Giáo dục học sinh vùng cao với biển đảoGiáo dục học sinh vùng cao với biển đảoGiáo dục học sinh vùng cao với biển đảoGiáo dục học sinh vùng cao với biển đảovvvvGiáo dục học sinh vùng cao với biển đảoGiáo dục học sinh vùng cao với biển đảoGiáo dục học sinh vùng cao với biển đảoGiáo dục học sinh vùng cao với biển đảoGiáo dục học sinh vùng cao với biển đảoGiáo dục học sinh vùng cao với biển đảo
Trang 11
TÁC GIẢ: VŨ CÔNG PHONG
SINH NGÀY 21/ 08/ 1983
Trang 2Kính gửi: Ban tổ chức chương trình “TRI THỨC TRẺ VÌ GIÁO DỤC”
Hưởng ứng cuộc vận động, động viên, cổ vũ tạo môi trường để thanh niên, đặc biệt là tri thức trẻ cống hiến, đóng góp vào sự nghiệp giáo dục của đất nước, tạo cơ hội để tuyên truyền, ứng dụng nhân rộng các công trình sáng kiến góp phần đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục Tôi xin tham gia chương trình tri thức trẻ vì giáo dục với nội dung như sau:
I LÝ LỊCH TRÍCH NGANG
- Họ và tên: VŨ CÔNG PHONG
- Ngày 21 tháng 08 năm sinh 1983
- Chứng minh thư nhân dân số:121474402 Công an tỉnh Bắc Giang cấp ngày 08 tháng 06 năm 2016
- Quê quán:Phượng Sơn – Lục Ngạn – Bắc Giang
- Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Quý Sơn số 1
- Hộ khẩu thường trú: Phượng Sơn – Lục Ngạn – Bắc Giang
- Điện thoại: 0983 031 583
Trang 33
I, MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia ven biển có bờ biển dài trên 3.200 km, có các vùng biển và thềm lục địa khoảng một triệu km2, gần 3.000 đảo nằm rải rác trên biển Đông từ Bắc chí Nam, bao gồm các đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nằm giữa biển Biển và đảo ngày càng có vai trò quan trọng về nhiều mặt kinh tế, quân sự, chính trị [3, 4, 6] Vì vậy, lịch sử phát triển của đất nước ta luôn gắn chặt với việc bảo vệ các vùng biển và hải đảo thuộc chủ quyền của đất nước Hiện nay, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện, Đại hội Đảng lần thứ X (2006)
chỉ rõ: “Phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành có lợi thế so sánh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế ( ) nhanh chóng phát triển kinh tế-xã hội ở các hải đảo gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh”
Theo luật pháp quốc tế về biển, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 và các Tuyên bố, các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước được ban hành trong mấy chục năm gần đây, Việt Nam có chủ quyền và quyền tài phán đối với những vùng biển và hải đảo của mình với các chế độ pháp
lý khác nhau [12]
Giáo dục tình yêu quê hương đất nước cho học sinh là nội dung không thể thiếu trong dạy học toàn diện cho học sinh, giúp học sinh phát triển một cách hoàn thiện về thể chất và tinh thần đặc biệt là tinh thần yêu tổ quốc, trong đó tinh thần yêu biển đảo với mỗi học sinh là trách nhiệm của mỗi người giáo viên trong sự nghiệp giáo dục trồng người
Hiện nay, vấn để biển Đông đang diễn biến ngày càng phức tạp, tính toàn vẹn lãnh thổ, biên giới hải đảo đang có nhiều tranh chấp, tổ quốc đang bị xâm
Trang 44
phạm bờ cõi, nhiều vùng biển bị xâm chiếm, nhiều hòn đảo bị xâm lược của nước ngoài, vi phạm tính lịch sử, tính đúng đắn của luật pháp quốc tế, nhiều âm mưu xâm chiếm đang được thực hiện nhằm chiếm vùng biển của nước ta [18, 14]
Thế hệ trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước, là người sẽ chèo lái con thuyền tới vinh quang của nhân loại, do vậy cần phải giáo dục cho học sinh tinh thần bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, toàn vẹn biển đảo của Việt Nam là việc hết sức cần thiết Không chỉ riêng người dân vùng biển hay người đánh cá ngoài khơi mới cần phải có kiến thức về biển đảo, mà bao gồm tất cả người dân Việt Nam nói chung
và học sinh miền núi đều cần phải nhận thức đúng đắn, hiểu một cách sâu sắc về vai trò của biển đảo, tính toàn vẹn của đất nước Việt Nam
Sa Lý là một xã vùng cao thuộc diện đặc biệt khó khăn của nhà nước, diện tích tự nhiên chủ yếu là rừng núi, dân số trong xã chủ yếu là người dân tộc trình
độ dân trí chưa cao, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn Khi nói đến biển đảo, nhiều người dân còn chưa nhận thức được vai trò, giá trị của biển, giá trị của nguồn tài nguyên quốc gia trong lòng biển Việc giáo dục nhận thức về biển đảo cho thế hệ trẻ là công việc hết sức quan trọng giúp thế hệ tương lai có một cái nhìn đúng đắn, nghiêm túc trong việc bảo vệ tổ quốc Vì vậy, chúng tôi thấy thật cần thiết là giúp học sinh nâng cao được nhận thức về chủ quyền biển đảo, giá trị của tài nguyên biển, giá trị của lịch sử, sự hi sinh mất mát của thế hệ trước để dành lại chủ quyền cho quốc gia, chúng tôi xây dựng đề tài:
“GIÁO DỤC HỌC SINH VÙNG CAO VỚI BIỂN ĐẢO”
Trang 5III, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4 Đánh giá mức độ hiểu biết dựa trên những bài kiểm tra
Trang 66
IV, KẾT QUẢ
1, Tuyên truyền về kiến thức, giá trị, tầm quan trọng của biển đảo
Để tham gia vào việc tuyên truyền có hiệu quả, và thành công cần được bố trí thời gian tuyên truyền vào các buổi hoạt động ngoài giờ như tiết chào cờ đầu tuần, tiết sinh hoạt hay các tiết tham quan tìm hiểu lịch sử, địa lý, sau mỗi hoạt động được đánh giá và nhận xét những vấn đề cần được giải quyết
1.1 Biển và đảo: bộ phận lãnh thổ ngày càng quan trọng
Việc sử dụng, khai thác biển là truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam Ngay từ buổi hoang sơ, qua những truyền thuyết của thời đại Hùng Vương (Lạc Long Quân-Âu Cơ, Mai An Tiêm, Tiên Dung- Chử Đồng Tử ) đã cho thấy nhân dân ta từ lâu đã biết khai thác, sử dụng lợi thế của biển và đảo Trong quá trình tồn tại và phát triển của lịch sử mấy ngàn năm, dân tộc Việt Nam và các nhà nước
kế tục quản lý đất nước luôn có ý thức bảo vệ biên giới lãnh thổ trên đất liền và ngoài biển, thể hiện chủ quyền trên biển và các hải đảo của đất nước mình [10, 21]
Việt Nam là một quốc gia biển với diện tích vùng biển gấp ba lần diện tích đất liền Biển của Việt Nam nằm ở phía Tây Thái Bình Dương, giải rộng từ phía Đông đến phía Tây đất nước với nhiều tên gọi khác nhau: biển Đông, Giao Chỉ dương, biển Nam Hải Biển Đông là biển lớn nhất trong sáu biển lớn của thế giới
có diện tích khoảng 3.447.000 km2
tiếp giáp với các nước khác trong khu vực: Malaysia, Indonesia, Philippines, Brunei, Singapore, Thái Lan, Campuchia, đảo Đài Loan và lục địa Trung Quốc [27, 10]
Trang 77
Hình 1: Bản đồ địa giới và lãnh hải Việt Nam
Biển Đông có tài nguyên biển phong phú và đa dạng, đặc biệt là tài nguyên sinh vật, các đàn cá xuyên biên giới Ở biển Đông, Việt Nam có khoảng 3.000 đảo, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở hai khu vực vịnh Bắc bộ và Nam bộ Những đảo, quần đảo ven biển có dân cư sinh sống như: Cô Tô, Cái Bầu (Quảng Ninh), Cát Bà, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Hòn Lớn, Hòn Tre (Khánh Hòa), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), Côn Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du (Kiên Giang) Đặc biệt có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ngoài khơi phía Đông tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng
Trang 88
Nam, Quảng Ngãi, Bình Thuận vào đến các tỉnh Nam bộ, bao gồm nhiều đảo nhỏ, nhiều bãi cát ngầm, bãi đá, bãi san hô [2, 4, 6]
1.2 Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia ven biển
Trên thế giới ngày nay, các văn bản pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
đã góp phần xây dựng ngày càng hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề cơ bản về biển và đảo; việc phân định biển, bảo vệ môi trường biển, khai thác tài nguyên biển, giải quyết các tranh chấp biển v.v
Hình 2: Cắt dọc đường biên giới của một quốc gia
Nếu tính từ đất liền của quốc gia ven biển hướng ra biển khơi, tuần tự
có các vùng biển sau đây: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, biển quốc tế và đáy biển, lòng đất dưới đáy biển quốc tế Rải rác ven bờ hay ngoài biển khơi có các đảo, quần đảo nhô lên trên mặt nước Về nguyên tắc, nội thủy và lãnh hải là hai vùng biển
Trang 99
thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển Vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa là ba vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia ven biển Còn lại vùng biển cả xa xôi ngoài phạm vi ấy là biển tự
do, không một quốc gia nào có quyền xác lập chủ quyền đối với bất cứ bộ phận nào của biển cả [6, 11, 12]
1.3 Các vùng biển quốc gia ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán
Đây là ba vùng biển nằm ngoài lãnh hải, bao gồm vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
1.3 1 Vùng tiếp giáp lãnh hải:
Trang 10từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam” [12]
1.3 2 Vùng đặc quyền kinh tế:
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, có phạm vi rộng không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở Như vậy phạm vi lãnh hải rộng 12 hải lý bên trong vùng đặc quyền kinh tế nên chiều rộng riêng của vùng đặc quyền kinh tế là 188 hải lý Vùng đặc quyền kinh tế bao gộp trong nó cả vùng tiếp giáp lãnh hải Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng đặc thù trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế được Công ước về Luật biển 1982 quy định [12, 18]
1.3.3 Thềm lục địa:
Thềm lục địa nói nôm na là cái nền của lục địa Nó bắt đầu từ bờ biển, kéo dài thoai thoải ra khơi và ngập dưới nước, đến một chỗ sâu hẫng xuống thì hết thềm Thực tế ở nơi nào bờ biển bằng phẳng thì vùng đáy biển này trải ra rất xa Ở nơi nào bờ biển khúc khuỷu, vùng này co hẹp lại gần bờ hơn (như ven biển miền Trung Việt Nam từ bờ ra ngoài khoảng 50 km (hơn 26 hải lý) thì thụt sâu xuống hơn 1.000 m) Các nhà địa chất học gọi vùng đáy biển thoai thoải đó là thềm lục địa Vùng đó kéo dài đến đâu thì thềm lục địa của nước đó ra đến đó; không kể độ
Trang 1111
sâu là bao nhiêu Vì thềm lục địa là sự mở rộng tự nhiên của lục địa đất liền ra biển, là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ quốc gia ven biển, cho nên nó thuộc về quốc gia ven biển [8, 12, 13]
Như vậy thường thì thềm lục địa là phần đáy biển và lòng đất đáy biển nằm dưới nội thủy, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia Có khi thềm lục địa rộng ra đáy biển khơi (trường hợp thềm lục địa rộng hơn 200 hải lý)
1.4 Đảo và quần đảo
Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 quy định về đảo ở Điều
121, nhưng không có quy định riêng về quần đảo (Phần IV - từ Điều 46 đến Điều
54 - quy định về quốc gia quần đảo chứ không phải quần đảo ngoài khơi thuộc nước lục địa) Theo đó, đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước (khoản 1 Điều 121 Công ước) [12]
Quần đảo là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị hay được coi như thế về mặt lịch sử (Điều 46 điểm b)
Về địa lý, có những đảo và quần đảo gần bờ của nước ven biển và cũng có những đảo và quần đảo ngoài biển khơi cách xa lục địa như quần đảo Hoàng Sa cách bờ Việt Nam (Đà Nẵng) khoảng 350 km, quần đảo Trường Sa cách bờ Việt Nam (Cam Ranh) khoảng 460 km [19]
Nói chung, Việt Nam ở vào vị trí một nước có biển rộng, bờ biển dài, nhiều đảo và quần đảo, tiếp giáp với nhiều nước láng giềng có biển hay không có biển
và ở vị trí ngã ba đường hàng hải quốc tế
Trang 1212
Trong những năm gần đây, nhà nước Việt Nam cũng đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật để dần dần tổ chức quản lý biển, đảo có hiệu quả, đồng thời xác định chủ quyền, quyền chủ quyền đối với các vùng biển, đảo của nước ta Các văn bản ấy về cơ bản phù hợp với những quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 [12,21] Nó đã góp phần xây dựng những quy chế pháp lý thể hiện quyền lợi chính đáng của nước ta; mở ra triển vọng thúc đẩy sự hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và các nước trên thế giới, các nước trong khu vực, xây dựng một cộng đồng nhiều quốc gia hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng
Trà Cổ - bãi biển dài nhất
Hình 3: Bãi tắm Trà Cổ
Với chiều dài 17km, diện tích khoảng 170 ha cong hình vành khuyên, bãi biển Trà Cổ thuộc thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh là bãi biển dài nhất của nước ta Ngoài ra, Trà Cổ cũng được biết đến như bãi biển đầu tiên của Việt Nam, bãi biển lãng mạn nhất và là một trong những bãi biển đẹp nhất
Trang 1313
Đến Trà Cổ, ngoài tắm biển, thưởng thức hải sản, dạo chơi ở cồn cát, khám phá hệ thống rừng ngập mặn, tìm hiểu đời sông của ngư dân, bạn còn có dịp tham quan, mua sắm ở khu chợ biên giới Móng Cái hay tham quan các địa danh du lịch như nhà thờ Trà Cổ, đình Trà Cổ …[7]
Vịnh Hạ Long - Vịnh có nhiều đảo nhỏ nhất
Hình 4: Một góc Hạ Long Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh không những là một danh thắng tuyệt đẹp của nước ta mà còn được vinh danh là một trong bảy kỳ quan mới của thế giới Vịnh Hạ Long có diện tích 1.553 km2 bao gồm 1.169 hòn đảo lớn, nhỏ Với số lượng như thế, đây là vịnh có nhiều đảo nhất Việt Nam
Bên cạnh điều này, đến vịnh Hạ Long, bạn sẽ được chiêm ngưỡng một khung cảnh thanh bình và kỳ vĩ, ngắm các hòn đảo có hình dáng khác nhau, tham quan hang động kỳ bí, thưởng thức các món ăn đặc sản [4, 7]
Trang 1414
Tam Giang – đầm phá lớn nhất
Hình 5: Phá Tam Giang Với diện tích mặt nước rộng 21.600 héc ta, chiếm 48,2% tổng số diện tích mặt nước các đầm phá ven bờ Việt Nam, Tam Giang - Cầu Hai (thuộc địa phận tỉnh Thừa Thiên - Huế) là hệ đầm phá lớn nhất và tiêu biểu nhất của nước ta, cũng là đầm phá lớn nhất ở Đông Nam Á
Đến Tam Giang, bạn có thể lênh đênh trên dòng nước, vừa ngắm bức tranh phong cảnh thay đổi theo mỗi thời điểm trong ngày, vừa nhấm nháp những món hải sản ngon tuyệt Sau khi “mỏi bước rong chơi”, bạn có thể ghé làng chài Thái Dương Hạ, tìm hiểu các giá trị văn hóa cổ xưa hay tìm hiểu về xuất phát điểm cái tên “thành phố lăng” của làng [4, 7,6]
Quần đảo Cát Bà - Quần đảo có nhiều đảo nhất
Trang 1515
Hình 6: Bãi tắm Cát Cò 1 (Cát bà) Nằm ở phía nam Vịnh Hạ Long và ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh Quần đảo Cát Bà bao gồm 367 hòn đảo lớn, nhỏ Trong đó, Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên vịnh Hạ Long Theo truyền thuyết, tên Cát Bà còn được đọc là Các Bà, vì có một thời các bà, các chị ở đây đứng ra lo việc hậu cần cho các ông đánh giặc trên một hòn đảo lân cận (đảo Các Ông)
Cát Bà là một hòn đảo tuyệt đẹp và thơ mộng Trên đảo có rất nhiều danh lam thắng cảnh để bạn tham gia khám phá nhưng điểm nhấn vẫn là các dịch vụ du lịch biển hay những chuyến phiêu lưu khám phá rừng già
Trang 1616
Hòn Khoai - Cụm đảo gần xích đạo nhất
Hình 7: Hòn Khoai (Cà Mau) Hòn Khoai (tên cũ Giáng Hương) là tên một cụm đảo thuộc tỉnh Cà Mau cách đất liền 14,6 km, nằm về phía Tây Nam thị trấn Năm Căn thuộc huyện Ngọc Hiển Tên gọi này xuất phát từ việc hình dạng của nó trông giống như củ khoai khổng lồ
Quần đảo bao gồm 5 hòn đảo sát nhau: Hòn Khoai, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi, Hòn Đá Lẻ, Hòn Tương với tổng diện tích 4 km2 Tọa lạc ở vĩ độ thấp nhất so với phần đất liền và nằm giữa biển trên thềm lục địa nên khí hậu ở đảo nóng quanh năm, lượng mưa khá nhiều và phân hóa theo hai mùa rõ rệt
Ngoài tắm biển, thưởng thức hải sản, hòa mình trong đời sống ngư dân biển đảo, đến Hòn Khoai, bạn còn được chiêm ngưỡng, tìm hiểu và khám phá hệ thống đảo đá, đồi và rừng nguyên sinh gần như còn nguyên vẹn hay ngắm một vùng biển bao la trên ngọn hải đăng lâu đời
Trang 1717
Phú Quốc - Hòn đảo lớn nhất
Hình 8: Đảo Phú Quốc Đảo Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất trong số 38 đảo của huyện đảo Phú Quốc, Kiên Giang và lớn nhất nước Đảo có dạng hình tam giác, chiều theo phương Bắc - Nam dài 50km, chiều theo phương Đông - Tây dài 27km ở phần Bắc đảo, đảo thót hẹp dần về phía Nam
Có hai cách để ra đảo là đường thủy và đường hàng không "Đảo ngọc" mê hoặc
cả du khách trong và ngoài nước với những bãi biển tuyệt đẹp, những danh thắng vừa kỳ vĩ, vừa nên thơ Ngoài những thắng cảnh của thiên nhiên, những cơ sở sản xuất nước mắm, rượu sim hay ngọc trai cũng những điểm tham quan độc đáo của đảo