấp, để tồn tại, phần

Trang 11

lớn thu nhập của hộ gia đình dành để mua nông sản Nhưng khi thu nhậptăng lên thì phần để chi tiêu cho nông sản, nhất là lương thực - thực phẩmgiảm xuống Cùng với sự tăng lên của mức sống thì cơ cấu tiêu dùng hàngnông sản của hộ gia đình cũng thay đổi theo hướng: Tỷ lệ lương thực giảm,

tỷ lệ thực phẩm và rau quả tăng, yêu cầu về chất lượng nông sản cũng tănglên

- Trên thị trường khi cầu nông sản tăng, cung giảm, giá nông sảntăng, hộ tiêu dùng khó có thể giảm ở mức cao mức tiêu dùng nông sản,trong khi đó do chu kỳ kinh doanh nông nghiệp dài, nên không thể trongvài ngày, vài tuần hộ gia đình nông dân có thể tạo ra nông sản để tăng cungcho thị trường Ngược lại, khi cung nông sản tăng, giá cả hạ, hộ gia đìnhcũng không thể tăng tiêu dùng nông sản vượt quá nhu cầu tiêu dùng đòihỏi

- Là hàng hóa nông sản thực phẩm nên tiêu chuẩn vệ sinh môitrường luôn được hộ tiêu dùng quan tâm Kỹ thuật trồng trọt, phương thức

sử dụng phân bón hóa chất, chất lượng chế biến là những yếu tố quyết địnhchất lượng hàng hóa nông sản, quyết định cung cầu hàng hóa nông sản Vìvậy để nông sản trở thành hàng hóa, kinh tế hộ gia đình ngoài việc phải tíchcực đổi mới kỹ thuật canh tác, cần quan tâm đến công nghệ bảo quản vàchế biến nông sản, thực phẩm

- Do đối tượng sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ gia đình nôngdân có đặc điểm, là cơ thể sống, sản phẩm hàng hóa là hàng tươi sống, sảnxuất mang tính thời vụ, cung - cầu nông sản cũng thường tăng giảm theomùa Việc thừa hoặc thiếu nông sản hàng hóa và sự biến động của giá cảthị trường nông sản thường do mùa vụ chi phối, tác động

Để có nông sản hàng hóa, kinh tế hộ gia đình nông dân phải trải quaquá trình kinh doanh kéo dài Ngoài một số cây ngắn ngày, gia súc nhỏ cóchu kỳ sinh trưởng ngắn, có nhiều cây trồng vật nuôi phải mất hàng năm

Trang 12

hoặc nhiều năm mới cho sản phẩm, điều đó cũng có nghĩa là để đạt điểmcân bằng cung - cầu của một số nông sản cũng cần có nhiều thời gian vàcung - cầu trong thị trường tiền tệ và thị trường vốn không thể không tínhđến thực tế: Tốc độ chu chuyển vốn kinh doanh của kinh tế hộ gia đìnhnông dân thấp, chậm thu hồi vốn đầu tư Đây cũng là khó khăn trở ngại lớncủa các hộ gia đình nông dân nghèo khi kinh doanh rừng, cây công nghiệp,cây ăn quả lâu năm và chăn nuôi đại gia súc Vì vậy, ngoài sự nỗ lực của bảnthân mỗi hộ, nhiều loại nông sản đòi hỏi phải có sự hỗ trợ rất lớn nhất làthời kỳ đầu của các tổ chức tài chính, ngân hàng, các doanh nghiệp Nhà nước.

Là sản phẩm tươi sống nên việc vận chuyển, bảo quản, chế biếnnông sản là điều kiện không thể thiếu để nông sản trở thành hàng hóa và làyếu tố tác động ảnh hưởng lớn theo hướng tích cực và tiêu cực đối với quan

hệ cung - cầu hàng hóa nông sản Ở miền núi nước ta công nghệ sau thuhoạch và chế biến nông sản yếu kém, hệ thống cơ sở hạ tầng lạc hậu lànguyên nhân cơ bản dẫn tới tỷ xuất hàng hóa của kinh tế hộ gia đình nôngdân đạt thấp

Quy luật cung - cầu, đòi hỏi các nhà kinh doanh nói chung và kinh

tế hộ gia đình nông dân nói riêng phải thường xuyên nhận thức quan hệcung - cầu của hàng hóa đang kinh doanh hoặc dự kiến kinh doanh Tức làphải hiểu được nhu cầu tiêu dùng của xã hội, đó là vấn đề rất khó khăn đốivới kinh tế hộ gia đình, bởi vì bản thân hộ gia đình không có khả năng tiếpcận với thị trường trong nước và thế giới, do đó rất cần có sự hỗ trợ giúp đỡcủa nhà nước

Quy luật cạnh tranh:

Là quy luật phản ánh mối quan hệ của những người sản xuất hànghóa Cơ sở khách quan của cạnh tranh là sự khác nhau về lợi ích kinh tếgiữa những người sản xuất hàng hóa Đây là một trong ba quy luật cơ bản của

Trang 13

kinh tế thị trường, có quan hệ mật thiết với quy luật giá trị và quy luật cungcầu.

Dưới sức ép của cạnh tranh đòi hỏi kinh tế hộ gia đình sản xuấthàng hóa để đạt tới lợi nhuận cao, cần phải triển khai thực hiện các biệnpháp tích cực như hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, văn minhtrong giao tiếp và phục vụ, thực hiện cạnh tranh lành mạnh, và cũng cầnngăn ngừa và cảnh giác với kiểu cạnh tranh không lành mạnh như trốnthuế, làm hàng giả, nhập lậu hàng hóa

Trên thị trường, cạnh tranh được phân làm hai loại: Cạnh tranhhoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo

Cạnh tranh hoàn hảo là khả năng gia nhập hoặc rút ra khỏi thịtrường của người tham gia thị trường hoàn toàn tự do, hành vi của họ(người bán và người mua) không ảnh hưởng đến giá cả của thị trường

Cạnh tranh không hoàn hảo (mang tính độc quyền) là kiểu cạnhtranh mà khả năng gia nhập hoặc rút khỏi thị trường là khó khăn, hành vicủa họ đều có ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường

Đối với kinh tế hộ gia đình do năng lực sản xuất hàng hóa có hạnnên chỉ có thể tham gia vào thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Trong cơ chế thị trường, để tăng khả năng cạnh tranh, kinh tế hộ giađình nông dân cần khai thác lợi thế so sánh để tăng năng suất và hạ giáthành nông sản Ở nước ta, trước đây khi nền kinh tế còn hoạt động theo cơchế kế hoạch hóa tập trung, thì nông sản được sản xuất theo nguyên tắc

"đất nào cây ấy", ngày nay trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trườngngười ta thường nhấn mạnh "sản xuất sản phẩm gì mà thị trường cần", chứkhông phải sản xuất cái gì có khả năng sản xuất Tuy nhiên, điều đó không cónghĩa là trong cơ chế thị trường không cần đến mức độ thuận lợi của ruộngđất, điều kiện khí hậu thời tiết Trong kinh doanh nông nghiệp có định lý

Trang 14

hiển nhiên là cùng một lượng đầu tư như nhau nhưng năng suất hiệu quả khácnhau giữa các vùng, giữa các quốc gia Do đó, để tăng lợi nhuận, tăng lợi thếcạnh tranh thì việc phân vùng kinh tế, hình thành những vùng chuyên mônhóa gắn với những lợi thế về ruộng đất, khí hậu thời tiết là một yêu cầukhách quan

Trên đây là các quy luật cơ bản kinh tế thị trường, giữa các quy luật

có mối quan hệ biện chứng Các chủ thể sản xuất kinh doanh trong đó cókinh tế hộ gia đình, khi chuyển sang cơ chế thị trường muốn tồn tại và pháttriển nhất thiết phải chấp nhận sự tác động của các quy luật đó Sự tác động

đó là khách quan hoàn toàn không phụ thuộc vào ý chí chủ quan và nguyệnvọng của kinh tế hộ gia đình

Vấn đề đặt ra là, tại sao chuyển sang sản xuất hàng hóa theo cơ chếthị trường là xu hướng phát triển tất yếu, mang tính quy luật của các hìnhthức tổ chức sản xuất như kinh tế hộ gia đình nông dân? Một số công trìnhnghiên cứu đã lý giải tính ưu việt của kinh tế hàng hóa so với kinh tế tựnhiên tự cung tự cấp So với kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hóa có nhiều ưuđiểm, trong đó có những ưu điểm nổi bật sau:

* Kinh tế hàng hóa kích thích việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tăng

năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hóa của sản xuất.

Trong kinh tế hàng hóa, lợi nhuận là mục tiêu, là động lực pháttriển Để thu được lợi nhuận cao đòi hỏi các doanh nghiệp phải thườngxuyên nghiên cứu áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và côngnghệ mới, hợp lý hóa sản xuất Kết quả là làm tăng năng suất lao động cábiệt và năng suất lao động xã hội Do đó kinh tế hàng hóa, tuy mới ra đờinhưng đã tạo ra một lực lượng sản xuất xã hội cao chưa từng thấy tronglịch sử phát triển của loài người

* Kinh tế hàng hóa có tính năng động cao và khả năng thích nghi nhanh.

Trang 15

Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế hàng hóa là: Người nào đưa ra thịtrường hàng hóa trước tiên thì người đó thường sẽ thu được nhiều lợi nhuậnhơn Nhà sản xuất sẽ thu hẹp hoặc ngừng sản xuất nếu sản phẩm không cóngười mua, hay lượng cầu đang giảm, lao động xã hội nhờ đó sẽ được sửdụng một cách tiết kiệm hơn, vì vậy, trên thị trường, luôn diễn ra quá trìnhđổi mới, những sản phẩm mới với chất lượng, quy cách, phẩm chất ngàycàng hoàn thiện sẽ ra đời nhằm thỏa mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầutiêu dùng.

* Kinh tế hàng hóa có những điều kiện để thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất, tinh thần và sự phát triển toàn diện của con người.

Trước yêu cầu và sự tác động mạnh mẽ của các quy luật sản xuất vàlưu thông hàng hóa, các nhà sản xuất kinh doanh phải thường xuyên mởrộng, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của mình Kết quả đạtđược của các hoạt động đó là tạo thêm những điều kiện thuận lợi để thỏamãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu vật chất, tinh thần và sự phát triển toàndiện của con người

Bên cạnh những ưu điểm, kinh tế hàng hóa cũng đã và đang bộc lộnhững khuyết tật, những mặt trái, như tình trạng khủng hoảng và thấtnghiệp; tình trạng ô nhiễm môi trường không khí, nguồn nước, tàn phá đấtđai, hủy hoại tài nguyên rừng vì mục đích lợi nhuận

Trong lịch sử phát triển của mình, có thể thấy chưa bao giờ kinh tếthị trường có sức bành trướng rộng lớn như hiện nay; và đi cùng với nó lànhững vấn đề cũng rất phổ biến, đó là sự bùng nổ các vấn đề xã hội Những từngữ tưởng đã đi vào dĩ vãng (như khủng hoảng, xung đột, dân tộc, sắc tộc )thì nay lại xuất hiện ở mức đáng sợ Thất nghiệp 10% được coi là bìnhthường, cuộc chạy đua tìm việc làm diễn ra quyết liệt Sự phân hóa giàunghèo diễn ra mạnh mẽ, ở nước Mỹ 10% số người nghèo nhất bị giảm đi

Trang 16

21% thu nhập Các tệ nạn xã hội đã trở thành những chứng bệnh "Ung thư

xã hội" mà theo nhiều người cho là vô phương cứu chữa hòa bình, ổn địnhcủa nhiều quốc gia trên thế giới bi đe dọa bởi những mưu tính chính trịkinh tế của một số nước lớn Trong suốt 50 năm qua (1946- 1996), thế giớicủa chúng ta đã phải chứng kiến và chịu đựng 198 cuộc chiến tranh với quylớn nhỏ khác nhau Sự kiện kinh hoàng mà ít ai lường nghĩ tới đó là cuộckhủng hoảng tài chính ở Đông Nam Á và Đông Á năm 1997, là cuộc khủnghoảng lớn nhất trong suốt 50 năm, với mức thiệt hại trên 2.000 tỷ USD Mỹ[70, 2-3]

Câu hỏi đặt ra, phải chăng kinh tế thị trường là thủ phạm của nhữngcăng thẳng xã hội, những "bùng nổ" xã hội, những tệ nạn xã hội đó? Theochúng tôi có thể còn do nhiều nguyên nhân khác, nhưng nguyên nhân donhững khuyết tật, những mặt trái của kinh tế thị trường phải là nguyên nhânchủ yếu và cơ bản

Tóm lại, mặc dù còn nhiều khuyết tật cần "chạy chữa", khắc phục,

song với những ưu điểm nổi bật, hơn hẳn so với kinh tế tự nhiên, thì việc pháttriển hình thức kinh tế hàng hóa là xu hướng tất yếu và tiến bộ, mang tínhcách mạng sâu sắc Tuy nhiên, thực tiễn phát triển kinh tế hàng hóa ở ViệtNam và các nước trên thế giới đã chỉ rõ, đó cũng là quá trình rất phức tạp,mọi quan điểm giản đơn, nóng vội, sẽ khó tránh khỏi dẫn tới sai lầm "chếtngười", gây rối loạn kéo dài, thậm chí đổ vỡ với những hậu quả khônlường

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, đã có ý kiến cho rằng đó chỉ là

sự thay đổi về cơ chế quản lý, không thấy đó thực chất là sự đổi mới mộtcuộc cách mạng thực sự, với nội dung rất toàn diện từ việc đổi mới cơ cấusản xuất, cơ cấu sở hữu, cơ cấu nhân lực lao động, đến việc đổi mớiphương thức hoạt động của các hình thức tổ chức sản xuất và cả cơ cấu tổchức bộ máy nhà nước, cũng như việc đổi mới sâu sắc toàn diện nội dung

Trang 17

và hệ thống giáo dục, đào tạo, khoa học, nhất là về kinh tế, pháp lý, quản lýkinh tế - xã hội, thang giá trị xã hội Chuyển sang nền kinh tế thị trườngnhư vậy là tình huống chưa có tiền lệ trong lịch sử phát triển, nên rất cần sựtỉnh táo và thận trọng của các nhà lãnh đạo quản lý

Bài học lớn trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta

là phát triển các hình thức kinh tế, như kinh tế hộ gia đình, không phải làquá trình được thiết kế và triển khai theo tư duy chủ quan, giấy tờ, từ trênxuống, còn quần chúng nhân dân thì chỉ đón nhận, thừa hành một cách thụđộng, mà ngược lại, đó là quá trình cách mạng được khởi đầu từ thực tiễnsinh động, từ ý nguyện và hành động của đông đảo quần chúng nhân dân,được Đảng và Nhà nước từng bước nắm bắt, định hướng, tổng kết, từ đó

mà đổi mới cơ bản chính sách và cơ chế quản lý kinh tế; nói cách khác đó

là quá trình tìm tòi, thử nghiệm và sáng tạo bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, từquần chúng nhân dân, từ thực tế có Đảng lãnh đạo Đó là cách làm sởtrường đã có trong truyền thống cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ ChíMinh gây dựng, nay vẫn còn nguyên vẹn giá trị đích thực của nó

1.1.2 Sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia đình trong nền kinh tế hàng hóa

Trong nền kinh tế hàng hóa, hình thức kinh tế hộ gia đình nông dân

do những ưu thế riêng, nên đã và đang tồn tại phát triển một cách kháchquan Song, để khẳng định vị trí, vai trò tích cực của mình trước hết họ phải

là "hộ hàng hóa" Phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân trong kinh tếhàng hóa, thực chất là quá trình phát triển từ "hộ tự cung tự cấp" lên "hộhàng hóa" với những ưu điểm vượt trội của nó (nội dung này sẽ nêu kỹ ở

phần sau).

Quan niệm về hộ, gia đình và kinh tế hộ gia đình

Trang 18

Quan niệm về "Hộ", "Gia đình", "Kinh tế gia đình" và "Kinh tế hộgia đình" được nhiều tổ chức, nhiều viện nghiên cứu, nhiều nhà nghiên cứutrong và ngoài nước quan tâm đề cập từ nhiều góc độ khác nhau

Trong quá trình nghiên cứu, nhà nông học Nga - Traianốp, đã nhấnmạnh: Khái niệm Hộ, đặc biệt trong đời sống nông thôn, không phải baogiờ cũng tương đương với khái niệm sinh học làm chỗ dựa cho nó, mà nộidung còn có cả một loạt những phức tạp về đời sống kinh tế và đời sống giađình" [39, 136-137]

Theo Liên Hợp Quốc thì "Hộ là những người cùng sống chung dướimột mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ" Còn theo các nhàkhoa học về dự hội thảo quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan(năm 1980) thì "Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất,tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác" [71, 8]

Qua khảo sát "Kinh tế hộ trong quá trình phát triển" ở một số nướcchâu Á, các nhà nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới, (đứng đầu là giáo

sư T.G.MCGEE, Giám đốc viện nghiên cứu châu Á, thuộc trường đại họctổng hợp Britiah Columbia, Canađa), đã thống nhất cho rằng: Ở các nướcchâu Á hầu hết người ta quan niệm hộ là nhóm người cùng chung huyết tộchay không cùng chung huyết tộc ở chung trong một mái nhà, ăn chung mộtmâm cơm và có chung một ngân quỹ Trong quá trình đô thị hóa ở cácnước châu Á: Các thành viên của hộ không nhất thiết sống chung trong mộtmái nhà Họ có thể sống khá xa gia đình nhưng có đóng góp vào nguồn thunhập của hộ và họ được coi là thành viên của hộ Hộ là đơn vị tự nhiên tạonguồn lao động, là đơn vị bảo đảm quá trình tái sản xuất nguồn lao độngthông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung Các thành viên của hộ cóquan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồnchính bản thân họ và cộng đồng [71, 9]

Trang 19

Ở Việt Nam, theo Tổng cục Thống kê: "Hộ gồm những người cóquan hệ hôn nhân hoặc ruột thịt hoặc nuôi dưỡng, có quỹ thu chi chung vàcùng chung sống lâu dài" [1, 17].

Các nhà nghiên cứu thuộc Viện Kinh tế học (Việt Nam), cho rằng:

"1 Hộ là nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng chung huyếttộc 2 Họ cùng sống chung hay không cùng sống chung trong một máinhà 3 Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung 4 Cùng tiến hành sảnxuất chung Gia đình là cơ sở của hộ nói chung Gia đình là một loại hình

hộ chứa đựng các yếu tố để hình thành những loại hình hộ mở rộng khác Kinh tế gia đình được đặt trong mối quan hệ với kinh tế tập thể Còn kinh

tế hộ được quan niệm như là các hoạt động kinh doanh của một đơn vị vịkinh tế độc lập Do đó không thể đồng nhất giữa kinh tế hộ với kinh tế giađình mặc dù giữa chúng có đặc điểm chung" [71, 11-12]

Theo quan niệm của nhóm nghiên cứu "Kinh tế hộ" trong khuônkhổ dự án hợp tác giữa Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia(Việt Nam) Và trường Đại học British Columbia (Canađa) thì "Hộ là một kháiniệm tồn tại ở Việt Nam từ thời phong kiến Hiện nay trong các văn bảnpháp luật, hộ được xem như là chủ thể trong các quan hệ dân sự do phápluật quy định và được định nghĩa như là một đơn vị mà các thành viên có

hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung Hộ được coi làmột tế bào của xã hội, nhưng không phải bao giờ cũng hoàn toàn trùngkhớp với gia đình Có ba tiêu thức để phân biệt "Hộ" và "Gia đình" là: a.Quan hệ hôn nhân, huyết thống và dân tộc; b Cư trú chung; c Có cơ sởkinh tế Hộ gia đình là khái niệm chủ yếu dựa trên tiêu thức thứ nhất" [1,16]

Quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế học phát triển thuộc Họcviện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, nhấn mạnh: Kinh tế hộ gia đình "làmột loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được phát triển trên thế giới

Nó có một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nhất là

Trang 20

trong nông nghiệp Các thành viên của kinh tế hộ gia đình là những người

có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống, người chủ quản lý của kinh tế hộgia đình đồng thời là chủ hộ Trong khuôn khổ của nền kinh tế, gia đình cóthể tiến hành tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất Chủ hộ điều hànhmọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về hoạt độngcủa mình ở nước ta, kinh tế hộ gia đình phát triển chủ yếu ở nông thôn,thường gọi là kinh tế hộ gia đình nông dân " [6, 324-325]

Khái niệm hộ nông dân gần đây lại được định nghĩa như sau: "Nôngdân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụngchủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thốngkinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia mộtphần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao"

Hộ nông dân có những đặc điểm: Là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn

vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuấtbiểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hànghóa hoàn toàn Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thịtrường Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia cáchoạt động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau khiến cho khó giới hạn thếnào là một hộ nông dân [67, 51]

Qua các ý kiến khác nhau về quan niệm "Hộ", "Gia đình", "Kinh tếhộ", "Kinh tế hộ gia đình", cho thấy chúng được nghiên cứu từ nhiều góc

độ khác nhau, phản ánh tính phong phú, đa dạng, và phức tạp về nội dungcủa các khái niệm đó Tuy vậy, cũng có những điểm chung cơ bản mànhiều quan niệm đề cập đến đó là: Quan hệ hôn nhân, huyết thống, quan hệmật thiết với nơi cư trú chung và có cơ sở kinh tế chung

Góc độ kinh tế học phát triển, (theo chúng tôi), cụm từ: "Kinh tế hộgia đình" là phạm trù thống nhất để chỉ một hình thức kinh tế trong pháttriển của nền kinh tế quốc dân Trong môi trường kinh tế hàng hóa hiện

Trang 21

nay, đó là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở rất cơ bản, là đơn vị kinh tế tựchủ trong nền kinh tế hàng hóa, là đơn vị sản xuất quy mô nhỏ nhưng cóhiệu quả trong nông nghiệp và nông thôn

Sự bền vững của loại hình kinh tế này trước những thăng trầm củalịch sử, với những đặc điểm có tính đặc thù, đặc biệt là vai trò vị trí rấtquan trọng đối với kinh tế nông nghiệp và nông thôn, đã và đang được cácnhà kinh điển và nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Trong thực tiễn,nhiều quốc gia đã phải trả giá cho những quan điểm nhận thức không đúng

về vai trò, vị trí của hình thức kinh tế hộ gia đình nông dân

Một số quan điểm cơ bản về vị trí, vai trò của hình thức kinh tế hộ gia đình nông dân

Như chúng ta đã biết, kinh tế hộ gia đình nông dân hình thành, tồntại và phát triển trong chế độ Nô lệ và chế độ Phong kiến Bước ngoặt pháttriển của nó gắn liền với cách mạng tư sản, thông qua cách mạng đó, quan

hệ chiếm hữu ruộng đất phong kiến bị xóa bỏ, những người tá điền trướcđây đã trở thành những người sở hữu tự do - những người tiểu nông có đấtđược cấp Có thể nói, bước tiến từ chế độ điền trang phong kiến lên hìnhthức sở hữu tiểu nông đã tạo bước ngoặt lớn đối với việc phát triển kinh tế

hộ gia đình nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa vận động theo cơ chếthị trường

Trong quá trình công nghiệp hóa tư bản cổ điển, phân tích sự biếnđộng trong nông nghiệp và nông thôn ở nước Anh, C Mác đã chỉ rõ: "Khixem xét nghề nông phải có bàn tay của người tiểu nông bằng lao động "củamình" Ngay cả nước Anh siêu công nghiệp cho tới nay đã khẳng địnhhình thức lãi nhất không phải là nông trại công nghiệp hàng hóa mà là nôngtrại gia đình không dùng lao động làm thuê Ở những nước còn giữ hìnhthức tư hữu, chia đất thành những khoảnh nhỏ thì giá cả lúa mì rẻ hơn ởnhững nước có phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa [31, 125-126]

Trang 22

Kế thừa và phát triển những tư tưởng và luận điểm về kinh tế tiểunông của C.Mác và Ăngghen, khi nghiên cứu về việc lựa chọn con đườngphát triển nông nghiệp ở Nga, Lênin đã nhấn mạnh: Không thể phát triểnnông nghiệp ở nước Nga theo con đường đại điền trang kiểu Phổ vì đó làkiểu phát triển kém hiệu quả, mà phải là kiểu một chủ trại tự do - nghĩa làmảnh đất được dọn sạch những tàn tích thời trung cổ - đó là kiểu Mỹ [28,182].

Cùng thời với Lênin, khi nghiên cứu sự vận động và phát triển củanông trại ở các nước châu Âu, Kauxki cho rằng: Sự vận động phát triển củanông hộ gắn liền với quá trình phát triển của nền sản xuất nông nghiệp tựcấp tự túc sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa Sự vận động đó diễn raqua ba giai đoạn sau:

- Giai đoạn phá vỡ nền nông nghiệp tự cấp tự túc, hộ nông dânchuyển sang sản xuất hàng hóa và chịu sự chi phối của tư bản cho vay và tưbản thương nghiệp

- Giai đoạn phát triển kinh doanh ruộng đất theo kiểu tư bản chủ nghĩa

- Giai đoạn nông trại tư bản không cạnh tranh được với nông trạinhỏ, hộ nông dân chuyển sang chăn nuôi hoặc hợp tác chế biến để tăng giánông sản [65, 12-13]

Những luận điểm của Mác, Lênin, qua thực tiễn kiểm nghiệm là đúngđắn, đó là những quan điểm có tính khoa học, cách mạng cao và nhữngquan điểm có tính khái quát, chung nhất

Có ảnh hưởng trực tiếp đối với sự phát triển của hình thức kinh tế

hộ gia đình nông dân, phải nói đến những quan điểm của Traianốp Ông đãcoi kinh tế nông dân là phương thức sản xuất tồn tại trong mọi chế độ xãhội, từ Nô lệ qua Phong kiến đến chủ nghĩa Tư bản Phương thức sản xuất

Trang 23

này có quy luật phát triển riêng của nó và trong mỗi chế độ của nó luôn tìmcách thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành [65, 12].

Traianốp là nhà nghiên cứu đầu tiên rút ra kết luận: "Hình thức kinh

tế nông hộ có khả năng thích ứng và tồn tại trong mọi phương thức sảnxuất, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội Việc thừanhận hình thái kinh tế gia đình nông dân không có bóc lột lao động làmthuê, mà chỉ sử dụng sức lao động của gia đình mình là hình thức sản xuấtmang lại hiệu quả kinh tế cao" [63, 68]

Hộ gia đình nông dân, theo Traianốp, là một doanh nghiệp khôngdùng lao động làm thuê, vì vậy họ không có khái niệm tiền lương, lợinhuận, địa tô, lợi tức Thu nhập thuần túy cao là mục tiêu phấn đấu của

hộ Hình thức kinh tế nông hộ có khả năng thích ứng và tồn tại trong mọiphương thức sản xuất Ở các nước tư bản chủ nghĩa, nông trại nhỏ gia đìnhtiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn nông trại lớn tư bản và hìnhthức nông trại nhỏ có lợi cho tư bản vì khai thác được cao nhất thặng dư laođộng ở nông thôn, giữ giá nông sản thấp Kinh tế hộ gia đình nông dân vẫntồn tại và phát triển ngay trong lòng xã hội tư bản

Nhà nông học Traianốp được cả thế giới biết đến Những kết quảnghiên cứu của ông đến nay vẫn rất có giá trị và được thực tiễn chứng minh

là đúng đắn

Như vậy, quan điểm bao trùm, khá tương đồng của các nhà kinh điểncủa chủ nghĩa Mác-Lênin và các nhà nghiên cứu về kinh tế hộ gia đình nôngdân là khẳng định tính bền vững, sự thích nghi trong phát triển và nhấnmạnh vị trí, vai trò to lớn của hình thức kinh tế này đối với quá trình phát triểnkinh tế xã hội nói chung và ngành nông nghiệp, kinh tế nông thôn nóiriêng

Tuy nhiên, thực tiễn vận động phát triển của kinh tế hộ gia đìnhnông dân cho thấy, sẽ sai lầm nếu coi đó là hình thức kinh tế đã hoàn thiện

Trang 24

Những hạn chế, yếu kém không nhỏ của nó là những vấn đề không thể bỏqua, mà ngược lại rất cần được nghiên cứu, xem xét cụ thể, để từ đó cónhững giải pháp khắc phục một cách phù hợp và khoa học

Những ưu, nhược điểm và xu hướng vận động của kinh tế hộ gia đình nông dân.

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất hình thành sớm nhất tronghoạt động kinh tế của loài người, kinh tế hộ gia đình nông dân, với tư cách

là một trong những hình thức tổ chức sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp,

vì vậy cũng được ra đời từ rất sớm, ở mỗi giai đoạn khác nhau vị trí củangành nông nghiệp nói chung và kinh tế hộ gia đình nông dân nói riêngtrong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia đều có một vai trò, vị trí rất quantrọng: Cung cấp lương thực thực phẩm, nhu cầu tối cơ bản cho con người,nguyên liệu cho công nghiệp, sản phẩm cho xuất khẩu, trong những thập kỷgần đây vai trò của loại hình kinh tế này trong lĩnh vực bảo vệ môi trườngsinh thái và gắn với các loại hình kinh tế khác đặc biệt là kinh tế hợp tác,kinh tế nhà nước được nhiều quốc gia quan tâm

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công laođộng xã hội, kinh tế hộ gia đình nông dân đã từng bước có những biến đổi

cơ bản về cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh, "hộ tự cấp, tự túc" với kỹthuật canh tác lạc hậu, đã chuyển dần thành "hộ hàng hóa" với kỹ thuật vàcông nghệ hiện đại, vận động theo cơ chế thị trường, năng suất lao động, tỷsuất hàng hóa trong nông nghiệp nhờ đó đã có bước tăng trưởng vượt bậc.Tại các quốc gia phát triển hộ hàng hóa chỉ chiếm 5-7% tổng số hộ, nhưng

đã tạo ra một khối lượng nông sản đáp ứng đủ nhu cầu trong nước với mứctiêu dùng cao và có một phần để xuất khẩu

a Những ưu điểm vượt trội của " hộ hàng hóa" so với " hộ tự cấp, tự túc"

Kinh tế "hộ hàng hóa" và kinh tế "hộ tự cung, tự cấp", là hai loạihình tổ chức sản xuất, ngoài một số điểm chung giống nhau, là những điểm

Trang 25

khác nhau khá cơ bản Nếu như "Hộ tự cung, tự cấp" - là những hộ mà mụcđích sản xuất, kinh doanh nhằm chủ yếu vào việc thỏa mãn những nhu cầutrực tiếp của hộ, nên thường có quy mô sản xuất nhỏ, khép kín, bảo thủ, trìtrệ, thì "hộ hàng hóa" là những hộ có mục đích sản xuất, kinh doanh nhằmtạo ra những sản phẩm để bán trên thị trường Lợi nhuận cao là mục tiêuphấn đấu, và là cái đích phải đạt tới của "hộ hàng hóa".

Trong kinh tế thị trường, sự khác biệt đó đã tạo cho "hộ hàng hóa"những ưu điểm vượt trội so với "hộ tự cung, tự cấp" Có thể thấy qua một

số nội dung sau:

* Tạo điều kiện sử dụng hợp lý các nguồn lực, khai thác phát huy

những lợi thế so sánh của từng hộ, từng vùng.

Hộ gia đình nông dân là tế bào kinh tế - xã hội, là hình thức tổ chứckinh tế cơ sở của nông nghiệp và nông thôn, các thành viên trong hộ gắn bóvới nhau chặt chẽ trước tiên bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, dựa trên

cơ sở huyết thống, ngoài ra còn do truyền thống qua nhiều thế hệ, do phongtục tập quán, tâm lý đạo đức gia đình và dòng họ

Về kinh tế, các thành viên trong hộ gắn bó với nhau trên các mặt sởhữu, quản lý và phân phối, mà cốt lõi của nó là quan hệ lợi ích kinh tế, họ

có cùng mục đích và cùng lợi ích chung là làm cho hộ mình ngày càng pháttriển, ngày càng khá giả Do thống nhất về lợi ích nên các thành viên trong

hộ đều làm việc hết mình với sự tự nguyện, tự giác cao nhằm đạt mức thunhập cao nhất trong gia đình Trong mỗi hộ thông thường bố mẹ vừa là chủ

hộ, vừa là người tổ chức hiệp tác, phân công lao động, vừa là người laođộng trực tiếp Các thành viên trong hộ cùng lao động nên gần gũi và rấthiểu trình độ, tình hình và hoàn cảnh của nhau, điều đó đã tạo điều kiệnphân công và hiệp tác lao động trong hộ được hợp lý hiệu quả hơn

Mỗi hộ gia đình nông dân đều có các tài sản chung như ruộng đất,trâu bò công cụ lao động Các thành viên trong hộ sử dụng thường xuyên

Trang 26

nên hiểu khá rõ đặc điểm các tài sản Họ thường sử dụng có hiệu quả, và rất

có ý thức chăm sóc bảo quản các tài sản để có thể sử dụng lâu dài

Trong kinh tế hộ gia đình, quan hệ giữa quản lý sản xuất và ngườitrực tiếp sản xuất luôn có sự thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, cho nêncác thông tin được xử lý nhanh kịp thời, các quyết định quản lý, sản xuấtthường đúng đắn và có sức thuyết phục

Về quan hệ phân phối, các thành viên trong hộ cùng làm, cùng ở,cùng ăn, dưới sự sắp xếp bố trí của chủ hộ Nhờ đó các mâu thuẫn trongphân phối (nếu có phát sinh) cũng được giải quyết một cách thuận lợi, khicon cái trưởng thành tách ra lập hộ khác, bố mẹ có trách nhiệm giải quyếtviệc phân chia tài sản gia đình cho con cái trên cơ sở bàn bạc dân chủ

Chính vì những lợi thế đó đã tạo cho "hộ hàng hóa" những điềukiện thuận lợi để sử dụng hợp lý các nguồn lực, khai thác và phát huynhững lợi thế so sánh của từng hộ gia đình

Mặt khác, trong nông nghiệp, lao động của hộ gia đình luôn cóquan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên và quá trình sinh trưởng của câytrồng vật nuôi Hiệu quả sản xuất của kinh tế hộ nông dân không những chỉphụ thuộc vào chất lượng tác động của con người mà còn phụ thuộc vàođặc tính của ruộng đất, điều kiện địa lý Từng hộ, nhóm hộ ở từng vùng,từng quốc gia đều có những ưu thế riêng trong việc sản xuất một số loại sảnphẩm nào đó với chất lượng cao chi phí thấp so với các quốc gia, các vùngkhác, việc chuyển sang sản xuất hàng hóa, vận động theo cơ chế thị trường

sẽ tạo điều kiện cho hộ gia đình khai thác tốt các nguồn lực đó để pháttriển

* Thúc đẩy đổi mới kỹ thuật, công nghệ và quá trình quản lý kinh doanh.

Chuyển sang sản xuất hàng hóa yêu cầu mỗi chủ thể kinh doanhtrong đó có kinh tế hộ gia đình nông dân phải chấp nhận cạnh tranh, tìmmọi biện pháp kinh doanh có hiệu quả để tăng lợi nhuận Ngoài việc bố trí

Trang 27

cơ cấu sản xuất phù hợp với từng vùng sinh thái, họ phải thường xuyên lựachọn các giống cây trồng vật nuôi mới, thực hiện cơ giới hóa, hợp lý hóaquá trình sản xuất kinh doanh và không chỉ dừng lại ở những tác động trựctiếp vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, mà còn phải căn cứ vào nhu cầu thịtrường về chất lượng sản phẩm, với tiêu chuẩn vệ sinh khắt khe, để đáp ứngkịp thời, đầy đủ, đúng nhu cầu Quá trình đó tất yếu thúc đẩy sự đổi mớicông nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến nông sản và tổ chức khoa họcquy trình phân phối lưu thông hàng hóa nông sản

* Thúc đẩy năng suất lao động nông nghiệp và năng suất lao động

xã hội

Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm khác sản xuất côngnghiệp Đối tượng sản xuất của nông nghiệp là sinh vật (thực vật, độngvật) Do yêu cầu của quy luật sinh học đối với cây trồng, vật nuôi, đòi hỏicác chủ hộ phải thường xuyên điều chỉnh hành vi của mỗi thành viên trong

hộ một cách cụ thể, chi li đến từng giờ, từng ngày, từng cây trồng vật nuôi,

và sự đòi hỏi cao về sự chăm sóc cần mẫn với tình cảm thực sự của ngườilao động Những thao tác, những công việc cụ thể trong các khâu như làmđất, gieo trồng, chăm sóc Không thể kiểm tra, đo đạc và đánh giá theođơn vị thời gian trừu tượng, chất lượng, hiệu quả của phần lớn các côngviệc trung gian hoặc những thao tác riêng lẻ không thể đánh giá chính xácđược (trong sản xuất công nghiệp người ta có thể đo đạc điều chỉnh toàn bộhoạt động của người công nhân bằng những chỉ tiêu chính xác theo quytrình kỹ thuật chuẩn mực) Hộ gia đình nông dân, do đó phải là những chủnhân đích thực về đất đai và cây trồng vật nuôi, phải là những người luônquan tâm lo lắng sâu sắc đến mùa màng Có như vậy, mới thường xuyênđiều chỉnh một cách sáng tạo và kịp thời những thao tác kỹ thuật thích ứngvới những diễn biến của thời tiết khí hậu, đất đai, cây trồng Chính điều

đó góp phần thúc đẩy và nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp

Trang 28

V.I Lênin và nhiều nhà kinh tế học đã khẳng định ý nghĩa quyếtđịnh của việc nâng cao năng suất lao động xã hội Do có vị trí vai trò đặc biệt,nên trình độ, năng suất lao động của kinh tế hộ gia đình nông dân, nhất lànăng suất lao động ngành sản xuất lương thực, thực phẩm, có ý nghĩa quyếtđịnh đến việc phân công bố trí lại lao động trong nông nghiệp và các ngànhkhác của nền kinh tế quốc dân Phát triển "hộ hàng hóa" gắn với việc khaithác có hiệu quả những lợi thế về điều kiện tự nhiên, xã hội, là yếu tố quantrọng hàng đầu để nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp Mặt khác,

để tăng khả năng cạnh tranh các "hộ hàng hóa" buộc phải áp dụng có hiệugiữa những thành tựu khoa học công nghệ, công cụ lao động và công nghệquản lý mới để nâng cao năng suất lao động Tác dụng đó có ý nghĩa rất lớnđối với các quốc gia, các khu vực đi lên từ nông nghiệp, ở các nơi đó đại bộphận lao động xã hội là làm nông nghiệp và quá trình phát triển đòi hỏi phảigiảm tỷ lệ lao động nông nghiệp một cách tuyệt đối, nhưng vẫn phải đảm bảo

sự tăng cao cả về số lượng và chất lượng các hàng hóa nông sản Biện phápkinh tế cơ bản để giải quyết yêu cầu đó là nâng cao năng suất lao động trongnông nghiệp Phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân hàng hóa là một trongnhững cách thức quan trọng để nâng cao năng suất hiệu quả của sản xuất nôngnghiệp Như vậy, nếu như nâng cao năng suất lao động, thực hiện phân cônglao động xã hội là điều kiện để phát triển kinh tế hộ sang sản xuất hàng hóa,thì đến lượt nó sản xuất hàng hóa, cơ chế thị trường lại thúc đẩy mạnh mẽ việcnâng cao năng suất lao động và tạo nhu cầu và điều kiện để phân công laođộng trong nông nghiệp và toàn xã hội, trong đó có kinh tế hộ gia đình nôngdân

* Nâng cao thu nhập của người lao động và góp phần thúc đẩy sự

phát triển kinh tế - xã hội nông thôn

Tại các quốc gia phát triển và đang phát triển, khu vực nông thônthường lạc hậu hơn so với khu vực công nghiệp và thành thị Phát triển

Trang 29

kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hóa đã và đang góp phần thúc đẩynhanh quá trình đổi mới sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp, từ đó làmtăng hiệu quả kinh tế

Một số hộ trong quá trình phát triển đã trở thành những hộ giàu, thunhập và đời sống tăng lên rõ rệt, có điều kiện mở rộng sản xuất Trên thực

tế có nhiều hộ đã trở thành các ông chủ, ưu thế của nhóm hộ này là có vốn

và lao động, có kinh nghiệm sản xuất, biết tính toán làm ăn, biết tiếp cận thịtrường, biết tiếp thu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới Nhóm các hộnày đã góp phần tích cực trong việc sử dụng đất đai, lao động, vốn liếng tốthơn, tạo thêm nhiều công ăn việc làm trong nông thôn, tăng thêm sản phẩm

và sản phẩm hàng hóa cho xã hội và đồng thời trong mức độ nhất định gópphần xây dựng nông thôn mới Hiệu quả sản xuất, kinh doanh của nhóm hộnày còn là tấm gương sáng cho các hộ trung bình và nghèo học tập, phấnđấu đi lên Nhờ đó thu nhập của lao động và dân cư nông nghiệp sẽ dầntăng lên, đó thực sự sẽ là động lực cuốn hút các hộ gia đình nông dân thamgia sản xuất hàng hóa, vươn lên vượt khó để làm giàu

Mặt khác, chính từ sự nghiệt ngã của cơ chế thị trường đã buộc các

hộ phải tự mình nâng cao trình độ văn hóa, tiếp cận thị trường, ứng dụngcông nghệ mới Quá trình đó một mặt làm biến đổi tính chất lao độngtrong nông nghiệp, và nhận thức của người nông dân, mặt khác thúc đẩytạo lập mối liên kết tất yếu giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ, giữakinh tế hộ gia đình nông dân với các thành phần kinh tế khác, trong đó kinh

tế Nhà nước Trong quá trình đó cũng hình thành và phát triển hình thứckinh tế hợp tác mới giữa các hộ gia đình Tất cả điều đó đã góp phần cải biếnsâu sắc kinh tế - xã hội nông thôn

b Những hạn chế, yếu kém của" hộ hàng hóa"

Bên cạnh những ưu điểm vượt trội, trong quá trình vận động pháttriển, "hộ hàng hóa" cũng đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém:

Trang 30

Hình thức kinh tế tự nhiên đã kiến tạo nên mô hình "hộ tự cấp tựtúc" với nhiều hạn chế, yếu kém "Hộ hàng hóa" - sản phẩm của kinh tếhàng hóa, là bước phát triển cao kế tiếp của "hộ tự cung tự cấp", nhưngkhông phải đã khắc phục hết được những hạn chế, yếu kém đó Do tổ chứcsản xuất trong không gian rộng, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nênmột số hoạt động như thủy lợi, bảo vệ thực vật, giao thông, dịch vụ cần

có sự phối hợp thống nhất trên toàn địa bàn với sự tham gia của nhiều hộgia đình, nếu để từng hộ tự lo liệu thì không làm được hoặc làm không hiệuquả Có thể thấy, đây là hạn chế rất đặc trưng Trong điều kiện cạnh tranhhiện nay, nhất là ở các quốc gia đang phát triển do năng lực nội tại nhìnchung còn thấp, lại bị giới hạn bởi không gian hoạt động sản xuất củamình, nên kinh tế hộ gia đình nông dân không có điều kiện, khả năng tựgiải quyết các vấn đề về vốn, công nghệ, tiêu thụ sản phẩm và nhiều vấn đề

về đời sống văn hóa, xã hội, tinh thần khác

Những hạn chế và yếu kém đó có tính phổ biến Tuy nhiên, dotrình độ phát triển và nhiều nguyên nhân khác, nên ở các quốc gia, cácvùng, các khu vực khác nhau, mức độ biểu hiện có khác nhau Đối vớinhững quốc gia chậm phát triển, với những vùng như vùng núi, vùng dântộc ở nước ta, những hạn chế yếu kém của kinh tế hộ gia đình nông dân bộc

lộ khá đậm nét và gay gắt Một số vấn đề bức xúc nổi lên trong quá trìnhvận động phát triển của kinh tế hộ gia đình nông dân tại các quốc gia, cácvùng này là:

- Nguồn nội lực thấp, nhiều mặt yếu kém, nhìn chung chưa đáp ứngnhu cầu phát triển trong kinh tế hàng hóa, theo cơ chế thị trường

- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, mạng lưới dịch vụ, công táckhuyến nông, khuyến lâm đang rất thiếu và yếu

Trang 31

- Nhiều vấn đề bức xúc về văn hóa xã hội chậm được giải quyết,đang cản trở sự phát triển

Để tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế hộ gia đình nông dân đi lên,cần phải giải quyết một cách cơ bản những vấn đề bức xúc đó Nhưng vớitừng hộ hoặc một nhóm hộ lại không thể tự lo được, mà phải có bàn tay củaNhà nước, với hệ thống giải pháp tầm vĩ mô, mới hy vọng giải quyết mộtcách triệt để và vững chắc

Mặt khác, nhằm phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêuchiến lược đề ra cho mỗi vùng và mỗi quốc gia, thì việc xác định rõ, đúngđắn hệ thống các biện pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém đó để thúcđẩy kinh tế hộ gia đình nông dân phát triển là rất cần thiết

c Xu hướng vận động chủ yếu của kinh tế hộ gia đình nông dân

Nhận thức rõ xu hướng vận động phát triển của kinh tế hộ gia đìnhnông dân, để từ đó có những giải pháp đồng bộ và nhất quán thúc đẩy sựphát triển là yêu cầu khách quan Một số công trình nghiên cứu của các nhàkinh tế đã chỉ ra một số xu hướng vận động của kinh tế hộ gia đình nôngdân Trong đó có hai xu hướng vận động chủ yếu

* Một là: Xu hướng tập trung đất đai vào một nhóm hộ, từ đó mà hình thành những hộ sản xuất kinh doanh theo kiểu trang trại gia đình.

Quan niệm của một số nhà khoa học, cho rằng: Kinh tế trang trạigia đình là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựatrên cơ sở hiệp tác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số người laođộng nhất định, được chủ trang trại tổ chức trang bị những tư liệu sản xuấtnhất định để tiến hành hoạt động kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nềnkinh tế thị trường và được Nhà nước bảo hộ [64, 14]

Kinh tế trang trại gia đình trên thế giới, nhất là đối với các nướcphát triển như Mỹ, Anh, Hà Lan các nước châu Á như Nhật Bản, Đài

Trang 32

loan, Trung Quốc có lịch sử phát triển lâu dài và mạnh mẽ, hiện nay đang

có vị trí vai trò to lớn đối với nền kinh tế quốc dân Ở Việt Nam, trang trại

hộ gia đình đã xuất hiện ở nhiều địa phương, tập trung nhiều ở trung du vàmiền núi

Qua thực tiễn vận động phát triển của kinh tế trang trại hộ gia đình

ở nhiều quốc gia, có thể khẳng định: Đó là hình thức kinh tế có nhiều ưuđiểm hơn (so với kinh tế hộ gia đình) Kinh tế trang trại do có nhiều điềukiện và khả năng tốt hơn để sản xuất tập trung, chuyên môn hóa theo nhucầu của thị trường; áp dụng những tiến bộ kỹ thuật cũng nhanh, nhạy, hiệuquả hơn; linh hoạt trong sử dụng lao động; đặc biệt chủ trang trại có ý chí,khả năng, điều kiện để sản xuất kinh doanh với quy mô lớn, nên hoạt độngcủa hình thức tổ chức kinh tế này thường có năng suất, chất lượng, hiệu quả

và khắc phục được một số hạn chế, yếu kém của kinh tế hộ gia đình nôngdân Tuy nhiên, để đạt hiệu quả, hiệu suất một cách bền vững và lâu dài,kinh tế trang trại gia đình cần có một quy mô nhất định, trong đó quy mô

đủ lớn về đất đai và liền vùng liền khoảnh, là yêu cầu cơ bản

Trong kinh tế hàng hóa, với những lý do nêu trên và trước yêu cầucủa sự phát triển, cùng với những chủ trương chính sách của từng quốc gia,thì tập trung đất đai vào một nhóm hộ, từ đó mà hình thành những hộ sảnxuất kinh doanh theo kiểu trang trại gia đình là một trong những xu hướngphát triển cơ bản của kinh tế hộ gia đình nông dân Kinh tế hộ gia đìnhnông Việt Nam nói chung, quá trình vận động phát triển trong kinh tế thịtrường không thể không theo xu hướng đó, song do mục tiêu phát triển, cầnquan tâm giải quyết một số vấn đề sẽ phát sinh như sự phân hóa giàunghèo, việc làm thiếu hoặc không còn đất canh tác của một bộ phận hộ giađình

* Hai là: Xu hướng liên kết hợp tác giữa các hộ, giữa các hộ với

các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước

Cần khẳng định: Đó là một xu hướng tất yếu khách quan Bởi vì:

Trang 33

Thứ nhất, do tác động của các quy luật của nền kinh tế thị trường,

nhất là quy luật cạnh tranh, thì hợp tác liên kết là cách tốt nhất để hỗ trợ,bảo tồn, phát triển và tăng khả năng cạnh tranh, phòng chống có hiệu quảviệc "cá lớn nuốt cá bé"

Thứ hai, để bảo đảm tiêu chí vận động phát triển hiệu quả, bền

vững và khắc phục những hạn chế, yếu kém (như đã nêu trên) của hìnhthức kinh tế hộ gia đình nông dân, thì liên kết hợp tác là biện pháp tỏ ra kháhữu hiệu

Thứ ba, tạo những điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại hình

thành và phát triển Liên kết hợp tác làm tăng quy mô sản xuất theo hướngtập trung và chuyên môn hóa, đặc biệt với hình thức đóng góp cổ phầnbằng đất đai, sẽ đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung đất đai, thực hiệnkinh doanh theo kiểu trang trại

Trên thế giới, việc hợp tác liên kết là hiện tượng phổ biến Nhiềuquốc gia ở châu Âu, châu Á đều có hệ thống hợp tác xã khá hùng mạnh

Nhìn chung, tùy theo nhu cầu và khả năng, mỗi hộ gia đình nôngdân có thể tham gia một hoặc nhiều tổ chức hợp tác, có thể là cổ đông củanhiều hợp tác xã khác nhau Hộ nông dân có tự nguyện tham gia hợp táchay không hoàn toàn không phải do ý muốn chủ quan, hoặc là do sự áp đặt

từ bên ngoài, mà do trình độ của lực lượng sản xuất quyết định Hợp tác xãchỉ phát huy tác dụng đích thực khi đáp ứng một cách có hiệu quả, kịp thời,với giá cả hợp lý, được các hộ chấp nhận, ở những khâu, những việc màtừng hộ không làm được hoặc làm không có hiệu quả

Để thấy rõ hơn xu hướng vận động, vị trí vai trò to lớn, sự phongphú về nội dung và hình thức hoạt động sản xuất, kinh doanh của kinh tế hộgia đình nông dân, cần nghiên cứu, xem xét tình hình phát triển kinh tế hộgia đình nông dân ở một số quốc gia trên thế giới

Trang 34

1.2 PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH NÔNG DÂN Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Ngày nay, do điều kiện lịch sử của mỗi nước, nên tuy còn có sựkhác nhau về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, về quy mô và hìnhthức tổ chức quản lý, nhưng điểm chung giống nhau: Kinh tế hộ gia đìnhnông dân là đơn vị kinh tế cơ sở trong sản xuất nông nghiệp, có vai trò tolớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Vai trò đó ởquốc gia nào cũng là hiện thực và được thừa nhận:

1.2.1 Kinh tế trang trại hộ gia đình nông dân ở một số quốc gia trên thế giới

Kinh tế trang trại hộ gia đình nông dân là bước phát triển cao, kếtiếp của kinh tế hộ gia đình nông dân Do vậy, việc nghiên cứu kinh tế hộgia đình trong giai đoạn hiện nay ở một số quốc gia trên thế giới, thực chất

là nghiên cứu hình thức kinh tế trang trại hộ gia đình nông dân

* Anh, nước đầu tiên phát triển chủ nghĩa tư bản, nơi diễn ra cuộc

cách mạng tư sản triệt để nhất Nhằm bần cùng hóa người nông dân, biến

họ thành những người lao động làm thuê, xác lập những nông trại điềntrang lớn kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa với hy vọng thu được nhiềulợi nhuận Nhưng kết quả lại ngược lại, kinh doanh kém hiệu quả, số lượngnông trại lớn giảm dần Đến năm 1987, nước Anh còn 254.000 nông hộ cóquy mô đất canh tác bình quân 71 ha/ hộ, sử dụng 67.000 lao động, số laođộng làm thuê giảm bình quân 1,4% / năm [18, 18]

* Hà Lan, là một quốc gia nhỏ Lao động nông nghiệp chiếm 5,7%

dân số, hàng năm một lao động nông nghiệp làm ra một khối lượng sảnphẩm có thể nuôi 112 người và chỉ đứng sau Đan Mạch (160 người), vượt

Mỹ (80 người), Italia (20 người) Năm 1960 Hà Lan có 300.000 nông trại,bình quân đất đai canh tác 9 ha/hộ Năm 1985 còn 138.000 nông trại bình

Trang 35

quân 16 ha/hộ Các nông trại được tổ chức gọn nhẹ, sử dụng lao động giađình là chính, chỉ thuê 1-2 lao động trong vòng một tháng vào thời điểmthu hoạch Trong các nông trại có đủ dụng cụ máy móc cần thiết và đạttrình độ tiên tiến trên thế giới Nguyên nhân thành công của hộ nông dân

Hà Lan là, có đầu óc kinh doanh, biết tổ chức sản xuất, nắm bắt thực tế,yêu lao động, say mê với công việc nghề nông [18, 19]

* Đan Mạch, nước có lực lượng lao động nông nghiệp chiếm 6%

lao động xã hội, hàng năm sản xuất ra một khối lượng nông sản thực phẩmđáp ứng nhu cầu 15 triệu người, gấp 3 lần số dân Đan Mạch, bình quân mộtlao động nông nghiệp nuôi 160 người, đứng đầu thế giới Thành công đó làkết quả tổng hợp của nhiều bí quyết, trong đó bí quyết hàng đầu là, nềnnông nghiệp dựa chủ yếu vào các đơn vị vừa và nhỏ do các hộ gia đìnhđiều hành, sử dụng lao động là thành viên trong gia đình và họ hàng thânthiết làm ở tất cả các khâu sản xuất và chỉ có 13% số hộ vì một số lý do nênvẫn phải thuê mướn lao động, nhưng số lượng thuê không đáng kể chỉ từ 2người trở xuống Tổng đàn bò sữa nuôi trong các trang trại gia đình khoảng34.000 con, trung bình mỗi hộ có 28 con, Các nông trại có truyền thống: rấtquan tâm đến việc tìm kiếm và sử dụng những tiến bộ kỹ thuật mới trongtrồng trọt và chăn nuôi, áp dụng linh hoạt các hình thức quản lý [18, 20]

* Mỹ, quốc gia có nền công nghiệp hùng mạnh bậc nhất trên thế

giới, đồng thời là nước điển hình về việc hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp

và nông thôn, hàng năm sản xuất nông nghiệp Mỹ tạo ra một khối lượngnông sản thực phẩm đạt giá trị xuất khẩu 46 tỷ đôla Quyết định thành côngcủa nền sản xuất nông nghiệp Mỹ thuộc về các nông trại gia đình Người

Mỹ cho rằng: Nông trại gia đình là linh hồn của nền nền nông nghiệp Mỹ.Năm 1978 Mỹ có khoảng 2,8 triệu nông trại với khoảng 4,4 triệu lao động.Năm 1987 còn 2.178.100 nông trại với 3,308 triệu lao động chiếm gần 2%dân số Trong tổng số 1.733.683 nông trại nhỏ thì có tới 1.721.816 là nông

Trang 36

trại gia đình, chiếm 93,3% Xu hướng hiện nay ở Mỹ là giảm số lượngnông trại, tăng nhanh quy mô đất canh tác/ nông trại, năm 1940 là 40 ha,năm 1950 là 80 ha, năm 1960 là 120 ha, hiện nay khoảng 150-200 ha.Nông trại gia đình ở Mỹ sở hữu 228.576.692 ha đất canh tác; đại bộ phậncác nông trại là của gia đình với vợ chồng và con cái Có khoảng 85% chủnông trại tự canh tác trên mảnh đất của mình, còn lại 15% canh tác trên đấtthuộc các tập đoàn nông công nghiệp Hiện nay ở Mỹ có khoảng 1.797nông trại lớn có trên 10 lao động và sở hữu 4.527.466 ha canh tác Bêncạnh các nông trại là một số ít xí nghiệp nông nghiệp tư sản, đó là nhữngđiền trang lớn sản xuất và kinh doanh những sản phẩm và lĩnh vực mà từngnông trại gia đình không đủ sức làm và những ngành nghề có tính chuyênmôn hóa cao Trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp ở Mỹ rất cao,sản phẩm nông nghiệp dồi dào, có khả năng cạnh tranh lớn trên thị trườngquốc tế [18, 21].

* Vùng Bắc Phi và Trung Đông, Qua các tài liệu công bố, cho thấy:

Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp là các nông trại giađình Tại Ai Cập, sau cải cách ruộng đất, bình quân mỗi nông trại có 1,5-2 ha,trên 60% nông trại có dưới 2 ha

* Các nước châu Á:

Nhật, năm 1970, có 5,3 triệu nông hộ, với quy mô canh tác 1,06ha/hộ Đến năm 1985 còn 4,2 triệu hộ, với quy mô đất canh tác 1,2 ha/ hộ.Một nông trại gồm vợ chồng và 1 con trai lớn canh tác 1 ha lúa nước, thuê

2 ha trồng thức ăn gia súc, nuôi 32 con bò sữa, 25 bò thịt Thu nhập hàngnăm mỗi nông trại khoảng 5 triệu Yên

Đài Loan, năm 1970 có 0,877 triệu nông hộ, năm 1985 giảm còn0,87 triệu nông hộ, với quy mô 1,11 ha (năm 1970) và 1 ha (năm 1985)

Nam Triều Tiên, năm 1985 có 0,3 triệu nông hộ với quy mô nôngtrại 0,9 ha/ hộ.

Trang 37

Thái Lan, với 3,214 triệu nông hộ (1970) tăng 4,5 triệu (1985), bìnhquân ruộng đất 5,6 ha/ hộ (1985).

Ấn Độ, Năm 1970 có 61,5 triệu nông hộ, năm 1985 tăng lên 81,6nông hộ, quy mô ruộng đất lại giảm từ 2,62 ha/ hộ (1970) xuống còn 2,6 ha/ hộ(1985)

Trung Quốc, Với số dân khoảng 1,16 tỷ, trong đó 75% số dân sống

ở nông thôn, canh tác trên 93,33 triệu ha đất, bình quân 0,13 ha/người.Tổng diện tích gieo trồng 146,66 triệu ha Nông hộ Trung Quốc đã và đang

sở hữu 70,4% máy kéo lớn và trung bình, 96,18% máy kéo nhỏ, 74,4% ô tôvận tải dùng trong nông nghiệp, 72,53% máy bơm nước Trung Quốc lànước chủ trương thiết lập ở nông thôn cơ chế kinh doanh hai tầng: Kinhdoanh phân tán của kinh tế hộ gia đình nông dân và kinh doanh thống nhấtcủa kinh tế tập thể Năm 1978 thu nhập thuần túy bình quân mỗi nông dân

là 134 nhân dân tệ; năm 1990 đã đạt 630 tệ Nếu loại trừ yếu tố giá cả thunhập tăng 2,2 lần, bình quân hàng năm tăng 10,7% Tuy vậy thu nhập của hộcòn chênh lệch giữa các vùng, dân số tăng quá nhanh, thể chế kinh tế hai tầng

và hệ thống dịch vụ nông thôn chậm được kiện toàn, tỷ giá sản phẩm công

- nông nghiệp doãng ngày một rộng, gây bất lợi cho hộ nông dân [18, 22]

1.2.2 Một số nhận xét rút ra từ việc nghiên cứu kinh tế tế hộ gia đình nông dân ở một số quốc gia trên thế giới

* Kinh tế hộ gia đình mà bước phát triển cao của nó là kinh tế trangtrại gia đình, là hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp, phổ biến trong nềnsản xuất nông nghiệp và nông thôn, ở hầu khắp các nước trên thế giới.Kinh tế nông hộ đã tồn tại và phát triển trong nhiều phương thức sản xuất,nhiều chế độ kinh tế - xã hội khác nhau Hiện nay kinh tế nông hộ vẫn làhình thức tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong sản xuất nôngnghiệp và nông thôn, có nhiều khả năng chuyển nền nông nghiệp tự túc tự

Trang 38

cấp sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường và hiện đang đóng vaitrò quan trọng cung cấp sản phẩm nông nghiệp cho nền kinh tế.

Tại các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Đan Mạch, Hà Lan,Nhật các hộ gia đình đã và đang áp dụng công nghệ và kỹ thuật sản xuấtnông nghiệp tiên tiến, nhờ vậy đã tạo ra một khối lượng nông sản hàng hóalớn, năng suất lao động trong nông nghiệp cao, đạt trình độ sản xuất nôngnghiệp tiên tiến nhất của thế giới

Các nước ở châu Á, có xu hướng giảm dần số lượng nông trại nhỏ,tăng nông trại vừa và tăng quy mô diện tích đất đai canh tác Một số ít nướckhác như Ấn Độ lại có xu hướng tăng số lượng nông trại nhỏ và sự giảmquy mô ruộng đất canh tác của từng hộ Những đặc điểm đó cho thấy: Sựvận động và phát triển của kinh tế hộ gia đình ở các nước châu Á không chỉphụ thuộc vào phương thức canh tác lúa nước (mặc dù đây là nguyên nhânquan trọng), mà còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, vào chiếnlược phát triển của mỗi quốc gia

* Về hình thức quản lý: Ở nhiều quốc gia, việc quản lý kinh doanh

của kinh tế hộ gia đình nông dân thường theo các hình thức:

+ Phần lớn các hộ đều do mỗi gia đình trực tiếp quản lý Người chủ

hộ đồng thời là người chủ gia đình cùng tham gia lao động với các thànhviên trong gia đình Có trường hợp chủ hộ không có điều kiện trực tiếpquản lý thì giao lại cho một thành viên trong gia đình có năng lực, có uy tínquản lý, hoặc thuê người quản lý Mỗi hộ là một đơn vị kinh doanh tự chủ

+ Hình thức liên doanh với các hộ khác hoặc với các doanh nghiệpkhác thành một đơn vị thống nhất có tư cách pháp nhân Đối tượng liêndoanh này thường là anh em, bà con họ hàng thân thuộc, việc liên doanhnày nhằm mở rộng sản xuất, tăng thêm tiềm lực kinh tế

+ Hình thức hợp doanh theo cổ phần dưới dạng công ty để tiến hànhsản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản phẩm Hình thức hợp doanh của các

Trang 39

hộ này thường có quy mô lớn, chuyên môn hóa sản xuất cao nhưng vẫnmang tính chất đa dạng, chủ yếu sử dụng lao động làm thuê.

+ Hình thức ủy thác, ở đây các chủ hộ có ruộng đất riêng hoặc thuêruộng đất để sản xuất Do những điều kiện mang tính đặc thù nên một sốchủ hộ không trực tiếp sản xuất kinh doanh, mà ủy thác cho bà con, anh embạn bè sản xuất nông nghiệp Ở Việt Nam hiện nay hình thức quản lý cácchủ hộ được phân làm hai loại: Một là, loại kinh tế hộ kết hợp với kinh tếhợp tác xã (hoặc nông trường) để tiến hành sản xuất kinh doanh Nông hộ

và hợp tác xã (hoặc nông trường) là hai chủ thể kinh tế độc lập, hộ gia đìnhtrực tiếp thực hiện các khâu sản xuất, còn hợp tác xã hoặc nông trường thựchiện các dịch vụ đầu vào, đầu ra Hai là, loại kinh tế hộ gia đình độc lập,hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu bằng lao động trực tiếp của gia đìnhmình, không kết hợp với hợp tác xã hoặc nông trường như loại trên, ở đâymỗi hộ là một chủ thể kinh tế

* Về ruộng đất: Sở hữu về quy mô ruộng đất của các hộ gia đình

nông dân ở các nước khác nhau thì khác nhau Mỹ và nhiều nước tư bảnphát triển khác, ruộng đất do các nông hộ, nông trại sử dụng thường thuộc

sở hữu tư nhân, chủ nông hộ vừa là người sử dụng vừa là người sở hữuruộng đất, một số hộ thuê một phần hoặc hoàn toàn ruộng đất để sử dụng.Một số khác vừa có ruộng đất riêng, vừa có ruộng đất thuê của các hộ kháchoặc cho hộ khác thuê Số không có ruộng đất phải lĩnh canh Ở Việt Namruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước Các hộ được giao khoán quyền sử dụngđất đai một cách lâu dài và ổn định tùy theo cây trồng hàng năm hay lâunăm mà ruộng đất được giao khoán cho nông hộ từ 20-50 năm Các nông

hộ nộp thuế cho Nhà nước Ở Việt Nam bình quân mỗi hộ khoảng bìnhquân/nông hộ khoảng 0,53 ha Một số vùng có nhiều đất (như vùng núi

và một số vùng kinh tế mới) quy mô bình quân ruộng đất mỗi hộ khoảng1-3 ha Nhìn chung ruộng đất ở các nông hộ bị phân tán làm nhiều mảnh

Trang 40

* Về cơ cấu sản xuất: Cơ cấu sản xuất của hộ mang tính chất đặc

trưng đa dạng Có loại hộ sản xuất mang tính chất độc canh, nặng về câylương thực mà chủ yếu là cây lúa Có loại hộ ngoài lương thực còn trồngmột số loại rau màu, cây công nghiệp Có loại hộ vừa có trồng trọt, vừa cóchăn nuôi và vừa có ngành nghề Có loại hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệphoặc thủy sản, kết hợp với chế biến và một số ngành nghề khác Điều đóphụ thuộc vào điều kiện tự nhiên điều, kiện kinh tế của từng vùng, từng hộ.Trong từng hộ có ngành sản xuất hoạt động thường xuyên quanh năm,nhưng cũng có ngành sản xuất vào lúc nông nhàn Cơ cấu sản xuất đó đãảnh hưởng đến nguồn thu nhập của từng loại hộ Có hộ thu nhập chủ yếu từnông nghiệp, có hộ lại từ ngoài nông nghiệp Có hộ thu nhập từ kinh doanhcác ngành nghề, làm thuê cho các nơi khác, thông thường ở những nơinhiều đất và những hộ nhiều đất thì thu nhập từ nông nghiệp là chủ yếu.Ngược lại thì thu nhập từ các ngành phi nông nghiệp là chủ yếu

* Về vốn và tài sản: Các nông hộ ban đầu thường có một số vốn tự

có để phát triển sản xuất và bảo đảm đời sống, tùy điều kiện quy mô từng

hộ mà số vốn của các hộ có khác nhau Các nông hộ trung bình và nghèothường ít vốn và thiếu vốn Các hộ khá và giàu cũng thiếu vốn để mở rộngsản xuất nhanh hơn Nhìn chung các hộ đều thiếu vốn nhưng với mức độkhác nhau, nhiều hộ muốn vay vốn Tùy theo điều kiện của từng nước vàtừng loại hộ mà Nhà nước cho vay nhiều hay ít Các nước đang phát triểnviệc Nhà nước cho các hộ nông dân vay vốn có ý nghĩa rất quan trọng.Ngoài việc vay vốn của Nhà nước, các nông hộ còn vay vốn của tư nhân vàcác tổ chức kinh tế khác Ở Việt Nam, Nhà nước cho các hộ nông dân vayvốn chưa nhiều, mới khoảng 30-40% Các nông hộ vay còn gặp nhiều khókhăn về thủ tục, về thời gian và cả về lãi suất, những năm gần đây tình hìnhnày được cải thiện hơn Về tài sản, nhìn chung về các nông hộ đã mua sắmcác nông cụ thông thường, các nông hộ khác mua sắm được một số máy

Ngày đăng: 15/10/2016, 20:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Vũ Tuấn Anh và Trần thị Vân Anh. Kinh tế hộ - lịch sử và triển vọng phát triển. Nxb Khoa học xã hội, H. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ - lịch sử và triển vọng phát triển
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
[2]. Ban Tư tưởng văn hóa trung ương. Đại hội VIII đại hội tiếp tục đổi mới theo con đường XHCN. Tạp chí Công tác tư tưởng văn hóa, H.7/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội VIII đại hội tiếp tục đổi mới theo con đường XHCN
[3]. Nguyên Hữu Bình (chủ biên). Đại từ điển kinh tế Thị trường. Viện Nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa, H. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển kinh tế Thị trường
[4]. Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang. Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam.Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[5]. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Chỉ tiêu kinh tế xã hội 10 năm 1990 - 1999, H. 8/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ tiêu kinh tế xã hội 10 năm 1990 - 1999
[6]. Trần Văn Chử (Chủ biên). Kinh tế học phát triển. Nxb Chính trị quốc gia, H. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học phát triển
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[8]. Nguyễn Sinh Cúc. Tình hình kinh tế nông thôn sau 4 năm thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1989 - 1992). Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 1, 2/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kinh tế nông thôn sau 4 năm thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1989 - 1992)
[9]. Nguyễn Sinh Cúc. Nông nghiệp Việt Nam 1945 - 1995. Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam 1945 - 1995
Nhà XB: Nxb Thống kê
[10]. Davidbegg- fisher, Radiger Dorabash. Kinh tế học, tập 1. Nxb Giáo dục, H. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[11]. Lê Đăng Doanh, Nguyễn Minh Tú. Tác động xã hội của cái cách kinh tế đối với sự phát triển vùng. Nxb Chính trị quốc gia, H. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động xã hội của cái cách kinh tế đối với sự phát triển vùng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[12]. Bùi Văn Duyện. Chương trình 327 - Kết quả bước đầu, phương hướng triển khai trong thời gian tới. Tạp chí Kinh tế và dự báo, tháng 7-1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình 327 - Kết quả bước đầu, phương hướng triển khai trong thời gian tới
[13]. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng
Nhà XB: Nxb Sự thật
[14]. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng. Nxb Sự thật, Hà nội. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1997
[15]. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII. Nxb Chính trị quốc gia, H. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[16]. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện hội nghị lần thứ sáu (lần 1), Ban chấp hành Trung ương khóa VIII. Nxb Chính trị quốc gia, H. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ sáu (lần 1), Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[17]. Bế Viết Đằng (Chủ biên). Luận cứ khoa học cho việc xây dựng các chính sách đối với các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế xã hội ở miền núi. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, H.1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho việc xây dựng các chính sách đối với các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế xã hội ở miền núi
[18]. Nguyễn Hữu Đạt. Đầu tư hỗ trợ của nhà nước cho nông dân phát triển kinh tế hộ gia đình. Nxb Khoa học xã hội, H. 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư hỗ trợ của nhà nước cho nông dân phát triển kinh tế hộ gia đình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
[19]. Nguyễn Điền. Lương thực thế giới trong thế kỷ XX.. Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 4/1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lương thực thế giới trong thế kỷ XX
[20]. Trần Đức (chủ biên). Kinh tế trang trại vùng đồi núi. Nxb Thống kê, H. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế trang trại vùng đồi núi
Nhà XB: Nxb Thống kê
[21]. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Về việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp nước ta hiện nay. Thông tin chuyên đề, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp nước ta hiện nay

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w